1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý hoạt động tại điểm đến du lịch Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội

110 894 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 2,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu * Mục tiêu nghiên cứu Đề tài: "Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý hoạt động tại điểm đến du lịch Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội” hướng đến mục

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BÙI THỊ THANH HUYỀN

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG

TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TẠI ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH

HƯƠNG SƠN, MỸ ĐỨC, HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ DU LỊCH

HÀ NỘI – 2011

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

BÙI THỊ THANH HUYỀN

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG

TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TẠI ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH

HƯƠNG SƠN, MỸ ĐỨC, HÀ NỘI

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5

MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 7

3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

5 Phương pháp nghiên cứu 8

6 Bố cục của luận văn: 9

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH 10

1.1 Điểm đến du lịch 10

1.1.1 Khái niệm về điểm đến du lịch 10

1.1.2 Vị trí và vai trò của điểm đến du lịch trong phát triển du lịch 13

1.1.3 Phân loại các điểm đến du lịch: 17

1.2 Những quan điểm và thực trạng khai thác điểm đến du lịch tại Việt Nam 22

1.2.1 Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch ở Việt Nam để thành điểm đến du lịch 22

1.2.2 Những quan điểm về đầu tư phát triển điểm du lịch 27

1.2.3 Về khung chính sách đầu tư phát triển điểm du lịch 29

1.3 Quản lý nhà nước về du lịch 30

1.3.1 Nội dung quản lý nhà nước về du lịch 30

1.3.2 Trách nhiệm quản lý nhà nước về du lịch 31

1.3.3 Quản lý điểm du lịch 31

1 4 Kinh nghiệm quản lý điểm đến du lịch của một số nước 32

Trang 4

1.4.1 Kinh nghiệm xây dựng và quản lý điểm đến du lịch của Bungari 32

1.4.2 Kinh nghiệm xây dựng và quản lý điểm đến du lịch của Indonexia 34

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TẠI ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH HƯƠNG SƠN - MỸ ĐỨC - HÀ NỘI 37

2.1 Khái quát về sự hình thành và phát triển điểm đến du lịch Hương Sơn 37

2.1.1.Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch 37

2.1.2.Các điều kiện để phát triển các loại hình du lịch dựa trên cơ sở tài nguyên du lịch 39

2.1.3 Thực trạng cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật tại điểm đến du lịch Hương Sơn 42

2 2 Công tác quy hoạch tại điểm đến du lịch Hương Sơn 48

2.2.1.Định hướng không gian quy hoạch: 49

2.2.2.Quy hoạch sử dụng đất: 49

2.2.3.Tổ chức thực hiện quy hoạch 49

2.3 Công tác quản lý hoạt động du lịch tại điểm đến du lịch Hương Sơn 50

2.3.1.Quan điểm, của chính quyền địa phương đối với sự phát triển du lịch Hương Sơn: 50

2 3.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý hoạt động du lịch tại điểm đến du lịch Hương Sơn 51

2.3.3 Thực trạng quản lý hoạt động phục vụ du lịch tại điểm đến du lịch Hương Sơn 55

2 3.4 Thực trạng quản lý các loại hình dịch vụ 63

2.3.5 Công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và nâng cao nhận thức cộng đồng 67

2.3.6 Công tác tuyên truyền quảng bá 68

2.3.7 Công tác quản lý tài nguyên môi trường tại điểm đến du lịch Hương Sơn. 69

2.3.8.Quản lý về trật tự an ninh xã hội 71

Trang 5

2.4.1 Đánh giá chung về hiện trạng hoạt động kinh doanh và quản lý của điểm

đến du lịch Hương Sơn 72

2.4.2 Nguyên nhân ảnh hưởng đến hoạt đông kinh doanh và quản lý tại điểm đến du lịch Hương Sơn: 73

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI HƯƠNG SƠN 75

3.1 Định hướng chiến lược phát triển du lịch Hà Nội đến năm 2020 75

3.1.1 Mục tiêu phát triển: 75

3.1.2 Định hướng phát triển: 75

3.2 Những quan điểm chủ yếu về phát triển du lịch Hương Sơn 77

3.2.1 Phát triển du lịch bền vững: 77

3.2.3 Phát triển du lịch với đảm bảo an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội: 78

3.2.4 Đẩy mạnh du lịch trong nước, mở rộng du lịch quốc tế: 78

3.3 Định hướng phát triển du lịch tại Hương Sơn 78

3.3.1 Về định hướng phát triển tổng quát: 78

3.3.2 Về định hướng phát triển các loại hình du lịch, sản phẩm du lịch 79

3.4 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý hoạt động du lịch tại Hương Sơn 80

3.4.1 Hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý nhà nước vể du lịch tại điểm đến du lịch Hương Sơn 80

3.4.2 Những lĩnh vực đầu tư trong điểm đến du lịch 89

3.4.3 Tuyên truyền quảng bá nâng cao hình ảnh của điểm đến du lịch Hương Sơn đối với khách du lịch trong và ngoài nước 94

3.4.4 Nhóm các giải pháp khác : 95

3.5 Kiến nghị: 102

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

2.1: Thống kê CSLT tại ĐĐDL Hương Sơn tính đến T12/2010 46 2.2 Thống kê cửa hàng – dịch vụ ăn uống tại ĐĐDL Hương Sơn tính đến T12/2010 47 2.3: Thống kê số lượng khách du lịch đến Hương Sơn từ năm 2006 –T12/2010 56 2.4: Doanh thu xã hội từ du lịch ở ĐĐDL Hương Sơn từ năm 2006 - T12/2010 57 2.5: Doanh thu vé thắng cảnh ở ĐĐDL Hương Sơn từ năm 2006 - T12/2010 58 2.6: Doanh thu vận chuyển ở ĐĐDL Hương Sơn từ năm 2006 - T12/2010 58 2.7: Cơ cấu vé thắng cảnh và vé đò ở ĐĐDL Hương Sơn

áp dụng từ năm 2009 64 2.8: Thuế thu từ hoạt động vận chuyển ở ĐĐDL Hương Sơn

từ năm 2006 - T12/2010 65 2.9: Thống kê số lượng vé cáp treo bán qua các năm

từ 2006 – T12/2010 66

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BQL Ban Quản lý CSHT Cơ sở hạ tầng CSLT Cơ sở lưu trú

ĐĐDL Điểm đến du lịch

KDTSQ Khu dự trữ sinh quyển

NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Sở VHTT&DL Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch

TNHH Trách nhiệm hữu hạn UBND Ủy Ban Nhân Dân

UNESCO Tổ chức, Giáo dục Khoa học và Văn hóa của Liên

Hợp Quốc

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Để phát triển du lịch, các nước thường tập trung xây dựng những điểm đến du lịch có danh tiếng và thương hiệu trên thị trường du lịch khu vực và quốc tế Điểm đến du lịch thường dựa vào các tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn, đồng thời dựa vào trí tuệ và sức sáng tạo của những người làm du lịch Không phải ngẫu nhiên các điểm đến du lịch như: Pattaya, Phuket (Thái Lan), Bali (Inđônêsia), Vạn Lý Trường Thành (Trung Quốc), hàng năm thu hút hàng chục triệu lượt khách du lịch đến tham quan du lịch

Những nước như Singapore, những vùng như Las Vegas (Mỹ) không có nhiều tài nguyên du lịch nhưng họ đã xây dựng những điểm đến du lịch nổi tiếng không chỉ trong khu vực mà cả trên thế giới

Việt Nam tự hào giầu tiềm năng du lịch, nhưng các điểm đến du lịch vẫn nghèo nàn, thô sơ và còn nhiều vấn đề bất cập

Điểm đến du lịch Hương Sơn thuộc huyện Mỹ Đức - Hà Nội cách Trung tâm Hà Nội khoảng 50km, thuộc địa bàn 4 xã Hương Sơn, An Tiến, An Phú, Hùng Tiến với tổng diện tích tự nhiên là 8.328 ha Từ lâu, Hương Sơn đã được du khách biết đến với lễ hội Chùa Hương, một trong những lễ hội truyền thống lớn nhất Việt Nam cùng hệ thống các công trình kiến trúc phật giáo cổ kết hợp hài hoà với những hang động, thung suối đã tạo nên một khu danh lam thắng cảnh nổi tiếng của Việt Nam có sức hấp dẫn đặc biệt đối với du khách Chính vì lý do đó, Hương Sơn được coi là khu du lịch chuyên đề quốc gia trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam

Trong những năm qua, hoạt động kinh doanh du lịch ở Hương Sơn phát triển rất mạnh, doanh thu xã hội đạt hàng chục tỷ đồng, đời sống nhân dân có những chuyển biến tích cực Các hoạt động du lịch đã trở thành động lực quan

Trang 9

trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội ở Hương Sơn nói riêng và huyện

Mỹ Đức nói chung

Tuy vậy, sự phát triển du lịch ở Hương Sơn đang dần bộc lộ ra những bất cập ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phát triển bền vững của Hương Sơn thể hiện qua một loạt các hiện tượng tiêu cực như việc xây dựng trái phép, vệ sinh môi trường, hàng quán phát triển tràn lan không theo quy hoạch, hoạt động thuyền đò thiếu tổ chức tất cả đang ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của Hương Sơn và cho thấy cần có những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý hoạt động tại điểm đến du lịch Hương Sơn

Chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài "Một số giải pháp nhằm hoàn

thiện công tác quản lý hoạt động tại điểm đến du lịch Hương Sơn, Mỹ Đức,

Hà Nội”

