1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển du lịch làng quê vùng đồng bằng sông Hồng giáp Hà Nội góp phần thu hút khách du lịch và bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống

130 918 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 3,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những giá trị văn hoá truyền thống điển hình đậm bản sắc là các làng quê Việt Nam hiện đang thu hút được sự quan tâm đặc biệt của khách du lịch Do nhiều nguyên nhân du lịch là

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN QUANG DŨNG

PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG QUÊ VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG GIÁP HÀ NỘI GÓP PHẦN THU HÚT KHÁCH DU LỊCH VÀ BẢO TỒNCÁC GIÁ TRỊ VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG

Chuyên ngành: Du lịch

(Chương trình đào tạo thí điểm)

LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH

Hà Nội – 2013 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

NGUYỄN QUANG DŨNG

PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG QUÊ VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG GIÁP HÀ NỘI GÓP PHẦN THU HÚT KHÁCH DU LỊCH VÀ BẢO TỒNCÁC GIÁ TRỊ VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

1 Tính cấp thiết của đề tài 5

2 Mục đích nghiên cứu 6

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4 Những nội dung nghiên cứu chính 6

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Bố cục của luận văn 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VÀ DU LỊCH LÀNG QUÊ 8

1.1 Du lịch và du lịch làng quê 8

1.1.1 Khái niệm về du lịch và du lịch làng quê 8

1.1.2 Biểu hiện và các nguyên tắc phát triển du lịch làng quê 14

1.1.3 Những yếu tố tác động đến phát triển du lịch làng quê 17

1.2 Vai trò của du lịch làng quê trong bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống 24 1.2.1 Giá trị văn hóa truyền thống ở làng quê 24

1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống

làng quê 27

1.2.3 Vai trò của du lịch làng quê trong bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống 32

1.3 Tổng quan kinh nghiệm quốc tế trong phát triển du lịch làng quê 33

1.3.1 Kinh nghiệm của Việt Nam 33

1.3.2 Kinh nghiệm của Anh 35

1.3.3 Kinh nghiệm của Thái Lan 38

Tiểu kết chương 1: 40

CHƯƠNG 2:TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG QUÊ VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG 41

2.1 Tiềm năng phát triển du lịch làng quê 41

2.1.1.Tổng quan về vùng đồng bằng sông Hồng 41

2.1.2 Tiềm năng tài nguyên du lịch làng quê 46

Trang 4

2.2 Hiện trạng phát triển du lịch làng quê vùng đồng bằng sông Hồng giáp

Hà Nội 55

2.2.1 Đánh giá thực trạng phát triển du lịch làng quê 55

2.2.2 Những thuận lợi, khó khăn; cơ hội và thách thức cơ bản trong phát triển du lịch làng quê 69

Tiểu kết chương 2: 77

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG QUÊ 78

3.1 Định hướng phát triển các loại hình sản phẩm du lịch làng quê 78

3.1.1 Quan điểm phát triển 78

3.1.2 Các loại hình sản phẩm du lịch làng quê 81

3.2 Định hướng xúc tiến, quảng bá du lịch làng quê 84

3.2.1 Những thị trường chính của du lịch làng quê 84

3.2.2 Chính sách xúc tiến quảng bá 84

3.2.3 Các hình thức xúc tiến quảng bá 85

3.3 Định hướng tổ chức không gian du lịch làng quê đồng bằng sông Hồng 85

3.3.1 Các địa bàn trọng điểm 85

3.3.2 Các điểm du lịch làng quê 86

3.3.3 Các tours/tuyến du lịch chuyên đề 88

3.4 Đề xuất hệ thống giải pháp phát triển du lịch làng quê 89

3.4.1 Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách phát triển 90

3.4.2 Nhóm giải pháp về quy hoạch và đầu tư phát triển 91

3.4.3 Nhóm giải pháp về nâng cao năng lực của cộng đồng 92

3.4.4 Nhóm giải pháp về phối hợp liên ngành, địa phương 94

Tiểu kết chương 3: 94

KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

CHXHCNVN: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

ĐBSH: Đồng bằng sông Hồng

ĐHQG: Đại học Quốc gia

HDV: Hướng dẫn viên du lịch

GDP: Tổng sản phẩm quốc dân

IUCN : Tổ chức bảo toàn thế giới

IUCN: Tổ chức bảo tồn thiên nhiên Quốc tế

UNDP: Tổ chức phát triển liên hiệp quốc

VHTTDL: Văn hóa thể thao du lịch

VHNT: Văn học nghệ thuật

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Mức độ khai thác các giá trị văn hóa cho phát triển du lịch làng quê ở

Bát Tràng 58

Bảng 2: Mức độ khai thác các giá trị văn hóa cho phát triển du lịch làng quê ở Đường Lâm 59

Bảng 3: Nhu cầu của khách du lịch nội địa đối với du lịch làng quê 60

Bảng 4: Nhu cầu của khách du lịch quốc tế đối với du lịch làng quê 61

Bảng 5: Bảng thống kê một số chỉ tiêu tổng hợp của Đường Lâm 67

Bảng 6: Bảng thống kê tình hình lao động tại Đường Lâm 67

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1: Lượng khách du lịch đến làng nghề Bát Tràng, 2006-2012 64

Biểu đồ2: Lượng khách du lịch đến làng cổ Đường Lâm, 2006-2012 65

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đã xác định những mục tiêu chiến lược để du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần tích cực thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, theo đó phát triển du lịch văn hoá là một trong 2 định hướng ưu tiên bên cạnh du lịch sinh thái Để phát triển du lịch văn hoá, việc bảo tồn và khai thác có hiệu quả những giá trị văn hóa truyền thống để xây dựng các sản phẩm

du lịch đặc trưng tầm quốc gia, có khả năng cạnh tranh cao là yếu tố quyết định

Việt nam là đất nước có tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú, có thể phát triển nhiều loại hình du lịch khác nhau Với bề dày hàng ngàn năm lịch sử

và sự đa dạng về văn hoá của 54 dân tộc anh em, các giá trị văn hoá truyền thống luôn là nguồn cảm hứng hấp dẫn khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch quốc tế đến với Việt Nam Một trong những giá trị văn hoá truyền thống điển hình đậm bản sắc là các làng quê Việt Nam hiện đang thu hút được sự quan tâm đặc biệt của khách du lịch

Do nhiều nguyên nhân du lịch làng quê nói chung, làng nghề nói riêng là loại hình du lịch còn chưa phát triển nhiều ở Việt Nam, mặc dù những giá trị về

du lịch của làng quê Việt đã được khẳng định Phát triển du lịch làng quê không chỉ có ý nghĩa tạo ra sản phẩm du lịch hấp dẫn, có sức cạnh tranh mà sẽ còn góp phần tích cực phát huy các giá trị văn hoá truyền thống, tạo ra công ăn việc làm cho cộng đồng địa phương, qua đó giúp xoá đói giảm nghèo; giữ gìn vệ sinh môi trường sinh thái Đồng thời với việc tham gia tích cực của cộng đồng địa phương,

du lịch làng quê sẽ giúp cộng đồng có ý thức hơn trong việc giữ gìn bản sắc văn hoá truyền thống - đó cũng chính là thứ tài sản vô cùng quý báu mà họ có thể khai thác để phục vụ cuộc sống hiện tại cũng như truyền lại cho các thế hệ con cháu mai sau

Thời gian qua, việc điều tra đánh giá có hệ thống và khai thác những giá trị tài nguyên du lịch đặc biệt này còn nhiều hạn chế Các sản phẩm du lịch được

Trang 8

xây dựng trên cơ sở các giá trị văn hoá truyền thống làng quê Việt Nam còn đơn điệu, chưa có sức cạnh tranh cao, ảnh hưởng đến sự phát triển chung của du lịch Việt Nam Một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng trên là cho đến nay chưa có nghiên cứu mang tính tổng thể và hệ thống về vấn đề này

Trong bối cảnh đó, việc thực hiện đề tài nghiên cứu “Phát triển du lịch

làng quê vùng đồng bằng sông Hồng giáp Hà Nội, góp phần thu hút khách du lịch và bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống” không chỉ có ý nghĩa về mặt lý

luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn góp phần thiết thực vào việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá làng quê Việt ở vùng đồng bằng sông Hồng cũng như góp phần tăng tính hấp dẫn của du lịch Việt Nam nói chung, du lịch Hà Nội nói riêng

2 Mục đích nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Góp phần nâng cao sức cạnh tranh, thực hiện Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam; đồng thời với bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống và gắn du lịch với xoá đói giảm nghèo nói chung, ở vùng nông thôn nói riêng 2.2 Mục tiêu cụ thể

Xác lập cơ sở khoa học (lý luận và thực tiễn) cho phát triển du lịch làng quê Việt Nam nói chung, ở vùng đồng bằng sông Hông và phụ cận Hà Nội nói riêng

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: du lịch làng quê, tập trung du lịch làng nghề và làng cổ

- Phạm vi về không gian: vùng đồng bằng sông Hồng, tập trung ở địa bàn phụ cận Hà Nội trước khi mở rộng (sau đây gọi tắt là Hà Nội)

- Phạm vi về thời gian: các số liệu về hiện trạng du lịch từ năm 2005 đến nay

4 Những nội dung nghiên cứu chính

- Tổng quan một số vấn đề lý luận về du lịch làng quê

- Tổng quan kinh nghiệm quốc tế về phát triển sản phẩm du lịch làng quê

- Điều tra nghiên cứu và hệ thống thống hoá các tiềm năng tài nguyên du lịch làng quê ở vùng đồng bằng sông Hồng, tập trung chủ yếu trên địa bàn phụ cận

Hà Nội

Trang 9

- Đánh giá thực trạng phát triển du lịch làng quê vùng đồng bằng sông Hồng, tập trung đối với địa bàn phụ cận Hà Nội

- Định hướng phát triển các loại hình/sản phẩm du lịch làng quê vùng đồng bằn sông Hồng nói chung và ở địa bàn phụ cận Hà Nội nói riêng

- Định hướng xúc tiến, quảng bá sản phẩm du lịch làng quê

- Đề xuất một số tour du lịch làng quê Việt trên địa bàn phụ cận Hà Nội

- Đề xuất hệ thống giải pháp phát triển du lịch làng quê ở vùng đồng bằng sông Hồng nói chung, địa bàn phụ cận Hà Nội nói riêng

5 Phương pháp nghiên cứu

+ Phương pháp thu thập thông tin

+ Phương pháp điền dã

+ Phương pháp phân tích thông tin

+ Phương pháp điều tra xã hội học

6 Bố cục của luận văn

Nội dung của Luận văn, ngoài Mở đầu bao gồm tính cấp thiết, mục đích và phương pháp nghiên cứu, sẽ gồm có 3 phần:

Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch và du lịch làng quê

Chương 2: Tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch làng quê vùng đồng bằng sông Hồng

Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch làng quê vùng đồng bằng sông Hồng

Trang 10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VÀ DU LỊCH LÀNG QUÊ 1.1 Du lịch và du lịch làng quê

1.1.1 Khái niệm về du lịch và du lịch làng quê

1.1.1.1 Du lịch

Từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được ghi nhận như một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người Ngày nay, du lịch đã trở thành một nhu cầu tất yếu không thể thiếu được trong đời sống văn hoá- xã hội của người dân các nước trên thế giới.Xét dưới góc độ kinh tế, du lịch đã trở thành một ngành kinh tế giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế của nhiều quốc gia Thậm chí ở một số quốc gia, du lịch được coi là ngành kinh tế giữ vị trí hàng đầu trong việc thu hút ngoại tệ, tạo việc làm và là động lực thúc đẩy các ngành kinh

