Hiện tại, việc nghiên cứu thị trường được ngành Du lịch Việt Nam thực hiện thông qua các nghiên cứu khoa học về thị trường khách ASEAN 1998, thị trường khách Nhật Bản và Trung Quốc 2001,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của bản thân với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn PGS.TS Trần Thị Minh Hòa
Những thông tin, số liệu, dữ liệu đưa ra trong luận văn được trích dẫn rõ ràng, đầy đủ về nguồn gốc Những số liệu thu thập và tổng hợp của cá nhân đảm bảo tính khách quan và trung thực
Nếu có gì sai tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng Khoa học Khoa Du lịch học, Trường Đại học khoa học xã hội và Nhân Văn
Tác giả Luận văn
Trần Phú Cường
Trang 31.2 Phương pháp nghiên cứu thị trường du lịch 22
1.2.3 Các phương pháp thu thập thông tin phục vụ cho việc nghiên cứu thị trường du lịch 26
CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG KHÁCH BẮC ÂU ĐI DU LỊCH NƯỚC NGOÀI
2.1 Tổng quan tình hình kinh tế, chính trị và xã hội các nước Bắc Âu 31 2.2 Các yếu tố tạo cầu du lịch của thị trường khách Bắc Âu 33
2.2.1 Sự phát triển của nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người của thị trường Bắc Âu 33
2.2.3 Thời gian nhàn rỗi, nhu cầu hưởng thụ và nghỉ dưỡng của các nước Bắc Âu 40
2.3 Thị trường khách Bắc Âu đi du lịch nước ngoài 45
Trang 42.3.1 Đặc điểm của thị trường khách Bắc Âu đi du lịch nước ngoài 46
2.4 Đặc điểm của thị trường khách du lịch Bắc Âu tới Việt Nam 64
2.5 Thực trạng phục vụ thị trường khách Bắc Âu của Du lịch Việt Nam 77
2.5.1 Các yếu tố chính sách ảnh hưởng đến việc thu hút và khai thác thị trường khách du lịch
2.5.2 Thực trạng các dịch vụ, sản phẩm cung ứng cho thị trường khách Bắc Âu của Du lịch
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM ĐẨY MẠNH XÚC TIẾN
VÀ KHAI THÁC THỊ TRƯỜNG KHÁCH DU LỊCH BẮC ÂU TỚI VIỆT NAM 88 3.1 Các quan điểm, mục tiêu phát triển của du lịch Việt Nam 88
3.2 Một số giải pháp và khuyến nghị nhằm đẩy mạnh xúc tiến và khai thác thị trường khách
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
1 ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
2 EU Liên minh châu Âu
3 FAMTRIP Chuyến đi khảo sát thực địa
4 FIT Free Independent Traveller (khách đi du lịch độc lập, tự sắp
xếp chuyến đi)
5 GDP Tổng sản phẩm quốc dân
7 MICE Loại hình du lịch hội nghị, hội thảo, khuyến thưởng, sự kiện
8 NATO Khối quân sự Bắc Đại Tây dương
9 NBTB Du lịch kết hợp mục đích thương mại khu vực Bắc Âu
(The Nordic Business Travel Barometer)
10 PATA Hiệp hội lữ hành châu Á Thái Bình Dương
11 PEST Chính trị, kinh tế, xã hội và thay đổi công nghệ
12 PR Quan hệ công chúng
13 SAS Scandinavian Airlines (hàng không Scandinavia)
14 SWOT Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Dự báo tốc độ tăng trưởng GDP và tỉ lệ lạm phát các nước Bắc Âu
Bảng 2.2 Phân bổ dân số ở một số thành phố lớn của các nước Bắc Âu
Bảng 2.3 Tổng hợp các đặc điểm nhân khẩu học của các nước Bắc Âu
Bảng 2.4 Lượng khách Bắc Âu đi du lịch nước ngoài
Bảng 2.5 Năm điểm đến hàng đầu của các thị trường gửi khách du lịch
Bắc Âu
Bảng 2.6 Một số điểm đến ưa thích của khách du lịch Bắc Âu tại khu vực
châu Á Thái Bình Dương năm 2007
Bảng 2.7 Tỉ lệ khách Bắc Âu đi du lịch đường dài theo nhóm tuổi
Bảng 2.8 So sánh đường bay giữa các nước Bắc Âu với một số nước trong
khu vực
Bảng 2.9 Số lượng khách du lịch Bắc Âu tới Việt Nam trong 3 năm gần đây
Bảng 2.10 Hình thức tổ chức chuyến du lịch và độ dài ngày lưu trú
trung bình của khách du lịch Bắc Âu tại Việt Nam
Bảng 2.11 So sánh các chỉ số về Khung pháp luật liên quan tới du lịch giữa một số nước trong khu vực
Bảng 2.12 Đánh giá của khách du lịch quốc tế và khách du lịch Bắc Âu
về du lịch Việt Nam
Trang 7Bảng trong Phụ lục 5
Bảng 5.1 Số lần đến du lịch Việt Nam của khách Bắc Âu
Bảng 5.2 Chi tiêu bình quân một lượt khách du lịch Bắc Âu tại Việt Nam
Bảng 5.3 Chi tiêu bình quân một ngày khách du lịch Bắc Âu tại Việt Nam
Bảng 5.4 Chi tiêu ngoài tour bình quân 1 lượt khách du lịch Bắc Âu tại Việt Nam
Bảng 5.5 Chi tiêu ngoài tour bình quân 1 ngày khách du lịch Bắc Âu tại Việt Nam
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Mục đích của việc nghiên cứu thị trường du lịch
Hình 2.1 Bản đồ các nước Bắc Âu
Biểu đồ 2.1 Tỉ lệ các nhóm tuổi hiện nay ở khu vực Bắc Âu
Biểu đồ 2.2 Quy mô gia đình các nước Bắc Âu
Biểu đồ 2.3 Lực lượng lao động ở khu vực Bắc Âu
Biểu đồ 2.4 Xu hướng dòng khách Bắc Âu đi du lịch nước ngoài năm 2006
Biểu đồ 2.5 Mục đích đi du lịch châu Á của khách Bắc Âu
Biểu đồ 2.6 Nguồn cung cấp thông tin cho khách du lịch Bắc Âu
Biểu đồ 2.7 Các hình thức đặt dịch vụ du lịch của khách Bắc Âu
Biểu đồ 2.8 Số lần đến du lịch Việt Nam của khách Bắc Âu
Biểu đồ 2.9 Tỉ lệ khách Bắc Âu đi du lịch Việt Nam chia theo giới tính
Biểu đồ 2.10 Tỉ lệ khách Bắc Âu đi du lịch Việt Nam chia theo nhóm tuổi
Biểu đồ 2.11 Chi tiêu của khách Bắc Âu tại Việt Nam đi du lịch FIT
và Tour
Biểu đồ 2.12 Mục đích chuyến đi của khách Bắc Âu đến Việt Nam
Biểu đồ 2.13 Thời gian lưu trú của khách du lịch Bắc Âu tại Việt Nam
Biểu đồ 2.14 Sở thích về phương thức tham quan của khách Bắc Âu tại Việt Nam
Trang 9Biểu đồ 2.15 Các loại hình và sản phẩm du lịch ưu thích của khách du lịch Bắc Âu đến Việt Nam
Biểu đồ 2.16 Ấn tượng chung của khách du lịch Bắc Âu về Việt Nam
Biểu đồ 2.17 Đánh giá của khách Bắc Âu về sản phẩm dịch vụ du lịch Việt Nam
Biểu đồ 2.18 Gợi ý của khách Bắc Âu để cải thiện sản phẩm dịch vụ du lịch Việt Nam
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài và lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài
Du lịch được xác định là ngành kinh tế quan trọng trên phạm vi toàn thế giới Với nhiều quốc gia, du lịch là ngành tạo thu nhập chính cho nền kinh tế quốc dân Ở Việt Nam, du lịch cũng đã được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn, có nhiệm vụ thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác Xu hướng phát triển du lịch ở Việt Nam trong những năm vừa qua cho thấy những biến chuyển đáng kể Một trong những yếu tố quan trọng nhất để phát triển du lịch là việc tạo ra được các thị trường khách Thị trường tuy vậy lại là một trong những mảng chưa được nghiên cứu liên tục, sâu rộng và bài bản từ các cơ quan Trung ương đến địa phương ở Việt Nam Hiện tại, việc nghiên cứu thị trường được ngành Du lịch Việt Nam thực hiện thông qua các nghiên cứu khoa học về thị trường khách ASEAN (1998), thị trường khách Nhật Bản và Trung Quốc (2001), giải pháp xúc tiến quảng bá cho một số thị trường trọng điểm (2005) Trong khi đó, việc thu hút và phát triển thị trường là một khâu rất quan trọng và đòi hỏi tính liên tục và tổng thể trong nghiên cứu Từ đó mới
có các biện pháp xác định thị trường trọng điểm cho từng giai đoạn và lập kế hoạch thu hút khách du lịch có hiệu quả
Các nước Bắc Âu là nhóm gồm các thị trường khách ở cùng khu vực địa lý;