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài: "Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý hoạt động

tại điểm đến du lịch Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội” hướng đến mục tiêu

nghiên cứu sau:

- Thông qua việc nghiên cứu về công tác quản lý điểm đến du lịch, tác giả đưa ra những đề xuất và giải pháp cho công tác quản lý điểm đến du lịch Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội góp phần tạo dựng điểm đến du lịch Hương

Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội phát triển tương xứng với tiềm năng

* Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất: Hệ thống hóa những vấn đề về lý luận và thực tiễn trong công

tác quản lý du lịch làm cơ sở đưa ra các giải pháp trong công tác quản lý điểm đến du lịch Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội

Thứ hai: Làm rõ tiềm năng, thực trạng khai thác du lịch, khách du lịch

đến với Hương Sơn và công tác quản lý tại đây

Trang 10

Thứ ba: Đưa ra định hướng và hướng giải pháp góp phần hoàn thiện

công tác quản lý điểm đến du lịch Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội

3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu

- Về mặt lý luận: Đề tài góp phần phát triển lý thuyết trong lĩnh vực quản

lý nhà nước cũng như tổ chức hoạt động kinh doanh

- Về mặt thực tiễn: Đề xuất những giải pháp phát triển điểm đến du lịch

Hương Sơn có những định hướng trong quá trình quản lý xây dựng và phát

triển điểm đến của mình

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu về quá trình quản lý điểm đến du lịch

Hương Sơn

* Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Công tác quản lý hoạt động du lịch và các giải

pháp góp phần hoàn thiện công tác quản lý điểm đến du lịch Hương Sơn, Mỹ

Đức, Hà Nội

- Phạm vi về không gian: gồm toàn bộ các điểm tham quan du lịch

trong điểm đến du lịch trênđịa bàn 4 xã Hương Sơn, An Tiến, An Phú, Hùng

Tiến với tổng diện tích tự nhiên là 8.328 ha

- Phạm vi về thời gian: Số liệu thống kê và các vấn đề liên quan được

sử dụng từ năm 2006 - 2010 Giải pháp đến năm 2020

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp

- Phương pháp khảo sát điều tra thực tế

- Phương pháp chuyên gia

- Phương pháp xã hội học thông qua phỏng vấn

Trang 11

6 Bố cục của luận văn:

Chương 1: Cơ sở lý luận về điểm đến du lịch và công tác quản lý điểm đến du lịch

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động tại điểm đến du lịch Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội

Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý hoạt động du lịch tại Hương Sơn

Trang 12

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH

VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH

1.1 Điểm đến du lịch

1.1.1 Khái niệm về điểm đến du lịch

1.1.1.1 Quan niệm về điểm đến du lịch (Tourism Destination)

Theo Luật Du lịch « Điểm đến du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch »

Tài nguyên du lịch theo nghĩa thực tế: “tất cả các nhân tố có thể kích

thích được động cơ du lịch của con người được ngành du lịch tận dụng kinh doanh để sinh ra lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội đều gọi là tài nguyên du lịch” Hoặc “Bất kỳ nhân tố thiên nhiên, nhân văn và xã hội có thể thu hút được khách du lịch đều gọi là tài nguyên du lịch” Điều này có nghĩa rằng

không chỉ những các tài nguyên tự nhiên, các tài nguyên nhân văn mà cả các

sự kiện xã hội như: kinh tế, chính trị, văn hoá, thể thao được tổ chức có khả năng thu hút khách du lịch được gọi là tài nguyên du lịch Mặt khác, không phải tài nguyên du lịch nào cũng được khai thác và trở thành điểm du lịch Điều này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: Cơ sở hạ tầng kỹ thuật, cơ sở dịch vụ phục vụ khách, thời gian khai thác điểm du lịch (thường xuyên, theo thời vụ, ngắn ngày ), số lượng khách đến tham quan du lịch trong đó có khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa có tính hấp dẫn và có sức thu hút khách du lịch càng cao thì lượng khách du lịch trong nước và quốc tế đến càng lớn Dịch vụ và hàng hoá phục vụ khách tiêu thụ càng nhiều về số lượng,

đa dạng về cơ cấu và chủng loại, chất lượng cao thì doanh thu càng lớn và hiệu quả kinh tế - xã hội càng cao

Điểm đến du lịch đóng vai trò quan trọng và quyết định đến sự phát triển

du lịch của một đất nước, một địa phương Điểm đến du lịch là nơi tạo ra sức thu hút đối với khách du lịch ở trong nước và ở nước ngoài Điểm đến du lịch

Trang 13

có tính hấp dẫn và có sức thu hút khách du lịch càng cao thì lượng khách du lịch trong nước và quốc tế đến càng lớn Dịch vụ và hàng hoá phục vụ khách tiêu thụ càng nhiều về số lượng, đa dạng về cơ cấu và chủng loại, chất lượng cao thì doanh thu càng lớn và hiệu quả kinh tế - xã hội càng cao

Điểm đến du lịch là nơi đón tiếp và phục vụ khách du lịch trong thời gian họ nghỉ ngơi và tham quan du lịch tại điểm đến du lịch này Nơi mở rộng được các hoạt động dịch vụ để thoả mãn các nhu cầu của khách du lịch, thực hiện "xuất khẩu vô hình" các tài nguyên du lịch và "xuất khẩu tại chỗ" dịch vụ

và hàng hoá của địa phương với mục tiêu thu được nhiều ngoại tệ và tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người dân địa phương

Trong thực tế phát triển du lịch, người ta thường chia điểm đến du lịch thành những cấp độ sau:

1.1.1.2 Điểm đến du lịch mang tính chất khu vực

Trên thị trường du lịch thế giới, cạnh tranh nguồn khách trở nên rất gay gắt, các nước trong từng khu vực khác nhau trên thế giới đã hợp tác với nhau

để cạnh tranh các nguồn khách du lịch thông qua tuyên truyền, quảng cáo, xúc tiến du lịch để thu hút khách đến khu vực này Ví dụ: Ngành du lịch các nước ASEAN thường xuyên hợp tác tổ chức các sự kiện để quảng cáo ASEAN như một điểm đến du lịch hấp dẫn, trung tâm du lịch hội nghị và du lịch chữa bệnh của thế giới

1.1.1.3 Điểm đến du lịch mang tính phạm vi quốc gia

Các nước trong khu vực vừa hợp tác với nhau để xây dựng hình ảnh điểm đến của khu vực, nhưng cũng vừa cạnh tranh và thu hút nguồn khách đến với đất nước mình Mỗi nước đẩy mạnh tuyên truyền, quảng cáo và xúc tiến du lịch để xây dựng hình ảnh của đất nước trong tâm trí của mọi người trên thế giới như một điểm đến du lịch "an toàn và thân thiện" Để thu hút được nguồn khách quốc tế, ngoài việc tuyên truyền, quảng cáo và xúc tiến du

Trang 14

lịch, mỗi nước phải tiến hành hoàn hiện các quy định pháp luật một mặt tạo điều kiện thuận lợi và dễ dàng cho khách đến du lịch, mặt khác tạo môi trường kinhh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp du lịch kinh doanh có hiệu quả Bên cạnh đó, các nước phải tiến hành xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho sự phát triển du lịch như: Sân bay, bến cảng, nhà ga, đường

xá, điện, nước, thông tin liên lạc v.v,

1.1.1.4 Điểm đến du lịch mang tính địa phương

Nhiều điểm đến du lịch không chỉ mang tính địa phương mà là thương hiệu du lịch của quốc gia Nói đến Thái Lan người ta thường hình dung đến điểm đến Pattaya, Phuket, nói đến Indonexia người ta nghĩ đến điểm đến du lịch Bali, hoặc nói đến du lịch nước Mỹ người ta mong muốn đến điểm đến

du lịch Las Vegas v.v Các điểm đến này hàng năm thu hút hàng triệu lượt khách quốc tế Ví dụ mỗi năm Las Vegas thu hút khoảng 40 triệu lượt khách

du lịch, Pattaya và Bali đón tiếp và phục vụ từ 4-5 triệu lượt khách quốc tế

1.1.1.5 Hậu cần phục vụ khách du lịch tại một điểm đến du lịch

Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), “có khoảng 70 dịch vụ trực tiếp liên quan đến việc cung cấp dịch vụ du lịch, ngoài ra có khoảng 70 hoạt động khác có liên quan đến việc cung cấp dịch vụ du lịch” tại các điểm đến

du lịch Theo sự phân loại của Tổ chức Du lịch thế giới những sản phẩm đặc

trưng và các hoạt động đặc trưng của ngành du lịch bao gồm:

- Cơ sở hạ tầng đón tiếp khách: đó là hệ thống đường bộ, sân bay, bến cảng, ga xe lửa, bến đỗ xe ôtô Hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống cung cấp điện năng

- Các loại phương tiện vận chuyển khách du lịch: ô tô các loại, máy bay, tầu, thuyền, xe lửa hoặc xe chạy trên đường ray, các loại vận chuyển khách thô sơ khác

Trang 15

- Các loại cơ sở lưu trú: khách sạn các loại, motel, bungalows, biệt thự, nhà khách, nhà nghỉ, v.v

- Các loại cơ sở phục vụ ăn: nhà hàng các loại Âu, á,

- Các loại cơ sở phục vụ uống: Bar, Cafeteria, pub, club,

- Các loại cơ sở tham quan: các di tích lịch sử, các viện bảo tàng, các công viên chuyên đề (động vật, thực vật, hải sản, thuỷ sản )

- Các loại cơ sở phục vụ giải trí: vũ trường, casino, nhà biểu diễn ca nhạc, các loại hình nghệ thuật, rạp chiếu phim, rạp xiếc

