1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu điều kiện để phát triển loại hình du lịch chữa bệnh bằng nước khoáng (Tại một số điểm suối khoáng ở trung du & duyên hải Bắc Bộ

106 971 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

4 Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề sau: - Nghiên cứu loại hình du lịch chữa bệnh: đặc điểm, quy trình khai thác, các nhân tố tác động… - Tìm hiểu điều kiện để phát triển loại hình du

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN MẠNH CƯỜNG

NGHIÊN CỨU ĐIỀU KIỆN ĐỂ PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH

DU LỊCH CHỮA BỆNH BẰNG NƯỚC KHOÁNG

(Tại một số điểm suối khoáng ở trung du & duyên hải Bắc Bộ)

Chuyên ngành: Du lịch (Chương trình đào tào thí điểm)

LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN MẠNH TY

Hà Nội, 2011

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Nội dung, bố cục của đề tài 4

Chương 1: DU LỊCH CHỮA BỆNH BẰNG NƯỚC KHOÁNG 5

1.1 Một số vấn đề lý luận về du lịch chữa bệnh 5

1.1.1 Quan niệm về du lịch chữa bệnh 5

1.1.2 Hình thức, đặc điểm của du lịch chữa bệnh 6

1.1.2.1 Các hình thức du lịch chữa bệnh 6

1.1.2.2 Đặc điểm của du lịch chữa bệnh 8

1.1.3 Nguồn lực để phát triển du lịch chữa bệnh 10

1.1.4 Du lịch chữa bệnh trên thế giới và ở Việt Nam 14

1.1.4.1 Xu hướng phát triển du lịch chữa bệnh trên thế giới 14

1.1.4.2 Du lịch chữa bệnh ở một số quốc gia trên thế giới 16

1.1.4.3 Du lịch chữa bệnh ở Việt Nam 19

1.2 Du lịch chữa bệnh bằng nước khoáng 22

1.2.1 Khái quát về nước khoáng có tác dụng chữa bệnh 22

1.2.1.1 Nước khoáng và bùn khoáng 22

1.2.1.2 Các nhóm nước khoáng có tác dụng chữa bệnh 25

1.2.2 Vài nét về Du lịch chữa bệnh bằng nước khoáng ở Việt Nam 30

Chương 2: ĐIỀU KIỆN VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH CHỮA BỆNH BẰNG NƯỚC KHOÁNG 33

2.1 Vài nét về khu vực trung du và duyên hải Bắc Bộ 33

2.2 Điều điện phát triển du lịch chữa bệnh tại một số điểm suối khoáng ở trung du và duyên hải Bắc Bộ 35

2.2.1 Suối nước khoáng nóng Tiên Lãng (Hải Phòng) 35

2.2.1.1 Vài nét về suối nước khoáng nóng Tiên Lãng 35

Trang 3

2.2.1.2 Hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật 38

2.2.1.3 Nguồn nhân lực 40

2.2.2 Suối nước khoáng Thanh Thủy (Phú Thọ) 42

2.2.2.1 Vài nét về suối nước khoáng Thanh Thủy 42

2.2.2.2 Hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật 43

2.2.2.3 Nguồn nhân lực 46

2.3 Thực trạng phát triển du lịch chữa bệnh bằng nước khoáng tại một số điểm suối khoáng ở trung du và duyên hải Bắc Bộ 48

2.3.1 Sản phẩm, dịch vụ phục vụ du lịch chữa bệnh 48

2.3.2 Một số chương trình du lịch chữa bệnh bằng nước khoáng 52

2.3.2.1 Chương trình du lịch chữa bệnh bằng nước khoáng (tại điểm suối khoáng) 52

2.3.2.2 Chương trình du lịch chữa bệnh bằng nước khoáng kết hợp với hoạt động du lịch khác 55

2.3.3 Công tác xúc tiến, quảng bá sản phẩm, dịch vụ du lịch chữa bệnh bằng nước khoáng 58

2.3.4 Nguồn khách 59

2.3.5 Doanh thu 63

2.4 Đánh giá chung 67

2.4.1 Thuận lợi 67

2.4.2 Hạn chế 69

2.4.3 Nguyên nhân 71

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH CHỮA BỆNH BẰNG NƯỚC KHOÁNG 76

3.1 Căn cứ đề xuất 76

3.1.1 Định hướng phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020 76

3.1.2 Sự phát triển của loại hình du lịch chữa bệnh 79

3.1.3 Nhu cầu chữa bệnh bằng nước khoáng của khách du lịch 81

3.2 Một số giải pháp phát triển loại hình du lịch chữa bệnh bằng nước khoáng (tại một số điểm suối khoáng ở trung du và duyên hải Bắc Bộ) 82

3.2.1 Tổ chức mô hình phát triển loại hình du lịch chữa bệnh hiệu quả 82

Trang 4

3.2.2 Nâng cao hệ thống hạ tầng cơ sở, cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ

du lịch chữa bệnh ở điểm suối khoáng 83

3.2.3 Về sản phẩm du lịch chữa bệnh bằng nước khoáng 85

3.2.4 Thiết kế, xây dựng chương trình du lịch chữa bệnh ở điểm suối khoáng 87

3.2.5 Về công tác xúc tiến, quảng bá 89

3.2.6 Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực 90

3.2.7 Bảo vệ tài nguyên du lịch 91

KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 5

1

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong sự phát triển khoa học kỹ thuật hiện nay, nhiều chỉ tiêu phản ánh chất lượng cuộc sống của con người được cải thiện đáng kể, tuy nhiên theo đó cũng là những hệ quả không thể tránh khỏi như: ô nhiễm môi trường, những căn bệnh mới do cuộc sống hiện đại mang đến Cuộc sống phát triển với tốc

độ nhanh khiến cho sức ép từ nhiều mặt đến với con người ngày càng nhiều,

và nhu cầu giải toả những căng thẳng, mệt mỏi đang trở thành một nhu cầu phổ biến Đi du lịch là một trong những cách thức hữu hiệu nhất có thể giúp con người thoả mãn được nhu cầu đó Du khách đi du lịch không phải chỉ để

mở rộng hiểu biết, giao lưu văn hoá… mà còn để phục hồi sức khoẻ, chữa bệnh, mang lại sự thoải mái cả về thể chất lẫn tinh thần Đây chính là điều kiện để nhiều loại hình du lịch mới ra đời, trong đó loại hình du lịch sức khoẻ,

du lịch chữa bệnh đang thịnh hành ở nhiều quốc gia trên thế giới

Theo các nhà hoạch định chính sách du lịch, tiềm năng phát triển của

du lịch chữa bệnh ở châu Á là rất lớn Thêm vào đó, người bệnh còn có cảm giác được chăm sóc tận tình, thân thiện, khiến chuyến đi chữa bệnh trở nên hấp dẫn cho nhiều du khách Ước tính, năm 2007, du lịch chữa bệnh đã mang lại cho các nước châu Á 1,6 tỉ USD Bên cạnh nguồn thu trực tiếp từ các dịch

vụ khám chữa bệnh, du lịch chữa bệnh còn được coi là một hình thức quảng cáo và kéo dài thêm thời gian lưu trú của du khách và làm tăng đáng kể thu nhập cho ngành kinh tế mũi nhọn mới ở nhiều nước

Việt Nam được đánh giá là nơi có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch chữa bệnh Theo đài BBC của Anh, ở Việt Nam khái niệm du lịch chữa bệnh tuy còn mới, nhưng đã thu hút không ít khách nước ngoài Tuy nhiên, vấn đề khai thác còn chưa tương xứng với tiềm năng thực tế, thậm chí hiện nay vẫn còn thật khó có thể xác định hiện nay chúng ta đang ở giai đoạn phát triển nào

Trang 6

phát triển loại hình du lịch chữa bệnh bằng nước khoáng, cũng như các biện pháp để thúc đẩy khai thác loại hình này ở một số địa phương thuộc trung du

và duyên hải Bắc Bộ ở nước ta

Nghiên cứu tại một số điểm suối khoáng ở trung du & duyên hải Bắc

Bộ vì tại hai điểm này có điều kiện về hệ thống cơ sở hạ tầng, giao thông đi lại thuận tiện, gần với các điểm di tích lịch sử và thu hút khách du lịch nước ngoài đến thăm quan và nghỉ dưỡng ( đặc biệt là khách Hàn Quốc)

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Trên thế giới, Du lịch chữa bệnh đã có những dấu hiệu phát triển từ rất

sớm Đã có một số cuốn sách viết về loại hình này như: “ Du lịch sức khoẻ:

Lý luận và thực tiễn - Nghiên cứu ví dụ Hàn Quốc và Nhật Bản” của tác giả

Kan Su Gyong (2003) Cuốn sách đã nêu được quá trình hình thành loại hình

du lịch sức khoẻ, chủ thể của du lịch sức khoẻ và đưa ra hai ví dụ cụ thể là Hàn Quốc và Nhật Bản Ngoài ra, cũng có nhiều bài báo, tạp chí viết về vấn

đề này nhưng chỉ đưa ra những thông tin sơ lược về loại hình du lịch sức khoẻ hoặc về một số quốc gia, điểm du lịch chữa bệnh, chưa có tính khái quát và tổng hợp cao Việc tham khảo các đề tài này là rất có ích nhưng khi áp dụng cho thực tế vào điều kiện của Việt Nam thì còn nhiều khó khăn

Tại Việt Nam, cuốn sách đầu tiên viết về loại hình du lịch này là “Du lịch sức khoẻ” của Giáo sư Phan Văn Duyệt (Nhà xuất bản Y học Hà Nội,

năm 1999) Tác giả đã chỉ ra được những tiềm năng cơ bản trong việc phát triển loại hình du lịch chữa bệnh tại Việt Nam Tuy nhiên, lại chưa đề cập đến

Trang 7

Tháng 5/2008, nhóm tác giả của Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội có nghiên cứu và báo cáo đề tài khoa học cấp bộ về “ Thực trạng và giải pháp đẩy mạnh loại hình chữa bệnh tại Việt Nam” ( Do TS.Nguyễn Mạnh Ty – Chủ nhiệm đề tài) nhưng chưa thật đi sâu vào chi tiết cho từng vùng, miền như ở ( trung du & duyên hải Bắc Bộ) và chưa phân tích sâu đối với từng loại hình,

cụ thể là riêng cho nước khoáng

3 Mục đích nghiên cứu

- Tìm hiểu về tiềm năng, thực trạng, chỉ ra những khó khăn, hạn chế…

để từ đó đưa ra những biện pháp hợp lý trong việc thúc đẩy khai thác một cách có hiệu quả tiềm năng về nước khoáng phục vụ cho loại hình du lịch chữa bệnh ở một số địa phương thuộc trung du và duyên hải Bắc Bộ

- Đề ra các kiến nghị, giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển du lịch thông qua các loại hình du lịch chữa bệnh

- Qua việc nghiên cứu vấn đề này, tôi hy vọng sẽ góp phần đưa ra một

số thông tin cơ bản và tổng hợp cho người đọc có cái nhìn tổng quan về du lịch chữa bệnh ở nước ta nói chung, có thể góp phần quảng bá về một loại hình du lịch mới giàu tiềm năng này của Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu:

