Những hạn chế và nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng đến sự phát triển sản phẩm du lịch liên kết tại các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Cạn và Cao Bằng 81 Chương 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3Nội dung Trang
1.1.2.Các yếu tố tác động đến việc xây dựng sản phẩm liên kết vùng 19
1.1.3.Các giai đoạn, đối tượng tham gia vào quá trình xây dựng sản
1.1.5 Một số phương pháp cơ bản để trợ giúp cho quá trình xây dựng
1.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển sản phẩm du lịch liên kết vùng
Chương 2: HIỆN TRẠNG SẢN PHẨM DU LỊCH LIÊN KẾT
VÙNG Ở CÁC TỈNH THÁI NGUYÊN, BẮC CẠN VÀ CAO
BẰNG
32
Trang 42.1 Khái quát về du lịch của các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Cạn và
2.1.1 Tiềm năng phát triển du lịch của các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Cạn
2.1.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên và môi trường 32
2.1.1.3 Điều kiện cơ sở vật chất và cơ sở kỹ thuật hạ tầng phục vụ du lịch 56 2.1.2 Hiện trạng phát triển du lịch tại ba tỉnh Thái Nguyên, Bắc Cạn
2.1.2.1 Hiện trạng phát triển du lịch tại Thái Nguyên 58 2.1.2.2 Hiện trạng phát triển du lịch tại Bắc Cạn 65 2.1.2.3 Hiện trạng phát triển du lịch tại Cao Bằng 70
2.2 Đánh giá chung về các yếu tố ảnh hưởng đến xây dựng sản
phẩm du lịch liên kết vùng Thái Nguyên, Bắc Cạn và Cao Bằng 77
2.2.1 Khai thác tài nguyên và những tác động tới môi trường 77
2.2.2 Phát triển các tuyến, điểm và không gian du lịch 78
2 2.3 Các loại hình dịch vụ du lịch 78
2.3 Đánh giá các sản phẩm du lịch liên kết vùng tại Thái Nguyên,
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng đến sự
phát triển sản phẩm du lịch liên kết tại các tỉnh Thái Nguyên, Bắc
Cạn và Cao Bằng
81
Chương 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP
XÂY DỰNG SẢN PHẨM DU LỊCH LIÊN KẾT VÙNG THÁI
NGUYÊN – BẮC CẠN – CAO BẰNG
83
Trang 53.1 Chiến lược phát triển du lịch liên kết vùng của các tỉnh Thái
3.2 Các định hướng và giải pháp xây dựng sản phẩm du lịch liên
3.2.1.1.Định hướng thị trường khách mục tiêu 85 3.2.1.2 Xây dựng thương hiệu lãnh thổ địa phương 88 3.2.1.3 Định hướng khai thác tài nguyên du lịch 90 3.2.1.4 Định hướng phát triển các loại hình dịch vụ du lịch 91 3.2.1.5 Định hướng phát triển không gian và loại hình du lịch chính 92 3.2.1.6 Định hướng phát triển các tuyến du lịch nội tỉnh và liên kết
3.3.1 Du lịch trải nghiệm về văn hoá ẩm thực vùng Đông Bắc 97
3.3.2 Du lịch hành hương về nguồn thăm khu căn cứ địa cách
3.3.3 Du lịch tìm hiểu văn hoá Tày – Nùng thông qua các loại hình
3.3.4 Hình thành các khu du lịch cộng đồng gắn với bản làng của
đồng bào dân tộc Tày tại Pác Ngòi, Bó Lù và Bản Giốc 100
3.3.5 Hình thành khu nghỉ dưỡng gắn với Hồ Núi Cốc, Hồ Ba Bể
3.4 Kiến nghị
Trang 63.4.1 Đối với Chính phủ và các Cơ quan Trung ương 101
3.4.2 Đối với Chính quyền địa phương 102
Trang 7Bảng 2.1 Tổng hợp số liệu khách đến Thái Nguyên, Bắc Cạn và Cao
Bằng từ 2008 đến năm 2012
58
Bảng 2.2 Thống kê số lượt khách quốc tế đến Thái Nguyên 2008 - 2012 62
Bảng 2.3 Thống kê số lượt khách nội địa đến Thái Nguyên 2008 – 2012 63
Bảng 2.4 Tổng hợp số lượt khách quốc tế đến Bắc Cạn 2008 - 2012 69
Bảng 2.5.Thống kê số lượt khách nội địa đến Bắc Cạn 2008 – 2012 70
Bảng 2.6 Tổng hợp số lượt khách quốc tế đến Cao Bằng 2008 - 2012 74
Bảng 2.7 Tổng hợp số lượt khách nội địa đến Cao Bằng 2008 – 2012 75
Bảng 3.1 Đánh giá của khách du lịch quốc tế về sản phẩm du lịch Việt nam 91
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang 8Biểu đồ 2.1 Thống kê các điểm di tích lịch sử, văn hoá và danh lam
thắng cảnh đã quy hoạch tại Thái Nguyên
39
Biểu đồ 2.2 Thống kê các di tích tỉnh Bắc Kạn 44
Biểu đồ 2.3 Thống kê di tích tỉnh Cao Bằng 51
Biểu đồ 2.4 Thị trường khách nội địa đến Thái Nguyên 61
Biểu 2.5 Số lượt khách quốc tế đến Thái Nguyên 2008-2012 62
Biểu đồ 2.6 Số lượt khách nội địa đến Thái Nguyên 2008 – 2012 63
Biểu đồ 2.7 Số lượng dịch vụ lưu trú tại Thái Nguyên 2008 – 2012 64
Biểu đồ 2.8 Thị trường khách du lịch đến Bắc Cạn 67
Biểu 2.9 Thống kê số lượt khách quốc tế đến Bắc Cạn 2008 – 2012 69
Biểu đồ 2.10 Số lượt khách nội địa đến Bắc Cạn 2008 – 2010 70
Biểu đồ 2.11 Thị trường khách du lịch đến Cao Bằng 72
Biểu đồ 2.12 Số lượt khách quốc tế đến Cao Bằng 2008 – 2012 74
Biểu đồ 2.13 Số lượt khách nội địa đến Cao Bằng 2008 – 2012 75
Biểu đồ 2.14.Tổng hợp kết quả đánh giá dịch vụ lưu trú của khách
nội địa đến Cao Bằng (12/2012)
79
PHẦN MỞ ĐẦU
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG SẢN PHẨM DU LỊCH
Trang 9LIÊN KẾT VÙNG THÁI NGUYÊN-BẮC CẠN-CAO BẰNG
1 Lý do chọn đề tài
Liên kết vùng để tạo các sản phẩm du lịch mang tính đặc thù và độc đáo nhằm thu hút sự quan tâm của du khách đã và đang được tiến hành triển khai tại nhiều nơi trên thế giới cũng như tại Việt Nam Việc liên kết vùng khiến sản phẩm du lịch có thể tận dụng được nhiều thế mạnh, nâng cao tính cạnh tranh và
có độ bền vững cao Việc liên kết vùng trong du lịch yêu cầu các thành phần kiên kết cần thuận lợi về không gian lãnh thổ và điểm tương đồng về tài nguyên
để có thể phát huy điểm mạnh và tận dụng tối đa các tài nguyên du lịch cũng như
cơ sở vật chất đáp ứng cho sản phẩm du lịch Trong tiểu vùng du lịch Đông Bắc, Thái Nguyên - Bắc Cạn - Cao Bằng là tuyến điểm du lịch giàu tiềm năng, có thể đáp ứng được các yêu cầu đa dạng của thị trường và tạo được sản phẩm du lịch độc đáo, thu hút sự chú ý của du khách trong và ngoài nước
Là mảnh đất giàu truyền thống lịch sử và đa dạng về sắc tộc, Thái Nguyên -Bắc Cạn - Cao Bằng là cái nôi của cách mạng trong cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc Việt nam chống lại thực dân Pháp Trong kháng chiến, Định Hoá - Thái Nguyên vinh dự được Bác Hồ và Trung ương Đảng chọn làm căn cứ địa của quân đội Việt nam; nơi đây cũng là địa điểm ra đời của hầu hết các cơ quan đầu não của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà - tiền thân của các cơ quan trực thuộc Chính phủ hiên tại Định Hoá được Bác nhận định là cửa ngõ vô cùng quan trọng bởi lẽ “từ Thái Nguyên theo quốc lộ 3 ta có thể lên Bắc Cạn, Cao Bằng; …và từ Thái Nguyên ta có thể xuôi về Hà Nội” Lúc sinh thời, Bác đã từng nhận định rằng “Cách mạng tháng Tám do Việt Bắc mà thành công thì kháng chiến do Việt Bắc mà thắng lợi” Sau này, trong bài phát biểu tại Hội thảo
kỷ niệm 50 năm chiến thắng Thu Đông tại Thái Nguyên năm 1997, đại tướng Võ
Trang 10Nguyên Giáp đã khẳng định “Chiến khu Việt Bắc là một quần thể di tích quan trọng bậc nhất của dân tộc Việt nam ở thế kỷ XX, một thủ đô kháng chiến với vùng di tích trọng điểm: Pác bó, Tân trào, ATK Định Hoá…., một vùng di tích có
ý nghĩa về nhiều mặt Vì vậy, việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy khu di tích lịch sử cách mạng “chiến khu Việt Bắc” nhằm giáo dục các thế hệ về truyền thống lịch
sử cách mạng và kháng chiến của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng chống ách đô hộ và xâm lược, xây dựng chính quyền cách mạng và nhà nước dân chủ nhân dân về những chiến công vẻ vang, về giá trị lâu dài trong lịch sử giữ nước
