Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa tại các điểm di tích lịch sử 2.2.7 Đánh giá hoạt động du lịch văn hóa tại các điểm di tích triều CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG HIỆU Q
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
BÙI THỊ HUẾ
NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA
TRỌNG ĐIỂM TRIỀU TRẦN TẠI QUẢNG NINH
PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
Hà Nội - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
BÙI THỊ HUẾ
NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA
TRỌNG ĐIỂM TRIỀU TRẦN TẠI QUẢNG NINH
Trang 3MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ DU LỊCH
VĂN HÓA VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TẠI CÁC DI
TÍCH LỊCH SỬ VĂN HOÁ TRIỀU TRẦN TẠI QUẢNG NINH
9
Trang 4CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI CÁC
DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA TRỌNG ĐIỂM TRIỀU TRẦN
Ở QUẢNG NINH
34
2.2 Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa tại các điểm di tích lịch sử
2.2.7 Đánh giá hoạt động du lịch văn hóa tại các điểm di tích triều
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG
HIỆU QUẢ KHAI THÁC CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA
TRIỀU TRẦN CỦA TỈNH QUẢNG NINH PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN
3.2 Đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch văn hóa tại các di tích
3.2.1 Giải pháp về tổ chức quản lý các di tích tiêu biểu triều Trần tại
3.2.2 Giải pháp về sản phẩm du lịch tại các di tích tiêu biểu triều
Trang 53.2.3 Giải pháp về cơ sở vật chất kỹ thuật và đầu tư phát triển 68
3.2.4 Giải pháp phát triển nhân lực tại các di tích tiêu biểu triều
3.2.5 Giải pháp xây dựng hình ảnh, xúc tiến và quảng bá du lịch 71
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, du lịch của các quốc gia gặp nhiều trở ngại và có phần chững lại Du lịch Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ Tuy nhiên, với định hướng phát triển du lịch theo chiều sâu, ngành du lịch của nước ta đã bước đầu vượt qua giai đoạn khó khăn
và khẳng định được vị trí của mình trong vùng Đông Nam Á và Châu Á Điểm nổi bật để du khách nhớ tới Việt Nam đó là các chương trình du lịch tham quan các lễ hội, di tích lịch sử văn hoá Chính vì vậy, việc phát triển loại hình du lịch văn hoá cần phải phát triển hơn nữa nhằm nâng cao vị thế cạnh tranh của du lịch trong nước với các nước lân cận trong chiến lược phát triển du lịch của đất nước
chứa đựng nguồn tài nguyên tự nhiên và văn hóa phong phú, được ví như hình ảnh của đất nước Việt Nam thu nhỏ Với hàng trăm di tích lịch sử , văn hóa, danh lam thắng cảnh nổi tiếng trong nước và quốc tế, du lịch Quảng Ninh có vị trí quan trọng trong ngành du lịch Việt Nam Lưu giữ 544 di sản văn hóa vật thể và 2.848 di sản văn hóa phi vật thể, Quảng Ninh được biết đến là một tỉnh giầu có về tài nguyên du lịch văn hóa Trong hệ thống di tích lịch sử văn hóa của Quảng Ninh, di tích lịch sử triều Trần là một trong những cụm di tích quan trọng, trải dài từ Đông Triều tới huyện đảo Vân Đồn với các di tích tiêu biểu: Khu lăng mộ các vua Trần, quần thể
và di tích danh thắng Yên Tử, đền thờ Trần Quốc Nghiễn – chùa Long Tiên, đền Cửa Ông…Mỗi di tích đều mang trong mình những giá trị lịch sử văn hóa đặc sắc Trong quy hoạch phát triển du lịch của tỉnh Quảng Ninh, cụm di tích lịch sử văn hóa triều Trần được xác định là điểm đến của du lịch Quảng Ninh Tuy nhiên, sự phát triển du lịch tại các di tích lịch sử này vẫn còn nhiều hạn chế Sự đầu tư phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, sản phẩm du lịch nghèo nàn, doanh thu từ du lịch thấp, chưa tạo được điểm nhấn, sức hấp dẫn đối với du khách
Trang 7Hơn nữa, trong giai đoạn hiện nay, vấn đề kinh tế biển, chủ quyền biển đảo đang đặt ra những vấn đề đặc biệt quan trọng và cần thiết… Việc nghiên cứu các di tích trọng điểm triều Trần trên địa bàn Quảng Ninh gắn bó với chủ quyền biển đảo và toàn vẹn lãnh thổ là một bài học sáng giá, có ý nghĩa thiết thực từ quá khứ đối với chúng ta trong giai đoạn hiện nay
Căn cứ vào thực tế trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu giá trị các di tích lịch sử - văn hóa trọng điểm triều Trần tại Quảng Ninh phục vụ phát triển du lịch” nhằm tìm ra những định hướng và giải pháp để nâng cao hiệu quả khai thác các
giá trị cụm di tích lịch sử triều Trần phục vụ phát triển du lịch của Quảng Ninh
2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài “Nghiên cứu giá trị các di tích lịch sử - văn hóa trọng điểm triều Trần tại Quảng Ninh phục vụ phát triển du lịch”tập trung vào hai nhóm đối tượng
- Các giá trị cơ bản của hệ thống di tích lịch sử triều Trần
- Thực trang khai thác giá trị các di tích phục vụ phát triển du lịch
*Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về không gian: Đề tài tập trung vào nghiên cứu các di tích lịch sử triều trần gồm: Khu lăng mộ vua Trần tại Đông Triều; danh thắng Yên Tử; đền Đức Ông Trần Quốc Nghiễn – chùa Long Tiên; đền Cửa Ông; Di tích chiến thắng Bạch Đằng (1288); đình, đền Quan Lạn
- Phạm vi về thời gian: Số liệu, tài liệu được thu thập tong giai đoạn
2007-2011
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài “Nghiên cứu giá trị các di tích lịch sử - văn
hóa trọng điểm triều Trần tại Quảng Ninh phục vụ phát triển du lịch” tập trung vào
hai mục đích nghiên cứu chính
Trang 8- Đánh giá thực trạng khai thác các giá trị tiêu biểu triều Trần ở Quảng Ninh phục vụ phát triển du lịch
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác phát triển du lịch tại các điểm di tích
4 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Cụm di tích lịch sử triều Trần là những di tích gắn liền với một triều đại huy hoàng trong lịch sử phong kiến Việt Nam Cho đến nay có rất nhiều công trình
nghiên cứu về các di tích lịch sử này như: “Di tích lịch sử văn hóa và danh thắng
Yên Tử”, “Di tích lịch sử văn hóa nhà Trần tại Đông Triều”, “Di tích lịch sử văn hóa thương cảng vân Đồn” của Ban quản lý các di tích trọng điểm Quảng Ninh
(2011); “Lý lịch di tích thương cảng Vân Đồn – bến Cái Làng, xã Quan lạn, huyện
Vân Đồn” của Ban bảo tồn di tích Quảng Ninh (2003); “Địa chí Quảng Ninh” Ủy
ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh(2000); “Cõi thiền Trúc Lâm Yên Tử” tác giả Trần Trương (1996),“Thần Đền Cửa Ông”, “Cửa Ông miền đất thiêng” tác giả Đặng Hùng
(2010), … Ngoài ra, còn có rất nhiều các bài viết trên báo, tạp chí nghiên cứu về các giá trị của cụm di tích Tuy nhiên các công trình trên chỉ dừng ở việc nghiên cứu các giá trị lịch sử ,văn hóa của các di tích Qua tìm hiểu cho thấy, việc nghiên cứu cụm
di tích lịch sử triều Trần tại Quảng Ninh phục vụ phát triển du lịch vẫn còn là vấn đề mới, hiện nay chưa có công trình nghiên cứu nào được công bố
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Để hoàn thành đề tài: “Nghiên cứu giá trị các di tích lịch sử - văn hóa trọng
điểm triều Trần tại Quảng Ninh phục vụ phát triển du lịch” tác giả đã sử dụng kết
hợp một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp khảo sát điền dã;
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành;
- Phương pháp so sánh - đối chiếu
Trang 96 Ý nghĩa kết quả và những đóng góp của đề tài
Đề tài: “Nghiên cứu giá trị các di tích lịch sử - văn hóa trọng điểm triều
Trần tại Quảng Ninh phục vụ phát triển du lịch” là những gợi mở , đóng góp ý kiến
cho sự phát triển bền vững của du lịch văn hóa trên đi ̣a bàn Quảng Ninh - phát triển
du lịch theo chiều sâu Khai thác hiệu quả giá trị các di tích lịch sử triều Trần tại
Quảng Ninh phục vụ phát triển du lịch, tạo thêm những chương trình du lịch mới
hấp dẫn du khách trong và ngoài nước
7 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lí luận chung về du lịch văn hóa và phát triển du
lịch văn hóa tại các di tích lịch sử văn hóa triều Trần tại Quảng Ninh
Chương 2: Thực trạng hoạt dộng du lịch tại các di tích lịch sử văn hóa trọng
điểm triều Trần ở Quảng Ninh
Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả khai thác các di tích
lịch sử văn hóa triều Trần của Quảng Ninh phục vụ phát triển Du lịch
Trang 10CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ DU LỊCH VĂN HÓA VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TẠI CÁC DI TÍCH
LỊCH SỬ VĂN HOÁ TRIÊU TRẦN TẠI QUẢNG NINH
1.1 Một số vấn đề lý luận về du lịch văn hóa
1.1.1 Du lịch văn hóa
Trong xu thế phát triển đa dạng của các loại hình du lịch, bên cạnh những loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch khám chữa bệnh, du lịch mạo hiểm, du lịch giáo dục gần đây du lịch văn hóa được xem là loại sản phẩm đặc thù của các nước đang phát triển, thu hút nhiều khách du lịch quốc