là các thị trường có nhiều yếu tố tương đồng về tâm lý Đây cũng là các thị trường khách có khả năng chi trả cao, có mức sống và trình độ phát triển xã hội ở mức cao cũng như nhu cầu đi du lịch nước ngoài ngày càng gia tăng Các thị trường khách này hiện cũng nổi lên là các thị trường khách tương đối quan trọng của du lịch Việt Nam trong những năm qua, với mức tăng trưởng bình quân 15 - 20%/năm Đặc biệt, ngày 13/4/2005, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã ban hành Quyết định số 808/2005/QĐ-BNG về việc đơn phương miễn thị thực 15 ngày cho công dân 4 nước: Thụy Điển, Đan Mạch, Na Uy và Phần Lan mang hộ chiếu phổ thông đi du lịch Việt Nam Cho đến nay, chưa có một nghiên cứu cụ thể nào được thực hiện với các thị trường này
Trang 11và việc thu hút các thị trường này của ngành du lịch Việt Nam vẫn còn chưa được quan tâm đúng mức Do đó, du lịch Việt Nam chưa phát huy được khả năng tiếp cận
và khai thác thị trường này
Với các lý do trên, đề tài “Nghiên cứu thị trường khách du lịch Bắc Âu đến Việt Nam” là cần thiết, nhằm nghiên cứu chi tiết về thị trường khách du lịch các nước Bắc Âu và đề xuất các giải pháp giúp du lịch Việt Nam đẩy mạnh xúc tiến, khai thác thị trường này
2 Mục đích nghiên cứu
Luận văn tập trung vào các mục đích nghiên cứu sau đây:
- Hệ thống hóa một số vấn đề cơ bản về thị trường du lịch và nghiên cứu thị trường du lịch
- Nghiên cứu các đặc điểm của thị trường khách 4 nước Bắc Âu là Thụy Điển, Đan Mạch, Na Uy và Phần Lan đi ra nước ngoài và đến Việt Nam
- Đề xuất một số giải pháp để đẩy mạnh xúc tiến và khai thác thị trường nguồn này
3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Luận văn tập hợp và hệ thống hóa lý luận về thị trường
du lịch và phương pháp nghiên cứu thị trường du lịch Đây là một sự đóng góp mới cho ngành khoa học du lịch ở Việt Nam và là cơ sở tham khảo và vận dụng đối với các đề tài nghiên cứu có liên quan
- Ý nghĩa thực tiễn: Các kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ đóng góp làm tài liệu tham khảo thiết thực và hữu ích cho các nhà khoa học, các cơ quan quản lý
về du lịch, chính quyền địa phương, các doanh nghiệp du lịch khai thác thị trường
khách Bắc Âu
Trang 124 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu đặc điểm thị trường khách du lịch Bắc
Âu đi du lịch nước ngoài và đến Việt Nam
· Thời gian điều tra khách du lịch: năm 2008
5 Phương pháp và tiến trình nghiên cứu
5.1 Thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp
Thu thập các thông tin, dữ liệu cơ bản từ các nguồn chính thống như cơ quan
du lịch quốc gia, báo cáo phân tích, thống kê của các tổ chức quốc tế về du lịch có
uy tín như UNWTO, PATA về các nước Bắc Âu, đặc biệt là các thông tin liên quan đến thị trường du lịch của khu vực này Tất cả những thông tin này được thu thập chủ yếu từ năm 2003 đến nay và là dữ liệu phục vụ cho việc phân tích và dẫn luận tại Chương 1 và Chương 2
Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn:
- Sách, giáo trình trong nước và nước ngoài
- Báo, tạp chí chuyên ngành và báo, tạp chí có nội dung liên quan
- Công trình khoa học như báo cáo, nghiên cứu, phân tích liên quan …
Trang 13- Văn bản pháp quy về du lịch và liên quan đến phát triển du lịch, các chính sách của Nhà nước liên quan đến nước ngoài, đặc biệt là các nước Bắc Âu
- Các báo cáo của Tổng cục Du lịch Việt Nam và cơ quan du lịch quốc gia các nước Bắc Âu hoặc các nước thu hút nhiều khách Bắc Âu như Thái Lan, Úc
- Các thông tin, bài báo trên Internet
5.2 Phương pháp điều tra xã hội học
* Phương pháp bảng hỏi
Phương pháp bảng hỏi nhằm thu thập số liệu sơ cấp, đáp ứng cụ thể những yêu cầu của hoạt động điều tra Bảng hỏi được thiết kế dành cho khách du lịch các nước Bắc Âu Tổng số 200 bảng hỏi được tiến hành điều tra với 4 thị trường khách
du lịch Bắc Âu tại Hà Nội và Tp.HCM từ tháng 5/2008 đến tháng 7/2008
* Phương pháp phỏng vấn và lấy ý kiến chuyên gia
Phỏng vấn là công cụ điều tra, nghiên cứu hiệu quả nhằm thu được những thông tin mong muốn và phù hợp với từng đối tượng phỏng vấn mà bảng hỏi chưa đáp ứng được Phương pháp này đã được áp dụng với cán bộ của Tổng cục Du lịch, Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, một số công ty lữ hành và khách sạn trong nước đón nhiều khách du lịch Bắc Âu, hướng dẫn viên du lịch Phỏng vấn và lấy ý kiến chuyên gia qua thư điện tử đươc áp dụng với một số hãng điều hành tour, đại
lý lữ hành lớn ở các nước Bắc Âu và các chuyên gia du lịch nước ngoài có nhiều kinh nghiệm về thị trường này
Mỗi đối tượng được phỏng vấn đều được xác định những tiêu chí đầy đủ và phù hợp để phục vụ yêu cầu điều tra Phương pháp này được tiến hành chủ yếu tại
Hà Nội và Tp.HCM cũng như thông qua thư điện tử với các hãng lữ hành và chuyên gia nước ngoài trong thời gian từ tháng 5/2008 đến tháng 7/2008
Trang 14Phương pháp này được tiến hành từ tháng 8/2008 đến tháng 11/2008
6 Bố cục và nội dung chủ yếu của Luận văn
Luận văn bao gồm 3 chương với nội dung chính như sau:
Chương 1: Một số lý luận cơ bản về nghiên cứu thị trường du lịch, trình
bày cơ sở lý luận về thị trường du lịch và tập trung vào phương pháp nghiên cứu thị trường du lịch
Chương 2: Nghiên cứu thị trường khách Bắc Âu đi du lịch nước ngoài
và đến Việt Nam, trình bày các đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội của 4 nước Bắc
Âu; xu hướng tiêu dùng và mua sắm của người dân Bắc Âu cũng như xu hướng đi
du lịch của thị trường này; đặc điểm, tâm lý, thị hiếu của thị trường khách Bắc Âu;
xu hướng và số lượng khách du lịch Bắc Âu tới Việt Nam; khả năng của du lịch Việt Nam trong việc thu hút và khai thác thị trường khách Bắc Âu; thực trạng công tác xúc tiến và khai thác thị trường khách du lịch Bắc Âu
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh xúc tiến và khai thác thị trường khách du lịch Bắc Âu tới Việt Nam, trình bày một số giải
pháp đẩy mạnh xúc tiến và khai thác thị trường khách du lịch Bắc Âu bao gồm các giải pháp về cơ chế chính sách, các giải pháp về thị trường, các giải pháp về sản phẩm, các giải pháp về xúc tiến quảng bá, các giải pháp về tổ chức và phối kết hợp
Trang 15Chương 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG
DU LỊCH
1.1 Tổng quan lý thuyết về thị trường du lịch
1.1.1 Một số khái niệm về thị trường
Lịch sử phát triển của xã hội loài người cho thấy sự ra đời của khái niệm thị trường gắn liền với việc phân công lao động xã hội Khi có sự phân công lao động
xã hội và sản xuất hàng hoá thì cũng là lúc xuất hiện thị trường đồng thời quy mô của nó gắn liền với trình độ phân công và chuyên môn hoá lao động xã hội
Theo Lênin “Thị trường nghĩa là lĩnh vực trao đổi hàng hoá” Điều này là hoàn toàn đúng bởi thị trường luôn gắn liền với lưu thông hàng hoá, thị trường chính là nơi trao đổi hàng hoá và dịch vụ, là khâu trung gian giữa sản xuất và tiêu dùng, là tổng hoà các mối quan hệ mua bán trong xã hội, được hình thành do những điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội nhất định