- Các loại cơ sở phục vụ thể thao: sân tenis, sân cầu lông, sân tập golf, sân bóng đá, bóng chuyền, bóng rổ , bể bơi Các cơ sở cho thuê phương tiện thể thao: thuyền, xe đạp, mô tô, ôtô

- Các loại cơ sở phục hồi sức khoẻ và chữa bệnh: phòng tắm nước khoáng, tắm bùn, masagge, Spa, phòng tập thể thao v.v

- Các cơ sở bán hàng lưu niệm và các loại hàng hoá khác cho khách

Trang 16

Quyết định hình thức chuyến đi, loại hình du lịch: Vị trí điểm du lịch trong một quốc gia cho chúng ta tạo ra loại hình, hình thức du lịch nội địa, như chúng ta là người Việt, các vị trí điểm du lịch nằm trong phạm vi quốc gia Việt Nam (như Hà Nội, Hạ Long, Sài Gòn, Phú Quốc ) loại hình này là

du lịch nội địa Vị trí điểm du lịch gần nơi suất phát cho phép người đi du lịch

sử dụng ngắn ngày hay dài ngày thì tạo ra cho chuyến đi là loại hình du lịch ngắn ngày hay dài ngày (Như chúng ta suất phát từ Hà Nội đi Hạ Long quãng đường ngắn, cho phép dịch chuyển thời gian từ nơi xuất phát đến vị trí điểm đến ngắn hay chúng ta thực hiện hành trình xuyên việt dọc theo chiều dài của Việt Nam thực hiện trong một hành trình dài, mất nhiều thời gian)

Vị trí điểm đến du lịch nằm ngoài quốc gia của điểm xuất phát, cho chúng ta loại hình, hình thức du lịch là đi du lịchquốc tế (như các điểm đến là Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia, Singapore )

Vị trí điểm đến du lịch tạo ra mục đích của chuyến đi Vị trí điểm đến du lịch là du lịch biển thì du khách thực hiện hành trình đó là du lịch biển Ví dụ chúng ta đến với biển Sầm Sơn, Của Lò mục đích của chuyến đi thuần túy

là đi tham quan du lịch biển, đi vào mùa hè Chuyến đi thưởng thức khí hậu cảnh quan đặc trưng như đi Sa Pa, Đà Lạt Chuyến đi đến các điểm đặc trưng như các đấu trường thể thao thường dành cho các chương trình du lịch đặc trưng kết hợp với du lịch thi đấu thể thao như các đại hội thể thao lớn tầm

cỡ quốc gia, quốc tế

Vị trí điểm đến là các suối nước khoáng nóng dùng để chữa bệnh thì du khách sẽ có chuyến đi du lịch với mục đích là chữa bệnh nghỉ dưỡng như: suối khoáng nóng Kim Bôi, Kênh Gà

Vị trí điểm đến là các di tích lịch sử, các công trình văn hóa tài nguyên nhân văn cho ta thấy mục đích chuyến đi là tham quan tài nguyên du lịch nhân văn Bên cạnh đó khách du lịch tập chung vào nghiên cứu tài nguyên tại điểm đến, nghiên cứu và học tập

Trang 17

Vị trí của điểm tham quan kết hợp cùng với hội nghị hội thảo, chúng ta gọi mục đích chuyến đi ấy là sản phẩm du lịch hội nghị, hội thảo hay còn gọi

là du lịch Mice

Sản phẩm du lịch mang tên gắn liền với vị trí của điểm đến du lịch đó: khách du lịch đến với biển mang tên du lịch biển (biển Cửa Lò, biển Phan Thiết ) ; khách du lịch đến với Tây Bắc thường là du lịch văn hóa bản địa, du lịch thăm lại chiến trường xưa như : khách đến với Điện Biên Phủ, chiến trường Quảng Trị, căn cứ địa cách mạng hay du lịch ra nước ngoài như đến Thái Lan, Trung Quốc, các nước Châu Âu

Như vậy, vị trí điểm đến du lịch có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển du lịch không chỉ của Việt Nam mà còn của tất cả các quốc gia phát triển du lịch và lấy du lịch là ngành kinh tế dịch vụ chủ đạo chiến lược

1.1.2.2.Vai trò của điểm đến du lịch:

Điểm đến du lịch đóng vai trò rất lớn trong việc tạo ra sản phẩm du lịch;

tạo ra các giá trị khai thác du lịch, dịch chuyển kinh tế, vật chất, tinh thần

và nguồn lao động cho nơi có điểm đến; tạo ra giá trị hưởng thụ và ý nghĩa cho du khách sử dụng chuyến đi

+ Sản phẩm bổ sung: điểm đến du lịch tạo ra sản phẩm bổ sung trong chuyến đi, du khách có thể kết hợp tham quan ngay trong chuyến đi, những điểm đó không đóng vai trò quan trọng, mục đích chủ đạo trong chuyến đi

Trang 18

cũng là biển đi du lịch biển Cửa Lò, du khách kết hợp tham quan di tích và danh thắng quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh - điểm đến này đóng vai trò là sản phẩm phụ bổ sung sản phẩm chính du lịch bãi biển Cửa Lò)

+ Sản phẩm truyền thống quốc tế: Điểm đến là các quốc gia ngoài lãnh thổ Việt Nam như Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia, Singapo Nói đến du lịch Thái Lan các chương trình du lịch quốc tế truyền thống là đi Bangkoc - Pattaya; đi Trung Quốc: Bắc Kinh - Thượng Hải hay Quảng Châu - Thâm Quyến

+ Sản phẩm hỗn hợp: Điểm đến du lịch tạo nên các sản phẩm du lịch hỗn hợp (sản phẩm chính, sản phẩm phụ) làm cho chuyến đi đa dạng, du khách được hưởng thụ các dịch vụ trong chuyến đi (hành trình du lịch xuyên Việt dọc theo chiều dài đất nước hình chữ S của Việt Nam, du khách được thưởng thức hỗn hợp các sản phẩm du lịch đặc trưng của du lịch Việt Nam)

+ Sản phẩm du lịch tự nhiên, nhân văn và phi vật thể: Điểm đến du lịch được khai thác từ các tài nguyên tự nhiên thì cho chúng ta các sản phẩm du lịch tự nhiên như các bãi biển, các hồ nước, các vườn quốc gia, các cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn

Điểm đến là các tài nguyên du lịch nhân văn như di tích lịch sử văn hóa, đình, đền, miếu mạo hay các tác phẩm văn hoc nghệ thuật, các công trình kiến trúc độc đáo được khai thác vào mục đích tham quan du lịch Người ta gọi là sản phẩm du lịch nhân văn

Điểm đến là các tài nguyên du lịch phi vật thể, du khách được thưởng thức các sản phẩm du lịch phi vật thể mà chỉ ở đó du khách mới được thụ hưởng sản phẩm du lịch đó (chúng ta đến Cố đô Huế - du khách tham quan và thưởng thức Di sản văn hóa thế giới phi vật thể Nhã nhạc Cung Đình Huế, Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây nguyên, thưởng thức làn điệu quan Họ Bắc Ninh hay các nét đẹp văn hóa dân tộc ít người vùng Tây Bắc )

Trang 19

b Tạo ra các giá trị khai thác du lịch, dịch chuyển kinh tế, vật chất, tinh thần và nguồn lao động cho nơi có điểm đến:

Mỗi một điểm đến được đưa vào khai thác du lịch, nó có ý nghĩa rất quan trọng cho điểm du lịch đó Nó mang lại các giá trị kinh tế dịch vụ du lịch khác từ hoạt đông du lịch, nó làm cho kinh tế khu vực đó thay đổi; vật chất và tinh thần của người dân tại điểm du lịch cũng thay đổi phát triển, lao động tại vùng có nhiều công ăn việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động, tạo nhiều ngành nghề cho lao động tại địa phương, nguời dân được hưởng lợi từ việc kinh doanh khai thác tài nguyên làm du lịch đó

c.Tạo ra giá trị hưởng thụ và ý nghĩa cho du khách sử dụng chuyến đi:

Du khách đến các điểm tham quan được thưởng thức khám phá tìm về điểm du lịch, hiểu về nó, mở rộng cảm quan của minh về tài nguyên, con người và vốn văn hóa hay thưởng thức ẩm thực đặc trưng tại điểm đến, mang lại một ý nghĩa quan trọng cho du khách khi đến đó tham quan (du khách đến

Cố Đô Huế - ngoài các giá tri lịch sử kiến trúc, ý nghĩa lịch sử của một Cố Đô xưa, quý khách còn được thưởng thức các loại ẩm thực Huế; du khách tham quan miệt vườn sông nước Cửu Long, ngoài khám phá ẩm thực

Bên cạnh những giá trị tích cực của điểm đến du lịch mang lại cho chính nơi khai thác du lịch thì nó cũng tạo ra các tác động tiêu cực nên điểm đến du lịch nếu như các địa phương nơi có điểm đến du lịch không có chiến lược phát triển du lịch bền vững sẽ làm xã hội tại đó bị phân hóa theo chiều không tích cực, văn hóa bị phá vỡ truyền thống, môi trường bị ô nhiễm, cảnh quan bị xâm hại, tệ nan xã hội phát triển nhanh, trong quá trình phát triển đặt ra cho chúng ta nhiều thách thức, làm thế nào vừa bảo tồn vừa phát triển cho điểm đến du lịch

