Xuất phát từ những lý do trên, đề tài: “Nghiên cứu thị trường khách du lịch quốc tế đến Điện Biên” được chọn làm luận văn, nhằm đưa ra những giải pháp thu hút khách du lịch quốc tế đến Đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-NGUYỄN NGỌC LAN
NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ ĐẾN ĐIỆN BIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
Hà Nội, 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN HÀ NỘI
-
NGUYỄN NGỌC LAN
NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ ĐẾN ĐIỆN BIÊN
Chuyên ngành: Du lịch
(Chương trình đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN ĐỨC THANH
Hà Nội, 2014
Trang 3MỤC LỤC DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Cấu trúc của đề tài 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ ĐẾN 6
1.1 Thị trường du lịch 6
1.1.1.Khái niệm về thị trường du lịch 6
1.1.2 Phân loại thị trường du lịch 6
1.1.3 Thị trường khách du lịch quốc tế đến 9
1.1.4 Cung du lịch 10
1.1.5 Cầu du lịch 12
1.2 Khách du lịch 16
1.2.1 Khái niệm về khách du lịch 16
1.2.2 Phân loại khách du lịch 16
1.3 Nội dung nghiên cứu thị trường khách du lịch quốc tế đến 17
1.3.1 Cơ cấu khách du lịch 17
1.3.2 Đặc điểm tâm lý chung của khách du lịch 18
1.3.3 Đặc điểm tiêu dùng của khách du lịch 18
Tiểu kết chương 1 21
Chương 2 THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ ĐẾN ĐIỆN BIÊN 22
2.1 Giới thiệu khái quát về du lịch Điện Biên 22
2.2 Thực trạng nguồn khách du lịch quốc tế đến Điện Biên 25
Trang 42.2.2 Cơ cấu nguồn khách 26
2.2.3 Doanh thu du lịch 34
2.3 Đặc điểm tâm lý chung của khách du lịch quốc tế đến Điện Biên (Thị trường mục tiêu) 36
2.3.1 Đặc điểm của khách du lịch Lào 36
2.3.2 Đặc điểm của khách du lịch Pháp 38
2.3.3 Đặc điểm của khách du lịch Trung Quốc 40
2.3.4 Đặc điểm của khách du lịch Thái Lan 42
2.4 Đặc điểm tiêu dùng của khách du lịch quốc tế đến Điện Biên (Thị trường mục tiêu) 43
2.4.1 Mục đích chuyến đi 43
2.4.2 Các điểm du lịch được quan tâm 46
2.4.3 Khả năng và cơ cấu chi tiêu du lịch 47
2.4.4 Thời vụ du lịch 48
2.4.5 Số ngày lưu trú trung bình 49
2.4.6 Phương tiện giao thông 49
2.4.7 Kênh thông tin và hình thức đi du lịch 49
2.5 Đánh giá của khách quốc tế về du lịch Điện Biên theo kết quả nghiên cứu (Khách Lào, Pháp, Trung Quốc, Thái Lan) 50
Tiểu kết chương 2 52
Chương 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNGTHU HÚT KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ ĐẾN ĐIỆN BIÊN 53
3.1 Các căn cứ đề xuất giải pháp thu hút khách du lịch quốc tế đến Điện Biên 53
3.1.1.Quyết định của Chính phủ và Tỉnh Điện Biên về giải pháp thu hút khách du lịch quốc tế đến Điện Biên 53
3.1.2 Đánh giá về thị trường khách du lịch quốc tế đến Điện Biên bằng phân tích TOWS (Thách thức, cơ hội; Điểm mạnh, điểm yếu) 59
3.2 Đề xuất giải pháp thu hút khách quốc tế đến Điện Biên 66
3.2.1 Định hướng 66
Trang 53.2.2 Giải pháp 67
3.3 Một số kiến nghị khác 74
3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ 74
3.3.2 Kiến nghị với Bộ giao thông vận tải và Hãng hàng không Quốc gia Việt Nam 74
3.3.3 Kiến nghị đối với Tổng cục du lịch 74
3.3.4 Kiến nghị với Ủy ban nhân dân tỉnh và Sở văn hóa thể thao và du lịch tỉnh Điện Biên 75
3.3.5 Kiến nghị với các công ty du lịch 75
Tiểu kết chương 3 75
KẾT LUẬN 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
PHỤ LỤC
Trang 6Biểu 2.3 Cơ cấu giới tính bốn thị trường khách mục tiêu tại Điện Biên 28
Biểu 2.4 Cơ cấu tuổi bốn thị trường khách mục tiêu tại Điện Biên…… 29
Biểu 2.5 Cơ cấu nghề nghiệp khách quốc tế đến Điện Biên……… 31
Biểu 2.6 Cơ cấu nghề nghiệp bốn thị trường khách mục tiêu đến Điện
Biểu 2.8: Mục đích du lịch của bốn thị trường mục tiêu……… 43
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Một thực tế về du lịch Việt Nam hiện nay cho thấy có sự chênh lệch giữa các vùng miền, cụ thể là hoạt động du lịch ở khu vực miền núi phía Bắc vẫn còn chênh lệch so với các vùng du lịch khác trong cả nước Trong khi nguồn tài nguyên du lịch vốn có của vùng rất phong phú, đa dạng nhưng chưa phát triển xứng đáng với tiềm năng ấy
Điện Biên là một tỉnh thuộc vùng Tây Bắc, miền núi phía Bắc Việt Nam Điện Biên là trung tâm giao lưu kinh tế, văn hóa trong khu vực và giữa các tỉnh Tây Bắc Việt Nam với các tỉnh của các quốc gia khác: Bắc Lào, Vân Nam - Trung Quốc Thành phố Điện Biên Phủ, trung tâm hành chính của tỉnh, cách Hà Nội 474km, có sân bay dân dụng phục vụ du khách theo tuyến Hà Nội – Điện Biên Phủ
Điện Biên có nhiều di sản văn hoá, bao gồm cả di sản vật thể và phi vật thể Điện Biên có di tích quốc gia đặc biệt đó là chiến trường Điện Biên Phủ được cả trong nước và thế giới biết đến bởi gắn với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954) “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” Bên cạnh đó Điện Biên được biết đến với 19 dân tộc cùng sinh sống như Thái, Mường, Tày…, mỗi dân tộc mang trong mình bản sắc văn hóa truyền thống, phong tục tập quán riêng Những đặc điểm trên đã tạo cho Điện Biên tiềm năng, lợi thế để phát triển du lịch
Trước những tiềm năng du lịch sẵn có, du lịch luôn là lĩnh vực được tỉnh quan tâm hàng đầu với mong muốn góp phần phát phát triền hoạt động du lịch của vùng Bởi vậy Tỉnh uỷ, Hội đồng Nhân dân, UBND tỉnh Điện Biên đã chỉ đạo Sở văn hóa thể thao và du lịch phối hợp với Viện Kiến trúc Nhiệt đới - Đại học Kiến trúc Hà Nội, Viện Nghiên cứu phát triển Du lịch - Tổng cục Du lịch và
một số cơ quan Trung ương khác xây dựng dự án: “ Quy hoạch tổng thể phát
triển du lịch tỉnh Điện Biên giai đoạn 2006 - 2020 “ làm cơ sở cho việc thực
hiện các mục tiêu phát triển ngành du lịch nói riêng và kinh tế - xã hội của tỉnh
Trang 8377/QĐ-UBND về việc phê duyệt “Đề án tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du
lịch tỉnh Điện Biên giai đoạn 2012-2015, định hướng đến năm 2020” Một trong
những định hướng và chiến lược của Điện Biên là thu hút khách quốc tế Tuy
vậy các đề án, quy hoạch đều bàn một cách tổng thể đối với cả thị trường nội địa, quốc tế và một số các vấn đề khác với mong muốn Điện Biên trong tương lai không xa sẽ khoác trên mình một màu áo mới, góp phần kích cầu du lịch của vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ nói chung
Xuất phát từ những lý do trên, đề tài: “Nghiên cứu thị trường khách du lịch quốc tế đến Điện Biên” được chọn làm luận văn, nhằm đưa ra những giải pháp thu hút khách du lịch quốc tế đến Điện Biên, có ý nghĩa rất lớn đối với việc phát triển du lịch của vùng Trung du, miền núi Bắc Bộ nói chung và của tỉnh nói riêng
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đề xuất giải pháp góp phần tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế đến với Điện Biên
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục tiêu trên, luận văn có những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu tổng quan tài liệu lí thuyết về thị trường, thị trường du lịch, thị trường khách du lịch quốc tế, khách du lịch quốc tế
- Điều tra, khảo sát tiềm năng du lịch của Điện Biên
- Điều tra, khảo sát thị trường khách du lịch quốc tế đến Điện Biên (cầu du lịch)
- Đánh giá thị trường khách du lịch quốc tế đến Điện Biên
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế đến Điện Biên
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Thị trường khách du lịch quốc tế đến Điện Biên
