Hệ thống cửa khẩu và các trung tâm thương mại, các chợ biên giới chính là một trong những lợi thế lớn, tạo nên “dấu ấn” đối với sự phát triển du lịch nói chung và hoạt động du lịch "biên
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THU THỦY
NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG DU LỊCH “BIÊN MẬU”
Trang 2MỤC LỤC
BẢNG DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nội dung nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Bố cục luận văn 5
6 Đóng góp mới của đề tài 5
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ DU LỊCH “BIÊN MẬU” Ở LẠNG SƠN 7
1.1 Những vấn đề về Du lịch "biên mậu" 7
1.1.1 Một số vấn đề lí luận về du lịch 7
1.1.1.1 Du lịch 7
1.1.1.2 Điểm đến 8
1.1.1.3 Khách du lịch 10
1.1.2 Hoạt động "biên mậu" 11
1.1.2.1 Khái niệm "biên mậu" 11
1.1.2.2 Các hoạt động kinh tế "biên mậu" 12
1.1.3 Du lịch "biên mậu" 14
1.1.3.1 Khái niệm 14
1.1.3.2 Khách du lịch "biên mậu" 17
1.1.3.3 Các hình thức hoạt động của Du lịch "biên mậu" 18
1.1.3.4 Vai trò của Du lịch "biên mậu" 20
1.2 Lạng Sơn và hoạt động "biên mậu" ở Lạng Sơn 24
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của tỉnh Lạng Sơn 24
Trang 31.2.2 Tài nguyên du lịch ở tỉnh Lạng Sơn 29
1.2.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 29
1.2.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 34
1.2.3 Hoạt động "biên mậu" ở Lạng Sơn 38
Tiểu kết 40
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH “BIÊN MẬU” Ở TỈNH LẠNG SƠN 41
2.1 Các hình thức tổ chức, quản lí và hoạt động Du lịch “biên mậu” 41
2.1.1 Các hình thức tổ chức, quản lí 41
2.1.1.1 Các hình thức tổ chức, quản lí của Nhà nước 41
2.1.1.2 Các hình thức tổ chức, quản lí của doanh nghiệp 48
2.1.2 Các hình thức hoạt động 56
2.1.2.1 Các chương trình du lịch "biên mậu" thuần túy 56
2.1.2.2 Các chương trình du lịch "biên mậu" kết hợp 57
2.1.2.3 Một số hình thức hoạt động khác 59
2.2 Các hoạt động du lịch "biên mậu" chủ yếu ở Lạng Sơn 60
2.2.1 Du lịch mậu dịch biên giới 60
2.2.2 Du lịch quá cảnh 65
2.2.3 Du lịch tín ngưỡng, tâm linh kết hợp với mậu dịch và tham quan di tích, danh thắng 67
2.2.4 Du lịch biên mậu kết hợp sinh thái, nghỉ dưỡng 73
2.3 Khách du lịch "biên mậu" ở Lạng Sơn 74
2.3.1 Động cơ đi du lịch của khách du lịch 74
2.3.2 Đặc điểm của khách du lịch 76
2.4 Đánh giá chung 84
2.4.1 Những thuận lợi trong hoạt động du lịch 84
2.4.1.1 Vị trí địa lí 84
Trang 42.4.1.2 Tài nguyên du lịch 85
2.4.1.3 Giao thông vận tải 86
2.4.1.4 Chính sách ưu đãi của Nhà nước 87
2.4.2 Những khó khăn trong hoạt động du lịch 88
2.4.3 Những thành tựu đạt được trong hoạt động du lịch 90
2.4.3.1 Kinh tế 90
2.4.3.2 Văn hóa - xã hội 94
2.4.4 Những hạn chế trong hoạt động du lịch 97
Tiểu kết 100
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA DU LỊCH “BIÊN MẬU” Ở TỈNH LẠNG SƠN 101
3.1 Căn cứ đề xuất 101
3.1.1 Căn cứ lí luận 101
3.1.1.1 Định hướng phát triển du lịch của tỉnh Lạng Sơn 101
3.1.1.2 Mục tiêu phấn đấu của ngành du lịch Lạng Sơn 104
3.1.2 Căn cứ thực tiễn 105
3.1.2.1 Hiệu quả kinh doanh du lịch “biên mậu” 106
3.1.2.2 Công tác quản lí Nhà nước về du lịch 106
3.1.2.3 Công tác xúc tiến du lịch 106
3.1.2.4 Công tác quy hoạch và các dự án đầu tư 107
3.1.2.5 Về hoạt động dịch vụ du lịch 107
3.2 Một số giải pháp cụ thể 108
3.2.1 Về tổ chức và quản lí du lịch “biên mậu” 108
3.2.2 Phát triển du lịch "biên mậu" trong sự hợp tác với các địa phương khác 110
3.2.3 Quy hoạch các điểm du lịch, tuyến du lịch “biên mậu” 111
3.2.4 Cải tiến, xây dựng chương trình du lịch “biên mậu” 115
Trang 53.2.5 Về sản phẩm và xây dựng sản phẩm du lịch“biên mậu” 118
3.2.6 Về cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch “biên mậu” 120
3.2.7 Về nguồn nhân lực du lịch “biên mậu” 121
3.2.8 Về công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch “biên mậu” 123
3.3 Một số kiến nghị 124
3.3.1 Về vấn đề an ninh - quốc phòng trong du lịch “biên mậu” 124
3.3.2 Vấn đề bảo vệ tài nguyên du lịch trong du lịch “biên mậu” 127
3.3.3 Vấn đề gìn giữ bản sắc văn hóa, môi trường xã hội trong du lịch “biên mậu” 130
Tiểu kết 134
KẾT LUẬN 135
TÀI LIỆU THAM KHẢO 138
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế hiện nay, mỗi quốc gia đều coi Du lịch là bức tranh phản ánh toàn cảnh nhất về đất nước mình, bởi Du lịch không chỉ là hoạt động mang ý nghĩa kinh tế, mà còn là ý nghĩa văn hoá - xã hội sâu sắc Hoạt động
du lịch không chỉ thể hiện mình như một ngành kinh tế năng động, hiệu quả; hay đặc tính xã hội sâu rộng, mà còn bao hàm những ảnh hưởng và tác động
đa chiều Trước tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, tuy nhiên hoà bình, ổn định và hợp tác phát triển vẫn là xu thế chủ đạo, thì quá trình liên kết khu vực và quốc tế về phát triển kinh tế, đặc biệt là thương mại, đầu tư và du lịch ngày càng rộng
Là quốc gia có sự đa dạng về tài nguyên du lịch và lợi thế của môi trường chính trị - xã hội được đánh giá là an toàn, ổn định, Việt Nam có những điều kiện để thu hút khách du lịch Để xây dựng hình ảnh một đất nước thân thiện và tạo đà cho ngành du lịch phát triển, thì sự duy trì mối quan hệ hữu nghị và bầu không khí hoà bình với các nước láng giềng là vấn đề luôn được đặc biệt chú trọng trong mọi chiến lược phát triển Cùng với xu thế quốc
tế hoá, hoạt động thiết lập các mối quan hệ song và đa phương trên cơ sở các hoạt động trao đổi, giao lưu nhiều lĩnh vực, đặc biệt là về kinh tế giữa Việt Nam với các nước láng giềng: Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan luôn được chú trọng tăng cường
Lãnh thổ nước ta có 4.510 km đường biên giới trên bộ, tiếp giáp với ba nước: Trung Quốc, Lào, Campuchia Đó là lợi thế rất lớn cho sự hợp tác và giao lưu giữa các cư dân của mỗi nước Là quốc gia đông dân, rộng lớn và đang vươn lên trở thành cường quốc kinh tế của thế giới, Trung Quốc không
Trang 8ngừng vươn xa ảnh hưởng rộng lớn của mình Đối với nước ta, ảnh hưởng đó không chỉ thể hiện qua các dự án đầu tư kinh tế, hoạt động thương mại, các chương trình hợp tác văn hoá - xã hội giữa hai nước, mà còn thể hiện rõ nét thông qua hoạt động du lịch
Trong nhiều năm trở lại đây, lượng khách du lịch Trung Quốc đến với nước ta không ngừng tăng, trở thành thị trường chiếm ưu thế về số lượng; đồng thời lượng khách du lịch Việt Nam đến Trung Quốc cũng ngày càng phổ biến hơn Mục đích của các chuyến đi giữa hai bên không chỉ với động cơ đi
du lịch thuần túy, mà còn có các mục đích tham quan kết hợp tìm hiểu thị trường, giao thương, mua sắm hàng hoá Qua đó, vai trò của các địa phương vừa có lợi thế về tài nguyên du lịch, vừa có lãnh thổ tiếp giáp với Trung Quốc là: Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh càng được thể hiện
Lạng Sơn - vùng đất giàu truyền thống lịch sử, văn hoá với nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng, cũng là tỉnh có 253 km đường biên giới nằm ở phía Đông Bắc tiếp giáp với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, nên giữ vị trí đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng Lạng Sơn còn được biết đến là điểm đầu của huyết mạch giao thông xuyên Việt, đồng thời
là mắt xích xung yếu trong khu vực tứ giác tăng trưởng kinh tế phía Bắc (Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh), trở thành nơi thông thương
với nhiều tỉnh trong khu vực
Nằm cách thủ đô Hà Nội 154 km về phía Bắc, được đánh giá là thuận tiện hơn cả về giao thông so với các tỉnh có biên giới giáp Trung Quốc, nên Lạng Sơn chiếm giữ vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển thương mại,
du lịch Tỉnh Lạng Sơn có hai cửa khẩu quốc tế: cửa khẩu đường sắt Đồng Đăng và cửa khẩu đường bộ Hữu Nghị; hai cửa khẩu quốc gia là Bình Nghi (huyện Tràng Định), Chi Ma (huyện Lộc Bình); ngoài ra còn có các cửa khẩu
Trang 9phụ là Tân Thanh (huyện Văn Lãng), Cốc Nam (huyện Cao Lộc) và bảy cặp chợ biên giới với Trung Quốc Hệ thống cửa khẩu và các trung tâm thương