1.1.3 Phân loại các điểm đến du lịch:

Trang 20

Điểm đến du lịch chính là nơi cung cấp tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch dựa vào các tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn vật thể

và tài nguyên nhân văn phi vật thể, tài nguyên tổng hợp kết hợp với các yếu tố hội họp tạo nên sản phẩm du lịch hôi họp (hay gọi là sản phẩm du lịch Mice)

1.1.3.1 Các điểm đến dựa vào việc khai thác các tài nguyên du lịch tự nhiên:

Tài nguyên tự nhiên rất đa dạng và phong phú, khi chúng ta khai thác vào hoạt động du lịch thì tài nguyên này sẽ trở thành tài nguyên du lịch tự nhiện và đó chính là điểm đến của các chương trình du lịch mang đặc trưng

du lịch tự nhiên, tạo ra sản phẩm du lịch đặc thù

Theo dọc chiều dài đất nước Việt Nam là các bãi biển nổi tiếng trải dài cát trắng đã và đang được sử dụng khai thác làm sản phẩm du lịch biển tự nhiên nổi tiếng như Móng Cái, Hạ Long - Quảng Ninh; Sầm Sơn - Thanh Hóa; Cửa Lò - Nghệ An; Nha Trang - Khánh Hòa; Mũi Né hay Phú Quốc kết hợp với các tài nguyên khác tạo ra các trung tâm du lịch, các điểm đến du lịch tự nhiên nổi tiếng mang các đặc trưng của từng điểm đến đó

Điểm đến du lịch dựa vào các tài nguyên du lịch tự nhiên là các di sản thiên nhiên thế giới, các thắng cảnh tự nhiên nổi tiếng thiên nhiên ban tặng cho chúng ta Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi rất nhiều di sản thiên nhiên

và danh thắng như: Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long - là điểm đến yêu thich và đăc biệt của du khách quốc tế mỗi khi đến Việt Nam hay du khách có những chuyến tham quan thám hiểm khám phá kỳ thú, tìm hiểu nghiên cứu khoa học, thám hiểm địa mạo địa chất tại di sản thiên nhiên Phong Nha Kẻ Bàng - Quảng Bình

Bên cạnh các di sản thiên nhiên, một số các địa danh khác cũng được khai thác du lịch tạo nên điểm đến du lịch tư nhiên rất đặc trưng của từng điểm đến đó như: Sapa - Lào Cai du khách đến đây ngoài được thưởng thức điều kiện tự nhiên đặc trưng ưu đãi còn được thưởng thức tìm hiểu nét văn

Trang 21

hóa rất riêng của các dân tộc ít ngươi vùng Tây Bắc Du khách tham quan du lịch tại điểm đến Đà Lạt - Lâm Đông ngoài thưởng thức khí hâu đặc trưng của

Đà Lạt, còn được chiêm ngưỡng cảnh sắc hào hùng của núi rừng Tây Nguyên, nét đẹp văn hóa của đồng bàoTây Nguyên

Điểm đến du lịch dựa vào tài nguyên tự nhiên là các suối nước khoáng nóng như: Suối khoáng nóng Kim Bôi - Hòa Bình, Thanh Thủy - Phú Thọ, Suối khoáng Tháp Bà Ponaga - Nha Trang Du khách tham quan ngắm cảnh tắm khoáng nóng, giải trí, chữa bệnh

Điểm đến du lịch được khai thác từ các Vườn Quốc Gia: Việt Nam có nhiều vườn quốc gia nổi tiếng như: rừng Cúc Phương – tỉnh Ninh Bình, Ba

Vì - thành phố Hà Nội, Bạch Mã - tỉnh Thừa Thiên Huế Huế là điểm đến

du lịch tự nhiên nổi tiếng trong và ngoài nước cho du khách tham quan học hỏi, nghiên cứu khoa học

Nói chung tất cả các tài nguyên tự nhiên có tiềm năng du lịch được đưa vào khai thác du lịch đều là điểm đếm du lịch của khách du lịch thích cảnh quan tự nhiên và nó cũng chính là nguồn tạo ra sản phẩm du lịch tự nhiên, điểm đên du lịch tự nhiên Mỗi điểm đến tự nhiên tạo ra một sản phẩm du lịch

tự nhiên đặc trưng, lây tài nguyên đó làm sản phẩm dịch vụ du lịch chủ đạo, đóng vai trò cốt lõi tạo nên điểm nhấn cho cả chuyến đi, cho tuyến du lịch đó

1.1.3.2 Các điểm đến dựa vào việc khai thác các tài nguyên du lịch nhân văn vật thể

Việt Nam một quốc gia giàu bản sắc văn hóa, với 54 dân tộc anh em, hàng ngàn năm dưng nước và giữ nước, cái nôi của nền văn minh lúa nước, nơi hội tụ và giao thoa văn hóa Đông - Tây, Bắc - Nam Việt Nam có trong minh những giá trị nhân văn đa dạng, đậm đà giàu bản sắc văn hóa dân tôc Hàng ngàn lễ hội truyền thống, hàng ngàn các di tích lich sử vật thể đã trở thành tài nguyên du lịch nhân văn vật thể hấp dẫn du khách trong nước và

Trang 22

quốc tế như các di tích lịch sử - đền, đình, am, miếu, các trường đại học cổ kính và danh tiếng, Cố Đô - thành quách, các lễ hội truyền thống

Trải qua hàng ngàn năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, cùng quá trình xây dựng đất nước với truyền thống hàng ngàn năm văn hiến, để lại các dấu ấn văn hóa tryền thống của dân tộc Việt, mang đậm bản sắc văn hóa văn minh nông nghiệp lúa nước truyên thống Nó trở thành các tài nguyên du lịch nhân văn hấp dấn du khách, là điểm đến quan trọng của du khách mỗi khi tham quan du lịch tại Việt Nam Du khách đến đây được tham quan tìm hiểu các giá trị văn hóa, các công trình kiến trúc nghệ thuật có ý nghĩa văn hóa dân tộc như các ngôi đình làng truyền thống ( đình Đình Bảng, đình Tây Đằng ) các ngôi chùa ( chùa Trấn Quốc, chùa Bút Tháp, chùa Thiên Mụ ) các văn bia tưởng niệm, các bảo tàng nơi lưu giữ trưng bày các di vật, các di chỉ, các kỷ vật có giá trị

Trường đại học cổ kính và danh tiếng là điểm đến yêu thích của du khách tiêu biểu chúng ta phải nói đến là Văn Miếu Quốc Tử Giám – trường đại học đầu tiên của nước ta Nơi ghi dấu ấn nền văn hóa văn hiến của dân tộc, hinh ảnh Khuê Văn Các sáng ngời biểu tượng cho tri thức con người, văn hóa dân tộc Việt đậm đà bản sắc dân tộc Bên cạnh đó là nhà bia ghi dấu

ấn của công danh các bậc hiền triết của dân tộc một kho báu của văn hóa Việt Nam

Việt Nam chúng ta trải qua rất nhiều triều đại, mỗi triều đại đã xây dựng

và đánh dấu để lại những công trình cho hậu thế, các thành quách, các lăng tẩm, cố đô, phố cổ đươc Unesco công nhận là di sản thiên nhiên thế giới Tiêu biểu như Cố Đô Huế, kinh thành Thăng Long, Thánh Địa Mỹ Sơn, Phố

Cổ Hội An, Thành Nhà Hồ , Làng Cổ Đường Lâm, Phố Cổ Hà Nội Mỗi tài nguyên du lịch nhân văn đã được khai thác làm điểm đến du lịch nhân văn vật thể đặc trưng và tiêu biểu, điểm đến quan trọng của Du khách như Hành

Trang 23

trình di sản Miền Trung: Du khách đến với Cố Đô Huế, Phố Cổ Hội An, Thánh Địa Mỹ Sơn, điểm đến thăm quan làng cổ như Đường Lâm hay City phố cổ Hà Nội

1.1.3.3 Các điểm đến dựa vào việc khai thác các tài nguyên du lịch phi vật thể

Dân tộc Viêt Nam giàu bản sắc văn hóa, các làn điệu nghệ thuật của dân tộc thiểu số, nghệ thuật của người kinh, các bài hát, các tác phẩm trường ca nó đã được Unesco công nhận là di sản văn hóa phi vật thể Chính các tài nguyên này đã là sản phẩm, điểm đến để khai thác vào hoạt đông du lịch, làm điểm đến du lịch tiêu biểu ta kể đến: Nhã Nhạc Cung Đình Huế - đỉnh cao nghệ thuật âm nhạc Cung Đình triều Nguyễn, đã được cả thế giới biết đến Nó

đã thành sản phẩm du lich văn hóa phi vật thể tiêu biểu khi du khách tới thăm quan tai Huế

Nói đến văn hóa Tây Nguyên chúng ta tự hào với Không gian văn hóa Công Chiêng Tây Nguyên của các dân tộc ít người Tây Nguyên, nó được Unesco công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể thế giới Nó trở thành một một điểm đến, một sản phẩm du lịch nhân văn thu hut du khách khám khá Tây Nguyên, tìm hiểu văn hóa dân tộc ít người miền núi Tây Nguyên

Du khách đến Việt Nam còn được thưởng thức các làn điệu dân ca như Quan họ Bắc Ninh, làn điệu dân ca Cải Lương vọng cổ, Ca Trù những tài nguyên đó là điểm nhấn quan trọng của sản phẩm du lịch nhân văn mà moi khi tham quan du khách không thể không đến Nó là điểm đến trong các tua nghiên cứu, khám phá bản sắc văn hóa Việt Nam

