Nhiều quốc gia trên thế giới đã nỗ lực trong việc xây dựng, phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng của đất nước mình để có thể thu hút khách du lịch: Pháp thực hiện chiến lược quốc gia ch
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THU THUỶ
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU
LỊCH VĂN HOÁ TỈNH NAM ĐỊNH
Trang 2MỤC LỤC
PHỤ BÌA
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU ……… 06
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SẢN PHẨM DU LỊCH VĂN HÓA 12
1.1 Các khái niệm cơ bản 12
1.1.1 Du lịch văn hóa 12
1.1.2 Tài nguyên du lịch văn hóa 13
1.1.3 Sản phẩm du lịch 14
1.1.4 Sản phẩm du lịch văn hóa 16
1.1.5 Tuyến điểm du lịch 19
1.1.6 Xúc tiến du lịch 20
1.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa trên thế giới và ở Việt Nam 20
1.2.1 Kinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa trên thế giới 20
1.2.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa ở Việt Nam 25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH NAM ĐỊNH 29
2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của tỉnh Nam Định 29
2.2 Điều kiện và tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tỉnh Nam Định 32
2.2.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 32
2.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 34
2.2.3 Cơ sở hạ tầng 37
2.2.4 Tài nguyên du lịch văn hóa tiêu biểu 40
2.2.4.1 Tài nguyên văn hóa vật thể 40
Trang 32.2.4.2 Tài nguyên văn hóa phi vật thể 45
2.2.5 Đánh giá chung về điều kiện và tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tỉnh Nam Định 51
2.3 Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa và phát triển sản phẩm du lịch văn hóa của Nam Định 53
2.3.1 Cơ sở vật chất kỹ thuật 53
2.3.2 Nguồn nhân lực du lịch 57
2.3.3 Thị trường khách du lịch 61
2.3.4 Doanh thu du lịch 65
2.3.5 Công tác xúc tiến và quảng bá du lịch 67
2.3.6 Sản phẩm và hoạt động du lịch văn hóa 68
2.3.6.1 Các tuyến, điểm du lịch 68
2.3.6.2 Các sản phẩm du lịch 71
2.4 Đánh giá hoạt động du lịch văn hóa và phát triển sản phẩm du lịch văn hóa của Nam Định 74
2.4.1 Những kết quả đạt được 74
2.4.2 Những mặt hạn chế 75
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH NAM ĐỊNH 79
3.1 Định hướng phát triển du lịch tỉnh Nam Định 79
3.2 Định hướng phát triển sản phẩm du lịch văn hóa tỉnh Nam Định 80
3.3 Một số giải pháp 83
3.3.1 Hoàn thiện công tác tổ chức quản lý về du lịch 83
3.3.2 Hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 85
3.3.3 Chính sách phát triển nguồn nhân lực 86
3.3.4 Xây dựng sản phẩm du lịch văn hóa tạo ra sản phẩm du lịch đặc thù 87
3.3.5 Nghiên cứu phát triển thị trường 89
3.3.6 Tăng cường hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch 92
Trang 43.4 Một số kiến nghị 94
3.4.1 Kiến nghị với UBND tỉnh Nam Định và Sở VH – TT – DL Nam Định 94
3.4.2 Kiến nghị với chính quyền địa phương 95
3.4.3 Kiến nghị với các doanh nghiệp du lịch 95
3.4.4 Kiến nghị với các cơ sở đào tạo du lịch 96
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
PHỤ LỤC 104
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội HĐND: Hội đồng nhân dân
UBND: Ủy ban Nhân dân
UNWTO: Tổ chức Du lịch thế giới VHTTDL: Văn hóa Thể thao Du lịch
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
1 Bảng 2.1 Các cơ sở lưu trú du lịch Nam Định giai đoạn 2006 – 2010 53
2 Bảng 2.2 Cơ cấu cơ sở lưu trú du lịch tỉnh Nam Định năm 2010 54
3 Bảng 2.3 Lao động trong ngành du lịch Nam Định giai đoạn 2006 –
5 Bảng 2.5 Khách du lịch quốc tế đến Nam Định giai đoạn 2006 – 2010 62
6 Bảng 2.6 Khách du lịch nội địa đến Nam Định giai đoạn 2006 - 2010 63
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, du lịch văn hóa trở thành xu hướng của các nước đang phát triển vì loại hình du lịch này đã và đang đem lại giá trị lớn cho cộng đồng xã hội Du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc, những tín ngưỡng phong tục… để tạo sức hút đối với khách du lịch Nhiều quốc gia trên thế giới đã nỗ lực trong việc xây dựng, phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng của đất nước mình để có thể thu hút khách du lịch: Pháp thực hiện chiến lược quốc gia chung về nâng cao chất lượng đón tiếp, Thái Lan sử dụng chiến lược cạnh tranh giá và yếu tố lễ hội trong giai đoạn 2005 – 2006 hoặc Inđônêxia dựa vào thế mạnh tài nguyên văn hóa để phát triển các làng du lịch văn hóa Như vậy, có thể thấy, trên cơ sở tiềm năng chính, các quốc gia đã dựa vào đó để phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng
Trong xu hướng hội nhập, ngành du lịch Việt Nam cũng đã có những bước phát triển nhanh chóng để hòa mình vào xu hướng đó Trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII đã nêu rõ: “Phát triển du lịch tương xứng với tiềm năng to lớn của đất nước theo hướng du lịch văn hóa, sinh thái môi trường, xây dựng các chương trình và các điểm hấp dẫn du lịch về văn hóa, di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh” Với tiềm năng tài nguyên du lịch phong phú, nhiều sản phẩm du lịch cụ thể
đã được hình thành, tạo ra các hình ảnh khác nhau của khách về du lịch Việt Nam Các hoạt động du lịch văn hóa được tổ chức dựa trên những đặc điểm văn hóa của vùng miền như: Con đường di sản miền Trung, Festival Huế, Du lịch Điện Biên, Carnaval Hạ Long, Festival biển Nha
Trang… đã thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoài nước
Nam Định là tỉnh đồng bằng ven biển Nam châu thổ sông Hồng, cách thủ đô Hà Nội 90km Nam Định có điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã
Trang 8hội và những yếu tố nguồn lực thuận lợi để phát triển ngành du lịch với
tốc độ nhanh, bền vững
Nam Định là mảnh đất “Địa linh nhân kiệt”, nơi sinh ra nhiều danh nhân của đất nước, nơi phát tích vương triều Trần – một triều đại hưng thịnh vào bậc nhất trong lịch sử phong kiến Trên địa bàn tỉnh hiện
có trên hai nghìn di tích lịch sử văn hóa cách mạng, trong đó có gần 300
di tích đã được xếp hạng Nhiều quần thể di tích có giá trị lịch sử, văn hóa và kiến trúc gắn liền với các lễ hội truyền thống, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc có sức hấp dẫn, thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế như: khu di tích lịch sử văn hóa đền Trần – chùa Tháp, Phủ Giầy, chùa Cổ Lễ, chùa Keo Hành Thiện, nhà lưu niệm cố Tổng bí thư Trường Chinh…; các làng nghề truyền thống nổi tiếng được nhiều người biết đến như làng nghề chạm khảm gỗ La Xuyên, sơn mài Cát Đằng, đúc đồng Tống Xá, mây tre đan Vĩnh Hào, dệt lụa ươm tơ Cổ Chất, cây cảnh
Vị Khê…; các loại hình văn hóa phi vật thể mang nét đặc trưng riêng gắn liền với cuộc sống lao động của cộng đồng cư dân nơi đây: các điệu chèo cổ, những điệu hát văn, múa rối nước… Nam Định còn có 72km bờ biển với những bãi biển đã được khai thác, xây dựng thành các khu du lịch biển hấp dẫn như Thịnh Long (Hải Hậu), Quất Lâm (Giao Thủy) Đặc biệt, Vườn quốc gia Xuân Thủy là khu Ramsar đầu tiên của Việt Nam, đồng thời là vùng lõi có tầm quan trọng đặc biệt của khu dự trữ
sinh quyển châu thổ sông Hồng và là một điểm du lịch sinh thái hấp dẫn
Với tiềm năng du lịch đa dạng, phong phú, Nam Định có điều kiện trở thành một địa danh du lịch có sức thu hút lớn bởi nhiều loại hình: du lịch sinh thái, du lịch biển, du lịch tham quan nghiên cứu tìm hiểu văn