Với vai trò là trung gian giữa sản xuất và tiêu dùng, thị trường có vai trò rất quan trọng là dẫn dắt và định hướng nhu cầu cho sản xuất “Người bán” sẽ lựa chọn cho mình lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh, quy mô hoạt động, sản phẩm, công nghệ sử dụng cũng như hình thức tổ chức sản xuất để đáp ứng tốt nhất nhu cầu ngày càng gia tăng của “người mua”, mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho mình Nhìn một cách tổng thể đối với cả nền kinh tế thì thị trường là đòn bẩy kích thích sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển
Thị trường là nơi mà “trăm người bán, vạn người mua” đủ cho thấy mức độ
đa dạng và phức tạp của các mối quan hệ mua bán được diễn ra trong nó Vì vậy có thể khẳng định rằng thị trường là tổng hòa các mối quan hệ mua bán trong xã hội Chính vì sự đa dạng và các mối quan hệ phức tạp diễn ra trong thị trường nên cùng với sự phát triển của xã hội loài người, từng quốc gia, từng khu vực và thậm chí là
Trang 16cả thế giới đã phải đề ra những luật lệ, chế tài nhằm điều chỉnh các mối quan hệ thương mại xuất hiện trong thị trường
Qua các thời kỳ phát triển của sản xuất hàng hoá và phân công lao động xã hội, thị trường cũng phát triển tương ứng cả về tính chất, phạm vi, trình độ, quy mô
Từ chỗ thị trường mang tính chất địa phương, nhỏ hẹp với số lượng và chủng loại hàng hoá giới hạn, nay thị trường được mở rộng về phạm vi địa lý đồng thời chủng loại hàng hoá cũng trở nên đa dạng hơn Đặc biệt, khoa học và công nghệ phát triển làm cho phạm vị thị trường không còn bó hẹp trong lãnh thổ của một quốc gia mà
đã vươn ra phạm vi khu vực và khắp thế giới Ngày nay, khái niệm thị trường đã mang một ý nghĩa sâu rộng hơn trước rất nhiều, không còn những giới hạn về không gian cũng như thời gian và cơ cấu của thị trường cũng đã thay đổi và đa dạng hơn trước rất nhiều, không chỉ đơn thuần là thị trường hàng hoá, dịch vụ mà còn là thị trường tài chính, thị trường bất động sản, thị trường lao động, thị trường khoa học và công nghệ
1.1.2 Thị trường du lịch và cung cầu trong du lịch
* Thị trường du lịch
Thị trường du lịch được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của hiện tượng du lịch, khi du khách bắt đầu sử dụng sản phẩm của các đơn vị cung cấp phương tiện vận chuyển, cơ sở lưu trú, ăn uống cũng là lúc thị trường du lịch được hình thành
“Thị trường du lịch là bộ phận của thị trường chung, một phạm trù của sản xuất và lưu thông hàng hoá, dịch vụ du lịch, phản ánh toàn bộ quan hệ trao đổi giữa người mua và người bán, giữa cung, cầu và toàn bộ các mối quan hệ, thông tin kinh
tế, kỹ thuật gắn với mối quan hệ đó trong lĩnh vực du lịch” [4, tr.23]
Trang 17Sản phẩm du lịch được tạo ra bởi sự kết hợp các yếu tố vật chất và ý tưởng (phòng khách sạn, vé máy bay, vé tham quan, hướng dẫn viên ) và trên thực tế, những yếu tố này không chỉ dành riêng cho du khách Chúng được mua bán, trao đổi trên thị trường, thoả mãn nhu cầu của du khách, dân cư địa phương lẫn những đối tượng khác Như vậy, thị trường du lịch cũng là một bộ phận cấu thành thị trường hàng hoá và dịch vụ nói chung Do đó, nó cũng mang đầy đủ các đặc điểm của thị trường hàng hoá, dịch vụ và chịu sự điều tiết của các qui luật kinh tế Tuy nhiên do đặc thù của du lịch mà ngoài những đặc điểm chung với thị trường hàng hoá và dịch vụ, thị trường du lịch còn có những đặc trưng riêng
Thị trường du lịch xuất hiện muộn hơn so với thị trường hàng hoá và chỉ hình thành kể từ khi du lịch bắt đầu trở thành một hiện tượng kinh tế, xã hội phổ biến Nét đặc trưng của thị trường du lịch là “hàng hoá du lịch” chỉ có thể được tiêu thụ tại chỗ, tại chính nơi mà hàng hoá du lịch được sản xuất ra Không thể mang hàng hoá du lịch tới tận tay du khách nên tự chúng phải có khả năng hấp dẫn, khiến cho du khách mong muốn và đến tận nơi có các sản phẩm du lịch để tiêu dùng
Thách thức lớn nhất của các đơn vị cung ứng trong lĩnh vực du lịch là tính vô hình của các sản phẩm du lịch Thực tế cho thấy du khách có thể phải trả một số lượng tiền rất lớn chỉ để đổi lấy một tờ gấp và họ cũng chỉ có thể đánh giá được chính xác chất lượng của sản phẩm du lịch đó sau khi đã trải nghiệm Do đó, các đơn vị cung ứng trong du lịch luôn cố gắng hữu hình hoá các sản phẩm du lịch dưới con mắt của du khách để thúc đẩy quan hệ mua bán trên thị trường Môi trường vật chất - nơi diễn ra thương vụ mua bán cũng như môi trường vật chất - nơi sản phẩm
du lịch được tiêu thụ vì vậy luôn được cải thiện và đầu tư
Ngoài những đặc trưng kể trên, thị trường du lịch còn mang tính thời vụ rõ rệt Tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng điểm đến mà lượng cung, cầu du lịch sẽ thay đổi vào từng thời kỳ khác nhau và điều này đã tạo nên tính mùa vụ của thị trường
du lịch
Trang 18* Phân loại thị trường du lịch
Thị trường du lịch không đồng nhất và nhìn chung có thể được phân loại bằng nhiều tiêu thức Nếu được phân loại theo khả năng kinh tế của bên bán và bên mua, thì thị trường du lịch gồm 3 loại: thị trường cầu (thị trường bên bán), thị trường cung (thị trường bên mua) và thị trường cân bằng cung - cầu (thị trường thế cân đối) Theo vị trí không gian xuất phát và tiếp nhận cung cầu thì thị trường có thể được phân chia thành thị trường nhận khách và thị trường gửi khách Theo thực trạng thị trường thì thị trường du lịch có thể được chia thành thị trường khách du lịch hiện tại và thị trường khách du lịch tiềm năng
* Quan hệ cung và cầu trong du lịch
Đề cập tới thị trường du lịch là đề cập tới cung du lịch, cầu du lịch và mối quan hệ giữa chúng Cầu về du lịch được hình thành trong quá trình phát triển của
xã hội loài người Nhu cầu du lịch khi mới xuất hiện được coi là nhu cầu cao cấp, là đặc quyền của tầng lớp thượng lưu Tuy nhiên, khi du lịch dần trở thành một hiện tượng phổ biến trong xã hội thì nhu cầu du lịch được nhìn nhận là nhu cầu cần thiết của con người để giải toả căng thẳng, cải thiện thể chất và nâng cao tinh thần
Cầu trong du lịch là nhu cầu xã hội về sử dụng các dịch vụ và hàng hoá du lịch Nhìn chung, cầu trong du lịch chủ yếu là cầu về sử dụng các loại hình dịch vụ như dịch vụ vận chuyển, lưu trú, ăn uống, hướng dẫn Cầu trong du lịch cũng hết sức đa dạng và phong phú bởi nó phụ thuộc vào tâm lý, nhận thức, văn hoá của mỗi đối tượng du khách Đồng thời cầu trong du lịch có tính linh hoạt cao do có thể được thay thế dễ dàng
Ngoài ra, có những khuynh hướng mới có thể nảy sinh do sự chi phối của cầu và đặc biệt quan trọng đối với lĩnh vực lữ hành và khách sạn Đó là: sự thay đổi cấu trúc tuổi; sự thay đổi cấu trúc gia đình; sự thay đổi vai trò và trách nhiệm của gia đình; vai trò ngày càng quan trọng của các dân tộc ít người; sự thay đổi các mô
Trang 19thức văn hoá - xã hội và lối sống; nhu cầu ngày càng tăng về các giải pháp lựa chọn nhất định cho hoạt động du lịch
Cùng ra đời với sự xuất hiện của cầu về du lịch, cung du lịch là khả năng cung cấp các dịch vụ và hàng hoá du lịch để thoả mãn nhu cầu du lịch Do cầu trong
du lịch chủ yếu là cầu về dịch vụ nên cung du lịch phần lớn không tồn tại một cách hữu hình So với cầu du lịch, tính linh hoạt của cung du lịch không cao bởi khả năng thay đổi để thích nghi với những biến động của cầu du lịch đối với cung khó khăn hơn Cung du lịch khó thay đổi hơn cầu do tính không lưu kho được, tính tiêu thụ tại chỗ, tính không thể chia tách được của các sản phẩm du lịch