Các điểm đến dựa vào việc khai thác tài nguyên theo chuyên đề, hội thảo, hội nghị, sự kiện ( nói chung du lịch Mice) Đây là một trong những sản phẩm du lịch độc đáo Việt Nam có thế mạnh rất lớn Nó kết hợp cùng với các sự kiện, chuyên đề hội nghị hội thảo Du khách được thưởng thức các giá

Trang 24

trị kết hợp cùng với công việc đó Như các hội nghị các nước Đông Nam Á (Asean) tại Việt Nam, ngoài hội nghị, các vị khách còn được tham quan các công trình có ý nghia gắn với mục đích chuyến đi ấy, hay hội thảo lịch sử tham quan bảo tảng của Việt Nam, hay hội nghị tại Tuần Châu - tham quan Vịnh Hạ Long - di sản thiên nhiên thế giới, các đại hội thể dục thể thao hội nghị bộ trưởng tài chính, hội nghị phật giáo thế giới tại Việt Nam Tất cả các sự kiện đó được kết hợp cùng với các điểm đến du lịch Nó đã trở thành một trong những sản phẩm du lịch đặc trưng của du lịch hiện đại và đang phát triển rất nhanh

Như vậy, mỗi một tài nguyên cho chúng ta một loại hình du lịch tương xứng, và kết hợp cùng nhau tạo nên sản phẩm du lịch đa dạng hấp dẫn du khách , điểm đến yêu thích của du khách

1.2 Những quan điểm và thực trạng khai thác điểm đến du lịch tại Việt Nam

Theo Luật Du lịch “Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn,

phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch” “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử-văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”1

1.2.1 Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch ở Việt Nam để thành điểm đến du lịch

Trong những năm qua, các ngành, các cấp chính quyền địa phương, cộng đồng dân cư và các doanh nghiệp đã tích cực khai thác các tài nguyên du lịch

để xây dựng thành các điểm du lịch đa dạng, độc đáo, đặc sắc và hấp dẫn nhằm thu hút khách du lịch

Trang 25

1.2.1.1 Khai thác các tài nguyên du lịch tự nhiên

Tài nguyên du lịch tự nhiên của nước ta vô cùng phong phú và đa dạng Với đường bờ biển dài trên 3.260 km, ven bờ biển Việt Nam có 2.773 đảo lớn, nhỏ với tổng diện tích khoảng 1.700 km2, trong đó có 24 đảo với trên 10 km2, 82 đảo có diện tích trên 1 km2 Đặc biệt có 3 đảo có diện tích trên 100 km2 đó là Phú Quốc, Cái Bầu và Cát Bà

Các tỉnh ven biển và các đảo của nước ta có nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên phong phú và đa dạng, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, bãi cát mịn và hoang sơ, nước biển trong xanh Vùng ven biển có nhiều hệ sinh thái điển hình và những giá trị sinh thái này nằm trong hệ thống 13/30 vườn quốc gia (Cát Bà, Phong Nha Kẻ Bàng v.v) và 22/60 khu bảo tồn thiên nhiên trong đó

có ba khu bảo tồn biển là Hòn Mun (Khánh Hoà), Cù Lao Chàm (Quảng Nam) và Phú Quốc (Kiên Giang) Có 17/34 khu rừng văn hoá-lịch sử, môi trường nằm ở các tỉnh ven biển và nhiều khu rừng ven biển được công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới như: rừng ngập mặn Cần Giờ (Thành phố Hồ Chí Minh), vườn quốc gia Cát Bà ( Hải Phòng), khu ven biển Đồng bằng sông Hồng (Nam Định, Thái Bình) v.v Bên cạnh những giá trị về thiên nhiên, các tỉnh ven biển ,đảo có nền văn hoá lịch sử lâu đời, giầu bản sắc dân tộc của dân tộc Kinh, Khme với những lễ hội dân gian truyền thống, người dân cởi mở và thân thiện Theo thống kê, các tỉnh ven biển, đảo có tới 915/2.509 di tích lịch

sử văn hoá được xếp hạng quốc gia, trong đó có tới 6/7 di sản thiên nhiên, văn hoá thế giới được UNESCO công nhận Có những bãi biển đã nổi tiếng trong nước từ xa xưa như : Trà Cổ, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Cửa Lò, Cửa Tùng, Lăng Cô,

Mỹ Khê, Đại Lãnh, Nha Trang, Ninh Chữ, Mũi Né, Vũng Tầu, Hà Tiên v.v Một số địa danh đã nổi tiếng trên thế giới và khu vực như : Vịnh Hạ Long hai lần được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới, và là một trong bẩy kỳ quan thiên nhiên thế giới Vịnh Nha Trang được công nhận là

Trang 26

một trong những vịnh đẹp nhất hành tinh và bãi biển Đà Nẵng được tạp chí Forber bầu chọn là một trong sáu bãi tắm quyến rũ nhất hành tinh Bên cạnh

bờ biển dài, Việt Nam còn có hệ thống đảo và quần đảo trải dài từ Quảng Ninh đến Kiên Giang Các hoạt động du lịch tại 28/64 tỉnh ven biển và các đảo phát triển mạnh mẽ phục vụ khách du lịch quốc tế và khách du lịch trong nước Số lượng khách du lịch hàng năm đến các bãi biển, các khu du lịch của các tỉnh có biển, đảo chiếm trên 60% số lượng khách du lịch trong cả nước, trong đó khách du lịch đến bằng tầu biển chiếm từ 5 đến 6,3% trong tổng số khách du lịch nước ngoài Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch vùng ven biển và đảo ngày càng phát triển, có trên 3.428 cơ sở lưu trú phục

vụ du lịch với trên 71.085.000 buồng2, chiếm 42% tổng số buồng khách sạn trong cả nước Nhiều điểm du lịch nổi tiếng ở vùng biển như : Vịnh Hạ Long, Cát Bà, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Cửa Lò, Lăng Cô, Đà Nẵng, Nha Trang, Ninh Thuận, Vũng Tầu, Phú Quốc v.v

Trên đất liền với 3/4 diện tích là rừng, núi, đồi với khí hậu trong lành phong cảnh thiên nhiên đẹp đẽ, các loại động, thực vật phong phú và đa dạng

là cơ sở để xây dựng thành các điểm du lịch nổi tiếng thu hút đông đảo khách

du lịch trong nước và khách nước ngoài như: Tam Đảo, SaPa, Rừng Cúc Phương, Đà Lạt v.v Bên cạnh đó, nước ta được UNESCO đã công nhận 2 di sản thiên nhiên thế giới gồm Vịnh Hạ Long và vườn Quốc Gia Phong Nha –

Kẻ Bàng, 8 khu dự trữ sinh quyển thế giới bao gồm (KDTSQ Rừng ngập mặn Cần Giờ; KDTSQ Vườn Quốc gia Cát Tiên; KDTSQ Quần đảo Cát Bà; KDTSQ Châu thổ sông Hồng; KDTSQ ven biển và biển đảo Kiên Giang; KDTSQ Miền tây Nghệ An; KDTSQ Mũi Cà Mau; KDTSQ Cù Lao Chàm) Nhà nước công nhận 30 vườn quốc gia và trên cả nước có tới 400 nguồn nước khoáng thiên nhiên, một số nơi có nguồn nước khoáng đã trở

Trang 27

thành những điểm du lịch nổi tiếng đối với khách du lịch trong nước và khách nước ngoài như: Kim Bôi (Hòa Bình), Tháp Bà (Nha Trang), Bình Châu (Bà Rịa-Vũng Tầu), Kênh Gà(Ninh Bình) v.v

1.2.1.2 Khai thác các tài nguyên du lịch nhân văn vật thể để trở thành các điểm tham quan hấp dẫn thu hút khách du lịch

Cả nước có trên 4 vạn di tích, trong đó có 2.873 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, Có 115 viện bảo tàng, 2.971 làng nghề truyền thống, 8.902 lễ hội và nhiều loại hình văn hoá phi vật thể có giá trị khác Đặc biệt Việt Nam đã được UNESCO công nhận Quần thể di tích Cố đô Huế; Khu di tích thánh địa Mỹ Sơn; Phố cổ Hội An; Trung tâm Hoàng Thành Thăng Long là di sản văn hóa thế giới; Bia Tiến sĩ Văn Miếu - Quốc Tử Giám được công nhận di sản tư liệu thế giới; Cao nguyên đá Đồng Văn được công nhận công viên địa chất toàn cầu

Với sự quan tâm đầu tư của Nhà nước, các địa phương, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và nhân dân, các di tích lịch sử, các công trình văn hoá, các viện bảo tàng, các điểm thuộc về tôn giáo v.v đã được duy tu, bảo dưỡng, quy hoạch, sắp xếp các điểm dịch vụ, tạo ra sức thu hút đối với khách

du lịch quốc tế và người dân trong nước đến tham quan du lịch Những điểm tham quan nổi tiếng phục vụ khách du lịch quốc tế như: Văn Miếu (Hà Nội), Huế, Hội An, Mỹ Sơn (Quảng Nam), Dinh Thống Nhất, Địa đạo Củ Chi(Thành phố Hồ Chí Minh) v.v Các điểm tham quan , vui chơi, giải trí do các doanh nghiệp đầu tư và kinh doanh như: Công viên Đầm Sen, Công viên Suối Tiên (TP Hồ Chí Minh), Công viên Nước(Hà Nội), khu du lịch Tràng

An (Ninh Bình) v.v, các viện bảo tàng như Bảo tàng Quân đội, Bảo tàng Dân tộc học( Hà Nội), v.v, đã thu hút một số lượng lớn khách du lịch quốc tế và khách du lịch trong nước đến tham quan, tìm hiểu về lịch sử truyền thống, phong tục tập quán, nếp sống, sinh hoạt của các dân tộc Việt Nam