Trang 8

4

Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề sau:

- Nghiên cứu loại hình du lịch chữa bệnh: đặc điểm, quy trình khai thác, các nhân tố tác động…

- Tìm hiểu điều kiện để phát triển loại hình du lịch chữa bệnh bằng nước khoáng tại một số điểm suối khoáng ở trung du và duyên hải Bắc Bộ

- Phân tích đánh giá thực trạng, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác loại hình du lịch chữa bệnh này ở Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp điền dã, khảo sát thực tế

- Phương pháp thu thập thông tin (qua sách vở, các phương tiện thông tin, phỏng vấn)

- Phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, xử lý thông tin, đưa ra ý tưởng, giải pháp

6 Nội dung, bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được kết cấu gồm 3 chương: Chương 1: Du lịch chữa bệnh bằng nước khoáng

Chương 2: Điều kiện và thực trạng phát triển loại hình du lịch chữa

bệnh bằng nước khoáng tại một số điểm suối khoáng ở trung du và duyên hải Bắc Bộ

Chương 3: Một số giải pháp phát triển loại hình Du lịch chữa bệnh

bằng nước khoáng tại một số điểm suối khoáng ở trung du và duyên hải Bắc

Bộ

Trang 9

5

Chương 1: DU LỊCH CHỮA BỆNH BẰNG NƯỚC KHOÁNG

1.1 Một số vấn đề lý luận về du lịch chữa bệnh

1.1.1 Quan niệm về du lịch chữa bệnh

Du lịch được hiểu "Là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”

Trên thế giới, hoạt động di chuyển khỏi nơi cư trú thường xuyên đến những nơi khác với mục đích chữa bệnh đã được hình thành phổ biến trong giới thượng lưu từ thời cổ đại Theo các kết quả nghiên cứu, hoạt động trên còn hình thành trước hoạt động du lịch, bằng những hình thức sử dụng các nguồn suối nước nóng, các loại cây thuốc mục đích giải tiêu những mệt nhọc cho các chiến binh từ thời cổ xưa đã được thỏa mãn Loại hình du lịch chữa bệnh được cho là đã bắt đầu và trở thành phổ biến trên cơ sở các hình thức tắm các suối nước nóng, từ sự hình thành lên loại hình thành phố suối nước nóng (Spa city) hoặc sau này trở thành những khu nghỉ dưỡng gắn với chữa bệnh ở nhiều nước trên thế giới như Thổ Nhĩ Kỳ, Thuỵ Sĩ, Đức, Nhật Bản…

Khi giá trị cuộc sống đã được nâng lên rất nhiều so với trước đây, cùng với những tiến bộ của khoa học kỹ thuật được áp dụng trong ngành y tế, sức khoẻ cộng đồng được chăm sóc tốt hơn Tỷ lệ người cao tuổi ở nhiều nước đang có chiều hướng gia tăng, đặc biệt là những nước tiên tiến trên thế giới như: Nhật Bản, Đức, Pháp Vấn đề sức khoẻ ngày càng được quan tâm dưới nhiều hình thức, trong đó có hoạt động du lịch gắn với vấn đề sức khoẻ, chữa bệnh, từ đó trở thành động lực để loại hình du lịch chữa bệnh được ra đời

Du lịch chữa bệnh hoặc có liên quan đến hoạt động chữa bệnh hoặc sức

khoẻ nên có nhiều tên gọi khác nhau như “Spa tourism”, hoặc “Health care

Trang 10

6

Tourism” hoặc “Health Tourism”; trong đú thuật ngữ“Health Tourism” được

sử dụng bởi nhiều học giả và trong cỏc văn bản của Tổ chức Du lịch Thế giới

Ở Việt Nam, thuật ngữ “Du lịch chữa bệnh” được sử dụng khỏ phổ

biến, được hiểu như một hoạt động du lịch cú mục đớch chủ yếu là hồi phục hoặc gia tăng sức khoẻ cho khỏch du lịch trờn cơ sở kết hợp với cỏc hoạt động tham quan khỏc, thường cú trong cỏc chương trỡnh du lịch được xõy dựng

Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đó đưa ra quan niệm về du lịch sức khoẻ trờn quan điểm của cỏc nhà cung cấp cỏc dịch vụ du lịch, cụ thể:

“Du lịch sức khoẻ là loại hỡnh du lịch dựa trờn cơ sở khai thỏc và sử dụng tài nguyờn thiờn nhiờn, đặc biệt là cỏc nguồn nước khoỏng núng, điều kiện khớ hậu…để xõy dựng cỏc cơ sở vật chất kĩ thuật liờn quan đến sức khoẻ, phục vụ cho nhu cầu hồi phục hoặc tăng cường sức khoẻ của khỏch du lịch”

Cũng theo quan điểm của cỏc nhà làm du lịch, cú nghiờn cứu cho rằng,

du lịch sức khoẻ là việc cỏc khu du lịch hoặc cỏc cơ sở vật chất du lịch như cỏc khỏch sạn, cỏc khu nghỉ dưỡng (resort) chủ động phỏt triển cỏc dịch vụ hoặc bổ sung cỏc yếu tố về cơ sở vật chất kỹ thuật chăm súc sức khoẻ phục vụ cho nhu cầu tăng cường, hồi phục sức khoẻ và chủ động khai thỏc cỏc dịch vụ này để thu hỳt khỏch

1.1.2 Hỡnh thức, đặc điểm của du lịch chữa bệnh

1.1.2.1 Cỏc hỡnh thức du lịch chữa bệnh

Để đỏp ứng nhu cầu của khỏch du lịch, hiện nay cú khỏ nhiều loại hỡnh

du lịch liờn quan đến sức khỏe được tổ chức Tuy nhiờn, dựa vào mục đớch đi

du lịch sức khỏe của du khỏch, cú thể phõn loại thành 5 hỡnh thức cơ bản:

Thứ nhất, du lịch chữa bệnh phục vụ mục đớch trị bệnh

Với hỡnh thức du lịch chữa bệnh này, mục đớch chữa bệnh mang tớnh bao trựm, khỏch du lịch thực hiện chuyến đi với động cơ điều trị bệnh mà đang cú Trong chuyến đi này, du khỏch được bắt mạch, kờ đơn và mua

Trang 11

7

thuốc nh- trong hỡnh thức chữa bệnh truyền thống ở các n-ớc ph-ơng Đông Hỡnh thức du lịch chữa bệnh này cú sử dụng các ph-ơng tiện kỹ thuật y tế hiện đại, cú sự ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ trong điều trị để tổ chức các hoạt động trong các ch-ơng trình du lịch và bán để phục vụ cho nhu cầu của xã hội

Thứ hai, du lịch chữa bệnh phục vụ mục đớch nghỉ dưỡng, phũng bệnh, hồi phục sức khỏe

Hỡnh thức du lịch chữa bệnh này thường được tổ chức ở những khu nghỉ d-ỡng có cảnh quan thiên nhiên đẹp, điều kiện khí hậu trong lành Tại đây, các hoạt động chủ yếu khách du lịch là nghỉ ngơi, tham gia các hoạt động ít phải sử dụng thể lực, với mục đích giải tỏa những mệt nhọc, cân bằng trạng thái sức khoẻ, hoặc để phòng ngừa một trạng thái bệnh lý nào đó

Thứ ba, du lịch chữa bệnh phục vụ mục đớch làm đẹp, phũng ngừa hoặc

từ bỏ những thúi quen xấu cú hại cho sức khỏe

Hỡnh thức du lịch chữa bệnh được tổ chức ở những địa điểm cú sự trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật đầy đủ, với các chuyên gia t- vấn sức khoẻ để giúp khách du lịch có điều kiện đ-ợc t- vấn, đ-ợc hướng dẫn thực hiện những bài tập

để phũng ngừa những bệnh lý hoặc loại bỏ những thói quen cú hại cho sức khỏe nh- nghiện thuốc lá, nghiện r-ợu, giảm béo phì, hoặc thực hiện những phẫu thuật nhỏ để cải thiện ngoại hình (phẫu thuật thẩm mỹ)

Thứ tư, du lịch chữa bệnh phục vụ mục đớch xả stress, chăm súc sắc đẹp

Trang 12

8

Đõy là hỡnh thức du lịch chữa bệnh mà khỏch du lịch luụn cảm thấy thoải mỏi nhất về mặt tõm lớ Cỏc hoạt động của khỏch du lịch lựa chọn hỡnh thức du lịch này diễn ra gần như cỏc hoạt động du lịch bỡnh thường khỏc, song cú thờm cỏc hoạt động như: đi spa để chăm súc da mặt, chăm súc cơ thể, thư gión đầu úc, sauna và massage (xụng hơi và xoa búp cơ thể), jacuzzi (thư gión trong bồn tắm sục), tẩm quất giỏc hơi, bấm huyệt Hỡnh thức du lịch chữa bệnh này rất tốt cho sức khỏe của khỏch du lịch sau một hành trỡnh tham gia cỏc hoạt động du lịch, thường được thực hiện như một nội dung trong lịch trỡnh của chuyến du lịch Vớ dụ như khỏch đi du lịch ở Sapa thường sử dụng dịch vụ tắm thuốc lỏ của người Dao Đỏ, khỏch đến Nha Trang sau khi đi tham quan Thỏp Bà Ponarga thường đến tắm bựn ở suối khoỏng Thỏp Bà Qua tỡm hiểu trờn thực tế thấy rằng, cỏc cụng ty du lịch ở Hà Nội (South Pacific, Hướng Dương Travel, Hanatour,…) khi đún khỏch du lịch Hàn Quốc, Đài Loan đến Việt Nam, đều thiết kế một điểm đến là trung tõm chăm súc sức khỏe cú dịch vụ massage chõn (foot massage) hoặc saunna massage (xụng hơi

và massage cơ thể) phục vụ khỏch

Thứ năm, du lịch chữa bệnh phục vụ mục đớch tăng cường sức khỏe

Đõy là hỡnh thức du lịch chữa bệnh thường được tổ chức gắn với việc tỡm hiểu thiờn nhiờn thụng qua một số hoạt động thể dục thể thao, dó ngoại Đõy là điều kiện giỳp khỏch du lịch rốn luyện sức khỏe của mỡnh qua việc thực hiện cỏc hoạt động trong hỡnh thức du lịch này

1.1.2.2 Đặc điểm của du lịch chữa bệnh

Bản chất của du lịch chữa bệnh là cú sự kết hợp tỏc dụng chữa bệnh của mụi trường thiờn nhiờn với cỏc biện phỏp điều trị thớch hợp, và khỏch đi

du lịch chữa bệnh xuất phỏt từ động cơ chủ yếu là để chữa bệnh hoặc tăng cường sức khỏe Qua việc tỡm hiểu cỏc hỡnh thức du lịch chữa bệnh đó và

Trang 13

9

đang được khai thỏc phục vụ khỏch du lịch hiện nay, cú thể thấy một số đặc điểm cơ bản của loại hỡnh du lịch chữa bệnh như sau :