và dựng nước của nhân dân ta và giới thiệu với khách nước ngoài về truyền thống lịch sử của Việt Nam”
Bắc Cạn vốn nổi tiếng vì “Có Hồ Ba Bể, có nàng áo xanh”, Hồ Ba Bể là một trong 20 hồ nước ngọt tự nhiên lớn và đẹp nhất thế giới Hồ là một trong các khu dự trữ sinh quyển của Việt Nam và thế giới Hồ có diện tích rộng 500 ha, nằm trong khu vực vườn quốc gia Ba Bể, có hệ thống rừng nguyên sinh trên núi
đá vôi với 417 loài thực vật, 299 loài động vật có xương sống, trong hồ có 49 loài cá nước ngọt Hiện nay Việt Nam đang trình UNESCO công nhận vườn quốc gia Ba Bể là di sản thiên nhiên thế giới Ngoài ra gần khu vực thị xã Bắc Cạn còn có 02 địa điểm có thể đầu tư xây dựng khu du lịch sinh thái và hệ thống vui chơi giải trí khá lý tưởng là Khu du lịch sinh thái Thác Bạc và Khu du lịch sinh thái Nặm Cắt, cách thị xã Bắc Cạn chỉ khoảng chừng trên 10 km Bắc Cạn
có nhiều di tích lịch sử được xếp hạng, đặc biệt là các di tích cách mạng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ như khu ATK Chợ Đồn; Khu di tích Nà Tu, Cẩm Giàng; Phủ Thông; Đèo Giàng v.v…
Cao Bằng cũng là tỉnh giàu tiềm năng về du lịch lịch sử, văn hoá và sinh thái với các điểm như Pác Bó, thác Bản Giốc, khu rừng Trần Hưng Đạo, Hồ Thang Hen v.v… Cao Bằng còn nổi tiếng với văn hoá ẩm thực độc đáo như bánh cuốn Cao Bằng, rượu ngô Thông Nông v.v….Đến với Cao Bằng, du khách ngoài
Trang 11việc thưởng ngoạn phong cảnh còn được chìm đắm trong các làn điệu dân ca như then, sli, lượn.v.v…
Tuy có nhiều tiềm năng du lịch như vậy nhưng nếu tách riêng thì cả 3 tỉnh Thái Nguyên, Bắc Cạn và Cao Bằng đều chưa phát triển du lịch tương xứng với tài nguyên du lịch sẵn có Việc du khách ít chú ý hoặc chưa đến với các tỉnh này phải chăng là do thiếu sự liên kết, dẫn đến sự sơ sài và nhàm chán trong dịch vụ
và độ hấp dẫn chưa cao Để tận dụng được các tài nguyên du lịch và mang lại hiệu quả tối đa trong phát triển kinh tế xã hội, các tỉnh này nên có sự liên kết đồng bộ trong phát triển du lịch
Với những ý nghĩa trên, tác giả xin được chọn đề tài “ Nghiên cứu xây
dựng sản phẩm du lịch liên kết vùng Thái Nguyên – Bắc Cạn – Cao Bằng”
làm đề tài nghiên cứu của mình Trong quá trình tìm hiểu, thực hiện và hoàn thành, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong các thầy cô đóng góp
ý kiến chỉnh sửa để luận văn được hoàn thiện hơn
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu: Xây dựng sản phẩm du lịch liên kết vùng giữa các
tỉnh Thái Nguyên - Bắc Cạn - Cao Bằng dựa trên nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và môi trường; nguồn tài nguyên du lịch nhân văn và cơ sở vật chất kỹ thuật; cơ sở hạ tầng; góp phần làm phong phú thị trường sản phẩm du lịch, làm cho điểm đến có sức hấp dẫn hơn đối với du khách và phòng ngừa các nguy cơ suy thoái của điểm đến; thông qua sản phẩm du lịch để giáo dục truyền thống văn hoá lịch sử đối với các thế hệ trẻ; góp phần thúc đẩy xã hội hoá du lịch với
sự tham gia của cư dân địa phương; giáo dục và tạo thói quen có trách nhiệm với môi trường nhằm phát triển du lịch bền vững
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiến để nghiên cứu xây dựng sản phẩm du lịch và hiện trạng phát triển sản phẩm du lịch ở các tỉnh
Trang 12Thái Nguyên, Bắc Cạn và Cao Bằng để đề xuất một số định hướng phát triển và giải pháp xây dựng sản phẩm du lịch cũng như đề xuất một số sản phẩm du lịch liên kết vùng Thái Nguyên – Bắc Cạn – Cao Bằng
3 Phương pháp nghiên cứu
Để có được tài liệu và số liệu minh chứng, luận văn đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp khảo sát, thu thập tài liệu tại thư viện các tỉnh
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Phỏng vấn lãnh đạo các cơ quan quản lý Nhà nước về du lịch tại các tỉnh trong vùng, lãnh đạo chính quyền cấp huyện và xã tại các địa phương có điểm du lịch về định hướng, nhận định liên kết vùng du lịch;
- Phương pháp thống kê và tổng hợp, phân tích
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các yếu tố cấu thành nên sản phẩm du lịch liên kết vùng Thái Nguyên, Bắc Cạn và Cao Bẳng và nhu cầu của khách du lịch đến các tỉnh này dưới góc độ sản phẩm du lịch tổng thể
- Phạm vi nghiên cứu: Sản phẩm du lịch của điểm đến tại các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Cạn và Cao Bằng
+ Không gian: Phạm vi hành chính ba tỉnh Thái Nguyên, Bắc Cạn và Cao Bằng + Thời gian: Từ 2008 đến 2012
5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Liên quan đến vấn đề nghiên cứu xây dựng sản phẩm du lịch liên kết vùng Thái Nguyên – Bắc Cạn – Cao Bằng trên nhiều khía cạnh khác nhau đã có một
số tài liệu đã được công bố
Ngày 22 tháng 1 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định
số 201/QĐ-Ttg về việc Phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt
Trang 13Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” trong đó nêu rõ quan điểm, mục tiêu phát triển và các định hướng
Qua tìm hiểu tài liệu tại thư viện các địa phương và Trung tâm học liệu Thái Nguyên, đã tra cứu thấy một số đề tài có liên quan đến du lịch tại các tỉnh này như bài viết của tác giả Dương Trung Quốc “Du lịch Thái Nguyên” tại tạp chí Xưa và Nay, số tháng 12 năm 2002, luận văn thạc sỹ lịch sử “ Tiềm năng du lịch Thái Nguyên nhìn từ góc độ lịch sử - văn hoá giai đoạn 1995 - 2007” của tác giả Tạ Thị Kim Niên năm 2009; Năm 2003, Bảo tàng Thái phát hành cuốn “Thái Nguyên - di tích, danh thắng và triển vọng tương lai” …
Ngoài ra vấn đề về liên kết vùng trong phát triển du lịch của các tỉnh Thái Nguyên - Bắc Cạn và Cao Bằng cũng đã được nêu ra trong cuốn “ Kỷ yếu hội thảo Khoa học “Du lịch sáu tỉnh Việt Bắc với vùng Bắc Bộ” do Sở Thương mại
và Du lịch Thái Nguyên xuất bản năm 2005
6 Kết cấu luận văn
Gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng sản phẩm du lịch liên kết vùng Chương 2: Hiện trạng phát triển sản phẩm du lịch ở các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Cạn và Cao Bằng
Chương 3: Đề xuất một số định hướng và giải pháp xây dựng sản phẩm du lịch liên kết vùng Thái Nguyên – Bắc Cạn – Cao Bằng
CHƯƠNG 1
Trang 14CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG SẢN PHẨM DU
LỊCH LIÊN KẾT VÙNG
1.1.Cơ sở lý luận
1.1.1 Sản phẩm du lịch
1.1.1.1 Khái niệm chung về sản phẩm du lịch, sản phẩm du lịch liên kết vùng
- Khái niệm chung về sản phẩm du lịch:
* Khái niệm sản phẩm
+ Theo Từ điển Tiếng Việt:
- Sản phẩm là cái do lao động của con người tạo ra
- Cái được tạo ra, như là một kết quả tự nhiên"
+ Theo ISO 9000/2000: "Sản phẩm là kết quả của các hoạt động hay các quá trình" Sản phẩm bao hàm cả những yếu tố vật chất và phi vật chất, cả những vật thể hữu hình (thông thường được gọi là hàng hoá) và vô hình (hay còn gọi là dịch vụ)
* Khái niệm sản phẩm du lịch
+Theo Điều 4 chương I, Luật Du lịch năm 2005, sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch
+Theo quan điểm Marketting: "sản phẩm du lịch là những hàng hoá và dịch vụ