Trang 28

1.2.1.3 Khai thác các tài nguyên du lịch phi vật thể để trở thành các điểm du lịch phục vụ khách du lịch

Văn hóa phi vật thể của Việt Nam rất phong phú và đa dạng, trong những năm vừa qua UNESCO đã công nhận Nhã nhạc cung đình Huế; Không gian Văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên; Ca Trù; Hội Gióng ở đền Phù Đổng

và đền Sóc là di sản văn hóa thế giới Nhiều nhà hát đã trở thành điểm du lịch

mà khách nước ngoài không thể bỏ qua không đến tham quan và thưởng thức nghệ thuật:

+ Các nhà hát (múa rối nước, chèo, quan họ ) phục vụ khách du lịch quốc tế giải trí

+ Các đoàn nghệ thuật biểu diễn ở nước ngoài thông qua các ngày Văn hoá Việt Nam

+ Các lễ hội truyền thống tổ chức tại các địa phương

1.2.1.4 Khai thác các nội dung văn hoá dân tộc khác đưa vào hoạt động

du lịch cụ thể để phục vụ khách du lịch:

+ Các làng nghề truyền thống được khôi phục nhằm sản xuất ra các mặt hàng thủ công mỹ nghệ phục vụ du lịch như: sản xuất các hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống và các bản sao nghệ thuật để bán cho khách du lịch làm quà lưu niệm Những làng này đã trở thành điểm tham quan du lịch hấp dẫn cho khách du lịch

+ Kiến trúc, trang thiết bị nội thất, dụng cụ phục vụ trong các khách sạn, nhà hàng mang tính bản sắc văn hoá dân tộc Các nhà hàng đã chế biến các món ăn, đồ uống mang bản sắc văn hoá dân tộc phục vụ khách du lịch Đây

là những điểm tham quan du lịch hấp dẫn không chỉ đối với khách du lịch trong nước và khách du lịch nước ngoài

Việc khai thác các tài nguyên du lịch ở nước ta để trở thành các điểm đến du lịch còn bị hạn chế cả về mặt quy mô lẫn về các loại dịch vụ và hàng

Trang 29

hoá cung ứng cho khách cũng như về bảo vệ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Chính vì vậy mà sức thu hút khách chưa cao và hiệu quả kinh doanh thấp, chưa tạo được thương hiệu và hình ảnh của điểm đến trên thị trường du lịch trong nước cũng như quốc tế

1.2.2 Những quan điểm về đầu tư phát triển điểm du lịch

Điểm du lịch nằm trên một vùng lãnh thổ nhất định, tại đây có cộng đồng dân cư sinh sống qua rất nhiều năm tháng trong lịch sử và tạo nên tài nguyên du lịch nhân văn phong phú và đa dạng (di tích lịch sử, công trình văn hoá, các truyền thống lịch sử văn hoá, các phong tục tập quán, nếp sống, các

lễ hội, các loại hình nghệ thuật truyền thống, nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống và cả những vấn đề về tâm linh ) Cộng đồng dân cư tại đây có lễ giáo, quy ước về dòng họ, có tình nghĩa xóm làng, có lệ làng và hương ước Nếu phát huy được các nhân tố tích cực này sẽ góp phần quan trọng vào việc bảo

vệ môi trường xã hội tại điểm du lịch Bên cạnh đó, thiên nhiên đã ban tặng cho cộng đồng dân cư tại đây các tài nguyên du lịch tự nhiên (phong cảnh, khí hậu, đất đai, sông, hồ, đồi núi, nguồn nước khoáng, bãi biển, đồng ruộng, nguồn thực vật, động vật v.v) Nguồn tài nguyên này đã từng nuôi sống bao thế hệ từ xa xưa đến ngày nay và nó cũng là tài nguyên du lịch cần được khai thác để phục vụ khách du lịch từ thập phương Do đó, để gìn giữ môi trường sinh thái tự nhiên cho phát triển du lịch đòi hỏi phải đảm bảo được đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng dân cư tại đây ngày càng tốt hơn

Để quản lý cộng đồng dân cư theo phép nước, tại đây có các cấp chính quyền từ thôn, xã đến huyện và tỉnh Các cấp chính quyền địa phương có nhiệm vụ chăm lo đời sống tinh thần và vật chất cho cộng đồng dân cư, đảm bảo cho địa phương phát triển toàn diện trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội Vai trò của chính quyền địa phương rất lớn trong việc bảo vệ môi trường(cả tự nhiên và xã hội) tại các điểm du lịch Thông qua các cơ chế,

Trang 30

chính sách và các quy định của pháp luật, chính quyền địa phương vận động, thuyết phục cộng đồng dân cư bảo vệ môi trường và nhắc nhở khách du lịch thực hiện việc bảo vệ môi trường tại các điểm du lịch để phát triển bền vững cho các đời sau

Điểm du lịch có sức thu hút lớn đối với khách du lịch trong nước và nước ngoài, đông đảo khách đến tham quan và họ có nhu cầu lớn đến các loại dịch vụ Đẫ xuất hiện các cơ sở kinh doanh tại các điểm du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu của khách Các cơ sở kinh doanh này được chia làm hai loại:

Loại thứ nhất đưa khách đến tham quan(đó là các doanh nghiệp lữ hành, các

doanh nghiệp vận chuyển khách) Loại thứ hai, đó là các cơ sở kinh doanh

bán các dịch vụ và hàng hoá cho khách du lịch tại điểm du lịch Các cơ sở kinh doanh loại này rất đa dạng không chỉ về mặt hình thức pháp lý( doanh nghiệp, hộ buôn bán nhỏ v.v), cả về mặt các mặt hàng hoá và dịch vụ như:( lưu trú, ăn uống, hướng dẫn tham quan, vận chuyển trong điểm du lịch, bán hàng lưu niệm, chụp ảnh lưu niệm,giải trí thông qua các trò chơi dân gian v.v) Để đảm bảo vấn đề bảo vệ môi trường tại các điểm du lịch, điều quan trọng là các cơ sở kinh doanh tại chỗ phải nhận thức được vấn đề này liên quan đến lợi ích kinh doanh lâu dài của họ và tự họ phải có ý thức về bảo

vệ môi trường từ khâu đầu tư kinh doanh cho đến quá trình kinh doanh Đối với loại thứ nhất, có trách nhiệm phổ biến hướng dẫn cho khách du lịch về bảo vệ môi trường tại điểm du lịch sẽ đến tham quan

Để đầu tư phát triển điểm du lịch không thể thiếu vai trò của nhà nước trong việc hoạch định các chính sách, xây dựng các cơ chế, chính sách và luật pháp nhằm đảm bảo cho các điểm du lịch phát triển bền vững Bên cạnh đó,

để phát triển các điểm du lịch đòi hỏi phải có lượng vốn đầu tư lớn để đầu tư vào cơ sở hạ tầng, đầu tư vào xúc tiến, quảng cáo điểm đến, đầu tư vào việc đào tạo nguồn nhân lực v.v, những vấn đề này phải do nhà nước đầu tư

Trang 31

Chính vì vậy, những quan điểm đầu tư cơ bản để phát triển các điểm du lịch đó là:

Thứ nhất: Các chủ thể tham gia vào việc phát triển điểm du lịch phải

tham gia đầu tư vào điểm này với mục tiêu phát triển bền vững

Thứ hai: Nhà nước phải có những cơ chế, chính sách và những kế

hoạch phát triển các điểm du lịch một cách đồng bộ nhằm khuyến khích mọi chủ thể tham gia

Thứ ba: Phải có cơ chế phân công, phân trách nhiệm rõ ràng giữa các

chủ thể tham gia vào việc đầu tư, kinh doanh và phát triển các điểm du lịch

Thứ tư: Phải có cơ chế phân chia lợi ích hài hoà giữa các chủ thể đầu tư

và kinh doanh tại các điểm du lịch( kể cả cộng đồng dân cư địa phương)

1.2.3 Về khung chính sách đầu tư phát triển điểm du lịch

Để phát triển điểm du lịch đòi hỏi phải đầu tư rất nhiều lĩnh vực và bằng rất nhiều nguồn vốn khác nhau Việc đầu tư phát triển điểm du lịch phải căn cứ vào các chính sách của Nhà nước và các văn bản Luật pháp hiện hành

Đó là Luật Đầu tư nước ngoài, Luật Doanh nghiệp, Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Thuế, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Di tích và Danh thắng, Luật Xây dựng, Luật Đất đai v.v và các văn bản hướng dẫn việc thực hiện các Luật này

Trên cơ sở của các lĩnh vực đầu tư và các chính sách, Luật pháp của nhà nước về đầu tư và phát triển cần nghiên cứu cụ thể cho từng điểm du lịch để

có những kiến nghị cụ thể về các chính sách đầu tư Trong thực tế, điểm du lịch rất đa dạng và theo những loại sau:

a) Điểm du lịch dựa trên tài nguyên du lịch thiên nhiên: đất đai, vùng biển, vùng núi, rừng nguyên sinh, hồ, sông, mặt biển, hải đảo v.v