 Về đối tượng khỏch đi du lịch chữa bệnh

Dựa trờn sự xỏc định cỏc loại hỡnh du lịch chữa bệnh, cú thể thấy phõn loại khỏch du lịch chữa bệnh thành 5 nhúm:

Nhóm đối t-ợng khỏch đi du lịch chứa bệnh thứ nhất, là những ng-ời đang mang những bệnh lý nhất đinh, không phân biệt giới tính và lứa tuổi Nhóm đối t-ợng này chủ yếu sẽ tham gia cỏc hoạt động đặc trưng của du lịch chữa bệnh, với động cơ đi du lịch chủ yếu là chữa trị và cải thiện trạng

thái bệnh lý

Nhóm đối t-ợng khỏch đi du lịch chữa bệnh thứ hai, là nhóm đối t-ợng do chịu nhiều sức ép của cuộc sống, của công việc và có trạng thái sức khoẻ không tốt, cần có thời gian nghỉ ngơi, tĩnh d-ỡng và giải tiêu những mệt mỏi Nhóm đối t-ợng này chủ yếu trong độ tuổi lao động và cũng không phân biệt giới tính

Nhóm đối t-ợng khỏch đi du lịch chữa bệnh thứ ba, là nhóm đối t-ợng có nhu cầu tăng c-ờng sức khoẻ, thử thách sức mình Nhóm đối t-ợng này có độ tuổi còn trẻ, chủ yếu là nam giới và đi du lịch chữa bệnh kết hợp với mục đớch tỡm hiểu, tham gia các hoạt động thể thao, du lịch

mạo hiểm leo núi, lặn biển, l-ớt ván

Nhóm đối t-ợng khỏch đi du lịch chữa bệnh thứ t-, là nhóm đối t-ợng có mục đích cải thiện tình trạng sức khoẻ hay hình thức ngoại hình nh- các hoạt động chăm sóc sức khoẻ, làm đẹp, thẩm mỹ và tập trung chủ yếu

Trang 14

10

là các phụ nữ trẻ Nhóm đối t-ợng này đi du lịch chữa bệnh

với mục đớch xả stress và chăm súc sắc đẹp

Nhóm đối t-ợng khỏch đi du lịch chữa bệnh thứ năm, là nhóm đối t-ợng ng-ời cao tuổi đã nghỉ hưu Đối t-ợng khỏch du lịch này thông th-ờng tham gia các hoạt động du lịch chữa bệnh với mục đích kiểm tra sức khoẻ, th- giãn

nghỉ ngơi và phòng bệnh

 Đặc điểm về thời gian lưu trỳ:

Khỏch đi du lịch chữa bệnh thường cú thời gian lưu trỳ tương đối dài, vì việc điều trị, chữa bệnh đòi hỏi phải có một khoảng thời gian nhất định mới có hiệu quả Do vậy, mỗi ch-ơng trình du lịch chữa bệnh đ-ợc thiết kế cho

du khách có thể là vài ngày, một tuần, nửa tháng hoặc thậm chí lâu hơn (th-ờng là đối với khách n-ớc ngoài), khách trong n-ớc có thể có thời gian l-u trú ngắn hơn tuỳ theo yêu cầu của du khách

 Đặc điểm về địa điểm du lịch:

Cỏc chương trỡnh du lịch chữa bệnh thường được tổ chức xung quanh cỏc khu du lịch chữa bệnh, cỏc bệnh viện, cỏc suối khoỏng núng, bói tắm bựn, bói biển, những nơi cú khớ hậu tốt cho sức khoẻ Nếu là chương trỡnh dài

ngày, đi tham quan nhiều địa điểm thỡ cú bỏc sỹ đi kốm

 Về chi phớ của khỏch du lịch:

Loại hỡnh du lịch chữa bệnh thường đũi hỏi du khỏch phải cú khả năng chi trả cao bởi ngoài chi phớ cho cỏc dịch vụ du lịch, họ sẽ phải chi trả một khoản lớn cho vấn đề điều trị và chữa bệnh Do cỏc chương trỡnh du lịch chữa bệnh thường cú thời gian kộo dài, và khỏch du lịch thường cú yờu cầu cao

Trang 15

11

trong việc được chăm sóc về mọi mặt, đặc biệt là chăm sóc sức khoẻ nên chi phí để sử dụng trong mỗi chuyến đi là tương đối lớn

1.1.3 Nguồn lực để phát triển du lịch chữa bệnh

Trong kinh doanh du lịch, để có thể đảm bảo cho công tác tổ chức hoạt động du lịch diễn ra, cần có sự tham gia của bốn nhóm đối tượng chính: khách du lịch, các đơn vị cung ứng du lịch, người dân và chính quyền sở tại nơi diễn ra hoạt động du lịch Đối với việc phát triển loại hình du lịch chữa bệnh cũng cần đến các yếu tố cơ bản:

Trước hết, phải kể đến vai trò chủ thể của hoạt động du lịch là khách du lịch Động lực để khách đi du lịch chữa bệnh có thể xuất phát từ yếu tố điều kiện y tế thuận lợi, hay tính độc đáo của những biện pháp giúp duy trì và phục hồi sức khỏe tại điểm đến du lịch Thông qua việc xác định động cơ đi du lịch của con người ngày nay, có thể thấy động cơ đi du lịch chữa bệnh của khách

du lịch cũng không nằm ngoài các nhóm động cơ cơ bản, bao gồm:

- Động cơ về thể chất: Khách đi du lịch chữa bệnh nhằm giảm bớt tình

trạng căng thẳng, phục hồi sức khỏe thông qua các hoạt động thể chất như: nghỉ dưỡng, tham gia các hoạt động thể thao, tắm suối khoáng, giải trí thư giãn… Ngoài ra, có thể do những khuyến nghị bệnh nhân phải đi điều dưỡng, kiểm tra y tế, hay cần có các hoạt động điều trị sức khỏe của bác sĩ đưa ra mà tạo thành động cơ để khách đi du lịch chữa bệnh

- Động cơ tìm hiểu: Khách đi du lịch chữa bệnh không chỉ xuất phát từ

nhu cầu vì sức khỏe mà còn mong muốn được khám phá, tìm hiểu những điều mới lạ ở nơi họ đến Đây cũng chính là một trong những động cơ đặc trưng nhất trong hoạt động của các khách du lịch nói chung Thông qua các hoạt động như: tham quan, nghỉ dưỡng, thưởng thức và được thư giãn với các tài nguyên du lịch ở điểm đến du lịch mà du khách có được những trải nghiệm thú vị về văn hóa, phong tục tập quán, về những điều thú vị sau mỗi chuyến

Trang 16

12

đi Các hoạt động đó không chỉ góp phần làm gia tăng vốn sống, kiến thức, kinh nghiệm của khách du lịch, mà còn góp phần làm phong phú đời sống tinh thần, tạo nên động lực tích cực để họ tham gia vào các hoạt động của cuộc sống

- Động cơ giao lưu: Cùng tham gia các hoạt động du lịch là cơ hội giúp

các du khách được trò chuyện, giao lưu, chia sẻ với nhau Đối với loại hình du lịch chữa bệnh, động cơ giao lưu mang đến cho khách du lịch có được những động lực tích cực như: xóa bỏ những mặc cảm về thể chất, chia sẻ những kinh nghiệm về việc trị bệnh, tạo nên sự cởi mở về tinh thần đối với khách du lịch

- Động cơ muốn được tự thể hiện bản thân: Cuộc sống càng được nâng

cao về chất lượng cũng kéo theo nhu cầu của con người ngày càng được nâng cao Khi trong xã hội có một bộ phận người mong muốn được thể hiện bản thân mình, được xã hội chú ý, thừa nhận và kính trọng, thì du lịch là một trong những cách thức hữu hiệu để giúp họ có thể được tự thể hiện Đây là nhóm khách du lịch có khả năng chi trả cao, tiêu dùng rộng rãi, họ thường chọn các điểm đến có mức thanh toán cao như: đi nghỉ dưỡng ở Châu Âu, đi

du lịch chữa bệnh ở Mỹ, Pháp, Nhật, hoặc thường lựa chọn các điểm đến du lịch có các dịch vụ được cung cấp hoàn hảo phục vụ khách du lịch

Yếu tố thứ hai trong hệ thống nguồn lực để phát triển du lịch chữa bệnh, đó là các đơn vị cung ứng du lịch, bao gồm: đơn vị kinh doanh dịch vụ vận chuyển, đơn vị kinh doanh dịch vụ lưu trú, ăn uống, đơn vị kinh doanh lữ hành

Các đơn vị kinh doanh dịch vụ vận chuyển là nhân tố giúp để thỏa mãn nhu cầu vận chuyển của khách du lịch Đối tượng để đáp ứng nhu cầu cơ bản này trong nhu cầu du lịch nói chung của khách du lịch chính là hệ thống các loại hình phương tiện vận chuyển như: máy bay, ô tô, tàu hỏa, tàu thủy, thuyền, xe máy, xe đạp, xích lô

Trang 17

13

Hệ thống các cơ sở kinh doanh lưu trú, ăn uống là nhóm nhân tố thứ hai

để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của khách du lịch trong mỗi chuyến đi, đó là nhu cầu lưu trú, ăn uống Những đối tượng giúp thỏa mãn nhu cầu này của khách

du lịch bao gồm: hệ thống cơ sở lưu trú (khách sạn, nhà nghỉ, nhà trọ du lịch, ), các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống (nhà hàng, quán ăn, nơi phục vụ

đồ uống, giải khát…) Yêu cầu cơ bản đối với nhóm đối tượng cung cấp dịch

vụ này là phải đạt yêu cầu về vệ sinh, chất lượng phục vụ theo tiêu chuẩn, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm…

Trong việc phát triển loại hình du lịch chữa bệnh, bên cạnh việc đáp ứng tốt nhu cầu thiết yếu mà khách du lịch nào cũng cần được thỏa mãn tối

đa, thì cần phải có hệ thông cơ sở cung cấp các dịch vụ đặc trưng của du lịch chữa bệnh, đó là các cơ sở y tế chăm sóc sức khỏe của khách du lịch (đặc biệt

là khách đi du lịch chữa bệnh) như: Bệnh viện (hay khách sạn bệnh viện), trung tâm y tế, cơ sở chăm sóc sức khỏe, phòng tắm hơi, massage tại các khách sạn (khu nghỉ dưỡng), cơ sở vật lý trị liệu… Các cơ sở này được xây dựng ở những địa điểm thuận tiện về giao thông, gần khu vực dân cư, hoặc ở những nơi có điều kiện tự nhiên hữu ích với sức khỏe con người, có chức năng hỗ trợ dịch vụ y tế, chăm sóc sức khoẻ cho người dân địa phương và khách du lịch Đây là yếu tố quan trọng để thu hút sự di chuyển của khách đến với điểm du lịch chữa bệnh, qua đó đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ và chữa bệnh của khách du lịch Các cơ sở chữa bệnh trên chịu sự quản lý của Nhà nước hoặc tư nhân (được giám sát và quản lý hợp pháp), được đánh giá

và xếp loại theo tiêu chuẩn và mức độ đồng bộ hiện đại về các trang thiết bị kèm theo Ở những địa điểm du lịch đồng thời có tài nguyên đặc biệt hữu ích với sức khỏe của con người (nước khoáng, khí hậu trong lành ) thì các cơ sở điều trị bệnh, dưỡng bệnh có mối quan hệ mật thiết với các đơn vị kinh doanh dịch vụ để thu hút khách du lịch