mại, các chợ biên giới chính là một trong những lợi thế lớn, tạo nên “dấu ấn” đối với sự phát triển du lịch nói chung và hoạt động du lịch "biên mậu" nói
riêng ở Xứ Lạng
Khả năng khai thác các thế mạnh của Lạng Sơn làm động lực cho mọi
sự phát triển được xem là đầy triển vọng, nhất là việc tăng cường giao lưu hợp tác qua biên giới thông qua hoạt động thương mại, du lịch; song lại
không tách rời các vấn đề chủ quyền quốc gia dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ Hoạt
động du lịch gắn với phát triển kinh tế ở khu vực biên giới chính là những nhịp nối mang tính quyết định để tạo nên chiếc cầu gắn kết mối quan hệ
“láng giềng hữu nghị, hợp tách toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” với nước bạn Để có thể xây dựng nên chiếc cầu nối đó, đòi hỏi không
chỉ ở sự nỗ lực rất lớn của các cộng đồng dân cư vùng lãnh thổ tiếp giáp; các cấp chính quyền địa phương; các lực lượng phối hợp liên quan, mà còn ở sự xác định đúng đắn các chiến lược để tận dụng hiệu quả vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, văn hoá - xã hội, du lịch, cũng như về chính trị, an ninh quốc phòng của Lạng Sơn, đồng thời bảo vệ toàn vẹn mọi thành quả phát triển nói
chung Từ đó, người viết xin mạnh dạn đưa ra đề tài: “Nghiên cứu hoạt động
du lịch “biên mậu” ở tỉnh Lạng Sơn”
2 Mục đích và nội dung nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài “Nghiên cứu hoạt động du lịch “biên mậu” ở tỉnh Lạng Sơn”
góp phần nghiên cứu một loại hình du lịch vùng biên ở nước ta Qua đó, tìm
hiểu thực trạng và đặc điểm của hoạt động du lịch “biên mậu” ở Lạng Sơn, địa bàn sôi động của du lịch“biên mậu” Bên cạnh đó, đề tài còn góp phần
nghiên cứu một vấn đề quan trọng là kết hợp phát triển kinh tế với giữ vững
Trang 10an ninh, quốc phòng, tăng cường hợp tác kinh tế gắn với việc bảo tồn và gìn giữ các giá trị văn hóa dân tộc ở khu vực biên giới
Nội dung nghiên cứu
Nội dung của đề tài đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu một số nội dung cơ bản:
Thứ nhất, khái quát một số vấn đề lí luận liên quan đến đề tài như: du lịch, hoạt động "biên mậu", du lịch "biên mậu" và tỉnh Lạng Sơn
Thứ hai, nghiên cứu thực trạng hoạt động du lịch “biên mậu” ở tỉnh
Lạng Sơn dựa trên sự tổng hợp, phân tích thông tin về hình thức tổ chức, quản
lí hoạt động du lịch "biên mậu"; sản phẩm du lịch "biên mậu"; khách du lịch
"biên mậu"; qua đó đưa ra đánh giá về những thành tựu, hạn chế, thuận lợi, khó khăn trong sự phát triển du lịch "biên mậu" ở Lạng Sơn
Thứ ba, đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Du lịch “biên mậu” ở tỉnh Lạng Sơn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu bao gồm các vấn đề tổng quan về tỉnh Lạng Sơn như: tự nhiên, kinh tế, văn hoá - xã hội, an ninh quốc phòng, thực trạng phát triển của ngành du lịch và hoạt động du lịch "biên mậu" ở Lạng Sơn, từ đó đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động du lịch
"biên mậu" ở tỉnh Lạng Sơn
Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian:
Phạm vi nghiên cứu trọng tâm của đề tài là những khu vực có hoạt
động du lịch "biên mậu" diễn ra sôi động như: trung tâm thành phố Lạng Sơn,
khu vực cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị, Đồng Đăng, khu kinh tế cửa khẩu Tân Thanh và một số địa bàn có sức hút về tài nguyên du lịch của tỉnh Lạng Sơn
- Về thời gian:
Trang 11Đề tài nghiên cứu sử dụng thông tin về các lĩnh vực kinh tế - xã hội, văn hóa, và hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến năm 2009
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp điền dã, khảo sát thực tế
- Phương pháp thu thập thông tin (qua sách báo, các phương tiện thông tin, phỏng vấn)
- Phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, đối chiếu, xử lý thông
tin thu thập thông tin
ở tỉnh Lạng Sơn
6 Đóng góp mới của đề tài
Hoạt động du lịch "biên mậu" ngày càng giữ vai trò quan trọng trong
việc xây dựng sản phẩm, nâng cao sức hấp dẫn của du lịch Lạng Sơn; trong khi đó, công tác nghiên cứu các đối tượng của loại hình du lịch hấp dẫn, độc
đáo này còn chưa được đẩy mạnh “Nghiên cứu hoạt động Du lịch “biên
mậu” ở tỉnh Lạng Sơn” là đề tài đầu tiên nghiên cứu về du lịch “biên mậu”
ở Lạng Sơn, qua đó tác giả đánh giá và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu
quả hoạt động du lịch "biên mậu" ở tỉnh Lạng Sơn nói riêng và các tỉnh, thành
phố nằm ở vị trí cửa ngõ biên giới nước ta nói chung là cần thiết và có ý nghĩa
trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 12Đề tài “Nghiên cứu hoạt động Du lịch “biên mậu” ở tỉnh Lạng Sơn”
đã đạt được kết quả mà mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề ra:
Một là, đề tài đã nghiên cứu và khái quát được một số vấn đề lí luận liên quan đến đề tài như: du lịch, hoạt động "biên mậu", du lịch "biên mậu"
và tỉnh Lạng Sơn
Hai là, đề tài đã khảo sát, nghiên cứu thực trạng hoạt động du lịch
“biên mậu” ở tỉnh Lạng Sơn dựa trên sự tổng hợp, phân tích thông tin về hình thức tổ chức, quản lí hoạt động du lịch "biên mậu"; sản phẩm du lịch "biên mậu"; khách du lịch "biên mậu"; qua đó đưa ra đánh giá về những thành tựu, hạn chế, thuận lợi, khó khăn trong sự phát triển du lịch "biên mậu" ở Lạng
Sơn
Ba là, đề tài đã đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của du lịch “biên mậu” ở tỉnh Lạng Sơn trong thời gian
tới
Trang 13Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ DU LỊCH “BIÊN MẬU” Ở
LẠNG SƠN 1.1 Những vấn đề về Du lịch "biên mậu"
1.1.1 Một số vấn đề lí luận về du lịch
1.1.1.1 Du lịch
Hoạt động du lịch đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển của xã hội loài người Ngày nay, trên phạm vi toàn thế giới, du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hóa - xã hội và hoạt động du lịch đang được phát triển một cách mạnh mẽ Theo Hội đồng Lữ hành và Du lịch quốc
tế (WTTC), du lịch là một ngành kinh tế lớn nhất thế giới, vượt cả ngành sản xuất ô tô, thép, điện tử và nông nghiệp Nhiều quốc gia trên thế giới đã coi du lịch là ngành kinh tế quan trọng
Mặc dù hoạt động du lịch đã xuất hiện từ lâu và phát triển với tốc độ nhanh, song cho đến ngày nay, khái niệm du lịch vẫn chưa có sự thống nhất,
mà như Giáo sư - Tiến sĩ Berneker (một chuyên gia hàng đầu về du lịch thế
giới) đã nhận định: “Đối với du lịch, có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa” Điều này không sai vì mỗi hoàn cảnh khác nhau, góc
độ nghiên cứu khác nhau, mỗi người nghiên cứu có cách hiểu khác nhau về
du lịch
Năm 1811, lần đầu tiên khái niệm về du lịch được xuất hiện ở nước
Anh: “Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của các cuộc hành trình với mục đích giải trí”
Theo tác giả Kuns (người Thụy Sĩ), thì: “Du lịch là hiện tượng những người ở chỗ khác, ngoài nơi ở thường xuyên, đi đến bằng các phương tiện giao thông và sử dụng các xí nghiệp du lịch”
Theo Micheal Coltman (người Mỹ) cho rằng: “Du lịch là sự kết hợp và tương tác của bốn nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách bao gồm:
Trang 14khách du lịch, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền nơi đón tiếp khách du lịch”
Tại khoản 1 điều 4 chương 1 của Luật Du lịch Việt Nam (năm 2005),
thuật ngữ “Du lịch” được hiểu như sau: “Du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”
Qua một số quan niệm trên, có thể thấy du lịch là một dạng hoạt động đặc thù gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp Hoạt động du lịch vừa có đặc điểm của ngành kinh tế, lại có đặc điểm của
ngành văn hóa - xã hội Để có thể khái quát đầy đủ nhất về thuật ngữ “Du lịch”, có thể tiếp xúc ở hai nội dung [30,tr.14]:
Thứ nhất, du lịch là sự di chuyển qua đêm tạm thời của con người
ngoài nơi cư trú trong thời gian rảnh rỗi nhằm mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ do các cơ sở chuyên nghiệp cung ứng
Thứ hai, du lịch là một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thỏa mãn
nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cưu trú với mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh
1.1.1.2 Điểm đến
Du lịch là một hoạt động có hướng đích không gian Người đi du lịch rời khỏi nơi cư trú của mình để đến một địa điểm cụ thể ở nơi khác để thỏa
mãn nhu cầu theo mục đích của chuyến đi Trong khoa học du lịch, “điểm đến
du lịch” (tourist destination) là cách gọi chung cho địa điểm mà du khách tới,
Trang 15có thể là một địa danh cụ thể, một khu vực, một vùng lãnh thổ, một quốc gia, thậm chí là một châu lục
Trên phương diện địa lí, điểm đến được xác định theo phạm vi không
gian lãnh thổ Theo đó, “điểm đến du lịch là một vị trí địa lí mà một du khách đang thực hiện hành trình đến đó nhằm thỏa mãn nhu cầu tùy theo mục đích chuyến đi của người đó” Dựa vào độ dài ngắn của thời gian mà du khách tiêu
dùng trong hành trình có thể phân biệt hai loại điểm đến, đó là điểm đến cuối cùng và điểm đến trung gian (điểm ghé thăm)
Trong kinh tế du lịch, “điểm đến” được quan niệm là yếu tố cung về du lịch Theo đó, điểm đến được hiểu “là sự tập trung các tiện nghi và dịch vụ được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của du khách” Hầu hết các điểm đến bao
gồm một hạt nhân cùng với các yếu tố cấu thành được coi là những tiêu chuẩn cho sự tồn tại của một điểm đến du lịch như: các điểm hấp dẫn du lịch, giao thông đi lại, nơi ăn nghỉ, các tiện nghi và dịch vụ hỗ trợ, các hoạt động bổ sung Tùy thuộc vào mỗi cá nhân mà các yếu tố này có thể có rất nhiều cách kết hợp khác nhau ở các mức độ khác nhau; tuy nhiên, tất cả các điểm đến du lịch nói chung đều không thể thiếu một trong những yếu tố cấu thành đó
Trên phương diện vật chất, điểm đến được cấu thành từ hai bộ phận, đó
là cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật
Cơ sở hạ tầng của điểm đến là sự biểu thị tất cả các dạng của công trình xây dựng cần thiết cho một khu vực dân cư sinh sống, đồng thời là cơ sở nền tảng cho hoạt động du lịch trong khu vực, bao gồm: hệ thống giao thông vận tải (đường bộ, đường sắt, bến xe, bến cảng, ), hệ thống cung cấp điện, hệ thống cấp thoát nước và hệ thống thông tin liên lạc
Cơ sở vật chất kĩ thuật của điểm đến du lịch là toàn bộ những tiện nghi vật chất và phương tiện kỹ thuật có khả năng cung cấp các sản phẩm và dịch
vụ cho du khách, bao gồm: các cơ sở lưu trú và ăn uống, các điểm hấp dẫn
Trang 16được xây dựng, các khu vui chơi giải trí, các cơ sở thương mại và dịch vụ khác,
1.1.1.3 Khách du lịch
Theo Luật Du lịch của Việt Nam được ban hành năm 2005, tại điểm 2,
Điều 4, Chương 1 thì “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập từ nơi đến”
Tại điều 34, Chương 5, Luật Du lịch của Việt Nam cũng chỉ rõ:
“Khách du lịch gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế” Trong
đó, “Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam”; “Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam
ra nước ngoài du lịch”
Trong công tác thống kê du lịch, có sự phân biệt giữa những đối tượng được gọi là khách du lịch và những đối tượng không được gọi là khách du lịch dựa trên mục đích của chuyến khởi hành rời khỏi nơi cư trú của mình để đến một nơi khác có vì mục đích lao động kiếm tiền hay không
Theo đó, đối tượng được gọi là khách du lịch là những người khởi hành rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình với mọi mục đích khác nhau (loại trừ mục đích lao động kiếm tiền ở nơi đến), bao gồm: Lữ khách (traveller), khách thăm (visitor), khách tham quan (excursionist)
Những đối tượng cũng có hoạt động khởi hành rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình để đến một nơi khác, nhưng không được gọi là khách
du lịch bao gồm: người đi học; người đến để làm việc có hợp đồng hay không
có hợp đồng; người làm việc ở biên giới; hành khách quá cảnh; những người
di cư, tị nạn, du mục; những người làm việc tại các đại sứ quán, lãnh sự quán;
Trang 17những người thuộc lực lượng bảo an của Liên hợp quốc; và một số đối tượng khác nữa
1.1.2 Hoạt động "biên mậu"
1.1.2.1 Khái niệm "biên mậu"
"Biên mậu" là thuật ngữ được ghép từ hai cụm từ theo cách gọi Hán - Việt gồm“biên giới” và “mậu dịch” Thuật ngữ này được sử dụng để chỉ các
hình thức, hoạt động thương mại biên giới
Theo Công pháp quốc tế, thuật ngữ “biên giới” chỉ mới có từ đầu thế
kỉ XX, được hiểu như là: “Vỏ bao bọc liên tục của một tập hợp không gian một quốc gia”; “điểm chấm dứt chủ quyền thuộc về lãnh thổ”
Theo Từ điển Tiếng Việt, thì “biên giới” được giải nghĩa là “Chỗ hết phần đất của một nước và giáp với nước khác”
Ở Việt Nam cũng đã có quan niệm về biên giới rất sớm, tương đối rõ ràng và khá phù hợp với khái niệm biên giới của Công pháp quốc tế
Năm 1077, trong bài thơ thần “Nam Quốc sơn hà” của danh tướng Lý
Thường Kiệt đã xuất hiện những câu thơ khẳng định chủ quyền biên giới của nước Việt, tạm dịch:
“Sông núi nước Nam vua Nam ở Rành rành địa phận cả sách trời….”
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì: “Biên giới quốc gia là đường xác định giới hạn phạm vi chủ quyền của một quốc gia đối với vùng đất và lòng đất phía dưới; vùng biển, lòng đất dưới đáy vùng biển đó và khoảng không chiếu thẳng từ vùng đất, vùng biển đó Biên giới quốc gia bao gồm biên giới trên đất liền, biên giới trên biển và biên giới trên không”
“Mậu dịch”, theo Từ điển Tiếng Việt được chú giải bằng nghĩa với từ
“mua sắm”, được giải nghĩa là “sự trao đổi, mua bán hàng hóa” Còn theo
Từ điển Bách khoa Việt Nam, “mậu dịch” được chú giải bằng nghĩa với từ
Trang 18“thương mại”, và như vậy đó là “hoạt động trao đổi hàng hóa thông qua mua và bán các hàng hóa, dịch vụ, các chứng từ có giá trong xã hội”
Như vậy, “Biên mậu” hay “mậu dịch biên giới” được hiểu: “Là các hoạt động mua, bán trao đổi hàng hoá ở khu vực biên giới các nước láng giềng, bao gồm, mua bán chính ngạch, mua bán tiểu ngạch, mua bán ở chợ biên giới, mua bán hàng hóa của cư dân biên giới”
1.1.2.2 Các hoạt động kinh tế "biên mậu"
Hoạt động "biên mậu" thực chất là thực hiện một hay nhiều hành vi
thương mại ở khu vực biên giới, bao gồm việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội Hành vi thương mại gồm: mua bán hàng hóa, môi giới thương mại, đại diện cho thương nhân, ủy thác bán hàng hóa, đại lí mua bán hàng hóa, gia công trong thương mại, đấu giá và đấu thầu hàng hóa, dịch
vụ giao nhận hàng hóa, dịch vụ giám định hàng hóa, khuyến mại, quảng cáo thương mại, giới thiệu, triển lãm, hội chợ
Ra đời từ xa xưa cùng với nền sản xuất hàng hóa, và phát triển rất nhanh dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, hoạt động thương mại gồm có nội thương và ngoại thương
Nội thương là hoạt động mua bán hàng hóa trên thị trường trong nước,
là ngành kinh tế đảm nhiệm việc lưu thông hàng hóa ở trong nước Hoạt động nội thương ở nước ta có nhiều thành phần tham gia như: thương nghiệp quốc doanh, hợp tác xã mua bán, thương nghiệp công tư hợp doanh, thương nghiệp
tư bản tư doanh, thương nghiệp cá thể của người sản xuất nhỏ và tiểu thương Hoạt động kinh tế nội thương có quan hệ chặt chẽ với hoạt động của ngoại thương, do thị trường trong nước ngày càng gắn bó với thị trường ngoài nước
Ngoại thương là hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hóa giữa một quốc gia với các quốc gia khác, bằng hình thức mua bán hàng hóa, thực hiện các
Trang 19dịch vụ có liên quan như: bảo hành, sửa chữa, lắp ráp máy móc, vận chuyển, bảo hiểm hàng hóa, thanh toán quốc tế,… Ngoại thương có hai nghiệp vụ chính là xuất khẩu và nhập khẩu Đóng vai trò là ngành kinh tế thực hiện chức năng lưu thông hàng hóa giữa thị trường trong nước và thị trường thế giới, nối kinh tế quốc gia với kinh tế thế giới, trong thời kì công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở Việt Nam, ngoại thương được xác định là bộ phận có ý nghĩa cơ bản trong chiến lược kinh tế - xã hội, góp phần quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước
Ở các khu vực biên giới, hoạt động kinh tế biên mậu chủ yếu là mậu dịch tiểu ngạch