hóa dân gian lễ hội, du lịch văn hóa
Tuy nhiên, sự phát triển du lịch của tỉnh còn chậm, quy mô nhỏ, chưa phát huy được tiềm năng và lợi thế để tạo bước đột phá Sản phẩm
Trang 9du lịch nghèo nàn, phần lớn còn khai thác ở dạng tự nhiên, chưa được quan tâm đầu tư phát triển một cách bài bản khoa học, chất lượng còn hạn chế, chưa đủ sức cạnh tranh và hấp dẫn du khách, trong đó có sản
phẩm du lịch văn hóa
Tác giả lựa chọn đề tài “Nghiên cứu phát triển sản phẩm du lịch
văn hóa tỉnh Nam Định” làm luận văn tốt nghiệp với mong muốn đưa
ra được những giải pháp phát triển sản phẩm du lịch văn hóa, xây dựng sản phẩm du lịch văn hóa đặc trưng của Nam Định nhằm thúc đẩy du lịch vùng đất này phát triển đúng với tiềm năng tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng của nó
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến đề tài như: Nghiên cứu xây dựng sản phẩm du lịch Việt Nam có tính cạnh tranh trong khu vực và quốc tế (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của tác giả Đỗ Cẩm Thơ), Nghiên cứu xây dựng sản phẩm du lịch biển đảo vùng du lịch Bắc Bộ (Viện Nghiên cứu phát triển
du lịch), Cơ sở khoa học để phát triển các sản phẩm du lịch thể thao - mạo hiểm vùng núi phía Bắc (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của tác giả Phạm Trung Lương, Viện Nghiên cứu phát triển du lịch) Bên cạnh
đó, có một số bài báo đăng tải trên các tạp chí trong nước viết về du lịch Nam Định Các bài viết, nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào phát triển
du lịch văn hóa, lễ hội tại Nam Định và những tác động tích cực và tiêu cực của nó giữa văn hóa và du lịch đối với đời sống xã hội Không dừng lại ở việc kế thừa một số nghiên cứu về xây dựng sản phẩm du lịch của Việt Nam, về du lịch văn hóa tại Nam Định, luận văn tập trung hướng tới đối tượng là các tài nguyên du lịch văn hóa chính làm cơ sở cho việc phát triển sản phẩm du lịch văn hóa của Nam Định và triển khai đề tài theo hướng phát triển sản phẩm du lịch văn hóa của Nam Định đa dạng
về chủng loại, nâng cao về chất lượng, tạo ra được những sản phẩm du
Trang 10lịch độc đáo mang đặc thù riêng của tỉnh Vì vậy, nghiên cứu phát triển sản phẩm du lịch văn hóa Nam Định là một hướng đi mới nên chắc chắn còn nhiều thiếu sót, rất mong được các tác giả khác quan tâm, hoàn thiện trong các công trình nghiên cứu lần sau
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Nguồn tài nguyên du lịch văn hóa làm cơ sở cho việc phát triển
sản phẩm du lịch văn hoá tỉnh Nam Định
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Nam Định, tập trung nghiên cứu tại thành phố Nam Định, huyện Vụ Bản, huyện Ý Yên, huyện Nam Trực, huyện Xuân Trường, huyện Trực Ninh – nơi có nhiều tài nguyên du lịch văn hóa tiêu biểu cho tỉnh Nam Định
4 Mục đích nghiên cứu
- Tổng quan một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu,
những bài học trong nước và quốc tế về phát triển du lịch văn hóa
- Phân tích, đánh giá những điều kiện phát triển du lịch văn hóa,
thực trạng hoạt động du lịch văn hóa và phát triển sản phẩm du lịch văn hóa của tỉnh Nam Định về tiềm năng, lợi thế sẵn có, những thuận lợi và khó khăn của Nam Định trong phát triển du lịch nói chung và phát triển sản phẩm du lịch văn hóa nói riêng
- Đề xuất một số giải pháp có thể vận dụng góp phần phát triển sản phẩm
du lịch văn hóa tỉnh Nam Định
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã sử dụng những
phương pháp nghiên cứu sau đây:
Trang 11- Phương pháp thu thập và xử lý thông tin, số liệu: Luận văn sử
dụng phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và sơ cấp
+ Thu thập nguồn dữ liệu thứ cấp từ các kết quả nghiên cứu, sách báo tạp chí, các trang web điện tử, các tài liệu, báo cáo của cơ quan quản
lý du lịch và chính quyền địa phương Dựa trên cơ sở đó đưa ra được những khái niệm chung nhất liên quan đến đề tài đang nghiên cứu, đưa
ra được những đánh giá và những giải pháp để phát triển sản phẩm du lịch văn hóa của Nam Định
+ Thu thập dữ liệu sơ cấp bằng việc khảo sát thực địa, phỏng vấn các cán bộ chuyên trách du lịch của tỉnh Nam Định và một số người dân địa phương ở nơi có tài nguyên du lịch văn hóa
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Phương pháp này được dùng
để phân tích mối quan hệ chặt chẽ giữa du lịch và văn hóa, phân tích tuyến điểm du lịch tiêu biểu hiện đang khai thác thành sản phẩm du lịch văn hóa của Nam Định, phân tích các số liệu, thông tin liên quan đến đề
tài, từ đó đề xuất giải pháp thực hiện
- Phương pháp nghiên cứu thực địa: Đây là phương pháp nghiên
cứu nhằm góp phần làm cho kết quả nghiên cứu có tính xác thực hơn Việc có mặt tại thực địa sẽ giúp tác giả có điều kiện đối chiếu, bổ sung nhiều thông tin cần thiết và đưa ra được những giải pháp hợp lý và khả thi Trong quá trình nghiên cứu thực địa tác giả đã tiến hành thu thập ý kiến của du khách, cư dân địa phương, ban quản lý khu di tích một số vấn đề: công tác bảo vệ môi trường tự nhiên, ý kiến của du khách về điểm du lịch, hoạt động kinh doanh tại điểm du lịch
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và danh mục tài
liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về sản phẩm du lịch văn hóa
Trang 12Chương 2: Thực trạng phát triển sản phẩm du lịch văn hóa tỉnh Nam Định
Chương 3: Một số giải pháp góp phần phát triển sản phẩm du lịch
văn hóa tỉnh Nam Định
Trang 13NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SẢN PHẨM
DU LỊCH VĂN HÓA 1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Du lịch văn hóa
Du lịch văn hóa là một loại hình du lịch kết hợp giữa văn hóa và
du lịch Có nhiều cách hiểu khác nhau về du lịch văn hóa
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO): “Du lịch văn hóa bao
gồm hoạt động của những người với động cơ chủ yếu là nghiên cứu, khám phá về văn hóa như các chương trình nghiên cứu, tìm hiểu về nghệ thuật biểu diễn, về các lễ hội và các sự kiện văn hóa khác nhau, thăm các di tích và đền đài, du lịch nghiên cứu thiên nhiên, văn hóa hoặc nghệ thuật dân gian và hành hương”
Theo Hội đồng Quốc tế các di chỉ và di tích (ICOMOS): “Du lịch
văn hóa là loại hình du lịch mà mục tiêu là khám những di tích và di chỉ
Nó mang lại những ảnh hưởng tích cực bằng việc đóng góp vào việc duy
tu, bảo tồn Loại hình này trên thực tế đã minh chứng cho những nỗ lực bảo tồn và tôn tạo, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng vì những lợi ích văn hóa - kinh tế - xã hội”
Theo Luật Du lịch Việt Nam thì: “Du lịch văn hóa là hình thức du
lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống”
“Du” có nghĩa là “đi chơi”, “lịch” có nghĩa là “trải nghiệm”, du
lịch là “đi chơi để trải nghiệm” “Văn” có nghĩa gốc là làm cho đẹp hơn, “hóa” có nghĩa gốc là biến hóa, biến đổi, “văn hóa” là biến đổi cho thành đẹp “Du lịch văn hóa” là “đi chơi để trải nghiệm cái đẹp” [2,
tr.8]
Trang 14Như vậy, du lịch văn hóa là một loại hình du lịch dựa vào việc khai thác các tài nguyên nhân văn của một vùng, một quốc gia nhằm thỏa mãn những nhu cầu nhận thức thẩm mỹ của con người khi đi du lịch
1.1.2 Tài nguyên du lịch văn hóa
Tài nguyên du lịch nhân văn là các đối tượng và hiện tượng do con người tạo ra được sử dụng dưới nhiều hình thức trực tiếp và gián tiếp phục vụ cho các hoạt động du lịch Đặc trưng cơ bản của tài nguyên