Khái niệm ngắn gọn nhất về du lịch được hai tác giả Ausher và Nguyễn

Khắc Viện nêu ra, theo đó “du lịch là nghệ thuật đi chơi của cá nhân”(Ausher), hoặc “du lịch là sự mở rộng không gian văn hoá của con người” (Nguyễn Khắc Viện) Trong Từ điển Tiếng Việt của NXB Khoa học xã hội (1995) “du lịch là đi

chơi cho biết xứ người”

Theo nhà khoa học Guer Freuler (Đức) “du lịch là một hiện tượng của

thời đại chúng ta, dựa trên sự tăng trưởng về nhu cầu khôi phục sức khoẻ và sự đổi thay của môi trường xung quanh, dựa vào sự phát sinh, phát triển những tình cảm đối với vẻ đẹp của tự nhiên”

Hai học giả Thuỵ Sỹ là Hunziker và Kraff coi “du lịch là tổng hợp các

mối quan hệ và hiện tượng bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của các cá nhân tại những nơi không phải là nơi cư trú và nơi làm việc thường xuyên của họ”

Trang 11

Dưới con mắt của các nhà kinh tế học, du lịch không chỉđơn thuần là một hiện tượng xã hội mà nó liên quan mật thiết đến các hoạt động kinh tế

Nhà kinh tế học Kalfiotis cho rằng “du lịch là sự di chuyển tạm thời của cá nhân

hay tập thể từ nơi ởđến một nơi khác nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thần, đạo đức

và do đó tạo nên các hoạt động kinh tế”

Để cụ thể khía cạnh kinh tế của hoạt động du lịch, nhà kinh tế học Picara

Edmod đã định nghĩa “du lịch là tổng hoà việc tổ chức và chức năng của nó

không chỉ về phương diện khách vãng lai mà chính về phương diện giá trị do khách chỉ ra và của những khách vãng lai đến với một túii tiền đầy, tiêu dùng trực tiếp (trước hết trong khách sạn) và gián tiếp cho các chi phí của họ nhằm thoả mãn nhu cầu hiểu biết và giải trí”

Trong giáo trình Thống kê du lịch, tác giả Nguyễn Cao Thường và Tụ

Đăng Hải cho rằng “du lịch là một ngành kinh tế xã hội, dịch vụ, có nhiệm vụ

phục vụ nhu cầu tham quan giải trí, nghỉ ngơi hoặc cũng kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác”

Năm 1963, tại Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch họp ở Roma (Ý), các nhà khoa học tham gia đã thống nhất đưa ra một định nghĩa có tính quốc tế về du

lịch và về sau được Tổ chức Du lịch thế giới (WTO) chính thức thông qua là “du

lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn

từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thểở bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình Nơi họđến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”

Đến năm 1991, tại Hội thảo quốc tế về lữ hành và thống kê du lịch, WTO

đã đưa ra thêm một định nghĩa về du lịch, theo đó “du lịch được hiểu là hoạt

động của con người đi tới một điểm ở bên ngoài môi trường sống thường xuyên của mình trong một thời gian nhất định và chuyến đi đó của họ không nhằm mục đích kiếm tiền tại nơi họ đến tham quan”

Theo quan điểm của học giả biên soạn Bách khoa toàn thư Việt nam thì khái niệm du lịch được hiểu theo hai nghĩa riêng biệt:

Trang 12

Nghĩa thứ nhất “du lịch được coi là một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích

cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa nghệ thuật ”

Nghĩa thứ hai “du lịch được coi là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu

quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; cụ thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá

để mọi nguồn tài nguyên, mọi cơ hội để kinh doanh du lịch Người ta đã quên rằng “du lịch là một hiện tượng xã hội sâu sắc, nó góp phần nâng cao dân trí và phục hồi sức khoẻ cộng đồng, giáo dục lòng yêu nước, tính đoàn kết ” do vậy toàn xã hội phải có trách nhiệm đóng góp, hỗ trợ, đầu tư cho du lịch phát triển

Luật Du lịch được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14/6/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2006 đã xác

định du lịch là “các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài

nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”

Khái niệm này cùng với định nghĩa nêu trong Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam có thể được coi là hai định nghĩa chính thức của Việt Nam về hoạt động du lịch

1.1.1.2 Du lịch nông thôn

Du lịch là một ngành có định hướng tài nguyên một cách rõ rệt Nói một cách khác, phát triển du lịch luôn gắn liền với việc khai thác các giá trị tài

Trang 13

nguyên du lịch Dựa vào việc khai thác các giá trị tài nguyên du lịch ở các vùng địa lý đặc thù khác nhau, du lịch có thể là du lịch biển (chủ yếu dựa vào tài nguyên biển như các bãi biển, các hệ sinh thái biển, v.v.), du lịch núi (chủ yếu dựa vào tài nguyên núi nhưđịa hình, khí hậu, các hệ sinh thái núi điển hình, v.v.); dựa vào việc khai thác các giá trị tài nguyên du lịch ở các lãnh thổ có hình thái

tổ chức xã hội khác nhau, du lịch có thể là du lịch thành phố/đô thị (với nhiều

loại hình du lịch đặc trưng như du lịch MICE, du lịch mua sắm, v.v.), du lịch

nông thôn (với nhiều loại hình du lịch đặc trưng như du lịch làng nghề, du lịch

nông trang, du lịch ở tại nhà dân , v.v ); dựa vào việc khai thác các giá trị tài

nguyên để phục vụ cho các mục đích du lịch khác nhau, du lịch lúc này có thể là

du lịch nghỉ dưỡng (có thể ở vùng biển, vùng núi, vùng nông thôn, v.v.), du lịch

thăm quan, du lịch lễ hội, v.v Như vậy có thể thấy du lịch nông thôn là hoạt

động du lịch được tổ chức phát triển ở địa bàn nông thôn trên cơ sở khai thác các giá trị tài nguyên du lịch (tự nhiên và nhân văn) nhằm thoả mãn nhu cầu đa dạng của du khách

Du lịch nông thôn đã được phát triển ở nhiều nước trên thế giới và có những cách thức, hình thức tổ chức khác nhau Ở một số nước, chính phủ hoặc tổ chức nghề nghiệp (hợp tác xã) là chủ đầu tư chủ yếu, trong khi có nước chủ đầu tư chủ yếu lại là các doanh nghiệp tư nhân Ở Indonesia, du lịch nông thôn phát triển chủ yếu ở các khu vực đồn điền thuộc Sumatra và Java, khách du lịch ở khách sạn quanh đó và chỉ đến thăm quan các trang trại để quan sát, tìm hiểu các hoạt động hoặc tham gia các hoạt động sản xuất như trồng lúa, cạo mủ cao su Ở Nhật Bản, Australia du lịch nông thôn phát triển phổ biến nhất là ở các trang trại, nơi

du khách có thể thăm quan cuộc sống, hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân và có thể tạn hưởng các dịch vụ lưu trú và ăn uống Ở Hàn Quốc, du lịch trang trại thường do nhóm cộng đồng gồm một số gia đình liên kết với nhau tổ chức và điều hành; khách du lịch có thểở ngay tại những gia đình này và tham gia vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp Ở Malaysia, chính phủ cung cấp phần lớn tài chính cho hơn 30 trung tâm du lịch nông thôn, các trung tâm này

Trang 14

được lập ra phục vụ hoạt động giáo dục và giải trí Pháp là một ví dụ điển hình phát triển du lịch nông thôn ở châu Âu, theo đó cắm trại và nhà lưu động làm chỗ nghỉ là cách thức phổ biến nhất ở nông thôn Nhiều trại và nhà lưu động dựng ngay trên các trang trại, nhiều nông dân còn dựng sẵn các khu cắm trại trên trang trại của mình

Loại hình du lịch nông thôn mới xuất hiện ở Việt Nam trong những năm gần đây, tuy nhiên khái niệm du li ̣ch nông thôn vẫn chưa được nhắc tới trong các văn bản pháp lý Ở Việt Nam du li ̣ch nông thôn với nhiều tên go ̣i khác nhau Ví du ̣ :“Du lịch trang tra ̣i ”,“Du li ̣ch nông tra ̣i” , “Du li ̣ch nông nghiệp” , “Du li ̣ch đồng quê”, “Du li ̣ch miệt vườn” , “Du li ̣ch sông nước” , “Du li ̣ch làng bản” , “Du li ̣ch làng nghề”,“Du li ̣ch sinh thái” Mỗi tên gọi đều phản ánh yếu tố cốt lõi ta ̣o ra đặc

trưng của từng thể loa ̣i du li ̣ch trong hình thức du li ̣ch nông thôn Như vậy, Du

lịch nông thôn là tập hợp nhiều loại du lịch, dựa trên sự khác biệt của tài nguyên thiên nhiên, nhân văn ở vùng nông thôn để thu hút du khách Sự khác biệt về

cảnh quan, lối sống và những sản vật vùng nông thôn sẽ góp phần tạo nên sự khác biệt của sản phẩm du lịch nông thôn Các thành phần này nếu được khai thác một cách hợp lý để phát triển sản phẩm du lịch sẽ tạo ra sự hấp dẫn rất riêng góp phần đáp ứng nhu cầu trải nghiệm vùng nông thôn của khách du lịch

1.1.1.3 Du lịch làng quê

Lũy tre làng, rặng nhãn bờ sông, đồng lúa thẳng cánh cò bay, lối sống làng quê mộc mạc cùng tiếng hát chèo hôm sớm nơi sân đình đã làm nên hồn quê sâu lắng ở vùng châu thổ sông Hồng Các làng quê thuần Việt chứa đựng giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc chính là nơi ẩn chứa tiềm năng phát triển du lịch làng quê, một hướng phát triển bền vững mà không tốn nhiều công sức cũng như tiền của đầu tư Du lịch làng quê chính là nơi chuyển tải cái hồn, cái cốt cách đậm chất truyền thống của người Việt đến với du khách: Một đêm chèo văn/Một bát nước chè xanh/Một vũng nước trâu đằm/Nơi ấy tình ta chảy suốt trăm năm… Hiện nay còn có sự nhầm lẫn giữa du lịch nông thôn với du lịch làng quê vì trong thực tế khi đề cập đến khái niệm du lịch nông thôn, nhiều người đã đồng

Trang 15

nhất với du lịch làng quê Mặc dù hiện còn những điểm chưa thống nhất, tuy nhiên đa số các nhà nghiên cứu đều cho rằng về bản chất du lịch nông thôn khác với du lịch làng quê ở chỗ du lịch làng quê chỉ là một hình thức (mặc dù rất đặc trưng) của du lịch nông thôn

Điều này có thể được lý giải là du lịch làng quê chỉ có thể phát triển ở vùng nông thôn và vì vậy được xem là một phần (mặc dù rất quan trọng) của du lịch nông thôn Du lịch làng quê khác với một số hình thức du lịch nông thôn khác ở chỗ du lịch làng quê được phát triển chủ yếu dựa vào việc khai thác những giá trị tài nguyên du lịch tiêu biểu nhất của vùng nông thôn, đặc biệt là các giá trị văn hoá truyền thống vật thể và phi vật thể Những hình thức du lịch nông thôn khác như du lịch cuối tuần, du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, v.v thậm chí du lịch biển diễn ra ở vùng nông thôn vẫn có thể phát triển, miễn là những tài nguyên du lịch mà dựa vào đó những hình thức du lịch này phát triển là ở trên địa bàn nông thôn và được khai thác để phát triển du lịch

Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam được Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt đã xác định phát triển du lịch văn hoá là một trong 2 định hướng ưu tiên bên cạnh du lịch sinh thái Để phát triển du lịch văn hoá, việc khai thác có hiệu quả những tài nguyên du lịch nhân văn đặc sắc là yếu tố quyết định