* Phạm vi nghiên cứu
Trang 9- Phạm vi không gian: Điều tra khách du lịch có mặt tại các điểm du lịch trên địa bàn tỉnh Điện Biên
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2013
- Phạm vi nội dung: Đề tài nghiên cứu đặc điểm nguồn khách quốc tế đến Điện Biên Tập trung vào các đối tượng điển hình: Pháp, Lào, Thái Lan, Trung Quốc
Nguyễn Văn Lưu chỉ rất rõ “Thị trường du lịch là bộ phận của thị trường chung,
một phạm trù sản xuất và lưu thông hàng hóa, dịch vụ du lịch, phản ánh toàn bộ quan hệ trao đổi giữa người mua và người bán, giữa cung và cầu và toàn bộ các mối quan hệ, thông tin kinh tế, kỹ thuật gắn với mối quan hệ đó trong lĩnh vực du lịch”, đặc biệt là lý luận về vấn đề phân loại thị trường du lịch với các tiêu thức
khác nhau: các tiêu thức theo khả năng kinh tế của bên bán và bên mua; theo
đặc điểm không gian của cung và cầu du lịch; và theo một số tiêu thức thông dụng như: địa lý- chính trị, khoảng cách cung- cầu, thực trạng thị trường, theo thời gian….Các lý luận của các tác giả khác thì tập trung trong vấn đề cung- cầu
du lịch, thành tố chính của thị trường Như vậy, lý luận về thị trường du lịch đã được công bố tường minh trong lịch sử nghiên cứu khoa học Tuy nhiên, khái niệm
và cách hiểu về thị trường khách du lịch quốc tế đến không có sự trùng khớp về mặt
thuật ngữ trong cách phân loại của tác giả Nguyễn Văn Lưu, vì vậy khái niệm này
sẽ được hệ thống trong luận văn dựa trên những cơ sở lý luận đã có
Trang 10Nghiên cứu về du lịch điện Biên, hiện nay chỉ có công trình nghiên cứu nghiên cứu về chính sách du lịch, thực trạng khai thác du lịch Điện Biên trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam….Các công trình này với mong muốn đề xuất những định hướng phát triển du lịch Điện Biên một cách tổng thể Bên cạnh
đó là các bản Quy hoạch, Đề án xúc tiến quảng bá du lịch Điện Biên do Sở văn hóa thể thao du lịch phối hợp với các cơ quan ban ngành triển khai, điều quan trọng là các bản quy hoạch này vẫn đang được thực hiện và gặp nhiều khó khăn,
đó cũng là những quy hoạch tổng thể dài hơi và định hướng lâu dài trong đó vấn
đề thu hút khách quốc tế là một mảng màu trong bức tranh tổng thể quy hoạch đó
Hướng nghiên cứu của đề tài không trùng lặp với các công trình khoa học, các tài liệu đã công bố Đề tài tập trung vào vấn đề khách quốc tế đến Điện Biên, đặc biệt là các thị trường mục tiêu và đề xuất giải pháp tăng cường thu hút các đối tượng khách quốc tế mục tiêu và mở rộng đến Điện Biên
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập và xử lý số liệu thứ cấp: Thu thập và xử lý các số liệu trong các tài liệu, báo cáo…về thị trường du lịch, số lượng khách đến Điện Biên
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Điều tra khách du lịch (Pháp, Lào, Trung Quốc, Thái Lan) với số lượng 200 phiếu Các câu hỏi tập trung vào lượng khách, đặc điểm tâm lý và đặc điểm tiêu dùng của khách du lịch, sự đánh giá của khách du lịch về du lịch Điện Biên Số phiếu cụ thể: Pháp: 100 phiếu (Thu về: 55 phiếu, 3 phiếu không hợp lệ); Lào: 100 phiếu (Thu về: 67 phiếu); Trung Quốc:
50 phiếu (Thu về: 48 phiếu); Thái Lan: 50 phiếu (Thu về 40 phiếu, 03 phiếu không hợp lệ)
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn nguồn nhân lực du lịch tại Điện Biên về các đối tượng khách quốc tế đến Điện Biên
6 Cấu trúc của đề tài: Gồm 3 chương
Trang 11- Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ ĐẾN
- Chương 2 THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG KHÁCH DU LỊCH QUỐC
TẾ ĐẾN ĐIỆN BIÊN
- Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT KHÁCH
DU LỊCH QUỐC TẾ ĐẾN ĐIỆN BIÊN
Trang 12Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG KHÁCH DU LỊCH
QUỐC TẾ ĐẾN 1.1 Thị trường du lịch
1.1.1.Khái niệm về thị trường du lịch
Thị trường du lịch là bộ phận của thị trường chung, một phạm trù sản xuất
và lưu thông hàng hóa, dịch vụ du lịch, phản ánh toàn bộ quan hệ trao đổi giữa người mua và người bán, giữa cung và cầu và toàn bộ các mối quan hệ, thông tin kinh tế, kỹ thuật gắn với mối quan hệ đó trong lĩnh vực du lịch [4, tr.34]
Như vậy, khi đề cập đến thị trường du lịch cần chú ý tới ba khía cạnh quan trọng:
- Thứ nhất: Thị trường du lịch chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế trong nền sản xuất hàng hóa như quy luật cung- cầu, quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh… Do thị trường du lịch là một bộ phận cấu thành của thị trường hàng hóa nói chung
- Thứ hai: Thị trường du lịch là nơi thực hiện hàng hóa (hàng hóa dưới dạng vật chất và hàng hóa dưới dạng dịch vụ) nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội về
du lịch, do vậy nó có sự độc lâp tương đối
- Thứ ba: Toàn bộ các mối quan hệ về cơ chế kinh tế trên thị trường du lịch đều phải được liên hệ với vị trí, thời gian, điều kiện và phạm vi thực hiện hàng hóa Như vậy để bán được một sản phẩm du lịch cần phải xác định cơ chế kinh tế, chính trị đối với một địa điểm cụ thể, một thời gian xác định và các đối tượng khách hàng rõ ràng Điều này cho thấy sự thay đổi của một vấn đề nào đó trên thị trường cũng có thể ảnh hưởng ít nhiều tới hoạt động lưu thông sản phẩm
1.1.2 Phân loại thị trường du lịch
* Phân loại thị trường du lịch theo khả năng kinh tế của bên bán và bên mua
Theo tiêu chí phân loại này, có ba loại thị trường du lịch khác nhau:
- Thị trường bên bán hay thị trường cầu: Là thị trường du lịch mà ở đó bên bán ở vào vị trí chi phối, người mua bị chi phối vì giữa họ tồn tại sự cạnh tranh
Trang 13nhau Hay nói cách khác, trên thị trường này cầu lớn hơn cung, người bán không thể đáp ứng thỏa mãn được nhu cầu về dịch vụ, hàng hóa du lịch
- Thị trường bên mua hay thị trường cung: Là thị trường mà ở đó cung lớn hơn cầu Trên thị trường này mọi nhu cầu về dịch vụ hàng hóa du lịch được thỏa mãn một cách đầy đủ, kể cả trong nước và quốc tế Khả năng kinh tế giữa bên mua chi phối khả năng kinh tế của bên bán, vì giữa những người bán có sự cạnh tranh khốc liệt để tiêu thụ hàng hóa du lịch của mình
- Thị trường thế cân đối hay thị trường cân bằng cung- cầu: Trên thị trường du lịch cân đối không có sức ép của bên mua và không có sự lũng đoạn của bên bán Đây là trạng thái lý thuyết rât lý tưởng của thị trường
* Phân loại thị trường theo một số tiêu thức thông dụng:
- Phân loại thị trường du lịch theo tiêu thức địa lý chính trị: Phân loại thị
trường du lịch theo tiêu thức này có thể chia thành hai nhóm, dưới góc độ một
quốc gia và dưới cách nhìn toàn cục thế giới
+ Dưới góc độ một quốc gia, căn cứ vào tiêu thức địa lý chính trị, thị
trường du lịch được phân loại thành thị trường du lịch quốc tế và thị trường du lịch nội địa
Thị trường du lịch quốc tế là thị trường mà ở đó cung thuộc một quốc gia,
còn cầu thuộc một quốc gia khác Trên thị trường du lịch quốc tế, các doanh nghiệp du lịch của một quốc gia kết hợp với doanh nghiệp quốc gia khác đáp ứng cầu du lịch của công dân hai quốc gia hoặc quốc gia thứ ba Quan hệ tiền- hàng được hình thành và vượt qua biên giới quốc gia
Trong thị trường du lịch quốc tế có thể chia thành thị trường du lịch quốc
tế chủ động và thị trường du lịch quốc tế bị động Thị trường du lịch quốc tế chủ
động là thị trường mà trong đó quốc gia bán sản phẩm du lịch cho khách du lịch