Trang 32

b) Điểm du lịch dựa trên tài nguyên du lịch nhân văn như: các di tích lịch

sử, các công trình văn hoá, kiến trúc, các điểm tôn giáo, các làng nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống, các làng cổ Việt, các loại hình nghệ thuật v.v Mặt khác, các điểm du lịch nằm trên các địa phương và vùng miền khác nhau Mỗi địa phương và mỗi vùng, miền lại có những chính sách ưu đãi đầu

tư khác nhau

Trên cơ sở của từng điểm du lịch, nằm ở từng tỉnh, từng vùng, miền khác nhau sẽ có những nghiên cứu để đề ra các khung chính sách đầu tư và phát triển Tóm lại, để ngành du lịch phát triển và có hiệu quả kinh tế -xã hội cao nhất thiết phải đầu tư cho các điểm du lịch, vì điểm du lịch là cốt lõi của hoạt động du lịch Điều quan trọng cần xác định rõ đầu tư ở đâu, với chính sách đầu tư như thế nào nhằm thu hút các chủ thể tham gia đầu tư cùng có lợi 1.3 Quản lý nhà nước về du lịch

1.3.1 Nội dung quản lý nhà nước về du lịch

Theo Điều 10 Luật Du lịch số 44/2005/QH11 quản lý nhà nước về du lịch

gồm các nội dung sau:

Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển du lịch

- Xây dựng ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn định mức kinh tế - kỹ thuật trong hoạt động du lịch

- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về du lịch

Tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; nghiên cứu; ứng dụng khoa học và công nghệ

-Tổ chức điều tra, đánh giá tài nguyên du lịch để xây dựng quy hoạch phát triển du lịch, xác định khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch

- Tổ chức thực hiện hợp tác quốc tế về du lịch; hoạt động xúc tiến du lịch

ở trong nước và nước ngoài

Trang 33

- Quy định tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về du lịch sự phối hợp của các cơ quan nà nước trong việc quản lý nhà nước về du lịch

- Cấp, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về hoạt động du lịch

- Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về du lịch

1.3.2 Trách nhiệm quản lý nhà nước về du lịch

Theo Điều 11 Luật Du lịch số 44/2005/QH11 quy định trách nhiệm quản

lý nhà nước về du lịch gồm nhưng

Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về du lịch

Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở trung ương chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về du lịch; chủ trì, phối hợp với các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quản lý nhà nước về du lịch

Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình và theo sự phân công của Chính phủ có trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản

lý nhà nước về du lịch ở trung ương trong việc thực hiện quản lý nhà nước về

du lịch

Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình và theo sự phân cấp của Chính phủ có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về du lịch tại địa phương; cụ thể hoá chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính sách phát triển du lịch phù hợp với thực

tế tại địa phương và có biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, vệ sinh môi trường tại khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch Đô thị du lịch

1.3.3 Quản lý điểm du lịch

Theo Điều 29 Luật Du lịch số 44/2005/QH11 quy định quản lý điểm du lịch phải đảm bảo các nội dung sau:

- Bảo vệ, phát triển tài nguyên du lịch; bảo đảm vệ sinh môi trường;

- Tạo điều kiện thuận lợi cho khách du lịch đến tham quan;

Trang 34

- Bảo đảm sự tham gia của cộng đồng dân cư vào các hoạt động du lịch;

- Giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội; bảo đảm an toàn cho khách du lịch

1 4 Kinh nghiệm quản lý điểm đến du lịch của một số nước

1.4.1 Kinh nghiệm xây dựng và quản lý điểm đến du lịch của Bungari

Đầu những năm 60, Bungari xây dựng đất nước xã hội chủ nghĩa với mô hình nông - công nghiệp Sản phẩm nông nghiệp của nước này không chỉ đủ nuôi 8 triệu dân, xuất khẩu sang các nước trong khối cộng đồng kinh tế chung (SEV), mà còn thừa sản phẩm Chính vì vậy, trong đường lối phát triển kinh tế-xã hội của mình họ đã xác định phải phát triển du lịch quốc tế để thực hiện

“xuất khẩu tại chỗ” các sản phẩm nông nghiệp Trong điều kiện của thế giới mặc dù hòa bình nhưng vẫn còn những mâu thuẫn đối kháng giữa 2 phe,cho nên họ đã xác định phát triển du lịch quốc tế phải gắn liền với việc bảo vệ an ninh quốc gia và an toàn xã hội Nhằm thực hiện được những mục tiêu này,

họ đã quy hoạch và xây dựng 5 khu du lịch lớn, trong đó có 3 khu du lịch ở vùng biển và 2 khu du lịch ở vùng núi Đặc điểm của những khu du lịch này

là có một diện tích lớn (trên 1.000 ha), xa nơi dân cư, nhưng điều kiện về hạ tầng cơ sở kỹ thuật rất hoàn chỉnh Có sân bay hoặc cảng biển quốc tế, đường giao thông thuận tiện, điện, nước, thông tin liên lạc đầy đủ Về sức chứa khách, mỗi một khu có khoảng 10.000 buồng trong các cơ sở lưu trú đa dạng

từ khách sạn hạng cao như 5 sao, cho đến các bungalows và bãi cắm trại (camping) để thoả mãn các nhu cầu đa dạng của khách về lưu trú Trong các khu này có đầy đủ các cơ sở dịch vụ phục vụ khách như: các loại nhà hàng,các cơ sở giải trí (ca nhạc dân tộc, các trò chơi dân gian vũ trường,casio,bowling.v.v), các loại hình thể thao, các loại hình chữa bệnh (bằng nước khoáng, bằng bùn, bằng nước biển v.v); các cơ sở bán hàng không chỉ những hàng hoá do nội địa sản xuất mà cả những hàng hoá do nước ngoài sản xuất, đặc biệt là những hàng hoá về thủ công mỹ nghệ truyền thống

Trang 35

đại diện du lịch tại các nước có nguồn khách lớn như: Đức, Anh, Pháp v.v, thì việc khách muốn nghỉ tại các khu du lịch này rất dễ dàng Khách mua chương trình nghỉ dưỡng hoặc du lịch trọn gói trong đó có cả thị thực nhập cảnh vào khu du lịch Từ khu du lịch, khách muốn đi tham quan những nơi khác thì lại phải mua các chương trình du lịch do khu du lịch tổ chức và phải

đi theo đoàn và có hướng dẫn viên đi hướng dẫn Chúng ta có thể hình dung những khu du lịch này là những nơi chứa khách lớn (hồi đó dân số của Bungari là 8 triệu người, nhưng số lượng khách du lịch quốc tế đến hàng năm cũng gần 8 triệu lượt người) và từ khu du lịch này họ đưa khách đi tham quan theo những tuyến du lịch nhất định Đây chính là các van điều tiết khách theo chủ định của các nhà tổ chức du lịch để đưa khách đi tham quan các điểm du lịch đã được quy hoạch, đầu tư và nâng cấp có đủ những điều kiện đón tiếp và phục vụ khách Thông qua mô hình này có thể rút ra được những kinh nghiệm là: việc xây dựng các khu du lịch lớn xa cách nơi dân cư vừa đảm bảo an ninh,nhưng cũng vừa đảm bảo giữ gìn được trật tự xã hội; tạo ra một thị trường tiêu thụ lớn,tập trung cho các ngành tiêu thụ sản phẩm của mình đặc biệt là những sản phẩm nông nghiệp và thủ công mỹ nghệ; về mặt kinh tế- hàng hoá bán trong các khu du lịch đắt hơn bên ngoài xã hội, nhưng khi có một số lượng lớn khách quốc tế đến không ảnh hưởng tới đời sống của nhân dân; về mặt du lịch tạo ra cho khách những chương trình du lịch đa dạng, độc đáo, hấp dẫn nhưng có chủ đích của nhà kinh doanh cũng như những người tổ chức Đảm bảo chất lượng phục vụ khách cũng như danh tiếng và uy tín của

du lịch, bởi vì trong những khu du lịch, hầu hết cán bộ, nhân viên phục vụ đều được huấn luyện và đào tạo nghiệp vụ chuyên môn tốt, ngay cả ở các điểm du lịch mà khách thường xuyên đến thăm cộng đồng dân cư ở đây cũng được giáo dục về ý thức phục vụ khách Mặt khác, mỗi một đợt khách đến du lịch tại đây họ chỉ được đi một chương trình du lịch nhất định và luôn tạo ra sự hứng thú, sự thu hút khách đến những lần sau

Trang 36

1.4.2 Kinh nghiệm xây dựng và quản lý điểm đến du lịch của Indonexia

Trong những năm 70-80 của thế kỷ trước, đất nước Inđônêxia gặp những khó khăn về kinh tế đặc biệt là hòn đảo Bali Inđônêxia đã có chủ trương phát triển du lịch quốc tế tại hòn đảo này để làm điểm nhấn cho sự phát triển du lịch của cả nước Họ đã nhờ Tổ chức du lịch quốc tế (WTO),quy hoạch hòn đảo này thành một trung tâm du lịch, trung tâm hội nghị quốc tế lớn không chỉ của khu vực mà cả thế giới Về mặt quy hoạch, họ không chỉ quy hoạch các

cơ sở phục vụ du lịch mà cả cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch Trước hết, ở đây xây dựng một sân bay quốc tế lớn, một cảng quốc tế để đón khách du lịch từ bốn phương Về cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch, các khách sạn và các công trình phục vụ du lịch ở đây xây dựng không được cao quá ngọn cây dừa Thông qua quy hoạch chi tiết, nhà nước đã kêu gọi các tập đoàn khách sạn lớn vào đầu tư với một chính sách hết sức ưu đãi Khi khu du lịch đưa vào hoạt động, chính phủ đã quyết định miễn thị thực cho công dân của 40 nước đến

du lịch và nghỉ dưỡng tại Bali và nơi đây đã thực sự trở thành một nơi chứa khách lớn của Inđônêxia Hàng năm, Bali đã đón tiếp và phục vụ trên 2 triệu khách du lịch quốc tế, đồng thời Bali là niềm tự hào về du lịch của người dân Inđônêxia