Một trong những tài nguyên du lịch nhân văn đặc sắc, mang đậm bản sắc dân tộc là các làng quê Việt Nam, nơi còn lưu giữ được nhiều giá trị văn hoá truyền thống Thời gian qua, phát triển du lịch nông thôn nói chung, du lịch làng quê nói riêng trên cơ sở điều tra đánh giá có hệ thống và khai thác những giá trị tài nguyên du lịch đặc biệt này còn nhiều hạn chế Các sản phẩm du lịch nông thôn được xây dựng trên cơ sở các giá trị văn hoá làng quê Việt Nam còn đơn điệu, chưa có sức cạnh tranh cao, ảnh hưởng đến sự phát triển chung của du lịch Việt Nam Một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng trên là cho đến nay chưa có nghiên cứu có hệ thống nào về vấn đề này bao gồm cả những vấn đề

lý luận và thực tiễn

Phát triển du lịch làng quê nói riêng, du lịch nông thôn nói chung ở vùng Đồng bằng Sông Hồng giáp Hà Nội cũng không nằm ngoài ý nghĩa này

Trang 16

Như vậy có thể thấy, phát triển du lịch làng quê – một hình thức du lịch nông thôn đặc trưng, những giá trị tài nguyên du lịch về văn hoá truyền thống, cảnh quan làng quê cần được ưu tiên đánh giá khai thác

1.1.2 Biểu hiện và các nguyên tắc phát triển du lịch làng quê

Du lịch làng quê có thể được nhận nhận biết thông qua một số biểu hiện chủ yếu sau đây:

Một là: Du lịch làng quê được tổ chức ở vùng nông thôn nơi có nhiều giá trị tài nguyên du lịch, đặc biệt là những giá trị tài nguyên mang đậm bản sắc làng quê Việt

Hai là: Du lịch làng quê thường cung cấp cho khách du lịch những trải nghiệm về hoạt động sản xuất nông nghiệp và đời sống sinh hoạt truyền thống mang đậm chất quê của cộng đồng địa phương Những trải nghiệm cụ thể mà khách du lịch có thể có được thông qua Du lịch làng quê là những cách thức trồng trọt, thu hái và đánh bắt thủy hải sản, chế biến các món ăn, loại bánh, các sản phẩm tiêu dùng ở vùng nông thôn… bằng các công cụ thủ công truyền thống của cộng đồng Thông qua các hoạt động này, khách du lịch vừa thỏa mãn được nhu cầu hiểu biết vừa nâng cao nhận thức và các kinh nghiệm của mình đối với các hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, trong quá trình du lịch tại các vùng làng quê Vì vậy, trong du lịch làng quê, khách du lịch sẽ có cơ hội trực tiếp tham gia vào các hoạt động cùng với những người dân địa phương là một hoạt động phổ biến và là một tiêu thức quan trọng để đánh giá và xác định du lịch làng quê

Ba là: Du lịch làng quê được tổ chức trên cơ sở khách du lịch tiêu dùng các dịch vụ do chính những người dân địa phương cung cấp Du lịch làng quê đươc

tổ chức thực hiện tại các làng quê Chủ thể cung cấp các dịch vụ này là các hộ gia đình nông dân và các cá nhân nông dân tham gia Các hộ nông dân địa phương trực tiếp cung cấp dịch vụ lưu trú, du khách được sống cùng với các gia đình để hiểu được lối sống của người dân địa phương Các bữa ăn của du khách cũng được chế biến bằng các nguyên liệu do chính người dân địa phương sản xuất ra, các mặt hàng lưu niệm cũng do nghề thủ công truyền thống của địa phương sản

Trang 17

xuất… Tuy nhiên, các dịch vụ cung cấp ở đây không đòi hỏi cao về chất lượng

và điều kiện cũng như cách thức, phương thức cung cấp… như đối với các dịch

vụ tại khách sạn nhà hàng sang trọng Khách hàng chấp nhận những các thức cung cấp dịch vụ đơn giản, tiện lợi và gần gũi với cuộc sống của người dân địa phương Người dân địa phương sẽ là chủ thể rất quan trọng trong việc giới thiệu với khách du lịch muốn tìm hiểu về phong tục tập quán, văn hóa truyền thống của địa phương như: các lễ hội, các phương thức canh tác, các đặc điểm sinh hoạt gia đình và văn hóa ẩm thực với các món ăn truyền thống và các thức chế biến đặc thù… mà không cần phải qua một khâu trung gian là các doanh nghiệp dịch

vụ khách sạn nhà hàng khác Đó là mô hình du lịch hữu hiệu nhất để du khách hòa nhập vào các hoạt động để hiểu truyền thống, phong tục tập quán của người dân địa phương và lối sống của họ Tiêu chí này rất quan trọng trong việc xác định các hoạt động của du lịch làng quê với các loại hình du lịch khác

Bốn là: Du lịch làng quê được tổ chức để khách du lịch có cơ hội giao lưu với người dân địa phương Trong quá trình tham gia hoạt du lịch làng quê như: tham gia các hoạt động văn hóa lễ hội, sinh hoạt trong môi trường làng quê với các loại hình nhà nghỉ gia đình, các bữa ăn gia đình, tham gia cùng các thành viên của các hộ gia đình trong các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, hoặc các hoạt động khác, khách du lịch và người dân địa phương có những khoảng thời gian cùng làm việc, học hỏi và có điều kiện tiếp xúc giao lưu Thực tế, du lịch làng quê không chỉ đơn giản là hoạt động tham quan thưởng ngoạn như các loại du lịch khác, mà du khách vừa có thể tham quan thưởng ngoạn cảnh đẹp làng quê vừa giao lưu trực tiếp với người dân địa phương để tìm hiểu phong tục tập quán,

kỹ thuật canh tác, chăn nuôi, chế tác, văn nghệ dân gian… Do đó đây là tiêu chí không thể thiếu trong du lịch làng quê

Năm là: Du lịch làng quê được tổ chức trên cơ sở khách du lịch sử dụng các giá trị tài nguyên du lịch, đặc biệt là các giá trị cảnh quan vùng làng quê để thực hiện các hoạt động theo sở thích Ngoài những hoạt động tham gia cùng với người dân địa phương, khách du lịch cũng có những hoạt động giải trí thưởng ngoạn cho riêng mình như các hoạt động thư giãn, tản bộ chiêm ngưỡng cảnh

Trang 18

quan thôn xóm (cây đa, bến nước, mái đình), làng mạc, cổng làng, cảnh quan nông nghiệp, câu cá, soi ếch… những hoạt động này đem lại cho du khách những thỏa mãn về nhu cầu cá nhân

 Việc phát triển du lịch làng quê cần đảm bảo các nguyên tắc sau:

- Thứ nhất, bảo đảm tính công bằng cho các chủ thể tham gia Phải đảm bảo tính công bằng cho tất cả mọi người dân đã tham gia nhằm tạo lòng tin của người dân Có như thế thì mới có sự kết hợp bền chặt với người dân và như thế mới có được sự phát triển lâu dài

- Thứ hai, đem lại lợi ích cho người dân địa phương và phát huy nội lực của từng địa phương Đây là tiêu chí khá quan trọng bởi chỉ khi có lợi ích thì người dân cũng như chính quyền địa phương mới tích cực tham gia vào loại hình du lịch làng quê Và khi người dân nhận thức được vai trò và quyền lợi của họ thì họ

sẽ nỗ lực hết mình cùng địa phương phát triển loại hình du lịch này

- Thứ ba, bảo tồn phát huy vốn di sản và bảo vệ môi trường Không chỉ loại hình du lịch làng quê mà tất cả các loại hình du lịch khác đều cần có những đóng góp cho bảo tồn di sản và bảo vệ môi trường để đảm bảo sự phát triển du lịch bền vững, đem lại hiệu quả cho hiện tại mà còn cho tương lai

- Thứ tư, luôn đổi mới và tạo sự khác biệt và tăng cường mối liên kết theo chiều dọc (theo ngành, chuỗi cung ứng dịch vụ) và chiều ngang (theo lãnh thổ)

để làm phong phú thêm sản phẩm, qua đó tăng tính hấp dẫn để khách du lịch có thể quay trở lại nhiều lần Ngoài ra cần phải tạo ra sự khác biệt với các điểm du lịch khác để tạo nên sự tò mò, hấp dẫn đối với du khách

- Thứ năm, giữ gìn bản sắc, xây dựng hình ảnh trong lòng du khách Đây là nguyên tắc cuối cùng nhưng cũng là nguyên tắc quan trọng nhất Bởi du lịch làng quê gắn liền với sự tìm hiểu bản sắc địa phương nơi khách đến, nếu không biết giữ gìn thì không thể phát triển được loại hình du lịch này

Trang 19

1.1.3 Những yếu tố tác động đến phát triển du lịch làng quê

1.1.3.1 Tài nguyên du lịch làng quê

Hoạt động du lịch làng quê được hình thành và phát triển gắn với các tài nguyên, đây là điều kiện tiên quyết để tạo nên sức hấp dẫn đối với du khách Nguồn tài nguyên này được chia thành 3 nhóm:

Cảnh quan: cảnh quan thôn xóm gắn với thiên nhiên, bao gồm các yếu tố

nhân văn như kiến trúc, kết cấu, các yếu tố đặc trưng của thôn xóm, cùng với các yếu tố tự nhiên sẵn có, các sản phẩm nội tại của hoạt động sản xuất, canh tác của người dân

Có thể chia thành 3 dạng cảnh quan như sau:

- Dạng cảnh quan nông nghiệp: là đồng lúa, cánh đồng hoa màu hay trang trại chăn nuôI gia cầm, gia súc Bên cạnh đó có thể kể đến cảnh quan làng xã, với hình ảnh quen thuộc như cây đa, giếng nước, sân đình…với lối kiến trúc truyền thống

- Cảnh quan ngư nghiệp: là làng chài, với công cụ đi biển là thuyền, ghe, lưới…hoặc các trang trại nuôi trồng hải sản như tôm, cua, cá…

- Cảnh quan lâm nghiệp: là cảnh quan rừng, tại các vườn quốc gia, khu dự trữ sinh quyển nằm tại một vùng nông thôn nào đó Nguồn tài nguyên tự nhiên ở đây rất phong phú như: các loài động thực vật quý hiếm, các loài đặc hữu…Đây

là những yếu tố thu hút du khách

Phong tục tập quán: có thể gọi nhóm tài nguyên này là tài nguyên nhân văn

Bao gồm các lễ hội, phương thức và không gian sống, đặc điểm sinh hoạt, văn hoá ẩm thực của vùng làng quê sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp hay lâm nghiệp…Đối với nhóm tài nguyên này dường như được bảo tồn trong các gia đình nông dân và có giá trị thu hút mạnh mẽ đối với khách du lịch

Hoạt động canh tác, thu hoạch: là cách thức trồng cấy, thu hái hay cách

thức chăm sóc và chăn nuôi gia cầm, gia súc; hoạt động nụôi trồng và đánh bắt thuỷ hải sản; hoạt động tại các vùng nông thôn mà hoạt động sản xuất nông

Trang 20

nghiệp là chủ yếu Vùng hoạt động sản xuất ngư nghiệp thì hoạt động chính ở đây là cách thức bắt các nguồn lợi từ biển hoặc cách chăn nuôi thuỷ hải sản Đối với vùng quê mà hoạt động lâm nghiệp chiếm ưu thế thì tài nguyên của hoạt động sản xuất chính là cách thức chăm sóc và khai thác tài nguyên rừng sao cho phù hợp mà không làm tổn hại đến môi trường tự nhiên

Các hoạt động này có giá trị cho việc tạo cho du khách có được sự trải nghiệm, thoả mãn nhu cầu hiểu biết và tò mò của du khách trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất tại các làng quê