Cũng như cầu, sự chi phối của cung du lịch có thể làm xuất hiện những khuynh hướng mới như: du khách ngày càng được coi trọng; các nhu cầu về dinh dưỡng và sức khỏe đang ngày càng được quan tâm; ngành du lịch tăng cường tiếp thị đến khách du lịch hạng sang và các quan chức cấp cao; tập trung nhiều hơn vào các kỳ nghỉ ngắn, nghỉ cuối tuần; chú ý hơn đến khách du lịch công vụ là nữ giới; quan tâm hơn đến khách du lịch nghỉ dài hạn, đưa ra nhiều mức giá hơn để khách chọn lựa; ngày càng cung cấp nhiều dịch vụ tiện nghi hơn; tăng cường cung cấp các sản phẩm du lịch đặc biệt…
1.1.3 Phân đoạn thị trường du lịch
Dưới góc độ của các đơn vị kinh doanh du lịch tại một điểm đến thì thị trường du lịch của điểm đến đó là tập hợp những nhóm khách hàng có nhu cầu và khả năng sử dụng sản phẩm du lịch của điểm đến Thị trườngdu lịch của một điểm đến bao gồm tất cả những khách du lịch hiện tại và tiềm năng của điểm đến đó Quy
mô của thị trường khách có thể lớn hay nhỏ tuỳ thuộc vào số lượng du khách có cùng nhu cầu về việc sử dụng các sản phẩm du lịch tại điểm đến
Có thể khẳng định rằng, với một nguồn lực có giới hạn, hoạt động trong một môi trường nhất định, một điểm đến không có khả năng tạo ra tất cả các loại sản
Trang 20phẩm du lịch để thoả mãn toàn bộ nhu cầu của du khách trên thị trường tổng thể Sẽ
có những nhóm đối tượng khách này có nhu cầu và mong muốn sử dụng sản phẩm của điểm đến hơn những nhóm khách khác Đồng thời, sẽ có những nhóm khách sẽ quan tâm đến sản phẩm của điểm đến này hơn là sản phẩm của những điểm đến khác Như vậy, để sử dụng nguồn lực một cách có hiệu quả, một điểm đến hay một đơn vị kinh doanh du lịch phải có khả năng chỉ ra được những đối tượng khách hay thị trường khách mà nó có khả năng khai thác và phục vụ một cách tốt nhất
Để xác định được những nhóm khách quan trọng cấu thành nên thị trường của một điểm đến, điểm đến có thể chia nhỏ toàn bộ thị trường của nó thành những nhóm khách với những đặc trưng chung Thực tế cho thấy, mỗi một du khách là một
cá nhân với những quan niệm, sở thích, hành vi độc lập Tuy nhiên, căn cứ vào những tiêu thức nhất định, một điểm đến hoàn toàn có thể phân chia thị trường tổng thể ra thành các nhóm mà mỗi nhóm là sự kết hợp của những cá nhân có chung một đặc điểm nào đó Quá trình chia tách thị trường theo những tiêu thức khác nhau (như tuổi tác, thu nhập, quốc tịch, nghề nghiệp, tâm lý sở thích…) thành các nhóm khách hàng có đặc điểm chung gọi là phân đoạn thị trường
Việc phân đoạn thị trường đòi hỏi tính khoa học và sáng tạo, bởi những thông tin về hành vi, quan điểm sở thích của du khách càng rõ ràng bao nhiêu thì khả năng đáp ứng nhu cầu của họ càng chính xác bấy nhiêu Việc phân đoạn thị trường mang lại những lợi thế rõ rệt, cụ thể là:
· Xác định thị trường chính xác hơn theo nhu cầu của khách hàng
· Hiểu biết về thị trường tốt hơn
· Hiều biết về mục đích của khách hàng tốt hơn
· Có vị thế tốt hơn trên thị trường
· Xác định công khai lợi nhuận và những nơi khả năng cạnh tranh kém hơn
· Tạo sự hài lòng cho khách hàng và nhiều cơ hội kinh doanh
Trang 21· Dễ điều chỉnh theo sự thay đổi của cầu
· Việc tổ chức marketing và mỗi phân đoạn được kiểm soát tốt hơn trong quá trình triển khai
· Thuận lợi cho xúc tiến quảng bá
Trong du lịch, người ta thường sử dụng một số tiêu chí phổ biến sau làm cơ
sở để phân đoạn thị trường do tính hiệu quả của chúng mang lại, cụ thể là:
* Phân đoạn theo vùng địa lý: Đây là hướng tiếp cận phân đoạn trên cơ sở
chia thị trường thành các nhóm khách hàng có cùng một vị trí điạ lý (quốc gia, khu vực, vùng, thành phố, đô thị, nông thôn …) Phân đoạn thị trường theo vùng địa lý thường được sử dụng phổ biến nhất bởi vì các vùng địa lý đã được phân định rõ ràng tạo điều kiện cho việc xác định các đoạn thị trường rất dễ dàng Ngoài ra, những đối tượng tập trung trong những khu vực địa lý khác nhau thường có những
mô hình ứng xử khác nhau do chịu tác động chủ yếu bởi các yếu tố văn hoá Hơn nữa, hầu hết các phương tiện thông tin đại chúng đều phục vụ trong phạm vi những khu vực địa lý nhất định nên các tổ chức du lịch ở điểm đến có thể tiếp cận du khách một cách dễ dàng
* Phân đoạn theo mục đích của chuyến đi: Thị trường được phân chia dựa
trên tiêu thức mục đích chuyến đi của du khách Đây là cơ sở tiếp cận phân đoạn hữu hiệu nhất bởi vì thị trường mục tiêu đang tìm kiếm một loại sản phẩm cụ thể
Có thể thấy nhu cầu và mong muốn của hai đoạn thị trường: khách du lịch công vụ
và khách du lịch thuần tuý hoàn toàn khác nhau Ví dụ khách đi du lịch kinh doanh thích tìm những địa điểm thuận tiện cho công việc làm ăn của họ trong khi khách du lịch thuần tuý lại tìm những cơ sở lưu trú gần với các địa điểm tham quan, khách du lịch thuần tuý thường nhạy cảm về mặt giá cả hơn so với khách du lịch công vụ )
* Phân đoạn theo kênh phân phối: Đây là cơ sở phân đoạn thị trường theo
cách thức tiếp cận điểm đến của du khách (trực tiếp, gián tiếp hoặc kết hợp) Theo tiêu thức phân đoạn này, các khâu trung gian trong ngành du lịch được phân chia
Trang 22theo chức năng và một số đặc tính chung của chúng Các đại lý lữ hành thực hiện chức năng bán lẻ, các hãng lữ hành thiết kế, điều phối các chương trình du lịch trọn gói và thực hiện chức năng bán buôn Hướng tiếp cận này sẽ mang lại nhiều hiệu quả cho điểm đến khi nó nhận ra vai trò cầu nối của các khâu trung gian trong việc giới thiệu và bán các sản phẩn du lịch, từ đó có thể tiếp cận chính xác các đối tượng
khách ở thị trường
* Phân đoạn theo nhân khẩu học: Đây là cơ sở tiếp cận thường được sử dụng
vì những phân đoạn này dễ xác định, dễ tiếp cận và thông tin về chúng đã có sẵn và
dễ thu thập Phân đoạn theo nhân khẩu học chia thị trường dựa trên những thông tin điều tra dân số, được thống kê về: tuổi tác, giới tính, trình độ văn hoá, thu nhập bình quân, quy mô gia đình, nghề nghiệp, tầng lớp xã hội, tình trạng nhà cửa, nguồn gốc dân tộc và một số yếu tố khác Phương pháp phân đoạn này thường được kết hợp với phân đoạn thị trường theo vùng địa lý (phận đoạn thị trường theo vùng địa lý- nhân khẩu học) để tăng thêm tính hiệu quả
* Phân đoạn theo sản phẩm: Đây là cơ sở phân đoạn khó tiếp cận, nhưng lại
rất hữu hiệu vì phân đoạn thị trường theo sản phẩm sử dụng chính một số đặc điểm của sản phẩm và dịch vụ để phân loại khách hàng Trên cơ sở đó, các nhà cung cấp sản phẩm và dịch vụ du lịch tại một điểm đến có thể thoả mãn chính xác những nhu cầu và mong muốn của du khách đối với những loại sản phẩm cụ thể Như vậy, bản chất của phương pháp này là cách mô tả những nhóm du khách có nhu cầu và mong đợi tương ứng với những sản phẩm du lịch nào đó
* Phân đoạn theo tâm lý: Trong du lịch, đây là cơ sở phân đoạn mang lại
nhiều hiệu quả bởi vì việc sử dụng sản phẩm du lịch trong một số nhóm tâm lý nhất định rất phổ biến Với tiêu thức này, thị trường sẽ được phân chia dựa trên cơ sở các yếu tố tâm lý của du khách Cá tính, lối sống, thái độ, sở thích, quan điểm, động lực của du khách là những thông tin cần được quan tâm khi sử dụng tiêu thức phân