Mậu dịch tiểu ngạch là hoạt động buôn bán nhỏ giữa nhân dân các nước láng giềng ở những khu vực biên giới Đối tượng mua bán chủ yếu là những sản phẩm sản xuất tại địa phương, nhằm đáp ứng những nhu cầu sinh hoạt với số lượng và giá trị hạn chế Tuy có quy mô nhỏ, nhưng mậu dịch tiểu ngạch là một hình thức trao đổi hàng hóa giữa hai quốc gia có chung đường biên giới Hoạt động mậu dịch tiểu ngạch được tiến hành thông thường trên
cơ sở của sự thỏa thuận giữa hai chính phủ hai nước, bằng những điều ước quốc tế thích hợp
Hoạt động mậu dịch tiểu ngạch còn có những đặc trưng như thường thanh toán bằng tiền mặt, không cần có hợp đồng mua bán, tuy nhiên mậu dịch tiểu ngạch không có nghĩa là buôn lậu Kinh doanh xuất nhập khẩu tiểu ngạch vẫn cần đăng kí và xin phép Việc xác định đâu là mậu dịch tiểu ngạch không dựa vào hình thức vận chuyển hàng hóa qua đường biên giới Hoạt động mậu dịch tiểu ngạch vẫn phải chịu thuế đánh vào giá trị giao dịch, gọi là thuế xuất nhập khẩu tiểu ngạch Hàng hóa khi đi qua biên giới vẫn phải chịu
sự kiểm tra của các cơ quan thuế quan, kiểm dịch, biên phòng, xuất nhập cảnh, v.v
Trang 20Hoạt động mậu dịch tiểu ngạch được cho là có tính ổn định thấp do giá trị của mỗi giao dịch nhỏ Điều này khiến cho kim ngạch mậu dịch tiểu ngạch nói chung có thể thay đổi theo mùa vụ, theo thời tiết, theo sự thay đổi chính sách kiểm dịch Mậu dịch tiểu ngạch còn được cho là dễ bị lợi dụng để tránh thuế, vì thuế xuất nhập tiểu ngạch thường có thuế suất thấp hơn thuế xuất nhập khẩu chính ngạch, thủ tục liên quan phải làm đơn giản hơn, nên một doanh nghiệp có thể thuê mướn nhiều người dân ở vùng biên giới thực hiện
việc mua bán để không phải nộp thuế nhiều
1.1.3 Du lịch "biên mậu"
1.1.3.1 Khái niệm
Hiện nay, cách gọi du lịch "biên mậu" (theo nghĩa gốc của từ Hán
-Việt) vẫn còn chưa phổ biến Liên quan đến cụm từ phản ánh một loại hình du lịch độc đáo này, có thể nói đến hai loại hình du lịch, đó là du lịch biên giới
và du lịch mậu dịch
Du lịch biên giới là một trong những loại hình du lịch được phân loại dựa theo đặc điểm của địa lí của điểm du lịch Du lịch biên giới vẫn mang bản chất của hoạt động du lịch, chỉ khác là địa điểm để triển khai các hoạt động
du lịch ở đây là tại các khu vực gần với điểm chấm dứt chủ quyền về mặt lãnh
thổ của một quốc gia Thông thường, khu vực biên giới mang tính chất “nhạy cảm” cao về chính trị và an ninh - quốc phòng, vì vậy trên thực tế có thể thấy
tài nguyên du lịch ở các khu vực biên giới rất độc đáo, hấp dẫn nhưng khả
năng để khai thác phục vụ phát triển du lịch gặp nhiều trở ngại
Một loại hình du lịch khác mà cụm từ du lịch "biên mậu" thường bị
nhầm lẫn khi được hiểu, đó là du lịch mậu dịch
Trên thực tế, không có tên gọi cho loại hình du lịch “mậu dịch”, mà thuật ngữ “du lịch mua sắm” được sử dụng phổ biến hơn, mặc dù bản chất của “mậu dịch” hay “mua sắm” không có sự khác nhau
Trang 21Theo Từ điển Tiếng Việt, thì “mậu dịch” và “mua sắm” được giải nghĩa là “sự trao đổi, mua bán hàng hóa” Như vậy, loại hình du lịch “mậu dịch” hay “mua sắm” về bản chất không tách rời bản chất của hoạt động du
lịch, nhưng xét cụ thể theo mục đích của chuyến đi thì hoạt động du lịch kết hợp với việc trao đổi, mua bán hàng hóa là mục đích mà khách du lịch hướng tới Những đối tượng có thể thỏa mãn nhu cầu này của khách du lịch thông thường ở các thành phố, khu trung tâm thương mại sầm uất, các chợ, những tụ điểm diễn ra hoạt động trao đổi hàng hóa đông đúc, nhộn nhịp
Thực tế đã cho thấy loại hình du lịch mua sắm đã được xây dựng và triển khai nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch Hoạt động mua sắm ở đây không chỉ mang ý nghĩa như một hành vi chi tiêu, tiêu dùng ở góc độ kinh tế đơn thuần, mà còn thể hiện như một hoạt động nhằm thỏa mãn tâm lí của con người, như để giải trí, giảm stress, mang đến sự hưng phấn, háo hức
về tinh thần cho khách du lịch Khách du lịch có điều kiện chi trả cao có thể
biết những điểm đến được coi là “thiên đường mua sắm” như: Singapore,
Hồng Kông, Thượng Hải,… và cao cấp hơn là các chương trình đi Châu Âu Tuy nhiên, ở Việt Nam mới chỉ có rất ít một bộ phận mới có khả năng thực hiện được những chuyến đi như thế Song, không phải ai cũng có điều kiện để trở thành khách du lịch của những chuyến đi này, bởi khả năng thanh toán đòi hỏi ở những đối tượng tham gia chương trình du lịch mua sắm ở những nơi nằm ngoài biên giới lãnh thổ quốc gia thường rất cao
Trong nước, những địa điểm để có thể triển khai loại hình du lịch mua sắm là các thành phố lớn với các trung tâm thương mại sang trọng, sầm uất bày bán những hàng hóa có thương hiệu được nhập từ nước ngoài về, như ở
Hà Nội có: Tràng Tiền Plaza, Vimcom Tower, Parkson; ở thành phố Hồ Chí Minh có: Diamond Plaza, Saigon Square, Nguyen Hue Plaza,… Tuy nhiên, khách du lịch đến với những địa điểm này thường rất ít, một bộ phận nhỏ là
Trang 22khách du lịch nước ngoài; khách hàng đến những trung tâm này để mua sắm thì phần đông không phải là khách du lịch; còn lại thực tế thì khách du lịch có
đến đây cũng thường chỉ dừng ở mức độ “thăm quan” chứ cũng không mua,
bởi lí do giá cả của các hàng hóa ở đây thường rất cao so với khả năng thanh toán của khách Phổ biến hơn đối với khách du lịch khi đi tham quan mua sắm thường là các chợ đã nổi tiếng ở các điểm du lịch như: Chợ Bến Thành (thành phố Hồ Chí Minh), chợ Đầm (Nha Trang), chợ Đà Lạt (Đà Lạt), chợ Sắt (Hải
Phòng),… Có lẽ tâm lí “bình dân” khiến cho khách du lịch thường cảm thấy
thích thú hơn vì đi đến mua sắm ở các chợ có thể thoả thuận giá, giá cả các mặt hàng lại phù hợp với túi tiền của khách du lịch, các mặt hàng lại đa dạng,…
Trong nhiều năm trở lại đây, đặc biệt là sau khi Đảng và Nhà nước ta
mở rộng chính sách thúc đẩy hợp tác thông thương với các nước láng giềng, thì điểm đến hấp dẫn đối với khách du lịch lại là các trung tâm mua bán ở khu vực cửa khẩu biên giới, ở các khu kinh tế cửa khẩu, hay ở các đô thị giáp biên Trong khu vực mậu dịch biên giới có khu kinh tế cửa khẩu, có khu bảo thuế trong khu kinh tế cửa khẩu trên cơ sở ban hành các chính sách cho từng loại hình mua bán trong khu vực mậu dịch biên giới
Hàng hóa được đưa về những địa điểm này bày bán đều có đặc điểm là
“bình dân”, cả về giá cả và chất lượng, song lại rất đa dạng về mẫu mã,
chủng loại Mặt khác, giao thông từ các khu vực cửa khẩu đến khu dân cư, các trung tâm kinh tế ngày càng được cải thiện, vì thế mà các điểm mua sắm tại các cửa khẩu biên giới ngày càng trở nên hấp dẫn đối với khách du lịch
Ở Việt Nam đã xuất hiện nhiều địa điểm có thể thỏa mãn nhu cầu du lịch kết hợp với mục đích mua sắm của khách du lịch như: Mộc Bài (Tây Ninh), Lao Bảo (Quảng Trị), Móng Cái (Quảng Ninh), Tân Thanh (Lạng Sơn),… Với các điểm du lịch đặc thù này, khách du lịch được thỏa mãn nhiều
Trang 23mong muốn: không chỉ được tham quan các danh lam thắng cảnh ở nơi đến,
mà còn được thỏa mãn thú vui mua sắm khi đã một lần đặt chân tới đây
Trên cơ sở thực tiễn đó, thấy rằng cách gọi du lịch "biên mậu" được
xây dựng dựa trên hai loại hình du lịch: du lịch biên giới và du lịch mua sắm
(mậu dịch) Từ đó có thể hiểu Du lịch "biên mậu" là hoạt động du lịch kết hợp với việc mua sắm, tham quan, tìm hiểu, thưởng thức các sản phẩm du lịch tại các địa điểm được tổ chức ở khu vực biên giới, được tổ chức bởi các đơn
vị có trách nhiệm liên quan
1.1.3.2 Khách du lịch "biên mậu"
Du lịch "biên mậu" một loại hình du lịch, không nằm ngoài bản chất
của hoạt động du lịch Sự hấp dẫn của điểm đến du lịch này ở chỗ mà nhiều điểm du lịch khác không có, đó là khách du lịch được tham gia vào các hoạt động sinh hoạt cộng đồng thể hiện bản sắc văn hóa của cư dân vùng biên giới
thông qua hoạt động mậu dịch "Biên mậu" không chỉ là một hoạt động, mà
còn là sinh hoạt văn hóa của cộng đồng của các cư dân bản địa sinh sống ở khu vực biên giới Hoạt động của những người từ nơi khác tìm đến một nơi
có những đặc trưng sinh hoạt văn hóa cộng đồng độc đáo, hấp dẫn thể hiện qua hoạt động mậu dịch ở khu vực biên giới (mà không vì mục đích kiếm tiền) và tham gia vào các hoạt động sinh hoạt văn hóa đó, được gọi là khách