du lịch nhân văn là [10]:
- Có tác dụng nhận thức nhiều hơn là tác dụng giải trí
- Thời gian du lịch tìm hiểu các đối tượng này thường diễn ra ngắn Số người quan tâm đến nguồn tài nguyên nhân văn thường có trình
độ văn hóa, thu nhập và yêu cầu cao
- Các tài nguyên du lịch nhân văn thường tập trung ở các điểm quần cư và các thành phố lớn
- Quá trình khai thác cho mục đích kinh doanh du lịch không có tính mùa vụ, ít phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên
Tài nguyên du lịch nhân văn rất đa dạng và phong phú, quan trọng nhất là: các di sản văn hóa thế giới, các di tích lịch sử văn hóa cách mạng, các lễ hội, các làng nghề, các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học, các hoạt động văn hóa thể thao
Nhìn từ góc nhìn du lịch thì văn hóa là nguồn tài nguyên nhân văn của du lịch Vì thế, có thể coi các tài nguyên du lịch nhân văn cũng chính là tài nguyên du lịch văn hóa và các loại tài nguyên du lịch nhân văn đều được khai thác để phục vụ cho hoạt động du lịch văn hóa Như
vậy, chúng ta có thể hiểu “tài nguyên du lịch văn hóa gồm truyền thống
văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con
Trang 15người và các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể khác có thể sử dụng
với mục đích phục vụ du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du
lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch”
Tài nguyên du lịch văn hóa gồm hai loại tài nguyên văn hóa vật thể và tài nguyên văn hóa phi vật thể, trong đó [2, tr 37]:
Tài nguyên văn hóa vật thể Tài nguyên văn hóa phi vật thể
- Di sản văn hóa thế giới vật
thể
- Di tích lịch sử văn hóa, danh
thắng cấp quốc gia và địa
phương
- Các cổ vật và bảo vật quốc
gia
- Các công trình đương đại
- Di sản văn hóa thế giới truyền miệng và phi vật thể
- Văn hóa ứng xử, phong tục, tập quán
- Văn hóa các tộc người
- Các phát minh, sáng kiến khoa học
- Các hoạt động văn hóa, thể thao, kinh tế, xã hội có tính sự kiện
1.1.3 Sản phẩm du lịch
Các khái niệm về sản phẩm du lịch rất đa dạng do nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng hầu hết đều có chung những đặc điểm của sản
phẩm du lịch
Theo Michael M Cotlman: “Sản phẩm du lịch là một tổng thể
bao gồm các thành phần không đồng nhất vừa hữu hình vừa vô hình”
Tính hữu hình được thể hiện cụ thể như: thức ăn, đồ uống, các sản phẩm
lưu niệm,… còn tính hữu hình được thể hiện là các dịch vụ du lịch, các
dịch vụ bổ trợ khác Robert Christie Mill lại cho rằng sản phẩm du lịch
Trang 16có 4 chiều định vị là điểm hấp dẫn du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, vận chuyển du lịch, lòng hiếu khách
Theo Luật Du lịch: “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần
thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch”
Các dịch vụ đó bao gồm: dịch vụ lữ hành, dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống, dịch vụ vui chơi giải trí, dịch vụ thông tin hướng dẫn và các dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch
“Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách, được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó” [8, tr 27]
Sản phẩm du lịch được cấu thành bởi nhiều yếu tố Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO) đã đưa ra hai nhóm chính cấu thành bản chất của sản phẩm du lịch
Nhóm thứ nhất bao gồm các yếu tố tự nhiên như:
- Điều kiện khí hậu
- Tính hấp dẫn, sự đa dạng của tài nguyên du lịch
- Đa dạng về tài nguyên văn hóa lịch sử, khảo cổ
- Nằm ở vị trí có khả năng tiếp cận tốt với thị trường mục tiêu hoặc có hướng tốt dễ dàng cho nhu cầu phát triển các sân bay, cảng biển cần thiết
- Khả năng tiếp cận nguồn nước dồi dào
- Lòng hiếu khách của người dân tại các điểm đến
Nhóm thứ hai là nhóm các đặc điểm tự tạo:
- Hệ thống giao thông tốt, có khả năng tiếp cận dễ dàng tới các vùng khác nhau trong cả nước, có sân bay tương xứng
Trang 17- Tập hợp các khách sạn, khu du lịch và các tiện nghi lưu trú khác, các nhà hàng, quán bar và các dịch vụ giải trí
- Đa dạng các tiện nghi thể thao, giải trí
- Một chuỗi các tiện nghi vui chơi và mua sắm
- Kinh tế địa phương tại mỗi điểm đến có thể cung ứng được các dịch vụ cần thiết cho nhu cầu du lịch của du khách
- Cơ sở hạ tầng phát triển du lịch có đủ năng lực và có khả năng phát triển thêm
- Các dịch vụ cộng đồng đã phát triển tốt như cảnh sát, đội cứu hỏa, các dịch vụ y tế, dịch vụ bưu điện, dịch vụ ngân hàng
- Các hoạt động văn hóa nghệ thuật đương đại phát triển rộng rãi
Trang 18Sản phẩm du lịch và sản phẩm văn hóa có sự gắn bó nhưng cũng
có nhiều sự khác biệt như [23, tr 33]:
Sản phẩm văn hóa Sản phẩm du lịch
- Bền vững, tính bất biến cao
- Mang nặng dấu ấn của cộng đồng
cư dân bản địa
- Dùng cho tất cả các đối tượng
khác nhau, phục vụ mọi người
- Sản xuất ra không phải để bán,
chủ yếu phục vụ đời sống sinh hoạt
văn hóa – tinh thần của cư dân bản
địa
- Chú trọng giá trị tinh thần, giá trị
không đo được hết bằng giá cả
- Quy mô hạn chế, thời gian và
- Sản xuất ra phải được bán ra thị trường, bán cho du khách, phục vụ nhu cầu của các đối tượng du khách là cư dân của các vùng miền khác nhau
- Giá trị văn hóa đi kèm giá trị kinh tế - xã hội Giá trị đo được bằng giá cả
- Quy mô không hạn chế, thời gian và không gian xác định
- Định tính, định lượng được thể hiện qua thời gian hoạt động Giá trị của sản phẩm là hữu hình, biểu hiện thông qua những chỉ số kinh tế thu được
Sản phẩm du lịch văn hóa vừa là một sản phẩm du lịch vừa là một sản phẩm văn hóa Chúng có sự gắn bó với nhau nhưng cũng có sự khác biệt Sản phẩm du lịch văn hóa là một sản phẩm văn hóa được đưa vào hoạt động kinh doanh du lịch nhằm thỏa mãn các nhu cầu của du khách Đồng thời sản phẩm du lịch văn hóa cũng là một sản phẩm du lịch được khai thác và sử dụng trong các chương trình du lịch văn hóa [2, tr.19] Cũng gần với đặc điểm của sản phẩm du lịch thì đặc điểm của sản phẩm
Trang 19du lịch văn hóa là vừa hữu hình vừa vô hình, quá trình sản xuất và tiêu thụ diễn ra gần như đồng thời, chỉ có thể đánh giá được sau khi đã sử dụng xong
Sản phẩm du lịch văn hóa được cấu thành bởi ba yếu tố chính là: yếu tố tài nguyên du lịch văn hóa (di tích, lễ hội, truyền thuyết…), yếu tố dịch vụ (dịch vụ tham quan, dịch vụ vui chơi giải trí, dịch vụ lưu trú, ăn uống, vận chuyển…), yếu tố môi trường tự nhiên và môi trường kinh tế
xã hội
Tài nguyên du lịch văn hóa là yếu tố góp phần quan trọng nhất trong việc tạo ra bản sắc đặc trưng cho điểm du lịch và đóng vai trò quyết định trong việc tạo ra sức hút đối với các thị trường khách du lịch
Vì thế, có thể coi tài nguyên du lịch văn hóa là điều kiện tiên quyết tạo nên hoạt động du lịch, là yếu tố cơ sở để xây dựng sản phẩm du lịch văn hóa Tất cả những gì con người sáng tạo ra thêm đều nhằm tăng thêm giá trị cho điểm du lịch
Quá trình du khách hưởng thụ các giá trị tài nguyên cũng là quá trình du khách sử dụng các dịch vụ của du lịch Dịch vụ du lịch là những phương tiện làm cầu nối cho du khách để tiếp cận với các giá trị của tài nguyên Vì vậy, các hoạt động dịch vụ du lịch cần thông qua hình thức, nội dung hoạt động của mình để giới thiệu với du khách các giá trị đặc thù của tài nguyên