Trang 23đoạn này Tuy nhiên phân đoạn thị trường theo tâm lý có chi phí cao và khó khăn trong việc tìm kiếm, sử lý thông tin
* Phân đoạn theo tần suất (kinh nghiệm): Hướng tiếp cận phân đoạn này
được thực hiện dựa trên mức độ thường xuyên sử dụng sản phẩm của khách hàng bởi vì có những bộ phận khách hàng có xu hướng sử dụng những sản phẩm nhất định một cách thường xuyên hơn so với những bộ phân khách hàng khác Thông thường có ba mức độ sử dụng sản phẩm khác nhau: những người sử dụng thường xuyên, những người sử dụng ở mức trung bình và những người ít sử dụng
1.1.4 Đánh giá các phân đoạn thị trường
Một sản phẩm du lịch cụ thể hay thậm chí là một điểm đến không phải lúc nào cũng có thể hấp dẫn mọi đối tượng du khách bởi vì các phân đoạn thị trường khác nhau có nhu cầu, nhận thức về sản phẩm, mức độ tiêu thụ hoàn toàn khác nhau Chính vì vậy, cần phải tiến hành phân chia thị trường thành các đoạn nhỏ và xác định những đặc điểm cơ bản nhất của mỗi đoạn thị trường cũng như các thông tin liên quan đến những đối tượng cấu thành nên đoạn thị trường đó
Việc đánh giá các phân đoạn thị trường trong một thị trường gửi khách du lịch ra nước ngoài thường được thực hiện theo các tiêu chí như:
· Tiêu chí phát triển kinh tế – xã hội, GDP
· Cơ cấu và đặc điểm xu hướng nhân khẩu học
· Số lượng người ra nước ngoài hàng năm
· Khả năng chi trả và cơ cấu chi tiêu
· Sự ổn định về chính trị xã hội
· Đặc điểm thời gian nhàn rỗi
Ngoài ra, để có thể nhìn nhận một cách tổng quan về một thị trường gửi khách du lịch thì người ta cũng thường xem xét một số khía cạnh khác như xu
Trang 24hướng mua sắm, tiêu dùng, yếu tố tâm lý xã hội, lịch sử, văn hóa, chính trị đặc biệt tạo động cơ đi du lịch, hiểu biết của thị trường về điểm du lịch, hoặc so sánh mức
độ quan tâm của thị trường với các đối thủ cạnh tranh hoặc nước láng giềng v.v…
1.2 Phương pháp nghiên cứu thị trường du lịch
1.2.1 Khái niệm và mục đích của nghiên cứu thị trường du lịch
Nghiên cứu thị trường du lịch (gọi tắt là nghiên cứu thị trường) là việc thu thập và diễn giải các thông tin liên quan đến hành vi, nhu cầu và sở thích của thị trường du lịch Thông qua việc nghiên cứu thị trường, ta có thể dễ dàng và hiệu quả hơn trong việc tiếp cận cũng như thỏa mãn nhu cầu của khách hàng mục tiêu thông qua việc triển khai các chiến lược tiếp thị (marketing) hỗn hợp Nói cách khác, việc nghiên cứu thị trường sẽ mang lại nền tảng cho các chiến lược marketing trong tương lai cũng như trả lời câu hỏi làm thế nào để phát triển các sản phẩm, dịch vụ
du lịch, hình ảnh của điểm đến được đậm nét hơn trong tâm trí khách du lịch, các mức giá đưa ra là phù hợp và hoạt động quảng bá cũng như bán sản phẩm được triển khai hiệu quả
Nghiên cứu thị trường bao gồm việc thu thập, kiểm tra, so sánh và phân
tích các thông tin và số liệu thống kê liên quan từ các nguồn sơ cấp và thứ cấp
Nghiên cứu thị trường sử dụng các số liệu, dữ liệu thống kê và các tài liệu nghiên cứu về du lịch (bao gồm cả những nghiên cứu do các tổ chức chuyên nghiên cứu về
du lịch thực hiện), tin tức tình báo, khảo sát thực địa và điều tra xã hội học Trong lĩnh vực du lịch, nghiên cứu thị trường nhằm 4 mục đích chính (hình 1.1):
· Xác định nhu cầu và các cơ hội
· Đáp ứng nhu cầu và nắm bắt cơ hội thông qua các hoạt động marketing hỗn hợp
· Theo dõi, giám sát quá trình triển khai
· Điều chỉnh khi nhu cầu thay đổi
Trang 25Hình 1.1 Mục đích của việc nghiên cứu thị trường du lịch
Nguồn: [19, tr.70]
1.2.2 Các cấp độ của việc nghiên cứu thị trường du lịch
Nghiên cứu thị trường du lịch được thực hiện ở 2 cấp độ:
· Cấp ngành: Nhằm đưa ra cái nhìn khái quát về các xu hướng và viễn
cảnh phát triển du lịch của một địa phương hay một quốc gia Những nghiên cứu ở cấp độ này đóng vai trò nền tảng cho các chiến lược và chính sách phát triển du lịch của địa phương hoặc quốc gia trong tương lai
· Cấp doanh nghiệp: Nhằm có những căn cứ chính xác để đưa ra
những quyết định liên quan đến việc phát triển sản phẩm, chiến lược marketing hỗn hợp và ổn định tài chính của doanh nghiệp
Hoạt động du lịch luôn diễn ra trong một môi trường nhất định và môi trường đó chịu ảnh hưởng bởi các sự kiện, xu hướng chính trị, xã hội, tình hình và
Xác định nhu cầu
Theo dõi giám sát
Trang 26triển vọng phát triển kinh tế cũng như những thay đổi về công nghệ Nghiên cứu thị trường theo dõi những gì đang xảy ra và đánh giá mức độ ảnh hưởng của nó lên hoạt động du lịch Vì vậy, người ta thường sử dụng phương pháp phân tích SWOT (điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ) và phương pháp tiếp cận PEST (chính trị, kinh tế, xã hội và thay đổi công nghệ) để tổng hợp những vấn đề phục vụ cho nghiên cứu thị trường du lịch
1.2.3 Yêu cầu và các bước nghiên cứu thị trường du lịch
Nghiên cứu thị trường du lịch phải đảm bảo được tính hệ thống và có cấu
trúc rõ ràng theo từng phân đoạn thị trường và các chiến lược marketing hỗn hợp
Trong quá trình tiến hành nghiên cứu thị trường du lịch thường gặp rất nhiều vấn đề phức tạp, đan xen nhau, chính vì vậy, những vấn đề nghiên cứu phải được sàng lọc
và sắp xếp theo một thứ tự nhất định, có sự liên kết chặt chẽ
Trong quá trình tiến hành nghiên cứu thị trường, đặc biệt là các thị trường gửi khách, cần tìm hiểu các vấn đề có ảnh hưởng tới dòng khách đi du lịch nước ngoài từ một quốc gia hay một khu vực nào đó, tập trung vào:
· Các kế hoạch, chính sách và cam kết ở tầm vĩ mô liên quan đến du lịch, đặc biệt là du lịch ra nước ngoài
· Xu hướng đi du lịch hiện tại của thị trường gửi khách
· Xu hướng phát triển giao thông vận tải, giá cả, mức độ thuận tiện và khả năng tiếp cận của dòng khách tới điểm đến
· Tác động của việc phát triển kinh tế ảnh hưởng tới sự tăng trưởng của dòng khách du lịch ra nước ngoài
· Tỉ giá hối đoái hiện hành và sức mua của đồng nội tệ so với các ngoại
tệ chủ chốt
· Sự ổn định về chính trị và xã hội cũng như không bị ảnh hưởng bởi các hoạt động khủng bố, tội phạm liên quan đến du lịch, v.v
Trang 27Mặc dù vậy, trong các hoàn cảnh khác nhau, sẽ có rất nhiều yếu tố mà chúng
ta không thể hiểu biết về chúng hoặc sự liên kết giữa các yếu tố này không tuân theo một trật tự hay quy luật nào cả và luôn chứa đầy những mâu thuẫn cũng như thiếu tính liên tục Trong trường hợp như vậy, khi nghiên cứu thị trường người ta thường thực hiện các bước sau:
· Bước 1: Xác định cái gì đã xảy ra? Để trả lời câu hỏi này thường phải
thu thập một cách đầy đủ và phân tích thấu đáo tất cả các thông tin liên quan đến diễn biến và xu hướng đã xảy ra trong quá khứ, đồng thời phải lý giải và đánh giá tại sao điều đó lại xảy ra Quy mô của việc nghiên cứu này không chỉ giới hạn ở một nước, một khu vực mà thậm chí là trên phạm vi toàn cầu
· Bước 2: Xác định cái gì đang xảy ra? Trả lời được câu hỏi này có
nghĩa là nắm bắt được sự phát triển và xu hướng hiện tại và nguyên do của nó Nói cách khác là ta phải xác định rõ ai đang đi du lịch và họ đi đâu, xu hướng sản phẩm và chiến lược marketing hỗn hợp hiện nay là gì?