là công dân nước ngoài Thị trường du lịch quốc tế bị động là thị trường mà quốc
gia đó đóng vai trò người mua sản phẩm du lịch của quốc gia khác để đáp ứng
Trang 14Thị trường du lịch nội địa là thị trường mà ở đó cung và cầu du lịch đều
nằm trong biên giới lãnh thổ của một quốc gia
+ Dưới góc độ toàn thế giới: Căn cứ vào tiêu thức địa lý, chính trị theo cách
nhìn toàn cục thì bao gồm thị trường du lịch thế giới, phân loại thành thị trường
du lịch các khu vực và thị trường du lịch quốc gia
Thị trường du lịch các khu vực: Là thị trường du lịch của một số nước ở vùng địa lý nào đó, như thị trường du lịch Đông Âu, Tây Âu, châu Á- Thái Bình Dương…
Thị trường du lịch quốc gia: Là phần thị trường mà mỗi nước chiếm lĩnh được Thị trường du lịch thế giới: Là tổng thị trường du lịch của các quốc gia
* Phân loại thị trường du lịch theo đặc điểm không gian của cung và cầu
du lịch: Bao gồm có thị trường nhận khách và thị trường gửi khách
Thị trường gửi khách: Là thị trường mà tại đó xuất hiện nhu cầu và cầu du lịch Khách du lịch xuất phát từ đó để đi đến nơi khác tiêu dùng các sản phẩm du lịch Ví dụ: Khi công dân Pháp sang Việt Nam đi du lịch thì Pháp là thị trường gửi khách trực tiếp của Việt Nam Khi công dân nước thứ ba sang Pháp du lịch sau đó đi du lịch tiếp sang Việt Nam, thì Pháp là thị trường gửi khách trung gian của Việt Nam
Thị trường nhận khách: Là thị trường mà tại đó đã có cung du lịch, nơi có điều kiện sẵn sàng cung ứng các sản phẩm du lịch, đáp ứng nhu cầu du lịch của khách du nước ngoài, khách các địa phương đến
Thị trường nhận khách có ý nghĩa quan trọng đối với việc tổ chức du lịch quốc tế thụ động của một quốc gia hoặc tổ chức du lịch gửi khách của một vùng, một địa phương; đồng thời cung cấp những thông tin cần thiết về đối thủ cạnh tranh trong du lịch quốc tế chủ động của một nước, hoặc trong việc tổ chức đón khách đến du lịch của một vùng, một địa phương
* Phân loại thị trường theo thực trạng thị trường:
Theo cách phân loại này, gồm có các loại thị trường du lịch sau:
Trang 15- Thị trường du lịch thực tế: Là thị trường mà ở đó người mua và bán đều
tìm thấy khả năng để thực hiện ý định mua, bán của mình, hàng hóa du lịch (cả hàng hóa vật chất và dịch vụ du lịch) được công nhận và thực hiện Trên thị trường này có đủ điều kiện để thực hiện hàng hóa du lịch Tuy nhiên, một thị trường du lịch có thể là thị trường thực tế đối với doanh nghiệp này, cá nhân này, nhưng không phải là thị trường thực tế đối với các thị trường du lịch khác
- Thị trường du lịch tiềm năng: Là thị trường mà ở đó thiếu một số điều kiện để có thể thực hiện được hàng hóa du lịch Tiềm năng có thể ở cung và cầu
du lịch Do thiếu một số điều kiện cần thiết, có thể do phía cung, có thể do phía cầu hoặc do các hoạt động môi giới, mà cung và cầu du lịch không thể hoặc chưa thể gặp nhau, thị trường du lịch vì thế mà không được hình thành và phát triển trọn vẹn theo đúng nghĩa của nó
* Phân loại thị trường theo thời gian
Theo cách phân loại này có hai loại thị trường du lịch:
- Thị trường du lịch quanh năm: Là thị trường mà ở đó, hoạt động du lịch không bị gián đoạn; việc mua và bán các sản phẩm du lịch diễn ra quanh năm
- Thị trường du lịch thời vụ: Thị trường mà ở đó hoạt động du lịch bị giới hạn theo mùa Cung hoặc cầu du lịch chỉ xuất hiện vào thời gian nhất định nào
đó trong năm [4; tr.48-62]
1.1.3 Thị trường khách du lịch quốc tế đến
Thị trường khách du lịch quốc tế đến được hiểu theo hai cách phân loại
phân loại thị trường du lịch theo tiêu thức địa lý chính trị và phân theo đặc điểm không gian cung và cầu du lịch (thị trường nhận khách và thị trường gửi khách)
Như phần trình bày ở trên, thị trường khách du lịch quốc tế đến sẽ được
hiểu phân loại dưới góc độ một quốc gia theo tiêu thức địa lý chính trị Dưới góc
độ một quốc gia sẽ được phân thành thị trường du lịch quốc tế và thị trường du lịch nội địa Trong thị trường du lịch quốc tế lại phân chia ra thành thị trường
Trang 16quốc tế chủ động (bán sản phẩm du lịch cho người nước ngoài), thị trường quốc
tế bị động (đến quốc gia khác mua sản phẩm)
Theo tiêu thức về không gian cung và cầu du lịch: được phân loại thành thị trường nhận khách và thị trường gửi khách
Cả hai tiêu thức này đều có một điểm chung đó là có khoảng cách giữa nơi cung ứng du lịch và nơi tiếp nhận sản phẩm du lịch Đối với tiêu thức về địa
lý chính trị thì cách phân loại có sự chỉ rõ yếu tố ngoài biên giới một quốc gia, còn tiêu thức khoảng cách cung- cầu thì bao hàm cả yếu tố quốc tế và nội địa Vì vậy, vấn đề thị trường khách du lịch quốc tế đến Điện Biên sẽ được tiếp cận theo cách hiểu, đó là những nhóm du khách từ những đất nước khác nhau đến Điện
Biên của Việt Nam để mua sản phẩm du lịch, về mặt lý thuyết đó là thị trường
quốc tế bị động hay nói cách khác là thị trường gửi khách
Vấn đề nghiên cứu chính trong thị trường khách du lịch quốc tế đến Điện Biên chính là “chủ thể của cầu du lịch”, đó chính là khách du lịch quốc tế
1.1.4 Cung du lịch
1.1.4.1 Khái niệm cung du lịch
Cung du lịch là một thành phần cơ bản của thị trường du lịch, bao gồm toàn bộ hàng hóa du lịch (cả hàng hóa vật chất và hàng dịch vụ du lịch) mà các chủ thể thị trường bên bán có khả năng đưa ra thị trường và sẵn sàng bán trong một thời điểm xác định để đáp ứng nhu cầu du lịch nhằm mục đích sinh lời [4; tr.123]
Ngoài ra còn có khái niệm cung du lịch là lượng cung Khái niệm lượng cung chỉ rõ toàn bộ số lượng hàng hóa vật chất và dịch vụ du lịch mà người bán sẵn sàng bán và có khả năng bán ở mức giá đã xác định trong khoảng thời gian nhất định trên thị trường du lịch Như vậy, cung du lịch hàm chứa toàn bộ mối quan hệ giữa lượng cung du lịch, cơ cấu cung và giá cả trên thị trường.[4; tr.125]
Như vậy: Cả hai khái niệm trên về bản chất không khác nhau Hai khái niệm đều mang hàm ý cung du lịch là bao gồm hàng hóa du lịch và giá cả
Trang 171.1.4.2 Nội dung và các yếu tố của cung du lịch
Cung du lịch được tạo ra do việc phối hợp bởi hai thành tố, đó là yếu tố cung
+ Tài nguyên du lịch: Theo Luật Du lịch Việt Nam thì tài nguyên du lịch
là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử- văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch (Khoản 4, Điều 4, Luật Du lịch năm 2005)
Tài nguyên du lịch được phân loại theo cách phổ biến, bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn Đây là điều kiện cần, hấp dẫn ban đầu để tạo ra cung du lịch
+ Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch: Nếu như coi tiềm năng,
tài nguyên du lịch là điều kiện cần cho sự phát triển du lịch của một quốc gia, vùng, một địa phương, một điểm du lịch, tạo nên sự hấp dẫn thu hút khách du lịch, thì cơ sở vật chất là điều kiện đủ cho sự phát triển du lịch
Cơ sở hạ tầng là bao gồm hệ thống cơ sở của nhiều ngành khác như: điện, đường, trường, trạm phục vụ cho nhu cầu của xã hôi nói chung và ngành du lịch nói riêng Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi những điểm du lịch được hưởng hoặc gần cơ sở hạ tầng tốt, ví dụ như: công viên, những con đường đẹp, các trung tâm thể thao, nó sẽ giúp cho cung du lịch trở nên hoàn thiện hơn
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch là hệ thống nhà hàng, khách sạn, các hệ thống vật chất khác trực tiếp phục vụ hoạt động du lịch Vấn đề này cần được