du lịch "biên mậu"
Khách du lịch “biên mậu” cũng mang những đặc điểm của mọi đối
tượng khách du lịch nói chung Dựa theo mục đích của chuyến khởi hành rời khỏi nơi cư trú thường xuyên để đi đến khu vực lãnh thổ biên giới, có thể xác
định những đối tượng không được gọi là khách du lịch "biên mậu" bao gồm:
người đi học; người đến để làm việc có hợp đồng hay không có hợp đồng; người làm việc ở biên giới; hành khách quá cảnh; những người di cư, tị nạn,
du mục; những người làm việc tại các đại sứ quán, lãnh sự quán đóng ở khu
Trang 24vực biên giới; những người thuộc lực lượng bảo an của Liên hợp quốc ở khu vực biên giới
1.1.3.3 Các hình thức hoạt động của Du lịch "biên mậu"
Là hoạt động du lịch diễn ra ở những địa bàn đặc biệt, mang yếu tố
nhạy cảm cao, nên công tác tổ chức để hoạt động du lịch "biên mậu" có thể
diễn ra đòi hỏi sự tham gia của nhiều cơ quan có trách nhiệm liên quan Ở nước ta, tuy có 4.510 km đường biên giới trên bộ với ba nước Trung Quốc, Lào, Campuchia song hiện nay mới chỉ có một số địa phương có thế mạnh và
đã đạt được những kết quả nhất định trong hoạt động khai thác và phát triển loại hình du lịch này như: Móng Cái, Lạng Sơn, Lào Cai, Cầu Treo, Mộc Bài
Như một nhu cầu phản ánh sự phát triển đi lên của cuộc sống, nhiều loại hình du lịch mới được xây dựng và hướng tới việc thỏa mãn cụ thể hơn
các loại nhu cầu du lịch của khách du lịch Đối tượng khách du lịch "biên mậu" rất đa dạng về thành phần xã hội, nghề nghiệp, lứa tuổi, cũng như về các động cơ đi du lịch "biên mậu" Hoạt động của du lịch "biên mậu" cũng
ngày càng được tổ chức đa dạng hơn, phong phú hơn để có thể đáp ứng tốt hơn các nhu cầu, động cơ của du khách
Trước đây, bản chất của hoạt động du lịch "biên mậu" được hiểu theo nghĩa là hoạt động tham quan và mua sắm của khách du lịch ở khu vực biên giới Tuy nhiên, sau một thời gian hoạt động và được công nhận, thì các hình thức hoạt động của du lịch "biên mậu" diễn ra khá đa dạng hơn dưới dạng các chương trình du lịch "biên mậu" thuần túy, chương trình du lịch "biên mậu"
kết hợp và một số các hình thức hoạt động khác
Chương trình du lịch "biên mậu" thuần túy được xây dựng dành cho
những đối tượng khách du lịch mong muốn được tham quan kết hợp với lựa chọn, mua sắm ở một số điểm trên lộ trình tham quan nhất định như: các trung tâm thương mại, các chợ, trung tâm triển lãm,… nằm trong phạm vi các
Trang 25khu vực biên giới, cửa khẩu biên giới, hay các khu kinh tế cửa khẩu Du lịch
vốn được coi là hoạt động “đi chơi” không vì mục đích kiếm tiền Hoạt động
du lịch của những đối tượng khách du lịch sử dụng chương trình du lịch "biên mậu" phần lớn dựa trên những đặc điểm về động cơ, nhu cầu, thị hiếu, đời
sống tâm lí, tập quán, kinh nghiệm, của du khách Thời gian tổ chức của chương trình du lịch này có thể ngắn (diễn ra trong ngày) hoặc dài ngày tùy thuộc vào khoảng cách quãng đường di chuyển của du khách, song, lộ trình của chuyến du lịch này phải đảm bảo có mật độ kết hợp tương đối dày các đối tượng có thể thỏa mãn mục đích chính của du khách trong chuyến đi
Những chương trình du lịch "biên mậu" kết hợp được xây dựng dựa
trên sự kết hợp của nhiều loại hình tài nguyên du lịch để từ đó xây dựng nên
những chương trình du lịch "biên mậu" kết hợp, hoặc dựa trên những động cơ nào đó của du khách cho chuyến đi có sự kết hợp với hoạt động du lịch "biên mậu" Hoạt động của khách du lịch trong các chương trình du lịch này cũng
phong phú hơn Du khách có thể kết hợp các hoạt động như: tham quan nghỉ dưỡng, tìm hiểu nghiên cứu, tâm linh - tín ngưỡng, khám phá mạo hiểm, hội thảo triển lãm,… kết hợp với hoạt động tham quan mua sắm ở những địa điểm thương mại ở khu vực biên giới Thời gian dành cho những chương
trình du lịch này thường kéo dài hơn so với chương trình du lịch "biên mậu"
thuần túy, vì còn phụ thuộc vào mức độ giao thông thuận lợi giữa các điểm du lịch, thời gian hoạt động của khách ở một số điểm du lịch nhất định, mục đích chính trong chuyến du lịch của du khách,…
Bên cạnh các chương trình du lịch "biên mậu" thuần túy, chương trình
du lịch "biên mậu" kết hợp, thì hoạt động du lịch "biên mậu" có thể được tổ
chức dưới những hình thức khác như: các hình thức tự phát (du khách tự thiết
kế lộ trình chuyến tham quan, các điểm dừng, tự liên hệ các những nơi cung cấp dịch vụ cần thiết mà không sử dụng các chương trình du lịch do các đơn
Trang 26vị kinh doanh lữ hành, các công ty du lịch cung cấp) hoặc các chương trình du lịch không trọn gói (du khách chỉ sử dụng một số dịch vụ nào đó được cung cấp bởi các đơn vị du lịch) Ngoài ra, du khách có thể thực hiện chương trình
du lịch "biên mậu" của mình kết hợp với mục đích hoạt động khác như: đi
công vụ, đi hưởng tuần trăng mật, thăm thân, quá cảnh,…
Với sự phát triển của nhu cầu du lịch của con người ngày nay, sự hướng tới các loại hình du lịch mới rất được quan tâm chú trọng Hoạt động tham quan và mua sắm không chỉ còn bó hẹp trong ý nghĩa của hành vi tiêu dùng (tức là bao gồm chuỗi các hành động: tìm kiếm, mua, sử dụng và đánh giá các sản phẩm, dịch vụ), mà đã được nâng lên thành một hoạt động văn hóa của con người, hướng đến sự thỏa mãn nhu cầu tinh thần, làm cho cuộc sống của con người có ý nghĩa hơn sau mỗi chuyến đi Vùng biên giới không chỉ là cửa ngõ quan trọng trong hoạt động thương mại của đất nước, mà còn
là nơi tập trung nhiều đối tượng tài nguyên du lịch hấp dẫn, độc đáo Do đó,
hoạt động du lịch "biên mậu" không chỉ giúp du khách thỏa mãn được động
cơ, nhu cầu, thị hiếu của mình; mà còn góp phần giúp khách du lịch nâng cao nhận thức, mở rộng sự hiểu biết về vùng đất, con người sau mỗi chuyến du lịch
1.1.3.4 Vai trò của Du lịch "biên mậu"
Với hoạt động du lịch
Hoạt động du lịch có thể được hiểu rộng, bao gồm các hoạt động kinh doanh du lịch của các đơn vị lữ hành, hoạt động đầu tư, xây dựng các điểm du lịch, khu du lịch…; hoạt động tham quan du lịch của du khách tại nơi du lịch… Hoạt động du lịch phát triển không tách rời một vùng đất, địa phương hay một khu vực địa lí gắn với những điều kiện nhất định
Du lịch "biên mậu" - dù vẫn là một cụm từ chưa phổ biến song đã cho
thấy đối với du lịch thì đây cũng chính là một loại hình du lịch mới, bởi sự kết
Trang 27hợp giữa loại hình du lịch biên giới (theo đặc điểm của địa điểm du lịch) và
du lịch mua sắm (theo mục đích của chuyến đi) Sự xuất hiện của loại hình du lịch mới này góp phần làm cho loại hình du lịch đa dạng hơn, hướng tới việc thỏa mãn tốt hơn nhu cầu du khách của các đơn vị kinh doanh du lịch
Đối tượng để tổ chức loại hình du lịch "biên mậu" tuy chủ yếu là tập
trung vào các khu vực đặc thù như: trung tâm thương mại, chợ, các điểm mua bán ở khu vực vùng biên giới, song không có nghĩa là tách rời với các nhân tố khác cấu thành nên hoạt động du lịch như: tài nguyên du lịch, cơ sở vật chất
kĩ thuật, nguồn nhân lực Hoạt động du lịch "biên mậu" được diễn ra sẽ góp
phần thu hút khách tham gia sử dụng các sản phẩm và dịch vụ du lịch khác
Như vậy, vùng biên giới cũng bao gồm các đơn vị hành chính dân cư,
có các hoạt động kinh tế - xã hội Với nhiều điều kiện lợi thế, đây là một trong
những địa bàn để hoạt động du lịch "biên mậu" có cơ sở phát triển riêng Tuy
nhiên, do là khu vực mang tính chiến lược về mọi mặt, nên trong sự phát triển của mình, hoạt động du lịch cũng không nằm dời các mối liên hệ đó
Với sự phát triển kinh tế - xã hội
Lĩnh vực kinh tế được coi là nền tảng và góp phần rất lớn cho việc tạo nên hệ thống hạ tầng cơ sở - cơ sở vật chất kĩ thuật cho ngành du lịch phát triển; tạo nên cảnh quan của các khu đô thị, công nghiệp, là bộ mặt cho thấy
sự phát triển của đất nước Sản xuất kinh tế phát triển, đời sống của người lao động được nâng cao, là điều kiện để thúc đẩy nhu cầu du lịch của con người