có thể thoả mãn nhu cầu của khách du lịch, mà các doanh nghiệp du lịch đưa ra chào bán trên thị trường, với mục đích thu hút sự chú ý mua sắm và tiêu dùng của khách du lịch".[5,8]
+Theo Michael Coltman: " Sản phẩm du lịch là một tổng thể bao gồm các thành phần không đồng nhất hữu hình và vô hình Sản phẩm du lịch có thể là một món hàng cụ thể như thức ăn, hoặc một món hàng không cụ thể như chất lượng phục
vụ, bầu không khí tại nơi nghỉ mát" [ 6,16]
+ Theo các nhà nghiên cứu về du lịch thì sản phẩm du lịch có thể được xác định như tập hợp của những yếu tố thoả mãn và những yếu tố không thoả mãn mà du khách nhận
Trang 15được trong quá trình du lịch" [4,381] Các yếu tố thoả mãn bao gồm: sự thoả mãn về sinh lí; sự thoả mãn về kinh tế; sự thoả mãn về xã hội; thoả mãn về tâm lí Những yếu tố tạo bực tức cho khách như: những yếu tố chủ quan: sai sót, chất lượng phục vụ, tính chuyên nghiệp của nhân viên ; những yếu tố khách quan như giao thông, thời tiết; sản phẩm phụ gia, những hoạt động làm tăng thêm giá trị cho sản phẩm v.v…
+ Theo nghĩa rộng: Sản phẩm du lịch có thể được hiểu là tất cả các hàng hoá và dịch vụ mà khách du lịch tiêu dùng cho chuyến đi du lịch của họ
+ Theo nghĩa hẹp: Sản phẩm du lịch là các hàng hoá và dịch vụ mà khách mua lẻ hoặc trọn gói, do các doanh nghiệp du lịch tạo ra nhằm thoả mãn nhu cầu của
khách du lịch
Sản phẩm du lịch được biết đến với 5 yếu tố cấu thành nên nó là: Điểm
thu hút khách; Khả năng tiếp cận của điểm đến; Các tiện nghi và dịch vụ của điểm đến; Hình ảnh của điểm đến; Giá cả hàng hoá, dịch vụ của điểm đến
Như vậy, sản phẩm du lịch là một khái niệm rộng, được cấu thành bởi các yếu tố vật chất và phi vật chất có khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của xã hội loài người
Có thể nói rằng, từ việc thay đổi không gian sống, du khách sẽ có cảm xúc thông qua trải nghiệm và cảm nhận được nó Vì vậy sản phẩm du lịch trong
phạm vi luận văn này được nhìn nhận dưới góc độ sản phẩm du lịch tổng thể
Như vậy, sản phẩm du lịch tổng thể là sự hoà trộn giữa các giá trị tự nhiên và nhân văn, mang đến cho du khách những ấn tượng và cảm xúc đặc trưng nhất về điểm đến
- Sản phẩm du lịch liên kết vùng
Trên thực tế, chưa có khái niệm chuẩn về sản phẩm du lịch liên kết vùng nhưng có thể nói rằng trước hết đó chính là sản phẩm du lịch và có đầy đủ tính chất, đặc điểm của sản phẩm du lịch Tuy nhiên sản phẩm du lịch này được xây dựng dựa trên việc liên kết các tài nguyên du lịch của các địa phương trong một
Trang 16vùng du lịch nhất định Việc xây dựng sản phẩm du lịch liên kết vùng thường tồn tại song song với việc tạo ra các tuyến du lịch hấp dẫn và hiệu quả hơn sơ với việc phát triển du lịch theo hướng cục bộ, đơn điệu và nhàm chán
Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng sản phẩm du lịch liên kết vùng thường là chính sách của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch như định hướng phát triển; các quy định về thuế, phí, lệ phí; sự đồng bộ trong phát triển cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật v.v…
1.1.1.2 Đặc điểm của sản phẩm du lịch và các yếu tố cấu thành sản phẩm du lịch
- Đặc điểm của sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng đặc biệt (nhu cầu hiểu biết kho tàng văn hoá lịch sử, nhu cầu thưởng thức vẻ đẹp thiên nhiên …); để giải trí, tìm hiểu, nâng cao tầm hiểu biết, nghiên cứu Sản phẩm du lịch chủ yếu thỏa mãn nhu cầu thứ yếu cao cấp của du khách Mặc dù trong suốt chuyến đi họ phải thỏa mãn các nhu cầu đặc biệt Do đó nhu cầu du lịch chỉ được đặt ra khi người ta có thời gian nhàn rỗi, có thu nhập cao Nguời ta sẽ đi du lịch nhiều hơn nếu thu nhập tăng và ngược lại sẽ bị cắt giảm nếu thu nhập bị giảm xuống
* Tính vô hình: Sản phẩm du lịch về cơ bản là vô hình (không cụ thể) Thực ra
nó là một kinh nghiệm hay sự trải nghiệm hơn là một món hàng cụ thể Mặc dù trong cấu thành sản phẩm du lịch có hàng hóa nhưng sản phẩm du lịch là không
cụ thể nên dễ dàng bị sao chép, bắt chước (những chương trình du lịch, cách trang trí phòng đón tiếp…) Việc làm khác biệt hóa sản phẩm mang tính cạnh tranh khó khăn hơn trong kinh doanh hàng hóa
* Tính không đồng nhất: Do sản phẩm du lịch phần lớn là dịch vụ nên khách hàng không thể kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi mua và nó gây khó khăn cho việc lựa chọn sản phẩm
Trang 17* Tính đồng thời giữa sản xuất và tiêu dùng: Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch xảy ra cùng một thời gian và địa điểm sản xuất ra chúng Do đó không thể đưa sản phẩm du lịch đến khách hàng mà khách hàng phải tự đến nơi sản xuất ra sản phẩm du lịch
* Tính mau hỏng và không dự trữ được: Sản phẩm du lịch chủ yếu là dịch vụ như dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống….Do đó về cơ bản sản phẩm
du lịch không thể tồn kho, dự trữ được và rất dễ hỏng Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch có tính thời vụ Đây là hiện tượng lúc thì cung không đáp ứng được cầu trong
du lịch, lúc thì cầu quá thấp so với khả năng cung ứng Nguyên nhân chính là trong du lịch, lượng cung khá ổn định trong thời gian dài còn nhu cầu khách hàng thì thường xuyên thay đổi, dẫn tới có sự chênh lệch giữa cung và cầu
Ngoài ra sản phẩm du lịch còn có các đặc điểm khác như: Sản phẩm du lịch do nhiều nhà cung ứng cùng tham gia tạo thành; Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch mang tính thời vụ; Sản phẩm du lịch nằm ở xa nơi cư trú của khách du lịch
Các tiện nghi
và dịch vụ của điểm đến hay còn được gọi là sản
Các yếu tố môi trường
tự nhiên và môi trường
Trang 18* Nguồn thu hút (lực hấp dẫn đối với du khách)
Bao gồm các điểm du lịch, các tuyến du lịch, các sự kiện thu hút v.v…nhằm thỏa mãn cho nhu cầu tham quan, thưởng ngoạn của du khách, đó là những cảnh quan thiên nhiên đẹp nổi tiếng, các kỳ quan, các di sản văn hóa thế giới, các di tích lịch sử mang đậm nét đặc sắc văn hóa của các quốc gia, các vùng…
* Điểm thu hút khách du lịch (Điều kiện vật chất để phát triển ngành du lịch)
Cơ sở du lịch bao gồm mạng lưới cơ sở lưu trú như khách sạn, làng du lịch
để phục vụ cho nhu cầu lưu trú của du khách, cửa hàng phục vụ ăn uống, cơ sở
kỹ thuật phục vụ cho nhu cầu giải trí của du khách, hệ thống các phương tiện vận chuyển nhằm phục vụ cho việc đi lại của du khách
* Các tiện nghi và dịch vụ của điểm đến hay còn được gọi là sản phẩm du lịch đơn lẻ
Bộ phận này được xem là hạt nhân của của sản phẩm du lịch, việc thực hiện nhu cầu chi tiêu du lịch của du khách không tách rời các loại dịch vụ mà nhà kinh doanh du lịch cung cấp
Sản phẩm du lịch mà nhà kinh doanh du lịch cung cấp cho du khách ngoài một số sản phẩm vật chất hữu hình như ăn, uống, phần nhiều thể hiện bằng các loại dịch vụ
Dịch vụ du lịch là một quy trình hoàn chỉnh, là sự liên kết hợp lý các dịch vụ đơn lẻ tạo nên, do vậy phải tạo ra sự phối hợp hài hòa, đồng bộ trong toàn bộ chỉnh thể để tạo ra sự đánh giá tốt của du khách về sản phẩm du lịch hoàn chỉnh Nó cũng là yếu tố liên kết du khách với tài nguyên du lịch thông qua các hình thức và nôi dung hoạt động khác nhau nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của du khách