Trang 18+ Dịch vụ phục vụ khách du lịch: Trên thị trường du lịch khách hàng đòi
hỏi một số lưu lượng lớn dịch vụ bao gồm các dịch vụ chính (dịch vụ vận
chuyển, dịch vụ lưu trú và ăn uống), dịch vụ khác bao gồm dịch vụ đặc trưng (
thuê hướng dẫn viên, các dịch vụ vì nó mà người ta đi du lịch) và dịch vụ bổ sung (vui chơi, giải trí, dịch vụ mua sắm, sửa chữa, tư vấn ) Số lượng dịch vụ,
cơ cấu các loại dịch vụ khác đòi hỏi trong mỗi chuyến đi tùy thuộc loại hình du lịch, cách tổ chức và nhu cầu của khách du lịch
+ Hàng hóa cung cấp cho khách du lịch: Bao gồm những hàng hóa
chuyển bán (hàng hóa phục vụ tại chỗ như: rượu, bia, ), hàng lưu niệm, hàng có giá trị kinh tế cao Việc bán được nhiều hàng hóa trên thị trường du lịch là hình thức xuất khẩu tại chỗ, thu được nhiều ngoại tệ cho đất nước Hình thức xuất khẩu tại chỗ này có được nhiều lợi thế và có ý nghĩa đối với nhiều ngành kinh tế
- Yếu tố tạo cung du lịch:
Cung du lịch tạo ra không phải là sự gộp lại các yếu tố cấu thành cung mà phải là quá trình phối hợp phức tạp, đa dạng và khéo léo hài hòa các bộ phận
cấu thành Để có được sự phối hợp hài hòa ấy cần phải có một đội ngũ nhân lực
du lịch sẽ là cầu nối tạo ra một sản phẩm du lịch hoàn chỉnh phục vụ nhu cầu của
du khách Đội ngũ nhân lực này được hiểu là đội ngũ trực tiếp sản xuất, tiếp xúc với khách hàng để cung cấp các dịch vụ và đội ngũ nhân lực tại các tổ chức trung gian (đại lý lữ hành, công ty lữ hành ) Việc ghép nối các yếu tố tạo thành cung
du lịch đòi hỏi phải có nguồn nhân lực du lịch Cung du lịch chỉ thực sự phát triển nếu có một đội ngũ nhân lực chất lượng cao, toàn vẹn Bởi vậy, việc đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch là vô cùng quan trọng
1.1.5 Cầu du lịch
1.1.5.1 Khái niệm cầu du lịch
Nhu cầu du lịch là một loại nhu cầu xã hội đặc biệt và mang tính tổng hợp cao, biểu hiện sự mong muốn tạm thời rời nơi ở hàng ngày để đến với thiên nhiên và văn hóa ở một nơi khác; là nguyện vọng cần thiết của con người muốn
Trang 19được thay đổi tạm thời khung cảnh cuộc sống đơn điệu, tĩnh lặng thường ngày của mình hoặc được giải phóng khỏi sự căng thẳng, tiếng ồn, sự ô nhiễm môi trường ngày càng tăng tại các trung tâm công nghiệp, đô thị để nghỉ ngơi, giải trí, tăng cường sự hiểu biết, phục hồi sức khỏe
Vậy: Cầu du lịch“là một bộ phận nhu cầu của xã hội có khả năng thanh
toán về hàng hóa, vật chất và dịch vụ du lịch đảm bảo sự đi lại, lưu trú tạm thời, giải trí của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ, nhằm mục đích nghỉ ngơi, giải trí, tìm hiều văn hóa, chữa bệnh, tham gia vào các chương trình đặc biệt và các mục đích khác“ [4; tr.82]
1.1.5.2 Nội dung và các yếu tố của cầu du lịch
Các yếu tố của cầu du lịch bao gồm: Cầu du lịch về dịch vụ và cầu du lịch
về hàng hóa vật chất
+ Cầu du lịch về dịch vụ
Đây là thành phần cơ bản của cầu du lịch, chiếm tỷ trọng lớn trong toàn
bộ cầu du lịch Cầu du lịch về dịch vụ bao gồm: Cầu du lịch về dịch vụ chính, cầu du lịch về dịch vụ đặc trưng, cầu du lịch về dịch vụ bổ sung
Cầu du lịch về dịch vụ chính: Đây là nhóm nhu cầu du lịch về dịch vụ vận chuyền, cầu du lịch về dịch vụ lưu trú, ăn uống của khách du lịch
Cầu du lịch về vận chuyển là nhằm đảm bảo sự di chuyển của khách du
lịch từ nơi ở thường xuyên đến điểm thăm quan du lịch, và tại điểm thăm quan
du lịch Bản chất của du lịch là sự dịch chuyển Không có sự dịch chuyển thì không có du lịch
Cầu du lịch về dịch vụ ăn uống, lưu trú: Ăn uống, lưu trú mặc dù không
phải là mục đích của chuyến đi, nhưng do tính chất tự nhiên của nhu cầu sinh lý, cầu du lịch về dịch vụ lưu trú và ăn uống chiếm phần đáng kể trong tổng chi tiêu của du khách Tuy cầu du lịch về ăn uống, lưu trú xuất phát từ nhu cầu sinh lý nhưng ăn uống và lưu trú trong du lịch có những nét khác biệt so với ăn uống,
Trang 20lưu trú thông thường Khác nhau về khung cảnh, khác nhau về thẩm mỹ, nhu cầu thưởng thức bởi vì khi đi du lịch là lúc con người nghỉ ngơi và hưởng thụ
Cầu du lịch về dịch vụ đặc trưng: Là cầu dịch vụ về đáp ứng sự cảm thụ,
thưởng thức, mà vì nó con người chấp nhận đi du lịch Cầu du lịch về dịch vụ đặc trưng thường là nguyên nhân và mục đích của chuyến đi Ví dụ: nhu cầu về tắm biển, thôi thúc du khách đi du lịch biển; nhu cầu về nghĩ dưỡng, chữa bệnh thôi thúc du khách đi du lịch chữa bệnh Một trong những dịch vụ đặc trưng quan trọng trong du lịch là dịch vụ hướng dẫn Hướng dẫn viên là người cung cấp cho du khách biết được giá trị văn hóa, lịch sử, thẩm mỹ của tài nguyên du lịch, làm tăng sự hấp dẫn của tài nguyên du lịch
Cầu du lịch về dịch vụ bổ sung: Là cầu du lịch về những dịch vụ phục vụ
khác yêu cầu đòi hỏi rất đa dạng phát sinh trong chuyến đi của du khách, bao gồm các dịch vụ thông tin liên lạc, dịch vụ làm vi sa, đặt chỗ, mua vé máy bay, giặt là, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, vui chơi giải trí, thể thao, sửa chữa đồ đạc, hành lý Các dịch vụ này có mặt hầu hết tại các điểm du lịch, tại các khách sạn Việc thỏa mãn các dịch vụ bổ sung trong chuyến đi du lịch của du khách sẽ góp phần làm thỏa mãn tối đa nhu cầu của du khách Việc thỏa mãn tối đa nhu cầu của du khách là một trong những chiến lược mà các nhà kinh doanh du lịch luôn hướng tới vì nó làm tăng giá trị gia tăng trong kinh doanh du lịch
+ Cầu du lịch về hàng hóa vật chất
Cầu du lịch về hàng hóa vật chất bao gồm hai nhóm là cầu về hàng lưu niệm và cầu về hàng hóa có giá trị kinh tế
Cầu du lịch về hàng lưu niệm: Tùy theo quan niệm của mỗi người mà
hàng lưu niệm có thể là những hàng hóa tượng trưng cho mỗi đất nước, mỗi địa phương, giá trị sử dụng của nó đối với người mua là giúp người mua hồi tưởng, ghi nhớ, đánh dấu những điểm thăm quan du lịch mà họ đã tới, chứa đựng những trải nghiệm du lịch Hàng lưu niệm cũng có thể là những quà tặng có giá trị kinh
tế cao, giá trị sử dụng là ghi nhớ đến người tặng quà và người nhận quà
Trang 21Cầu du lịch về hàng hóa có giá trị kinh tế đối với khách du lịch: Trong quá
trình đi du lịch, khách du lịch thường kết hợp mua các hàng hóa có giá trị kinh tế cao Cầu du lịch về hàng hóa có giá trị kinh tế cao xuất phát từ nhu cầu mua sắm cho bản thân và gia đình của khách du lịch Nhưng trong trường hợp nhất định, có những khách kết hợp mua hàng hoá có giá trị kinh tế, rẻ hơn so với nơi thường trú của họ, để bán nhằm trang trải chuyến đi hoặc vì mục đích sinh lợi
Như vậy, có thể thấy rằng cầu du lịch về hàng hóa là nguyên nhân của sự hình thành du lịch mua sắm Du lịch mua sắm ngày càng phát triển, kích thích sự phát triển sản xuất hàng hóa đặc biệt là hàng lưu niệm thủ công truyền thống Du lịch mua sắm phát triển không chỉ kéo theo số lượng lao động phục vụ trong nghành
du lịch tăng lên mà còn kéo theo một số lượng lao động của các ngành kinh tế khác như thủ công nghiệp, các ngành nghề truyền thống Ví dụ: Các làng nghề, các vùng biên giới có các khu chợ có sản phẩm đặc trưng là những nơi hoạt động mua sắm dành cho khách du lịch diễn ra mạnh mẽ
1.1.5.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu du lịch
+ Yếu tố tự nhiên: Các yếu tố tự nhiên như khí hâu, địa hình, địa mạo, động thực vật, tài nguyên nước, tác động chủ yếu đến việc hình thành cầu du lịch và lượng cầu du lịch Các yếu tố tự nhiên ở cả hai địa điểm, một là tại nơi thường trú của khách và hai là tại các điểm tham quan du lịch, đều tác động đến cầu du lịch, nhưng cơ chế tác động khác nhau, thường là trái ngược nhau