1.1.3.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ sở hạ tầng

Các điều kiện về kỹ thuật ảnh hưởng đến sự sẵn sàng đón tiếp khách du lịch trước tiên là vấn đề trang bị tiện nghi ở nơi du lịch, việc xây dựng và duy trì cơ

sở vật chất kỹ thuật cần thiết…Đó là cơ sở vật chất kỹ thuật của tổ chức du lịch

và cơ sở hạ tầng

Cơ sở vật chất kỹ thuật bao gồm toàn bộ nhà cửa và phương tiện kỹ thuật để thoả mãn nhu câu thường ngày của khách du lịch như: khách sạn, tiệm ăn, phương tiện giao thông, các khu nhà giải trí, cửa hàng, công viên, đường sá trong khu du lịch, hệ thống thoát nước, mạng lưới điện…Cơ sở vật chất kỹ thuật còn gồm tất cả những công trình mà tổ chức du lịch xây dựng bằng vốn đầu tư của mình

Cơ sở hạ tầng là những phương tiện vật chất không phải do tổ chức du lịch xây dựng nên mà của xã hội Đó là hệ thống đường sá, nhà ga, sân bay, bến cảng, đường sắt, công viên Cơ sở hạ tầng được xây dựng để phục vụ nhân dân địa phương, phục vụ khách du lịch đến thăm điểm du lịch Đây là cơ sở có tầm quan trọng đặc biệt, nó quyết định chất lượng phục vụ du lịch

Cũng như du lịch thuần tuý, cơ sở hạ tầng đóng vai trò quyết định đến sự phát triển du lịch làng quê, vì nó liên quan đến sự sẵn sàng đón tiếp du khách của điểm du lịch

Để phục vụ tốt mục đích kinh doanh, cơ sở vật chất- kỹ thuật đều phải đáp ứng được những nhu cầu nhất định Với đặc trưng này, hệ thống cơ sở vật chất

Trang 21

kỹ thuật phải đáp ứng các yêu cầu cơ bản về mức độ tiện nghi, thẩm mỹ, vệ sinh

và mức độ an toàn Tuy nhiên, do đặc thù của du lịch làng quê, yêu cầu cơ sở vật chất kỹ thuật và hạ tầng của du khách có khác biệt so với loại hình du lịch khác Yêu cầu về lưu trú: Có thể xác định 2 hình thức lưu trú cơ bản của du khách: tại khách sạn và tại nhà dân (homestay) Nếu lưu trú tại khách sạn, du khách sẽ không quá bận tâm về các dịch vụ tối thiểu như ăn, ở Còn nếu ở tại nhà dân cũng cần phải có các tiêu chí lựa chọn khi đưa du khách ngủ lại Theo nghiên cứu cho thấy, đối tượng khách quốc tế tham gia du lịch làng quê hầu như không ngủ nhà dân ma chỉ ghé thăm Lý do đơn giản là mức độ vệ sinh của các hộ gia đình còn kém Đây cũng là một hạn chế khiến cho sản phẩm du lịch làng quê ở Việt Nam chưa có sức hấp dẫn du khách

Yêu cầu về ăn uống: Khi tham gia du lịch làng quê, du khách có nhu cầu được thưởng thức ẩm thực đặc trưng của vùng/ miền, đây cũng là nhân tố thu hút

Về cung ứng các dịch vụ khác: Nói chung du khách tham gia loại hình du lịch này không có yêu cầu nhiều về dịch vụ bổ sung Lý do là bởi, hầu hết các đối tượng khi đã tham gia vào loại hình này đều đặt lợi ích của bản thân mình sau những tài nguyên tự nhiên và giá trị văn hoá bản địa

1.1.3.3 Sự tham gia của các đối tác trong hoạt động du lịch

Khi nói về du lịch làng quê, ngoài sự thống nhất về khu vực lãnh thổ nơi diễn ra hoạt động du lịch, khái niệm này thường đề cập đến những loại hình/ sản phẩm du lịch được phát triển dựa tren những giá trị tài nguyên du lịch khá đặc thù ở làng quê như các giá trị cảnh quan, văn hoá truyền thống làng quê, làng nghề, v.v

Trang 22

Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao, vì vậy các đối tác tham gia hoạt động phát triển du lịch, trong đó bao gồm cả du lịch làng quê là khá đa dạng Để có thể xác định đầy đủ và có tính hệ thống về các đối tác tham gia hoạt động du lịch cần được xem xét từ mối quan hệ cung-cầu, mối quan hệ nền tảng của ngành kinh tế trong cơ chế thị trường

Các đối tác tham gia hoạt động du lịch từ góc độ cung du lịch: Các đối tác này là những chủ thể tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình khai thác tài nguyên, xây dựng và phát triển các sản phẩm du lịch để đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách cũng như xây dựng môi trường để thực hiện quá trình này (ví dụ: xây dựng chính sách; hỗ trợ tư vấ, v.v) Các đối tác chủ yếu ở đây bao gồm:

- Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch: bao gồm các nhà quản lý nhà nước

về du lịch ở trung ương và địa phương

Vai trò chủ yếu của đối tác này đối với phát triển du lịch làng quê là hoạch định chính sách, tạo hành lang pháp lý và môi trường thuận lợi cho du lịch làng quê phát triển.Vai trò này rất quan trọng bởi nó tạo nền tảng cho du lịch làng quê phát triển, đặc biệt trong bối cảnh vùng nông thôn hiện đang còn nhiều khó khăn; khả năng thu hút đầu tư cho phát triển du lịch làng quê còn nhiều hạn chế Bên cạnh đó, đối tác này cũng sẽ thực hiện chức năng giám sát, quản lý đối với các hoạt động phát triển của du lịch làng quê, đảm bảo những hoạt động này phù hợp với những quy định hiện hành của nhà nước không chỉ trong lĩnh vực du lịch mà còn những lĩnh vực khác mà hoạt động phát triển du lịch làng quê có khả năng gây ra những tác động như tài nguyên, môi trường, văn hoá, xã hội, v.v Hơn nữa, vai trò của đối tác này còn được thể hiện ở trách nhiệm tạo dựng hình ảnh của du lịch làng quê Việt Nam trên thị trường quốc tế Nói một cách khác cơ quan quản lý nhà nước về du lịch có vai trò rất quan trọng trong hoạt động xúc tiến điểm đến của du lịch Việt Nam, trong đó có du lịch làng quê, để thu hút khách du lịch quốc tế

- Các cơ quan/ tổ chức tư vấn phát triển du lịch: bao gồm các tổ chức ( viện,

trường, v.v) nghiên cứu, tư vấn, các vấn đề liên quan đến phát triển du lịch ( tài

Trang 23

nguyên du lịch, môi trường du lịch, thị trường sản phẩm du lịch, đầu tư du lịch, v.v), quy hoạch phát triển du lịch, v.v Các tổ chức này có thể là tổ chức nhà nước, tư nhân hoặc phi chính phủ

Đối tác này có vai trò quan trọng đối với hoạt động phát triển du lịch làng quê bởi những đối tác này giúp cụ thể hoá các chính sách, định hướng phát triển thông qua việc xây dựng các đề án/ dự án quy hoạch, phát triển các sản phẩm du lịch làng quê và tiếp cận thị trường Ngoài ra, các cơ quan/ tổ chức tư vấn còn thực hiện các nghiên cứu, đánh giá các giá trị tài nguyên, thực trạng môi trường

và tác đồng môi trường cho từng phương án phát triển du lịch làng quê trên những địa bàn cụ thể, góp phần đảm bảo phát triển du lịch làng quê bền vững Đây là những vấn đề mà các đối tác tham gia khác ít có năng lực đề thực hiện

- Các doanh nghiệp du lịch: có thể là doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp

tư nhân hoặc doanh nghiệp cổ phần/ liên doanh trong lĩnh vực dịch vụ du lịch như lưu trú, lữ hành, vận chuyển khách du lịch và các dịch vụ có liên quan khác Trong xu thế hội nhập hiện nay, doanh nghiệp du lịch có thể là doanh nghiệp liên doanh/ cổ phần với đối tác nước ngoài hoặc 100%vốn nước ngoài theo những điều khoản mà Việt Nam cam kết khi gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO)

Đây là đối tác quan trọng trong hoạt động đầu tư phát triển các sản phẩm du lịch làng quê, cung cấp các dịch vụ du lịch làng quê có liên quan nhằm thoả mãn nhu cầu đa dạng của du khách Tất nhiên việc xây dựng, phát triển các sản phẩm

và các dịch vụ có liên quan sẽ được dựa trên kết quả hoạt động của các đối tác đã phân tích trên Tuy nhiên, các doanh nghiệp du lịch có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển du lịch nói chung và phát triển du lịch làng quê nói riêng bởi đối tác này trực tiếp tham gia vào quá trình cung các sản phẩm du lịch làng quê cụ thể Các doanh nghiệp liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài, ngoài vai trò như những doanh nghiệp khác, còn có vai trò chuyển tải những kinh nghiệm nước ngoài vào hoạt động kinh doanh ở Việt Nam nói chung, từng vùng miền và địa phương nói riêng Đây là vai trò có ý nghĩa đối với phát triển du lịch làng quê,

Trang 24

đặc biệt trong bối cảnh du lịch Việt Nam đang hội nhập ngày một đầy đủ hơn với

du lịch khu vực và thế giới

- Các chủ sở hữu/ chủ quản lý tài nguyên du lịch: là các tổ chức, cá nhân có quyền quản lý hoặc sở hữu các tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn (vật thể và phi vật thể) Trong thực tế có những dạng tài nguyên rất có giá trị, hấp dẫn khách du lịch như các sinh hoạt văn hoá (hoặc đời sống) truyền thống, các lễ hội truyền thống, v.v do cộng đồng tự quản lý ( theo nghĩa duy trì và phát triển)

Tính đa dạng của các tài nguyên du lịch cho thấy sự đa dạng của các đối tác chủ sở hữu/ chủ quản lý tài nguyên du lịch.Vai trò của các đối tác này rất quan trọng từ góc độ bảo tồn những giá trị tài nguyên, tạo điều kiện cho sự phát triển

du lịch làng quê lâu dài và bền vững Quan điểm và mức độ hợp tác của các đối tác này với các doanh nghiệp du lịch sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quy mô và chất lượng các sản phẩm du lịch làng quê được tạo ra và như vậy sẽ ảnh hưởng toàn cục đến hoạt động phát triển du lịch làng quê

Hiện nay còn tồn tại những mâu thuẫn/ xung đột trong hoạt động phát triển

du lịch nói chung, phát triển du lịch làng quê nói riêng từ góc độ khai thác và bảo tồn các giá trị tài nguyên du lịch Những xung đột này hiện còn tồn tại ở cả tầm

vĩ mô và vi mô và ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển du lịch Chính vì vậy, vai trò của những chủ thể này là rất quan trọng và cần được quan tâm thoả đáng trong quá trình hoạt động phát triển du lịch làng quê ở bất cứ quy mô nào

1.1.3.4 Các đối tác tham gia hoạt động du lịch từ góc độ cầu du lịch: Khách du lịch là đối tác tham gia hoạt động du lịch với tư cách là những người tiêu thụ sản phẩm du lịch tại những nơi những sản phẩm này được xây dựng và bán Điều 34, Luật Du lịch đã xác định rõ khách du lich bao gồm:

- Khách du lịch quốc tế: là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch;

- Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam

Trang 25

Vai trò chính của khách du lịch là tiêu thụ các sản phẩm du lịch được tạo ra phù hợp với nhu cầu của bản thân mình Với vai trò này, có thể khẳng định du lịch nói chung, du lịch nông thôn nói riêng không thể tồn tại nếu thiếu sự tham gia của đối tác này Tuy nhiên, một vấn đề quan trọng cần được đề cập bên cạnh vai trò trên là vai trò phản biện đối với các sản phẩm và các dịch vụ bổ sung có liên quan được tạo ra trong quá trình hoạt động phát triển du lịch làng quê Nếu thiếu sự phản biện của đối tác này, các sản phẩm du lịch và các dịch vụ có liên quan khác không thể hoàn thiện và tiệm cận với nhu cầu của thị trường và vì vậy,

sẽ không thể phát triển được như mong muốn Nói một cách khác, khách du lịch

có vai trò quan trọng trong việc góp phần đảm bảo sự phát triển du lịch làng quê bền vững thông qua vai trò phản biện của minh