Nội dung và chất lượng của dịch vụ du lịch tương đối khác biệt so với các dịch vụ thông thường khác Dịch vụ du lịch là loại dịch vụ đáp ứng nhu cầu hưởng thụ và thưởng thức ở mức độ cao và tinh tế hay nói cách khác nó còn là
Trang 19nhu cầu về thẩm mỹ, về cái đẹp chứ không đơn thuần là đáp ứng nhu cầu cơ bản hàng ngày của con người Ví dụ như khi giới thiệu một tấm vải lụa tại Vạn Phúc không chỉ đơn thuần nhằm đáp ứng nhu cầu may áo mặc mà còn ẩn chứa trong
đó kỷ niệm về chuyến đi đến Vạn Phúc; giới thiệu nét đẹp trong nét văn hoá của làng nghề truyền thống với nghề trồng dâu nuôi tằm dệt lụa và hơn nữa đó là sản phẩm của làng nghề dệt lụa đặc trưng của Bắc Việt nam
Như vậy, nhu cầu thiết yếu là phải thông qua hình thức và nội dung của sản phẩm để giới thiệu các giá trị tự nhiên, văn hoá của tài nguyên du lịch
* Các yếu tố môi trường tự nhiên và môi trường kinh tế xã hội
Đây là nhóm yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và độ bền vững của tài nguyên du lịch Môi trường tự nhiên như cảnh quan thiên nhiên, bầu không khí, hệ sinh thái v.v… giữ được nét hoang sơ và trong sạch sẽ có độ hấp dẫn cao đối với du khách
Như vậy, có thể nói rằng sản phẩm du lịch tổng thể được nói đến trong khuôn khổ luận văn này là sản phẩm được hình thành từ sự liên kết hữu cơ giữa các yếu tố: tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn; các yếu tố dịch vụ; môi trường tự nhiên và môi trường kinh tế xã hội nhằm cung cấp và đáp ứng nhu cầu khách du lịch
1.1.1.3.Các dạng thức của sản phẩm du lịch
* Phân loại theo mục tiêu quản lý
+ Quan điểm quản lý: Theo quan điểm này thì sản phẩm du lịch được chia làm hai loại là sản phẩm du lịch tổng thể và sản phẩm du lịch đơn lẻ Sản phẩm du lịch đơn lẻ
là đối tượng chịu sự quản lý của sản phẩm du lịch tổng thể Sản phẩm du lịch đơn lẻ
có thể là các loại hình dịch vụ du lịch tổng hợp (trọn gói) hoặc đơn lẻ do các doanh nghiệp đầu tư và quản lý; cũng có thể là sản phẩm do các ngành kinh tế khác cung
Trang 20+ Quan điểm tổ chức không gian du lịch: Theo quan điểm này, có hai loại là không gian du lịch và không gian phụ trợ cho du lịch Không gian du lịch bao gồm không
gian tài nguyên du lịch và không gian dịch vụ du lịch Không gian phụ trợ cho du lịch gồm có không gian khu ở của cư dân địa phương, không gian công cộng ở đô thị, không gian các của các ngành kinh tế khác và không gian thiên nhiên
+ Quan điểm phân vị không gian lãnh thổ du lịch: Sản phẩm du lịch được phân loại theo phân vị không gian Ví dụ như sản phẩm du lịch của vùng du lịch hay sản phẩm du lịch của tiểu vùng du lịch v.v…
+ Quan điểm quản lý hành chính: Sản phẩm du lịch được phân theo 3 cấp trong quản lý hành chính Đó là sản phẩm du lịch cấp quốc gia, cấp tỉnh và cấp huyện
* Phân loại theo mục tiêu khai thác
+Theo đặc điểm giá trị: Sản phẩm vật chất hay sản phẩm tinh thần; giá trị văn hoá, địa chất, kiến trúc v.v…
+ Theo đặc thù tài nguyên: Sản phẩm du lịch được phân loại theo đặc thù của nó như sản phẩm du lịch sinh thái, sản phẩm du lịch lịch sử; sản phẩm du lịch đô thị, sản phẩm du lịch nông thôn v.v…
+Theo đặc điểm hoạt động du lịch: dựa vào hoạt động du lịch phân thành các loại như sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng, giải trí, tham quan v.v…
* Phân loại theo mục tiêu đáp ứng nhu cầu thị trường
+ Nhóm thị trường: Dựa vào thị trường khách du lịch để phân loại, ví dụ như sản phẩm du lịch cao cấp hay sản phẩm du lịch bình dân; sản phẩm du lịch dành cho khách Á, khách Âu v.v…
+ Quan điểm đầu tư kinh doanh: Dựa vào vốn đầu tư ít hay nhiều; sản phẩm lãi ít hay nhiều v.v…
1.1.2 Các yếu tố tác động đến việc xây dựng sản phẩm liên kết vùng
Trang 21Sản phẩm du lịch liên kết vùng là sản phẩm du lịch nên n35ó chịu sự tác động của nhiểu yếu tố
- Kinh tế: Sự phát triển của kinh tế trong vùng ảnh hưởng nhiều đến việc phát triển sản phẩm du lịch liên kết vùng Nếu địa phương nơi có sản phẩm du lịch liên kết vùng phát triển kinh tế đồng bộ và ở mức độ tương đương nhau thì việc phát triển sản phẩm liên kết sẽ dễ dàng và nhanh hơn so với những địa phương phát triển không đồng bộ và có sự chênh lệch về kinh tế
- Công nghệ: Hiện nay công nghệ đã trở thành yếu tố không thể thiếu trong mọi lĩnh vực Công nghệ mang lại sự tiện dụng cho việc nghiên cứu và phát triển sản phẩm du lịch liên kết vùng không chỉ thông qua việc cung cấp thông tin, dữ liệu mà còn đưa ra các công cụ trợ giúp khác
- Tình hình chính trị có ảnh hưởng quan trọng đối với sản phẩm du lịch liên kết Nếu tình hình chính trị ổn định có nghĩa rằng độ an toàn đối với du khách cao khiến cho sản phẩm được phát huy và ngược lại nếu như chính trị không ổn định, có nhiều bất ổn, không thể hợp tác thì không thể phát triển sản phẩm cũng như mang lại nhiều nguy cơ thiếu an toàn cho du khách khi đến vùng
- Nhân khẩu: Hiện nay nhân khẩu là một yếu tố quan trọng đối với việc nghiên cứu và phát triển du lịch Có nhiều xu hướng diễn ra nhưng chủ yếu nhất vẫn là sự già hoá lực lượng lao động do giảm gia tăng dân số tại hầu hết các nước; xu hướng khác nữa ảnh hưởng tới sản phẩm du lịch là người cao tuổi ở các nước phát triển đi du lịch dài ngày đến các nước đang phát triển Đó là một trong những phân khúc thị trường mà sản phẩm du lịch chú ý tới
Việc lực lượng lao động đổ xô đến các trung tâm kinh tế hay các thành phố lớn cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sản phẩm du lịch tại các vùng hẻo lánh
do thiếu hụt nhân công còn ở một số vùng lại quá thừa nhân công
- Tính toàn cầu hoá và địa phương hoá: Việc một số quốc gia có nền kinh
tế lớn mạnh mở rộng và có xu hướng thôn tính kinh tế cũng như chính trị của
Trang 22một số quốc gia khác trên thế giới làm ảnh hưởng nhiều đến du lịch Để đi ngược lại với xu hướng này thì việc giữ gìn bản sắc địa phương rất quan trọng, nó giúp cho sản phẩm du lịch vẫn giữ được sự độc đáo và độ hấp dẫn cao Tuy nhiên sản phẩm du lịch địa phương này cần phải có chất lượng cao, phù hợp với nhu cầu của đa dạng các loại hình du khách, kể cả tầm quốc tế
- Sự nhận thức về môi trường xã hội: Việc nhận thức đúng đắn về bảo vệ môi trường, xã hội sẽ có tác động không nhỏ đối với sản phẩm du lịch và quyết định tính bền vững của nó Chính vì vậy việc bảo vệ môi trường sinh thái gần như là một trong các trách nhiệm của ngành du lịch
- Môi trường sống và làm việc: Sự thay đổi môi trường và không gian sống là một trong các nhu cầu thúc đẩy con người đi du lịch Tuy nhiên việc thay đổi này phụ thuộc vào quãng thời gian mà du khách có thể dành cho du lịch Vào thời điểm hiện nay, các tour ngắn ngày thường được ưa chuộng
- Tìm kiếm các trải nghiệm thực tế: trải nghiệm thực tế là một trong những nhu cầu của con người Vì thế việc du khách có xu hướng trải nghiệm thực tế là điều luôn tồn tại Hơn nữa, sản phẩm du lịch liên kết vùng bao gồm các không gian văn hoá, kinh tế, xã hội khác nhau sẽ là điều hấp dẫn đối với du khách
- Marketing: Việc sử dụng các công cụ marketing sẽ giúp phân đoạn thị trường