tế Du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc, kể cả những phong tục tín ngưỡng để tạo sức hút đối với khách du lịch bản địa và từ khắp nơi trên thế giới Đối với khách du lịch
có sở thích nghiên cứu, khám phá văn hóa và phong tục tập quán bản địa, thì
du lịch văn hóa là cơ hội để thỏa mãn nhu cầu của họ
Theo Luật Du lịch : “Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản
sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống”
1.1.2 Tài nguyên du lịch văn hóa
Tài nguyên du lịch văn hóa được hiểu là loại tài nguyên do con người tạo
ra hay có thể hiểu nó là những đối tượng, hiện tượng được tạo ra bởi con người Tuy nhiên chỉ có những tài nguyên văn hóa có sức hấp dẫn với du khách và có thể khai thác phát triển du lịch để tạo ra hiệu quả xã hội, kinh tế môi trường mới được gọi là tài nguyên du lịch văn hóa
Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005): “Tài nguyên du lịch văn hóa gồm
truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể khác có thể sử dụng phục
Trang 11
1.1.3 Tổ chức quản lý du lịch văn hóa
Hoạt động kinh doanh du lịch nói chung hay du lịch văn hóa - lịch sử nói riêng bao gồm hai bộ phận cấu thành cơ bản: hoạt động kinh doanh du lịch nội địa và hoạt động kinh doanh du lịch quốc tế Như vậy, sự phát triển của du lịch không chỉ còn nằm trong phạm vi quốc gia mà đã vượt ra phạm
vi quốc tế Do đó, hoạt động kinh doanh du lịch cần có sự tổ chức và quản lý tương ứng
Theo T.S Trần Thị Minh Hòa: “Quản lý nhà nước về du lịch là làm chức
năng quản lý vĩ mô về du lịch Việc quản lý đó thông qua các công cụ quản lý
vĩ mô, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doạnh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau hoạt động trong lĩnh vực kinh tế du lịch Quản lý nhà nước về du lịch là nhằm đưa du lịch phát triển theo định hướng chung của tiến trình phát triển của đất nước.” [,tr328]
Trong Luật Du lịch Việt Nam quy định rõ các quy định về nội dung quản
lý nhà nước về du lịch như sau:
Đối với cơ quan quản lý về du lịch:
“- Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển du lịch
- Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn định mức kinh tế - kỹ thuật trong hoạt động du lịch
- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về du lịch
- Tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ
- Tổ chức điều tra, đánh giá tài nguyên du lịch để xây dựng quy hoạch phát triển du lịch, xác định khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch
- Tổ chức thực hiện hợp tác quốc tế về du lịch; hoạt động xúc tiến về du lịch ở trong nước và ngoài nước
Trang 12- Quy định tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về du lịch, sự phối hợp của các cơ quan nhà nước trong việc quản lý nhà nước về du lịch
- Cấp, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về hoạt động du lịch
- Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về du lịch.”
Đối với chính quyền địa phương:
“Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình và theo sự phân cấp của chính phủ có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về du lịch tại địa phương; cụ thể hóa chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính sách phát triển du lịch phù hợp với thực tế tại địa phương; cụ thể hóa chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính sách phát triển du lịch phù hợp với thực tế tại địa phương và có biện pháp đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn xã hội, vệ sinh môi trường tại khu lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.”
Đối với cơ sở, đơn vị kinh doanh du lịch: “Thực hiện các hoạt động của
đơn vị và tuân thủ các quy định của nhà nước và hoạt động dưới sự quản lý của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở địa phương đó.”
1.1.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch văn hóa
Cơ sở vật chất kỹ thuật đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tạo ra và thực hiện sản phẩm du lịch cũng như quyết định mức độ khai thác tiềm năng du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch Chính vì vậy, nên sự phát triển của ngành du lịch bao giờ cũng gắn liền với việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật
Du lịch là ngành “sản xuất” nhiều và đa dạng về thể loại dịch vụ, hàng hoá nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch Do vậy cơ sở vất chất kỹ thuật
du lịch gồm nhiều thành phần khác nhau Việc tiêu dùng dịch vụ, hàng hoá du lịch đòi hỏi phải có một hệ thống các cơ sở, công trình đặc biệt…Tài nguyên
Trang 13du lịch chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong tiêu dùng của khách du lịch Việc sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch đòi hỏi phải xây dựng một hệ thống các công trình Căn cứ vào các đặc điểm trên có thể hiểu cơ sở vật chất
kỹ thuật du lịch bao gồm toàn bộ các phương tiện vật chất tham gia vào việc tạo ra và thực hiện dịch vụ hàng hoá du lịch nhằm đóng góp mọi nhu cầu của khách du lịch
Theo nghĩa rộng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được hiểu là toàn bộ các phương tiện vật chất kỹ thuật được huy động tham gia vào việc khai thác các tài nguyên du lịch nhằm tạo ra và thực hiện các dịch vụ và hàng hoá thoả mãn nhu cầu của du khách trong các chuyến hành trình của họ, sẳn theo cách hiểu này, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm cả cơ sở vật chất kỹ thuật bản thân nghành du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật của các nghành khác của
cả nền kinh tế quốc dân tham gia vào việc khai thác tiềm năng du lịch như hệ thống đường sá, cầu cống, bưu chính viễn thông, điện nước…Nhưng yếu tố này được gọi chung là các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng xã hội Trong đó những yếu tố cơ sở hạ tầng xã hội còn được xem là những yếu tố đảm bảo điều kiện chung cho việc phát triển du lịch Điều này cũng khẳng định mối liên hệ mật thiết giữa du lịch với các nghành khác trong mối liên hệ liên nghành
Theo nghĩa hẹp, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được hiểu là toàn bộ các phương tiện vật chất kỹ thuật do các tổ chức du lịch tạo ra để khai thác các tiềm năng du lịch, tạo ra các sản phẩm dịch vụ và hàng hoá cung cấp và làm thoả mãn nhu cầu của du khách Chúng bao gồm hệ thống các khách sạn, nhà hàng, các khu vui chơi giải trí, phương tiện vận chuyển…và đặc biệt nó bao gồm cả các công trình kiến trúc hỗ trợ Đây chính là các yếu tố đặc trưng trong hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật của nghành du lịch Nếu thiếu những yếu tố này thì nhu cầu du lịch của du khách không được thoả mãn Do vậy, đây chính là yếu tố trực tiếp đối với việc đảm bảo điều kiện cho các dịch vụ
du lịch được tạo ra và cung ứng cho du khách
Trang 14Việc phân chia khái niệm về cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp và có ý nghĩa quan trọng Tuy nhiên cũng cần phải xác định việc phân chia này chỉ có tính chất tương đối, bởi lẽ khó tách bạch rạch ròi các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng khi mà ngay trong các khu du lịch cần phải
có những yếu tố này và nó có thể do chính các doanh nghiệp du lịch tạo ra Ví
dụ đường đi, các khuôn viên hay các công trình kiến trúc bổ trợ trong các khu
du lịch và thậm chí ngay trong một khách sạn
1.1.5 Điểm đến du lịch
Theo PGS.TS Trần Đức Thanh: “Điểm đến du lịch là một nơi, một
vùng hay một đất nước có sức hấp dẫn đặc biệt đối với cư dân ngoài địa phương và có những thay đổi nhất định trong kinh tế do hoạt động du lịch gây nên”
Trên phương diện địa lý, điểm đến du lịch được xác định theo phạm vi không gian lãnh thổ Điểm đến du lịch là một vị trí địa lý mà du khách thực hiện hành trình đến đó nhằm thỏa mãn nhu cầu theo mục đích của chuyến đi
Có thể phân biệt hai loại điểm đến:
+ Điểm đến cuối cùng: Thường là điểm xa nhất tính từ điểm xuất phát gốc của du khách và (hoặc) là địa điểm mà người đó dự định tiêu dùng phần lớn thời gian
+ Điểm đến trung gian hoặc nơi ghé thăm là địa điểm mà du khách dành thời gian ngắn hơn để nghỉ ngơi qua đêm hoặc viếng thăm một điểm hấp dẫn
Điểm đến du lịch chính là sự kết hợp các yếu tố vật chất và tinh thần, nhằm cung cấp cho du khách khi lưu trú và dừng chân tham quan tại một điểm du lịch của địa phương, làm bàn đạp cho sự tăng trưởng và phát triển du lịch của một điểm đến, tạo được bản sắc hấp dẫn, đủ để cạnh tranh, đó không chỉ là lời phản ánh, một lời hứa kinh nghiệm của điểm đến mà còn chứng minh khả năng đáp ứng các dịch vụ của điểm đến du lịch
Trang 151.1.6 Sản phẩm du lịch văn hóa
Để tìm hiểu sản phẩm du lịch văn hóa là gì trước hết ta tìm hiểu thế nào
là sản phẩm du lịch
Theo TS.Trần Thị Minh Hòa: “Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng
hóa cung cấp cho du khách, được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất kỹ
thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó.”