Môi trường tự nhiên và môi trường kinh tế - xã hội là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và độ bền vững của tài nguyên du lịch văn hóa Môi trường tự nhiên trong sạch có lợi cho sức khỏe con người Môi trường kinh tế - xã hội với các điều kiện kinh tế tốt, cơ sở hạ tầng tiện nghi, người dân hiểu biết sẽ giúp du khách cảm thấy an tâm, dễ chịu hơn khi đến điểm du lịch
Trang 201.1.5 Tuyến, điểm du lịch
Điểm du lịch là nơi đến của khách du lịch trong thời gian nhất định trên tuyến du lịch, là nơi có tài nguyên du lịch được khai thác cho các hoạt động du lịch Xét về mặt lãnh thổ, điểm du lịch có quy mô nhỏ nhưng khi thể hiện trên bản đồ du lịch đó sẽ là những điểm riêng biệt
Dù có quy mô nhỏ nhưng trong thực tế điểm du lịch cũng chiếm một diện tích có quy mô khác nhau, có thể tương đối lớn, ví dụ: điểm du lịch Ngũ Hành Sơn, điểm du lịch Hội An, điểm du lịch địa đạo Vĩnh Mốc, điểm du lịch cố đô Huế,…
Theo Luật Du lịch: “Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp
dẫn có khả năng thu hút khách du lịch”
Điểm du lịch là một đơn vị lãnh thổ du lịch, nơi tập trung tài nguyên du lịch (tự nhiên, văn hóa lịch sử hoặc kinh tế - xã hội) hay một loại công trình riêng biệt phục vụ du lịch hay kết hợp cả hai Vì thế, điểm du lịch có thể được phân thành hai loại: điểm tài nguyên và điểm chức năng Với mỗi điểm du lịch, thời gian lưu trú của khách du lịch tương đối ngắn (không quá 1 – 2 ngày) Một điểm du lịch tốt cần phải có môi trường (tự nhiên và văn hóa xã hội) trong lành, có các điều kiện đảm bảo các dịch vụ tối thiểu cho du khách (khách sạn, thông tin liên lạc, ăn uống, mua sắm hàng lưu niệm…)
Các tuyến du lịch được xem là sản phẩm du lịch đặc biệt Dựa vào
hệ thống đường bộ, đường biển, đường sông, đường hàng không, hệ thống đô thị và các cơ sở lưu trú cũng như giá trị của các điểm đến du lịch để hình thành nên các tour du lịch đáp ứng được nhu cầu tham quan
du lịch của khách quốc tế và khách trong nước
Tuyến du lịch là một đơn vị tổ chức không gian du lịch được tạo bởi nhiều điểm du lịch khác nhau Cơ sở để xác định tuyến du lịch là các điểm du lịch và hệ thống giao thông thuận tiện Do vậy, tuyến du lịch có
Trang 21thể là tuyến đường bộ, tuyến đường sắt, tuyến đường thủy, tuyến đường hàng không Đối với cấp quốc gia có thể là tuyến nội vùng hoặc tuyến liên vùng Đối với cấp tỉnh có tuyến du lịch nội tỉnh và tuyến du lịch liên tỉnh Tuyến du lịch cũng có thể là tuyến du lịch tổng hợp với các điểm
du lịch có chức năng khác nhau (du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch thể thao,…) hoặc là tuyến du lịch chuyên đề với các điểm du lịch có cùng chức năng
Theo Luật Du lịch thì: “Xúc tiến du lịch là hoạt động tuyên truyền,
quảng bá, vận động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội phát triển du lịch”
Các doanh nghiệp du lịch ở Việt Nam hiện nay đều có một hệ thống các biện pháp xúc tiến du lịch và một trong số dạng chủ yếu của hoạt động xúc tiến du lịch là: quảng cáo, marketing trực tiếp, quan hệ công chúng và tuyên truyền, kích thích tiêu thụ, bán hàng trực tiếp, Internet và truyền thông tích hợp
1.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Kinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa trên thế giới [36]
♦ Bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của Malaysia
Trang 22Malaysia là đất nước giàu tiềm năng du lịch với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, các giá trị văn hóa dân tộc đặc sắc hấp dẫn Tất
cả các yếu tố trên tạo thành một điểm độc đáo trong các sản phẩm du lịch của Malaysia
Trong những năm gần đây, Chính phủ Malaysia đã đầu tư rất nhiều cho việc bảo tồn các khu rừng nguyên sinh, các khu bảo tồn quốc gia nhằm duy trì một môi trường trong lành và tính hấp dẫn cho các sản phẩm du lịch sinh thái của đất nước mình Mặc dù vậy, bán đảo còn có một giá trị hấp dẫn khác đối với mỗi du khách đến thăm, đây là nơi quy
tụ của hầu hết các nền văn hóa nổi tiếng trên thế giới Lịch sử đất nước
đã ghi nhận sự tồn tại của các nền văn hóa của các quốc gia đã từng xâm chiếm quốc gia này như Bồ Đào Nha, Anh, Hà Lan, Chiêm Thành, Thái Lan, Nhật Bản và văn hóa Malay bản địa Tất cả các dân tộc trên đều đã lưu lại các dấu ấn văn hóa để hình thành nên nền văn hóa của Malaysia ngày nay Các giá trị văn hóa bản địa kết hợp với các giá trị văn hóa để hình thành nên nền văn hóa ngoại lai đã được nội địa hóa đã tạo thành một sản phẩm du lịch độc đáo khác của Malaysia - du lịch văn hóa bản địa
Với những lợi thế nói trên, Bộ Văn hóa, Nghệ thuật và Du lịch của Malaysia đã xác định mục tiêu phát triển chủ đạo của ngành du lịch là hướng tới mục tiêu phát triển bền vững trên cơ sở bảo tồn các nguồn gen quý hiếm, duy trì đa dạng sinh học và phát huy bản sắc văn hóa Malay truyền thống nhưng không phủ nhận sự pha trộn của các dòng văn hóa ngoại lai nhằm tạo ra các sản phẩm du lịch bền vững độc đáo
Người dân Malaysia có truyền thống mến khách, ưa thích giao du kết bạn với mọi người và sẵn lòng mời bạn bè, du khách bốn phương về nghỉ tại nhà của mình Bên cạnh đó, đối với du khách thì các khu nhà truyền thống của thổ dân Malay luôn luôn là yếu tố thu thút, hấp dẫn họ
Trang 23Chính vì vậy, chương trình du lịch nghỉ tại nhà dân tại khu làng Desa Murni, ngoại ô Kualar Lumpur được xây dựng như một phần trong hành trình du lịch trên đất nước Malaysia
Bắt đầu từ năm 1988, chương trình du lịch này được Bộ Văn hóa - Nghệ thuật và Du lịch phê duyệt và tiến hành tại 5 làng: Desa Murni Sanggang, Desa Murni Sonsang, Desa Murni Kerdau, Desa Murni Ketam và Desa Murni Perangap Chỉ với 90 phút đi ô tô từ trung tâm Kuala Lumpur là du khách có thể tiếp cận được với khu làng này Mục đích chính của chương trình du lịch nghỉ tại nhà dân nhằm giúp cho du khách có điều kiện được tiếp xúc, trao đổi và trực tiếp tham gia vào đời sống sinh hoạt của cộng đồng người Malaysia bản địa và nhằm tạo điều kiện duy trì và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của người dân Malaysia cũng như góp phần nâng cao mức sống cho người dân địa phương
Trong năm đầu tiên, dự án nghỉ tại nhà dân tại 5 làng này chỉ thu hút được 10 người khách, tuy nhiên chỉ 10 năm sau số lượng các gia đình trực tiếp tham gia đón khách đã tăng lên hơn 100 gia đình đón tiếp một năm khoảng 3.000 đến 4.000 khách Ban đầu, cơ cấu khách đến khu vực này chủ yếu là người Nhật - những người đã có thời gian dài đô hộ tại mảnh đất này, ngày nay số lượng du khách đến từ Châu Âu, Châu Úc, Châu Mỹ cũng bắt đầu tăng dần
Khách du lịch tham gia vào chương trình du lịch nghỉ tại nhà dân được người dân bản địa đón tiếp nồng hậu, được mọi người trong khu làng coi như thành viên trong gia đình và trực tiếp tham gia vào các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của người dân Du khách có thể được tham gia trực tiếp vào lễ cưới cổ truyền của người bản xứ trong vai trò của người làm chứng hoặc chủ hôn, tham gia vào các chương trình dã ngoại ngoài trời như câu cá, cắm trại của học sinh phổ thông, tham gia vào các trò
Trang 24chơi cổ truyền của người bản xứ, hoặc tham gia vào chế biến các món ăn cho các thành viên trong gia đình