· Bước 3: Xác định cái gì có thể xảy ra trong tương lai? Để trả lời được
câu hỏi này cần phải đưa ra những phân tích dự báo, xu hướng, thay đổi đang diễn ra trong từng thị phần khách, tốc độ tăng trưởng của nó cũng như sự dịch chuyển giữa các dòng khách và sự biến đổi của môi trường kinh doanh du lịch
Trong quá trình nghiên cứu thị trường du lịch theo các bước nêu trên, chúng
ta thường phải đưa ra những nhận định, đánh giá Những đánh giá, nhận định này có thể là khách quan hay chủ quan
- Khách quan: Là cách tiếp cận theo sự kiện trên cơ sở xử lý, phân tích
những số liệu thực tế cả về số lượng và chất lượng, với sự trợ giúp của các bảng, biểu, sơ đồ và biểu đồ
Trang 28- Chủ quan: Là cách tiếp cận theo phỏng đoán, mang tính chủ quan, trên cơ
sở lý giải các sự kiện đã xảy ra trong quá khứ để dự báo các yếu tố và xu hướng phát triển cho tương lai
Yêu cầu đặt ra là phải có sự kết hợp hài hòa giữa các nhận định, đánh giá khách quan và chủ quan bởi chúng gắn bó mật thiết và hỗ trợ lẫn nhau
1.2.3 Các phương pháp thu thập thông tin phục vụ cho việc nghiên cứu
thị trường du lịch
Thu thập thông tin là bước đầu tiên và đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với nghiên cứu thị trường du lịch Để có được những thông tin như mong muốn, người ta thường sử dụng một số phương pháp thu thập thông tin cơ bản như sau:
- Tập hợp các báo cáo thống kê do các cơ quan du lịch quốc gia hoặc cơ quan thống kê quốc gia thực hiện: Để tìm hiểu những thông tin cơ bản của khách du
lịch như độ tuổi, tình trạng hôn nhân, phương tiện vận chuyển, cửa khẩu nhập cảnh, giới tính, nghề nghiệp, ngày nhập cảnh, thời gian lưu trú, quốc tịch và nơi thường trú, loại hình cơ sở lưu trú sử dụng, số lần đã đến du lịch
- Nghiên cứu tài liệu: Để theo dõi toàn bộ các vấn đề về du lịch và lữ hành
liên quan đến một khách thể nghiên cứu Các tài liệu nghiên cứu bao gồm ấn phẩm, báo cáo, bài báo, tạp chí và tập san thống kê được phát hành Rất nhiều tổ chức và hiệp hội quốc gia và quốc tế, như Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) tiến hành nghiên cứu và công bố các tài liệu có giá trị về thống kê du lịch, xu hướng thị trường và dự báo du lịch toàn cầu, trong đó số liệu được chia theo khu vực và từng quốc gia Ngoài ra, rất nhiều các tài liệu nghiên cứu cũng được đăng trên mạng Internet và đây cũng được coi là một nguồn cung cấp thông tin quan trọng Cũng cần lưu ý là không phải tài liệu nghiên cứu nào cũng có thể thu thập miễn phí Nhiều công ty chuyên về nghiên cứu mang tính thương mại thực hiện và bán những kết quả và báo cáo nghiên cứu của mình Các kết quả nghiên cứu này thường có
Trang 29phạm vi rộng và sâu, độ tin cậy cao và kinh phí để mua thông tin đó rẻ hơn so với việc tự nghiên cứu
- Tin tức tình báo: Khái niệm tin tức tình báo ở đây đơn giản có nghĩa là biết
được cái gì đang xảy ra và cái gì không thể tìm thấy nếu chỉ nghiên cứu tài liệu Ví
dụ, để biết người ta đang lo ngại về cái gì, họ đang gặp những khó khăn gì, ai đang làm gì, ai đang lên kế hoạch cho cái gì, đối thủ cạnh tranh đang làm gì và những xu hướng nào nhiều khả năng sẽ xảy ra trong tương lai Điều này liên quan đến bước thứ hai trong nghiên cứu thị trường - xác định cái gì đang xảy ra? Người ta sẽ phải theo dõi toàn bộ những gì có ảnh hưởng tới thị trường, tức là phải bắt được mạch đập và dõi theo hơi thở của thị trường
Để có được những tin tức tình báo giá trị về một vấn đề nào đó phải dựa trên những nguồn thông tin chính xác và thường xuyên Điều đó không thể tự nhiên có
mà cần phải có một mạng lưới các mối quan hệ bền vững Ví dụ, người ta cần phải:
· Không chỉ đọc các báo liên quan đến kinh doanh du lịch mà còn phải giữ liên hệ thường xuyên với các phóng viên viết bài
· Quan hệ với các hãng điều hành tour và đại lý lữ hành hàng đầu
· Quan hệ với các hãng hàng không và khách sạn hàng đầu
· Thường xuyên tham khảo ý kiến của các hiệp hội trong ngành du lịch
và hội người tiêu dùng
· Trao đổi với các nhà văn hàng đầu chuyên viết bài về du lịch
· Tích cực tham gia các tổ chức du lịch và lữ hành quốc tế
· Tham gia các hội nghị, cuộc họp trong nước và quốc tế về du lịch
· Duy trì quan hệ với các khoa du lịch cũng như các trung tâm nghiên cứu của các trường đại học
· Theo sát các điểm đến khác, so sánh các số liệu thống kê và xu hướng phát triển
Trang 30Thông tin đến với chúng ta rất vụn vặt, không có hệ thống, tương tự như các miếng ghép trong chò trơi xếp hình được tung lên bàn một cách ngẫu nhiên Vì vậy, thông tin cần phải được sắp xếp lại một cách có hệ thống, phải được cân nhắc và phân tích thấu đáo Ngoài ra, những thông tin tình báo tốt sẽ giúp đưa ra những ý tưởng mới và những nhận định chính xác
- Điều tra khách du lịch: Để thực hiện nghiên cứu thị trường một cách hiệu
quả cần phải xây dựng một cơ sở dữ liệu về khách du lịch với những thông tin cơ bản về đối tượng khách, động cơ đi du lịch, mức độ thỏa mãn của họ đối với các dịch vụ du lịch đồng thời phải liên tục cập nhật cơ sở dữ liệu này Nhìn chung, một số thông tin có thể thu thập thông qua nghiên cứu tài liệu, số liệu của các công
ty quảng cáo, các nguồn thông tin marketing khác hay các hãng điều hành tour và các chi nhánh của các đơn vị kinh doanh du lịch Những thông tin khác có thể thu thập trên cơ sở điều tra khách du lịch
Việc điều tra khách du lịch thường được thực hiện tại điểm đến của du khách Việc điều tra khách thường sử dụng các bảng hỏi hoặc kết hợp các cuộc phỏng vấn Những thông tin thường được thu thập và phân tích thông qua điều tra khách là các dữ liệu về tiểu sử khách, các đặc điểm, giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân gia đình, các sở thích và mức chi tiêu; các hãng điều hành tour
và đại lý lữ hành mà khách sử dụng, lý do đi du lịch, tham quan, các nước đã đi du lịch, độ dài lưu trú, độ dài chuyến đi, mức giá trọn gói và chi phí trung bình hàng ngày trong chuyến đi, tỉ lệ khách quay lại, các điểm hấp dẫn và địa điểm khách tới tham quan, chất lượng của các nguồn thông tin phục vụ khách du lịch, chất lượng dịch vụ của các hãng hàng không, cơ sở lưu trú, thực phẩm, đồ uống, giao thông tại điểm đến và các thu tục nhập xuất cảnh Bên cạnh việc sử dụng bảng hỏi có thể phỏng vấn khách du lịch câu hỏi thường được đưa ra là đề nghị khách mô tả về cái
gì tốt, cái gì không tốt trong chuyến du lịch của họ Khi được hỏi về vấn đề này, khách du lịch thường có xu hướng nêu ra những vấn đề hoặc là vượt quá hoặc là
Trang 31không đáp ứng được kỳ vọng của họ Những vấn đề khác họ thường không có ý kiến và ta coi là chấp nhận được
Việc điều tra khách du lịch có thể do cơ quan du lịch quốc gia thực hiện hoặc thông qua các tổ chức chuyên nghiên cứu về vấn đề này làm dịch vụ Các công ty
du lịch, hãng hàng không và các khách sạn cũng có thể tự mình thực hiện điều tra khách du lịch Việc điều tra khách du lịch phải giúp phân định được các phân đoạn thị trường nhất định Những khác biệt giữa các dân tộc, khác biệt về tuổi tác, văn hóa và khả năng chi tiêu của họ sẽ được làm rõ thông qua việc điều tra khách du lịch Các hoạt động điều tra khác như lựa chọn của khách du lịch khi mua sắm, động cơ và sức hấp dẫn của các thông tin quảng cáo thường phải dựa trên những mẫu bảng hỏi có kết cấu một cách cẩn trọng như các mẫu điều tra nhỏ, phỏng vấn sâu, trao đổi theo nhóm và hướng vào các đối tượng tương ứng Công việc này đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao nên thường do các đơn vị chuyên nghiên cứu về thị trường thực hiện