[14,tr31]
Như vậy, sản phẩm du lịch bao gồm cả yếu tố vật thể và phi vật thể Yếu
tố vật thể là hàng hóa, yếu tố phi vật thể là dịch vụ
Xét theo quá trình tiêu dùng của du khách trên tuyến hành trình du lịch thì chúng ta có thể tổng hợp các thành phần của sản phẩm du lịch theo các nhóm cơ bản sau:
Dịch vụ vận chuyển;
1.1.7 Khách du lịch
Theo Luật Du lịch:“Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi
du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”
Khách du lịch gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế
- Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam
- Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư
ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch
Trang 161.1.8 Bảo tồn di sản văn hóa
tạo dựng và để lại những di sản văn hóa vô cùng quý giá, là nguồn lực quan trọng cho sự phát triển đất nước Tuy nhiên, di sản văn hóa cũng rất dễ bị mai một và luôn tiềm ẩn nguy cơ biến mất nhanh chóng Bởi vậy, vấn đề đang đặt
ra là cần có các giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy giá trị của di sản văn hóa dân tộc trong sự phát triển toàn diện đất nước, làm cho di sản văn hóa truyền
thống tiếp tục tỏa sáng trong xu thế giao lưu, hội nhập
Bảo tồn di sản văn hóa là bao gồm các hoạt động về “sưu tầm”, “thăm
dò, khai quật khảo cổ”, “bảo quản di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia”, “tu bổ di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh”, “phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh” nhằm phát triển du lịch văn hóa
Theo luật di sản văn hóa:
(5) Sưu tầm là tập hợp các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia hoặc di sản
văn hóa phi vật thể, được thu thập, gìn giữ, sắp xếp có hệ thống theo những dấu hiệu chung về hình thức, nội dung và chất liệu để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu lịch sử tự nhiên và xã hội
(5) Thăm dò, khai quật khảo cổ là hoạt động khoa học nhằm phát hiện,
thu thập, nghiên cứu di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia và địa điểm khảo cổ
(5) Bảo quản di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia là hoạt động nhằm phòng ngừa và hạn chế những nguy
cơ làm hư hỏng mà không làm thay đổi những yếu tố nguyên gốc vốn có của
di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
(5) Tu bổ di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh là hoạt động
nhằm tu sửa, gia cố, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh
Trang 17(5) Phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh là hoạt
động nhằm phục dựng lại di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đã bị hủy hoại trên cơ sở các cứ liệu khoa học về di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đó
1.2 Các di tích lịch sử văn hóa trọng điểm triều Trần tại Quảng Ninh
1.2.1 Khu Lăng mộ vua Trần tại Đông Triều
Đông Triều - mảnh đất và con người đã gắn liền với chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam Nơi này là vùng đất cổ có tên gọi là An Sinh hay Yên Sinh, đến đời vua Trần Dụ Tông (1341-1369) được đổi tên thành Đông Triều Theo duy danh định nghĩa thì Đông Triều có nghĩa là “triều đình phía đông”, An Sinh vốn là quê gốc của nhà Trần Chính vì vậy, Từ đời vua Trần Anh Tông tất
cả các mộ phần, lăng tẩm của các vua Trần đều quy về An Sinh và đã hình thành một khu lăng mộ rộng lớn và tôn nghiêm có tên là lăng Tư Phúc
Lăng mộ các vua Trần toạ lạc trên mảnh đất có non bình thuỷ tụ, diện tích khoảng 15km2 từ núi Đạm Thuỷ tới núi Ngoạ Vân thuộc xã An Sinh, huyện Đông Triều Di cốt mỗi vua được táng ở một lăng riêng, gồm có: 1,Lăng Đồng Thái (Thái Lăng) táng vua Trần Anh Tông, phụ táng Bảo Từ hoàng thái hậu, vợ Anh Tông, con gái Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng
2, Lăng Đồng Mục (Mục Lăng) táng vua Trần Minh Tông 3, Lăng Ngải Sơn (Ngải Lăng) táng vua Trần Hiến Tông 4, Lăng Phụ Sơn (Phụ Lăng) táng vua Trần Dụ Tông 5, Nguyên Lăng táng vua Trần Nghệ Tông Di cốt vua Giản Định đời Hậu Trần cũng được an táng ở đây Ngoài ra, còn có lăng Đồng Hy (Hy Lăng) ở núi Ngọc Thanh, xã Đạm Thủy táng mộ giả vua Trần Duệ Tông
bị tử trận ở phương Nam khi đánh Chiêm Thành Vua Trần Thuận Tông bị Hồ Quý Ly bức tử ở Quán Ngọc Thanh cũng được mai táng ở Đạm Thủy Kiến trúc của khu lăng Tư phúc rất uy nghi rực rỡ, có tẩm điện có người đá, voi đá, ngựa đá, hổ đá, dê đá…
Trang 18Trong khu di tích nhà Trần ở Đông Triều còn có khu đền An Sinh thuộc thôn Nghĩa Hưng, xã An Sinh.Đền được xây dựng theo hướng tây nam với ba tòa nhà hình chữ tam, gồm tiền đường, bái đường và hậu cung Đền thờ Trần triều bát vị hoàng đế và Khổng Tử Ngoài khu vực đền còn có nhà khách, nhà ở của thủ từ và xung quanh có tường bao bọc Do thời gian và chiến tranh tàn phá, đền An Sinh hầu như bị tàn phá hết, chỉ còn lại một số bia
đá cổ, 1 bia đá niên hiệu Cảnh Hưng (1740-1786), 1 bia đá niên hiệu Đức Long (1629-1643) và 1 bia đá niên hiệu Tự Đức (1843-1833) Nét điêu khắc trên các bia đá đều rất tinh tế thể hiện sự tài hoa của các nghệ nhân
Với những giá trị lịch sử văn hóa độc đáo, khu lăng mộ vua Trần và đền An Sinh đã được Bộ Văn hóa quyết định xếp hạng là di tích quốc gia (Quyết định 213 QĐ/VH ngày 28/4/1962) Năm 1987, UBND tỉnh đã cấp kinh phí cùng với sự quyên góp của dân chúng, đền An Sinh đã được xây dựng lại Hàng năm, huyện Đông Triều long trọng tổ chức lễ hội tưởng nhớ tới các vua Trần
1.2.2 Quần thể di tích lịch sử và danh thắng Yên Tử
Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử thuộc xã Thượng Yên Công, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh nằm Nằm trong cánh cung núi trùng điệp của khu Đông Bắc, đỉnh núi Yên Tử ở độ cao 1.068m so với mặt nước biển Từ xưa, núi rừng Yên Tử đã nổi tiếng là nơi ngoạn mục và được liệt vào danh sơn đất Việt Sau khi Thiền phái Trúc Lâm ra đời cùng với một hệ thống các chùa tháp uy nghi, Yên Tử đã thực sự trở thành một “non thiêng”, một đại danh thắng của đất nước
Khu di tích danh thắng Yên Tử là nơi gắn liền với sự nghiệp tu hành của Tam Tổ Trúc Lâm, đánh dấu sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm Thiền phái Trúc Lâm đã hội tụ đầy đủ những tinh thần của Phật giáo, nhưng chứa đựng được những nét độc đáo của Việt Nam Vì vậy, Yên Tử cũng được xem
Trang 19là kinh đô Phật giáo Việt Nam Từ thời nhà Lý, Yên Tử đã có chùa thờ Phật gọi là chùa Phù Vân đến thời kỳ nhà Trần Yên Tử được tiếp tục kế thừa phát triển đặc biệt dưới thời vua Trần Nhân Tông, một ông vua có công lớn trong
sự nghiệp giữ nước và có động cơ tu hành cao thượng Ông trở thành vị Tổ thứ nhất của Thiền phái Trúc Lâm với Phật danh Điều Ngự Giác Hoàng Vị
Tổ thứ hai và thứ ba kế tục sự nghiệp của ông là Pháp Loa Đồng Kiên Cương