Chương trình đón khách du lịch về nghỉ tại nhà dân tại khu làng Desa Murni được xây dựng đã góp phần quan trọng trong việc bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của Malaysia phục vụ mục tiêu phát triển bền vững Theo lời nhận xét của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Nghệ thuật và Du lịch Malaysia Dato’ Sabbaruddin Chik: “Sự thành công bước đầu của dự án Desa Murni đã đem lại các cơ hội phát triển mới cho nền công nghiệp du lịch của Malaysia cũng như lợi ích cho cộng đồng địa phương, là nền tảng quan trọng cho việc xây dựng các mô hình tương
tự tại các làng quê trên toàn bộ lãnh thổ Malaysia”
♦ Du lịch văn hóa bản địa ở Rio Blanco (Ecuador)
Do vị trí xa cách nên việc tiếp cận của du khách tới khu vực này còn nhiều khó khăn, chính vì vậy lượng du khách tới đây còn chưa đáng
kể Khi bắt đấu giới thiệu về ý tưởng dự án, người dân cộng đồng còn chưa tin phát triển du lịch sinh thái bền vững sẽ đem lại lợi ích cho họ cũng như về khả năng tham gia của họ Nhiều ý kiến trả lời rằng họ cảm thấy rụt rè khi tiếp xúc với khách nước ngoài Tuy nhiên, sau một số buổi họp trao đổi giữa dân làng, họ đã đồng ý thử nghiệm dự án này
Ngay sau khi quyết định, những người dân Rio Blanco đã thành lập một Ủy ban, bao gồm một chủ tịch và phó chủ tịch cộng đồng Họ dựa vào mô hình du lịch sinh thái bền vững ở Capirona (một khu du lịch sinh thái gần đó) và cải tiến nó bằng các kinh nghiệm của mình Trong năm đầu hoạt động, họ đã đón được 150 khách và thu được 6.000USD Thay vì giữ doanh thu du lịch ở một quỹ chung để sử dụng cho các dự án của cộng đồng, họ đã phân phối đều cho mọi thành viên Họ đầu tư lại khoảng 60% vào dự án - thức ăn, dầu ca nô và hoàn trả các khản vay mua giường, chăn đệm, bát đĩa và các đồ đạc khác Một sửa đổi nữa là
Trang 25các điểm đón khách ở đây được xây cách trung tâm cộng đồng khoảng 1km Một phần là do khách thích ở gần rừng nguyên sinh hơn là gần các khu trung tâm, ngoài ra còn để xóa bỏ những nhu cầu không đáng có như rượu chè và mại dâm Khi du khách tới đây, việc nấu nướng, dọn dẹp và biểu diễn văn hóa được giao công bằng cho mọi người qua một lịch làm việc luân phiên Qua đó, mỗi thành viên thường chỉ cần khoảng 4 giờ để phục vụ khách Qua thực tế năm đầu tiên, hầu hết mọi người được phỏng vấn đều không còn rụt rè như trước Họ có suy nghĩ tích cực về du lịch sinh thái, du lịch bền vững và tin rằng du lịch có tác dụng tốt đến cộng đồng Du lịch thực sự vừa giúp cộng đồng có ý thức trách nhiệm bảo tồn bản sắc văn hóa, gìn giữ các nét đẹp truyền thống, vừa tạo ra công việc
và thu nhập cho họ
♦ Du lịch nông thôn ở Hạ Casamance (Senegal)
Năm 1971, với sự giúp đỡ của một tổ chức phi Chính phủ quốc tế thuộc hội các nước nói tiếng Pháp - Tổ chức Hợp tác về Văn hóa và Kỹ thuật (ACCT), Chính phủ Senegal đã xây dựng một dự án phát triển du lịch cộng đồng Tên của dự án này là “Du lịch khám phá” nằm ở Hạ Casamance, nằm giữa Zambia và biên giới phía nam của Senegal Đây là nơi định cư của bộ tộc Diola trong các ngôi làng truyền thống có một hệ sinh thái đa dạng và văn hóa dân gian phong phú, là nơi lý tưởng cho dự
án thử nghiệm
Nhằm giảm bớt lượng khách đến trong các làng để hạn chế sự quá tải và các tác động về văn hóa - xã hội, các nhà trọ ở đây bị khống chế công suất, chỉ được đón tối đa 20 - 40 khách/lần và chỉ được xây dựng ở các làng có số dân bằng hoặc lớn hơn 1.000 người Để giải quyết áp lực
do lượng khách đến đông, dự án đã xem xét xây thêm các nhà trọ ở nơi khác chứ không cho phép tăng công suất ở các nhà trọ cũ Việc điều hành và quản lý các nhà trọ do dân làng tự tổ chức dưới hình thức “hợp
Trang 26tác xã” với một ban lãnh đạo được bầu ra gồm các chức sắc trong làng có trách nghiệm phân bổ và phân phối doanh thu vào cuối năm Điều hành các hoạt động hàng ngày là 2 nhóm nhỏ bao quát hoạt động phục vụ ăn uống nghỉ ngơi và phục vụ đi lại, vui chơi giải trí Tiền công chi trả cho
họ do cộng đồng quyết định Hình thức tổ chức quản lý này đã tạo ra hoạt động kinh tế thực sự trong các làng, tập trung mạnh mẽ vào sự tham gia của người dân địa phương, đảm bảo lợi ích thu được từ du lịch tại các làng và cải thiện đời sống cho dân làng, đặc biệt ưu tiên cải thiện cơ
sở vật chất cộng đồng, chủ yếu là y tế và giáo dục Ví dụ, hợp tác xã ở Elinkine đã xây dựng một trạm y tế và một trường học từ doanh thu du lịch của mình Các hoạt động khác được quan tâm là trồng rau màu, nuôi gia súc, thả cá và làm hàng thủ công Một hiệu quả tiềm ẩn khác về mặt
xã hội của dự án là tạo ra việc làm cho thanh niên ngay tại địa phương nhờ đó ngăn chặn được tình hình di cư ra các thị trấn lớn để tìm việc làm Chính phủ đã đưa ra biện pháp khuyến khích cho dự án bằng cách miễn thuế cho các nhà trọ này và giao trách nhiệm chi tiêu công cộng cho họ
Nhìn chung dự án đã thành công với các khía cạnh: cải tiến hình thức phát triển du lịch truyền thống; tạo ra hoạt động kinh tế bền vững
mà không làm mất đi tính thống nhất về xã hội, văn hóa và môi trường của cộng đồng; chi phí đầu tư thấp, giá cả phải chăng và lợi nhuận chuyển lại ngay cho cộng đồng; bản thân dân làng biết họ được hưởng lợi và khách du lịch biết tiền họ tiêu là cho dân làng; và cân nhắc thận trọng và tôn trọng truyền thống địa phương
1.2.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa ở Việt Nam
Cùng với du lịch sinh thái, du lịch biển đảo thì du lịch văn hóa được xem là một trong những hướng phát triển chính của ngành du lịch Việt Nam Du lịch văn hóa Việt Nam ngày càng đa dạng, thu hút được
Trang 27nhiều khách du lịch trong nước và quốc tế thông qua các hoạt động du lịch văn hóa mang tính chất vùng miền, các tour du lịch văn hóa chuyên
đề, các sự kiện du lịch
♦ Festival Huế
Xuất phát từ những kết quả bước đầu của Festival Việt – Pháp
1992 giữa thành phố Huế và Codev Việt Pháp, tỉnh Thừa Thiên Huế đã sớm hình thành ý tưởng tổ chức một Festival với quy mô lớn hơn, chất lượng cao hơn Ý tưởng ấy đã được sự đồng tình của nhiều Bộ, ngành Trung ương và Đại sứ quán Cộng hòa Pháp tại Việt Nam Tháng 10 năm
1998, Chính phủ đã có quyết định cho phép tỉnh Thừa Thiên Huế phối hợp với Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam tổ chức Festival Huế 2000 Ngay sau đó, các nhóm chuyên gia kỹ thuật Việt – Pháp đã phối hợp khẩn trương chuẩn bị theo hướng tổ chức Festival Huế 2000 là một sự kiện văn hóa lớn của Việt Nam, vừa có quy mô quốc gia và có tính quốc tế, thu hút sự tham gia của các vùng văn hóa tiêu biểu ở Việt Nam và tiếp cận với nghệ thuật đương đại của Pháp, gắn mở rộng giao lưu văn hóa với phát triển kinh tế du lịch, từng bước tiếp thu công nghệ Festival quốc
tế, xây dựng Huế xứng đáng là thành phố Festival của Việt Nam Từ sau thành công của Festival Huế 2000, cứ hai năm một lần, Festival Huế lại được tổ chức, mỗi năm là một chủ đề khác nhau: Festival Huế 2002 là chủ đề “Khám phá nghệ thuật sống của cố đô Huế”, Festival 2004 là chủ
đề “Di sản văn hóa với hội nhập và phát triển”, năm 2006 là chủ đề “700 năm Thuận Hóa – Phú Xuân – Thừa Thiên Huế, Di sản văn hóa với hội nhập và phát triển”,… Đến với Festival Huế du khách được tham gia vào các hoạt động văn hóa nghệ thuật, lễ hội, các trò chơi dân gian mang đậm các giá trị văn hóa Huế
♦ Mô hình làng văn hóa phục vụ du lịch tại bản Cát Cát (Sa Pa, Lào Cai) [31]