Trang 18

14

Các đơn vị kinh doanh lữ hành đóng vai trò không thể thiếu trong vai trò là trung gian kết nối khách du lịch với các đơn vị cung ứng hàng hoá và dịch vụ phục vụ chuyến đi của du khách Thông qua quá trình giao dịch và cung cấp sản phẩm, dịch vụ của các đơn vị kinh doanh mà công ty lữ hành tổ chức chương trình du lịch trọn gói hay từng phần dựa theo thoả thuận đạt được với khách du lịch Vai trò của các đơn vị kinh doanh lữ hành có ý nghĩa quan trọng, giúp liên kết các đơn vị cung ứng sản phẩm, dịch vụ du lịch, đặc biệt tạo điều kiện thuận lợi để khách du lịch đạt được những hiệu quả tối đa trong chuyến đi du lịch chữa bệnh

Trong hoạt động du lịch hiện nay, các công ty bảo hiểm đóng vai trò là thành phần cung cấp các dịch vụ bổ sung hỗ trợ khách du lịch trong suốt chuyến đi Đối với du lịch chữa bệnh, các công ty bảo hiểm ngày đem lại những dịch vụ hỗ trợ đối với rủi ro của con người, đặc biệt về tính mạng và bệnh tật phải cần đến chi phí phẫu thuật và điều trị lớn Khi đó, xu thế chung

là các công ty bảo hiểm, tài chính liên kết chặt chẽ với cơ sở y tế, các nhà tổ chức chương trình du lịch để thực hiện và tạo điều kiện thuận lợi cho khách

du lịch tham gia các chuyến đi với mục đích chăm sóc sức khoẻ, điều trị bệnh tại điểm du lịch chữa bệnh được lựa chọn

Yếu tố thứ ba trong vai trò là một trong những nguồn lực để phát triển

du lịch nói chung và du lịch chữa bệnh nói riêng, đó là người dân và chính quyền sở tại nơi diễn ra hoạt động du lịch Đây là những nhân tố thuộc về điểm đến du lịch, là nơi có điều kiện tài nguyên du lịch có sức hấp dẫn được khai thác phục vụ khách du lịch

Người dân ở nơi diễn ra hoạt động du lịch là các cư dân đã có thời gian sinh sống lâu dài, họ là chủ, hay là những người rất am hiểu về phong tục tập quán, văn hóa, lối sống ở điểm du lịch Họ có thể tham gia vào hoạt động du lịch như: cung cấp dịch vụ, hàng hóa phục vụ khách du lịch, là đối tượng

Trang 19

Các nguồn lực để phát triển du lịch nói chung và du lịch chữa bệnh nói riêng có thể khác nhau về đặc điểm, song để đảm bảo cho hoạt động du lịch được diễn ra thì không thể thiếu vai trò tham gia của bất kì nhân tố nào Mỗi nhân tố đều có chức năng, vị trí riêng song đều đảm bảo sự kết nối thống nhất trong toàn bộ chu trình sản xuất, tiêu dùng sản phẩm du lịch của các đơn vị cung ứng và khách du lịch

1.1.4 Du lịch chữa bệnh trên thế giới và ở Việt Nam

1.1.4.1 Xu hướng phát triển du lịch chữa bệnh trên thế giới

Trong những năm gần đây, ngày càng nhiều khu nghỉ dưỡng được xây dựng ở những nơi có sự ưu đãi của tự nhiên về điều kiện lí tưởng để chăm sóc sức khỏe của con người Bên cạnh đó, xu hướng đi du lịch gắn với mục đích phục hồi, tăng cường sức khỏe của khách du lịch cũng trở nên phổ biến hơn

Cùng với sự phát triển của cuộc sống, nhằm tái tạo hữu hiệu “sức sản xuất cho xã hội”, nên một số tổ chức xã hội cũng quan tâm hơn đến các hoạt động

như xây dựng các khu nghỉ dưỡng có những quy định cho các hoạt động cung cấp các dịch vụ liên quan đến phục hồi và tăng cường sức khoẻ

Các hình thức du lịch sức khoẻ cũng có những biến chuyển mới như: sử dụng các trang thiết bị hiện đại, kết hợp các phương pháp chữa trị bệnh truyền thống của Đông y với các phương pháp chữa bệnh hiện đại có sự tiến bộ khoa học kỹ thuật của Tây y

Hiện nay, du lịch sức khoẻ trở thành một ngành công nghiệp mới với

tên gọi“Medical Tourism Industry” Những thành tựu to lớn về khoa học kỹ

Trang 20

16

thuật, kinh tế… đã nâng chất lượng sống của con người cao lên, kèm theo đó

là nhu cầu được chăm sóc tốt nhất về sức khoẻ Mới đầu, loại hình du lịch sức khỏe được chú trọng ở những nước có nền kinh tế phát triển, rồi mở rộng hơn

về phạm vi địa lí cũng như hoạt động, khai thác nguồn tài nguyên tự nhiên và các yếu tố y học độc đáo, có tác dụng tích cực cho sức khoẻ, tâm lý của con

người Một số nước trên thế giới còn xây dựng được “thương hiệu” riêng

như: Cuba chuyên về phẫu thuật mắt, Ba Lan chuyên về thụ thai trong ống nghiệm, đảo Mauritius chuyên về ghép tóc, Nam Phi chuyên về ghép tim, Israel chuyên về bệnh hiếm muộn, Hungary chuyên về phẫu thuật chỉnh hình, Costa Rica chuyên về hút mỡ bụng

Du lịch chữa bệnh đang có xu hướng phát triển mạnh trên thế giới Nhiều quốc gia đã có chủ trương phát triển loại hình du lịch này để thu hút khách du lịch bên cạnh các loại hình du lịch khác như: Hàn Quốc, Ấn Độ, Singapore, Thái Lan Loại hình du lịch chữa bệnh đang dần khẳng định vị trí của mình trong ngành du lịch và ngày càng phát triển theo hướng quy mô hơn

và hiện đại hơn

1.1.4.2 Du lịch chữa bệnh ở một số quốc gia trên thế giới

 Thái Lan

Du lịch được coi là một trong những ngành kinh tế quan trọng của Thái

Lan Để thành công trong việc thu hút khách du lịch, ngành du lịch Thái Lan

đã chú trọng phát triển đa dạng các loại hình du lịch, trong đó, du lịch chữa bệnh là một trong những thế mạnh

Nằm ở vị trí trung tâm giữa các nước có nền kinh tế đang phát triển của Châu Á, Thái Lan có điều kiện trở thành trung tâm chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ cũng như nghiên cứu và phát triển y học của khu vực Thái Lan nổi tiếng trong khu vực cũng như trên thế giới về chữa các căn bệnh truyền nhiễm và bệnh nhiệt đới, phẫu thuật tim và chăm sóc hậu phẫu, các bệnh liên quan đến

Trang 21

17

xương, răng, đục thuỷ tinh thể, các phương pháp phẫu thuật làm đẹp, chỉnh hình Hàng năm, các bệnh viện của Thái Lan đã tiếp nhận khoảng 400.000 du khách - bệnh nhân đến từ nước ngoài, tạo ra doanh thu hàng chục tỷ Bath Bên cạnh đó, đất nước này còn được coi là trung tâm Spa của châu Á với doanh thu tăng trưởng mạnh mẽ

Thái Lan có hai bệnh viện chuyên phục vụ khách du lịch chữa bệnh đến

từ nước ngoài: Bệnh viện Bangkok và bệnh viện quốc tế Bumrungrad Đây là hai trung tâm y tế lớn nhất, hiện đại nhất của Thái Lan với phần lớn bác sĩ (là người Thái) được đào tạo hoặc tu nghiệp ở nước ngoài có tay nghề cao, được quản lý theo kiểu Mỹ, thiết bị tối tân, chế độ chăm sóc bệnh nhân tốt (01 y tá chăm sóc 04 bệnh nhân) Chi phí chữa bệnh ở Thái Lan cao hơn Ấn Độ khoảng 20% nhưng rẻ hơn Singapore từ 30% đến 50%

Bí quyết thành công để trở thành một trong những cường quốc về du

lịch chữa bệnh của Thái Lan: nhanh chóng, hiệu quả, “vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi”, chăm sóc bệnh nhân phương Tây theo tiêu chuẩn phương

Tây Dịch vụ y tế hết sức đa dạng: từ khám bệnh tổng quát, đến tiểu phẫu và đại phẫu Khách được đảm bảo không phải xếp hàng chờ đợi, thời gian chờ một cuộc đại phẫu không quá hai tuần Trên nền tảng một ngành công nghiệp

du lịch rất chuyên nghiệp, du khách chữa bệnh có rất nhiều lựa chọn bởi không chỉ được cung cấp những dịch vụ tốt, mà khách du lịch còn có thể lựa chọn nhiều điểm đến nghỉ dưỡng du lịch hấp dẫn trong hoặc sau thời gian điều trị bệnh ở Thái Lan

 Ấn Độ

So với Thái Lan, ngành du lịch Ấn Độ không có được một nền tảng vững chắc Ấn Độ có nhiều danh lam, thắng cảnh, cũng có nhiều khách sạn, nhà hàng cao cấp nhưng giá cả quá đắt, trong khi những khách sạn hạng trung lại thiếu trầm trọng, cơ sở vật chất nghèo nàn, hạ tầng cơ sở rất kém Tuy

Trang 22

18

nhiên, đây là lại là nơi có chi phí chữa bệnh thấp nhất so với các quốc gia đối thủ về du lịch chữa bệnh Với tay nghề bác sĩ và chất lượng thiết bị không hề thua kém ai, Ấn Độ cũng là nơi được nhiều du khách chọn để tham quan thắng cảnh kết hợp với chữa bệnh

Ấn Độ thu hút rất đông du khách cần đại phẫu, trong khi số khách khám tổng quát và cần tiểu phẫu rất ít Lý do là chi phí đại phẫu ở Ấn Độ có giá rất mềm, chỉ bằng 1/5, đặc biệt trong lĩnh vực trồng răng và chuẩn đoán bệnh qua hình ảnh chỉ bằng 1/10 chi phí ở nước Mỹ Ấn Độ có nhiều cơ sở y

tế chuyên khoa với đội ngũ bác sĩ đào tạo tại các nước tiên tiến như Anh, Mỹ, song những chuyên khoa nổi tiếng là phẫu thuật tim và thay khớp

Mặc dù có chi phí cạnh tranh, không thua kém về tay nghề và chất lượng chữa bệnh, nhất là những cuộc đại phẫu, nhưng Ấn Độ vẫn còn thua kém Thái Lan, Singapore về dịch vụ hậu phẫu và các dịch vụ sau chữa bệnh nói chung Bởi vậy trong mắt người phương Tây, Thái Lan vẫn là sự lựa chọn được ưa thích nhất