và Huyền Quang Lý Đạo Tái Từ đó, Yên Tử trở thành kinh đô tư tưởng của Phật giáo Việt Nam, đánh dấu sự phát triển triết học và tư tưởng của dân tộc đương thời Từ Yên Tử giáo lý Trúc Lâm phát triển rộng ra khắp vùng Đông Bắc, dựng lên 800 ngôi chùa lớn nhỏ, trong đó có những chùa nổi tiếng như: Quỳnh Lâm, Côn Sơn, Thanh Mai với 15.000 tăng chúng độ trì Khu di tích danh thắng Yên Tử đã sớm được xếp hạng đặc cách là di tích cấp Quốc gia theo Quyết định số 15 VH/QĐ ngày 13/3/1974 Đặc biệt, Ngày 27/9/2012, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân thay mặt Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1419/QĐ-TTg công nhận Di tích lịch sử - danh thắng Yên Tử là di tích quốc gia đặc biệt
Ngày nay qua nhiều thăng trầm, các di tích còn lại ở Yên Tử đã tìm thấy gồm 11 chùa và hàng trăm am, tháp, bia, tượng, hội tụ của nhiều phong cách kiến trúc, điêu khắc của các thời đại
Chùa Bí Thƣợng:
Chùa Bí Thượng (hay còn gọi là chùa Trình) nằm trên quốc lộ 18A, là cửa ngõ của Trung tâm Phật giáo Yên Tử, không phải là di tích được xây dựng từ thời Trần, không nằm trên con đường lên Yên Tử của vua Trần Nhân Tông nhưng nằm trên con đường hành hương quen thuộc của đời sau Trước đây chùa Bí Thượng rất khang trang, sau vì hỏa hoạn và chiến tranh tàn phá, chùa chỉ còn lại dấu tích là ba ngôi tháp Đến năm Đinh Tỵ (1977), cụ Nguyễn Thị Bảnh - quản tự đã cùng Phật tử xã Phương Nam huy động công
Trang 20đức xây dựng lại và đến năm Nhâm Thân (1992), chùa Bí Thượng được đưa vào hệ thống chùa Yên Tử Du khách về thăm chốn non thiêng Yên Tử sẽ thấy chùa Bí Thượng là chùa đầu tiên trong hệ thống chùa Yên Tử nên chùa
Bí Thượng trở thành chùa Trình như quan niệm “đi trình , về tạ, Phật linh độ trì” trong quan niê ̣m dân gian
Chùa Suối Tắm:
Chùa Suối Tắm nằm dưới chân núi Cửa Ngăn án ngữ vào Yên Tử có con Suối Tắm, nằm dưới vòm cây thoang thoảng hương trầm Theo tục truyền nơi đây xưa kia Trần Nhân Tông khi vào Yên Tử tu có dừng chân và tắm ở suối này, mang ý nghĩa là nơi tắm sạch bụi trần để vào cõi Phật Sau khi lễ Phật, du khách thưởng xuống suối và ngược lên hơn một trăm thước để lễ miếu Cô và miếu Cậu
Chùa Cầm Thực:
Qua chùa Suối Tắm là chùa Cầm Thực, tên chữ là Linh Nham tự
Chuyện kể rằng: Trần Nhân Tông khi tới đây chỉ uống nước trừ cơm nên được gọi là Cầm Thực Dựa theo truyền thuyết ấy, cuối thời Nguyễn, một
số nhà sư đã huy động công đức xây Linh Nham tự (chùa bóng thiêng), ý muốn nói: Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông đã từng qua đây, đồng thời sau khi tu hành và hiển Phật đã để lại “bóng thiêng” Chùa được trùng tu vào thời Nguyễn có 6 gian, dài 30m, cạnh chùa có một ngọn tháp xây bằng gạch
và đá
Chùa Lân:
Tại khu vực Nam Mẫu có một ngôi chùa lớn, chùa có tên nôm là chùa Lân, gọi chữ là Long Động tự, bởi cạnh đó có ngọn núi như hình con Lân, xung quanh chùa có hai mươi nhăm ngọn tháp được xây từ thời Trần tới thời Nguyễn - nơi chôn cất xá lị của các vị tổ trụ trì ở chùa Trong đó nổi bật và đẹp nhất là tháp Tịch Quang xây bằng đá vào năm Bảo Thái thứ 8 năm 1727
Trang 21Ngày mười chín tháng Giêng năm Nhâm Ngọ (2002) đã làm lễ đặt móng, khởi công xây dựng chùa Lân - Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử Ngày mười một tháng mười một năm Nhâm Ngọ đã làm lễ khánh thành Ngày nay chùa Lân - Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử là một nơi khang trang và được rất nhiều Phật tử trong cả nước đến thăm và thắp hương trên con đường hành hương lễ Phật
Suối Giải Oan và chùa Giải Oan:
Suối Giải Oan, một trong 28 con suối phải qua mới vào được núi Yên
Tử Theo tục truyền, đây là nơi vua Trần Nhân Tông cho lập đàn tràng làm lễ giải oan cho các cung nữ khi họ ngăn cản vua Trần vào núi tu hành, do đó nơi đây con suối và ngôi chùa dựng trên đàn tràng ấy đều mang tên Giải Oan Chùa trùng tu vào thời Nguyễn, trước chùa còn hai ngọn tháp gạch, nơi chôn cất xá lị của các vị sư trụ trì chùa
Tháp Huệ Quang:
Tháp Huệ Quang thường gọi là khu vườn tháp Huệ Quang hay khu Tháp Tổ Đây là cụm tháp trung tâm của Yên Tử, tổng cộng gần một trăm ngọn tháp, có kiến trúc thời Trần - Lê còn khá nguyên vẹn, trong đó đặc biệt
có Huệ Quang Kim Tháp, là tháp đức chôn xá lị của Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông Tháp dựng bằng đá, sáu tầng, cao mười một thước, là ngọn tháp đẹp nhất của Yên Tử, bên trong thờ tượng vua Trần Nhân Tông, được tạc bằng đá cẩm thạch theo phong cách nhà Trần Xung quanh vườn tháp bốn bức tường xây bằng gạch nung thời Trần, được lợp bằng ngói mũi hài kép, điển hình điêu khắc thời Trần Ngoài ra còn có 97 ngọn tháp và mộ được đắp đất bằng đất, đá hoặc gạch, nơi chôn cất xá lị của các nhà tu hành tại trung tâm phật giáo này Năm Quý Dậu (1993) đã được trùng tu, phục chế một phần nên tương đối khang trang
Trang 22Chùa Hoa Yên:
Chùa Hoa Yên trước kia có tên là Vân Yên (Vân Yên tự) nghĩa là mây khói vì nơi đây ở độ cao khoảng sáu trăm thước, thi thoảng có làn mây trắng mỏng bay qua Từ khi Lê Thánh Tông lên vãn cảnh thấy sắc hoa tươi đẹp nên cho đổi là chùa Hoa Yên Ngày nay có người gọi chệch là Hoa Hiên hay còn gọi là chùa Cả Chùa này trước kia được xây dựng từ đời Lý, sau được xây dựng lại từ cuối thời Nguyễn (sau khi bị hoả hoạn) Phía sau có chùa Phổ Đà Quan Âm Bồ Tát đã đổ nát từ lâu, chỉ còn lại dấu tích của sáu ngọn tháp, trong đó có một tháp đổ gạch lưu li xanh Năm Nhâm Ngọ (2002) chùa Hoa Yên đã được trùng tu lại
Chùa Một Mái:
Phía trái, cạnh chùa Hoa Yên khoảng 200m có một ngôi chùa có tên là chùa Một Mái, tên chữ là Bán Thiên tự Chùa không to vì địa thế hẹp nhưng rất đẹp Chùa chênh vênh ở lưng núi, đây là nơi cất giữ văn tự và là nơi vua Trần thường tới đọc sách, phía trước chùa có hai ngôi tháp gạch có tên là Thanh Long động và Thanh Long tháp Các nhà địa lý vẫn gọi chùa Một Mái
là đầu rồng, suối Ngự Dội là đuôi rồng
Trang 23tháp, một bằng gạch, một bằng đá đã hỏng, theo truyền thuyết đó là nơi An
Kỳ Sinh luyện thuốc xưa kia, thời Trần tiếp tục lại sử dụng
Chùa Bảo Sái:
Phía trên chùa Một Mái là chùa Bảo Sái, chùa mang tên một vị đệ tử của Trần Nhân Tông Phía bên phải chùa là một ngườm đá, thờ Điều Ngự Giác Hoàng, phía trên là khu Bồ tát hiện
Chùa Vân Tiêu:
Từ Bảo Sái qua bên phải khoảng năm trăm thước là chùa Vân Tiêu, nghĩa là mây lên đến đây là tan biến hết, phía trước chùa có khu vườn tháp trong đó có ngọn tháp Vọng Tiên cung 9 tầng 6 cạnh, xây trên một bệ tháp hình con rùa rất đẹp, là sản phẩm của thời Nguyễn
Tƣợng An Kỳ Sinh:
Tượng An Kỳ Sinh tượng trưng cho bóng dáng một Yên Kỳ Sinh tu tiên đắc đạo nhập vào tảng đá lớn Tượng là một khối đá tự nhiên, to, đẹp, vừa như có người tạc, dựng đứng trông giống như một nhà sư đang đứng thiền giữa đất trời
Trang 24đồng, ban đầu chỉ là một cái khám nhỏ, một người chui không lọt Đến năm Canh Thân 1740, đời vua Lê Cảnh Hưng, bão làm bật mái chùa, sau bị kẻ gian dỡ phần còn lại chỉ để lại dấu tích các hố cột chôn trên mỏm đá
Di tích chùa Yên Tử và khu danh thắng núi Yên Tử thuộc xã Thượng Yên Công, thị xã Uông Bí đã được Uông Bí đã được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích lịch sử và danh thắng cấp quốc gia (Quyết định số 15 VH/QĐ ngày 13/3/1947)
1.2.3 Chùa Long Tiên – Đền thờ đức ông Trần Quốc Nghiễn