Các đối tác có liên quan tham gia vào hoạt động du lịch

Ngoài 2 nhóm đối tác chính tham gia hoạt động du lịch nêu trên, một số đối tác có liên quan đó là:

- Các cơ quan quản lý nhà nứơc ở các lĩnh vực có liên quan đến phát triển

du lịch như giao thông vận tải, nông nghiệp và phát triển nông thôn, tài nguyên

và môi trường, văn hoá, v.v

Hoạt động du lịch sẽ không thế phát triển nếu thiếu sự tham gia của các đối tác có liên quan như giao thông vận tảI, bưu chính viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm, v.v Vai trò của các đối tác này lại càng trở nên quan trọng đối với hoạt động phát triển du lịch làng quê bởi đây là địa bàn còn nhiều hạn chế, khó khăn trong phát triển

- Các tổ chức quốc tế như Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), Chương trình phát triển của Liên Hơp Quốc ( UNDP), v.v

Hoạt động du lịch không thể thiếu sự hợp tác, hỗ trợ và chia sẻ kinh nghiệm của các tổ chức quốc tế, đặc biệt là của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) Điều này là thực tế bởi hoạt động phát triển du lịch không thể bó trong một quốc gia, một vùng mà hoạt động này luôn có tính liên vùng, liên quốc gia Điều này

sẽ còn ý nghĩa hơn khi du lịch Việt Nam đang hội nhập đầy đủ hơn với khu vực

Trang 26

và quốc tế, khi hoạt động du lịch Việt Nam sẽ phải tuân thủ đầy đủ hơn những quy định mang tính quốc tế để giải quyết những vấn đề nảy sinh trong hoạt động

Khác với vai trò mang tính vĩ mô của các tổ chức quốc tế đã đề cập, các tổ chức phi chính phủ thường giúp du lịch Việt Nam trong phát triển các mô hình cụ thể, thực hiện những vấn đề cụ thể mang tính vi mô Đặc biệt, các tổ chức này rất quan tâm hỗ trợ phát triển du lịch ở những vùng sâu, vùng xa, vùng còn nhiều khó khăn với những dự án về đào tạo, nâng cao nhận thức kỹ năng của cộng đồng trong phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, bảo vệ môi trường du lịch, v.v

1.2 Vai trò của du lịch làng quê trong bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống

1.2.1 Giá trị văn hóa truyền thống ở làng quê

Nhìn từ truyền thống

Văn hóa làng Việt truyền thống rõ nét nhất là văn hóa làng Việt ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Làng Việt Bắc Bộ là nơi bao đời nay cư dân Việt cư trú, lao động, sản xuất và tổ chức mọi sinh hoạt văn hóa, sinh hoạt tinh thần; đồng thời là nơi cố kết quan hệ dòng tộc, xóm giềng Làng là mô hình để người xưa theo đó

mà mở rộng ra xây dựng tổ chức quốc gia, đô thị Làng còn là pháo đài để chống giặc ngoại xâm cùng mọi yếu tố ngoại lai, bảo vệ sự bình yên cho dân tộc, cho đất nước.Văn hóa làng chính là hệ thống những giá trị hình thành qua bao đời trong toàn bộ các hoạt động đó, và đến lượt mình, nó cũng chính là công cụ, là phương tiện tổ chức và duy trì toàn bộ các hoạt động này Nó đi vào ký ức người Việt Nam bằng hàng loạt những giá trị vật chất và tinh thần rất gần gũi và thân thương

Trang 27

Thế giới đầy mầu sắc của văn hóa làng được quy ước thành lệ làng, đúc kết trong hương ước làng, bộc lộ một cách phong phú qua hội làng.Tất cả chắt lọc lại, tạo nên bản sắc văn hóa làng, mà trong đó tính cộng đồng làng và tính tự trị của làng là những giá trị nổi trội nhất Bên cạnh đó còn là các phẩm chất quan trọng khác như: tính ưa hài hòa, khuynh hướng thiên về âm tính (mà tính trọng tình, hay tình làng là một biểu hiện của nó), tính tổng hợp và tính linh hoạt Trải qua các thời kỳ lịch sử của dân tộc, văn hóa làng Việt đã chứng tỏ sức sống mãnh liệt của mình Sau lũy tre làng, bên giếng làng, dưới mái đình làng, trong bầu khí thân thương của những ngày hội làng, mọi người sống với nhau nặng tình nặng nghĩa, giúp đỡ nhau lúc tắt lửa tối đèn Tình làng nghĩa xóm, quan hệ láng giềng ràng buộc con người trong nếp sống làng, xã có kỷ cương, trong sáng

và thanh cao

Văn hóa làng Việt thời nay

Mặc dù văn hóa làng đã trở thành bản sắc, thành một hằng số của văn hóa Việt Nam, nhưng theo thời gian, không có cái gì là không biến đổi Với cuộc sống đang hiện đại hóa, với xã hội đang công nghiệp hóa và đô thị hóa, với thế giới đang toàn cầu hóa và hội nhập, hàng loạt 'trai quê', 'gái quê' Việt Nam đã đi vào thành phố, đi ra nước ngoài Quần jeans, áo pull, nước giải khát coca-cola, và cả nạn bạo lực cùng nhiều tệ nạn xã hội khác đang thâm nhập vào từng thôn xóm, làng bản Văn hóa làng trong đời sống nông thôn Việt Nam hôm nay đang biến đổi rất nhanh chóng, mạnh mẽ và sâu sắc.Cái tốt hiển hiện, cái xấu cũng bộc lộ rõ nét hơn

Văn hóa, văn minh làm hình thành phong cách sống, phong cách tư duy Nhìn ra nước ngoài, ta càng thấy rõ hơn đặc điểm tư duy của người làm nông nghiệp Việt Nam và Đông-Nam Á Đó là tính linh hoạt, mềm dẻo, nhiều khi đến mức tùy tiện, thiên về tình cảm Đố kỵ cào bằng là tâm lý phổ biến của lối sản xuất nhỏ, trong khi đó tinh thần cạnh tranh lành mạnh thì yếu kém.Phong cách tư duy thiên về phân tích, lối sống chặt chẽ, rành mạch là cái rất cần cho xã hội công nghiệp, đó lại là cái mà người Việt Nam rất thiếu

Trang 28

Hiện nay, hội nhập quốc tế là một quá trình tất yếu Xét về bản chất thì hội nhập là một quá trình tương tác mang tính hai chiều, nhưng trên thực tế thì kinh

tế và kỹ thuật đang nắm phần ưu thế, nên hội nhập hiện nay chủ yếu là phương Đông tham gia vào một thế giới tổ chức theo kiểu phương Tây, trong đó Nhật Bản là nước đi đầu Sự hội nhập hiện nay đòi hỏi những phẩm chất của một nền văn hóa công nghiệp với những tác phong công nghiệp, thích hợp với lối sống đô thị Những đòi hỏi này quả là rất xa lạ với truyền thống văn hóa làng, xã của Việt Nam, do vậy văn hóa Việt Nam cần phải có sự giao lưu tiếp xúc với văn hóa thế giới Nhưng theo tôi, không phải vì thế mà chúng ta phải từ bỏ, phải thoát ra khỏi nền tảng văn hóa làng

Trong bản sắc văn hóa làng, cũng là bản sắc của văn hóa Việt Nam, những

gì đến bây giờ vẫn còn giá trị thì vẫn cần phải giữ lại.Tất nhiên, điều quan trọng

là phải hiểu cho đúng khái niệm 'bản sắc văn hóa dân tộc'.Không phải cứ áo dài khăn đóng mới là dân tộc.Nhưng việc gì mà ta phải từ bỏ lối sống tình nghĩa 'thương người như thể thương thân'? Việc gì mà ta phải từ bỏ tính linh hoạt? Chính tính linh hoạt này làm cho con người khác với một cỗ máy Có cần bỏ chăng là bỏ cái xấu Trước đây, trong xã hội nông nghiệp với cuộc sống giới hạn trong phạm vi làng, xã mấy trăm người, mọi người đều biết rõ nhau thì cái xấu không gây tác hại nhiều lắm Nhưng nay khi tiếp xúc với văn hóa thế giới, khi có

sự 'đụng độ' văn hóa thì cái xấu cũ trỗi dậy, cái xấu mới len lỏi tràn vào Mọi hiện tượng nảy sinh trong xã hội, từ nạn bạo hành trẻ em đến nạn tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực khác - tất cả đều có nhiều nguyên nhân, nhưng quan sát

và phân tích của chúng tôi cho thấy rằng phần lớn các nguyên nhân đều có nguồn gốc ở cái tốt và cái xấu nảy sinh từ văn hóa làng, xã người Việt

Người Việt cần gìn giữ những nét bản sắc tốt đẹp của văn hóa làng, nhưng đồng thời cần phát huy ý thức xã hội, tinh thần trách nhiệm, tạo điều kiện để con người cá nhân phát triển, hướng đến một xã hội dân chủ hài hòa, sống tôn trọng pháp luật kỷ cương Tính sáng tạo, linh hoạt truyền thống của người Việt Nam cần giữ lại, song cần chấm dứt thói tùy tiện

Trang 29

Chỉ có như vậy mới thoát ra khỏi tầm nhìn hạn hẹp của văn hóa làng, xã tiểu nông, để trên cơ sở đó gìn giữ và phát huy được những giá trị tinh hoa của văn hóa làng, xây dựng được văn hóa đô thị Việt Nam và không để xảy ra tình trạng văn hóa đô thị bị nông thôn hóa trở lại

1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống làng quê

Di tích lịch sử văn hoá là tài sản vô giá trong kho tàng di sản văn hoá lâu đời của các làng quê, là những chứng tích vật chất phản ánh sâu sắc nhất về đặc trưng văn hoá, về cội nguồn và truyền thống

Với những giá trị như trên, các di tích lịch sử văn hoá là bộ phận đặc biệt trong cơ cấu "tài nguyên du lịch".Các di tích đó, cả về mặt nội dung lẫn hình thức, đều có khả năng tạo nên sức hấp dẫn mạnh mẽ

Luật Du lịch đã khẳng định: Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình sáng tạo của con người được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch: là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch Đồng bằng sông Hồng , đặc biêt là khu vực Hà Nội là trái tim của cả nước, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học, đồng thời là một trung tâm du lịch lớn của quốc gia Được tôn vinh là trung tâm du lịch không phải vì Hà Nội là thủ đô của quốc gia có lịch sử lâu đời, đang cường thịnh với gần8triệu dân mà vì trong lòng của mảnh đất thiêng ấy chứa đựng một trữ lượng tài nguyên du lịch cực kỳ phong phú

Trải qua mấy ngàn năm, lịch sử đã để lại trên mảnh đất Thủ đô nhiều di tích nổi tiếng, có giá trị lớn để Hà Nội trở thành một trong những trung tâm văn hoá

du lịch lớn nhất ở Việt Nam So với các tỉnh, thành phố khác trong toàn quốc, Hà Nội là một trong những địa phương có số lượng di tích lịch sử văn hoá nhiều và phong phú nhất, gần 600 di tích đã được xếp hạng Những nơi nổi tiếng, thu hút

sự chú ý của khách du lịch là Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hồ Gươm – Tháp Rùa