Còn có thể lấy rất nhiều những ví dụ khác về việc nhận thức và xây dựng các khu du lịch, các tuyến du lịch và các điểm du lịch.Điều cơ bản và trước hết đó là phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể và chính sách phát triển du lịch của mỗi nước để xây dựng một chiến lược tổng thể phát triển du lịch.Chiến lược này nằm trong và phục vụ cho việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của đất nước Có đường lối chiến lược mới có quy hoạch phát triển, đầu tư và khai thác các tiềm năng du lịch Đó là một nguyên lý chung mà bất cứ một quốc gia, một ngành nào đó phải thực hiện

Trang 37

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Toàn bộ chương 1, đi đến một số kết luận cơ bản sau:

Thứ nhất: Điểm đến du lịch (Tourism Destination) là một khái niệm

rất rộng trong hoạt động kinh doanh du lịch, là nơi có sức hấp dẫn và có sức thu hút khách du lịch Điểm đến du lịch dựa vào tài nguyên du lịch, nhưng không phải tài nguyên du lịch nào cũng được khai thác để trở thành điểm đến du lịch

Điểm đến du lịch là một không gian vật chất và trong đó diễn ra các hoạt động về du lịch và khách du lịch chính là nhân tố tác động đến không gian du lịch và đóng góp để không gian du lịch được duy trì Mặt khác, nó được xem là một hỗn hợp của sản phẩm, tiện nghi và dịch vụ Điểm đến du lịch đóng vai trò quan trọng và quyết định đến sự phát triển du lịch của một đất nước, một địa phương

Thứ hai: Nêu lên những quan điểm và thực trạng khai thác điểm đến du lịch tại Việt Nam được thể hiện ở việc khai thác các tài nguyên du lịch tự nhiên; khai thác các tài nguyên du lịch nhân văn vật thể và phi vật thể; khai thác các nội dung văn hóa khác để thấy được các mặt tích cực và hạn chế trong quá trình khai thác và phát triển du lịch

Thứ ba: Đưa ra những quan điểm về đầu tư phát triển điểm du lịch; khung chính sách phát triển điểm du lịch và những lĩnh vực đầu tư cho điểm đến du lịch theo từng cấp độ

Thứ tư: Kinh nghiệm của một số nước đã thành công trong việc xây dựng và quản lý điểm đến Trên cơ sở đó có thể học tập kinh nghiệm để áp dụng trong quá trình xây dựng và quản lý điểm đến du lịch của đất nước

Trang 39

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TẠI

ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH HƯƠNG SƠN - MỸ ĐỨC - HÀ NỘI

2.1 Khái quát về sự hình thành và phát triển điểm đến du lịch Hương Sơn

2.1.1.Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch

2.1.1.1.Vị trí địa lý

Điểm đến du lịch Hương Sơn thuộc địa phận 4 xã Hương Sơn, An Tiến,

An Phú, Hùng Tiến huyện Mỹ Đức thành phố Hà Nội, cách trung tâm Nội khoảng 50 km Phía bắc và đông thuộc địa phận thành phố Hà Nội, phía tây giáp tỉnh Hoà Bình, phía Nam giáp tỉnh Hà Nam

Trong quy hoạch tổng thể phát triển du lịch của tỉnh Hà Tây cũ (nay là thành phố Hà Nội) Hương Sơn thuộc khu vực trọng điểm phát triển du lịch Hương Sơn - Quan Sơn

2.1.1.2.Tài nguyên du lịch tự nhiên

Điểm đến du lịch Hương Sơn có diện tích hơn 8.000 ha là khu vực thuộc

về phần cuối của dải đá vôi kéo dài từ cao nguyên Sơn La, Mộc Châu, vùng

đá vôi Ninh Bình, Hoà Bình đến tận bờ biển Nga Sơn, Thanh Hoá, đây chính

là khu vực ranh giới giữa vùng núi và đồng bắng phía tây nam đồng bằng sông Hồng Chính điều này đã tạo ra sự đa dạng về địa hình của điểm đến du lịch Hương Sơn với 3 nhóm địa hình chính là Nhóm địa hình nguồn gốc Karst; Nhóm địa hình nguồn gốc Karst xâm thực - tích tụ; Nhóm địa hình tích

tụ aluvi Vị trí tiếp giáp giữa vùng núi và đông bằng của châu thổ sông Hồng

đã tạo cho Hương Sơn một hệ thống hang động đẹp hiếm có với những hang động nổi tiếng như Hinh Bồng, Long Vân và đặc biệt là Hương Tích - động

đã được chúa Trịnh Sâm phong "Nam thiên đệ nhất động" cùng những cảnh quan tự nhiên như thung, suối đã đưa Hương Sơn trở thành một vùng cảnh

Trang 40

Bên cạnh cảnh quan, Hương Sơn còn được thiên nhiên ban tặng một hệ sinh thái rất đa dạng Hệ thực vật của Hương Sơn thuộc kiểu rừng kín thường xanh, mưa ẩm nhiệt đới là nơi cư trú và sinh sống của 350 loài thực vật thuộc

92 họ Về động vật, khu vực Hương Sơn có 88 loài chim, 35 loài thú, 32 loài

bò sát Trong đó có những loài quý hiếm được đưa vào sách đỏ Việt Nam và thế giới như gà lôi trắng, trăn đất, ô rô vẩy, kỳ đà mốc

Như vậy tiềm năng du lịch tự nhiên của Hương Sơn rất đa dạng phong phú phù hợp cho việc phát triển các loại hình du lịch sinh thái, tham quan, leo núi, câu cá

2.1.1.3 Tài nguyên du lịch nhân văn

Hương Sơn còn nằm trong một vùng văn hoá đặc sắc với các lễ tục và nếp sống thuần Việt, là một trong những chiếc nôi văn hoá và tâm linh truyền thống của người Việt Nam

Nổi bật nhất trong tiềm năng du lịch nhân văn của Hương Sơn là lễ hội chùa Hương Lễ hội đã có từ rất lâu, bắt đầu từ tháng giêng đến cuối tháng 3

âm lịch thu hút hàng vạn lượt khách Hiện nay, lễ hội Chùa Hương được coi là

lễ hội dài nhất và lớn nhất ở Việt Nam

Tuy nhiên, tiềm năng có giá trị lớn nhất của Hương Sơn chính là sự kết hợp một cách hài hoà giữa cảnh quan thiên nhiên với hệ thống các công trình kiến trúc phật giáo và tín ngưỡng bản địa Hệ thống các đền chùa ở điểm đến

du lịch Hương Sơn thể hiện rõ nét nhất sức sáng tạo vô hạn của con người đồng thời đưa Hương Sơn trở thành một trong những thánh địa phật giáo lớn nhất của Việt Nam

Như vậy tiềm năng du lịch nhân văn của điển đến du lịch Hương Sơn là một nguồn lực quý giá cho việc phát triển du lịch văn hoá, tâm linh, lễ hội

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Thống kê CSLT tại ĐĐDL Hương Sơn tính đến T12/2010. - Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý hoạt động tại điểm đến du lịch Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội
Bảng 2.1 Thống kê CSLT tại ĐĐDL Hương Sơn tính đến T12/2010 (Trang 47)
Bảng 2.2: Thống kê cửa hàng - dịch vụ ăn uống tại ĐĐDL Hương Sơn - Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý hoạt động tại điểm đến du lịch Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội
Bảng 2.2 Thống kê cửa hàng - dịch vụ ăn uống tại ĐĐDL Hương Sơn (Trang 48)
Bảng 2.3: Thống kê số liệu khách du lịch đến  Hương Sơn  từ năm 2006 - T12/2010 - Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý hoạt động tại điểm đến du lịch Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội
Bảng 2.3 Thống kê số liệu khách du lịch đến Hương Sơn từ năm 2006 - T12/2010 (Trang 58)
Bảng 2.5 : Doanh thu vé thắng cảnh  ở  ĐĐDL  Hương Sơn   Từ 2006 – T12/2010 - Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý hoạt động tại điểm đến du lịch Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội
Bảng 2.5 Doanh thu vé thắng cảnh ở ĐĐDL Hương Sơn Từ 2006 – T12/2010 (Trang 59)
Bảng 2.4 : Doanh thu xã hội từ du lịch ở  ĐĐDL  Hương Sơn  Từ 2006 -  T12/2010 - Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý hoạt động tại điểm đến du lịch Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội
Bảng 2.4 Doanh thu xã hội từ du lịch ở ĐĐDL Hương Sơn Từ 2006 - T12/2010 (Trang 59)
Bảng 2.6 : Doanh thu vận chuyển ở  ĐĐDL  Hương Sơn   Từ 2006 – T12/2010 - Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý hoạt động tại điểm đến du lịch Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội
Bảng 2.6 Doanh thu vận chuyển ở ĐĐDL Hương Sơn Từ 2006 – T12/2010 (Trang 60)
Bảng 2.7: Cơ cấu vé thắng cảnh và vé đò ở ĐĐDL Hương Sơn   (áp dụng từ năm 2009) - Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý hoạt động tại điểm đến du lịch Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội
Bảng 2.7 Cơ cấu vé thắng cảnh và vé đò ở ĐĐDL Hương Sơn (áp dụng từ năm 2009) (Trang 66)
Bảng 2.9: Thống kê số lượng vé cáp treo bán qua các năm  từ 2006 – T12/2010 - Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý hoạt động tại điểm đến du lịch Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội
Bảng 2.9 Thống kê số lượng vé cáp treo bán qua các năm từ 2006 – T12/2010 (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w