Cụm di tích và danh thắng núi Bài Thơ tọa lạc tại phường Bạch Đằng, trung tâm thành phố Hạ Long, bao gồm 3 di tích: núi Bài Thơ, đền Đức Ông Trần Quốc Nghiễn, chùa Long Tiên
Núi Bài Thơ
Núi Bài thơ là một hòn núi đá vôi cao 206m ở trung tâm thành phố Hạ Long, ba mặt của núi giáp với khu dân cư đông đúc Phía Tây, phía Nam núi nằm kề bên bờ vịnh Hạ Long Từ rất xa người ta đã nhìn thấy nó với dáng hình sừng sững như một pháo đài cổ Đứng trên núi ta có thể ngắm nhìn toàn cảnh thành phố Hạ Long và phóng tầm mắt tận hưởng cảnh quan kỳ vĩ của vịnh Hạ Long Núi và nước hòa quyện với nhau tạo thành một bức tranh sơn thủy hữu tình làm say đắm lòng người
*Chùa Long Tiên
Chùa Long Tiên được xây dựng trên nền một con bợn cát dưới chân núi Bài thơ, trước con bợn cát này là nước biển chảy thành dòng từ phía Đông bắc đến phía Tây nam núi Bài thơ, thuyền bè vẫn ra vào được Điều đặc biệt
là trên con bợn cát này có một giếng nước rất trong Cái giếng này hiện nay vẫn còn tồn tại và nằm ở góc phải sân chùa Trước khi xây chùa, ở dưới chân núi Bài thơ đã có một am thiên thạch động hay còn gọi là Am thiền long tiên Phía bên phải am thiên thạch động là hang chín cô và bên trái am thiên thạch
Trang 25động là đền thờ Trần triều Đền thờ này cũng rất nhỏ và sơ sài nhưng cũng được nhiều người quan tâm biết đến Trải ngót trăm năm thống trị và khai thác khu mỏ của thực dân Pháp, chúng đổ xỉ than và lấn dần con sông, bãi sú tạo nên một diện mạo mới như ngày nay
Năm 1939, nhân chủ mỏ Pháp cho phá bỏ đền cô Đồng Thắng để mở rộng bãi chứa than cho Nhà máy sàng Hòn Gai, nên cho xây dựng tại chân núi Bài Thơ một ngôi chùa mới Giữa năm 1941, chùa Long Tiên được khánh thành Ngoài thờ Phật chùa còn thờ Đức Thánh Trần và Mẫu
*Đền Đức Ông
Đền nằm ở dưới chân núi Bài Thơ, thuộc khu vực bến Đoan, lưng đền dựa vào vách núi, còn phía trước đền là vịnh Cửa Lục Đền thờ Hưng Vũ Vương Trần Quốc Nghiễn - con thứ của Trần Hưng Đạo, vị tướng tài ba dũng mãnh có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Đền gồm ba gian bái đường, một gian hậu cung Trong đền có đủ đồ nghi trượng, bát bửu,
tế khí Hàng năm, vào ngày giỗ ông 24/3 âm lịch nhân dân thường mở hội
Ngôi đền có 3 khu gồm đền Hạ, đền Trung và dền Thượng phân bố theo chiều cao dần, tạo thành một quần thể kiến trúc hình chân vạc, trông ra vịnh Bái Tử Long Trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta của đế quốc Mỹ, khu đền Hạ và đền Trung bị phá huỷ hoàn toàn, chỉ còn lại đền Thượng Trải qua nhiều lần tu bổ, nhất là từ năm 1994 đến nay, đền Cửa Ông trở thành một quần thể kiến trúc khang trang chia làm 3 khu: đền Thượng, đền
Hạ và khu tượng đài Trần Quốc Tảng
Trang 26Khu đền Thươ ̣ng : Bao gồm đền Thượng, lăng mộ Trần Quốc Tảng,
đền thờ Quan Chánh, đền Quan Châu
gian để tiếp khách và kho lưu giữ hiê ̣n vâ ̣t thờ cúng trong đền ) Cửa kiểu bức bàn, làm bằng chất l iê ̣u gỗ Kích thước gian giữa là 3m, gian phía bên trái là 2,7m, cử a lách là 85cm, lòng ngang 5m Kết cấu kiến trúc bái đường theo kiểu chồng diêm Đầu dư chạm hình đầu rồng Câu đầu kết nỗi hai cô ̣t cái Xà dọc hình vuông đặt trên các đấu chạm hình hoa sen Bái đường có 3 hàng cột, phi cô ̣t cái là 95cm Tiền đường được phục chế (gần như xây mới) Riêng hai bức tường bên và phía sau đền Thượng vẫn được giữ nguyên với các bức trạm trổ sinh động cổ kính từ đầu thế kỷ 20 theo phong cách triều Nguyễn Hệ thống vì kèo cột gỗ kiểu giá chiêng chồng rường, bào trơn đóng bén đơn giản, hầu như không chạm trổ
vào hâ ̣u cung đền Thượng) quay về hướng Đông Đền được thiết kế theo kiểu chữ nhất (-), gồm 3 gian Cửa kiểu bức bàn , chất liê ̣u bằng gỗ Mái đền lợp ngói mũi Phía bên trái (hướng nhìn vào đền ) có một gian nhỏ cho người trông coi đền ở Kết cấu kiến trúc của đền kiểu chồng diêm, có 4 vì kèo
- Khu lăng, mộ Trần Quốc Tảng: Lăng đức Ông được xây phía sau khu đền Thượng Diện tích lăng cũng khá nhỏ , mỗi ca ̣nh 2,7m, kiến trúc phương đình, hai tầng, tám mái, mái lợp ngói mũi Phía trước lăng là bia mộ Chân đế của Mô ̣ hình bát giác, mỗi ca ̣nh dài 1,8m Chân Mô ̣ dài 1m, cao 1,25m Phía trước Mô ̣ là tấm bia ghi tên, năm sinh, năm mất của Trần Quốc Tảng
- Đền Quan Châu: đền nằm phía bên trái đền Thượng Đền có diện tích nhỏ, xây theo kiểu chữ Nhấ t nằm do ̣c (-) Chiều dài Đền là 25m, rô ̣ng 6,75m Kết cấu đền theo kiểu chồng diêm, có 2 gian, 3 vì kèo Mái lợp ngói mũi Đền
có 3 hàng cột, đầu bẩy được đă ̣t trên tường
Trang 27Khu tươ ̣ng đài Trần Quốc Tảng
Khu vực tượng đài Trần Quốc Tảng được xây trên một khuôn viên rộng
mặt về tượng Trần Quốc Tảng) là bức tường bằng đá điêu khắc diễn tả lại trận chiến chống giặc Nguyên Mông của quân dân nhà Trần trên sông Bạch Đằng
Tảng cao hơn 4m (chưa tính phần chân đế ), bằng chất liệu đồng Về phương diê ̣n ta ̣o hình , tượng được ta ̣o trong tư thế đứng hiên ngang , tay phải cầm kiếm, tay trái nắm chặt Vị dũng tướng có khuôn mặt chữ điền, đôi mắt mở to nhìn ra xa lột tả thần thái bình thản mà vẫn toát lên sự uy dũng
Khu đền Ha ̣
Khu vực đền Hạ có tổng diện tích 2942.7m Phía trước là khoảng sân rộng, nơi có gác chuông , kiến trúc kiểu phương đình , bốn mái Chuông cao khoảng 1m hình trụ dài Trên chuông có 4 chữ Hán “Mẫu Ha ̣ Linh Từ” và ghi tên những người công đức Chuông mới đúc năm Quý Mùi (1993) Trước cửa đền là cổng tam quan , nhìn về hướng Tây Phía tay trái đền Hạ là nhà sắp lễ Phía tay phải là nhà làm viê ̣c của Ban quản lý di tích Hai nhà này được thiết
kế đơn giản theo kiểu chữ nhất, gồm 3 gian Đền Hạ được xây dựng theo kiến trúc hình chữ Nhi ̣ (=), gồm Tiền đường 3 gian, hâ ̣u cung 3 gian, đều có kích thước bằng nhau: 9,9m x 3m, cửa được làm theo kiểu bức bàn
Điều làm nên giá trị trong kiến trúc của đền Cửa Ông chính là bố cục
mă ̣t bằng tổng thể và kết cấu kiến trúc Tuy di tích gồm nhiều đơn nguyên kiến trúc ghép lại và được chia làm 3 khu chính, khoảng cách giữa các khu khoảng 150m, nhưng không thấy sự rời rạc trong quy mô tổng thể kiến trúc
Bố cục kiến trúc hình chân vạc tạo nên sự khỏe khoắn, tính gắn kết của di tích Kết cấu đa dạng của các đơn nguyên như kiểu chữ đinh (J), chữ nhất (-), chữ nhi ̣ (=)…phá đi sự đơn điệu và tạo nên sự mới lạ đối với du khách khi
Trang 28vãn cảnh đền Đặc điểm này tạo nên sự khác biệt của di tích so với những di tích văn hóa, lịch sử khác, đó cũng là một trong những điều hấp dẫn khách du lịch Chính vì vậy có thể nói bố cục mă ̣t bằng tổng thể và kết cấu kiến trúc của đền Cửa Ông là một điểm nhấn trong việc chọn điểm đến của du khách trong và ngoài nước
1.2.5 Di tích chiến thắng Bạch Đằng (1288)
Khu di tích nằm trên địa bàn thị xã Quảng Yên, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh Đây là địa điểm ghi dấu sự kiện quân và dân nhà Trần đã lập nên chiến thắng lẫy lừng - Chiến thắng Bạch Đằng đánh tan quân Nguyên Mông ngày 09/4 (8/3 - Âm lịch) năm 1288
Di tích Chiến thắng Bạch Đằng 1288 là một tổng thể gồm có Bãi cọc Bạch Đằng (Bãi cọc ở đầm xã Yên Giang); và khu tưởng niệm nhân vật lịch