Trong khi đó, du lịch lại là một bộ phận không tách rời của nền kinh tế Trong nhiều năm trở lại đây, hiệu quả hoạt động du lịch gia tăng đã đóng góp không nhỏ cho nền kinh tế phát triển Đối với vùng biên, tuy gặp nhiều khó khăn trong việc phát triển các ngành kinh tế công nghiệp sản xuất, song lại chứa đựng nhiều tiềm năng để phát triển một ngành công nghiệp không khói,
đó là dịch vụ - du lịch Hoạt động du lịch "biên mậu" đã tác động tới sự thay
Trang 28đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp - thủ công truyền thống của cả vùng, đồng thời phản ánh rõ nét hiệu quả phát triển kinh tế của địa phương
Thông qua du lịch "biên mậu", là một hình thức quảng bá, kêu gọi và
thu hút đầu tư, nhiều địa phương đã phát huy được tiềm năng, thế mạnh Đó
là hiệu quả tích cực mà hoạt động du lịch là điều kiện để khơi nên sự phát triển đồng đều, đa diện mới
Nếu như kinh tế được coi là nền tảng để tạo nên hệ thống hạ tầng cơ sở
- cơ sở vật chất kĩ thuật hỗ trợ du lịch phát triển, thì môi trường chính trị - xã hội là động lực để tạo nên sự an toàn, thu hút khách du lịch đến với các điểm
Hoạt động du lịch cũng góp phần không nhỏ tới sự cải tạo môi trường
xã hội nơi giáp biên Hoạt động du lịch chỉ có thể phát triển ở những nơi có môi trường xã hội lành mạnh Do đó, để có thể là cơ sở cho du lịch phát triển, địa bàn đó cần phải xây dựng được không chỉ môi trường tự nhiên trong sạch,
mà còn cần hạn chế tối đa các tệ nạn xã hội Đối với các địa phương vùng biên, đây là điều rất cần thiết, bởi đó không chỉ mang ý nghĩa phát triển, mà còn góp phần phản ánh một phần bộ mặt của đất nước qua nơi cửa ngõ này
Bên cạnh đó, hoạt động du lịch "biên mậu" phát triển sẽ góp phần rất
lớn trong việc giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động ở các địa
Trang 29phương vùng biên Đây là quá trình đẩy nhanh một bước để tạo ra hiệu quả kinh tế, mà còn là động lực để đẩy lùi các tệ nạn xã hội, thói hư tật xấu trong dân cư và thực hiện xây dựng môi trường xã hội trong sạch, lành mạnh
Với sự giao lưu văn hóa
Cùng với thành tố xã hội, văn hóa với ý nghĩa rộng lớn đã cùng kết hợp
để tạo nên môi trường văn hóa - xã hội, là cơ sở để phản ánh sự phát triển về mặt tinh thần, nhân văn cho đời sống của một địa phương Môi trường văn hóa
- xã hội phát triển như thế nào sẽ phản ánh sự phát triển của địa phương đó
Không chỉ có vậy, văn hóa với các giá trị vật thể và phi vật thể đã tạo nên hệ thống tài nguyên du lịch nhân văn, là cơ sở quan trọng để hoạt động du lịch khai thác và phát triển được
Cùng với đó, hoạt động du lịch "biên mậu" cũng tác động không nhỏ
tới văn hóa Du lịch là một trong những cách thức để khai thác, truyền bá nhằm phát huy hiệu quả và đề cao các giá trị văn hóa Hoạt động du lịch có sự khai thác đúng hướng, đúng mực, đồng thời có các tác động tích cực nhằm bảo vệ sẽ là điều kiện để thực hiện giao lưu văn hóa và bảo tồn các giá trị văn hóa đạt hiệu quả
Vùng biên giới là địa bàn tập trung nhiều tộc người thiểu số sinh sống với sự đa dạng của các giá trị văn hóa truyền thống Trong bối cảnh quá trình giao lưu, hợp tác đang được đẩy mạnh như hiện nay, ở nơi có lượng khách du lịch từ nước bạn qua biên giới với số lượng lớn sẽ là điều kiện để phát huy hiệu quả nhiều mặt, song đó cũng là những thử thách đối với các giá trị văn hóa ấy
Với vấn đề hợp tác và tăng cường an ninh - quốc phòng
An ninh - quốc phòng được coi là điều kiện tối quan trọng để bảo vệ cho hoạt động du lịch được diễn ra an toàn trong địa phận lãnh thổ của một quốc gia nói chung, và đặc biệt là với khu vực biên giới Bảo vệ vùng đất, vùng trời của lãnh thổ quốc gia là cơ sở trọng yếu để mọi hoạt động được diễn
Trang 30ra an toàn Đối với khu vực biên giới, đó còn là trách nhiệm của lực lượng an ninh - quốc phòng trong việc bảo vệ đời sống sản xuất, sinh hoạt của nhân dân nơi đây An ninh - quốc phòng ở khu vực biên giới được bảo vệ và củng
cố vững chắc sẽ là nền tảng để xây dựng nên môi trường chính trị - văn hóa -
xã hội ổn định, là yếu tố động lực để đẩy nhanh sự phát triển mọi mặt của vùng
An ninh - quốc phòng được thực hiện tốt là điều kiện để hoạt động du
lịch "biên mậu" phát triển, và hoạt động du lịch "biên mậu" đạt hiệu quả phát
triển tốt sẽ góp phần làm cho đời sống kinh tế - xã hội được cải thiện, đảm bảo và làm tăng cường nội lực để công tác an ninh - quốc phòng được củng
cố vững mạnh
Ở các khu vực nhạy cảm giáp biên, sự phát triển của hoạt động du lịch
sẽ tác động tới các chiến lược bảo vệ an ninh - quốc phòng, để phù hợp với những điều kiện mới; song hoạt động du lịch cũng luôn đặt vấn đề chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ đất nước là trên hết
Như vậy, có thể thấy hoạt động du lịch với mọi mặt của đời sống và những vấn đề chiến lược của khu vực vùng biên đều có mối liên hệ tác động biện chứng qua lại lẫn nhau Vì vậy, để các mối liên quan đó được phát huy thuận lợi, làm nền tảng cho mọi sự phát triển của vùng biên giới nói riêng và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia nói chung, đòi hỏi rất nhiều sự quan tâm cũng như các đường lối, chính sách xây dựng và phát triển của Đảng - Nhà nước, phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh nhất định Hoạt động du lịch với ý nghĩa sâu rộng sẽ là một trong những yếu tố góp phần để các chiến lược, đường lối phát huy có hiệu quả, nhằm tạo nên động lực và sức phát triển mới đa diện hơn, vững chắc hơn
1.2 Lạng Sơn và hoạt động "biên mậu" ở Lạng Sơn
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của tỉnh Lạng Sơn
Trang 31Lạng Sơn còn gọi là Xứ Lạng, có diện tích 8.331,2 km2, nằm trải dài từ
20027' - 22019' vĩ Bắc, 1060
06' - 107021' kinh Đông, là một tỉnh ở vùng núi Đông Bắc nước ta Lạng Sơn có biên giới dài 253 km tiếp giáp với tỉnh Quảng Tây của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa về phía Đông; phía Đông
- Nam giáp với tỉnh Quảng Ninh; phía Tây, Tây - Nam giáp với các tỉnh Bắc Kạn, Thái Nguyên; về phía Nam là tiếp giáp với tỉnh Bắc Giang và phía Bắc giáp với tỉnh Cao Bằng
Vào giữa kỉ Pécmi cách ngày nay từ 230 đến 195 triệu năm, Lạng Sơn
là vùng đất được nhô ra biển toàn bộ Vào khoảng hơn 40 vạn năm cách ngày nay, loài người đã có nguồn gốc và xuất hiện ở hang Thẩm Hai, Thẩm Khuyên (thuộc huyện Bình Gia)
Từ thời Vua Hùng dựng nước Văn Lang, tư liệu thành văn về địa danh Lạng Sơn rất ít, chủ yếu là tư liệu khảo cổ học về dân cư cổ trên đất Lạng Sơn ngày nay Tuy nhiên, Lạng Sơn từ xưa đã là mảnh đất địa đầu nóng bỏng, nơi chứng kiến nhiều cuộc phân tranh tương tàn, nhiều đoàn xứ bộ qua lại Ngay
từ thời kì cuối của triều đại các Vua Hùng, Lạng Sơn cũng là nơi diễn ra cuộc chiến đấu chống quân Tần xâm lược kéo dài suốt 5 năm (từ năm 214 - 208 trCN) của người Tây Âu và Lạc Việt
Thời kì Bắc thuộc ở nước ta, bọn đô hộ chỉ chiếm được chính quyền cấp Trung ương và cấp trung gian, còn làng xóm thì do dân ta làm chủ Ở miền núi, trong đó có Lạng Sơn khá tiêu biểu, chúng buộc phải đặt các châu
“kimi” do các tộc trưởng miền núi cai quản
Năm 679, nhà Đường đặt An Nam đô hộ phủ cai quản 41 châu kimi Khu vực Việt Bắc và Lạng Sơn cũng được đặt các châu kimi, trực thuộc thẳng
An Nam đô hộ phủ, không qua cấp trung gian nào Đến năm 791, khi nhà Đường lập Phong Châu đô đốc phủ thì các châu kimi của Lạng Sơn lại do Phong Châu đô đốc phủ quản lí
Trang 32Trong thời kì đầu mới giành được độc lập dưới các Triều Ngô, Đinh, Tiền Lê thì Lạng Sơn vẫn được quản lí theo chế độ các châu kimi của triều đình phong kiến Trung ương Mặc dù vậy, do Lạng Sơn có vị trí rất đặc biệt
là hàng rào của Tổ quốc nên triều đình Trung ương giao cho các tù trưởng miền núi Lạng Sơn việc điều tra xem xét tình hình chính trị quân sự ở bên kia biên giới để từ đó chủ động hơn cho việc phòng chống giặc ngoại xâm
Đến triều Lý, Lạng Sơn được gọi là “Lạng Châu lộ”, càng trở nên