Trang 28Với chủ trương gắn bảo tồn văn hóa với phát triển du lịch bền vững góp phần xóa đói giảm nghèo cho nhân dân, từ trước năm 2005, Sở
VH - TT - DL Lào Cai đã tổ chức khảo sát, lập hồ sơ khoa học 51 làng
và toàn bộ 25 dân tộc, thống kê các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể
để lập danh sách các di sản văn hóa đặc biệt có giá trị cần bảo tồn, khai thác Trên cơ sở các hoạt động khảo sát, sưu tầm, bảo tồn có hệ thống, Lào Cai đã mở tuyến du lịch văn hóa “Về cội nguồn” nhằm khai thác lợi thế du lịch văn hóa phục vụ xóa đói giảm nghèo Đến nay, Lào Cai đã xây dựng được 12 mô hình làng văn hóa du lịch, 34 mô hình làng văn hóa tín ngưỡng… Các làng văn hóa du lịch hoạt động hiệu quả đã góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 30% xuống còn 9% Người dân tham gia các hoạt động dịch vụ du lịch đều có mức thu nhập gấp 2,5 lần so với sản xuất nông nghiệp Một trong số các làng văn hóa tiêu biểu đó là bản Cát Cát (Sa Pa)
Làng văn hóa phục vụ du lịch tại bản Cát Cát tập trung khai thác các yếu tố của mô hình, cụ thể là: xây dựng cảnh quan môi trường sạch đẹp, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa, tăng cường tính hấp dẫn đối với các di sản quan trọng, xây dựng mô hình các đội văn nghệ dân gian phục vụ du khách, xây dựng mô hình dịch vụ nhà nghỉ ở bản làng, khôi phục và phát triển nghề thủ công, mở thêm các dịch vụ phục vụ du lịch Tại Cát Cát, nhiều chương trình du lịch đã được triển khai như “Ngày hội văn hóa bản Mông Cát Cát”, chương trình du lịch trải nghiệm “Một ngày làm nông dân người Dao”, “Một ngày làm cô dâu người Mông”… Tham gia những chương trình này, du khách sẽ được khám phá và trải nghiệm nhiều điều thú vị từ đời sống và văn hóa của đồng bào Mông trên bản vùng cao Cát Cát
Trang 29Tiểu kết Chương 1
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về du lịch văn hóa: khái niệm du lịch văn hóa, tài nguyên du lịch văn hóa, sản phẩm du lịch, sản phẩm du lịch văn hóa, tuyến điểm du lịch, xúc tiến du lịch, kinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa trên thế giới và ở Việt Nam nhằm đặt cơ sở tiền đề cho những chương tiếp nối của luận văn Du lịch văn hóa là một loại hình du lịch cụ thể, ở đó, tài nguyên du lịch giữ vai trò quan trọng, là điều kiện đặc trưng cho hoạt động phát triển sản phẩm du lịch Văn hóa du lịch là một hướng tiếp cận để phát triển loại hình du lịch văn hóa Muốn phát triển du lịch văn hóa cần phải có môi trường văn hóa du lịch tốt Vì thế văn hóa và du lịch có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung hỗ trợ cho nhau Du lịch văn hóa là phương tiện truyền tải các giá trị văn hóa của một địa phương, một quốc gia đồng thời góp phần làm sống dậy các giá trị văn hóa dân tộc và nhân loại Phát triển du lịch văn hóa phải gắn với cộng đồng Những kinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa của các nước tiên tiến và láng giềng là tấm gương tốt áp dụng vào thực tiễn Việt Nam trong quá trình vận hành chiến lược phát triển du lịch văn hóa
Trang 30CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH
VĂN HÓA TỈNH NAM ĐỊNH 2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của tỉnh Nam Định
Theo các công trình nghiên cứu khoa học, mảnh đất Nam Định được hình thành cách đây khoảng 70 triệu năm do ảnh hưởng tạo sơn thời kỳ Đại Tân Sinh, nâng ghềnh đá phía Nam sông Hồng cao lên, biển Đông lùi dần và từng bước hình thành vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng Dấu tích các loại động thực vật có ở vùng biển và những hóa thạch tìm thấy trong lòng đất cho thấy đây là vùng đất màu mỡ, phì nhiêu, tạo nhiều cơ hội cho con người quần tụ thành cộng đồng
Thời thuộc Đường, Nam Định thuộc huyện Chu Duyên Đời Trần được gọi là lộ Thiên Trường, sau lại chia làm ba lộ: Kiến Xương, An Tiêm, Hoàng Giang Thời thuộc Minh vùng đất này được chia làm ba phủ: Trấn Nam, Phụng Hóa, Kiến Bình Đời Lê thuộc xứ Sơn Nam, đến niên hiệu Cảnh Hưng thứ 2 năm 1741, vùng đất này thuộc lộ Sơn Nam
Hạ Đến triều Nguyễn, năm 1832 đổi tên thành tỉnh Nam Định với 4 phủ,
18 huyện bao gồm phần đất tỉnh Thái Bình hiện nay Năm 1890, Thái Bình tách ra thành tỉnh riêng, Nam Định còn lại 2 phủ và 9 huyện Từ năm 1926, tỉnh Nam Định có 2 phủ và 7 huyện, 78 tổng, 708 xã, riêng thành phố Nam Định có 10 phường Đến những năm 1930, địa giới hành chính của tỉnh Nam Định không có thay đổi nhiều
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, các đơn vị hành chính trong tỉnh luôn có sự thay đổi Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, tỉnh Nam Định thuộc Liên Khu 3 Năm 1953, 7 xã phía Bắc sông Đào thuộc huyện Nghĩa Hưng được cắt nhập vào huyện Ý Yên Đồng thời 3 huyện
Mỹ Lộc, Vụ Bản, Ý Yên nhập vào tỉnh Hà Nam Đến tháng 4 - 1956, 3 huyện này lại được cắt trả cho Nam Định Tháng 5 – 1965, Nam Định
Trang 31hợp nhất với Hà Nam thành tỉnh Nam Hà Cuối năm 1967, 2 huyện Giao Thủy và Xuân Trường hợp thành huyện Xuân Thủy Tháng 3 - 1968, 7
xã phía Nam sông Ninh Cơ thuộc huyện Trực Ninh nhập với huyện Hải Hậu, 2 huyện Trực Ninh và Nam Trực nhập thành huyện Nam Ninh Năm 1976, tỉnh Nam Hà và tỉnh Ninh Bình hợp nhất thành tỉnh Hà Nam Ninh Đến năm 1991 lại chia tách và tái lập tỉnh Nam Hà và tỉnh Ninh Bình Tháng 11 – 1996, tỉnh Nam Hà tách thành 2 tỉnh là Nam Định và
Hà Nam Sau đó, trong nội bộ tỉnh Nam Định, các huyện hợp nhất trước đây lại chia tách và tái lập như cũ, đó là : Xuân Trường, Trực Ninh, Giao Thủy, Nam Trực và tái lập huyện Mỹ Lộc (gồm 10 xã) Năm 1997, xã Nam Vân, Nam Phong được cắt nhập từ huyện Nam Trực về thành phố Nam Định Như vậy, đến cuối thế kỷ XX tỉnh Nam Định có 10 đơn vị hành chính bao gồm: 1 thành phố và 9 huyện, 225 xã, phường, thị trấn
Nam Định là mảnh đất địa linh nhân kiệt, nơi phát tích của triều Trần (thế kỷ XIII – XIV) và sinh dưỡng nhiều danh nhân, danh sĩ, võ tướng mà tên tuổi và sự nghiệp của họ đã được sử sách ghi công, nhân dân tôn thờ mà nổi bật nhất là Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn Nam Định còn là mảnh đất văn hiến, có truyền thống hiếu học với trường thi được lập từ thời Lê ở làng Năng Tĩnh Trong chế
độ khoa bảng thời phong kiến Nam Định có 5 trạng nguyên, 3 bảng nhãn, 14 hoàng giáp, 62 tiến sĩ và phó bảng, riêng làng cổ Hành Thiện có
91 vị đỗ đại khoa và cử nhân, nổi danh là: Nguyễn Hiền, Lương Thế Vinh, Đào Sư Tích, Vũ Tuấn Chiêu, Trần Văn Bảo, Trần Bích San
Đời Trần, nhân dân Nam Định đã góp phần ba lần đánh thắng đế quốc Nguyên – Mông Thời thuộc Minh, nhân dân đã ủng hộ nghĩa quân của Trần Triệu Cơ đánh thắng trận Bồ Đề buộc tướng Mộc Thạnh tháo chạy về thành Cổ Lộng Trong khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo, người dân Nam Định đã bí mật liện hệ với nghĩa quân để giết giặc cứu nước Đặc biệt, với nghề rèn truyền thống, người dân Vân Chàng đã
Trang 32ngày đêm rèn vũ khí cho nghĩa quân Ở Cổ Lộng – Chuế Cầu (Ý Yên), nhân dân còn tham gia nghĩa quân Lam Sơn đánh thành Cổ Lộng giúp nghĩa quân tiến lên phía Bắc tiêu diệt giặc Minh