sử làm nên chiến thắng của trận Bạch Đằng đó là đền thờ Trần Hưng Đạo, miếu vua Bà Đây là nơi nói lên sự tham gia đóng góp của nhân dân địa phương vào chiến trận
Di tích bãi cọc Bạch Đằng
Bãi cọc nằm trong khu đầm nước, nằm cạnh ngã ba sông Chanh và sông Bạch Đằng Đây là nơi ghi dấu chiến thuật trọng yếu của trận địa do Trần Quốc Tuấn xây dựng để chặn đánh giặc Nguyên Mông, làm nên chiến thắng Bạch Đằng 1288 lịch sử Di tích bãi cọc Bạch Đằng đã được Bộ Văn hoá Thông tin cấp bằng công nhận là di tích lịch sử nhân kỷ niệm 700 năm chiến thắng Bạch Đằng Bãi cọc Bạch Đằng tồn tại cùng thời gian là chứng tích lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, nơi ghi dấu thiên tài quân sự của anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn ở thế kỷ 13
Bãi cọc Yên Giang: nằm ở cửa sông Chanh, dài khoảng 118m, rộng 20m Đa phần những cọc được tìm thấy ở khu vực này đều được làm từ thân cây lim hoặc táu, còn để nguyên vỏ Chiều dài thân cọc từ 2,6m đến 2,8m, phần cọc được đẽo nhọn để cắm xuống lòng sông dài từ 0,5m đến 1m Hiện
Trang 29nay, bãi cọc Yên Giang đã được khoanh vùng bảo vệ, xây kè xung quanh, dựng bia giới thiệu di tích
Bãi cọc đồng Vạn Muối: nằm ở cửa sông Rút Trong quá trình canh tác, đào ao thả cá, nhân dân đã phát hiện được nhiều cọc gỗ cắm đứng và cắm xiên trong khu vực đồng Vạn Muối Một số cọc đã được đưa về trưng bày tại Bảo tàng Bạch Đằng, Bảo tàng Hải quân, Bảo tàng Hải Phòng Hiện nay, bãi cọc nằm trong khu vực đầm nuôi thủy sản và ruộng canh tác của phường Nam Hòa
Bãi cọc đồng Má Ngựa: nằm ở cửa sông Kênh, cách bãi cọc đồng Vạn Muối khoảng 1km về hướng Nam, thuộc khu Hưng Học, phường Nam Hòa, thị xã Quảng Yên Bãi cọc có quy mô khoảng 2100m2, trải dài 70m theo chiều Đông - Tây và rộng 30m theo chiều Bắc - Nam Mật độ phân bố và độ sâu của cọc không đồng đều
Đền thờ Trần Hƣng Đạo
Đền thờ Trần Hưng Đạo ở xã Yên Giang, huyện Yên Hưng , nơi đã từng diễn ra trận chiến Bạch Đằng lịch sử năm 1288 của quân dan ta chống quân Nguyên Mông Để nghi nhớ công lao củ Trần Hưng Đạo, dân làng An Hưng dã lạp nghè và sau đó là đền thờ ông
Đền gồm ba gian tiền đường và 1 gian hậu cung Kiến trúc của đền hiện nay mang phong cách nghệ thuật đầu thế kỷ XX Trong đền có tượng Trần Hưng Đạo ngồi trên ngai, đầu đội mũ cánh chuồn, hai tay đặt lên đùi Ngoài ra, trong đền hiện còn lưu giữ các sắc phong của một số đời vua triều Nguyễn Đền thờ Trần Hưng Đạo còn có câu đối xác định vị thế của ngôi đền
và ca ngợi công đức của Trần Hưng Đạo
Miếu vua Bà
Miếu tọa lạc tại bến Rừng, cạnh đền thờ Trần Hưng Đạo Tương truyền miếu được dựng từ thời Trần, song qua năm tháng miếu cũ không còn Miếu vua Bà nay đã được làm mới từ năm 1989, sau đó đã có thêm 2 lần tôn tạo
Trang 30Ngôi miếu thờ một bà hàng nước bên bến đò Rừng Năm 1288, khi đi thị sát địa hình để chuẩn bị cho trận quyết chiến trên sông Bạch Đằng, qua bến đò An Hưng, Trần Hưng Đạo đa gặp một bà hàng nước Ông đã hỏi bà về lịch con nước và địa hình dòng sông Bạch Đằng Bà hàng nước đã nói tỉ mỉ về lịch con nước thủy triều lên xuống, địa thế dòng sông
Trần Hưng Đạo đã cho quân vào rừng chặt gỗ vót cọc, bí mật đóng xuống dòng sông Bạch Đằng, dựa vào lịch triều lên xuống để chặn đường rút chạy của quân thù Với tài thao lược của Trần Hưng Đạo, ngày 9/4/1288 quân dân nhà Trần đã đánh bại quân giặc Cuộc kháng chiến quân Nguyên Mông lần thứ 3 của quân dân Đại Việt thắng lợi hoàn toàn Sau khi thắng trận, Trần Hưng Đạo đã trở lại bến đò tìm bà hàng nước để tạ ơn nhưng không thấy bà đâu nữa Ông đã xin vua Trần phong cho bà là “Vua bà” và cho quân sỹ lập đền thờ ngay tại bến đò năm xưa
Di tích chiến thắng Bạch Đằng với các truyền thuyết dân gian, các đền miếu tưởng niệm giúp chúng ta thấy khí phách hào hùng chống giặc ngoại xâm, ý trí quật cường, bất khuất và tinh thần đoàn kết dân tộc thời bấy giờ Cùng với đó là tinh thần đoàn kết tham gia chiến đấu của nhân dân quanh vùng, sự chung sức cùng nhau đánh thắng kẻ thù xâm lược
Bên cạnh ý nghĩa lịch sử, Di tích chiến thắng Bạch Đằng còn có tác dụng to lớn trong việc giáo dục truyền thống mọi thế hệ Việt Nam bằng sức thuyết phục mạnh mẽ của các di tích, di vật gốc Truyền thống Bạch Đằng quật cường với sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân đã được phát huy cao Công cuộc chống giặc ngoại xâm để giữ gìn đất nước, xây dự
1.2.6 Cụm di tích đình, đền, chùa, miếu, nghè Quan Lạn
nhất trong hệ thống di tích kiến trúc nghệ thuật ở Quảng Ninh Đình được xây vào thời Lê tại bến Cái Làng - một trung tâm của thương cảng Vân Đồn xưa,
Trang 31gồm 9 gian Đến thời Nguyễn nhân dân chuyển sang đất Quan Lạn để sinh sống thì đình cũng được chuyển theo và rút bớt đi còn 7 gian, lúc đầu đình được xây theo kiểu chữ “khẩu”, sau sửa lại theo kiểu chữ “công”, gồm 5 gian
2 chái tiền đường, 3 gian ống muống và 1 gian 2 chái hậu cung Sau đó được rời về xóm Thái Hoà, rồi xóm Nam, cuối cùng rời về xóm Đoài và được thu
gọn như ngày nay
Hiên của bái đường với những đầu bẩy được trạm rồng lộng lẫy Mỗi đầu bẩy là một hình rồng khác nhau Trong 5 đầu bẩy ở đình Quan Lạn có một chiếc phía trái gian giữa, bức trạm rồng mang đậm phong cách thời Lê: mắt rồng xếch dài, dấu bờm hình đao uốn vài đường rồi vút thẳng về phía sau Đầu dư là một bộ phận đỡ cho xà thân vững cũng được trạm trổ công phu Mỗi đầu dư được trạm 3 mặt rồng, phải trái và bên dưới Bên dưới là nơi người đến thăm đình ngẩng lên nhìn thấy, chính vì vậy được trạm trổ tỉ mỉ và đẹp mắt
Toàn bộ kiến trúc của đình tuy đồ sộ bề thế, nhưng các đầu đao uốn cong hình rồng đã tạo cho đình một nét mềm mại uyển chuyển Mái lợp ngói mũi hài, trên bờ nóc đắp nổi lưỡng long chầu nguyệt, hệ thống vì kèo cột gỗ kiểu giá chiêng chồng rường Các mảng trạm khắc ở đây được nghệ nhân trạm trổ công phu, tỉ mỉ, sắc nét và đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật Đề tài trang trí chủ yếu là hình rồng, phượng và hoa lá được thể hiện với các sắc thái khác nhau trên mỗi bức cuốn, con rường, đầu bẩy, đầu dư, câu đầu, cửa võng mang đậm phong cách thời Lê Toàn bộ hệ thống cột gỗ được làm bằng chất liệu gỗ Mần Lái - một loại gỗ tốt nhất và chắc hơn cả gỗ lim, mọc từ núi đá trên đảo
Ba Mùn (Vân Đồn)
Đình Quan Lạn thờ Không Lộ thiền sư – vị thần bảo trợ cho những người
đi biển,, các vị Tiên Công có công khai lập ấp, lập nên xã Quan Lạn ngày nay
và Trần Khánh Dư - người có công lớn trong trận chỉ huy trận đánh tan đoàn
Trang 32quân lương của Trương Văn Hổ ở Vân Đồn, Cửa Lục góp phần quan trọng vào trận đại thắng Bạch Đằng năm 1288 nên đã được nhân dân tôn thờ làm Thành Hoàng của làng Hiện nay, đình còn lưu giữ tượng Trần Khánh Dư, 18 sắc phong của triều Nguyễn phong cho Trần Khánh Dư, long ngai, khám thờ, cửa võng, hoành phi, câu đối
+ Chùa Quan Lạn: Nằm ngay bên trái đình Quan Lạn có tên chữ là Vân
Quang tự Chùa có kiến trúc kiểu chữ “đinh” gồm 3 gian 2 chái tiền đường và 3 gian hậu cung, mái lợp ngói mũi hài, phía trước chùa là tam quan gác chuông