- Đền Ngọc Sơn, khu thành cổ, khu phố cổ, các công trình mang nét kiến trúc

Trang 30

châu Âu thế kỷ 19, các di tích lịch sử liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của chủ tịch Hồ Chí Minh, các làng nghề truyền thống…

Tuy nhiên, việc quản lý bảo vệ và khai thác các tài nguyên du lịch là các di tích tại Hà Nội và các làng quê vùng đồng bằng sông Hồng còn nhiều bất cập Cụ thể như sau:

- Trên cùng một khu vực, các di tích/tài nguyên du lịch khi do Bộ Văn hoá, Thể Thao và Du lịch, khi là Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch, khi là chính quyền

sở tại hoặc các ngành khác quản lý Mỗi ngành, mỗi cấp lại có quan niệm khác nhau dẫn đến việc đầu tư, bảo vệ, giữ gìn cũng với các cách rất khác nhau

- Trách nhiệm bảo vệ giữ gìn các di tích/tài nguyên du lịch không được phân công rõ ràng và thiếu sự phối hợp giữa nhà chức trách với người sử dụng, khai thác Hiện tượng đó dẫn đến tình trạng khai thác bừa bãi, vô trách nhiệm hoặc bỏ mặc cho các di tích xuống cấp Hàng loạt các di tích của Thủ Đô như gò Đống Đa, chùa Vĩnh Trù, khu phố cổ Hà Nội, làng gốm Bát Tràng, làng

cổ Đường Lâm đang trong tình trạng như vậy Đó là nguy cơ lớn nhất hiện nay

- Việc đầu tư nâng cấp các di tích với tư cách là một sản phẩm du lịch chưa được triển khai trong một quy chế chặt chẽ và toàn diện, trong đó có tính đến yếu

tố du lịch Còn phổ biến tình trạng giao khoán cải tạo thậm chí được phó mặc cho những người quản lý, đầu tư tự sáng tạo theo ý mình trong trùng tu, tôn tạo, xây mới bằng các biện pháp chặt cây, phá núi; xây bậc xi măng thay cho vẻ đẹp của đất và đá tự nhiên; thay gạch, bê tông cho các cấu kiện gỗ; dùng sơn công nghiệp thay cho sơn ta trong trang trí kiến trúc làm mất đi vẻ đẹp ban đầu, mất đi những “phần hồn” của các di tích lịch sử văn hóa Những lỗ hổng trong cách quản lý đó dẫn đến hậu quả khôn lường, không những không có tác dụng thu hút

du khách mà ở một chừng mực nhất định còn làm phương hại đến hình ảnh của điểm du lịch, hình ảnh chung về nền văn hoá của cả quốc gia Nếu không sớm khắc phục, chúng ta sẽ có lỗi rất lớn với lịch sử

Trang 31

Hơn nữa, thực tế còn tồn tại một mâu thuẫn khá lớn giữa nhu cầu phát triển kinh tế vùng nông thôn và yêu cầu của những nguyên tắc/ cách thức bảo tồn di tích Nhận thức của cộng đồng về giá trị của di sản văn hoá chưa thật sâu sắc nên trong nhiều trường hợp cụ thể người ta lại muốn hy sinh văn hoá cho nhu cầu kinh tế Cũng phải kể tới nguyên nhân do chính sự phát triển du lịch làm ảnh hưởng trực tiếp tới trạng thái bảo quản di tích, di vật Để phát triển du lịch, các nhà quản lý/kinh doanh du lịch đã khai thác một cách bừa bãi giá trị của di tích hoặc phá hỏng không gian cảnh quan di tích để xây dựng các dịch vụ du lịch Vành đai bảo vệ của các di tích ngày càng bị thu hẹp Người ta xây dựng tràn lan các cơ sở phục vụ khách tham quan/khách du lịch làm thay đổi diện mạo di tích và làm biến mất sự tồn tại của vùng cảnh quan, vốn là một nhân tố tạo sức hấp dẫn lớn đối với khách du lịch Giá trị của di tích lịch sử văn hóa không còn được nhận biết

Tác động của điều kiện tự nhiên (thời tiết, khí hậu) và quá trình khai thác của con người, sự quá tải của số lượng khách tham quan tại một thời điểm nào đó

đã tạo nên những tác động cơ học, hoá học làm huỷ hoại di tích và di vật như các vật dụng trang trí, các đồ thờ tự Điều này trở thành mối nguy cơ đe doạ sự xuống cấp của các di tích, di vật lịch sử văn hóa

Sự phát triển các dịch vụ du lịch thiếu kiểm soát và sự bùng nổ du khách còn có tác động mạnh mẽ đến môi trường văn hoá truyền thốngvà môi trường sinh thái tại các khu di tích.Tại nhiều khu di tích, du khách đã viết tên, khắc tên lên các bộ phận di tích một cách bừa bãi.Bụi bặm, khói xăng dầu, rác thải gây ô nhiễm, ảnh hưởng không ít đến di tích

Một trong những tác động khác của sự phát triển du lịch là sự thất thoát buôn bán trái phép, xuất lậu đồ cổ Do hám lợi, một số kẻ xấu đã ăn cắp cổ vật tại các di tích và tiến hành thu gom nhiều vật quý trong cộng đồng để móc nối, buôn bán với các du khách nước ngoài

Rõ ràng hệ thống di tích, lịch sử văn hóa truyền thống của đồng bằng sông Hồng, đặc biệt là khu vực tiếp giáp Hà Nội đang có chiều hướng suy giảm, chưa được bảo tồn gìn giữ hoặc nếu có cũng chưa đáng kể Đây là một thách thức lớn

Trang 32

mà dưới góc nhìn kinh tế du lịch là điều đáng quan tâm của các cấp, các ngành và của toàn xã hội Thực tế trên đòi hỏi cần có sự kiểm soát chặt chẽ, quy hoạch tổ chức không gian và đầu tư hợp lý, đặc biệt tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức của dân cư nhằm thay đổi việc bảo tồn và phát huy di tích trong đời sống đương đại, gìn giữ môi trường không gian di tích/điểm du lịch theo hướng bảo vệ

và phát triển bền vững

Di tích lịch sử văn hoá là tài sản vô giá trong kho tàng di sản văn hoá lâu đời của các làng quê, là những chứng tích vật chất phản ánh sâu sắc nhất về đặc trưng văn hoá, về cội nguồn và truyền thống

Với những giá trị như trên, các di tích lịch sử văn hoá là bộ phận đặc biệt trong cơ cấu "tài nguyên du lịch".Các di tích đó, cả về mặt nội dung lẫn hình thức, đều có khả năng tạo nên sức hấp dẫn mạnh mẽ

Luật Du lịch đã khẳng định: Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình sáng tạo của con người được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch; là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch Đồng bằng sông Hồng, đặc biêt là khu vực Hà Nội là trái tim của cả nước, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học, đồng thời là một trung tâm du lịch lớn của quốc gia Được tôn vinh là trung tâm du lịch không phải vì Hà Nội là thủ đô của quốc gia

có lịch sử lâu đời, đang cường thịnh với gân 8 triệu dân mà vì trong lòng của mảnh đất thiêng ấy chứa đựng những giá trị tài nguyên du lịch đa dạng và phong phú Trải qua mấy ngàn năm, lịch sử đã để lại trên mảnh đất Thủ đô nhiều di tích nổi tiếng, có giá trị lớn để Hà Nội trở thành một trong những trung tâm văn hoá

du lịch lớn nhất ở Việt Nam So với các tỉnh, thành phố khác trong toàn quốc, Hà Nội là một trong những địa phương có số lượng di tích lịch sử văn hoá nhiều và phong phú nhất, gần 600 di tích đã được xếp hạng Những nơi nổi tiếng, thu hút

sự chú ý của khách du lịch là Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hồ Gươm – Tháp Rùa

- Đền Ngọc Sơn, khu thành cổ, khu phố cổ, các công trình mang nét kiến trúc

Trang 33

châu Âu thế kỷ 19, các di tích lịch sử liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của chủ tịch Hồ Chí Minh, các làng nghề truyền thống…

Tuy nhiên, việc quản lý bảo vệ và khai thác các tài nguyên du lịch là các di tích tại Hà Nội và các làng quê vùng đồng bằng sông Hồng còn nhiều bất cập Cụ thể như sau:

- Trên cùng một khu vực, các di tích/tài nguyên du lịch khi do Bộ Văn hoá, Thể Thao và Du lịch, khi là Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch, khi là chính quyền

sở tại hoặc các ngành khác quản lý Mỗi ngành, mỗi cấp lại có quan niệm khác nhau dẫn đến việc đầu tư, bảo vệ, giữ gìn cũng với các cách rất khác nhau

- Trách nhiệm bảo vệ giữ gìn các di tích/tài nguyên du lịch không được phân công rõ ràng và thiếu sự phối hợp giữa nhà chức trách với người sử dụng, khai thác Hiện tượng đó dẫn đến tình trạng khai thác bừa bãi, vô trách nhiệm hoặc bỏ mặc cho các di tích xuống cấp Hàng loạt các di tích của Thủ Đô như

gò Đống Đa, chùa Vĩnh Trù, khu phố cổ Hà Nội, làng gốm Bát Tràng, làng cổ Đường Lâm đang trong tình trạng như vậy Đó là nguy cơ lớn nhất hiện nay

- Việc đầu tư nâng cấp các di tích với tư cách là một sản phẩm du lịch chưa được triển khai trong một quy chế chặt chẽ và toàn diện, trong đó có tính đến yếu

tố du lịch Còn phổ biến tình trạng giao khoán cải tạo thậm chí được phó mặc cho những người quản lý, đầu tư tự sáng tạo theo ý mình trong trùng tu, tôn tạo, xây mới bằng các biện pháp chặt cây, phá núi; xây bậc xi măng thay cho vẻ đẹp của đất và đá tự nhiên; thay gạch, bê tông cho các cấu kiện gỗ; dùng sơn công nghiệp thay cho sơn ta trong trang trí kiến trúc làm mất đi vẻ đẹp ban đầu, mất đi những “phần hồn” của các di tích lịch sử văn hóa Những lỗ hổng trong cách quản lý đó dẫn đến hậu quả khôn lường, không những không có tác dụng thu hút

du khách mà ở một chừng mực nhất định còn làm phương hại đến hình ảnh của điểm du lịch, hình ảnh chung về nền văn hoá của cả quốc gia Nếu không sớm khắc phục, chúng ta sẽ có lỗi rất lớn với lịch sử

Hơn nữa, thực tế còn tồn tại một mâu thuẫn khá lớn giữa nhu cầu phát triển kinh tế vùng nông thôn và yêu cầu của những nguyên tắc/ cách thức bảo tồn di tích

Trang 34

Nhận thức của cộng đồng về giá trị của di sản văn hoá chưa thật sâu sắc nên trong nhiều trường hợp cụ thể người ta lại muốn hy sinh văn hoá cho nhu cầu kinh tế Cũng phải kể tới nguyên nhân do chính sự phát triển du lịch làm ảnh hưởng trực tiếp tới trạng thái bảo quản di tích, di vật Để phát triển du lịch, các nhà quản lý/kinh doanh du lịch đã khai thác một cách bừa bãi giá trị của di tích hoặc phá hỏng không gian cảnh quan di tích để xây dựng các dịch vụ du lịch Vành đai bảo

vệ của các di tích ngày càng bị thu hẹp Người ta xây dựng tràn lan các cơ sở phục

vụ khách tham quan/khách du lịch làm thay đổi diện mạo di tích và làm biến mất sự tồn tại của vùng cảnh quan, vốn là một nhân tố tạo sức hấp dẫn lớn đối với khách du lịch Giá trị của di tích lịch sử văn hóa không còn được nhận biết