Khi nghĩa quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy kéo quân ra Bắc, người Nam Định đã tích cực tham gia lập phòng tuyến Tam Điệp góp phần làm cuộc thần tốc đánh đuổi giặc Thanh, giải phóng kinh thành Thăng Long Dưới triều Nguyễn, do chính sách cai trị hà khắc khiến nhân dân khổ cực, người dân Nam Định đã hợp sức nổi dậy chống lại quan quân triều đình Huế Trong đó tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của nông dân do Phan Bá Vành chỉ huy Năm 1858 giặc Pháp đánh chiếm bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) mở đầu cho cuộc xâm lược nước ta, Phạm Văn Nghị đã tập hợp nghĩa sĩ Nam Định tiến vào Nam diệt thù Thực dân Pháp đánh phá Bắc Kỳ và Nam Định, đề đốc Lê Văn Điểm, án sát
Hồ Bá Ôn đã chỉ huy quân chiến đấu ngoan cường bao vây quân địch Phong trào Cần Vương được nhân dân trong tỉnh hưởng ứng, trong đó có cuộc nổi dậy ở Nam Trực do cụ nghè Cù Hữu Lợi và cụ Vũ Đình Lục chỉ huy
Đầu thế kỷ XX , thực dân Pháp câu kết với chế độ phong kiến tay sai ra sức khai thá c, vơ vét tài nguyên , áp bức, bóc lột nhân dân ta thậm tệ Trong đó , thực dân Pháp đã xây dựng nhà máy dệt Nam Định lớn nhất Đông Dương , song chính sự ra đời của nhà máy này đã tạo điều kiện khách quan để giai cấp công nhân trong tỉnh hình thành và không ngừng lớn mạnh Không cam chịu cảnh bần hàn , công nhân, nông dân và một số tầng lớp dân cư đã đoàn kết đấu tranh đòi quyền lợi Đặc biệt, kể từ khi Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên lập cơ sở ở Nam Định (1926 - 1927), phong trào đấu tranh không ngừng lớn mạnh , với mục đích đòi quyền dân sinh , dân chủ , mang ý thức chính trị và giai cấp rõ rệt Tháng 6 - 1929, Tỉnh uỷ lâm thời được thành lập và chi bộ Đảng đầu tiên ở Nam Định ra đời , phong trào đấu tranh diễn ra mạnh mẽ từ thành
Trang 33thị đến nông thôn Nam Định trở thành một trong những trung tâm đấu tranh chống thực dân Pháp và phong kiến mạnh nhất cả nước
Kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3 - 2 - 1930 đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ , nhân dân Nam Định đã viết tiếp những trang sử vàng chói lọi về truyền thống chống ngoại xâm và lao động cần cù sáng tạo , xây dựng Nam Định ngày càng đàng hoàng hơn , giàu đẹp hơn
2.2 Điều kiện và tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tỉnh Nam Định
2.2.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
♦ Vị trí địa lý
Nam Định nằm ở cực Nam châu thổ sông Hồng, ở tọa độ 19053’ đến 200 vĩ độ Bắc và từ 105055’ đến 106037’ kinh độ Đông Phía Tây Bắc giáp tỉnh Hà Nam, phía Đông Bắc giáp tỉnh Thái Bình, phía Tây Nam giáp tỉnh Ninh Bình, phía Đông Nam giáp biển Đông Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 1671,6km2 được chia thành 10 đơn vị hành chính gồm
9 huyện và một thành phố loại 2 trực thuộc tỉnh Thành phố Nam Định là trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế của tỉnh cách thủ đô Hà Nội 90km
về phía Nam theo quốc lộ 1 và quốc lộ 21
Nam Định có vị trí tương đối thuận tiện cho phát triển du lịch, nằm trong vùng ảnh hưởng của tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Nam Định được ví như điểm chốt của chiếc quạt khổng lồ của vùng châu thổ sông Hồng: với bán kính 200 km là các thành phố Hạ Long, Thái Nguyên, Sơn Tây, Vinh; với bán kính 100 km
là các thành phố Hải Phòng, Hà Nội, Thanh Hóa; với bán kính 30 km là các thành phố Ninh Bình, Hà Nam, Thái Bình Vị trí như vậy giúp Nam Định có nhiều thuận lợi cho giao lưu giữa các vùng miền trong cả nước,
Trang 34thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung và du lịch nói riêng của tỉnh
♦ Điều kiện tự nhiên
Địa hình của Nam Định tương đối bằng phẳng, có hai vùng chính
là vùng đồng bằng thấp trũng và vùng đồng bằng ven biển, ở phía Tây Bắc tỉnh có một số ít đồi núi thấp Địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, chỗ cao nhất là đỉnh núi Gôi cao 122m, chỗ thấp nhất là -3m (so với mặt biển) ở vùng đồng bằng trũng huyện Ý Yên Vùng ven biển
có bờ biển dài khoảng 72km, địa hình khá bằng phẳng Một số nơi có bãi cát thoải mịn thích hợp với phát triển du lịch nghỉ mát tắm biển như Thịnh Long (Hải Hậu), Quất Lâm (Giao Thủy) Nam Định có 3 sông lớn
là sông Hồng, sông Đáy, sông Ninh Cơ Ngoài ra còn có sông Đào nối liền sông Hồng và sông Đáy cùng với nhiều sông nhỏ khác giúp cho giao
thông đường thủy thuận lợi
Nam Định mang đầy đủ những đặc điểm khí hậu của khu vực nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều có 4 mùa rõ rệt Nhiệt độ không khí trung bình năm khoảng 230 – 240C; độ ẩm không khí tương đối cao, trung bình năm từ 80 – 85%; hàng năm trung bình có tới 250 ngày nắng; lượng mưa trung bình năm từ 1750 – 1800mm phân bố tương đối đồng đều trên toàn bộ lãnh thổ tỉnh; Nam Định nằm trong vùng vịnh Bắc Bộ nên hàng năm thường chịu ảnh hưởng của bão hoặc áp thấp nhiệt đới Nhìn chung, khí hậu của Nam Định thuận lợi cho môi trường sống của con người, sự phát triển của hệ sinh thái động thực vật và thích hợp với
các hoạt động du lịch
Do đặc điểm của địa hình, các dòng chảy ở các sông lớn như sông Hồng, sông Đáy chảy qua Nam Định đều theo hướng Tây Bắc – Đông Nam và thuộc phần hạ lưu nên lòng sông thường rộng và không sâu lắm Chế độ nước của hệ thống sông ngòi ở đây được chia làm hai mùa rõ rệt
Trang 35là mùa mưa lũ (từ tháng 5 đến tháng 10) và mùa cạn (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau) Thủy triều tại vùng biển Nam Định thuộc chế độ nhật triều, thời gian triều lên ngắn, triều xuống dài Dòng chảy của sông Hồng
và sông Đáy kết hợp với chế độ nhật triều đã bồi tụ tại vùng cửa hai sông tạo nên hai bãi bồi lớn ven biển là: Cồn Lu, Cồn Ngạn (Giao Thủy) và Cồn Trời, Cồn Mờ (Nghĩa Hưng)
Nguồn tài nguyên nước tại Nam Định khá phong phú cả về nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm Hệ thống sông ngòi khá dày đặc với ba sông lớn là sông Hồng, sông Đáy, sông Ninh Cơ Bên cạnh đó, Nam Định còn có rất nhiều ao hồ phân bố rộng khắp trên địa bàn tỉnh Do lượng mưa bình quân hàng năm lớn nhưng lại phân bố không đều trong năm, mùa mưa thường gây úng lụt, mùa khô thường thiếu nước cho cây trồng và sinh hoạt và có ảnh hưởng đến hoạt động du lịch
Nam Định thuộc hệ sinh thái nhiệt đới và á nhiệt đới khá đa dạng
và phong phú Hệ thực vật chiếm khoảng 50%, hệ động vật chiếm khoảng 40% loài động thực vật của cả nước Đặc biệt là Vườn Quốc gia Xuân Thủy có hệ động thực vật khá đa dạng và phong phú Vùng ven biển Nam Định có nhiều bãi cá lớn với nhiều loài loài cá, hải sản có giá trị kinh tế cao như: tôm rảo, tôm vàng, cua tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế biển đồng thời hấp dẫn du khách đến thưởng thức
những món ăn hải sản của vùng
2.2.2 Điều kiện kinh tế, xã hội
♦ Về kinh tế
Trong quá trình cùng cả nước thực hiện chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội, tỉnh Nam Định đã tạo được sự chuyển biến tích cực trong toàn bộ nền kinh tế cũng như quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp dịch vụ trong tổng sản phẩm
xã hội của tỉnh Năm 2007, cơ cấu kinh tế của tỉnh là: nông – lâm – thủy
Trang 36sản là 30,2%; công nghiệp – xây dựng là 35,11%; thương mại – dịch vụ
là 35,1%; Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đạt 7.437.000 đồng Đến năm
2008 cơ cấu kinh tế đạt được là: nông – lâm – thủy sản là 30,5%; công nghiệp – xây dựng là 35,1%; thương mại – dịch vụ là 34,4%; Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đạt 12.200.000 đồng Năm 2010, cơ cấu kinh tế của tỉnh là: nông – lâm – thủy sản là 31%; công nghiệp – xây dựng là 33,5%; thương mại – dịch vụ là 35,5%; Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