Hệ thống vì kèo cột gỗ theo kiểu giá chiêng chồng rường, các con rường, con
đầu đều được trạm trổ hình hoa dây, hoa lá vân xoắn và hoa cúc mãn khai
Ngoài thờ Phật, chùa Quan Lạn còn thờ mẫu Liễu Hạnh, một tín ngưỡng bản địa và thờ cụ Hậu (người có công với dân làng)
Hiện nay, chùa còn lưu giữ đầy đủ tượng Phật có giá trị điêu khắc của thời Nguyễn, hoành phi, câu đối, sắc phong của vua Thành Thái (1889) phong cho mẫu Liễu Hạnh và nhiều đồ tự khác bằng đồng và gỗ có giá trị
+ Miếu Đức Ông
Miếu Đức ông thuộc cụm di tích đình, chùa, miếu, nghè nằm ở bên trái chùa làng – nhìn về hướng Đông Nam Miếu Đức Ông gắn với một truyền thuyết về chiến công của ba anh em họ Phạm vốn là ba vị tướng của Trần Khánh Dư: Phạm Công Chính, Phạm Quý Công và Phạm Thuần Dụng Trong một trận quyết chiến với quân của Ô Mã Nhi, ở phòng tuyến Vân Đồn lịch sử,
ba ông đã hy sinh, xác trôi dạt vào bờ Xác anh cả trôi vào bến Đình, dân lập miếu thờ ở đó và gọi là miếu Đức Ông, xác anh hai trôi đến Sao Ỏn, dân lập miếu thờ gọi là miếu Sao Ỏn, xác em út trôi đến vị trí cầu cảng hiện nay, dân lập miếu thờ là miếu Đông Hồ
Miếu thờ Đức Ông là một bộ phận gắn bó chặt chẽ với đình làng trong ngày lễ hội của cư dân địa phương Ngày nay, các kỳ lễ tiết, sóc, vọng nhân dân địa phương vẫn làm lễ dâng hương đức Thánh
Trang 33+ Nghè Trần Khánh Dư (thường gọi là đền)
Tài danh, đức độ của Đức Thánh Trần Khánh Dư rất sâu đậm trong đời sống tinh thần của cư dân làng đảo Ông là vị thần bảo trợ, là một phần hương hỏa tinh thần của cư dân nơi đây Khi cộng đồng cư dân làng đảo Quan Lạn còn ở Cái Làng, họ cũng đã dựng nghè để thờ ông, dấu vết nay còn tìm thấy ở Vụng Nghè và khi phải dời cư đi nơi khác, cùng với việc chuyển đình, họ đã chuyển nghè đi theo
Ngôi nghè cũ được dựng từ thời cư dân Cái Làng mới về lập cư ở Quan Lạn nay không còn nữa Ngôi nghè mới có quy mô: 3 gian tiền tế ở phía trước; phía sau có nhô ra một gian hậu cung thờ Nghè được xây dựng sơ giản: tường gạch, mái ngói, khung nhà bằng nhiều loại gỗ khác nhau: lim, de, Các thành phần kiến trúc được bào trơn, đóng búa không có trang trí Hiện nay, ngoại thất của ngôi nghè vẫn chưa được xây dựng lại
Nghè và đình có quan hệ mật thiết với nhau trong đời sống tinh thần của cộng đồng cư dân địa phương Đám rước từ nghè về đình và hội đua thuyền Quan Lạn là biểu hiện sinh động cho mối quan hệ nói trên
Trang 34Tiểu kết chương 1
Triều Trần - một triều đại lớn trong lịch sử Việt Nam, tồn tại 175 năm
từ 1225 đến năm 1400, từ đời vua Trần Thái Tông (1225 - 1258) đến vị vua cuối cùng là Trần Thiếu Đế (1398 - 1400)
Trong thời gian trị vì nhà Trần đã để lại những thành tựu trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, mở mang lãnh thổ, đặc biệt là về quân sự với ba lần chiến thắng quân Nguyên - Mông xâm lược củng cố nền độc lập quốc gia Đại Việt lúc bấy giờ Kinh đô Thăng Long và Thiên Trường Nam Định là hai trung tâm chính trị, còn Đông Triều - Quảng Ninh là một trung tâm văn hóa đặc sắc của nhà Trần Nơi đây là đất thang mộc, đất phát tích dòng họ Trần, vì vậy hầu hết các vua Trần đều có lăng mộ tại đây Cùng với đó trong lịch sử phát triển và lịch sử chống quân xâm lược, bảo vệ đất nước của triều Trần, Quảng Ninh còn ghi dấu những chiến công vẻ vang và lịch sử phát triển hào hùng của một triều đại của được lưu lại ở các di tích: cụm di tích núi Bài Thơ; khu di tích lịch sử và danh thắng Yên Tử; cụm di tích đình, chùa, miếu , nghè Quan Lạn; cụm di tích lịch sử Bạch Đằng; đền Cửa Ông
Các điểm di tích triều Trần với các giá trị lịch sử văn hóa không chỉ có tác dụng tích cực trong việc giáo dục truyền thống yêu nước và khôi phục những nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa cổ truyền nhằm đáp ứng một phần đời sống tinh thần, tâm linh của người dân mà còn trở thành nguồn tài nguyên du lịch văn hóa độc đáo
Trang 35CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA TRỌNG ĐIỂM TRIỀU TRẦN
Ở QUẢNG NINH 2.1 Khái quát về du lịch tỉnh Quảng Ninh
Quảng Ninh là miền đất có và được hội tụ các yếu tố của một Việt Nam
thu nhỏ, ở đây có rừng, có biển, có đồng bằng, có miền núi và nhiều sắc mầu
dân tộc Quảng Ninh có nhiều điều kiện và tài nguyên để phát triển du lịch,
tróng đó tài nguyên du lịch thiên nhiên là nguồn tài nguyên du lịch nổi trội
hơn cả
Hiện nay, Quảng Ninh có 04 vùng và trung tâm du lịch, mỗi trung tâm
được gắn với một sản phẩm du lịch đặc trưng, trong đó thành phố Hạ Long -
Vịnh Hạ Long là một trong những trung tâm du lịch quan trong nhất Ngoài
ra, ở đây có các trung tâm du lịch khác như: khu Yên Tử - Uông Bí với sản
phẩm du lịch văn hóa, tâm linh; khu du lịch Vân Đồn với các sản phẩm du
lịch nghỉ dưỡng, sinh thái, vui chơi giải trí và cảnh quan; khu du lịch Móng
Cái – Trà Cổ với sản phẩm tắm biển, du lịch biên giới và mua sắm
Hiện tại ở Quảng Ninh có hơn 1.000 tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt
động kinh doanh du lịch, dịch vụ du lịch, kinh doanh nhiều loại hình dịch vụ
khác nhau như: khách sạn, vận chuyển, lữ hành, vui chơi giải trí và dịch vụ du
lịch khác Lực lượng lao động trực tiếp của ngành khoảng 16.000 người Cơ
sở vật chất chủ yếu: hơn 500 tàu du lịch, 200 xe ô tô, 820 cơ sở lưu trú du lịch
trên bờ với 14.000 phòng ngủ, trong đó khách sạn 1 -5 sao có 86 cơ sở với
gần 5.000 phòng và nhiều khu vui chơi giải trí Vốn đầu tư trực tiếp khoảng
20.000 tỷ đồng
Về sản phẩm và tuyến du lịch chủ yếu: lưu trú, nghỉ dưỡng, tham quan,
vui chơi, sinh thái, mạo hiểm, du lịch gắn với thể thao, mua sắm Các tuyến
du lịch ở Quảng Ninh: tuyến du lịch trên vịnh Hạ Long có 5 tuyến; tuyến du
Trang 36lịch khác có nhiều tuyến nối các địa phương khác với các điểm du lịch của
tỉnh và được chạy dọc theo chiều dài của tỉnh từ huyện Đông Triều đến thành
phố Móng Cái
Trong năm gần đây lượng khách du lịch đến với Quảng Ninh có tốc độ
tăng trưởng nhanh Năm 2011 Quảng Ninh đón được 6,5 triệu lượt khách,
trong đó khách quốc tế đạt 2,3 triệu lượt Doanh thu từ hoạt động du lịch đạt
3.500 tỷ đồng Ngày khách lưu trú bình quân đạt 1,3 ngày
2.2 Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa tại các điểm di tích lịch sử văn
hóa Triều Trần
2.2.1.Thực trạng về công tác quản lý
Công tác tổ chức quản lý tại các di tích đã được quan tâm khá tốt dần
đi vào nề nếp và có nhiều dấu hiệu tích cực Trong giai đoạn vừa qua
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ban quản lý các di tích trọng điểm và
ban quản lý tại các di tích đã có nhiều động thái tích cực nhằm tác động
làm tăng cường hiệu quả hoạt động du lịch tại các điểm di tích cụ thể
trong những năm qua, chính phủ, Bộ văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy
ban nhân dân tỉnh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có các văn bản
về tổ chức quản lý nhà nước như: “Nâng cấp rừng đặc dụng Yên Tử thành
rừng quốc gia (Văn bản số 537/TTg-KTN ngày 18/4/2010 của Thủ tướng
Chính phủ); Quyết định số 4903/QĐ-UBND ngày 27/12/2007 của UBND tỉnh V/v phê duyệt kết quả rà soát 3 loại rừng tỉnh Quảng Ninh);