+ Yếu tố văn hóa, xã hội: Yếu tố này bao gồm những thành tố cơ bản như tình trạng tâm, sinh lý con người, độ tuổi và giới tính của khách, thời gian nhàn rỗi, dân cư, trình độ văn hóa, thị hiếu và các kỳ vọng của mỗi cá nhân và từng nhóm người trong xã hội
+Yếu tố kinh tế: Đây là nhóm yếu tố quyết định, tác động trực tiếp và nhiều chiều lên cầu du lịch, cả về sự hình thành cầu du lịch đến khối lượng và cơ cấu của nó trên thị trường du lịch Trong nhóm yếu tố kinh tế, thì yếu tố thu nhập
Trang 22của dân cư hay thu nhập của người tiêu dùng, giá cả và tỷ giá hối đoái đóng vai trò đặc biệt quan trọng
+ Yếu tố cách mạng khoa học, công nghệ và quá trình đô thị hóa: Đây là yếu tố tác động sâu sắc đến toàn bộ hoạt động kinh tế và xã hội, trong đó có du lịch Một mặt nó tạo điều kiện hình thành nhu cầu du lịch và chuyển hóa nhu cầu
du lịch thành cầu du lịch Mặt khác, yếu tố này làm cho sự cân bằng nhịp sống bị phá vỡ, buộc con người phải nghỉ ngơi để khôi phục lại Từ đó nảy sinh nhu cầu dưới nhiều dạng khác nhau
+ Yếu tố chính trị: Yếu tố chinh trị mang tính quyết định hình thành cầu trong du lịch Điều kiện chính trị ổn định hay không ổn định sẽ làm tăng hoặc kìm hãm nhu cầu du lịch
+ Yếu tố giao thông: Nhóm yếu tố giao thông cần được xem xét từ ba góc độ: Sự phát triển mạng lưới giao thông, phương tiện vận chuyển và điều hành giao thông
+ Các yếu tố khác: Các yếu tố khác như xúc tiến quảng bá du lịch, mốt, mức độ ô nhiễm môi trường và các yếu tố bất thường (thiên tai, chiến tranh, dịch bệnh ) cũng tác động đến nhu cầu du lịch và cầu du lịch
1.2 Khách du lịch
1.2.1 Khái niệm về khách du lịch
Khái niệm về khách du lịch được thể hiện rõ trong mục 2, điều 4, chương 1 của Luật du lịch Việt Nam: “ Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến ’’
1.2.2 Phân loại khách du lịch
Theo Luật Du lịch Việt Nam, điều 34 về khách du lịch:
1 Khách du lịch gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế
2 Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam
Trang 233 Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch
Như vậy, cho thấy rằng từ “quốc tế’’ thể hiện cho đặc điểm là vượt ra ngoài biên giới, phạm vi một lãnh thổ nước này sang nước khác, trong đó sử dụng ngoại ngữ chung để có được tiếng nói chung trong ngôn ngữ
Việc nắm rõ và hiểu rõ nguồn khách đến và đi là điều rất quan trọng đối với mỗi chủ thể kinh doanh du lịch, từ đó có những khai thác và bước đi đúng hướng, lựa chọn và đầu tư chính xác thị trường mục tiêu của mình
1.3 Nội dung nghiên cứu thị trường khách du lịch quốc tế đến
Từ những lý thuyết cơ bản về thị trường du lịch trên đây, luận văn lựa chọn các nội dung để nghiên cứu thị trường khách du lịch quốc tế đến Điện Biên như sau:
1.3.1 Cơ cấu khách du lịch
Cơ cấu khách du lịch hay nói cách khác là một phần nội dung của đặc điểm nhân khẩu của khách du lịch Việc nghiên cứu cơ cấu của khách du lịch tập
trung vào độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp
Một thực tế thấy rằng ở mỗi độ tuổi khác nhau thì nhu cầu đi du lịch của con người khác nhau Thông thường ở độ tuổi trung niên, con người có nhu cầu
đi du lịch cao nhất Lý do là vào độ tuổi đó, con người thường tích lũy được kinh
tế, mối quan hệ được mở rộng nhưng cũng là độ tuổi chịu nhiều sức ép nhất từ công việc, các mối quan hệ xã hội Nhu cầu du lịch có liên hệ chặt chẽ với nhóm nhu cầu tinh thần của con người và là kết quả tác động của lực lượng sản xuất và trình độ sản xuất Bởi vậy, nhu cầu du lịch của các đối tượng trung niên nảy sinh mạnh mẽ Những đối tượng nghỉ hưu khác, ở độ tuổi này họ dồi dào về tài chính hơn, thời gian nhàn rỗi nhiều nhưng lại là độ tuổi nảy sinh các vấn đề sức khỏe Do vậy, khi nghiên cứu thị trường phải chú trọng để phân khúc thị
Trang 24Giới tính và độ tuổi là hai đặc điểm gắn bó mật thiết với nhau, ảnh hưởng tới nhu cầu của khách Cùng một độ tuổi nhưng giới tính khác nhau thì nhu cầu không giống nhau và ngược lại Nghiên cứu độ tuổi phải đồng thời với nghiên cứu giới tính để xây dựng sản phẩm du lịch phù hợp với nhu cầu từng giới
Nghề nghiệp có ảnh hưởng sâu sắc tới thói quen, tâm lý, tạo những áp lực, động cơ khác nhau cho mỗi cá nhân trong cuộc sống Với những công việc phải chịu nhiều áp lực về thời gian hoàn thành công việc, khách thường có nhu cầu đi
du lịch với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn Với những cá nhân làm công việc độc hại thì nhu cầu đi du lịch với mục đích nghỉ ngơi, phục hồi sức khỏe Những cá nhân có công việc với mức thu nhập cao thường có những chuyến du lịch xa nơi cư trú, lựa chọn những loại hình du lịch cao cấp như tàu biển
Như vậy, đặc điểm độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, mức thu nhập, trình độ học vấn tạo nên nhu cầu, động cơ, mục đích du lịch của khách là rất đa dạng và phong phú Nghiên cứu các yếu tố này là biện pháp tốt nhất để định vị thị trường, phân loại thị trường mục tiêu, xây dựng sản phẩm phù hợp để thu hút khách hiệu quả nhất
1.3.2 Đặc điểm tâm lý chung của khách du lịch
Nghiên cứu đặc điểm tâm lý chung chính là những thuộc tính vốn có của khách du lịch, thể hiện qua nhu cầu, sở thích, tính cách dân tộc của khách du lịch, xu hướng của khách du lịch…
Khách du lịch với quốc tịch khác nhau sẽ có những nhu cầu, sở thích, tính cách dân tộc đặc trưng, xu hướng khác nhau về các lĩnh vực trong cuộc sống Điều này ảnh hưởng lớn đến tâm lý khi đi du lịch, đặc biệt là ảnh hưởng đến đặc điểm tiêu dùng của khách du lịch hay nói cách khác chính là hành vi tiêu dùng
du lịch (là các hành vi liên quan đến sự tìm kiếm, mua sắm, đánh giá sản phẩm
du lịch của khách du lịch ) Ví dụ: Khách Nhật có tính cách rất cẩn thận và sạch
sẽ, vì vậy khi đi du lịch họ rất chú trọng trong việc lựa chọn phòng nghỉ Với họ tiêu chí sạch sẽ luôn là được đề cao, và họ luôn cẩn trọng khi nhận phòng nghỉ
1.3.3 Đặc điểm tiêu dùng của khách du lịch
Đặc điểm tiêu dùng của khách du lịch hay nói cách khác là hành vi tiêu dùng du lịch Hành vi tiêu dùng du lịch là các hành vi liên quan đến sự tìm kiếm,
Trang 25mua sắm, sử dụng và đánh giá của khách du lịch Bởi vậy, khi nghiên cứu về đặc điểm tiêu dùng sẽ nghiên cứu các vấn đề cơ bản sau:
1.3.3.1 Mục đích chuyến đi và các điểm du lịch được du khách quan tâm
* Mục đích chuyến đi
Mục đích chuyến đi sẽ là cái gắn với sản phẩm du lịch Nghiên cứu mục đích chuyến đi là tìm hiểu mục đích đi du lịch thuần túy hay mục đích kết hợp Mục đích du lịch thuần túy ở đây có nghĩa là đi chủ yếu là để thăm quan, nghỉ dưỡng, giải trí Mục đích kết hợp là mục đích kết hợp du lịch với các mục đích khác như: thăm thân, tôn giáo, thể thao, học tập Việc xác định được mục đích chuyến đi sẽ cho biết khách hàng cần gì để từ đó đáp ứng đúng nhu cầu, sở thích của khách, tạo ấn tượng cho khách và tăng khả năng khách sẽ quay trở lại
* Các điểm du lịch được du khách quan tâm
Nghiên cứu các điểm du lịch được du khách quan tâm sẽ giúp cho việc đầu tư phát triển các điểm du lịch được đúng hướng và có trọng điểm, tránh lãng phí nguồn vốn Trong một vùng, khu vực du lịch sẽ có những điểm du lịch được khách du lịch lựa chọn đến nhiều nhằm thỏa mãn mục đích đi du lịch của mình Bởi vậy khi tăng cường thu hút khách du lịch cần chú trọng đến các điểm du lịch được nhiều du khách quan tâm