1.2.3 Vai trò của du lịch làng quê trong bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống

Du lịch nông nghiệp - làng quê trên thế giới rất được coi trọng vì đã chứng minh được sự đóng góp to lớn không những về mặt kinh tế mà còn về các mặt xã hội, góp phần bảo vệ các giá trị môi trường tự nhiên, văn hóa và lịch sử Trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa các nước đều dùng giải pháp này để giảm thiểu khoảng cách bất công giàu nghèo về khoảng cách thu nhập giữa thành thị và nông thôn khi chỉ chú trọng thái quá đến sự phát triển bất động sản đô thị

và xây dựng các khu công nghiệp Thực chất đây là một hình thức phát triển mối giao hòa về mặt tự nhiên, văn hóa và con người giữa các đô thị và nông thôn thông qua việc đến ở (homestay) hoặc tham quan có mục đích nhằm hưởng thụ các sản vật địa phương tại từng nông hộ gia đình hoặc trang trại Bên cạnh đó còn được thưởng ngoạn các danh lam thắng cảnh và tham gia văn hóa đồng quê nên du lịch làng quê đã được khẳng định là một hình thức du lịch mang tính cộng đồng bình đẳng và bền vững Do tầm quan trọng về mặt xã hội và kinh tế nên họat động du lịch nông nghiệp bắt đầu từ Châu Âu đã được mở rộng khắp trên toàn thế giới với sự hỗ trợ tích cực từ chính phủ về chính sách vĩ mô như Quy hoạch, tài chính, luật pháp, thương mại và quảng cáo Các chính phủ của các nước đã hướng sự quan tâm của cộng đồng toàn xã hội vào phát triển du lịch

Trang 35

nông nghiệp – Agritourism.danh từ này có thể dùng khác nhau Ở Ý là tourismo (du lịch nông nghiệp), ở Mỹ là “Homestead”(du lịch trang trại), ở Nhật

“Agri-là “Green-tourism”(du lịch xanh) “vì các sản phẩm (sản vật) dùng cho du khách bắt buộc phải được sản xuất bằng phương pháp hữu cơ mang tính bản địa

Yếu tố hàng đầu của một sản phẩm du lịch là sức hấp dẫn khách du lịch Đối với du lịch nông nghiệp làng quê, lịch sử và văn hóa hình thành sản vật giữ một vai trò chính yếu Đế tạo ra các sản vật mang tính hàng hóa nên mỗi sản vật đều có lịch sữ về nguồn gốc và lịch sử văn hóa canh tác, nuôi trồng , sơ chế , chế biến và quá trình thương mại hóa sản phẩm Nói cách khác các sản vật mang tính văn hóa địa phương đã được các cộng đồng dân cư nông nghiệp của các làng quê sản sinh ra theo dòng lịch sử tồn tại của mình và rất gắn kết sâu sắc với thiên nhiên bản địa Đó chính là nguồn tài nguyên vô tận để tạo ra các sản phẩm rất hấp dẫn cho du khách nếu biết tổ chức và khai thác vì ngòai yếu tố thiên nhiên còn là sản phẩm của trí tuệ và kinh nghiệm của cả một cộng đồng nông nghiệp làng xóm đã tạo ra các làng nông nghiệp truyền thống với các sản phẩm nông nghiệp đặc trưng của mình Với cách hiểu như trên thì làng nghề nông nghiệp truyền thống không chỉ bao gồm các sản phẩm từ các nghề thủ công mỹ nghệ mà còn từ các nghề trồng trọt chăn nuôi đánh bắt trong nông lâm ngư nghiệp Làm thế nào để phát triển du lịch nông nghiệp gắn kết được với các làng nghề sản xuất nông lâm ngư nghiệp truyển thống mang tính đặc thù của địa phưong và vùng miền ở nước ta là cả một vấn đề mang tính lý luận cũng như thực tiễn cần nghiên cứu rất kỹ lưỡng

1.3 Tổng quan kinh nghiệm quốc tế trong phát triển du lịch làng quê

1.3.1 Kinh nghiệm của Việt Nam

Ở Việt Nam cho đến nay, khái niệm du lịch làng quê vẫn chưa được nhắc tới trong các văn bản pháp lý, mặc dù nước ta có tiềm năng lớn để phát triển

du lịch làng quê Với phong cảnh thiên nhiên đẹp, những làng quê cổ nơi còn lưu giữ nhiều giá trị lịch sử và văn hoá truyền thống, những cánh đồng bát ngát, những trang trại phì nhiêu, v.v là những điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch làng quê ở Việt Nam Hơn thế nữa, người Việt Nam nói chung và người dân quê

Trang 36

nói riêng rất nhân hậu, giàu lòng mến khách cùng với sự mộc mạc, chân thành trong giao tiếp là yếu tố tạo nên nên sức hấp dẫn đặc biệt đối với du khách, đặc biệt là khách du lịch quốc tế

Những tiềm năng du lịch to lớn của du lịch nông thôn nói chung và du lịch làng quê nói riêng bước đầu đã được khai thác và phát triển ở nhiều vùng quê trên cả nước mà tiêu biểu có thể kể đến là du lịch thăm làng bản, du lịch ở lại nhà dân (Home stay) ở Mai Châu (Hòa Bình), Sa Pa (Lào Cai); du khảo đồng quê (Tiên Lãng – Hải Phòng); du lịch “một ngày làm nông dân” ở Trà Quế (Hội An – Quảng Nam), ở Thới Sơn (Tiền Giang); v.v

Những năm gần đây, ngành du lịch Việt Nam đã tập trung phát triển đa dạng các loại hình du lịch, nhưng du lịch làng quê chưa thực sự phát triển bởi các lí do sau:

- Một là, chưa có được khung pháp lý để tạo điều kiện thuận lợi phát triển

du lịch làng quê; chưa có quy hoạch chuyên đề cụ thể ở từng địa phương để phát triển du lịch làng quê

- Hai là, sự phát triển của du lịch nói chung và du lịch làng quê nói riêng đã tác động đến đời sống con người, thiên nhiên và môi trường ở nông thôn về cả hai hướng tích cực lẫn tiêu cực, tuy nhiên sự phát triển này chưa thực sự mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng, vì vậy chưa có được sự tham gia tích cực của người dân vùng nông thôn và vì vậy chưa phát huy có hiệu quả những giá trị văn hóa truyền thống để phát triển du lịch làng quê

- Ba là, phát triển du lịch ở vùng nông thôn chưa thực sự gắn kết với địa phương nên các giá trị tài nguyên thiên nhiên chưa được khai thác có hiệu quả

và bền vững Trong khi đó, phần lớn người nông dân ở nông thôn vẫn đứng bên lề

du lịch, hoạt động du lịch còn ít mang lại lợi ích cho người dân

- Bốn là, chưa có sự chuẩn bị tốt về nhận thức cho cấp uỷ, chính quyền các cấp, và người dân địa phương nơi có tiềm năng tài nguyên và điều kiện để phát triển du lịch nông thôn để họ sẵn sàng tham gia hoạt động này, từ đó giảm bớt được những tệ nạn thường gặp như chèo kéo khách, cung ứng sản phẩm, và dịch

vụ kém chất lượng, dần làm mất đi bản sắc văn hoá địa phương

Trang 37

Như vậy có thể thấy có nhiều bài học cần được suy ngẫm từ những hoạt động du lịch làng quê ở Việt Nam cho dù, du lịch làng quê đã bắt đầu có những kết quả đáng ghi nhận trên bình diện cả nước

1.3.2 Kinh nghiệm của Anh

Qua nghiên cứu tổng hợp trên cơ sở thực tế quá trình phát triển của du lịch làng quê,c ác nhà nghiên cứu cho rằng đây là loại hình được hình thành và phát triển từ Châu Âu, và được hình thành sau chiến tranh thế giới thứ II Thời gian đầu, du lịch làng quê chỉ được một số ít những người dân thành thị thực hiện

để giải toả những mệt nhọc, đồng thời bắt nguồn từ việc những người có quê hương tại các vùng nông thôn về nghỉ nhân những ngàylễ tết tại quê nhà Những hoạt động này sau này đã phát triển trở thành trào lưu trong những người dân thành thị

Tuy nhiên, phải đến những năm 70 của thế kỷ trước thì du lịch làng quê mới thực sự phát triển ở Châu Âu với một số đại diện như Anh, Pháp, Đức, Ý Đồng thời, theo Inoue, Nakamura và Yamazawa (1996), cho đến sau những năm 80 của thế kỷ trước, khi nền kinh tế của các nước phương Tây phát triển mạnh mẽ, cùng với quá trình đô thị hoá diễn ra một cách nhanh chóng, tỉ lệ cư dân sống trong các vùng thành thị tăng lên, sức ép về công việc ngày càng gay gắt đã tạo ra sự phát triển và phổ biến rộng rãi của du lịch làng quê

Vào nhữngnăm 90 của thế kỷ trước, du lịch làng quê mới được quan tâm và phát triển tại các nước ở Châu Á như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan và sau này cho đến thời gian gần đây, nhiều nước trong khu vực cũng quan tâm đến phát triển loại hình du lịch này

Anh là một quốc gia phát triển loại hình du lịch nông thôn sớm ở Châu Âu

và trên thế giới Theo Inoue, Nakamura và Yamazawa (1996), Anh còn được coi

là một nước tiên tiến, đi trước các nước khác trong việc phát triển loại hình du lịch nông thôn nói chung và du lịch làng quê nói riêng

Trang 38

Với cảnh quan nông thôn đẹp, hấp dẫn đã được nhiều khách du lich đánh giá cao, người Anh rất tự hào về cảnh quan nông thôn của mình và phát triển rất mạnh loại hình du lịch làng quê trên cơ sở khai thác vốn tài nguyên quý giá

Để trở thành một quốc gia có loại hình du lịch làng quê phát triển, Anh đã

có những điều kiện rất thuận lợi Điều kiện thứ nhất được đưa ra ở đây là sự quan tâm của các cơ quan quản lý nhà nước mà đại diện là quy chế sử dụng đất đai của Anh Từ những năm 1920 của thế kỉ trước, do sự phát triển mạnh của các ngành sản xuất công nghiệp và tốc độ đô thị hoá nhanh, cảnh quan nông thôn tại nhiều khu vực của Anh có xu hướng bị phá vỡ trên phạm vi rộng lớn Điều này được nhiều nhà nghiên cứu và các nhà quản lý cảnh báo Chính từ những cảnh báo có tính trách nhiệm đó, chính phủ đã thành lập một uỷ ban điều tra về những thiệt hại về cảnh quan do quá trình phát triển công nghiệp và quá trình đô thị hoá gây

ra Sau đại chiến thế giới thứ hai, Luật về quy hoạch thành thị và nông thôn được gọi là Luật vành đai xanh cũng ra đời Theo Luật này, việc mua bán đất nông nghiệp hoặc việc chuyển đổi hình thức sử dụng đất đai nông nghiệp có nhiều điều kiện ràng buộc, và không dễ dàng như trước đây Mục tiêu của Luật này là đảm bảo duy trì được sản xuất nông nghiệp và cảnh quan nông thôn rất quý giá

và được người Anh quan tâm để bảo vệ

Bên cạnh Luật vành đai xanh, ở Anh còn một cuộc vận động mang tính xã hội hoá rất cao trong quá trình bảo vệ cảnh quan và tài nguyên thiên nhiên ở đây Hiệp hội bảo tồn môi trường thiên nhiên Anh được thành lập bởi những cá nhân

có quan tâm đến bảo vệ môi trường Cho đến nay, tổ chức này đã có số lượng hội viên lên tới 2 triệu người Tổ chức này đã hỗ trợ cho chủ trương và pháp luật của Nhà nước trong vấn đề bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và cả tài nguyên nhân văn, đặc biệt là tại các vùng nông thôn Mục đích của tổ chức này là bảo vệ, mua lại những khu vực đất đai hoặc các di sản văn hoá do các thế hệ trước để lại, bảo tồn

và tạo những cơ hội cho thế hệ sau đến tham quan tìm hiểu, hoặc đơn giản là tránh sự phá hoại cảnh quan thiên nhiên do sự phát triển của các ngành sản xuất vật chất, và quá trình đô thị hoá