quan trọng trong cơ cấu tổ chức hành chính tuyến biên giới phía Bắc, đóng vai trò là hàng rào che chắn cho kinh đô Thăng Long, và đây cũng là trận tuyến đầu tiên mà bọn xâm lược vấp phải khi có ý định xâm lược nước ta Để nắm chặt các tù trưởng miền núi thiểu số lúc bấy giờ, các vua Lý đã sử dụng biện pháp rất khôn khéo và mềm dẻo bằng cách gả công chúa cho họ để lấy tinh thần gia tộc, quan hệ hôn nhân hoặc phong chức tước, thông qua đó kiểm soát chặt chẽ hơn vùng biên cương có vị trí xung yếu này Chính vì có nhiều mối quan hệ ràng buộc như vậy nên Xứ Lạng được vua quan triều Lý tin cậy, khi nhà Trần nổi lên, vua Lý Huệ Tông đã cùng Thái hậu, cung nữ chạy lên đây để ẩn náu
Đến thời Trần, vị trí địa lý hành chính có sự thay đổi Trần Thái Tông
đã chia đất nước thành 12 lộ thay vì 24 lộ như trước đây, riêng Xứ Lạng vẫn giữ nguyên là Lạng Châu lộ, sau đổi thành trấn Lạng Giang
Năm Quang Thái thứ 10 (1397) đời Trần Thuận Tông, Hồ Quý Ly đã đổi trấn Lạng Giang thành trấn Lạng Sơn
Năm 1407, cùng với sự sụp đổ của triều Hồ, khi nhà Minh thôn tính nước ta, chúng đã phá bỏ hệ thống hành chính cũ và chia nước ta thành 16 phủ, lúc này trấn Lạng Sơn được đổi thành phủ Lạng Sơn
Sau chiến thắng chống quân Minh năm 1427, vào năm Thuận Thiên thứ nhất (1428), Lê Thái Tổ đã chia nước ta thành 5 đạo: Đông đạo, Tây đạo,
Trang 33Nam đạo, Bắc đạo và hai tây đạo, trấn Lạng Sơn là một đơn vị hành chính trực thuộc Bắc đạo Đến năm Quang Thuận thứ 10, Lê Thánh Tông định lại bản đồ toàn quốc chia cả nước thành 12 thừa tuyên, theo đó trấn Lạng Sơn đổi thành Lạng Sơn thừa tuyên gồm 1 phủ (Phủ Tràng Khánh) và 7 châu (Lộc Bình, Yên Bác, Văn Uyên, Văn Lan, Thất Nguyên, Thoát Lăng) Đứng đầu Lạng Sơn thừa tuyên là Đô Ty, do võ quan chức tổng binh, phó tổng binh kiêm nhiệm
Thế kỉ XVI, nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê và tồn tại hơn 60 năm 1592) thì bị tập đoàn Lê - Trịnh đánh bật khỏi kinh thành Thăng Long, nhà Mạc phải bỏ chạy lên Cao Bằng, Lạng Sơn và cát cứ ở đó Trong suốt thời kì này, nơi đây trở thành chiến trường tranh chấp quyền lực lẫn nhau
(1527-Đến thời Lê Trung Hưng trở về sau đến đầu triều Nguyễn, Lạng Sơn thừa tuyên lại được đổi thành trấn Lạng Sơn, chức Đô Ty bị bãi bỏ, thay vào
đó là chức đốc trấn Lạng Sơn
Vào triều Nguyễn, các vua Gia Long, Minh Mạng đặc biệt quan tâm đến vùng biên giới phía Bắc nói chung và trấn Lạng Sơn Năm 1831, vua Minh Mạng đã bỏ trấn và đặt đơn vị hành chính mới là tỉnh, chính năm ấy trấn Lạng Sơn cũng được đổi thành tỉnh Lạng Sơn, có 1 phủ và 7 châu, huyện Đến năm 1836, Minh Mạng lại cắt 4 châu, huyện phía Bắc sông Kỳ Cùng là châu Văn Uyên, Thoát Lãng; các huyện Văn Quan, Thất Khê để thành lập phủ mới là phủ Tràng Định Như vậy từ đây Lạng Sơn chính thức có 2 phủ là phủ Tràng Khánh và phủ Tràng Định cùng 7 châu, huyện Cơ cấu tổ chức đơn
vị hành chính này được duy trì cho đến cuối thế kỉ XIX
Cuối thế kỉ XIX, thực dân Pháp xâm lược Bắc Kì, địa danh hành chính tỉnh Lạng Sơn lại bị thay đổi ít nhiều: một phần cắt về tỉnh Bắc Giang (huyện Sơn Động); tách 5 tổng của Võ Nhai về Lạng Sơn lập nên châu Bắc Sơn
Trang 34Thời kì trước và sau Cách Mạng tháng Tám cũng có một số sự thay đổi điều chỉnh về tên gọi, địa giới hành chính cho phù hợp với tình hình cách mạng
Sau Cách Mạng tháng Tám 1945, nước ta trở thành một nước độc lập
Tổ chức hành chính của Lạng Sơn khi đó gồm có 10 huyện với 144 xã, 6 thị trấn và thị xã Lạng Sơn (tỉnh lỵ) đóng tại huyện Cao Lộc Hiện nay, Lạng Sơn
có 1 thành phố và 10 huyện với 225 xã, phường, thị trấn
Lạng Sơn trong bối cảnh đất nước đang tiến lên hiện đại hoá, công nghiệp hoá hiện nay cũng không ngừng chuyển mình phát triển về kinh tế - xã hội Với đặc điểm là một tỉnh miền núi (chiếm hơn 80% diện tích) nên hoạt động sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm 80% tỉ trọng cơ cấu kinh tế Tuy nhiên trong những năm gần đây, Lạng Sơn đã chuyển dịch cơ cấu cây trồng kết hợp với chăn nuôi Cây công nghiệp, cây ăn quả có giá trị kinh tế cao được chú trọng, nhiều mô hình trang trại được mở ra tạo việc làm cho người lao động
và làm thay đổi diện mạo kinh tế của tỉnh Đi đôi với phát triển nông, lâm nghiệp thì công nghiệp và dịch vụ cũng từng bước tăng trưởng, nhất là ngành
du lịch
Là vùng đất phên dậu có lịch sử lâu đời của Tổ quốc, Lạng Sơn cũng là nơi được phát hiện có các di chỉ của người Việt thời sơ sử, tiền sử Xứ Lạng cũng là địa danh in đậm dấu ấn nền văn hoá truyền thống của nhiều dân tộc anh em Có những dân tộc có nguồn gốc bản địa như Nùng, Tày; cũng có một
số nhánh tộc người và dân tộc di cư từ các tỉnh ở Đồng bằng Bắc Bộ lên; hoặc
từ Trung Quốc sang Theo số liệu thống kê điều tra dân số ngày 01/ 04/ 2009, dân số của tỉnh là 731.887 người với bảy dân tộc anh em, trong đó: dân tộc Nùng chiếm 42,97%, dân tộc Tày chiếm 35,92%, dân tộc Kinh chiếm 16,5%, còn lại là các dân tộc Hoa, Dao, Sán Chay, H’mông,… Số người trong độ tuổi lao động chiếm 58%, đa số là lao động trẻ Chỉ có khoảng 20% dân số của tỉnh sống ở khu vực thuận tiện về giao thông và điều kiện phát triển kinh tế,
Trang 35sống bằng thương nghiệp, tiểu thương; còn hơn 80% dân số sinh sống ở nông thôn và sống bằng nông nghiệp Mặc dù cùng chung sống đoàn kết với nhau, nhưng mỗi dân tộc đều có phong tục tập quán khác nhau, có bản sắc riêng của văn hoá dân tộc mình Trong bối cảnh hiện nay, với đường lối chính sách đoàn kết dân tộc đúng đắn của Đảng và Nhà nước, các dân tộc sinh sống trên vùng đất Xứ Lạng đều đoàn kết chung lòng xây dựng quê hương đất nước để đạt được cuộc sống ấm no, hạnh phúc
1.2.2 Tài nguyên du lịch ở tỉnh Lạng Sơn
1.2.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên
Tài nguyên du lịch tự nhiên là các đối tượng và hiện tượng trong môi trường tự nhiên có thể được sử dụng vào mục đích khai thác phục vụ du lịch Các loại tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm: tài nguyên địa hình, tài nguyên khí hậu, tài nguyên thủy văn, tài nguyên sinh vật
Tài nguyên du lịch tự nhiên Xứ Lạng khá phong phú, có sự kết hợp hài hòa của các yếu tố tự nhiên góp phần tạo nên sức hấp dẫn cao, đã mở ra khả năng khai thác phục vụ cho sự phát triển hoạt động du lịch Tuy nhiên, có ý nghĩa hơn cả đối với sự phát triển du lịch của Lạng Sơn là sự đa dạng của các kiểu địa hình
Bên cạnh sự độc đáo của yếu tố vị trí địa lí đặc biệt, sự phân hóa đa dạng của các dạng địa hình đã góp phần làm nên sự phong phú mà đặc sắc cho tài nguyên du lịch của Lạng Sơn
Kiểu địa hình đồi núi chiếm hơn 80% diện tích cả tỉnh Lạng Sơn Dạng địa hình phổ biến là núi thấp và đồi, với độ cao trung bình 252m so với mực nước biển Nơi thấp nhất khoảng 20m ở phía nam huyện Hữu Lũng và nơi cao nhất là đỉnh Mẫu Sơn ở độ cao 1541m Địa hình của Lạng Sơn bị chia cắt mạnh bởi các khối núi đá vôi nên tạo ra những cảnh quan thiên nhiên sông,
hồ, thung lũng, núi rất đẹp; cùng với vùng khí hậu rất tốt cho sức khỏe, có khả
Trang 36năng khai thác loại hình du lịch sinh thái nghỉ dưỡng lí tưởng Do sự phân hóa của địa hình mà Lạng Sơn có khí hậu mát mẻ, độ ẩm cao, là điều kiện cho thảm thực vật phát triển, tạo nên các rừng nguyên sinh, rừng đầu nguồn, thích hợp cho việc phát triển loại hình du lịch nghiên cứu, khám phá Có thể kể đến một số danh thắng tự nhiên đẹp nổi tiếng của Lạng Sơn như:
Tượng đá nàng Tô Thị
Trên đỉnh núi Tô Thị hay còn gọi là núi Vọng Phu, ở vị trí chếch về phía tây bắc núi Tam Thanh, có tảng đá tự nhiên giống hình người phụ nữ bồng con nhìn về phương xa Từ xưa, tảng đá hình người đã được gắn với truyện cổ tích nàng Tô Thị bồng con chung thủy đứng chờ chồng đi đánh trận phương Bắc, chờ mãi không được, nàng cùng con đã hóa đá Vì thế nên người đời cũng gọi tảng đá là nàng Tô Thị
Từ động Tam Thanh, có thể quan sát thấy rõ tượng đá nàng Tô Thị Truyền thuyết về Nàng Tô Thị đã đi vào tâm khảm của dân tộc Việt Nam Thiên nhiên đã tạo ra hình tượng người mẹ ôm con đứng chờ chồng trên đỉnh núi cao như một biểu tượng của lòng thuỷ chung son sắt của người phụ nữ Việt Nam., có lẽ vì thế mà trong số 5 tấm bia khắc trên vách đá ở Động Tam
Thanh còn có "Bài thơ đá Vọng Phu" của đại thi hào Nguyễn Du còn lưu:
"Đá ơi? Người ơi? Người là ai?