1.3.3.2 Khả năng và cơ cấu chi tiêu du lịch
Khả năng và cơ cấu chi tiêu sẽ cho thấy khách du lịch có thể chi bao nhiêu cho chuyến du lịch, chi tiêu cho các dịch vụ như thế nào, dịch vụ nào nhiều nhất? Điều này rất quan trọng đối với các đơn vị cung ứng du lịch, đặc biệt là đơn vị lữ hành- nơi cung cấp hầu hết là những sản phẩm trọn gói Hơn nữa việc nắm được cơ cấu chi tiêu sẽ giúp các nhà hoạch định du lịch có những giải pháp khai thác sản phẩm du lịch một cách tập trung nhất, đúng hướng nhất và tiết kiệm vốn đầu tư
1.3.3.3 Thời vụ du lịch
Thời vụ du lịch là sự dao động lặp đi lặp lại hàng năm của “cung” và
“cầu” trong du lịch, dưới tác động của một số nhân tố xác định
Trang 26tập hợp hàng loạt các biến động theo mùa của cung và cầu, cũng như sự tác động tương hỗ giữa chúng trong tiêu dùng du lịch
Việc nghiên cứu tính thời vụ du lịch sẽ cho biết được mùa nào là mùa đông khách nhất và đối tượng khách nào đến nhiều nhất, điểu đó cho thấy thời điểm khách du lịch sẽ tập trung hành vi tiêu dùng du lịch của mình Từ đó sẽ có những giải pháp thu hút được hiệu quả nhất
1.3.3.4 Số ngày lưu trú trung bình
Việc xem xét số ngày lưu trú trung bình tức là tìm hiểu số ngày bình quân
mà khách du lịch quốc tế ở lại và nghỉ đêm tại địa bàn du lịch Có đối tượng khách sẽ nghỉ nhiều, có đối tượng khách sẽ nghỉ ít Tuy nhiên việc lấy con số trung bình tức là lấy ở mức độ cân bằng không có sự chênh lệch quá nhiều của các đối tượng khách du lịch Xem xét số ngày lưu trú trung bình sẽ cho thấy sự thời gian khách du lịch lưu trú tại điểm du lịch ngắn hay dài để từ đó có những giải pháp nhằm ổn định hoặc gia tăng số ngày lưu trú trung bình của khách
1.3.3.5 Phương tiện giao thông
Để cảm nhận giá trị của cảnh quan, giá trị của các dịch vụ du lịch thì du khách phải di chuyển đến địa điểm du lịch Và như vậy, cần phải có phương tiện giao thông Phương tiện giao thông có nhiều loại: Ôtô, máy bay, tàu hỏa… Lưu
ý rằng phương tiện giao thông trong du lịch thường chia ra hai nhóm: Phương tiện suốt tuyến và phương tiện tại điểm du lịch Lựa chọn phương giao tiện thông đúng và phù hợp sẽ góp phần đem lại một chuyến đi thoải mái đối với khách du lịch và cả nhà cung ứng
1.3.3.6 Kênh thông tin và hình thức đi du lịch
* Kênh thông tin
Trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, việc đi du lịch ngày càng trở nên đơn giản và tiện lợi hơn Khách du lịch tìm địa chỉ du lịch, tìm các công ty du lịch qua nhiều kênh thông tin khác nhau: truyền miệng, internet, báo tạp chí để quyết định điểm đến của mình Chính vì vậy, ngành du lịch các nước cần tập trung thông tin đầy đủ, đa dạng, chính xác để việc đi du lịch của khách được chuẩn xác, đạt được mong đợi Lựa chọn kênh thông tin phù hợp, chính xác sẽ
Trang 27có ý nghĩa lớn trong việc quảng bá sản phẩm đồng thời tiết kiệm được chi phí
* Hình thức đi du lịch
Hình thức đi du lịch được hiểu là cách thức tổ chức đi du lịch Khi đi du lịch, du khách có thể lựa chọn các khác nhau: đi theo chương trình du lịch của các công ty lữ hành hoặc tự đi; đi theo đoàn hoặc đi cá nhân… Thông thường, đối với ngành kinh tế du lịch thì việc du khách lựa chọn đi theo các chương trình
du lịch với sô lượng đông (theo đoàn) hoặc cá nhân luôn là mối quan tâm của ngành nhằm đem lại sự phát triển trọn vẹn của sản phẩm du lịch
1.3.3.7 Sự hài lòng của khách du lịch
Mức độ hài lòng của khách chính là thước đo về chất lượng đối với dịch
vụ du lịch Việc biết được mức độ hài lòng sẽ giúp cho các cơ sở cung ứng du lịch điều chỉnh sản phẩm của mình cho phù hợp với nhu cầu, sở thích của khách đồng thời đảm bảo mức giá đưa ra Bởi vậy, nghiên cứu sự hài lòng của khách
du lịch đối với sản phẩm du lịch là rất cần thiết Một điểm đến, một sản phẩm luôn được khách du lịch quan tâm và lựa chọn, điều đó phần nào cho thấy sự hài long của khách Bởi du khách khi hài lòng, họ có thể tiếp tục sử dụng dịch vụ hoặc giới thiệu cho bạn bè và người thân
Tiểu kết chương 1: Nghiên cứu thị trường khách du lịch quốc tế với mục đích
nhằm tăng cường thu hút nguồn khách du lịch quốc tế đến điểm, vùng du lịch
Để thu hút được nguồn khách quốc tế phải nghiên cứu đặc điểm của chính đối tượng khách quốc tế và hệ thống cung ứng du lịch- nơi nhận khách Từ đó nhận định sự phù hợp và đề xuất những giải pháp điều chỉnh và phát triển cung du lịch, đưa ra những sản phẩm du lịch phù hợp với khách du lịch du lịch quốc tế, đưa ra những chiến lược quảng bá, xúc tiến- cầu nối giữa khách du lịch quốc tế
và cơ sở cung ứng nhằm thu hút đối tượng khách du lịch quốc tế Hệ thống lý luận về thị trường du lịch, khách du lịch, đặc điểm khách du lịch là tiền đề cho việc nghiên cứu thị trường khách du lịch quốc tế
Trang 28Chương 2 THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ
ĐẾN ĐIỆN BIÊN 2.1 Giới thiệu khái quát về du lịch Điện Biên
Điện Biên là tỉnh miền núi biên giới thuộc vùng Tây Bắc, cách thủ đô Hà Nội gần 500 km về phía Tây; phía Bắc giáp tỉnh Lai Châu, phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Sơn La, phía Tây Bắc giáp tỉnh Vân Nam – Trung Quốc; phía Tây
và Tây Nam giáp với nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào
Là tỉnh duy nhất có chung đường biên giới với 2 quốc gia: Trung Quốc (dài 38,5km) và Lào (dài 360 km) Trên tuyến biên giới Việt – Lào, ngoài 2 cửa khẩu đã được mở là Huổi Puốc và Tây Trang, còn 3 cặp cửa khẩu phụ khác sắp tới sẽ được mở Trên tuyến biên giới Việt - Trung sẽ mở cặp cửa khẩu A Pa Chải
- Long Phú thành cửa khẩu quốc gia Đặc biệt, cửa khẩu Tây Trang từ lâu đã là cửa khẩu quan trọng của vùng Tây Bắc và cả nước, được Chính phủ hai nước thỏa thuận nâng cấp thành cửa khẩu quốc tế và khu kinh tế cửa khẩu đang được xây dựng Đây là điều kiện và cơ hội rất lớn để Điện Biên đẩy mạnh thương mại quốc tế, tiến tới xây dựng khu vực này thành địa bàn trung chuyển chính trên tuyến đường xuyên Á phía Bắc, nối liền vùng Tây Bắc Việt Nam với khu vực Bắc Lào - Tây Nam Trung Quốc và Đông Bắc Mianma
Mảnh đất Điện Biên mang trong mình bao gồm cả nguồn tài nguyên du lịch
tự nhiên và văn hóa
Với đặc thù là tỉnh miền núi, Điện Biên có tiềm năng lớn về hệ sinh thái rừng, sông suối, hang động, hồ nước, nước khoáng nóng, thuận lợi cho việc xây dựng các khu nghỉ dưỡng, tham quan, du lịch thiên nhiên Các nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên này là: Hồ Pá Khoang và rừng tự nhiên Mường Phăng (xã Mường Phăng, huyện Điện Biên), nước khoáng UVa (xã Noong Luống, huyện Điện Biên), cảnh quan hai bên bờ sông Đà (Thị xã Mường Lay), khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé (huyện Mường Nhé), động Pa Thơm (xã Pa Thơm,
huyện Điện Biên), hồ tự nhiên Noong U (huyện Điện Biên Đông), động Thẩm
Trang 29Púa (bản Lũng, huyện Tuần Giáo), động Thẩm Khương (xã Chiềng Sinh, huyện Tuần Giáo), hang Thẩm Váng (xã Búng Lao, huyện Tuần Giáo), đèo Pha Đin v.v Trong hệ thống tài nguyên tự nhiên có các điểm tự nhiên đang được đầu tư,
đó là: Hồ Pá Khoang, động Pa Thơm,……