và xác định chính xác đối tượng khách khiến cho việc đáp ứng nhu cầu của du khách chính xác và chất lượng hơn
- Sự an toàn của điểm đến: điểm đến không an toàn sẽ không được du khách lựa chọn cho dù tài nguyên du lịch có hấp dẫn và dịch vụ có tốt An toàn là một trong những nhu cầu của con người, du khách sẽ không mua sản phẩm nếu không có sự an toàn
1.1.3.Các giai đoạn, đối tượng tham gia vào quá trình xây dựng sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch được xây dựng dựa trên các giai đoạn và các đối tượng khác nhau
Trang 23Giai đoạn đầu nhằm nghiên cứu thực tế nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như nhân văn để đưa ra các hướng giải quyết vấn đề xây dựng sản phẩm du lịch liên kết trên; đưa ra những giải pháp nhằm giúp cho chính quyền và cư dân địa phương có thể áp dụng và đưa sản phẩm tham gia vào quá trình xây dựng và phát triển du lịch tại địa phương Giai đoạn tiếp theo là áp dụng sản phẩm vào thực tế bởi chính quyền và cư dân địa phương
Sản phẩm du lịch cần có sự tham gia của các đối tượng như các nhà cung ứng (các đại lý lữ hành, các công ty vận chuyển, khachs sạn lưu trú, các nhà hàng ăn uống, các tụ điểm vui chơi giải trí v.v…), chính quyền các cấp, cư dân địa phương và một đối tượng không thể thiếu là khách du lịch
Từ những giai đoạn và đối tượng tham gia vào việc xây dựng nên sản phẩm du lịch ta thấy rằng việc đảm bảo cho sản phẩm du lịch có tuổi thọ cao và phát triển bền vững cần phải có nhận thức đúng đắn của các cấp, các ngành; nâng cao nhận thức và trình độ chuyên môn cho đội ngũ quản lý cũng như nhân viên phục vụ trong ngành du lịch
1.1.4 Quy trình xây dựng sản phẩm du lịch
- Kiểm kê, đánh giá tài nguyên du lịch: Việc kiểm kê và đánh giá tài nguyên du lịch giúp cho việc xác định được các yếu tố cầu thành sản phẩm để có thể nhắm tới thị trường mục tiêu và hình thành loại hình sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường mục tiêu và có định hướng đúng đắn đối với phát triển sản phẩm du lịch tổng thể trong liên kết vùng
-Xác định thị trường mục tiêu và đặc tính của thị trường: mỗi loại sản phẩm du lịch chỉ có sức hút mạnh đối với đối tượng khách nhất định Việc xác định được đúng thị trường mục tiêu sẽ làm cho sản phẩm được khai thác hiệu quả nhất
- Xây dựng chương trình khai thác: Chương trình khai thác dựa trên xu hướng của cầu du lịch và khả năng đáp ứng của tài nguyên du lịch Thông thường
Trang 24Chương trình khai thác được dựa trên các bản Quy hoạch tổng thể hoặc các Kế hoạch, Chương trình khai thác, tuỳ vào quy mô của sản phẩm
- Thiết lập cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực phục vụ cho khai thác
và duy trì sản phẩm
- Xúc tiến quảng bá giúp cho hình ảnh của sản phẩm đến được với đông đảo công chúng và góp phần tạo ra cầu du lịch Việc quảng bá thường thông qua các công cụ như slogan, thương hiệu, hình ảnh đặc trưng hay các phương tiện như các kênh truyền thông …
1.1.5 Một số phương pháp cơ bản để trợ giúp cho quá trình xây dựng sản phẩm du lịch
1.1.5.1 Phương pháp “Vòng đời sản phẩm”
Mục đích chính là để định hướng khai thác tài nguyên và phát triển sản phẩm du lịch phù hợp với chu kỳ sống của các điểm du lịch trong vùng Phương pháp này có thể giúp xác định các thời kỳ xâm nhập thị trường, tăng trưởng, chín muồi và thoái trào của sản phẩm để kịp thời có các giải pháp phù hợp
1.1.5.2 Phương pháp “Kéo dài chu kỳ sống”
Phương pháp này thường được áp dụng với các hình thức “bình cũ rượu cũ”, “bình cũ rượu mới”, “bình mới rượu cũ” hay “bình mới rượu mới” nhằm kéo dài vòng đời cho sản phẩm du lịch
Chiến lược sản phẩm cũ, thị trường cũ: Khách du lịch đã phần nào chấp nhận và quen với những sản phẩm du lịch cũ Tuy nhiên, với chiến lược này, cần thiết phải có những chính sách thích hợp và đầu tư thỏa đáng nhằm nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch Ngoài ra cũng cần có những chính sách giá cả phù hợp để khuyến khích việc sử dụng các sản phẩm du lịch
Chiến lược sản phẩm cũ, thị trường mới: chiến lược này thường gặp nhiều
khó khăn trong tuyên truyền quảng cáo cũng như triển vọng thực hiện ngay
Trang 25Chiến lược sản phẩm mới, thị trường cũ: Đây là chiến lược có nhiều khả
năng thực thi hơn cả vì chỉ có đa dạng hóa sản phẩm du lịch mới có khả năng ngăn được sự nhàm chán và giảm sút của thị trường khách cũ, đồng thời có sức hấp dẫn thu hút đối với những thị trường khách mới
Chiến lược sản phẩm mới, thị trường mới: Chiến lược này đòi hỏi phải có
sự đầu tư lớn cho việc đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, cho công tác tuyên truyền quảng cáo để tìm thị trường mới
1.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển sản phẩm du lịch liên kết vùng tại Việt Nam
32 hoặc xuống Cống Quỳnh về Sơn La Các tuyến du lịch này ngày càng phát triển và thu hút nhiều khách quốc tế
Nhờ liên kết vùng, lượng khách đến Lào Cai, Sơn la và Hà Giang đều tăng đột biến Năm 2012, Lào Cai đón 948.610 lượt khách, Sơn La đón 535.000 lượt khách và Hà Giang tăng vượt trên 20%/năm
Trang 26Để có được nhứng kết quả trên, tám tỉnh Tây Bắc mở rộng đã thống nhất đồng bộ các giải pháp quan trọng như sau:
Thứ nhất, xây dựng được cơ chế liên kết hiệu quả (có Ban chỉ đạo, nguồn
kinh phí đóng góp chung, phương hướng, dự án phát triển chung và có bộ máy chuyên trách hoạt động của cả vùng…)
Thứ hai, các tỉnh liên kết nghiên cứu xây dựng các thương hiệu và các sản
phẩm du lịch mang bản sắc của mỗi vùng, mỗi địa phương Mỗi tỉnh tìm ra lợi thế riêng, tạo sản phẩm riêng về du lịch là vấn đề quan trọng để phát huy thế mạnh của liên kết vùng
Thứ ba, muốn đẩy mạnh được liên kết vùng cần coi trọng vấn đề quảng
bá, xúc tiến du lịch Nhờ quảng bá chung nên các tỉnh đã tạo ra hiệu quả trong công tác quảng bá, xúc tiến
Thứ tư, bước đi đầu tiên của liên kết vùng là cần đầu tư nghiên cứu quy
hoạch vùng và quy hoạch các điểm, tuyến du lịch của mỗi tỉnh và toàn vùng Từ
đó tìm ra vẻ đẹp tiềm ẩn riêng, bản sắc riêng của mỗi địa phương để xây dựng thế mạnh liên kết
Liên kết 8 tỉnh Tây Bắc mở rộng bước đầu đã khắc phục được tình trạng hình thức, chỉ lo tổ chức các sự kiện mang tính chất quảng bá bề nổi mà thiếu chiều sâu Đặc biệt, liên kết ở vùng Tây Bắc cũng đã bước đầu hình thành được cơ chế chung trong chỉ đạo, điều hành, khuyến khích mở rộng liên kết song phương giữa hai tỉnh
và đa phương với nhiều tỉnh khác nhau Phạm vi liên kết đã mở rộng cả sự quảng bá, tạo sản phẩm, xây dựng các chính sách, đào tạo nguồn nhân lực
1.2.2 Trung Bộ
Duyên hải Bắc Trung bộ gồm 6 tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế Các tỉnh đều có đường biên giới với nước bạn Lào, có bờ biển dài và có nhiều di tích, di sản nổi tiếng nằm trên tuyến
Hành lang kinh tế Đông - Tây (EWEC)
Trang 27Trong xu thế hội nhập quốc tế, du lịch của mỗi nước, mỗi tỉnh chỉ có thể phát triển mạnh trong thế liên kết hợp tác Vì vậy, một số giải pháp để phát triển
du lịch liên kết vùng duyên hải đã được áp dụng thành công trong thời gian qua
Một là, tập trung mọi nguồn lực đầu tư nâng cấp, hoàn thiện hệ thống giao