Trang 39

Cho đến nay, Hiệp hội bảo tồn môi trường thiên nhiên Anh đã nắm trong tay gần 300 nông trường ở Anh, đồng thời khoảng 857 km bờ biển của Anh cũng nằm trong sự quản lý của tổ chức này Theo nguyên tắc của Hiệp hội, việc canh tác ở các nông trường hoặc khu vực đất đai do họ quản lý không được dùng những phương thức canh tác có hại cho môi trường và phá hại cảnh quan Hiệp hội này luôn ủng hộ các trường học trong việc tổ chức cho các học sinh đến tham quan thực tế tại các nông trường, đồng thời cũng tổ chức thành lập bộ phận chuyên trách cung cấp các thông tin liên quan đến du lịch cho khách du lịch Như vậy, việc phát triển du lịch nông thôn ở Anh đã có sự hỗ trợ đặc biệt của Hiệp hội bảo tồn môi trường thiên nhiên Anh

Hiện nay, theo thống kê, ở Anh có khoảng 14000 trang trại đang tham gia vào tổ chức các hoạt động kinh doanh du lịch nông thôn, chiếm khoảng 7% tổng

số trang trại nông nghiệp ở Anh Có hai loại hình kinh doanh du lịch nông thôn là phục vụ cho việc nghỉ dài ngày bao gồm các hộ kinh doanh nhà nghỉ hoặc căn hộ

có bếp nấu hoặc kinh doanh theo hình thức cho thuê chỗ cắm trại trong nông trang

Để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch làng quê, dưới sự hỗ trợ của chính phủ Anh, Hiệp hội toàn quốc những người kinh doanh loại hình nhà nghỉ gia đình tại các vùng nông thôn được thành lập vào năm 1987 (Inoue, Nakamura, và Yamazawa (1996)) Hội viên của hiệp hội theo nguyên tắc phải là những người

am hiểu về canh tác nông nghiệp hoặc chăn nuôi trồng trọt, đồng thời hội viên này phải có nguồn thu nào đó liên quan đến nông nghiệp Những người khác nếu mua nhà của nông dân hoặc không biết canh tác hoặc không có thu nhập từ các hoạt động liên quan mà chỉ với mục đích kinh doanh nhà nghỉ sẽ không được tham gia hiệp hội Điều kiện thứ ba là hội viên nhất thiết phải là thành viên của tổ chức liên kết tại địa phương như xã viên của hợp tác xã

Số lượng các nhà nghỉ gia đình nông thôn của Anh có khoang 1000 Hiệp hội cũng tổ chức xuất bản sách hướng dẫn, tổ chức quảng cáo, đồng thời tổ chức các khoá huấn luyện nghiệp vụ cho các hội viên Mô hình nhà nghỉ gia đình ở

Trang 40

Anh có quy mô nhỏ với sốlượng phòng khoảng 7 phòng Người phục vụ chủ yếu

là những người chủ gia đình, thường là các bà vợ

1.3.3 Kinh nghiệm của Thái Lan

Thái Lan là quốc gia ở Đông Nam Á, có ngành du lịch phát triển khá nhanh, đặc biệt sau những năm 80 của thế kỷ trước.Hiện nay, hàng năm Thái Lan đón được khoảng hơn 10 triệu khách du lịch quốc tế Tương đồng với các nước Châu

Á khác, Thái Lan cũng là một quốc gia có nền nông nghiệp phát triển mạnh, với nhiều tiềm năng tài nguyên gắn với sản xuất nông nghiệp có thể phát triển loại hình du lịch làng quê Quan niệm của Thái Lan về du lịch làng quê là hoạt động gắn liền với hoạt động sản xuất nông nghiệp, với tên gọi tiếng anh là Agrotourism (Nichakan và Yamada (2003))

Mặc dù loại hình du lịch làng quê đã được quan tâm phát triển, hai tổ chức: Cơ quan du lịch quốc gia Thái Lan và Trung tâm phát triển nông nghiệp quốc gia Thái Lan rất quan tâm đến việc phát triển loại hình du lịch này Nhưng cho đến năm

2000, loại hình du lịch làng quê mới thực sự bước vào giai đoạn phát triển mạnh Theo Nichakan và Yamada (2003), ở Thái Lan có 3 chủ thể tham gia vào quá trình phát triển du lịch nông thôn, bao gồm: Cơ sở trang trại của hộ kinh doanh nông nghiệp, các nông trang và cá nhân khác Đặc biệt các cơ sở trang trại của hộ kinh doanh nông nghiệp tham gia vào quá trình phát triển du lịch nông thôn có phạm vi rộng lớn Theo thống kê, năm 2000, ở Thái Lan có 551cơ sở, từ năm 2001 đến 2003, có 118 cơ sở nữa tham gia vào việc cung cấp các dịch vụ cho loại hình du lịch làng quê Thái Lan cũng có cuộc vận động mỗi làng một sản phẩm với mục đích làm đa dạng và phong phú cho các sản phẩm du lịch làng quê, tạo ra sức hút đối với khách du lịch

Chủ thể cung cấp các dịch vụ cho hoạt động du lịch làng quê là chủ các nông trại, các hội người làm vườn, hội những người phụ nữ làm công tác chế biến và thu hoạch nông sản Tuy nhiên, vấn đề cung cấp dịch vụ ăn uống, lưu trú cho khách du lịch ở Thái Lan chưa phát triển, chỉ giới hạn trong phạm vi tổ chức và tạo không gian cho khách du lịch vãn cảnh, tổ chức sản xuất sản phẩm và tạo không gian tham quan, và thưởng thức các sản phẩm là nông sản tại các địa phương

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
25. Trường Cao đẳng nghề du lịch Hải Phòng, Đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch năm 2007. Tên đề tài: Xây dựng mô hình du lịch nông thôn ven biển ở Việt Nam – Ví dụ ở Hải Phòng Tài liệu từ Internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng mô hình du lịch nông thôn ven biển ở Việt Nam – Ví dụ ở Hải Phòng
Tác giả: Trường Cao đẳng nghề du lịch Hải Phòng
Nhà XB: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Năm: 2007
19. Trần Ngọc Thêm (1997), Tìm về bản sắc văn hóa Viêt Nam, NXB TPHCM Khác
20. Võ Quế (2006), Du lịch cộng đồng, NXB Khoa học và Kỹ thuật 21. Bùi Thị Hải Yến (2000), Tuyến điểm Du lịch Việt Nam, NXB Giáo dục 22. Bùi Thị Hải Yến (2006), Tài nguyên Du lịch, NXB Giáo dục Khác
23. Phát triển du lịch nông thôn ở nước ta hiện nay, Tạp chí cộng sản số 16, 17, 18 năm 2009 Khác
24. Phát triển làng nghề, giải quyết việc làm ở nông thôn, Tạp chí Thương mại, số 44, 2005, tr 5-6 Khác
33. Inoue Kazue, Nakamura Okimu, Yamazaki Mitsuhiro (1996): Mô hình Du lịch xanh ở Nhật Bản, NXB Toshibunkasha, Tokyo, page 252 Khác
34. Nichakan Tanjaruvechgul, Yamda Kosei (2003): Introductory and Current Situation of Agrotourism in Thailand – Case study of Buddhamonton City – Proceedings for the 18 th JITR Anual Conference, Japan Institute of Tourism Research, pages 305 – 308 Khác
35. Best practices in Sustainable Tourism Management innitiatives for APEC economies – APEC Working Group (TW G02/2005) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Mức độ khai thác các giá trị văn hóa cho phát triển - Phát triển du lịch làng quê vùng đồng bằng sông Hồng giáp Hà Nội góp phần thu hút khách du lịch và bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống
Bảng 2 Mức độ khai thác các giá trị văn hóa cho phát triển (Trang 61)
Bảng 3: Nhu cầu của khách du lịch nội địa đối với du lịch làng quê - Phát triển du lịch làng quê vùng đồng bằng sông Hồng giáp Hà Nội góp phần thu hút khách du lịch và bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống
Bảng 3 Nhu cầu của khách du lịch nội địa đối với du lịch làng quê (Trang 62)
Bảng 2: Mức độ khai thác các giá trị văn hóa cho phát triển - Phát triển du lịch làng quê vùng đồng bằng sông Hồng giáp Hà Nội góp phần thu hút khách du lịch và bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống
Bảng 2 Mức độ khai thác các giá trị văn hóa cho phát triển (Trang 113)
Hình 2: Một góc làng cổ kính, đơn sơ - Phát triển du lịch làng quê vùng đồng bằng sông Hồng giáp Hà Nội góp phần thu hút khách du lịch và bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống
Hình 2 Một góc làng cổ kính, đơn sơ (Trang 114)
Hình 1: Cổng vào làng - Phát triển du lịch làng quê vùng đồng bằng sông Hồng giáp Hà Nội góp phần thu hút khách du lịch và bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống
Hình 1 Cổng vào làng (Trang 114)
Hình 4: Cổng vào di tích đền Bà Chúa Mía - Phát triển du lịch làng quê vùng đồng bằng sông Hồng giáp Hà Nội góp phần thu hút khách du lịch và bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống
Hình 4 Cổng vào di tích đền Bà Chúa Mía (Trang 115)
Hình 5: Lối vào nhà cổ - Phát triển du lịch làng quê vùng đồng bằng sông Hồng giáp Hà Nội góp phần thu hút khách du lịch và bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống
Hình 5 Lối vào nhà cổ (Trang 116)
Hình 8: Tường hoa - Phát triển du lịch làng quê vùng đồng bằng sông Hồng giáp Hà Nội góp phần thu hút khách du lịch và bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống
Hình 8 Tường hoa (Trang 117)
Hình 4: Một ngôi nhà cổ kiểu Pháp - Phát triển du lịch làng quê vùng đồng bằng sông Hồng giáp Hà Nội góp phần thu hút khách du lịch và bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống
Hình 4 Một ngôi nhà cổ kiểu Pháp (Trang 127)
Hình 3: Ngõ hẹp nhất ở Bát Tràng - Phát triển du lịch làng quê vùng đồng bằng sông Hồng giáp Hà Nội góp phần thu hút khách du lịch và bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống
Hình 3 Ngõ hẹp nhất ở Bát Tràng (Trang 127)
Hình 5: Đình làng Bát Tràng - Phát triển du lịch làng quê vùng đồng bằng sông Hồng giáp Hà Nội góp phần thu hút khách du lịch và bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống
Hình 5 Đình làng Bát Tràng (Trang 128)
Hình 6: Đền thánh mẫu - Phát triển du lịch làng quê vùng đồng bằng sông Hồng giáp Hà Nội góp phần thu hút khách du lịch và bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống
Hình 6 Đền thánh mẫu (Trang 128)
Hình 7: Sân chơi gốm - Phát triển du lịch làng quê vùng đồng bằng sông Hồng giáp Hà Nội góp phần thu hút khách du lịch và bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống
Hình 7 Sân chơi gốm (Trang 129)
Hình 9: Nghệ nhân Bát Tràng - Phát triển du lịch làng quê vùng đồng bằng sông Hồng giáp Hà Nội góp phần thu hút khách du lịch và bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống
Hình 9 Nghệ nhân Bát Tràng (Trang 130)
Hình 10: Khách xem hàng - Phát triển du lịch làng quê vùng đồng bằng sông Hồng giáp Hà Nội góp phần thu hút khách du lịch và bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống
Hình 10 Khách xem hàng (Trang 130)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w