Đặc biệt phải kể đến nguồn tài nguyên văn hóa với hệ thống di tích lịch sử: Điện Biên tự hào có di tích quốc gia đặc biệt chiến trường Điện Biên Phủ (1 trong 10 di tích quốc gia đặc biệt của cả nước) với các di tích tiêu biểu như: Đồi A1, C1, D1, E1, E2; cầu Mường Thanh, hầm chỉ huy; Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, đồi Him Lam, đường kéo pháo, sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ tại Mường Phăng…, cùng với các công trình Văn hóa như: Tượng đài Chiến thắng Điện Biên Phủ, Bảo tàng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, 3 Nghĩa trang quốc gia, Thành Bản Phủ, đền thờ Hoàng Công Chất, Thành Sam Mứn là những chứng tích lịch sử ghi đậm chiến công chói lọi của dân tộc ta trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Những di tích lịch sử này trải qua thăng trầm của thời gian cùng với nhịp sống của người dân Điện Biên đã trở thành một phần máu thịt, hơi thở của người dân Điện Biên
Mảnh đất Điện Biên nổi tiếng với các sản vật tự nhiên như: mật ong, rượu
chít, các loại gạo như nếp cẩm, nếp tan, gạo trắng vừa thơm vừa dẻo của cánh
đồng Mường Thanh.v.v dưới bàn tay khéo léo của người dân Điện Biên tạo thành những món ăn ngon, phản ánh đời sống sinh hoạt của các dân tộc ở Điện
Biên Có thể kể đến các món ăn điển hình như: nó héo chụp nhứa mù hu, nó
pửng khôm hịa, nhứa mu chụp xổm lốm, cỏi súc cỏi hít, khẩu cắm, cơm lam, cá nướng, món lạp, món lẩu của dân tộc Thái.v.v Những món ăn này luôn là đối
tượng để du khách vừa thưởng thức vừa tìm hiểu đặc trưng văn hoá ẩm thực của đồng bào Tây Bắc
Dân số cả tỉnh là trên 510 nghìn người, với 19 dân tộc, trong đó người Thái chiếm 38%, người Mông chiếm 34,8%, người Kinh chiếm 18,4%,… Các
Trang 30thống văn hóa lâu đời Do vậy Điện Biên là vùng giàu bản sắc văn hóa dân tộc ,rất thuận lợi cho phát triển du lịch văn hóa, cộng đồng Các bản văn hóa như: bản Mển, Pe Luông, Co Mị, Ten, UVa của huyện Điện Biên; các bản Noong Bua, Him Lam 2, Phiêng Lơi của TP Điện Biên Phủ là những bản manh nha bước đầu đi vào hoạt động du lịch Đây là những bản văn hóa thu hút sự chú ý đối với khách du lịch quốc tế
Người dân Điện Biên với tính cách hồn hậu, chất phác, đơn giản và rất mến khách Điều này thể hiện rõ trong các dịch vụ phục vụ khách tại các cơ sở lưu trú, ăn uống, các dịch vụ khác trên địa bàn Tuy rằng tất cả các hệ thống chưa thực sự chuyên nghiệp nhưng vẫn đảm bảo để khách du lịch quốc tế lưu lại và tham quan du lịch
Về cơ sở vật chất, đến cuối năm 2012, toàn tỉnh có 88 cơ sở đang hoạt động kinh doanh du lịch; trong đó, 1 khách sạn đạt tiêu chuẩn 4 sao, 5 khách sạn từ 1 – 3 sao với số buồng nghỉ đáp ứng cơ bản nhu cầu của khách quốc tế Hệ thống khách sạn đang từng bước đầu tư trong quy hoạch du lịch của toàn tỉnh nhằm thu hút khách du lịch trong và ngoài nước Hệ thống nhà hàng, các cơ sở ăn uống cùng với những món ăn truyền thống của địa phương đủ để đáp ứng lượng khách quốc tế đến Điện Biên hiện nay
Hệ thống đường bộ để đến với Điện Biên hiện nay cũng đã dễ đi lại, không còn quá khó khăn như trước Bởi vậy khách du lịch đi Điện Biên chọn thời điểm thời tiết đẹp sẽ không quá lo lắng về cung đường đến Điện Biên Điều đặc biệt là đến với Điện Biên hôm nay hoàn toàn có thể đi bằng đường hàng không, bắt đầu
từ sân bay Nội Bài của Hà Nội và đến với sân bay Điện Biên xây dựng từ thời Pháp thuộc là sân bay nhỏ đã được đầu tư nâng cấp để tiếp nhận máy bay chở khách với mỗi ngày từ 1 đến 2 chuyến ATR72 (công suất 150 khách/giờ) chở khách từ Hà Nội và ngược lại (bắt đầu từ tháng 6/2003) Sân bay quốc tế Điện Biên Phủ trong tương lai nối tuyến bay với Luông Pha Băng - Viêng Chăn (Lào), Côn Minh (Trung Quốc), Chiềng Mai (Thái Lan) đều có khả năng đón khách
Trang 31quốc tế Đây thực sự là một thuận lợi lớn cho việc phát triển du lịch của tỉnh so với các tỉnh khác cùng khu vực trong tương lai
Những đặc điểm trên đã tạo cho Điện Biên tiềm năng, lợi thế rất quan trọng
để phát triển du lịch Điều quan trọng là phải làm như thế nào, tiến độ thực hiện đến đâu…giải pháp nào trước mắt, giài pháp nào lâu dài và hoàn toàn khả thi để thu hút nguồn khách du lịch nói chung và khách quốc tế nói riêng
2.2 Thực trạng nguồn khách du lịch quốc tế đến Điện Biên
(Nguồn Sở văn hóa thể thao và du lịch tỉnh Điện Biên)
Qua bảng số liệu trên, nhận thấy lượng khách nội địa nói chung tăng đều hàng năm (2008-2011) Trong đó lượng khách nội địa chiếm thế mạnh hơn so với khách quốc tế Lượng khách quốc tế năm 2009 tăng 40% so với 2008, đây là một con số tăng mạnh Năm 2010 so với năm 2009 tăng 23%, 2011 so với 2010 cũng tăng khoảng 23% Điều này cho thấy lượng khách quốc tế có xu hướng ngày càng tăng Tuy nhiên năm 2012 là năm lượng khách tăng không đáng kể so với 2011 – chỉ 1,5% Lý giải điều này là 2012 là năm kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn, nợ công ở châu Âu đang bị sa lầy, đặc biệt các nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc, Ả Rập… cũng không giữ được phong độ; các chiến lược xúc
Trang 329 tháng đầu năm 2013 số lượng khách là 50,5% trong khi đó tổng lượt khách quốc tế nghìn lượt khách Liệu rằng con số đó có tăng nhanh và mạnh? Việc tăng nhanh và mạnh chưa dám chắc vì hiện nay vấn đề xúc tiến của tỉnh còn dang dở, nhiều vấn đề bất cập
2.2.2 Cơ cấu nguồn khách
2.2.2.1.Quốc tịch
Nguồn khách du lịch quốc tế đến với Điện Biên, chủ yếu đến từ các nước: Pháp, Bắc Lào, Đông Bắc Thái Lan, Đông Bắc Trung Quốc và một số các nước khác như: Mỹ, Anh, các nước Đông Nam Á Tuy nhiên, khách du lịch từ các nước Pháp, Bắc Lào, Đông Bắc Thái Lan, Trung Quốc là đến nhiều nhất và thường xuyên hơn cả so với các nguồn khách khác Từ thực tế này, ngành du lịch Điện Biên cũng xác định nguồn khách mục tiêu, điển hình là: Lào, Pháp, Trung Quốc, Thái Lan…sau đó mới từng bước mở rộng xúc tiến thu hút nguồn khách
từ các nước khác
Trong số nguồn khách quốc tế điển hình đến với Điện Biên, theo như nhận định về đối tượng khách đến Điện Biên nhiều nhất của các chuyên viên phòng nghiệp vụ du lịch của Sở văn hóa thể thao và du lịch tỉnh Điện Biên, và nhân viên phục vụ tại các điểm di tích trên địa bàn tỉnh Điện Biên kết luận rằng: Khách Lào đến nhiều nhất, thứ hai là khách Pháp, thứ ba là khách Trung Quốc, thứ tư là khách Thái Lan
Lào 43%
Pháp 35%
Thái Lan 5%
Khác 2%
Trung Quốc 15%
Biểu 2.1 Cơ cấu khách quốc tế đến Điện Biên
Trang 33Nguồn: Kết quả điều tra về nguồn khách quốc tế đến Điện Biên tại Sở văn hóa thể thao và du lịch tỉnh Điện Biên và các nhân lực du lịch tại các điểm du lịch ở Điện Biên (tháng 5/2013) và báo cáo tiến độ thực hiện quy hoạch phát triển du lịch đến năm 2020
Lý giải cho điều này từ thực tế:
Khách Lào đến nhiều nhất, đặc biệt vùng đất Bắc Lào là vùng đất giáp ranh với tỉnh Điện Biên qua cửa khẩu Tây Trang Bởi vậy việc đi lại, buôn bán, học tập giữa các tỉnh Bắc Lào và Điện Biên trở nên dễ dàng hơn Đặc biệt, hiện nay du học sinh của các tỉnh Bắc Lào sang Điện Biên học tập ngày càng nhiều Các em học các chương trình liên kết tại Trung tâm giáo giục thường xuyên của tỉnh, học tại trường Cao đẳng kinh tế Điện Biên…Bên cạnh đó, tỉnh Điện Biên
đã thành lập Văn phòng Đại diện Thương mại và Du lịch Điện Biên tại tỉnh LuangPraBang, đồng thời tỉnh LuangPraBang đã thành lập Văn phòng đại diện
Sở Công thương và Sở Du lịch tỉnh LuangPraBang tại Điện Biên Ngoài lý do đi lại dễ dàng và quan hệ mật thiết giữa các tỉnh Bắc Lào và Điện Biên thì còn có một lý do về đặc thù khi đi du lịch của khách Lào Khách Lào khi đến với Điện Biên thường đi theo đoàn từ 10 đến 20 người, vì vậy việc lượng khách Lào là lượng khách đông nhất khi đến với Điện Biên