đạt 18.920.000 tỷ đồng
Sản xuất nông nghiệp của tỉnh phát triển toàn diện trên các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt cá và chế biến nông thủy hải sản Là tỉnh sản xuất lương thực trọng điểm của vùng đồng bằng Bắc Bộ, sản lượng lương thực quy thóc luôn đạt mức trên 1 triệu tấn/năm Lương thực hàng hóa của Nam Định đặc biệt là các mặt hàng đặc sản đã cung cấp cho các tỉnh thành trong đó có các khách sạn du lịch Bên cạnh đó,
sản lượng đàn gia súc, gia cầm và các mặt hàng thủy sản khá cao
Công nghiệp và xây dựng: nhiều ngành nghề, làng nghề truyền thống được khôi phục, các sản phẩm chủ yếu có tốc độ tăng trưởng nhanh Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân năm thời kỳ 2005 –
2010 đạt 9,6%
Các ngành dịch vụ: với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế nên kinh tế Nam Định phát triển mạnh, hàng hóa lưu thông thuận tiện, đa dạng phong phú, phục vụ tốt sản xuất và tiêu dùng của dân cư Thành phố Nam Định không chỉ là trung tâm kinh tế thương mại của tỉnh Nam Định mà còn là trung tâm thương mại của vùng đồng bằng Bắc Bộ với
hệ thống cửa hàng, chợ… phát triển đáp ứng nhu cầu của dân cư trong vùng và du khách
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh diễn ra còn chậm, chưa tạo
ra được những bước đột phá trong phát triển kinh tế, các ngành có nhiều
Trang 37lợi thế phát triển thì chưa được tận dụng khai thác Đặc biệt ngành du lịch ở đây có nhiều tiềm năng và thế mạnh để phát triển Trong thời gian qua, sự tăng trưởng du lịch còn thấp, đầu tư chưa đồng bộ, chủ yếu đầu
tư vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng còn cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ
du lịch chưa được quan tâm (các dịch vụ vui chơi giải trí, hệ thống các dịch vụ bổ trợ) nên chưa tạo ra được những sản phẩm du lịch đặc trưng riêng của tỉnh có chất lượng cao, có đủ khả năng hấp dẫn khách và cạnh tranh trên thị trường
bộ, đường thủy quan trọng tạo thuận tiện cho việc đầu tư các công trình
hạ tầng phúc lợi công cộng như trường học, trạm y tế, lưới điện, nước sinh hoạt… Dân tộc chủ yếu sinh sống ở Nam Định là dân tộc Kinh theo hai tôn giáo chính là Phật giáo và Thiên chúa giáo Tính cách người dân Nam Định mang đậm nét đặc trưng của nền văn minh lúa nước châu thổ sông Hồng là: cần cù, hiền lành, phóng khoáng, cởi mở và giàu lòng mến khách
Do kinh tế tăng trưởng ổn định nên đời sống dân cư ở cả thành thị
và nông thôn đều được cải thiện Đến năm 2010 tỷ lệ hộ đói nghèo chỉ còn 5%, toàn tỉnh đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ Đến nay, tất cả các
xã, phường trên địa bàn toàn tỉnh đều đã có hệ thống điện, đường, trường, trạm tương đối hoàn chỉnh
Trang 38Trong những năm qua đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, tỉnh Nam Định đã triển khai thực hiện các
dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng bao gồm: giao thông, điện lực, bưu chính viễn thông, củng cố tuyến đê biển, các công trình hạ tầng phát triển nông nghiệp nông thôn Việc phát triển cơ sở hạ tầng tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động du lịch phát triển
♦ Hệ thống giao thông
Hệ thống giao thông của Nam Định bao gồm giao thông đường
bộ, đường sắt, giao thông đường thuỷ Hiện tại việc vận chuyển hành khách chủ yếu bằng phương tiện giao thông đường bộ Việc đi lại từ Hà Nội về thành phố Nam Định tương đối dễ dàng Các tuyến điểm liên xã, liên huyện trong vùng đến nay đã được cải tạo, nâng cấp đi lại thuận tiện hơn trước
Đường sắt: Tuyến đường sắt Bắc Nam chạy qua tỉnh Nam Định dài 42km với các ga: ga Nam Định là điểm dừng các đoàn tàu tốc hành chạy suốt Bắc Nam, ga Cầu Họ, ga Đặng Xá, ga Trình Xuyên, ga Gôi, ga Cát Đằng Các nhà ga đều nằm gần đường quốc lộ nên thuận tiện cho nhu cầu vận chuyển hàng hóa và đi lại của du khách
Đường bộ: Nam Định có các tuyến quốc lộ quan trọng nối liền các tỉnh phía Bắc chạy qua như: tuyến đường 10 nối các tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình và kết thúc tại Thanh Hóa,
Trang 39quốc lộ 21 nối Nam Định với Hà Nam, Hà Nội Tại một số điểm đã xây thêm các bến phà, cầu phao thay thế các bến đò ngang trên sông Hồng, sông Ninh Cơ (bến phà Sa Cao nối liền tỉnh lộ 56 với tỉnh Thái Bình, bến phà Phủ Lễ, Thịnh Long nối liền tỉnh lộ 55 với khu du lịch biển Thịnh Long) Từ đầu năm 2006 đã có 04 tuyến xe bus nối liền thành phố Nam Định với các huyện trong tỉnh, cứ 30 phút lại có 1 chuyến từ 5 giờ sáng tới 6 giờ chiều, giúp cho du khách có thể đi về trong ngày dễ dàng
Đường thuỷ: Nam Định có hệ thống sông ngòi khá dày đặc nên có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc sử dụng, khai thác vận chuyển đường thủy – một loại hình vận tải hiện đang hấp dẫn du khách Về phía Đông có sông Hồng nối thủ đô Hà Nội với Nam Định và chảy ra biển Đông Hiện nay, tuyến du lịch sông Hồng đã được đầu tư khai thác sẽ tạo ra cơ hội mới cho ngành du lịch Nam Định phát triển Về phía Tây,
có dòng sông Đáy chảy xuôi từ địa phận Hà Tây (với thắng cảnh chùa Hương) qua Ninh Bình (nơi có những quần thể di tích và hang động kỳ vĩ) tới Nam Định và đổ ra biển Đông Đây là một tuyến giao thông đường thủy có tiềm năng lớn cho việc khai thác, phục vụ du lịch Tỉnh Nam Định đã và đang đầu tư xây dựng các cảng sông tại thành phố Nam Định, cảng biển tại thị trấn Thịnh Long (Hải Hậu) với quy mô khá hiện đại để có thể đưa đón khách và bốc dỡ hàng hóa thuận lợi
Trang 40♦ Hệ thống thông tin liên lạc
Sự phát triển mạnh mẽ về công nghệ của ngành bưu chính viễn thông quốc gia đã có tác động mạnh đến sự phát triển thông tin liên lạc của Nam Định Tỉnh đã được đầu tư, nâng cấp mạng lưới trang thiết bị
và công nghệ, phát triển mạng lưới các trạm, các bưu cục rộng khắp trong phạm vi toàn tỉnh
Việc phủ sóng điện thoại di động đến hầu hết các thôn xóm trong tỉnh đã góp phần phục vụ khách du lịch tốt hơn, tiện lợi hơn Ngoài ra với các loại hình dịch vụ như: điện hoa, chuyển tiền nhanh, giải đáp thông tin cho khách, dịch vụ Internet…cũng tạo thuận lợi cho khách khai thác, sử dụng trong thời gian tham quan, lưu trú trên địa bàn tỉnh
♦ Hệ thống cấp thoát nước
Nguồn nước khai thác và sử dụng chủ yếu hiện nay trên địa bàn tỉnh Nam Định là nguồn nước mặt của các sông và một số ao hồ, chỉ có thành phố Nam Định và vùng phụ cận là sử dụng nước sạch do Công ty cấp thoát nước Nam Định cung cấp còn tại một số xã, huyện vẫn sử dụng nguồn nước ngầm Hiện nay, tỉnh đang đầu tư xây mới và nâng cấp 120 công trình nước sạch tại các huyện Mỹ Lộc, Nam Trực, Trực Ninh phục
vụ nhu cầu dùng nước sạch cho người dân và khách du lịch
♦ Môi trường
Nhìn chung môi trường của Nam Định ít chịu ảnh hưởng của các yếu tố gây ảnh hưởng làm ô nhiễm như khí thải, rác thải, nước thải của các nhà máy, khu công nghiệp, hải cảng lớn Song tại 2 bãi biển Thịnh Long và Quất Lâm nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường chưa cao, việc xả rác trực tiếp xuống bãi biển có thể nhận thấy ngay khi đến đây Đặc biệt là các hoạt động đánh bắt thuỷ sản của ngư dân, do hoạt động đánh bắt gần bờ, đi về trong ngày nên hầu hết các rác thải ăn uống,
vệ sinh được thải trực tiếp xuống biển gây ô nhiễm môi trường