thông và hạ tầng kỹ thuật ngành du lịch dọc các tuyến EWEC cũng như nối các khu, tuyến, điểm du lịch các địa phương trong vùng
Hai là, hợp tác quy hoạch và phát triển sản phẩm du lịch các địa phương
trong vùng Trong những năm qua, các tỉnh Bắc Trung bộ đã xây dựng được những sản phẩm du lịch có thương hiệu như “Con đường di sản miền Trung”,
“Đường Hồ Chí Minh huyền thoại”, “Hoài niệm về chiến trường xưa và đồng đội”, “ Hành lang kinh tế Đông- Tây” bước đầu mang lại hiệu quả
Ba là, tăng cường quan hệ hợp tác liên kết giữa các địa phương của các nước
Mianma, Thái Lan và Lào trên tuyến EWEC Trong những năm qua, các tỉnh Bắc miền Trung có nhiều cố gắng liên doanh liên kết với các địa phương Lào, Thái Lan, khai thác phát triển du lịch và bước đầu đem lại hiệu quả nhất định
Bốn là, thống nhất về quản lý các hoạt động kinh doanh du lịch, lữ hành,
hướng dẫn viên du lịch
Năm là, các địa phương trên EWEC có cửa khẩu quốc tế chú trọng nhiều
đến các yếu tố bổ trợ liên quan đến phát triển du lịch Hình thành các dịch vụ có chất lượng về điện nước, điện thoại, y tế, đổi tiền, lưu niệm và vệ sinh, sửa chữa phương tiện vận chuyển tại các khu, tuyến, điểm du lịch, trước hết tại các cặp cửa khẩu quốc tế
Từ thực tiễn phát triển du lịch Bắc Trung bộ và các địa phương, ta thấy còn một số tồn tại:
Đơn giản hóa hơn nữa các thủ tục xuất nhập cảnh, quá cảnh đối với người, phương tiện, hành lý của khách du lịch phù hợp thông lệ quốc tế và khả năng quản lý ngày càng khoa học
Trang 28Cải tiến mạnh mẽ và triệt để hơn quy trình xử lý và tăng cường phương tiện, thiết bị hiện đại tại các cặp cửa khẩu quốc tế
Các cặp cửa khẩu cần thống nhất giờ mở cửa, đóng cửa, cơ chế kiểm tra,
tạo điều kiện thuận lợi cho du khách qua lại
1.2.3 Nam Bộ
Đồng bằng Sông Cửu Long là khu vực có tiềm năng về du lịch, độc đáo, không giống với vùng miền nào của cả nước Theo Đề án phát triển du lịch đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020, các chỉ tiêu phát triển du lịch như sau: Về khách du lịch, đến năm 2015 đạt 2,7 triệu lượt khách quốc tế và 5,2 triệu lượt khách du lịch nội địa Năm 2020 đạt 3,9 triệu lượt khách quốc tế và 6,5 triệu lượt khách du lịch nội địa Về cơ sở lưu trú du lịch: Năm 2015 có tổng số 37.150 buồng khách sạn Năm 2020 có 50.000 buồng khách sạn Về nguồn nhân lực du lịch: Năm 2015 có 154.700 lao động trong lĩnh vực du lịch, trong đó có 54.100 lao động trực tiếp Năm 2020 có 236.600 lao động, trong đó có 82.700 lao động trực tiếp Về thu nhập du lịch, giá trị GDP du lịch và nhu cầu đầu tư: Năm 2015 thu nhập xã hội từ hoạt động du lịch đạt 732,1 triệu USD, giá trị GDP du lịch đạt 491,6 triệu USD Năm 2020, thu nhập xã hội từ hoạt động du lịch đạt 1.349,5 triệu USD, giá trị GDP du lịch đạt 877,1 triệu USD
Vậy, vùng đồng bằng sông Cửu Long sẽ làm gì để đạt được chỉ tiêu đã nêu
ở trên trong khi tài nguyên du lịch đa dạng và phong phú nhưng du lịch lại phát triển manh mún và không đồng bộ
Tiềm năng du lịch ĐBSCL là rất lớn và khả năng phát triển đa dạng, phong phú Tuy nhiên, du lịch vùng ĐBSCL chưa có sự hợp tác bền chặt giữa các địa phương, các công ty du lịch Lâu nay, việc liên kết thực ra chỉ là liên kết trong việc
tổ chức sự kiện, chứ chưa thật sự liên kết để cùng phát triển sản phẩm du lịch Thực
tế đó đã làm nảy sinh tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, liên kết chắp vá hoặc
Trang 29chưa có chiều sâu giữa các địa phương Tình trạng "mạnh ai nấy làm" và "rập khuôn" đã ảnh hưởng đến tiến trình xúc tiến du lịch mang tính vùng, miền
Đề án cũng đã chia không gian du lịch ĐBSCL thành 4 cụm để xây dựng sản phẩm du lịch Cụ thể, cụm trung tâm: gồm thành phố Cần Thơ và các tỉnh
An Giang, Kiên Giang và Hậu Giang với sản phẩm nổi trội của vùng là du lịch tham quan sông nước, du lịch với mục đích thương mại, du lịch lễ hội và du lịch nghỉ dưỡng biển cao cấp Cụm bán đảo Cà Mau: gồm các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu
và Sóc Trăng với các sản phẩm du lịch quan trọng là tham quan điểm cực Nam của Tổ quốc, du lịch sinh thái tại các khu rừng ngập mặn và du lịch văn hóa, lễ hội gắn với văn hóa dân tộc Khơme tại Sóc Trăng Cụm duyên hải phía Đông: gồm các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long và Trà Vinh với các sản phẩm chủ đạo là du lịch sông nước, miệt vườn, nghỉ tại nhà dân, tham quan làng nghề, di tích lịch sử cách mạng Cụm Đồng Tháp Mười: gồm 2 tỉnh Long An và Đồng Tháp với sản phẩm chủ đạo là du lịch sinh thái tại các khu rừng đặc dụng ngập nước nội địa Đồng Tháp Mười
Theo đó có 8 giải pháp thực hiện đề án như:
- Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực;
- Giải pháp chính sách về thuế và tài chính, trong đó xây dựng những cơ chế, chính sách đặc thù về việc ưu đãi thuế
- Xây dựng quy hoạch chi tiết các trọng điểm du lịch làm cơ sở kêu gọi vốn đầu tư;
- Giải pháp về tổ chức quản lý;
- Giải pháp về đầu tư;
- Giải pháp thị trường, xúc tiến quảng bá;
- Giải pháp hợp tác phát triển;
- Giải pháp nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ
Trang 30Tuy còn nhiều hạn chế nhưng bước đầu du lịch vùng ĐBSCL đã có một nền tảng tương đối đồng bộ để bắt đầu bước vào giai đoạn mới với những thách thức và cơ hội đặt ra cấp thiết đối với ngành du lịch vùng ĐBSCL như cần phải gạt bỏ tính cục bộ để tăng cường liên kết, hợp tác thật sự hiệu quả, hơn nữa là rất cần những dự án đầu tư từ các tổ chức trong và ngoài nước
1.3 Tiểu kết chương 1
Du lịch là ngành kinh tế dịch vụ mang tính tổng hợp cao nhằm phục vụ và làm thỏa mãn các nhu cầu của con người Vì vậy, sản phẩm du lịch được xây dựng nhằm phục vụ du khách Nhu cầu của du khách phụ thuộc nhiều vào các tiêu chí khác nhau như độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, khả năng chi trả, quốc gia, dân tộc v.v…nên để thoả mãn được họ thì sản phẩm du lịch phải được xây dựng theo một quy trình cơ bản phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của thị trường mục tiêu
Sản phẩm du lịch theo đúng nghĩa “hàng hoá” là cần có quá trình nghiên cứu, đầu tư sản xuất và người tiêu dùng Mục đích của người sản xuất sản phẩm
du lịch dựa trên tiềm năng và nguồn lực sẵn có để khai thác tài nguyên du lịch
tự nhiên cũng như nhân văn nhằm làm thoả mãn khách du lịch Để khai thác tối
đa tiềm năng của điểm đến thì cần phải có sự liên kết trong xây dựng và phát triển du lịch Điều này có thể làm tăng độ hấp dẫn của điểm đến và phòng ngừa được các nguy cơ suy thoái sớm của các sản phẩm du lịch Xét ở góc độ vĩ mô,
đó là sản phẩm du lịch tổng thể
Tuy nhiên, sản phẩm du lịch (đơn lẻ) thường được cụ thể hóa bằng các sản phẩm vật chất cung cấp cho du khách ở những nơi du khách dừng chân, nghỉ ngơi hay tham quan du lịch Đó có thể là chất lượng phòng ngủ, phương tiện vận chuyển, thái độ phục vụ hay các vật phẩm, đồ lưu niệm; các chủng loại hàng hóa với mẫu mã, chất liệu, phương pháp chế tác độc đáo v.v…
Có thể nói rằng, chất lượng của sản phẩm du lịch khác nhau được đánh giá bằng số lượng khách đến và đi du lịch trên một địa bàn cụ thể Chất lượng sản phẩm