Bên cạnh đó, lượng khách đến Ấn Độ phụ thuộc phần lớn vào các công

ty lữ hành và đặc biệt vào mạng Internet, trong khi hầu hết các chuyên gia về

du lịch chữa bệnh đều khuyên du khách khi quyết định đến nước nào để du lịch và chữa bệnh và nên cẩn trọng với những quảng cáo trên mạng hay của những công ty lữ hành không tên tuổi Do đó, các trung tâm y tế Ấn Độ không thể thu hút nhiều du khách bằng Thái Lan hay Singapore

 Singapore

Không chỉ là một nước sạch sẽ, trật tự và có kỹ thuật cao, Singapore còn có hệ thống y tế vào loại tốt nhất trên thế giới hiện nay với đội ngũ chuyên gia giỏi, trang thiết bị hiện đại, tiến tiến Chi phí chữa bệnh ở Singapore chỉ bằng một nửa của Mỹ, song vẫn đắt hơn Thái Lan và Ấn Độ

Để cạnh tranh hữu hiệu với hai đối thủ trong khu vực Châu Á là Thái Lan và

Trang 23

19

Ấn Độ, chính phủ Singapore đã chủ trương mở rộng lĩnh vực công nghệ sinh học như nghiên cứu tế bào mầm, nhờ vậy mà nước này có những liệu pháp chữa trị rất mới, nhất là chữa bệnh ung thư Bên cạnh đó, các nhà cung cấp dịch vụ y tế Singapore phải tìm cách mở rộng thị trường ra bên ngoài, thu hút bệnh nhân quốc tế đến chữa bệnh nhằm tăng thu nhập, tạo việc làm, đồng thời giúp đội ngũ giáo sư, bác sĩ nước này liên tục trau dồi, nâng cao trình độ chuyên môn Từ tháng 10 năm 2003, Cục Du lịch Singapore đưa ra sang kiến

liên ngành thành lập cơ quan “Singapore - Medicine” Mục đích hoạt động

của cơ quan này là thu hút du khách quốc tế đến chữa bệnh tại Singapore nhằm phát triển nước này thành trung tâm chữa bệnh hàng đầu tại châu Á

Hiện nay, Singapore cung cấp những dịch vụ y tế tốt nhất trong những lĩnh vực cấy ghép bộ phận, tim, sản, phẫu thuật chỉnh hình, ung thư, tiết niệu, giải phẫu thần kinh, mắt Những tập đoàn y tế lớn cung cấp dịch vụ chữa bệnh cho bệnh nhân nước ngoài điển hình là: Raffles Medical Group, National Healthcare Group và SingHealth Trong đó, 34% khách hàng của Raffles Medical Group là du khách quốc tế đến từ Indonesia, Malaysia, Australia, Anh và Mỹ Bệnh viện Đại học quốc gia (National University Hospital) có trang thiết bị, tiện nghi, dịch vụ hoàn hảo như một khách sạn 5 sao thường đón 10% bệnh nhân quốc tế

Mặc dù chịu sự cạnh tranh gay gắt với Thái Lan và Ấn Độ, nhưng Singapore không đặt ra mục tiêu giảm chi phí chữa bệnh với khách nước ngoài, mà là duy trì chất lượng, uy tín dịch vụ thông qua việc nâng cao trình

độ chuyên môn của các y bác sĩ, áp dụng công nghệ y học tiên tiến và cải thiện môi trường y tế lành mạnh Nhằm kết hợp du lịch với chữa bệnh, Cục

Du lịch Singapore chủ trương kết hợp giữa các nhà cung cấp dịch vụ y tế và các công ty lữ hành để khai thác sản phẩm du lịch trọn gói chăm sóc sức khoẻ, đồng thời tăng cường quảng bá, xúc tiến những dịch vụ chăm sóc sức

Trang 24

20

khoẻ, chữa bệnh tuyệt hảo hiện có tại Singapore trên thị trường khu vực và quốc tế

1.1.4.3 Du lịch chữa bệnh ở Việt Nam

Có thể nói Việt Nam có nhiều điều kiện nhiều thuận lợi để phát triển loại hình du lịch chữa bệnh với nhiều địa điểm vừa là thắng cảnh đẹp, vừa là nơi nghỉ dưỡng lí tưởng như Sapa, Đà Lạt, Bãi Cháy, Cửa Lò, Nha Trang… nhiều mỏ bùn khoáng, suối khoáng vừa được sử dụng làm nước uống, nước giải khát, vừa đáp ứng nhu cầu nghỉ dưỡng, chữa bệnh của con người như Bình Châu (Bà Rịa - Vũng Tàu), Tháp Bà (Nha Trang), Kim Bôi (Hòa Bình), Thanh Thủy (Phú Thọ) Hiện nay, ở nước ta có 3.920 loài thực vật được coi

là dược liệu quý có tác dụng chữa bệnh, bồi bổ sức khoẻ, chiếm 16% số cây thuốc đã được biết đến trên thế giới Tính đến năm 2007, Việt Nam đã được UNESCO công nhận có 6 khu dự trữ sinh quyển thế giới và 30 vườn quốc gia

Về khả năng chuyên môn và nhân tố con người, Việt Nam có nền y học dân tộc lâu đời, bài bản, uy tín với đội ngũ bác sĩ Đông y có trình độ cao và tận tâm Hiện nay cả nước có hơn 40 bệnh viện y học cổ truyền, nhiều khoa y học cổ truyền trong các bệnh viên đa khoa, khoảng 5.000 người hành nghề y học cổ truyền, gần 4.000 cơ sở chuẩn trị Đông y Nhiều bài thuốc cổ truyền, phương pháp trị liệu bằng bắt mạch, bấm huyệt, châm cứu…của chúng ta đã nổi tiếng thế giới, có chi phí rất thấp so với các nước khác trong khu vực Đây cũng là những yếu tố thu hút đối với đối tượng khách du lịch chữa bệnh tại Việt Nam

Y học hiện đại ở Việt Nam cũng có những bước tiến đáng kể trong nhiều năm gần đây cả về cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực, tuy nhiên

để đáp ứng nhu cầu y tế của nhân dân và huy động hệ thống y tế quốc gia tham gia chăm sóc sức khoẻ, chữa bệnh cho du khách nước ngoài trong giai

Trang 25

21

đoạn hiện nay còn gặp nhiều khó khăn Xét về khả năng chuyên môn, đội ngũ thầy thuốc ở Việt Nam hội tụ được những yếu tố và khả năng tham gia được nhiều loại hình dịch vụ chữa bệnh có yêu cầu cao như: thay tạng và xương khớp, phẫu thuật thẩm mỹ Tuy nhiên, bên cạnh các yếu tố nhân lực, loại hình du lịch chữa bệnh còn đòi hỏi nhiều yếu tố khác về hạ tầng cơ sở, cơ sở vật chất, trang thiết bị, cơ chế hoạt động…

Gần đây, không ít du khách nước ngoài đến Việt Nam để thực hiện các tour du lịch chữa bệnh, đặc biệt ở các bệnh viện lớn tại Hà Nội, Thành phố

Hồ Chí Minh Với các dịch vụ chữa bệnh ở Việt Nam, du khách có thể tiết kiệm từ 50% - 80% chi phí so với tại Châu Âu Một thống kê đối với hơn 30 trường hợp can thiệp mạch vành từ năm 2004 tới nay tại Bệnh viện Việt - Pháp (Hà Nội), có 50% bệnh nhân đến từ các quốc gia: Nga, Mỹ, Ukraina, Bangladesh, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Libya… Cảm nhận chung của

họ là được chữa trị tận tình, chu đáo, rất an tâm khi đi du lịch lâu dài ở Việt Nam Các bệnh nhân này còn đánh giá chất lượng dịch vụ ở Việt Nam không thua kém so với nhiều bệnh viện ở nước ngoài Tại Bệnh viện Mắt Hà Nội, chi phí cho một tour giải phẫu mí mắt khoảng 400 USD - 500 USD Trong khi

đó, chi phí một tour đến Mỹ cho trường hợp tương tự có thể lên đến 2.000 USD - 3.500 USD Tại Viện Thẩm mỹ Việt - Mỹ (TP Hồ Chí Minh), chi phí phẫu thuật mũi, làm mắt cũng chỉ mất từ 200 - 400USD, bao gồm cả dịch vụ chăm sóc trong bảy ngày hậu phẫu Trong khi đó, chi phí các dịch vụ của y học cổ truyền khá thấp Song, vấn đề lớn nhất đối với các dịch vụ chữa bệnh ở Việt Nam lại nằm ở khả năng quảng bá và sự chưa sẵn sàng của các hệ thống

y tế chất lượng cao

Khách du lịch chữa bệnh ở trong và ngoài nước ta hiện nay chủ yếu sử dụng dịch vụ chữa bệnh bằng y học dân tộc, tập trung chủ yếu Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Phần lớn khách ở độ tuổi trung niên và cao niên, có

Trang 26

“Các quốc gia ở Châu Á như Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia sẽ là những trung tâm thu hút du khách quốc tế trong lĩnh vực du lịch chữa bệnh”

Đối với ngành du lịch Việt Nam, việc khai thác tiềm năng phát triển loại hình

du lịch chữa bệnh nhằm đa dạng hoá sản phẩm du lịch đang trở thành yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay bởi đó là một cách hữu hiệu nhằm nâng cao sức cạnh tranh của du lịch Việt Nam với các nước trong khu vực

1.2 Du lịch chữa bệnh bằng nước khoáng

1.2.1 Khái quát về nước khoáng có tác dụng chữa bệnh

1.2.1.1 Nước khoáng và bùn khoáng

 Nước khoáng

Nước khoáng được quan niệm “là loại nước dưới đất hoặc nước suối

tự nhiên ở sâu trong lòng đất hoặc phun chảy lên mặt đất, có hòa tan một số muối khoáng (muối vô cơ) nào đó có hoạt tính sinh học, có tác dụng chữa và phòng bệnh, bồi bổ sức khỏe”

Nguồn nước khoáng và nước nóng được hình thành tại những nơi có hoạt động địa chất đặc biệt, có sự đứt gãy hay hoạt động mắc ma Một số nước khoáng có tính chất phóng xạ và nhiệt độ tăng cao khi mới phun ra ở miệng suối có thể đạt trên dưới 1000

C Ở Việt Nam, bên cạnh tiêu chuẩn khoáng hóa thì thành phần ion và tính chất đặc biệt đạt chỉ tiêu định danh là căn cứ để phân loại nước khoáng

Trang 27

23

Tiêu chuẩn khoáng hóa được xây dựng theo các mức độ:

- Khoáng hóa rất thấp: <500 mg/l

- Khoáng hóa thấp: 500 - 1.000 mg/l

- Khoáng hóa vừa: 1.000 - 5.000 mg/l

- Khoáng hóa cao: 5.000 - 10.000 mg/l

- Khoáng hóa rất cao: >10.000 mg/l

Theo thành phần ion và tính chất đặc biệt đạt chỉ tiêu định danh thì nước khoáng được phân loại tương ứng (bảng 1.1)