- Nghiên cứu hoạt động của các hãng điều hành tour: Công việc này có vai
trò quan trọng trong nghiên cứu thị trường Người ta thường cố gắng đánh giá vai trò mà các hãng điều hành tour đang nắm giữ cũng như số lượng khách du lịch mà
họ phục vụ Việc nghiên cứu này không chỉ liên quan đến cả các hãng điều hành tour nước ngoài mà cả các nhà điều hành tour trong nước hợp tác kinh doanh với các hãng nước ngoài Không phải lúc nào cũng có thể nghiên cứu tổng thể trên diện rộng tất cả các hãng điều hành tour trong nước và nước ngoài Vì vậy, người ta thường tập trung vào những hãng điều hành tour lớn (ví dụ như 10 hãng điều hành tour hàng đầu), sử dụng những kết quả thu được để khái quát hóa thành một bức tranh tổng thể Ngoài ra, cần tham khảo các thông tin trên cơ sở những ý kiến trao đổi từ các diễn đàn doanh nghiệp, những nhận định, đánh giá từ các ấn phẩm, tài liệu quảng bá
Trang 32- Tham khảo các hệ thống thông tin: Trong du lịch, những tiến bộ về việc thu
thập tin tức tình báo kết hợp với các số liệu thống kê du lịch, với việc đánh giá được các tài nguyên du lịch và những vấn đề khác trong nghiên cứu thị trường, toàn bộ những yếu tố đó kết hợp lại tạo nên một cơ sở dữ liệu về du lịch tổng hợp hay còn gọi là hệ thống thông tin du lịch Hệ thống thông tin du lịch thường do cơ quan du lịch quốc gia quản lý vận hành và thường do đơn vị chuyên trách về số liệu thống
kê xây dựng Hệ thống này thường bao gồm những thông tin cơ bản và các dữ liệu
về kinh tế của điểm đến, đánh giá tài nguyên du lịch, các số liệu thống kê liên quan đến du lịch và kết quả của các cuộc điều tra khách du lịch và các cuộc điều tra khác
Kết luận: Chương 1 đã đưa ra những nội dung cơ bản mang tính lý luận về
nghiên cứu thị trường du lịch Bên cạnh việc hệ thống hóa những khái niệm về thị trường nói chung và thị trường du lịch nói riêng, các tiêu chí phân loại thị trường du lịch cũng như mối quan hệ giữa các yếu tố cung và cầu trong thị trường du lịch, chương này còn làm nổi bật tầm quan trọng của việc phân tách một thị trường du lịch cần nghiên cứu thành những phân đoạn thị trường theo các tiêu chí nhất định Đây có thể coi là phương pháp hiệu quả nhất để phân biệt các đối tượng khách khác nhau, từ đó xác định được chính xác các đối tượng khách hàng mục tiêu, khách hàng tiềm năng của một điểm đến cho từng giai đoạn cụ thể
Ngoài ra, chương 1 cũng đã hệ thống hóa được những nội dung cơ bản về nghiên cứu thị trường du lịch, trong đó nhấn mạnh việc xác định mục đích, các bước và nội dung cơ bản trong nghiên cứu thị trường cũng như các phương pháp thường sử dụng để thu thập thông tin phục vụ cho công tác nghiên cứu thị trường
Đây chính là những cơ sở lý luận cần thiết để định hướng cho việc thu thập thông tin, điều tra xã hội học trong quá trình nghiên cứu, đồng thời cũng là phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong quá trình đưa ra các đánh giá, nhận định về thị trường khách du lịch các nước Bắc Âu đi du lịch nước ngoài và đến Việt Nam trong chương 2
Trang 33Chương 2 NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG KHÁCH BẮC ÂU ĐI DU LỊCH
NƯỚC NGOÀI VÀ ĐẾN VIỆT NAM 2.1 Tổng quan tình hình kinh tế, chính trị và xã hội các nước Bắc Âu
Khái niệm “các nước Bắc Âu” (tiếng Anh là Nordic countries) được dùng chung để chỉ 5 quốc gia nằm ở phía Bắc châu Âu gồm Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan và Ai-xơ-len, với các vùng lãnh thổ bán tự trị (như quần đảo Pharoe
hay Greenland ) Tên gọi Scandinavia, về mặt địa lý ám chỉ bán đảo bao gồm 2
quốc gia là Na Uy và Thụy Điển và phía Bắc của Phần Lan, trước đây thường bị hiểu nhầm là tên gọi cho toàn bộ các nước Bắc Âu, tuy nhiên nay ít được sử dụng
để tránh nhầm lẫn Ngoài việc có chung nguồn gốc lịch sử, từ thế kỷ 20 trở lại đây,
cả 5 nước Bắc Âu này đều phát triển theo mô hình chính trị và kinh tế tương tự nhau, còn gọi là hệ thống phúc lợi xã hội Bắc Âu Do Ai-xơ-len là một quốc gia chỉ
có 300.000 dân, đồng thời cũng không nằm trong giới hạn phạm vi nghiên cứu nên khái niệm “các nước Bắc Âu” trong Luận văn này được hiểu là gồm 4 nước Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển và Phần Lan
Hình 2.1 Bản đồ các nước Bắc Âu
Nguồn: http://www.paises-nordicos.com/
Trang 34Về kinh tế, các nước Bắc Âu đều là những nước công nghiệp hóa và nền kinh tế phát triển ở mức độ cao Đây cũng là khu vực có sản lượng xuất khẩu thép, giấy và gỗ vào loại lớn nhất trên thế giới Trong một thời gian dài, sự phát triển kinh
tế ở các nước Bắc Âu được duy trì một cách ổn định Mặc dù trong vòng hơn 1 năm lại đây và đặc biệt là giai đoạn cuối năm 2008, do ảnh hưởng của khủng hoảng tín dụng, tài chính toàn cầu nên tăng trưởng kinh tế của khu vực này được dự báo sẽ chậm lại trong các năm 2008 và 2009, nhưng sẽ sớm phục hồi tăng trở lại từ năm
2010 Trong khi tỉ lệ lạm phát thời gian gần đây tăng mạnh trên phạm vi toàn cầu đòi hỏi các chính phủ phải áp dụng nhiều biện pháp cấp bách để kìm hãm lạm phát
và thúc đẩy phát triển kinh tế thì ở khu vực Bắc Âu đây không phải là vấn đề đặc biệt nghiêm trọng và hoàn toàn trong tầm kiểm soát với mức lạm phát trung bình chỉ dưới 4%, trong khi tỉ lệ dự trữ ngoại hối của họ tiếp tục được duy trì ở mức thặng dư cao nên vẫn đảm bảo tâm lý lạc quan cho người tiêu dùng Chính vì vậy, chỉ số tiêu dùng cá nhân trong năm 2008 tại các nước Bắc Âu vẫn gia tăng, khi người dân tiếp tục mua sắm xe hơi, các vật dụng gia đình, đồ điện tử và đầu tư vào bất động sản
Về yếu tố lịch sử, các nước Bắc Âu nhìn chung có sự liên kết rất mật thiết Ngoài Phần Lan, các nước còn lại đều có chung nguồn gốc tộc người và ngôn ngữ (người Phần Lan có nguồn gốc từ các bộ lạc châu Á tới vùng đất này xâm chiếm từ thời tiền sử) Lịch sử của họ cũng có những cuộc chiến tranh và mâu thuẫn, tuy nhiên hiện tại các nước Bắc Âu đang có quan hệ rất mật thiết với nhau Một số nước thể hiện sự liên kết thông qua các thể chế, tổ chức như như Liên minh châu Âu (EU), Liên minh thuế quan hay khối NATO v.v
Về mặt chính trị và xã hội, trong thời gian vừa qua, đặc biệt là giai đoạn 2007-2008, các nước Bắc Âu luôn duy trì được sự ổn định của mỗi nước cũng như toàn khu vực Trong suốt hơn 50 năm dưới chế độ dân chủ xã hội, thách thức chính trị xã hội chủ yếu của khu vực này là khả năng đảm bảo sự cân bằng giữa một hệ thống phúc lợi xã hội mà mọi người đều tôn sùng và các chi phí kinh tế xã hội tốn
Trang 35kém để duy trì hệ thống đó Sự mất cân bằng này sẽ ảnh hưởng đến xu hướng tiêu dùng của người dân Bắc Âu và tất nhiên là ảnh hưởng dòng khách đi du lịch nước ngoài từ khu vực này Một ví dụ điển hình là tại Thụy Điển vào các năm 2005 và
2006, do không đạt được sự cân bằng này mà lượng khách Thụy Điển đi du lịch nước ngoài đường dài đã giảm tới gần 20%, trong khi đó họ lại chi tiêu nhiều hơn đến 30% cho việc trang trí nội thất, nhà cửa
2.2 Các yếu tố tạo cầu du lịch của thị trường khách Bắc Âu
2.2.1 Sự phát triển của nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người của
thị trường Bắc Âu
Các quốc gia thuộc khu vực Bắc Âu là các nước công nghiệp phát triển Đây cũng là một trong những khu vực có mức sống cao nhất trên thế giới Tổng quan về tình hình phát triển kinh tế của từng nước Bắc Âu có thể tóm tắt như sau:
Thụy Điển: Nằm ở phía đông bán đảo Scandinavia, Thụy Điển trở thành một
quốc gia thống nhất vào thế kỷ XI Năm 1397 sát nhập với Đan Mạch và Na Uy dưới sự thống trị của Đan Mạch Thế kỷ VI - XVII là thời kỳ cực thịnh của Thụy Điển Trong hai cuộc chiến tranh thế giới, Thụy Điển luôn là nước trung lập