Trang 31du lịch sẽ làm tăng hay giảm lượng khách trên địa bàn đó Giá trị của sản phẩm du lịch được “đo” bằng mức chi tiêu của du khách trong một chuyến du lịch và kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch, tổng các nguồn thu cho ngân sách địa phương từ hoạt động du lịch và thu nhập của cư dân bản địa tham gia kinh doanh các dịch vụ phục vụ du khách; thể hiện qua những ảnh hưởng, tác động của hệ thống sản phẩm du lịch đến sự phát triển kinh tế - xã hội của một địa phương, đất nước
Trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng cũng đã có nhiều bài học thực tế từ việc xây dựng sản phẩm du lịch liên kết vùng để khai thác được tối đa giá trị của tài nguyên, tận dụng được nguồn nhân lực và hạn chế sự nhàm chán
về loại hình du lịch cũng như sự thoái trào sớm của điểm đến
Trang 32Chương 2 HIỆN TRẠNG SẢN PHẨM DU LỊCH LIÊN KẾT VÙNG
Ở CÁC TỈNH THÁI NGUYÊN, BẮC CẠN VÀ CAO BẰNG
2.1 Khái quát về du lịch của các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Cạn và Cao Bằng
2.1.1 Tiềm năng phát triển du lịch của các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Cạn và Cao Bằng
2.1.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên và môi trường
* Thái Nguyên
Thái Nguyên là mảnh đất trung du, tiếp giáp giữa miền núi phía Bắc và đồng bằng sông Hồng nên địa hình khá đặc biệt Thái Nguyên có những diểm du lịch khá nổi tiếng như:
+Khu du lịch sinh thái Hồ Núi Cốc
- Vị trí: Hồ thuộc xã Tân Thái, huyện Đại Từ, cách trung tâm TP.Thái
Nguyên 15km về hướng Tây Nam
- Đặc điểm: Hồ Núi Cốc là một hồ nhân tạo, chắn ngang dòng sông Công,
nằm trên cao lưng chừng núi, có diện tích mặt hồ rộng 25km2, trên lòng hồ có 89 hòn đảo Hồ Núi Cốc là một danh lam thắng cảnh đẹp với 6 điểm tham quan chính là: sân khấu nhạc nước, huyền thoại cung, động Thế giới cổ tích, động Ba cây thông, công viên cá sấu, công viên nước Hệ thống khách sạn, nhà hàng với nhiều loại hình dịch vụ phong phú, đa dạng
- Khả năng khai thác: Hồ Núi Cốc được đánh giá là điểm du lịch có tầm cỡ
quốc gia thuộc tiểu vùng miền núi Đông Bắc, loại hình du lịch sinh thái với các sản phẩm du lịch đặc trưng: du lịch nghỉ dưỡng, giải trí; du lịch nghiên cứu sinh thái rừng, hồ; du lịch thể thao leo núi, thể thao mặt nước; du lịch văn hoá-lịch sử
Trang 33+ Du lịch làng chè Tân Cương
- Vị trí: Làng chè Tân Cương nằm cạnh khu du lịch Hồ Núi Cốc nổi tiếng
của tỉnh, thuộc xã Tân Cương (TP.Thái Nguyên), cách trung tâm TP.Thái Nguyên chừng10 km theo tỉnh lộ Đán-Núi Cốc
- Đặc điểm: Là địa phương trồng và sản xuất laọi chè ngon nổi tiếng trong
và ngoài nước Các hộ dân trong xã chủ yếu tập trung chuyên canh cây chè, toàn
xã có 1200 hộ trồng chè với diện tích trên 400 ha, sản lượng chè của xã mỗi năm trên 1000 tấn búp khô
- Khả năng khai thác: Có thể khai thác thành điểm du lịch cấp vùng, chức
năng tham quan, tìm hiểu, du lịch sinh thái, du lịch làng nghề
+ Hang Phượng Hoàng-suối Mỏ Gà
- Vị trí: Di tích thuộc xã Phú Thượng, huyện Võ Nhai, nằm sát trục quốc lộ 1B
(Thái Nguyên-Lạng Sơn), cách thành phố Thái Nguyên 42 km về phía Đông Bắc
- Đặc điểm: Đây là một quần thể thắng cảnh đẹp của tỉnh Thái Nguyên
bởi phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ, hang động đẹp, nhiều dáng vẻ kỳ thú, có suối nước, thác nước trong xanh, khí hậu ôn hoà mát mẻ, nằm trên đỉnh núi, cửa hang có độ cao khoảng 100m từ chân núi leo lên miệng hang qua nhiều vách đá tai mèo, hang ăn sâu xuống lòng núi, trong hang có dòng suối mát, nhiều nhũ đá đẹp Dưới chân núi là suối Mỏ Gà, nước ngầm từ trong lòng núi chảy ra quanh năm Phía trước cửa hang có thác nước nhỏ được tạo nên bởi nhiều mô đá, bậc đá
- Khả năng khai thác: Năm 1994, thắng cảnh đã được Nhà nước xếp hạng
di tích thắng cảnh cấp Quốc gia Có thể trở thành điểm du lịch cấp vùng, thuận lợi để phát triển du lịch thể thao, sinh thái, mạo hiểm
+ Thác Khuôn Tát
Trang 34- Vị trí: Thác Khuôn Tát thuộc xóm Tỉn keo, xã Phú Đình, huyện Định Hoá
- Đặc điểm: Thác có độ cao trên 20m, tầng dưới cùng đẹp nhất, cao
khoảng 12m, rộng 15m, các tầng còn lại cao chênh lệch nhau trên dưới 2 đến 3m Chân thác Khuôn Tát nước dội xuống thành bồn tắm thiên tạo, chỗ nước sâu nhất chừng 2-3m, nông dần ra phía ngoài tạo thành con suối róc rách trải dài qua khe đá, bờ cây thoáng đãng
- Khả năng khai thác: Thắng cảnh Thác Khuôn Tát, một bức tranh thiên
nhiên sơn thuỷ, hữu tình (nằm trong vùng khu di tích đặc biệt cấp quốc gia ATK Định Hoá ) không chỉ của tỉnh Thái Nguyên mà còn nổi tiếng khắp vùng Việt Bắc đã được xếp hạng danh thắng cấp quốc gia năm 2002
+ Khu di tích khảo cổ học Thần Sa
- Vị trí: Theo quốc lộ 1B, di tích khảo cổ thuộc xã Thần Sa, huyện Võ
Nhai cách TP.Thái Nguyên 40 km về phía Bắc
- Đặc điểm: Nơi đây có những di chỉ khảo cổ đồ đá về con người sống
cách chúng ta chừng 2-3 vạn năm được phát hiện ở hang Phiềng Tung (hang Miệng Hổ), Ngườm thuộc vùng Thần Sa, chứng minh tại đây đã tồn tại một nền văn hoá cổ gọi là văn hoá Thần Sa Đây là nền văn hoá cổ nhất được biết đến cho tới nay ở Việt Nam và cả vùng lục địa Đông Nam Á
- Khả năng khai thác: Có thể phát triển thành điểm du lịch cấp quốc gia:
Di tích khảo cổ học Thần Sa đã được Nhà nước xếp hạng bảo tồn Quốc gia Thuận tiện cho phát triển du lịch sinh thái, nghiên cứu, tham quan
* Bắc Cạn
Bắc Kạn là tỉnh giàu tiềm năng du lịch bởi sự phong phú của tài nguyên, khoáng sản và nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc miền núi đông bắc Việt Nam Bắc Cạn được thiên nhiên ban tặng nhiều tài nguyên du lịch, trong đó nổi bật là dạng địa hình caxtơ với nhiều hang động kỳ ảo
Trang 35+ Vườn quốc gia Ba Bể với các điểm du lịch Hồ Ba Bể, Động Puông,Thác Đầu Đẳng, Ao Tiên
- Vị trí: xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn
- Đặc điểm: Vườn quốc gia Ba Bể có Hồ Ba Bể là danh thắng thiên nhiên
được công nhận là di tích lịch sử văn hoá Quốc gia năm 1996 Cuối năm 2004 được công nhận là Vườn di sản ASEAN Năm 2011 được UNESCO công nhận
Ba Bể là khu Ramsar Năm 2012 được công nhận là di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Đây là khu bảo tồn đất ngập nước có tầm quan trọng của thế giới và là một trong hai mươi hồ nước ngọt đẹp nhất thế giới Có các thắng cảnh đẹp như Động Puông, thác Đầu Đẳng, Ao Tiên v.v…
- Khả năng khai thác: Vườn quốc gia Ba Bể là khu du lịch cấp quốc gia,
phục vụ các loại hình du lịch sinh thái, mạo hiểm, nghiên cứu, tham quan, nghỉ dưỡng, thể thao, văn hoá, cộng đồng v.v…
+ Điểm du lịch Thác Roọm
- Vị trí: Thác Roọm thuộc xã Quang Thuận, huyện Bạch Thông, nằm cách
thị xã Bắc Cạn 8 km theo tỉnh lộ Bắc Cạn - Chợ Đồn
- Đặc điểm: Khu thác Roọm bao gồm một quần thể bãi đá, sông núi rất
đẹp hòa với cảnh thiên nhiên của núi rừng Thác Roọm là nơi con sông Cầu bị chắn bởi bãi đá lô nhô dài chừng 1 km (0.6 miles) tạo nên phong cảnh kỳ thú
- Khả năng khai thác: là điểm du lịch phục vụ loại hình du lịch cuối tuần,
vui chơi, giải trí, thể thao, leo núi, cắm trại, nghỉ dưỡng
+ Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ
- Vị trí: nằm tại 5 xã (Kim Hỷ, Lương Thượng, Lạng San, Ân Tình và Côn
Minh) huyện Na Rì và 2 xã (Cao Sơn và Vũ Muộn) huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn;
- Đặc điểm: Khu Bảo tồn Thiên nhiên Kim Hỷ rộng 14,772 ha, trong đó
Trang 36sinh thái Đây là nơi lưu giữ được hiện trạng nguyên sơ của thiên nhiên kỳ thú cùng với một hệ sinh thái động, thực vật phong phú và đa dạng, với rừng trên núi đá vôi, biểu trưng cho giá trị độc đáo của vùng Đông Bắc Việt Nam Với nhiều loại động, thực vật quý hiếm thuộc diện phải được quản lý và bảo vệ nghiêm ngặt, trong đó phải
kể đến là loài voọc má trắng, sóc, khỉ thuộc những loài hiện có nguy cơ bị tuyệt chủng trên toàn cầu Đặc biệt sự đa dạng của loài dơi ở đây - được coi là đa dạng thành phần cao nhất Việt Nam Kim Hỷ còn là nơi lưu giữ một số nguồn gien quý hiếm của các loại thực vật đặc hữu có nguy cơ tuyệt chủng như cây thiết san giả hay còn gọi là thông đá mà trên thế giới hiện nay còn sót lại ở 4 tỉnh miền núi phía Bắc
nước ta và 2 tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông (Trung Quốc)
- Khả năng khai thác: Đỉêm du lịch cấp quốc gia phục vụ du lịch sinh thái,
nghiên cứu, tham quan, học tập v.v…
+ Điểm du lịch Phia Khao – Chợ Đồn
- Khả năng khai thác: Phục vụ du lịch tham quan, nghỉ dưỡng, nghiên
cứu, thể thao, mạo hiểm, sinh thái
* Cao Bằng
Cao Bằng là tỉnh có diện tích tự nhiên là 6.707,86 km2 (2,0% diện tích toàn quốc) được giới hạn từ 22022' đến 230
08' vĩ độ Bắc và từ 105040' đến
106040' kinh độ Đông Sự phong phú, đa dạng về điều kiên tự nhiên đã tạo cho
Cao Bằng nhiều thế mạnh để phát triển du lịch, mặc dù phần lớn hiện nay còn
nằm dưới dạng tiềm năng
Trang 37+ Thác Bản Giốc, động Ngườm Ngao
- Vị trí: Thác Bản Giốc thuộc địa bàn xã Đàm Thuỷ, huyện Trùng Khánh,
cách thị xã Cao Bằng khoảng 88 km
- Đặc điểm tài nguyên: Thác Bản Giốc hùng vĩ, đẹp và hấp dẫn đã được
Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng danh thắng cấp quốc gia Động Ngườm Ngao nằm cách Thác Bản Giốc 3 km cũng đã được công nhận là danh thắng quốc gia
- Khả năng khai thác: Thác Bản Giốc và động Ngườm Ngao không
những có thể khai thác thành điểm du lịch sinh thái ý nghĩa quốc gia mà còn mang tầm quốc tế
+ Hồ Thăng Hen
- Vị trí: Hồ Thăng Hen thuộc địa phận xã Quốc Toản, huyện Trà Lĩnh
- Đặc điểm tài nguyên: Hồ Thăng Hen gồm 36 hồ đẹp trên những đỉnh núi
cao, gắn với huyền thoại chàng Sung, nàng Bjooc Nước hồ trong xanh quanh năm, đây là điểm cảnh quan hấp dẫn khách du lịch
- Khả năng khai thác: Hồ Thăng Hen có thể khai thác thành điểm du lịch
sinh thái, tham quan, vui chơi giải trí
+ Phja Đén - Phja Oắc
- Vị trí: Phja Đén - Phja Oắc bao gồm các xã Thành Công, xã Phan Thanh,
xã Quang Thành và thị trấn Tĩnh Túc, huyện Nguyên Bình
- Đặc điểm tài nguyên: Phja Đén - Phja Oắc có nhiều lợi thế để phát triển
du lịch sinh thái Hệ sinh thái đa dạng có tính sinh học rất cao với nhiều loại động thực vật quý hiếm dùng cho nghiên cứu khoa học và sưu tập Với độ cao
từ 1.500 m - 2.000 m so với mặt biển, nhiệt độ trung bình từ 18-25ºC, thích hợp với du lịch nghỉ dưỡng Ngoài ra mùa đông có khi nhiệt độ xuống dưới 1ºC và
có tuyết rơi tạo thành địa điểm hấp dẫn khách tham quan
Trang 38- Khả năng khai thác: Khu vực Phja Đén - Phja Oắc có thể khai thác phát
triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, kết hợp khai thác bản sắc văn hóa cộng đồng
+ Hồ Khuổi Lái
- Vị trí: Hồ Khuổi Lái thuộc địa phận huyện Hoà An, cách thị xã Cao
Bằng 13km về phía Tây Nam theo quốc lộ 3
- Đặc điểm: Hồ rộng 72 ha, nước trong xanh, phẳng lặng cảnh quan thơ mộng
- Khả năng khai thác: Khai thác các chương trình du lịch sinh thái, câu cá,
săn bắn, du thuyền dạo quanh hồ…
Ngoài những tài nguyên tiêu biểu nêu trên, nếu chỉ xét riêng về yếu tố tự nhiên,
có thể kể đến các điểm hoặc khu vực cảnh quan sau đều có giá trị du lịch sinh thái:
- Khu vực Pác Bó thuộc huyện Hà Quảng;
- Rừng Trần Hưng Đạo thuộc huyện Nguyên Bình;
- Đèo Mã Phục, động Giộc Đâư thuộc huyện Trà Lĩnh;
- Hang Dơi, Ngườm Khu, Ngườm Én thuộc huyện Hạ Lang;
- Khu sinh thái Ngườm Lầm Nặm Khao thuộc huyện Phục Hòa
2.1.1.2 Tài nguyên nhân văn
* Thái Nguyên
Với bề dày lịch sử và truyền thống hào hùng chống giặc ngoại xâm, mảnh đất Thái nguyên là một mảnh đất giàu tài nguyên du lịch, cả về tự nhiên lẫn nhân văn, Theo số liệu thống kê của Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch về các điểm di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắng cảnh đã quy hoạch của tỉnh, đến nay, Thái Nguyên có 780 di tích, trong đó có 474 di tích lịch sử, 12 di tích khảo cổ, 43 di tích thắng cảnh, 26 di tích kiến trúc nghệ thuật, 225 di tích tín ngưỡng, tôn giáo
Trang 390 10 20 30 40 50 60 70
Di tích Lịch sử
Di tích Khảo cổ
Danh lam thắng cảnh
Công trình kiến trúc nghệ thuật
Di tích tín ngưỡng tôn giáo
Biểu đồ 2.1 Thống kê các điểm di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh đã quy hoạch tại Thái Nguyên
Nguồn: Sở Văn hoá Thể thao và Du lịch Thái Nguyên
a Các di tích văn hóa
+ Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam
- Vị trí: Bảo tàng tọa lạc giữa trung tâm TP.Thái Nguyên, trên một vùng
đất rộng 28.000 m2
- Đặc điểm: Tại đây, vào thời Pháp thuộc từng là khuôn viên của tòa sứ, tòa
phó sứ tỉnh Thái Nguyên, phía sau là một khuôn viên rộng nhiều cây cối cổ thụ, tạo phong cảnh râm mát Bảo tàng là một công trình kiến trúc lớn được trang trí bởi nhiều đường nét hoa văn dân gian dân tộc Việt Nam Bảo tàng được xây dựng thành
5 khối kiến trúc là 5 phòng trưng bày lớn: phòng Việt-Mường, phòng Tày-Thái,
Trang 40- Khả năng khai thác: Có thể trở thành điểm du lịch cấp vùng, thuận tiện
cho du lịch tham quan, nghiên cứu
+ Đền thờ Đội Cấn
- Vị trí: Đền thờ Đội Cấn nằm trên đồi lịch sử cách mạng Đội Cấn tại
trung tâm thành phố Thái Nguyên, thuộc phố Phủ Liễn, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên
- Đặc điểm: Đền thờ một lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên trong
cuộc kháng chiến chống Pháp tên là Trịnh Văn Cấn Đền là di tích lịch sử cấp quốc gia đã được Nhà nước xếp hạng bảo tồn
- Khả năng khai thác: Có thể phát triển thành điểm du lịch cấp vùng, phục
vụ du lịch lịch sử, chuyên đề, nghiên cứu, tham quan
+ Chùa Phủ Liễn
- Vị trí: Chùa Phủ Liễn là điểm du lịch văn hoá tâm linh của nhân dân tỉnh
Thái Nguyên và các địa phương lân cận Chùa có diện tích khoảng 3500m2
, nằm trên một địa thế đẹp, cao ráo, xung quanh là hồ nước nhỏ, thuộc phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên
- Đặc điểm: Chùa là Trung tâm Hội Phật giáo đặt tại tỉnh Thái Nguyên
Chùa được xây dựng từ đầu thế kỷ 19 và được trùng tu nhiều lần Chùa mang lối kiến trúc cổ, có Tam Bảo, Điện Mẫu, Nhà Tổ, Tháp Cổ và phía trước có bức tượng Quan Âm rất linh thiêng
- Khả năng khai thác: điểm du lịch cấp vùng, thuận tiện cho du lịch tâm
linh, tham quan, nghiên cứu
+ Đền Đuổm
- Vị trí: Di tích nằm ngay chân núi Đuổm, thuộc xã Động Đạt, huyện Phú
Lương, nằm cạnh quốc lộ 3, cách thành phố Thái Nguyên 23 km về phía Tây Bắc