Các điểm nước khoáng, suối nước nóng là tài nguyên thiên nhiên rất quí giá để triển khai các loại hình du lịch tham quan, nghỉ dưỡng, chữa bệnh Tài nguyên này ở nước ta cũng rất phong phú và nhiều nơi có nguồn nước đạt chất lượng cao được sử dụng trực tiếp làm nước uống, nước giải khát và đáp ứng được nhiều nhu cầu an dưỡng, chữa bệnh của con người

 Bùn khoáng

Bùn khoáng là loại bùn thiên nhiên có màu đen huyền, đa số có mùi thơm, có tính acid, có thể hút nước Bùn khoáng được hình thành do những biến đổi địa chất, hoặc là một nhóm của sản phẩm tự nhiên, môi trường đất đai do thực vật bị chôn vùi tạo nên, được phân bố ở khắp mọi nơi, gồm các chất hữu cơ, vô cơ, các chất có chứa carbon

Bùn khoáng được khai thác dưới lòng đất sâu, qua các khâu sơ chế (phơi khô đất bùn, loại bỏ chất sơ, đập tơi nghiền nhỏ, đổ vào bể ngâm trong nước khoáng từ 400

C - 500C trong vòng 30 - 60 ngày, thay gạn nước, đảo đất hàng ngày nhờ đó có các khoáng chất thẩm thấu vào đất bùn qua một thời gian dài) có thể được sử dụng trực tiếp hoặc đóng gói xuất khẩu

Bảng 1.1: Các chỉ tiêu định danh và tiêu chuẩn nước khoáng

tối thiểu (I) Tên gọi

1 Độ khoáng hóa (loại nước không

2 Khí carbonic tự do (hòa tan) 500 Nước khoáng Carbonic

Trang 28

24

3 Tổng sulfur hydro (H2S + HS) l Nước khoáng Sulfur hydro

4 Axit metasilic (H2SiO3) 50 Nước khoáng Silic

6 Tổng sắt (Fe2+ + Fe3+) 10 Nước khoáng Sắt

12 Nhiệt độ (loại nước không có các

Nguồn: Luật Khoáng sản Việt Nam 2009 Chú thích: (I): Đơn vị tính: mg/l

Sản phẩm bùn khoáng qua nghiên cứu được tìm thấy có chứa hàm lượng những chất như: Kali, Natri, Photpho, Lưu huỳnh, Cloruanatri, Brom, Crom, có tác dụng chữa một số bệnh như: viêm khớp mãn tính, lao hạch, mất ngủ, đau thần kinh tọa, giảm stress, các bệnh ngoài da mãn tính (như nấm tổ đỉa, vẩy nến, mụn trứng cá)

Bảng 1.2: Các loại nguồn nước khoáng nóng và tác dụng trị bệnh

1 Loại đơn thuần

( Tanjunsen)

Đau cơ quan vận động, tác dụng đối với bệnh thần kinh, hồi phục sức khoẻ sau khi đau ốm, giảm stress và mệt mỏi của cơ thể

2 Loại có tính a xít

H2CO3 (Tansansen)

Chữa triệu chứng về van tim, tổn thương về cơ tim, triệu chứng cao huyết áp, vết thương ngoài

Trang 29

Bệnh liên quan đến khớp xương

4 Loại chứa ion Na

kỳ lão hoá của phụ nữ

7 Loại có chứa ion sắt

Nguốn: Lê Anh Tuấn, Hệ thống onsen ở Nhật Bản và việc sử dụng, Tạp

chí nghiên cứu Đông Bắc Á, 2001,p28

Trang 30

26

1.2.1.2 Các nhóm nước khoáng có tác dụng chữa bệnh

 Nước khoáng Carbonic

Các nguồn nước khoáng carbonic thường xuất lộ theo những đứt gãy trong các thành tạo mắc ma ở những vùng núi lửa trẻ hoạt động Tại đó khí

CO2 hình thành do quá trình biến chất nhiệt được đưa vào nước, tạo nên loại nước khoáng giàu CO2

Ở nước ta, có khoảng 15 nguồn nước khoáng loại này, phân bố chủ yếu

ở khu vực Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, một số nguồn phân

bố rải rác ở phía Bắc Bước đầu nhận thấy hàm lượng CO2 trong những mẫu nước được nghiên cứu thường gặp từ 800-1000mg/l, không ít nguồn đạt tới 2.000-2.020mg/l Những nguồn tiêu biểu như: Vĩnh Hảo, Châu Cát (Bình Thuận), Suối Nghệ (Bà Rịa - Vũng Tàu), Suối Nho (Đồng Nai), Phú Hội (Lâm Đồng), Đắc Mol (Đắc Lắc), Bản Khạng (Nghệ An), Bình Ca (Tuyên Quang), Mường Luân (Lai Châu)

 Nhóm nước khoáng Silic

Tương tự nước khoáng Carbonic, các nguồn nước khoáng Silic phân bố chủ yếu ở những vùng địa hình uốn nếp với sự phân bố rộng rãi đá mắc ma Trong điều kiện nhiệt độ cao, quá trình phân huỷ các alumosilicat từ các đá vây quanh diễn ra mạnh mẽ, kết quả là nước được làm giàu bởi các hợp chất silic Do đó, các nguồn nước khoáng silic thường có nhiệt độ cao và hàm lượng silic trong nước có xu hướng tăng theo nhiệt độ Tuy nhiên cũng có một số nguồn nước khoáng silic nhiệt độ thấp, điều kiện thành tạo của chúng cần được tiếp tục nghiên cứu

Nước ta có khoảng 95 nguồn nước khoáng Silic, phân bố chủ yếu từ Quảng Bình đến Bình Thuận (58 nguồn) Hàm lượng silic (tính theo H2SiO3) trong nước thường gặp từ 70-80 mg/l đến 100-110mg/l, có nguồn lên đến 120-140mg/l và hơn nữa Có thể kể một số nguồn tiêu biểu như: Làng Rượu

Trang 31

27

(Quảng Trị), Quế Phong (Quảng Nam), Tú Sơn(Quảng Ngãi), Rang Rịa (Vũng Tàu), Đa Kai (Bình Thuận), Bình Châu (Bà Rịa-Vũng Tàu)

 Nước khoáng Sulfur-hydro

Các nguồn nước khoáng Sulfur-hydro có thể được hình thành từ những hoạt động khác nhau, chủ yếu là do quá trình biến chất và oxy hoá các khoáng vật sulfur trong những thành tạo mắc ma, hoặc biến chất ở những miền địa hình uốn nếp, hoặc từ quá trình phân huỷ vật chất hữu cơ và khử sulfat ở những miền võng tích tụ các trầm tích lục nguyên hoặc carbonat Loại nước khoáng này cũng thường có nhiệt độ cao Theo các dấu hiệu trực quan có thể

nhận biết được một cách định tính nước khoáng này như: nước có mùi “trứng thối”, có kết tủa màu vàng…

Các nguồn nước khoáng Sulfur-Hydro ở nước ta hiện nay mới chỉ được khảo sát thấy ở 6 nguồn là: Bản Trang (Lai Châu), Mỹ Lâm (Tuyên Quang), Bang (Quảng Bình ), Tân Lâm (Quảng Trị), Mỹ An (Huế), Lũng Viềng (Quảng Nam)

 Nước khoáng Fluor

Nước khoáng Fluor có tác dụng phòng ngừa bệnh sún răng, xốp xương, với hàm lượng theo tiêu chuẩn, loại nước khoáng này có thể được sử dụng làm nước giải khát Có nhiều nguồn nước khoáng fluor thường có mặt đồng thời với silic nên cũng có thể được định danh là nước khoáng silic-fluor

Ở nước ta, có 49 nguồn nước khoáng fluor, phân bố rộng rãi ở khu vực Trung và Nam Trung Bộ Một số nguồn tiêu biểu như: Đồng Nghệ, Phúc Thọ, Nghĩa Thuận, Hội Vân, Phước Long, Kon Braih Ở vùng Tây Bắc Bộ cũng

có một số nguồn nước khoáng có chứa flour nhưng với hàm lượng thấp 2mg/l), chưa đạt tiêu chuẩn xếp vào nước khoáng fluor nhưng lượng thích hợp với tiêu chuẩn làm nước khoáng đóng chai giải khát

(1- Nước khoáng Arsen

Trang 32

28

Loại nước khoáng Arsen hiện nay còn ít được nghiên cứu Đến nay ở nước ta mới có 1 nguồn là nguồn Nghĩa Thuận (Quảng Ngãi) có hàm lượng As=0,8mg/l, đạt tiêu chuẩn xếp vào loại nước khoáng arsen, song về tính chất đặc biệt của loại nước khoáng này vẫn còn đang được tiếp tục nghiên cứu

+FE3+>10 mg/l) mà còn phải xét đến nguồn gốc hình thành của sắt

Hiện nay ở nước ta mới chỉ có 2 nguồn nước khoáng đáp ứng được tiêu chuẩn trên là: Kép Hạ, Bình Lợi

 Nước khoáng Brom

Ở nước ta, loại nước khoáng này được phát hiện chủ yếu nhờ các lỗ khoan sâu trong trầm tích Neogen ở đồng bằng Bắc Bộ trong quá trình tìm kiếm dầu khí Khu vực này được xem là một bồn artesi lớn chứa nước khoáng Brom (và iod, bor…) liên quan với dầu khí, do vậy phần lớn các lỗ khoan sâu gặp nước khoáng brom với hàm lượng lớn Ngoài ra nguồn nước khoáng này cũng được gặp rải rác một số nơi: Lai Châu, Yên Bái, Quảng Ninh, Bắc Giang, Hải Phòng, Ninh Bình, thành phố Hồ Chí Minh

 Nước khoáng Iod

Nước khoáng Iod thường đi đôi với nước khoáng Brom Ở nước ta hiện nay mới chỉ phát hiện được nguồn nước chứa hàm lượng Iod lớn đạt tiêu chuẩn xếp vào nước khoáng Iod trong 8 lỗ khoan tìm kiếm dầu khí ở Thái Bình, 3 nguồn lộ thiên tại Yên Bái và 1 lỗ khoan ở thành phố Hồ Chí Minh

 Nước khoáng Bor

Trang 33

29

Nước khoáng Bor cũng thường được phát hiện đồng thời với nước khoáng Brom và Iod trong 8 lỗ khoan tìm kiếm dầu khí ở Thái Bình, Nam Định và 2 nguồn lộ thiên ở Lai Châu, có hàm lượng HBO2, đạt từ 4,5 đến 237mg/l

 Nước khoáng Radi

Việc nghiên cứu các nguyên tố phóng xạ trong nước từ trước đến nay ít được chú ý nên số liệu còn nghèo nàn Tuy nhiên căn cứ vào kết quả phân tích ở một số nguồn hiện có, kết hợp với sự phân tích địa chất kiến tạo, sinh khoáng khu vực có thể dự đoán sự tồn tại loại nước khoáng này là một thực tế