Thụy Điển là một quốc gia có mức độ công nghiệp hóa cao, là một trong những nước có mức sống cao nhất trên thế giới Người dân Thụy Điển đạt được mức sống cao như hiện nay là do hệ thống hỗn hợp giữa chủ nghĩa tư bản công nghệ cao và một chế độ phúc lợi xã hội ở mức độ cao Trong năm 2008, Thụy Điển cũng đang tích cực xem xét khả năng tham gia Liên minh tiền tệ châu Âu Theo dự báo thì tăng trưởng kinh tế của Thụy Điển sẽ ở mức 1,0% trong năm 2008 và giảm xuống 0,6% vào năm 2009 do suy giảm xuất khẩu Tỉ lệ lạm phát năm 2008 dự kiến
là 3,8% nhưng sẽ giảm xuống 2,6% vào năm 2009 Mức tiêu dùng cá nhân được dự báo sẽ tăng từ mức 2,9% năm 2007 lên 3,2% năm 2008 Theo thống kê hiện nay thì
Trang 36tiền gửi tiết kiệm của người dân Thụy Điển đã tăng lên mức cao nhất trong vòng 3 năm gần đây [20]
Na Uy: Nằm ở miền Bắc châu Âu với nhiều cao nguyên, nhiều dãy núi và
vùng băng tuyết Vương quốc Na Uy thống nhất được thành lập vào thế kỷ thứ IX, sau đó đến thế kỷ XIV sát nhập với Đan Mạch Năm 1814, Đan Mạch nhường vùng đất Na Uy cho Thụy Điển và mãi đến năm 1905 Na Uy mới tuyên bố độc lập
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Na Uy là cao nhất trong các nước Bắc Âu Nền kinh tế phát triển mạnh trên cơ sở chủ nghĩa tư bản phúc lợi, là sự kết hợp giữa các hoạt động kinh tế tự do và sự tham gia của Chính phủ Nền kinh tế của Na Uy chuyển đổi vào những năm 60 của thế kỷ trước sau khi phát hiện những mỏ dầu và khí đốt lớn ở khu vực Biển Bắc và Biển Na Uy Xuất khẩu dầu mỏ và khí đốt chiếm 40% doanh số xuất khẩu hàng năm của Na Uy Mặc dù có tỉ lệ thu nhập trên đầu người và chế độ phúc lợi xã hội rất cao nhưng người dân Na Uy vẫn đang lo lắng về tương lai của mình vì những mỏ dầu và khí đốt không phải là vĩnh cửu Triển vọng kinh tế trong năm 2008 của Na Uy là tương đối tốt, tuy nhiên, tăng trưởng GDP dự kiến sẽ giảm từ 4,9% năm 2007 xuống 2,5% năm 2008 Ngoài ra, tỉ lệ lãi suất cho vay tăng như hiện nay có thể sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến mức độ tiêu dùng của người dân trong các năm 2008 và 2009
Đan Mạch: Là một trong những nước cổ nhất châu Âu, nối giữa lục địa châu
Âu và bán đảo Scandinavia Năm 985 Đan Mạch hình thành một quốc gia thống nhất Năm 1397 sát nhập với Thụy Điển và Na Uy dưới sự thống trị của Đan Mạch Trong hai cuộc đại chiến thế giới, Đan Mạch luôn ở phe trung lập Năm 1940, Đan Mạch bị quân Đức chiếm đóng, năm 1945 Đan Mạch khôi phục lại nền độc lập
Trước đây Đan Mạch là một nước nông nghiệp do nằm ở khu vực khá thấp
so với mực nước biển Tuy nhiên, sau năm 1945, Đan Mạch phát triển mạnh theo hướng công nghiệp hóa và nay trở thành một nước có nền kinh tế thị trường hiện đại với ngành nông nghiệp áp dụng công nghệ cao, phát triển một số ngành công
Trang 37nghiệp quy mô nhỏ nhưng rất tiên tiến Chính phủ Đan Mạch hiện duy trì một hệ thống phúc lợi xã hội và mức sống rất cao cho người dân và nhiều khả năng sẽ bỏ phiếu để chính thức tham gia đồng tiền chung châu Âu một cách toàn diện Dự báo cho thấy tình hình phát triển kinh tế của Đan Mạch là “u ám” nhất trong số các nước Bắc Âu, với tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2008 chỉ là 0,5% và giảm xuống 0,3% vào năm 2009, trong khi đó tỉ lệ lạm phát tương ứng là 3,5% và 2,5% và tiêu dùng
cá nhân cũng đang có dấu hiệu suy giảm do lãi xuất ngân hàng tăng cao Tuy nhiên, tương tự như các nước khác trong khu vực Bắc Âu, Đan Mạch cũng được dự báo sẽ lấy lại đà tăng trưởng từ năm 2010 với mức tăng trưởng 1,2% lên 1,5% vào năm
2012 trong khi tỉ lệ lạm phát sẽ giảm tương ứng từ 2,1% xuống 1,8%
Bảng 2.1 Dự báo tốc độ tăng trưởng GDP và tỉ lệ lạm phát các nước Bắc Âu
Nguồn: Economist Intelligence Unit Country Forecasts, 2008
Phần Lan: Nằm ở phía Bắc châu Âu, với 2/3 diện tích là rừng Từ năm 1155
-1809, Phần Lan nằm dưới sự cai trị của Thụy Điển Năm 1809 Phần Lan trở thành một nước thuộc chế độ Nga hoàng Năm 1917 Phần Lan giành được độc lập Trong chiến tranh thế giới lần thứ 2, Phần Lan tham gia tác chiến với Liên Xô Năm 1995 Phần Lan ra nhập Liên minh châu Âu (EU)
Trang 38Kể từ sau thế chiến thứ 2, ngành công nghiệp chế tạo của Phần Lan đã thay thế nông nghiệp để trở thành lĩnh vực chủ đạo trong nền kinh tế Phần Lan hiện nay
là một nước công nghiệp hóa, một nền kinh tế thị trường mạnh và thu nhập bình quân đầu người ngang với các nước phát triển như Anh, Pháp, Đức và Ý Tăng trưởng GDP năm 2008 được dự báo sẽ giảm nhẹ so với đỉnh điểm 4,9% năm 2006 nhưng vẫn ở giữ được mức tăng khá tốt là 2,4%/năm Dự báo mức tiêu dùng xã hội
và đầu tư ở Phần Lan sẽ chậm lại Ngoài ra, tỉ lệ lãi suất gia tăng và các khoản nợ sẽ kìm hãm sự tăng trưởng của tiêu dùng xã hội trong trung hạn
Nếu nhìn vào mức thu nhập bình quân đầu người thì người dân Bắc Âu có mức thu nhập vào loại cao nhất trên thế giới, khoảng 148 tỉ USD/năm Nếu chỉ dành khoảng 10% thu nhập cho việc đi du lịch thì ngân sách đi du lịch của thị trường này
đã gần 15 tỉ USD Số lượng triệu phú (đô la Mỹ) ở các nước Bắc Âu cũng đang tăng lên Theo số liệu thống kê năm 2006, số lượng triệu phú ở Thụy Điển đã tăng lên 9% (48.500 người), ở Na Uy tăng 9,7% (54.810 người), ở Đan Mạch tăng 4% (34.520 người) và ở Phần Lan tăng 8,1% (23.900 người) [27] Chỉ tính riêng Thụy Điển từ năm 1999 đến 2006 thì số lượng triệu phú đã tăng gấp đôi với gần 1,6 triệu người [21] Với hàng chục triệu người có thu nhập cao, hàng triệu người giàu có, rõ ràng khu vực Bắc Âu là một thị trường gửi khách có khả năng chi trả rất cao mà bất
kỳ một điểm đến nào trên thế giới cũng mong muốn có thể tiếp cận và khai thác
2.2.2 Đặc điểm nhân khẩu học của các nước Bắc Âu
Tổng dân số các nước Bắc Âu hiện nay là trên 24 triệu người, sinh sống trên một diện tích khoảng 1,26 triệu km2 Mật độ dân cư ở khu vực Bắc Âu là rất thấp (khoảng 19 người/km2), với đặc điểm là số lượng các khu đô thị không nhiều và nằm tương đối xa nhau Theo thống kê mới nhất thì khoảng trên 77% dân số Bắc
Âu sống ở các khu đô thị và 28% dân số sống tập trung tại 25 thành phố có dân số trên 100.000 người Các khu vực có mật độ dân số cao tập trung ở Đan Mạch và phần lãnh thổ từ phía Nam của Thụy Điển lên đến khu vực xung quanh thủ đô Oslo
Trang 39của Na Uy, cũng như các khu vực xung quanh thủ đô Stockholm của Thụy Điển và Helsinki của Phần Lan
Bảng 2.2 Phân bổ dân số ở một số thành phố lớn của các nước Bắc Âu
Nguồn: WARC European Marketing Pocket Book 2007
Theo thống kê thì độ tuổi trung bình của người dân Bắc Âu hiện nay là 39
Sự khác biệt giữa các nước Bắc Âu về độ tuổi trung bình là không lớn Tỉ lệ dân số dưới 35 tuổi là tương đương nhau (Thụy Điển 42%, Đan Mạch 43%, Phần Lan 42%
và là Na Uy 45%) Bên cạnh đó, do tỉ lệ gia tăng dân số rất thấp (trung bình các nước Bắc Âu là 2,6/1000) trong khi đó tuổi thọ trung bình lại tăng lên (nam giới là 82,6 và nữ giới là 83,2) nên có thể nhận thấy dân số các nước Bắc Âu đang ngày một già đi Hiện nay, số người ở độ tuổi từ 65 trở lên chiếm khoảng 16% tổng dân
số các nước khu vực Bắc Âu Tỉ lệ này được dự báo sẽ còn tăng lên đến 19,7% vào
Trang 40năm 2010 và 24% vào năm 2050, đồng thời nhóm tuổi từ 45 trở lên được dự báo sẽ tăng 48% trong khi đó dân số ở độ tuổi lao động từ 14 - 44 sẽ giảm đi
Biểu đồ 2.1 Tỉ lệ các nhóm tuổi hiện nay ở khu vực Bắc
guồn: WARC European Marketing Pocket Book 2007
Biểu đồ 2.2 Quy mô gia đình các nước Bắc
Âu
Nguồn: WARC European Marketing Pocket Book 2007