kéo dài khoảng 20km theo hướng Bắc Nam, từ Quốc lộ 18A (Chùa Trình)
đến đỉnh núi Yên Tử (Chùa Đồng) Quyết định số 1608/QĐ – UBND,
ngày 28/4/2010 của tỉnh về phê duyệt nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư xây dựng công trình tu bổ tôn tạo di tích chùa Ngọa Vân, Quyết định
số 1031/QĐ/UBND, ngày 06/4/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh về phê
Trang 37duyệt dự án đầu tư tu bổ, tôn tạo di tích Thái Lăng Năm 2009, sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ninh kết hợp cùng với phòng Văn hóa Thông tin huyện tiến hành dự án chống mối mọt tại đình, chùa, miếu, nghè Quan Lạn Năm 2011, dự án xây lại nghè Trần Khánh Dư được thực hiện,
dự tính hoàn thành đầu năm 2013
Ngoài ra, công tác quản lý tại các điểm di tích đối với các các vấn đề như tăng bất thường đối với giá cả dịch vụ, vệ sinh môi trường, tình trạng chặn xe, ép khách được xử lý nghiêm, hoạt động cờ bạc, xóc thẻ, bói toán, bán hàng dược liệu giả được giảm thiểu, ngăn ngừa, an ninh trật tự đảm bảo tốt hơn…
Tuy nhiên công tác quản lý tại các điểm di tích còn bộc lộ nhiều hạn chế
và yếu kém Tại các di tích Yên Tử, Cửa Ông bộ máy quản lý chưa đồng bộ thiếu cán bộ có trình độ chuyên môn, trình độ nhận thức về du lịch còn hạn chế, công tác bảo tồn và phát huy phục vụ du lịch chưa được quan tâm đúng mức Việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nhân viên phục vụ du lịch còn chậm Công tác thống kê về du lịch còn yếu và chưa thực sự hiệu quả Công tác quy hoạch du lịch cũng chưa được quan tâm đúng mức
Tạo các điểm di tích như khu lăng mộ vua Trần, đền An Sinh, chùa Long Tiên, cụm di tích đình, chùa, miếu, nghè Quan Lạn chưa có ban quản
lý di tích, hầu hết là do chính quyền và nhân dân địa phương tự quản lý Tăng cường công tác quản lý nhà nước là điều kiện quyết định đảm bảo cho công tác bảo tồn và phát huy các di tích lịch sử triều Trần tại Quảng Ninh phát triển đúng hướng, góp phần vào sự phát triển chung của tỉnh và của cả nước
2.2.2 Thực trạng về cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch và nguồn nhân lực
2.2.2.1 Thực trạng về cở sở vật chất kỹ thuật du dịch
Trang 38(Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch 2011)
Qua bảng tổng hợp số liệu sơ sở lưu tại các các địa phương Đông Triều, Uông Bí, Quảng Yên, Hạ Long, Cẩm Phả, Vân Đồn trong giai đoạn 2007-
2011 cho thấy đều có sự tăng trưởng về số lượng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách Tuy nhiên sự phát triển cả về số lượng và chất lượng lại không đồng đều giữa các địa phương, tập trung chủ yếu ở các trung tâm du lịch lớn như Hạ Long, Uông Bí
* Dịch vụ ăn uống
Tại các điểm di tích lớn và có vị trí thuận lợi như Yên Tử, cụm di tích núi Bài Thơ, đền Cửa Ông, cụm di tích lịch sử kiến trúc văn hóa nghệ thuật trên đảo Quan Lạn dịch vụ ăn uống khá đa dạng, phục vụ từ nhu cầu cao cấp tới bình dân Không chỉ có các nhà hàng trên bờ mà tại Hạ Long và Vân Đồn còn có các nhà hàng đặc sản nổi trên biển phục vụ các món ẩm thực địa phương rất thu hút du khách tại các điểm di tích tiêu biểu Triều Trần còn hạn chế
Tuy nhiên tại các điểm di tích khác hệ thống nhà hàng còn hạn chế về
số lượng và chất lượng phục vụ du khách Phần lớn các du khách đi lễ mang theo đồ để tự phục vụ
Trang 39Giá cả dịch vụ ăn uống cũng là một vấn đề nổi cộm tại các điểm di tích Giá cả không ổn định, tăng bất thường vào những dịp lễ hội Đây là một trong những vấn đề gây ảnh hưởng lớn tới sự phát triển du lịch tại các điểm di tích
* Dịch vụ vận chuyển
Trong những năm gần đây tại các điểm di tích lớn như Yên Tử, Cửa Ông, Vân Đồn hệ thống giao thông đã được đầu tư
Tại Yên Tử, hệ thống đường giao thông từ ngã ba Dốc Đỏ vào đến Yên
Tử được mở rộng khang trang hơn, ngoài bãi đỗ xe chính, các điểm đỗ xe phụ cũng được gia cố nhằm tránh ùn tắc cục bộ những ngày cao điểm lễ hội Hệ thống cáp treo từ chân núi lên đến Hoa Yên và từ Hoa Yên lên An Kỳ Sinh được đầu tư khá tiện nghi đã góp phần giảm tải cho hệ thống đường hành hương bộ, đồng thời giúp cho chặng đường hành hương của du khách nhanh chóng, thuận lợi hơn
Trước mùa lễ hội 2012, Uông Bí đã đề nghị các đơn vị chức năng sửa chữa, nâng cấp một số đoạn đường từ đường 18A vào Yên Tử và trên dọc đường hành hương để đảm bảo tốt hơn cho nhu cầu đi lại của khách hành hương như đường từ An Kỳ Sinh lên chùa Đồng, sửa chữa ta-luy đường đoạn chùa Suối Tắm và bãi đỗ xe chùa Suối Tắm; nạo vét các khu vực sạt lở, làm các hốc cứu nạn tại dốc Quàng Hái; chỉnh trang, đổ sân bê tông khu vực đầu đường từ đường 18A rẽ vào Yên Tử; đẩy nhanh dự án mở rộng đường từ ngã
tư Nam Mẫu đến khu vực chùa Lân; lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng tuyến đường hành hương từ An Kỳ Sinh lên chùa Đồng v.v
Tại Vân Đồn dịch vụ vận chuyển bao gồm đường bộ và đường thủy đang dần được đầu tư đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân trong huyện và khách du lịch
Đường bộ: Hệ thống các đơn vị vận chuyển khách chủ yếu mới là để phục vụ dân sinh hầu hết chưa đủ tiêu chuẩn để phục vụ khách du lịch Năm
Trang 402007, tuyến xe buýt số 01 nối liền trung tâm du lịch Bãi Cháy với khu du lịch Bãi Dài đi vào hoạt động đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc đưa đón, thu hút
du khách giữa trung tâm du lịch lớn nhất của tỉnh Quảng Ninh về với Vân Đồn Ngoài ra, các phương tiện vận chuyển khác như các tuyến xe liên tỉnh, các hãng taxi, tàu ra các tuyến đảo cũng đã thực hiện tốt hơn Các tuyến xe liên tỉnh xuất phát từ Vân Đồn gồm: Vân Đồn - Hà Nội (14 chuyến/ngày), Vân Đồn - Nam Định (04 chuyến/ngày), Vân Đồn - Thái Bình (03 chuyến /ngày), Vân Đồn - Ninh Bình (02 chuyến/ngày), Vân Đồn - Hải Phòng (02 chuyến/ngày),…Ngoài ra, có 2 tuyến nội tỉnh là: Vân Đồn - Hòn Gai; Cái Rồng - Liên Vị (huyện Yên Hưng) cứ 15 phút một chuyến (từ 5h00 - 17h00) Việc đảm bảo an toàn, chất lượng dịch vụ cho du khách, số lượng, số chuyến được đưa vào sử dụng cũng không ngừng được tăng lên
Tại các xã đảo của Vân Đồn, người ta còn sử dụng xe Lam, có thể chở được 8 người/chuyến, là phương tiện để đón và phục vụ nhu cầu du lịch quanh đảo của du khách Hiện nay, toàn huyện có 115 phương tiện Tuy nhiên, vấn đề an toàn của các phương tiện này thì hầu như chưa được chính quyền địa phương quan tâm Ngoài ra, một phương tiện được rất nhiều du khách yêu thích đó là xe đạp Hiện toàn huyện có 350 phương tiện phục vụ nhu cầu thăm quan của du khách Do chi phí thuê thấp và có ý nghĩa lớn trong việc bảo vệ môi trường nên loại phương tiện này đang ngày càng được du khách sử dụng và số lượng phương tiện tăng lên nhanh chóng trong vài năm gần đây
Đường thủy: Ngoài các phương tiện vận chuyển khách trên bộ như ô tô, taxi, Vân Đồn còn có một đội tàu phục vụ du lịch chuyên chở khách tham quan khu vực vịnh Bái Tử Long và tham quan các đảo Tuy nhiên, về chất lượng vận chuyển thì vẫn còn nhiều bất cập, các vấn đề về an toàn, sức chứa hầu như chưa được chính quyền địa phương kiểm tra giám sát