ở Việt Nam

Theo số liệu phân tích độ phóng xạ Radi của Sở Địa chất Tiệp Khắc (cũ) và Viện nghiên cứu hạt nhân thì ở nước ta có 7 nguồn có thể xếp vào loại nước khoáng Radi là: Phù Lao, Tiên Lãng, Mỹ Khê, Thạch Trụ, Châu Cát, Suối Nghệ, Bình Châu

 Nước khoáng hoá

Nước khoáng hoá còn được gọi là “nước khoáng không có thành phần đặc hiệu”, là loại nước có độ khoáng hoá cao từ 1.000mg/l trở lên, không liên

quan với sự nhiễm mặn từ biển hoặc sự muối hoá thổ nhưỡng, không chứa một yếu tố đặc hiệu nào khác (nên không thể xếp vào các loại nước khoáng kể trên)

Loại nước khoáng này thường có nguồn gốc sâu, được dẫn lên mặt đất theo những đứt gãy kiến tạo và nổi lên như một dị thường trên phông thoáng hoá địa phương của nước dưới đất Sở dĩ loại nước này được xem là nước khoáng vì nó có tác dụng sinh học, được quyết định bởi tổng hàm lượng của các ion Ở nước ta hiện có 62 nguồn thuộc loại này

 Nước nóng

Trang 34

30

Nước nóng là loại nước dưới đất, có nhiệt độ trung bình cao hơn nhiệt

độ trung bình khí hậu tại vùng đó Theo tiêu chuẩn về nhiệt độ thì nước nóng được chia thành các loại:

C, số còn lại có nhiệt độ từ 30oC trở lên, đạt tiêu chuẩn xếp vào nước nóng Theo thang nhiệt độ thì được phân loại theo các cấp độ: ấm

có 131 nguồn, nóng vừa có 77 nguồn, rất nóng có 41 nguồn, quá nóng có 4 nguồn Các nguồn nước nóng được phân bố nhiều nhất ở khu vực Tây Bắc

Bộ, Nam Trung Bộ Tại các đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ do bị bao phủ bởi các trầm tích Đệ tứ rất dày nên nước nóng không có điều kiện xuất lộ, nhưng vẫn tồn tại dưới sâu và chỉ phát hiện được bằng các lỗ khoan

1.2.2 Vài nét về Du lịch chữa bệnh bằng nước khoáng ở Việt Nam

Hiện nay, ở nước ta có khoảng 400 nguồn nước khoáng, trong đó có

287 nguồn đã được điều tra Các mỏ nước khoáng thường được hình thành ở những khu vực có cấu tạo địa chất đặc biệt, phân bố ở cả ba vùng Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ ở nước ta, trong đó tập trung nhiều nhất là ở khu vực Bắc Bộ

Việc thống kê nguồn nước khoáng ở nước ta đã có từ thời phong kiến, chứng tỏ đã có hoạt động của con người ở những địa điểm đó Ngày nay, khi khoa học phát triển đã nghiên cứu và chứng minh công dụng của nước khoáng, trong điều kiện cuộc sống có nhiều thay đổi, thì nhu cầu khai thác giá trị của các nguồn nước khoáng phục vụ con người cũng ngày càng phổ biến

Trang 35

31

hơn, trong đó có mục đích phục vụ hoạt động du lịch chữa bệnh bằng nước khoáng

Trên cơ sở của một loại hình tài nguyên du lịch độc đáo này, ở nước ta

đã có nhiều khu du lịch nghỉ dưỡng được xây dựng trên các mỏ suối khoáng như: Bình Châu (Bà Rịa - Vũng Tàu), Tháp Bà (Khánh Hòa), Vĩnh Hảo (Bình Định), Thanh Tân (Thừa Thiên - Huế), Kim Bôi (Hòa Bình), Mỹ Lâm (Tuyên Quang), Quang Hanh (Quảng Ninh), Kênh Gà (Ninh Bình) Các khu du lịch nghỉ dưỡng này đều được đầu tư xây dựng hệ thống bồn, bể bơi ngâm tắm nước khoáng, cơ sở lưu trú và ăn uống Đặc điểm chung của các cơ sở này là xây dựng những sản phẩm dịch vụ trên cơ sở của tài nguyên đặc thù là nguồn nước khoáng, như ngâm tắm nước khoáng kết hợp với vật lí trị liệu mang tính

cổ truyền của dân tộc

Ở nước ta, có sự không đồng đều trong hoạt động khai thác tài nguyên nước khoáng phục vụ phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch chữa bệnh Nếu như ở khu vực Nam Trung Bộ và Nam Bộ đạt hiệu quả khá cao, dần đạt tới tính chuyên môn trong áp dụng y học vào phát triển du lịch chữa bệnh bằng nước khoáng tại các điểm suối khoáng, thì từ khu vực Trung trung Bộ trở ra Bắc Bộ lại bộc lộ những hạn chế Phần lớn các khu du lịch ở đây chưa tận dụng hết thế mạnh để phát triển loại hình du lịch chữa bệnh bằng nước khoáng mang tính chuyên sâu; các sản phẩm du lịch chữa bệnh bằng nước khoáng còn đơn giản, chưa có sự kết hợp hiệu quả với các hình thức thức trị liệu của y học dân tộc cổ truyền, vẫn hoạt động với vai trò là một sản phẩm dịch vụ du lịch, sự kết nối với các tuyến điểm còn hạn chế Ngoài ra cần kể tới những nguyên nhân do sự yếu kém của hệ thống hạ tầng cơ sở, do nhận thức của khách du lịch vẫn còn rất mơ hồ về du lịch chữa bệnh và tác dụng của nước khoáng, do phong tục - tập quán

Trang 36

32

Tuy nhiên, những hạn chế mà không phải là không có giải pháp khắc phục Du lịch chữa bệnh đang là một xu hướng du lịch phát triển mạnh trên thế giới Trong khi nền y học của chúng ta không thể cạnh tranh với các nước tiên tiến như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan về tiến bộ của Tây y, thì nước ta lại có thế mạnh về y học dân tộc cổ truyền và có sự đa dạng của các mỏ nước khoáng Khi có những định hướng phát triển đúng, có chiến lược quy hoạch lâu dài và sự đầu tư xứng tầm, nhiều điểm suối khoáng ở nước ta

có thể thu hút khách du lịch và khẳng định những thế mạnh Điều đó không chỉ góp phần tận dụng hiệu quả một nguồn tài nguyên không chỉ có giá trị khoa học, mà còn có ý nghĩa với du lịch, với sức khỏe của con người, thậm chí có thể tạo dựng nên tính độc đáo cho một loại hình du lịch của ngành du lịch Việt Nam

Tiểu kết:

Nước khoáng là một loại tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá từ xa xưa đã được con người biết đến như một phương thuốc đặc biệt Với những tiến bộ của khoa học ngày nay, giá trị của nước khoáng cùng với các công dụng của nó đã được nghiên cứu và khẳng định Với hoạt động du lịch ở nước

ta, giá trị của nhiều mỏ suối khoáng nóng không chỉ quan tâm để trở thành những điểm du lịch đơn thuần, mà còn như một sự định hướng cho một loại hình du lịch mới phục vụ nhu cầu của khách du lịch, đó là du lịch chữa bệnh bằng nước khoáng Bắc Bộ là một khu vực có lịch sử địa chất lâu đời ở nước

ta, tập trung nhiều mỏ nước khoáng có giá trị như: Kim Bôi, Mỹ Lâm, Kênh

Gà, Tiên Lãng, Thanh Thủy là điều kiện để thu hút khách du lịch Tuy nhiên, hiện nay khách du lịch đến với một số điểm suối khoáng chỉ với những hoạt động du lịch đơn thuần, qua đó cho thấy giá trị thực sự của nhiều mỏ suối khoáng chưa được phát huy Làm thế nào để giá trị khoa học của các mỏ suối khoáng mang lại tác dụng thực sự đối với sức khỏe của khách du lịch, trở

Trang 37

33

thành động cơ đi du lịch của du khách Điều đó đòi hỏi phải có sự nghiên cứu

về điều kiện và thực trạng phát triển du lịch nói chung và du lịch chữa bệnh bằng nước khoáng nói riêng, từ đó xây dựng nên mô hình về những khu du lịch chữa bệnh bằng nước khoáng để thu hút khách du lịch Trong phạm vi có hạn, đề tài giới hạn trong phạm vi nghiên cứu điều kiện và thực trạng phát triển loại hình du lịch ở trung du và duyên hải Bắc Bộ nước ta, cụ thể là tại điểm suối khoáng Tiên Lãng (Hải Phòng) và Thanh Thủy (Phú Thọ)

Trang 38

34

Chương 2: ĐIỀU KIỆN VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH

DU LỊCH CHỮA BỆNH BẰNG NƯỚC KHOÁNG

(Tại một số điểm suối khoáng ở trung du và duyên hải Bắc Bộ)

2.1 Vài nét về khu vực trung du và duyên hải Bắc Bộ

Bắc Bộ gồm 28 tỉnh, thành phố nằm ở vùng cực Bắc lãnh thổ Việt Nam, có phía Bắc giáp với Trung Quốc, phía Tây giáp với Lào và phía Đông giáp với biển Đông, là vùng rộng nhất so với các vùng Trung Bộ và Nam Bộ

ở nước ta

Địa hình Bắc Bộ đa dạng và phức tạp bao gồm đồi, núi, đồng bằng, bờ biển và thềm lục địa, có lịch sử phát triển địa hình và địa chất lâu dài, phong hóa mạnh mẽ Bề mặt địa hình của vùng thấp dần, xuôi theo hướng Tây Bắc - Đông Nam được thể hiện qua hướng chảy của các dòng sông lớn Đặc điểm địa hình tự nhiên đã chia Bắc Bộ gồm ba khu vực chính: Đồng bằng châu thổ sông Hồng, trung du và miền núi Bắc Bộ

Khu vực đồng bằng phì nhiêu rộng lớn nằm ở lưu vực sông Hồng, có diện tích 14,8 ngàn km2, bằng 4.5% diện tích toàn lãnh thổ Đây là đồng bằng châu thổ lớn thứ hai Việt Nam (sau đồng bằng sông Cửu Long với diện tích 15.000km2) do hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp lên Phần lớn

bề mặt đồng bằng có địa hình khá bằng phẳng với độ cao từ 0,4 - 12m so với mực nước biển

Khu vực trung du và miền núi có diện tích rộng lớn với kiểu địa hình gồm nhiều dãy núi cao và hiểm trở, kéo dài từ biên giới phía Bắc phía Tây tỉnh Thanh Hoá Trong vùng cũng có những khu vực có đồng cỏ với diện tích không lớn, chủ yếu xuất hiện trên các cao nguyên ở độ cao 600m - 700m

Khu vực duyên hải bao gồm phần địa hình ven bờ biển Đông của vùng Đông Bắc và châu thổ Bắc Bộ, gồm một phần diện tích của các tỉnh: Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình

Trang 39

35

Bắc Bộ có đến ba trong tổng số tám miền địa chất của Việt Nam là Đông Bắc Bộ, Bắc Bắc Bộ và Tây Bắc Bộ Lịch sử địa chất của vùng đã được ghi dấu bởi các thành tạo địa chất liên tục từ thời kỳ Tiền Cambri (cách ngày nay khoảng 4500 triệu năm) đến thế Holocen (giai đoạn đá giữa, đá mới) của phân đại Đệ Tứ, tạo nên nền móng địa hình vững chắc từ các khối núi vùng Tây Bắc cho đến khi mực nước biển đạt mức ổn định trên vịnh Hạ Long như ngày nay Nhờ hoạt động địa chất lâu dài và liên tục, nên tài nguyên tự nhiên của vùng rất phong phú, đa dạng, có ý nghĩa lớn với phát triển kinh tế như: các vỉa than, apatít, vàng, sa khoáng, đá vôi, những bãi biển đẹp và nhiều mỏ nước khoáng…

Dân cư ở sinh sống ở khu vực trung du và duyên hải Bắc Bộ bao gồm

cư dân bản địa và di cư từ nơi khác đến, gồm nhiều tộc người: Kinh, Mường, Tày, Nùng, Hoa, Sán Dìu… Sự có mặt của các nhóm cư dân này góp phần tạo nên lịch sử và sự đa dạng về bản sắc văn hóa cho vùng Bắc Bộ, song trong cuộc sống và phát triển kinh tế, họ cũng gặp không ít khó khăn do sinh sống ở những khu vực địa hình giao thông không thuận lợi, thường ở xa các trung tâm hành chính, kinh tế

Khu vực trung du và duyên hải Bắc Bộ được biết đến với sự phát triển của hoạt động kinh tế công nghiệp (khai khoáng, thủy điện, du lịch), thương mại (cửa khẩu) và nông nghiệp (lâm nghiệp, ngư nghiệp) Sự phát triển kinh

tế ở vùng hiện nay nhìn chung không đồng đều giữa các địa phương, do sự cách trở bởi yếu tố địa hình và dân cư Một số trung tâm kinh tế trong khu vực như: Phú Thọ, Hải Phòng, Quảng Ninh vừa có ưu thế phát triển công nghiệp nặng, cũng có ưu thế lớn để phát triển công nghiệp dịch vụ

Trong điều kiện gặp nhiều khó khăn về xây dựng hệ thống hạ tầng cơ

sở, cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ phát triển kinh tế công nghiệp nặng như hiện nay ở khu vực trung du và duyên hải Bắc Bộ, thì du lịch là một trong

Trang 40

36

những định hướng cần được ưu tiên, bởi công nghiệp dịch vụ vừa mang lại hiệu quả kinh tế cao so với các hoạt động sản xuất truyền thống của vùng, lại vừa tạo bước đệm để thu hút, làm động lực phát triển kinh tế công nghiệp của khu vực Trung du và duyên hải Bắc Bộ có nhiều điều kiện phát triển du lịch, trong đó tài nguyên du lịch biển, tài nguyên du lịch văn hóa đã được khai thác phát triển loại hình du lịch tham quan nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa… Du lịch chữa bệnh đang là xu hướng phát triển mới của lĩnh vực công nghiệp dịch vụ du lịch Với sự thuận lợi của điều kiện khí hậu, địa chất

ở trung du và duyên hải Bắc Bộ có nhiều mỏ nước khoáng như: Thanh Thủy (Phú Thọ), Tiên Lãng (Hải Phòng), Quang Hanh (Quảng Ninh), Kênh Gà (Ninh Bình)… Đây là điều kiện thuận lợi để khai thác phục vụ khách du lịch nói chung và triển khai loại hình du lịch chữa bệnh bằng nước khoáng nói riêng của khu vực này

2.2 Điều điện phát triển du lịch chữa bệnh tại một số điểm suối khoáng ở trung du và duyên hải Bắc Bộ

2.2.1 Suối nước khoáng nóng Tiên Lãng (Hải Phòng)

2.2.1.1 Vài nét về suối nước khoáng nóng Tiên Lãng

Từ xa xưa, nước khoáng nóng được coi là báu vật mà thiên nhiên ban tặng cho con người Đã có không ít truyền thuyết kể về việc sử dụng nước khoáng để chữa bệnh, và nước khoáng luôn có mặt trong đời sống cao sang của các bậc công hầu, vua chúa Ngày nay, nơi nào có nguồn nước khoáng nóng, nơi ấy đều trở thành những điểm nghỉ dưỡng - chăm sóc sức khỏe - chữa bệnh,

và nguồn nước khoáng ấy đều được khai thác, đóng chai, phân phối tới các nơi làm nguồn nước uống có tác dụng phục vụ sức khỏe con người

Việt Nam có nhiều nguồn nước khoáng, nhưng chủ yếu được phân bố ở các miền rừng núi xa xôi, hẻo lánh Tuy nhiên, với địa hình như một hòn đảo bốn bề sông bể bao quanh, nổi tiếng với hệ thống rừng ngập mặn ven biển

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Thế Bình (2003), Non nước Việt Nam, Nxb Văn hoá – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Non nước Việt Nam
Tác giả: Vũ Thế Bình
Nhà XB: Nxb Văn hoá – Thông tin
Năm: 2003
2. Phan Văn Duyệt ( 1999), Du lịch và sức khoẻ, Nxb Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch và sức khoẻ
Nhà XB: Nxb Y học
3. Nguyễn Văn Đính (2000), Giáo trình Quản trị kinh doanh lữ hành, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản trị kinh doanh lữ hành
Tác giả: Nguyễn Văn Đính
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2000
4. Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hoà (2004), Giáo trình Kinh tế Du lịch, Nxb Lao Động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế Du lịch
Tác giả: Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hoà
Nhà XB: Nxb Lao Động – Xã hội
Năm: 2004
5. Thế Đạt (2005), Tài nguyên du lịch Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên du lịch Việt Nam
Tác giả: Thế Đạt
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
7. Nguyễn Đình Hoè (2001), Du lịch bền vững, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch bền vững
Tác giả: Nguyễn Đình Hoè
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
8. Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam (2002), Từ điển bách khoa Việt Nam, Tập2,Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển bách khoa Việt Nam
Tác giả: Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Từ điển bách khoa
Năm: 2002
9. Đinh Trung Kiên (2006), Một số vấn đề về du lịch Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đinh Trung Kiên (2006), "Một số vấn đề về du lịch Việt Nam
Tác giả: Đinh Trung Kiên
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
10. Phạm Trung Lương (2000), Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam
Tác giả: Phạm Trung Lương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
11. Đổng Ngọc Minh (2000), Kinh tế du lịch và Du lịch học, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế du lịch và Du lịch học
Tác giả: Đổng Ngọc Minh
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2000
12. Vũ Đức Minh (1999), Tổng quan du lịch, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan du lịch
Tác giả: Vũ Đức Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1999
13. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ( 2005), Luật Du lịch, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Du lịch
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
14. Nguyễn Bích San (2000), Cẩm nang hướng dẫn du lịch, Nxb Văn hoá – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang hướng dẫn du lịch
Tác giả: Nguyễn Bích San
Nhà XB: Nxb Văn hoá – Thông tin
Năm: 2000
15. Trần Đức Thanh ( 1998), Nhập môn khoa học du lịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn khoa học du lịch
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
16. Nguyễn Viết Thịnh (2003), Giáo trình Địa lí kinh tế xã hội Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Địa lí kinh tế xã hội Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Viết Thịnh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
17. Nguyễn Tài Thu (1984), Châm cứu chữa bệnh, Viện châm cứu Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Châm cứu chữa bệnh
Tác giả: Nguyễn Tài Thu
Năm: 1984
18. Nguyễn Minh Tuệ (1999), Địa lý du lịch, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý du lịch
Tác giả: Nguyễn Minh Tuệ
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1999
19. Nguyễn Mạnh Ty (Chủ nhiêm, 2008), Thực trạng và giải pháp đẩy mạnh loại hình du lịch chữa bệnh tại Việt Nam, Báo cáo tổng hợp đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp đẩy mạnh loại hình du lịch chữa bệnh tại Việt Nam
20. Bùi Thị Hải Yến (2006), Quy hoạch du lịch, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch du lịch
Tác giả: Bùi Thị Hải Yến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
21. Bùi Thị Hải Yến (2006), Tuyến điểm du lịch Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội.BÁO, TẠP CHÍ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyến điểm du lịch Việt Nam
Tác giả: Bùi Thị Hải Yến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2: Các loại nguồn nước khoáng nóng và tác dụng trị bệnh - Nghiên cứu điều kiện để phát triển loại hình du lịch chữa bệnh bằng nước khoáng (Tại một số điểm suối khoáng ở trung du & duyên hải Bắc Bộ
Bảng 1.2 Các loại nguồn nước khoáng nóng và tác dụng trị bệnh (Trang 28)
Bảng 2.2: Trình độ nguồn nhân lực tại khu du lịch suối khoáng nóng - Nghiên cứu điều kiện để phát triển loại hình du lịch chữa bệnh bằng nước khoáng (Tại một số điểm suối khoáng ở trung du & duyên hải Bắc Bộ
Bảng 2.2 Trình độ nguồn nhân lực tại khu du lịch suối khoáng nóng (Trang 46)
Bảng 2.4: Dịch vụ phục vụ khách du lịch tại Khu du lịch suối - Nghiên cứu điều kiện để phát triển loại hình du lịch chữa bệnh bằng nước khoáng (Tại một số điểm suối khoáng ở trung du & duyên hải Bắc Bộ
Bảng 2.4 Dịch vụ phục vụ khách du lịch tại Khu du lịch suối (Trang 54)
Bảng 2.5: Dịch vụ phục vụ khách du lịch tại Khu nghỉ dưỡng - Nghiên cứu điều kiện để phát triển loại hình du lịch chữa bệnh bằng nước khoáng (Tại một số điểm suối khoáng ở trung du & duyên hải Bắc Bộ
Bảng 2.5 Dịch vụ phục vụ khách du lịch tại Khu nghỉ dưỡng (Trang 56)
Bảng 2.7:   Phân đoạn thị trường khách du lịch theo quốc tịch tại     khu du lịch suối khoáng nóng Tiên Lãng năm 2009 - Nghiên cứu điều kiện để phát triển loại hình du lịch chữa bệnh bằng nước khoáng (Tại một số điểm suối khoáng ở trung du & duyên hải Bắc Bộ
Bảng 2.7 Phân đoạn thị trường khách du lịch theo quốc tịch tại khu du lịch suối khoáng nóng Tiên Lãng năm 2009 (Trang 66)
Bảng 2.9: Cơ cấu doanh thu sản phẩm, dịch vụ tại một số điểm suối  khoáng - Nghiên cứu điều kiện để phát triển loại hình du lịch chữa bệnh bằng nước khoáng (Tại một số điểm suối khoáng ở trung du & duyên hải Bắc Bộ
Bảng 2.9 Cơ cấu doanh thu sản phẩm, dịch vụ tại một số điểm suối khoáng (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w