Lượng khách đến đông thứ hai là khách Pháp Nguồn khách của đất nước
có mối quan hệ gắn bó với Việt Nam từ thời chiến đến thời bình Sự liên quan đến lịch sử là một trong những lý do khách Pháp đến với Việt Nam nói chung và Điện Biên nói riêng Trung bình, ngày nào cũng có khách Pháp đến Điện Biên Tuy nhiên, họ đi theo nhóm nhỏ khoảng 2 người hoặc 2- 5, 7- 9 người Vì vậy mặc dù mật độ thường xuyên nhưng tổng lượng khách thì vẫn sau Lào
Lượng khách đến đông thứ ba đó là khách Trung Quốc Cụ thể là khách từ các tỉnh Vân Nam- Trung Quốc, giáp với Điện Biên Sự giáp ranh này là điều kiện thuận lợi cho việc đi lại giữa hai bên Họ đi lại Điện Biên với nhiều lý do khác nhau, trong đó có lý do về du lịch
Trang 34Lượng khách thứ tư trong bốn thị trường điển hình đó là khách Thái Lan Thái Lan là đất nước giáp Lào Sự xuất hiện của khách Thái Lan không nhiều nhưng so với các nguồn khách như Anh, Mỹ, Úc các nước Châu Phi thì vẫn là nguồn khách đáng kể của Điện Biên
Trên cơ sở báo cáo thực hiện tiến độ quy hoạch tổng thể về phát triển du lịch Điện Biên đến năm 2020 và đề án xúc tiến quảng bá đều chú trọng vào các thị trường khách : Lào, Pháp, Trung Quốc, Thái Lan Vì vậy, hướng nghiên cứu
đi sâu hơn sẽ tập trung vào các đối tượng khách này nhằm mục đich tăng cường thu hút khách theo chiều sâu, tránh theo chiều rộng dàn trải
2.2.2.2 Giới tính
Nam 56%
Nữ 44%
Biểu 2.2: Cơ cấu giới tính khách quốc tế đến Điện Biên
Nguồn: Kết quả điều tra khách quốc tế tại Điện Biên của Sở văn hóa thể thao và
du lịch tỉnh Điện Biên (Tháng 8/2013)
Biểu đồ trên cho thấy trong cơ cấu về giới tính khách quốc tế đến với Điện Biên thì nam chiếm 44 % và nữ chiếm 56 % Lý giải cho sự chênh lệch này đó là là do mục đích đi du lịch chi phối, những chuyến đi tìm kiếm sự làm
ăn, hợp tác, hội nghị, hoặc những chuyến du lịch bụi, và những chiến binh Pháp quay trở lại chiến trường với cơ cấu giới tính nam có cao hơn nên dẫn đến sự chênh lệch này
Trang 35Biểu 2.3: Cơ cấu giới tính bốn thị trường khách mục tiêu tại Điện Biên
Nguồn: Kết quả điều tra thị trường khách Pháp, Lào, Thái, Trung Quốc, Thái Lan tại Điên Biên (Tháng 5/2013)
Kết quả tại thời điểm điều tra, về giới tính của các thị trường Lào, Pháp, Trung Quốc, Thái Lan đến Điện Biên có sự khác nhau Trung Quốc là đối tượng khách thiên về nam (67.3 %); khách Pháp cũng thiên về nam nhưng không quá nhiều (58.5 %); khách Lào và Thái thì cân bằng có sự cân bằng hơn Từ đó, khi thiết kế hoặc phục vụ khách du lịch cần chú ý những điều này bởi tâm lý mỗi quốc tịch vốn dĩ đã khác nhau nhưng sẽ là khác nhau hơn theo giới tính nam hoặc nữ
Trang 36Độ tuổi của khách quốc tế đến Điện Biên rất đa dạng, sự đa dạng đó thể hiện qua sự có mặt từ đối tượng trẻ em cho đến thanh niên, trung niên và người cao tuổi Theo báo báo cáo về độ tuổi khách du lịch quốc tế đến Điện Biên, độ tuổi đến Điện Biên nhiều nhất thường là thanh niên (18- 34 tuổi) Độ tuổi này có những người đã có thu nhập nhưng có những người chưa có nguồn thu nhập (sinh viên ) Nhu cầu khám phá và đi du lịch ở độ tuổi này cho thấy thường rất lớn
Biểu 2.4: Cơ cấu tuổi bốn thị trường khách mục tiêu tại Điện Biên
Nguồn: Kết quả điều tra thị trường khách Pháp, Lào, Thái, Trung Quốc, Thái Lan tại Điên Biên (Tháng 5/2013)
Theo kết quả điều tra đối với bốn thị trường khách: Lào, Pháp, Trung Quốc, Thái Lan tại Điện Biên cho thấy có sự khác nhau Với khách Lào độ tuổi thanh niên là nhiều nhất, chiếm 46.3 %, đứng sau thanh niên là tuổi trung niên Điều này rất dễ hiểu vì sinh viên Lào sang học tại Điện Biên rất nhiều, những chuyến thăm quan cùng bạn bè và trường lớp ở Điện Biên là rất dễ dàng Hơn
Trang 37nữa, trong độ tuổi thanh niên Lào thì độ tuổi từ 30- 34 và độ tuổi trung niên làm
ăn, đi lại giữa hai các tỉnh của Lào là thường xuyên Những ngày lễ, kỳ nghỉ và những sự kiện trọng đại của Điện Biên, họ thường có mặt nhiều ở các điểm du lịch ở Điện Biên
Khách Pháp thì lại thiên về người cao tuổi (39.6 %), tiếp đến là trung niên (30.2%), thanh niên (24.5%), trẻ em là ít nhất nhất (5.6%) Điều này cho thấy đối tượng khách Pháp đến Điện Biên phong phú về độ tuổi, người cao tuổi đến với Điện Biên nhiều nhất có lẽ lý do lớn nhất là quay trở lại Điện Biên hoặc đến Điện Biên- mảnh đất nổi tiếng trong lịch sử từng gắn bó với người thân của
họ Các độ tuổi thanh niên và trung niên họ cũng có những lý do chung và lý do riêng Cụ thể sẽ trình bày trong nội dung mục đích chuyến đi của khách du lịch
Khách Trung Quốc chủ yếu là độ tuổi thanh niên(35.8 %) và trung niên (30.6%) Khách Thái Lan cũng tương tự
Nhìn chung, độ tuổi thanh niên là độ tuổi có nhu cầu khám phá, học hỏi và tìm hiểu rất nhiều so với các độ tuổi khác Tâm lý cũng như sinh lý đã đi vào ổn định, nhu cầu đi lại, di chuyển và khẳng định bản thân là đặc điểm nổi trội của đối tượng thanh niên
2.2.2.4 Nghề nghiệp
Nghề nghiệp của khách quốc tế đến Điện Biên cũng đa dạng Điều này cho thấy nhu cầu đi du lịch là mong muốn của mỗi ai, không giới hạn tuổi tác, nghề nghiệp, trình độ hay thu nhập Chỉ có điều chuyến đi ấy phù hợp với điểu kiện, hoàn cảnh của người đi như thế nào
Trang 38Giáo Viên
Kỹ Sư Kinh doanh Du lịch
Khác
Văn Phòng
Biểu 2.5: Cơ cấu nghề nghiệp khách quốc tế đến Điện Biên
Nguồn: Báo cáo kết quả điều tra khách quốc tế tại Điện Biên của Sở văn hóa thể thao và du lịch tỉnh Điện Biên (8/ 2013)
Qua kết quả nghiên cứu của Sở văn hóa thể thao và du lịch tỉnh Điện Biên vào thàng 8 năm 2013, trong cơ cấu nghề nghiệp của khách quốc tế đến Điện Biên nói chung thể hiện rất rõ và thiên lệch với các nhóm ngành nghề , cao nhất
là văn phòng 20 %, giáo viên 16.5 %, tiếp đến là làm du lịch 10 %, kỹ sƣ và kinh doanh là 8.9 % Đây là những tốp nghề cao nhất trong 19 ngành nghề mà
Sở văn hóa thể thao du lịch đƣa ra để điều tra với toàn bộ khách quốc tế với nhiều quốc tịch khác nhau đến Điện Biên
Trang 398.2
5.9 1.9
3
6.1
0 5.7
Biểu 2.6: Cơ cấu nghề nghiệp bốn thị trường mục tiêu tại Điện Biên
Trang 40Nguồn: Kết quả điều tra thị trường khách Pháp, Lào, Thái, Trung Quốc, Thái Lan tại Điên Biên (Tháng 5/2013)
Kết quả điều tra cụ thể với bốn thị trường khách cho thấy khách buôn bán
và kinh doanh chủ yếu là khách Lào, Trung Quốc, Thái Lan, sinh viên chủ yếu là Lào; các nghề nghiệp quân đội và nghỉ hưu và văn phòng chủ yếu là dành cho khách Pháp, nghề nghiệp đại chúng nhất ở các đối tượng khách chính là đối tượng văn phòng Như vậy, trong nội dung về mục đích đến Điện Biên cho thấy một thực tế rằng: Với đối tượng khách Lào, Trung Quốc, Thái Lan thiên về làm
ăn và buôn bán thì nghề nghiệp của họ là kinh doanh ; ngoài ra một trong những mục đích của khách du lịch Lào là nghiên cứu, học tập thì ở nội dung này trên biểu đồ cho thấy với khách Lào có các đối tượng khách với nghề nghiệp là học sinh, sinh viên Khách Pháp với nghề nghiệp chiếm ưu thế là quân đội, bởi vậy một trong những mục đích lớn khi đi du lịch của đối tượng khách này tìm hiểu di tích lịch sử
đồng)
(Nguồn Sở văn hóa thể thao và du lịch tỉnh Điện Biên)
Tuy nhiên, trong tổng doanh thu thì doanh khách nội địa vẫn cao hơn vì số lượng khách nội địa đến đông vượt trội hơn hẳn so với khách quốc tế mặc dù biết rằng khả năng chi tiêu của khách quốc tế là cao hơn so với nội địa