Nghìn vạn mùa xuân đang lẻ loi, Muôn thuở mây mưa xa mộng mị Một lòng son sắt vững thần đời
Trời thu ứa lệ rơi không ngớt, Dòng chữ rêu phong tạc chửa phai, Bốn mặt núi non trông ngút mắt, Luân thường nàng giữ một mình thôi"
Trang 37Trải qua bao năm tháng, do tác động của thiên nhiên và con người, di tích này đã bị hủy hoại Tỉnh Lạng Sơn đã cho dựng lại như tượng đá nguyên bản để gìn giữ một di tích đã đi vào tình cảm, tâm thức của người dân Việt Nam
Sông Kỳ Cùng - Bến đá Kỳ Cùng
Dòng sông bắt nguồn từ vùng núi Bắc Xa cao 1.166m thuộc huyện Đình Lập, chảy theo hướng Đông Nam - Tây Bắc qua thành phố Lạng Sơn, đoạn chảy trên đất Việt Nam khoảng 243 km Khi qua thành phố Lạng Sơn khoảng 22 km về phía tây bắc, dòng sông đổi hướng để chảy gần như theo hướng Nam - Bắc tới thị trấn Văn Lãng rồi lại đổi hướng thành Đông nam - Tây bắc trước khi rẽ sang hướng đông gần thị trấn Thất Khê Tại đây, dòng sông chảy gần như theo đường vòng cung, đoạn đầu theo hướng tây tây bắc - đông đông nam tới Bi Nhi, từ đó vượt biên giới sang Trung Quốc và dần đổi hướng thành tây tây nam - đông đông bắc để hợp lưu với sông Bằng Giang thành sông Tả Giang tại thị trấn Long Châu, Quảng Tây, Trung Quốc (cách biên giới Việt - Trung 55km) Đây là con sông duy nhất ở miền Bắc nước ta chảy theo hướng đông nam - tây bắc sang Trung Quốc
Nằm ở phường Vĩnh Trại, bên phía bờ bắc sông Kỳ Cùng còn có ngôi đền Kỳ Cùng linh thiêng Trong đền có bến đá Kỳ Cùng, xưa kia được danh
nhân Ngô Thì Sỹ gọi là “Kỳ Cùng thạch độ”, là một trong tám cảnh đẹp của Lạng Sơn được ghi trong “Lạng Sơn trấn doanh bát cảnh” Khúc sông Kỳ
Cùng ở đoạn này có nhiều tảng đá chắn ngay giữa dòng sông, đá lô nhô trên mặt nước, sóng vỗ vào đá theo mực nước sông, lúc lên lúc xuống tạo thành những lớp sóng tung bọt trắng xóa, trào khắp một dải tràng giang, trông rất ngoạn mục Tương truyền xưa kia, bất cứ cuộc hành quân hay cuộc hành trình nào của các sứ giả qua lại Trung Quốc cũng đều phải qua nơi nay Thuyền bè san sát, hai bờ sông lúc nào cũng tấp nập đông đúc vì dân chúng hoặc quan quân hội tụ Các sứ thần của Việt Nam mỗi lần đi sứ sang Trung Quốc đều
Trang 38dừng chân tại bến đá, sửa soạn lễ vật lên thắp hương tại đền Kỳ Cùng, cầu cho chuyến đi được bình an, công thành danh toại
Ngày nay Cầu Kỳ Cùng được xây ở ngay cạnh bến đá, nối hai bờ Bắc
và Nam sông Kỳ Cùng, chia Thành phố Lạng Sơn thành hai khu vực, bên bờ Bắc là nơi sinh hoạt, kinh doanh buôn bán của nhân dân, bên bờ nam là khu vực tập trung các cơ quan hành chính của Tỉnh
Hang Gió
Hang có tên chữ là “Thuỷ Vân Động”, được đoàn công tác của Bảo
tàng Tổng hợp tỉnh và đội thám hiểm hang động Hoàng gia Anh phát hiện năm 1998 Hang nằm ở lưng chừng ngọn núi đá vôi phía tây bắc bản Sao Thượng, xã Mai Sao, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn
Hang Gió được biết đến là một trong những thắng cảnh đẹp của Lạng Sơn, được xếp hạng là di tích cấp tỉnh vào năm 2000 Đây là hang động có quy mô lớn, chiều dài hàng trăm mét, rộng 50 - 70m, chiều cao có nơi từ 30 - 40m Hang có hai cửa chính Đông Tây và Tây Bắc thông với nhau; khách tham quan đi vào từ cửa Đông, trèo lên tầng dạng vòng cung và sau đó đi tiếp
về cửa Tây
Hang Gió có hai tầng và một tầng hầm, ít ngách phụ; trong hang ít hiểm trở nên đi lại tương đối dễ dàng, có thể đảm bảo cho hàng trăm người vào tham quan cùng lúc Vòm hang cao, rộng và thoáng mát, mang dáng dấp như một vòm nhà thờ; trên vách và trần hang rất phong phú các loại nhũ đá còn nguyên sơ mang nhiều hình thù kì dị như: vú sữa, dòng nước mắt, voi,
ngựa, cò, sếu,… Các chuông đá, măng đá, cột đá đa dạng, được ví như “thiên đình của hạ giới”
Núi Mẫu Sơn
Mẫu Sơn là vùng núi cao nằm ở phía đông bắc tỉnh Lạng Sơn, chạy theo hướng đông - tây, cách thành phố Lạng Sơn 30 km về phía Đông, giáp
Trang 39với biên giới Việt - Trung Khu du lịch Mẫu Sơn thuộc địa phận chính của 3 xã: Công Sơn, Mẫu Sơn (huyện Cao Lộc) và xã Mẫu Sơn (huyện Lộc Bình)
Toàn bộ vùng núi Mẫu Sơn có diện tích khoảng 550 km², bao gồm 80 ngọn núi lớn nhỏ ở độ cao trung bình 800-1000 m so với mực nước biển, với đỉnh cao nhất là Phia Po (cao 1.541 m, còn gọi là đỉnh Công hay Công Sơn - nơi đặt cột mốc số 42, biên giới Việt Trung) Vùng núi này cũng là nơi cư trú của các dân tộc Dao, Nùng, Tày Người dân ở đây sống rải rác gần khu rừng trồng, thuộc vành đai thấp với độ cao không quá 700m so với mặt nước biển Mẫu Sơn nổi tiếng với các sản vật như: chè tuyết sơn, đào trái, gà lôi sáu cựa, chanh rừng, ếch hương, rượu Mẫu Sơn
Khu du lịch Mẫu Sơn cách nằm ở độ cao 1.541m so với mặt biển, khí hậu ôn hoà, nhiệt độ trung bình năm 15,6o
C, rất thích hợp cho nghỉ dưỡng Mẫu Sơn được bao bọc cả trăm quả núi lớn nhỏ Mùa hè mát mẻ, mùa đông đỉnh núi luôn bị sương mù bao phủ, những ngày giá rét thỉnh thoảng có tuyết rơi Năm 1923 Bác sĩ người Pháp Opilot đã đến đây xây dựng một biệt thự; những năm sau đó người Pháp cũng đã quy hoạch và xây dựng thêm nhiều
biệt thự để phục vụ các quan chức Pháp Mẫu Son được ví như “Sapa thứ hai” của miền Bắc, lại thuận lợi về địa lý, giao thông, cách Hà Nội không đến
180km; từ Mẫu Sơn, du khách có thể đi thăm Trung Quốc qua cửa khẩu Chi
Ma Hiện nay, tỉnh Lạng Sơn đang cho xây dựng những công trình phục vụ phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch leo núi, nghỉ dưỡng
Thiên nhiên đã ban tặng cho Lạng Sơn nhiều cảnh quan độc đáo, hấp dẫn, là điều kiện để Lạng Sơn có thể xây dựng và đưa vào tổ chức một số loại hình du lịch phù hợp như: du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch thể thao, du lịch tham quan nghiên cứu khoa học Với đặc điểm địa hình đồi núi, nên Lạng Sơn trở thành nơi cư trú của nhiều đồng bào dân tộc thiểu số: Nùng, Tày, Sán Chay, Hoa, Dao, H’mông… Sự đa dạng về bản sắc văn hóa các dân tộc gắn
Trang 40với những nơi có cảnh quan kì thú là điều kiện để kết hợp giữa phát triển du lịch gắn với tự nhiên và tìm hiểu văn hóa các dân tộc thiểu số của Xứ Lạng
1.2.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
“Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh
Ai lên xứ Lạng cùng anh
Bõ công bác mẹ sinh thành ra anh”
Câu ca ấy như lời mời gọi tha thiết mặn nồng những ai chưa một lần đặt chân tới xứ Lạng, và ai đã đến rồi thì lại mong có lần được trở lại Điều đó khẳng định tiềm năng du lịch của tỉnh Lạng Sơn có sức hấp dẫn đối với bất cứ
ai đã một lần đến nơi đây
Là một trong ba cửa ngõ lớn ở phía Bắc tổ quốc, Lạng Sơn có 253km đường biên giới với Trung Quốc, cách thủ đô Hà Nội 154km; có đường bộ và đường sắt đi lại dễ dàng, thuận lợi Với hai cửa khẩu quốc tế, hai cửa khẩu quốc gia, bảy cặp chợ đường biên và các trung tâm thương mại, chợ biên giới
là điều kiện hiếm có so với các tỉnh biên giới khác để phát triển thương mại gắn với du lịch Từ Lạng Sơn, khách du lịch có thể đi ô tô, tàu hỏa sang Trung Quốc và ngược lại Hiện nay, đã có nhiều chương trình du lịch bằng ô tô từ thành phố Lạng Sơn đi một số địa phương của Trung Quốc đã và đang hoạt động rất thuận tiện
Lạng Sơn trong tiến trình lịch sử lâu dài, với vị trí địa lí đặc biệt, còn sớm là một trong những cái nôi của sự xuất hiện loài người Trải qua bao thăng trầm lịch sử, Lạng Sơn có một vị thế đặc biệt, trở thành phên dậu bảo
vệ cho cả một dải quê hương đất nước Nơi đây đã chứng kiến nhiều sự kiện
và chiến công hiển hách của dân tộc trong sự nghiệp chống giặc ngoại xâm qua các thời kì, và cũng có thể nói mỗi tấc đất của mỗi địa danh ở Xứ Lạng đều là những di tích lịch sử, là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam