1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp góp phần xây dựng và phát triển du lịch bền vững ở Tây Bắc Việt Nam

134 786 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 1,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kinh nghiệm phát triển trên thế giới và một số địa phương cho thấy, việc phát triển du lịch không hoặc có nhưng ít tính đến việc sử dụng bền vững nguồn tài nguyên đã dẫn đến tình trạng x

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

(CH¦¥NG TR×NH §µO T¹O THÝ §IÓM)

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Vò M¹NH Hµ

Hà Nội, tháng 11 - 2007

Trang 2

Môc lôc

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn nghiên cứu 3

2.1 Mục tiêu nghiên cứu: 3

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: 3

2.3 Giới hạn nghiên cứu 3

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

4 Những quan điểm và phương pháp nghiên cứu 5

4.1 Quan điểm nghiên cứu 5

4.2 Phương pháp nghiên cứu 6

5 Những đóng góp chủ yếu của luận văn 8

6 Bố cục luận văn 8

CHƯƠNG 1 PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG - LÝ LUẬN VÀ NGHIÊN CỨU THỰC TẾ 9

1.1 Khái niệm chung về phát triển bền vững 9

1.2 Khái niệm về phát triển du lịch bền vững 11

1.3 Các chỉ tiêu đánh giá một số cấp phân vị trong tổ chức lãnh thổ du lịch cấp tỉnh trên quan điểm phát triển bền vững………19

1.3.1 Chỉ tiêu đánh giá điểm du lịch 19

1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá cụm du lịch 27

1.4 Sự phát triển du lịch bền vững trên thế giới 29

1.5 Du lịch Việt Nam với phát triển bền vững 30

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI TÂY BẮC VIỆT NAM 34

2.1 Tiềm năng phát triển du lịch của vùng 34

Trang 3

2.1.2 Địa hình 34

2.1.3 Điều kiện khí hậu 35

2.1.4 Kinh tế Tây Bắc 35

2.1.5 Trình độ dân trí 36

2.1.6 Cơ sở hạ tầng 36

2.1.7 Hệ thống đô thị hạt nhân 37

2.1.8 Chênh lệch về thu nhập, dân trí giữa các tỉnh, các dân tộc trong vùng37 2.2 Tài nguyên du lịch 38

2.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 38

2.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 41

2.2.3 Các yếu tố kinh tế xã hội 51

2.2.4 Cơ sở hạ tầng 53

2.3 Đánh giá thực trạng hoạt động du lịch vùng Tây Bắc 55

2.3.1 Hiện trạng phát triển du lịch tỉnh Hòa Bình 55

2.3.2 Đánh giá thực trạng phát triển du lịch Hòa Bình 67

2.3.3 Hiện trạng phát triển du lịch tỉnh Sơn La 69

2.3.4 Đánh giá thực trạng phát triển du lịch Sơn La 77

2.3.5 Hiện trạng phát triển và đánh giá du lịch tỉnh Lào Cai……….80

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG TẠI TÂY BẮC - VIỆT NAM 93

3.1 Phương hướng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc đến năm 2010 93

3.1.1 Quan điểm phát triển 93

3.1.2 Những mục tiêu cơ bản 94 3.1.3 Những ảnh hưởng trong nước, ngoài nước đến quá trình phát triển kinh

Trang 4

3.1.4 Lựa chọn cơ cấu kinh tế và các phương án phát triển 95

3.2 Một số giải pháp thực hiện 100

3.2.1 Các giải pháp về công tác tổ chức, quy hoạch và hoạt động khai thác tiềm năng phát triển kinh doanh du lịch 101

3.2.2 Tôn tạo tài nguyên và bảo vệ môi trường 102

3.2.3 Giải pháp về cộng đồng 104

3.2.4 Giải pháp về tuyên truyền giáo dục 105

3.2.5 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 106

3.2.6 Liên kết chặt chẽ du lịch với các ngành và giữa các địa phương với nhau 108

3.2.7 Đầu tư cho phát triển du lịch 110

3.2.8 Xây dựng và phát triển sản phẩm 111

3.3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 112

3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ 113

3.3.2 Kiến nghị với Tổng cục du lịch 113

3.3.3 Kiến nghị với Tỉnh uỷ và UBND các tỉnh vùng Tây Bắc 114

3.3.4 Kiến nghị với các Sở Thương mại - Du lịch vùng Tây Bắc 114

PHỤ LỤC 116

TÀI LIỆU THAM KHẢO 126

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh phát triển hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, du lịch được xem là một ngành kinh tế có vai trò hết sức quan trọng Việt Nam chúng ta đang đẩy nhanh quá trình hội nhập hoàn toàn với nền kinh tế khu vực và kinh tế toàn cầu Du lịch là một ngành kinh tế góp phần không nhỏ vào tiến trình đó Tuy nhiên, là một nước có nền kinh tế đang phát triển, chúng ta cũng không thể không quan tâm tới sự bền vững của vấn đề phát triển kinh tế nói chung và phát triển kinh tế du lịch nói riêng Làm thế nào để ngành du lịch nước nhà vừa đạt được những bước phát triển tốt, vừa hòa nhập chung được với tốc độ phát triển của các ngành kinh tế khác trong bối cảnh hội nhập nhưng lại vừa đảm bảo được tính bền vững trong phát triển Đó, đã và đang là câu hỏi lớn đòi hỏi sự quan tâm của nhiều ngành nghề, của các cấp quản lý nhà nước không những về

du lịch mà còn chung cho các cấp quản lý của các cơ quan hữu quan

Thời gian qua, nhận thức được tầm quan trọng của công tác quy hoạch đối với phát triển du lịch nói riêng và phát triển kinh tế xã hội nói chung, ngành

Du lịch đã xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam và phối hợp với nhiều địa phương trên cả nước xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển

du lịch các vùng và các địa phương Việc nghiên cứu phát triển du lịch trong các quy hoạch trên được thực hiện dựa trên quan điểm phát triển tổng hợp về kinh tế, xã hội, an ninh, chính trị, môi trường Tuy nhiên, cho đến nay, hầu hết các nghiên cứu được thực hiện thường lấy quan điểm phát triển kinh tế làm quan điểm phát triển chủ đạo, việc xây dựng mô hình phát triển du lịch dựa trên quan điểm phát triển bền vững còn chưa được quan tâm thoả đáng Vì vậy trong quá trình thực hiện thường nảy sinh một số vấn đề ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài nguyên, tác động tiêu cực đến môi trường v.v…

Du lịch là một ngành kinh tế có định hướng tài nguyên rõ rệt, tài nguyên

du lịch vừa là điều kiện để thoả mãn nhu cầu nghỉ ngơi du lịch, vừa là cơ sở

Trang 6

lãnh thổ cho việc hình thành hệ thống nghỉ ngơi du lịch Một trong những đặc điểm của tài nguyên du lịch là một số tài nguyên du lịch là tài nguyên không thể tái tạo được, số khác thuộc loại khó có khả năng tái tạo được Kinh nghiệm phát triển trên thế giới và một số địa phương cho thấy, việc phát triển du lịch không hoặc có nhưng ít tính đến việc sử dụng bền vững nguồn tài nguyên đã dẫn đến tình trạng xuống cấp của tài nguyên và ô nhiễm môi trường Điều này làm giảm sức hấp dẫn đối với du khách và dẫn tới nguy cơ phát triển không bền vững cả

về kinh tế lẫn tài nguyên môi trường Thực tế trên thế giới và ở Việt Nam cho thấy cần phải có những nghiên cứu phát triển du lịch để làm sao cho phát triển bền vững cả về kinh tế lẫn tài nguyên, môi trường

Tây Bắc là vùng rất giàu tiềm năng để phát triển du lịch nói riêng và phát triển kinh tế nói chung Sự phát triển du lịch tại vùng Tây Bắc chua tương xứng với tiềm năng vốn có của vùng và có thể còn làm nguy hại đến sự phát triển bền vững của một vùng rất giàu tài nguyên du lịch tự nhiên và bản sắc văn hóa

Vùng Tây Bắc Việt Nam có địa hình khá đa dạng và phong phú, trong đó đáng kể nhất là dạng địa hình đá vôi với các kiểu địa hình Karst độc đáo là tài nguyên hấp dẫn đối với hoạt động du lịch Không những vậy, Tây Bắc còn là địa bàn cư trú của một số dân tộc ít người với nhiều nét văn hoá truyền thống đặc sắc có sức hấp dẫn lớn đối với khách du lịch trong nước và nước ngoài Đặc biệt là nét văn hoá truyền thống của dân tộc Mường, dân tộc Thái, H‟Mông, Dao, Tày…Thời gian qua, sự phát triển của du lịch Tây Bắc chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của vùng và quá trình phát triển còn nhiều bất cập Việc nghiên cứu đề tài Một số giải pháp góp phần xây dựng và phát triển du lịch bền vững ở Tây Bắc Việt Nam không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển du lịch và bảo vệ tài nguyên môi trường của vùng Tây Bắc mà còn có những đóng góp tích cực đối với sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương Không những thế, những nghiên cứu này còn có những đóng góp nhất

Trang 7

định về mặt lý luận cho công tác quy hoạch kinh tế xã hội nói chung và quy hoạch du lịch của các tỉnh vùng Tây Bắc nói riêng

2 Mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu:

Vận dụng lý luận và thực tiễn phát triển bền vững du lịch Việt Nam và thế giới áp dụng vào nghiên cứu, đánh giá hiện trạng và đề xuất định hướng phát triển bền vững du lịch vùng Tây Bắc nhằm khai thác các thế mạnh về du lịch để đảm bảo sự đóng góp tích cực của du lịch đối với phát triển kinh tế xã hội và sử dụng bền vững tài nguyên, môi trường địa phương

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Tổng quan những vấn đề lý luận và thực tiễn của phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam và trên thế giới;

- Phân tích, đánh giá tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch vùng Tây Bắc;

- Đánh giá hiện trạng phát triển du lịch vùng Tây Bắc;

- Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp góp phần phát triển du lịch vùng Tây Bắc trên quan điểm phát triển bền vững và đưa ra một số sản phẩm

cụ thể;

2.3 Giới hạn nghiên cứu

- Về nội dung nghiên cứu: các cấp phân vị trong vùng du lịch Tây Bắc bao gồm điểm, cụm và tuyến du lịch trên quan điểm phát triển bền vững

- Về lãnh thổ nghiên cứu: không gian nghiên cứu của luận văn là lãnh thổ vùng du lịch Tây Bắc với những mối quan hệ mật thiết lâu đời về tự nhiên, kinh tế, xã hội trong vùng

Trang 8

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Về phát triển du lịch bền vững

Trên thế giới: Nhiều nước trên thế giới đã tiến hành nghiên cứu về vấn

đề phát triển du lịch bền vững từ những năm 80, đặc biệt là các quốc gia sớm có định hướng xác định du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn Các nghiên cứu này được tiến hành theo hai hướng:

- Nghiên cứu một cách tổng thể những vấn đề đặt ra liên quan đến phát triển du lịch bên vững trên quy mô quốc gia rồi sau đó tiến tới xây dựng các mô hình điểm về du lịch bền vững như ở Australia, Mỹ, Malaysia [22]

- Dựa trên việc xây dựng các mô hình điểm về phát triển du lịch bền vững để rút kinh nghiệm xây dựng các chính sách triển khai trên toàn quốc như

ở Nepal, Ecuado, Senegal [22]

Ở Việt Nam: trước năm 2000, do nhiều điều kiện khách quan và chủ

quan, nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững mới chỉ hạn chế ở một số công trình có liên quan như nghiên cứu cơ sở cho phát triển du lịch sinh thái [21],[45], đánh giá tác động của hoạt động du lịch đến tài nguyên môi trường [10], [11]… từ năm 2000, cùng hoà nhịp với trào lưu chung nhằm đảm bảo lợi ích trước mắt và lâu dài, Ngành du lịch Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn cho phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam, trong

đó, đề tài khoa học độc lập cấp nhà nước “Cơ sở khoa học và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam” (2000-2001) là công trình có giá trị cao về

lý luận và thực tiễn cho phát triển du lịch bền vững

Kế thừa các kết quả nghiên cứu của các nghiên cứu trên, các dự án quy hoạch hoặc điều chỉnh quy hoạch du lịch các địa phương thời gian gần đây đã bắt đầu tính đến các phương án cho phát triển bền vững như các dự án Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ, Trà Vinh… Một số giải pháp góp phần xây dựng và phát triển du lịch bền vững ở Tây Bắc Việt Nam

Trang 9

một trong số những đề tài đầu tiên nghiên cứu phát triển du lịch cấp vùng lãnh thổ trên quan điểm phát triển bền vững ở Việt Nam Hy vọng kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sẽ có những đóng góp nhất định đối với việc phát triển du lịch bền vững cấp vùng du lịch trên lãnh thổ Việt Nam nói chung và ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam nói riêng

4 Những quan điểm và phương pháp nghiên cứu

4.1 Quan điểm nghiên cứu

4.1.1 Quan điểm phát triển bền vững: Phát triển du lịch phải gắn với việc bảo

vệ và tôn tạo nguồn tài nguyên, môi trường sinh thái bền vững Từ đó đặt ra các

kế hoạch và cơ chế quản lý phù hợp với việc tôn tạo, khai thác các tài sản thiên nhiên, nhân văn sao cho môi trường cảnh quan tự nhiên và các khu thắng cảnh không những không bị xâm hại mà còn được bảo trì và nâng cấp tốt hơn Những điểm du lịch có tính nhạy cảm cao cả về tự nhiên và nhân văn như các khu du lịch ở Tây Bắc càng cần được quan tâm đặc biệt Quy hoạch du lịch cũng phải gắn với việc bảo vệ môi trường xã hội trong sạch Cần có biện pháp

tổ chức quản lý chặt chẽ để ngăn ngừa những ảnh hưởng tiêu cực từ các hoạt động du lịch mang lại đối với môi trường văn hóa xã hội của địa phương

4.1.2 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ: hệ thống lãnh thổ du lịch được xem như là

hệ thống xã hội được tạo thành bởi nhiều thành tố như tự nhiên, văn hoá, lịch

sử, con người… có mối quan hệ qua lại mật thiết, gắn bó với nhau một cách hoàn chỉnh theo từng sự phân công chức năng Chính vì vậy, việc nghiên cứu, xác định, đánh giá các nguồn lực du lịch thường được nhìn nhận trong mối quan

hệ về mặt không gian hay lãnh thổ nhất định dể đạt được những giá trị đồng bộ

về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường Từ đó, đối tượng lãnh thổ du lịch được xem như một hệ thống mở, có mối quan hệ chặt chẽ với các lãnh thổ khác

4.1.3 Quan điểm hệ thống – cấu trúc: Du lịch vùng Tây Bắc được xem như là

một bộ phận của các hệ thống du lịch có quy mô lớn hơn và tầm cao hơn là hệ

Trang 10

thống du lịch vùng du lịch Bắc bộ và hệ thống du lịch cả nước Chính vì vậy, du lịch vùng Tây Bắc có mối quan hệ mật thiết, phụ thuộc với hệ thống cấp cao hơn và quan hệ tương hỗ với các hệ thống bộ phận tương đương khác trong cùng hệ thống cấp cao hơn Như vậy, du lịch vùng Tây Bắc với tư cách là một

bộ phận của hệ thống cấp cao hơn phải vận động theo quy luật của toàn hệ thống và việc nghiên cứu đầy đủ các thuộc tính du lịch của hệ thống có giá trị thực tiễn để vận dụng vào tổ chức và kinh doanh du lịch

4.1.4 Quan điểm lịch sử – viễn cảnh: Vùng Tây Bắc là một vùng đất có bề dày

lịch sử và có nền văn hoá phát triển từ lâu đời Lịch sử phát triển hàng ngàn năm với bao thăng trầm, đến nay vùng đất này vẫn còn giữ được những đặc điểm riêng biệt, đặc sắc về tự nhiên, về văn hoá và con người Những đặc điểm này đã được khai thác cho phát triển kinh tế nói chung, du lịch nói riêng của địa phương trong những thời gian qua Sử dụng quan điểm lịch sử để tìm hiểu nguồn gốc phát sinh, diễn biến quá trình khai thác, kết quả khai thác, từ đó rút

ra bài học kinh nghiệm để có được những nhận định, những phương án, những

dự báo chính xác và giúp cho việc tổ chức du lịch trên địa bàn mang tính hiệu quả và bền vững

4.2 Phương pháp nghiên cứu

4.2.1 Phương pháp thống kê: Những tài liệu thống kê của hoạt động du lịch

liên quan đến nhiều lĩnh vực như lượng khách, doanh thu, đầu tư, chỉ số môi trường, chỉ tiêu kinh tế… là những số liệu mang tính định lượng Trên cơ sở khai thác từ nhiều nguồn như Tổng cục Du lịch, Tổng cục Thống kê, Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, Viện nghiên cứu chiến lược – Bộ Kế hoạch Đầu

tư, các Sở Thương mại Du lịch tỉnh Hoà Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái Các số liệu được đưa vào xử lý, phân tích để từ đó rút ra những kết luận đánh giá có tính thực tiễn cao

4.2.2 Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu: là phương pháp

cần thiết trong việc tiếp cận vấn đề nghiên cứu Tổng quan tài liệu có được cho

Trang 11

phép ta tiếp cận với những kết quả nghiên cứu trong quá khứ, cập nhật những vấn đề trong và ngoài nước Việc phân loại, phân nhóm và phân tích dữ liệu sẽ giúp cho việc phát hiện những vấn đề trọng tâm và những khía cạnh cần được tiếp cận của vấn đề Trên cơ sở những tài liệu thu thập được và những kết quả phân tích, việc tổng hợp sẽ giúp định hình một tài liệu toàn diện và khái quát về chủ đề nghiên cứu

4.2.3 Phương pháp nghiên cứu thực địa: Phương pháp nghiên cứu thực địa

giúp ta tiếp cận vấn đề một cách chủ động, trực quan, kiểm tra, đánh giá một cách xác thực để có được tầm nhìn toàn diện về các đối tượng nghiên cứu Các hoạt động chính trong khi tiến hành phương pháp này bao gồm: quan sát, mô tả, điều tra, ghi chép, chụp ảnh, quay phim tại các điểm nghiên cứu; Gặp gỡ, trao đổi với chính quyền địa phương, các cơ quan quản lý tài nguyên, các cơ quan quản lý chuyên ngành ở địa phương và cộng đồng sở tại; Tham gia các buổi thuyết trình, hội nghị…

4.2.4 Phương pháp điều tra xã hội học: là một trong những phương pháp đặc

trưng trong nghiên cứu du lịch bao gồm phỏng vấn trực tiếp cá nhân, phỏng vấn qua điện thoại và phỏng vấn qua phiếu điều tra… Trong đó phỏng vấn qua phiếu điều tra được sử dụng nhiều hơn cả vì có nhiều thuận lợi như lượng thông tin thu được nhiều, không qua trung gian nên ý kiến thu nhận được có tính xác thực cao, có ưu thế đặc biệt đối với những vấn đề tế nhị và chi phí thấp…

5 Những đóng góp chủ yếu của luận văn

- Tổng quan chọn lọc và hệ thống hoá những vấn đề lý luận về du lịch và phát triển du lịch bền vững Trên cơ sở đó, vận dụng vào việc nghiên cứu cụ thể trên địa bàn vùng Tây Bắc

- Đưa quan điểm phát triển bền vững làm quan điểm chủ đạo trong quá trình nghiên cứu phát triển du lịch bền vững vùng Tây Bắc ở Việt Nam

Trang 12

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch bền vững vùng Tây Bắc

- Đánh giá thực trạng phát triển du lịch vùng Tây Bắc

- Sử dụng các kết quả đánh giá thực trạng làm cơ sở cho định hướng phát triển du lịch vùng Tây Bắc trên quan điểm phát triển bền vững, đồng thời đề xuất một số giải pháp tổ chức hoạt động du lịch nhằm sử dụng bền vững nguồn tài nguyên và môi trường cho phát triển và phát triển bền vững du lịch nói riêng

và kinh tế xã hội của vùng Tây Bắc nói chung

Chương II : THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI TÂY BẮC VIỆT NAM

Chương III : MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG TẠI TÂY BẮC VIỆT NAM

Trang 13

CHƯƠNG 1 PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG - LÝ LU ẬN VÀ NGHIÊN CỨU THỰC TẾ

1.1 Khái niệm chung về phát triển bền vững

* Quan niệm: trong Báo cáo "Tương lai chung của chúng ta" của Hội

đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc (1987), phát triển

bền vững được định nghĩa "là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau" [19, tr3]

Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002 đã xác định: phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý

và hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế, phát triển xã hội

và bảo vệ môi trường Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng

trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp

lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao được chất lượng môi trường sống.[19]

* Các nguyên tắc đảm bảo cho phát triển bền vững: Để đảm bảo sự

phát triển bền vững ở Việt Nam, trong quá trình phát triển, cần tuân thủ các

nguyên tắc cơ bản sau [19]:

+ Con người là trung tâm của phát triển bền vững Đáp ứng ngày càng đầy đủ hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân, xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh là nguyên tắc quán triệt nhất quán trong mọi giai đoạn phát triển

+ Coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn phát triển sắp tới, bảo đảm an ninh lương thực, năng lượng để phát triển bền vững, bảo đảm vệ sinh và an toàn thực phẩm cho nhân dân; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài

Trang 14

hòa với phát triển xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên trong giới hạn cho phép về mặt sinh thái và bảo vệ môi trường lâu bền Từng bước thực hiện nguyên tắc "mọi mặt: kinh tế, xã hội và môi trường đều cùng có lợi"

+ Bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường phải được coi là một yếu tố không thể tách rời của quá trình phát triển Tích cực và chủ động phòng ngừa, ngăn chặn những tác động xấu đối với môi trường do hoạt động của con người gây ra Cần áp dụng rộng rãi nguyên tắc "người gây thiệt hại đối với tài nguyên

và môi trường thì phải bồi hoàn" Xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ và có hiệu lực về công tác bảo vệ môi trường; chủ động gắn kết và có chế tài bắt buộc lồng ghép yêu cầu bảo vệ môi trường trong việc lập quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án phát triển kinh tế-xã hội, coi yêu cầu về bảo vệ môi trường là một tiêu chí quan trọng trong đánh giá phát triển bền vững

+ Quá trình phát triển phải bảo đảm đáp ứng một cách công bằng nhu cầu của thế hệ hiện tại và không gây trở ngại tới cuộc sống của các thế hệ tương lai Tạo lập điều kiện để mọi người và mọi cộng đồng trong xã hội có cơ hội bình đẳng để phát triển, được tiếp cận tới những nguồn lực chung và được phân phối công bằng những lợi ích công cộng, tạo ra những nền tảng vật chất, tri thức và văn hoá tốt đẹp cho những thế hệ mai sau, sử dụng tiết kiệm những tài nguyên không thể tái tạo lại được, gìn giữ và cải thiện môi trường sống, phát triển hệ thống sản xuất sạch và thân thiện với môi trường; xây dựng lối sống lành mạnh, hài hoà, gần gũi và yêu quý thiên nhiên

+ Khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy phát triển nhanh, mạnh và bền vững đất nước Công nghệ hiện đại, sạch và thân thiện với môi trường cần được ưu tiên sử dụng rộng rãi trong các ngành sản xuất, trước mắt cần được đẩy mạnh sử dụng ở những ngành

và lĩnh vực sản xuất có tác dụng lan truyền mạnh, có khả năng thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành và lĩnh vực sản xuất khác

Trang 15

+ Phát triển bền vững là sự nghiệp của toàn Đảng, các cấp chính quyền, các bộ, ngành và địa phương; của các cơ quan, doanh nghiệp, đoàn thể xã hội, các cộng đồng dân cư và mọi người dân Phải huy động tối đa sự tham gia của mọi người có liên quan trong việc lựa chọn các quyết định về phát triển kinh tế,

xã hội và bảo vệ môi trường ở địa phương và trên quy mô cả nước Bảo đảm cho nhân dân có khả năng tiếp cận thông tin và nâng cao vai trò của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt của phụ nữ, thanh niên, đồng bào các dân tộc ít người trong việc đóng góp vào quá trình ra quyết định về các dự án đầu tư phát triển lớn, lâu dài của đất nước

+ Gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển bền vững đất nước Phát triển các quan hệ song phương và đa phương, thực hiện các cam kết quốc tế và khu vực; tiếp thu

có chọn lọc những tiến bộ khoa học công nghệ, tăng cường hợp tác quốc tế để phát triển bền vững Chú trọng phát huy lợi thế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn những tác động xấu đối

với môi trường do quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế gây ra

+ Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường với bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội

1.2 Khái niệm về phát triển du lịch bền vững

Một số khái niệm về phát triển du lịch bền vững

*Khái niệm về du lịch bền vững

Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO) “Du lịch bền vững

là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn

Trang 16

duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa, đa dạng sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống của con người”.[22]

Du lịch bền vững ở Việt Nam là một khái niệm còn mới Tuy nhiên, nhận thức về một phương thức phát triển du lịch có trách nhiệm với môi trường, có tác dụng giáo dục, nâng cao hiểu biết cho cộng đồng đã bước đầu hình thành như một số loại hình du lịch thân thiện với môi trường đã xuất hiện với tên gọi

là du lịch sinh thái, du lịch xanh

Luật Du lịch xác định: “Du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu

về du lịch của tương lai” [25, tr12]

Tuy nhiên sự phát triển này chỉ mang tính tương đối bởi trong một xã hội “động” tức một xã hội luôn có sự thay đổi và phát triển thì sự bền vững của yếu tố này có thể sẽ là nguyên nhân ảnh hưởng đến sự bền vững của những yếu

tố khác Không một xã hội nào, một nền kinh tế nào có thể đạt được sự bền vững tuyệt đối Mọi hoạt động, mọi biện pháp của con người chỉ nhằm đạt mục đích đảm bảo khả năng khai thác lâu, bền các nguồn tài nguyên trên Trái đất

* Các nguyên tắc cơ bản của phát triển du lịch bền vững

Những nguyên tắc để đảm bảo phát triển du lịch bền vững không tách rời những nguyên tắc chung cho phát triển bền vững Tuy nhiên, mỗi ngành, mỗi lĩnh vực trong cuộc sống, trong phát triển kinh tế xã hội lại có những mục tiêu, những đặc điểm đặc trưng của mình Do vậy, sự phát triển du lịch cần phải tuân thủ các nguyên tắc riêng của mình trên cơ sở các nguyên tắc chung của phát triển bền vững Phát triển du lịch bền vững hướng tới việc đảm bảo đạt được 3 mục tiêu cơ bản bao gồm: phát triển bền vững về kinh tế, bền vững về

tài nguyên và môi trường và bền vững về xã hội

Để đảm bảo đạt được 3 mục tiêu cơ bản trên, phát triển du lịch bền vững cần tuân thủ các nguyên tắc cụ thể sau [22]:

Trang 17

+ Khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên một cách hợp lý

+ Giảm thiểu chất thải ra môi trường

+ Chú trọng việc đào tạo nâng cao nhận thức về tài nguyên và môi trường

+ Chú trọng việc xây dựng và quản lý thực hiện quy hoạch phát triển du lịch phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội

+ Tăng cường tính trách nhiệm trong hoạt động xúc tiến du lịch

+ Chú trọng việc chia sẻ lợi ích và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương vào các hoạt động phát triển du lịch

Việc thực hiện một cách nghiêm túc và đầy đủ những nguyên tắc cơ bản này sẽ đảm bảo chắc chắn cho sự phát triển bền vững của hoạt động du lịch, phát triển bền vững chính là chìa khóa cho sự thành công lâu dài của ngành du lịch

* Một số dấu hiệu nhận biết phát triển du lịch bền vững

- Các chỉ số về thu nhập du lịch: Du lịch cũng như tất cả các ngành kinh

tế khác đều cần được đánh giá sự phát triển thông qua sự gia tăng về doanh thu,

về giá trị đóng góp cho nền kinh tế quốc dân Với quan điểm phát triển thông thường, sự gia tăng các giá trị này của ngành kinh tế nào càng lớn thì ngành kinh tế đó càng được coi là phát triển mạnh Tuy nhiên, trên quan điểm phát triển bền vững thì sự gia tăng các chỉ số này chưa phải là quyết định mà còn cần xem xét nhiều yếu tố khác nữa như: giá trị gia tăng đều qua các năm, tương lai phát triển của ngành trong nền kinh tế quốc dân, ảnh hưởng của sự phát triển ngành đến xã hội, đến môi trường…

Mặc dù không phải là yếu tố duy nhất quyết định nhưng sự tăng trưởng

về GDP vẫn là dấu hiệu đầu tiên và quan trọng nhất để nhận biết sự phát triển của một ngành kinh tế nói chung và du lịch nói riêng

Trang 18

Tỷ lệ GDP du lịch trong cơ cấu GDP của địa phương được biểu thị bằng chỉ số M và được xác định thông qua công thức sau:

Chỉ số M phản ánh tình trạng phát triển thực tế của ngành du lịch trong nền

kinh tế quốc dân Giá trị M càng cao, ổn định và tăng theo thời gian thì ngành

du lịch càng phát triển gần với mục tiêu phát triển bền vững

Bên cạnh đó dấu hiệu để đánh giá mức độ bền vững của hoạt động du lịch có thể được xem xét thông qua mức độ đóng góp vào ngân sách Nhà nước của ngành du lịch

- Các chỉ số về khách du lịch: Trên quan điểm phát triển du lịch thông

thường, người ta thường chỉ quan tâm đến chỉ số về lượng khách Nhưng khi du lịch du lịch phát triển, đặc biệt là trên quan điểm phát triển bền vững, các chỉ số

về ngày lưu trú, khả năng chi tiêu, mức độ hài lòng và tỷ lệ quay lại một quốc gia, một vùng, một điểm du lịch nào đó của khách lại được quan tâm và đánh giá cao hơn

- Xét về mặt hiệu quả kinh tế, so với việc đông khách nhưng thời gian lưu trú ngắn, mức chi tiêu thấp thì trường hợp ít khách song khách có thời gian lưu trú dài hơn và mức chi tiêu cao hơn mang lại hiệu quả cao hơn Bởi điều này cho phép vẫn đảm bảo sự tăng trưởng về doanh thu du lịch trong khi hạn chế được chi phí cho việc phải phục vụ một lượng khách lớn hơn và hạn chế được tác động đến môi trường

- Số lượng (tỷ lệ) khách quay trở lại một quốc gia, một vùng hoặc một khu, điểm du lịch nào đó là một trong những thước đo chất lượng sản phẩm du lịch của quốc gia, vùng, khu, điểm du lịch đó Kết quả nghiên cứu phân tích chỉ

Trang 19

số này sẽ góp phần quan trọng trong việc dự báo xu hướng phát triển luồng khách và giúp cho việc xây dựng nên các sản phẩm du lịch phù hợp nhu cầu khách

Sự hài lòng của du khách là tấm gương phản ánh chất lượng sản phẩm du lịch, chất lượng dịch vụ, chất lượng đội ngũ lao động bên cạnh những điều kiện thuận lợi khách quan như thời tiết, an ninh chính trị … Không những thế, mức

độ hài lòng của du khách sẽ là yếu tố quan trọng quyết định thời gian lưu trú, mức độ chi tiêu cũng như việc quay trở lại của du khách Chính vì vậy mức độ hài lòng của du khách sẽ là dấu hiệu quan trọng về trạng thái bền vững của hoạt động du lịch và là một trong các mục tiêu của phát triển du lịch bền vững

- Chất lượng nguồn nhân lực du lịch: Trong hoạt động du lịch, chất

lượng đội ngũ lao động luôn là yếu tố quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với

sự phát triển Điều này càng trở nên cấp thiết trong bối cảnh canh tranh gay gắt của hoạt động du lịch Chất lượng đội ngũ lao động là nhân tố quan trọng trong việc quyết định chất lượng sản phẩm du lịch, chất lượng dịch vụ và kết quả cuối cùng là ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh, đến sự tăng trưởng du lịch đứng từ góc độ kinh tế Như vậy chất lượng cao của đội ngũ lao động không chỉ là yếu

tố thu hút khách, nâng cao uy tín của ngành, của đất nước mà còn là một yếu tố quan trọng trong cạnh tranh thu hút khách, đảm bảo sự phát triển du lịch bền vững và được coi là một trong những dấu hiệu quan trọng để nhận biết sự phát triển bền vững của du lịch

- Đầu tư cho du lịch: Đối với bất kỳ ngành kinh tế nào, đầu tư luôn là đòn bẩy

thúc đẩy sự tăng trưởng của ngành kinh tế đó Các nguồn vốn đầu tư tồn tại dưới hai dạng là các nguồn vốn huy động và các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Nếu như các nguồn vốn đầu tư trong nước, đặc biệt là các nguồn vốn huy động trong nhân dân để phát triển các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ, có tác dụng làm phong phú thêm các loại hình dịch vụ và tạo công ăn việc

Trang 20

làm, tránh rủi ro… thì các nguồn vốn đầu tư nước ngoài lại có vai trò như đòn bẩy, thúc đẩy sự phát triển của ngành du lịch nói riêng và nền kinh tế nói chung

Trong một khoảng thời gian nghiên cứu xác định (có thể là 5 năm, 10 năm) mức độ biến đổi của các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào du lịch sẽ cho chúng ta những nhận định cơ bản về tương lai phát triển của ngành Trong đó tỷ số “K” sẽ là dấu hiệu nhận biết về tính bền vững của ngành du lịch đứng ở góc độ đảm bảo vốn đầu tư cho phát triển

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào du lịch

K = -

Tổng lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nền kinh tế

Phát triển kinh tế trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi có sự thích nghi nhanh đối với những thay đổi bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan để hạn chế được những rủi ro Điều này có thể thực hiện được nhờ việc phát triển hệ thống các doanh nghiệp vừa và nhỏ Với tư cách là một ngành kinh tế, hoạt động phát triển du lịch cần quan tâm đến vấn đề này để đảm bảo sự phát triển bền vững đứng ở góc độ kinh tế Điều này càng có ý nghĩa đối với những quốc gia đang phát triển, nơi năng lực quản lý ở quy mô quốc gia còn nhiều hạn chế Đầu tư mang tính địa phương sẽ hạn chế được tỷ lệ “rò rỉ” lợi nhuận du lịch Ngoài ý nghĩa về mặt kinh tế, việc phát triển hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ còn có ý nghĩa về xã hội, tạo điều kiện để một bộ phận lớn người lao động địa phương có việc làm Bên cạnh đó, đây còn là môi trường thu hút được nguồn lực to lớn của xã hội cho phát triển du lịch, phù hợp với tính chất xã hội hóa cao của du lịch, đảm bảo sự phát triển bền vững

Ngoài việc xem xét đến nguồn và giá trị vốn đầu tư, trên quan điểm phát triển bền vững, đối tượng đầu tư (cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất phục vụ du lịch, tôn tạo tài nguyên, bảo vệ môi trường, đào tạo nguồn nhân lực…) cũng là yếu

tố quan trọng cần được đánh giá và xem xét như một dấu hiệu quan trọng của

Trang 21

phát triển bền vững Việc xem xét, đánh giá dấu hiệu này có thể thông qua các chỉ tiêu về tỷ lệ vốn đầu tư cho tôn tạo tài nguyên, bảo vệ môi trường trong một

dự án hoặc tỷ lệ các khu, điểm du lịch của một địa phương được đầu tư tôn tạo, bảo vệ Khu vực nào, quốc gia nào càng có nhiều các khu, điểm du lịch được đầu tư bảo vệ, tôn tạo chứng tỏ hoạt động phát triển du lịch ở khu vực, quốc gia

đó càng gắn với mục tiêu phát triển bền vững Theo WTO, nếu tỷ số này vượt

quá 50% thì hoạt động du lịch được xem là trong trạng thái phát triển bền vững

Thêm vào đó, trong việc đầu tư, ngoài nguồn đầu tư từ Nhà nước hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng, nguồn đầu tư quan trọng là từ thu nhập du lịch Nguồn đầu tư này càng lớn càng chứng tỏ được ý thức của ngành du lịch đối với tầm quan trọng của phát triển bền vững Chính vì vậy quy mô đầu tư (tỷ lệ tái đầu tư) từ thu nhập du lịch sẽ được xem là dấu hiệu nhận biết quan trọng của phát triển du lịch bền vững từ góc độ đảm bảo bền vững của tài nguyên, môi trường Không những vậy, tỷ lệ doanh thu mà ngành du lịch trích lại cho cơ quan chủ quản các nguồn tài nguyên du lịch để tái đầu tư càng cao chứng tỏ khả năng phối hợp liên ngành tốt

- Tổ chức và quản lý các hoạt động phát triển du lịch: Trong quá trình tổ

chức và quản lý các hoạt động phát triển du lịch, việc xây dựng quy hoạch làm căn cứ cho triển khai thực hiện các kế hoạch phát triển cụ thể đóng vai trò quan trọng Quy hoạch là quá trình kiểm kê, phân tích các tiềm lực tài nguyên và các điều kiện có liên quan để xác định phương án phát triển phù hợp, đảm bảo việc khai thác có hiệu quả tiềm năng tài nguyên du lịch và có được các giải pháp hạn chế tác động của hoạt động phát triển đến môi trường, mang lại hiệu quả kinh tế

và xã hội Chính vì vậy số lượng (tỷ lệ) các khu, điểm du lịch được quy hoạch

sẽ là dấu hiệu nhận biết của quá trình phát triển du lịch bền vững đứng từ góc

độ đảm bảo sự bền vững về tài nguyên, môi trường cũng như từ góc độ đảm bảo

sự phát triển về kinh tế, góp phần tích cực vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội chung của khu vực

Trang 22

Việc quản lý và hạn chế những áp lực lên môi trường và các nguồn tài nguyên thông qua các biện pháp quản lý và giảm thiểu chất thải, mức độ kiểm soát các hoạt động phát triển bao gồm cả các hoạt động bảo tồn và duy trì tính

đa dạng trong đó việc duy trì các hệ sinh thái đặc hữu đang bị đe dọa Việc kiểm soát các hoạt động phát triển phục vụ mục tiêu phát triển bền vững cũng được thực hiện thông qua việc tiến hành các thủ tục đánh giá tác động môi trường tại các khu, điểm du lịch, hoặc một hình thức tương đương như các hoạt động kiểm soát chính thức về môi trường tại các khu, điểm du lịch Đây là một trong những dấu hiệu nhận biết quá trình phát triển bền vững khá quan trọng và được xác định thông qua việc xem xét có hay chưa có, thực hiện hay chưa thực hiện các biện pháp quản lý, kiểm soát trên

Phát triển du lịch bền vững phải đảm bảo xác định được cường độ hoạt động của các điểm du lịch sao cho không vượt quá ngưỡng tiêu chuẩn về môi trường, tiêu thụ năng lượng và sức chứa Việc giới hạn lượng khách đến trong một chu kỳ phát triển là một vấn đề quan trọng và cần thiết, điều này sẽ giúp cho việc duy trì và bảo vệ sự đa dạng sinh học, đảm bảo cung cấp đủ nguồn năng lượng vừa phục vụ sinh hoạt của cộng đồng vừa đảm bảo phục vụ nhu cầu

du khách

- Mức độ hài lòng của cộng đồng địa phương đối với hoạt động du lịch:

Hoạt động phát triển du lịch sẽ bền vững nếu có được sự ủng hộ của cộng đồng địa phương Chính vì vậy, mức độ hài lòng của cộng đồng đối với hoạt động du lịch sẽ phản ảnh trạng thái bền vững của hoạt động du lịch trong phát triển

Để đạt được sự hài lòng của cộng đồng, vai trò của cộng đồng phải được phát huy cũng như đem lại lợi ích cho cộng đồng, cụ thể :

+ Phát huy được vai trò của cộng đồng trong xây dựng, triển khai quy hoạch phát triển du lịch

Trang 23

+ Phát huy vai trò của cộng đồng trong giám sát thực hiện các dự án đầu

tư, phát triển du lịch trên địa bàn

+ Tăng cường quy mô và mức độ tham gia của cộng đồng vào hoạt động

du lịch

+ Nâng cao mức sống của cộng đồng nhờ có hoạt động du lịch

+ Phúc lợi xã hội chung của cộng đồng được nâng lên

Để xác định được dấu hiệu này, cần tiến hành điều tra phỏng vấn cộng đồng Kết quả điều tra sẽ là căn cứ để điều chỉnh hoạt động sao cho phát triển hoạt động du lịch mang tính bền vững hơn từ góc độ xã hội

Nếu như việc thu hút khách du lịch quốc tế chủ yếu nhằm tăng nguồn thu ngoại tệ cho nền kinh tế thì việc thu hút khách du lịch nội địa còn có ý nghĩa tạo điều kiện phân phối lại thu nhập giữa các thành phần lao động trong xã hội, góp phần tạo thêm công ăn việc làm cho xã hội, hỗ trợ tích cực cho các chương trình cứu trợ của Chính phủ như các chương trình xoá đói giảm nghèo, nâng cao nhận thức cho cộng đồng Như vậy đã góp phần quan trọng trong việc thực hiện thành công mục tiêu đặt ra của phát triển bền vững cả dưới góc độ về kinh

tế và góc độ xã hội

1.3 Các chỉ tiêu đánh giá một số cấp phân vị trong tổ chức lãnh thổ du lịch cấp tỉnh trên quan điểm phát triển bền vững

1.3.1 Chỉ tiêu đánh giá điểm du lịch

* Xác định các điểm du lịch trên địa bàn đánh giá:

Việc xác định các điểm du lịch tiêu biểu trên địa bàn nghiên cứu để tiến hành đánh giá tổng hợp trước tiên phải căn cứ vào nội dung phân tích thành phần nhằm tìm ra những khu vực chứa tài nguyên có thể phục vụ khai thác du lịch Trong những khu vực đó, dựa vào các đặc trưng của điểm du lịch và những nội dung vận dụng vào địa bàn nghiên cứu để xác định các điểm du lịch chứa tài nguyên.[13]

Trang 24

* Xác định các yếu tố đánh giá: Những nghiên cứu ứng dụng trong địa

lý du lịch thời gian qua ở Việt Nam [2], [3], [4], [9], [16]… phần lớn sử dụng 7 yếu tố trong nội dung đánh giá bao gồm: độ hấp dẫn, thời gian khai thác du lịch, sức chứa khách du lịch, độ bền vững, vị trí điểm du lịch, cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật ngành du lịch, hiệu quả kinh tế Kế thừa những nghiên cứu này, để phù hợp với đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài, tài nguyên du lịch được đánh giá theo các yếu tố sau:

- Độ hấp dẫn: gồm mức độ phong phú tài nguyên du lịch và loại hình du lịch có thể triển khai tại điểm du lịch

- Thời gian hoạt động du lịch: gồm thời gian trong năm có điều kiện khí hậu thích hợp đối với sức khoẻ con người (được xác định thông qua mối tương quan giữa nhiệt độ và độ ẩm của không khí ảnh hưởng tới sức khoẻ con người)

và thời gian triển khai tốt các hoạt động du lịch (được xác định thông qua số ngày thời tiết khô ráo thuận lợi cho tổ chức các hoạt động du lịch và số ngày có thể tiếp cận, khai thác các giá trị của tài nguyên cho việc thoả mãn các nhu cầu của khách)

- Sức chứa khách du lịch: là lượng khách tối đa có thể đón đến điểm du lịch trong cùng một thời điểm mà không làm tổn hại đến môi trường tự nhiên,

xã hội và quyền lợi của khách

- Độ bền vững: là khả năng ổn định, không bị thoái hoá của các thành phần tự nhiên, kinh tế, xã hội trước áp lực của du lịch, thiên tai hoặc các đối tượng khác

- Vị trí và khả năng tiếp cận điểm du lịch: là vị trí tương đối giữa điểm tài nguyên với nguồn khách và hệ thống đường giao thông cho phép tiếp cận điểm

du lịch (tính thời gian tiếp cận chuẩn cho phương tiện là ô tô du lịch)

- Ngoài ra trên quan điểm phát triển bền vững, đề tài đưa thêm một tiêu chí đánh giá nữa đối với các điểm du lịch là tiêu chí quản lý các hoạt động du

Trang 25

lịch: là việc quản lý toàn bộ các vấn đề liên quan đến hoạt động du lịch ở điểm

du lịch bao gồm việc quản lý khai thác tài nguyên, quản lý môi trường, quản lý các hoạt động du lịch diễn ra trong điểm du lịch… Với mục đích của đề tài, tiêu chí này với các mục đánh giá sẽ giúp chỉ ra các dấu hiệu bền vững hay chưa bền vững trong quá trình phát triển của điểm du lịch

* Xác định chỉ tiêu và cho điểm các bậc đánh giá: Mỗi yếu tố được

đánh giá theo 4 bậc (mức độ, cấp độ, hạng): rất thuận lợi, khá thuận lợi, thuận lợi trung bình, ít thuận lợi với điểm tương ứng là 4,3,2,1 Chỉ tiêu phân hạng các yếu tố chủ yếu được vận dụng từ những nghiên cứu trước đây do đã có sự thống nhất cao trong các nghiên cứu địa lý du lịch và đã tỏ ra có hiệu quả thiết thực trong đánh giá phục vụ du lịch

+ Độ hấp dẫn:

- Rất hấp dẫn (4 điểm): có trên 5 phong cảnh đẹp, hoặc có trên 5 hiện tượng, di tích tự nhiên đặc biệt; hoặc có công trình văn hoá và di tích lịch sử có tính nghệ thuật độc đáo, được công nhận là di sản văn hoá thế giới hoặc được

Bộ Văn hoá Thông tin công nhận cấp quốc gia; hoặc đáp ứng được trên 5 loại hình du lịch

- Khá hấp dẫn (3 điểm): có 3- 5 phong cảnh đẹp, hoặc có 3- 5 hiện tượng,

di tích tự nhiên đặc biệt; hoặc có công trình văn hoá và di tích lịch sử có tính nghệ thuật độc đáo, được Bộ Văn hoá Thông tin công nhận cấp quốc gia; hoặc đáp ứng được 3- 5 loại hình du lịch

- Hấp dẫn trung bình (2 điểm): có từ 1 - 2 phong cảnh đẹp, hoặc có 2 hiện tượng, di tích đặc biệt; hoặc có công trình văn hoá và di tích lịch sử có tính nghệ thuật trung bình, được Sở Văn hoá Thông tin địa phương công nhận cấp tỉnh; hoặc đáp ứng được từ 1 đến 2 loại hình du lịch

Trang 26

- ít hấp dẫn (1 điểm): có phong cảnh đơn điệu, hoặc có công trình văn hoá hoặc di tích lịch sử có ý nghĩa địa phương; chỉ đáp ứng được 1 loại hình du lịch

Tại mỗi điểm du lịch, xét cả 4 chỉ tiêu rồi cho điểm dựa vào chỉ tiêu có ý nghĩa cao nhất (cấp cao nhất) với lý do: nơi tập trung nhiều tài nguyên du lịch thì đương nhiên thu hút, hấp dẫn khách cao Tuy nhiên, nếu chỉ có một đối tượng du lịch nhưng có thể triển khai nhiều loại hình du lịch thì cũng có khả năng thu hút du khách không kém

+ Thời gian hoạt động du lịch:

- Rất dài (4 điểm): có hơn 200 ngày trong năm có thể triển khai tốt các hoạt động du lịch và trên 180 ngày trong năm có điều kiện khí hậu thích hợp nhất đối với sức khoẻ con người

- Khá dài (3 điểm): có 150- 200 ngày trong năm có thể triển khai tốt các hoạt động du lịch và 120- 180 ngày trong năm có điều kiện khí hậu thích hợp nhất đối với sức khoẻ con người

- Trung bình (2 điểm): có 100-150 ngày trong năm có thể triển khai tốt các hoạt động du lịch và 90-120 ngày trong năm có điều kiện khí hậu thích hợp nhất đối với sức khoẻ con người

- Ngắn (1 điểm): có dưới 100 ngày trong năm có thể triển khai tốt các hoạt động du lịch và dưới 90 ngày trong năm có điều kiện khí hậu thích hợp nhất đối với sức khoẻ con người

Trong việc đánh giá yếu tố này, phương pháp đánh giá đã được xác định

cụ thể: trong trường hợp số thời gian thích hợp nhất của điều kiện khí hậu đối với sức khoẻ con người và số thời gian triển khai tốt các hoạt động du lịch có khác biệt thì lấy số thời gian triển khai tốt các hoạt động du lịch làm chỉ tiêu chính để đánh giá [7] Có thể xác định thời gian có điều kiện khí hậu thích hợp

Trang 27

với sức khoẻ con người bằng giản đồ thực nghiệm về tương quan giữa nhiệt độ không khí và độ ẩm tuyệt đối trung bình của WTO

Thời gian trong năm có thể triển khai các hoạt động du lịch là thời gian của năm trừ đi những ngày có điều kiện thời tiết đặc biệt không phù hợp với hoạt động du lịch như ngày mưa, bão, sương mù, gió Tây khô nóng, tính thời vụ của tài nguyên…

+ Sức chứa:

- Rất lớn (4 điểm): có sức chứa trên 1000 người/ngày, trên 250người/lượt tham quan đối với điểm tài nguyên tự nhiên Tương ứng con số 500 người và

100 người đối với điểm tài nguyên nhân văn

- Khá lớn (3 điểm): có sức chứa 500 - 1000 người/ngày, từ 150 đến 250người/lượt tham quan đối với điểm tài nguyên tự nhiên Tương ứng con số

300 đến 500 người và 50 đến 100 người đối với điểm tài nguyên nhân văn

- Trung bình (2 điểm): có sức chứa 100 - 500 người/ngày, từ 50 đến 150người/lượt tham quan đối với điểm tài nguyên tự nhiên Tương ứng con số

100 đến 300 người và 30 đến 50 người đối với điểm tài nguyên nhân văn

- Nhỏ (1 điểm): có sức chứa dưới 100 người/ngày, dưới 50 người/lượt tham quan đối với điểm tài nguyên tự nhiên Tương ứng con số dưới 100 người

và dưới 30 người đối với điểm tài nguyên nhân văn

+ Độ bền vững:

- Rất bền vững (4 điểm): không có thành phần hoặc bộ phận tự nhiên nào

bị phá hoại, khả năng tự phục hồi cân bằng sinh thái của môi trường nhanh; công trình văn hoá lịch sử còn được bảo tồn tốt, không bị phá hoại bởi môi trường nhiệt đới ẩm và thiên tai, tài nguyên có khả năng tồn tại vững chắc trên

100 năm, hoạt động du lịch diễn ra liên tục

Trang 28

- Khá bền vững (3 điểm): có từ 1-2 thành phần hoặc bộ phận tự nhiên bị phá hoại nhưng ở mức độ không đáng kể, có khả năng tự phục hồi tương đối nhanh; công trình văn hoá lịch sử có bị phá hoại, có khả năng sửa chữa nhanh, tài nguyên có khả năng tồn tại vững chắc từ 50 đến 100 năm, hoạt động du lịch diễn ra thường xuyên

- Trung bình (2 điểm): có từ 1-2 thành phần hoặc bộ phận tự nhiên, kinh tế- xã hội bị phá hoại đáng kể, phải có sự hỗ trợ tích cực của con người mới phục hồi nhanh được; công trình văn hoá lịch sử bị phá hoại tương đối, có khả năng sửa chữa và tôn tạo lại nhưng chậm, tài nguyên có khả năng tồn tại vững chắc từ 10 đến 50 năm, hoạt động du lịch có thể bị hạn chế

- ít bền vững (1 điểm): có từ 2-3 thành phần tự nhiên bị phá hoại nặng, phải có sự hỗ trợ tích cực của con người mới phục hồi được nhưng rất chậm; công trình văn hoá lịch sử bị phá hoại nặng, khả năng phục hồi nguyên trạng kém, tài nguyên có khả năng tồn tại vững chắc dưới 10 năm, hoạt động du lịch

Trang 29

+ Quản lý các hoạt động du lịch:

- Tốt (4 điểm): điểm du lịch có ban quản lý riêng với chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn rõ ràng, Ban quản lý hoạt động có kế hoạch, quản lý với hiệu quả cao các hoạt động kinh doanh du lịch bao gồm quản lý khách du lịch, quản lý việc thu phí tham quan, việc vận chuyển khách, việc kinh doanh lữ hành, cơ sở lưu trú, dịch vụ ăn uống, dịch vụ bán hàng lưu niệm, an ninh trật tự trong khu

du lịch, các hoạt động văn hoá trong khu du lịch, đầu tư xây dựng trong khu du lịch, môi trường trong khu du lịch, phối hợp với sự quản lý của chính quyền địa phương về quản lý lãnh thổ, quản lý lao động và trật tự an toàn xã hội khu vực khai thác… kiểm soát được mức độ khai thác tài nguyên du lịch, có kế hoạch

và thực hiện tốt nhiệm vụ tôn tạo và bảo vệ tài nguyên, có và thực hiện tốt các biện pháp bảo vệ và quản lý môi trường

- Khá (3 điểm): điểm du lịch chưa có ban quản lý riêng song chính quyền địa phương bao quát quản lý cả lãnh thổ đồng thời quản lý có hiệu quả các hoạt động kinh doanh du lịch Tài nguyên du lịch được đầu tư tôn tạo và bảo vệ thường xuyên, có và thực hiện biện pháp bảo vệ và quản lý môi trường nhưng chưa thường xuyên

- Trung bình (2 điểm) : điểm du lịch chưa có ban quản lý riêng song chính quyền địa phương bao quát quản lý cả lãnh thổ đồng thời quản lý được một số hoạt động kinh doanh du lịch Tài nguyên du lịch được đầu tư tôn tạo và bảo vệ nhưng chưa thường xuyên, không có hoặc chưa thực hiện biện pháp bảo

vệ và quản lý môi trường

- Chưa tốt (1 điểm): điểm du lịch chưa có ban quản lý riêng và chính quyền chỉ quản lý về mặt lãnh thổ, các hoạt động kinh doanh du lịch chưa được quản lý, tài nguyên không được đầu tư tôn tạo và bảo vệ, không có hoặc chưa thực hiện biện pháp bảo vệ và quản lý môi trường

Trang 30

* Chọn hệ số của các yếu tố và đánh giá tổng hợp điểm du lịch: Các

yếu tố đánh giá tổng hợp tài nguyên có tầm quan trọng khác nhau đối với các lãnh thổ du lịch và mục tiêu đánh giá, do vậy, các yếu tố có ý nghĩa rất quan trọng được chọn hệ số 3 bao gồm: độ bền vững, độ hấp dẫn của tài nguyên, quản lý các hoạt động du lịch; các yếu tố có ý nghĩa quan trọng được tính hệ số

2 bao gồm: sức chứa khách du lịch, vị trí và khả năng tiếp cận của điểm du lịch; yếu tố có ý nghĩa ít quan trọng hơn là thời gian hoạt động du lịch tại các điểm

du lịch được tính hệ số 1

Điểm của từng tiêu chí là điểm của bậc đánh giá nhân với hệ số Điểm đánh giá tổng hợp điểm du lịch là tổng số điểm của các tiêu chí Căn cứ vào điểm đánh giá tổng hợp có thể xác định điểm du lịch có ý nghĩa giá trị quốc tế, quốc gia, vùng và địa phương

Bảng 1.1: Đánh giá tổng hợp điểm tài nguyên du lịch

- Điểm du lịch có ý nghĩa giá trị quốc tế và quốc gia: từ 43 đến 56 điểm

- Điểm du lịch có ý nghĩa giá trị vùng: từ 29 đến 42 điểm

- Điểm du lịch có ý nghĩa giá trị địa phương: từ 14 đến 28 điểm

Trang 31

1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá cụm du lịch

* Xác định các chỉ tiêu và cho điểm các bậc đánh giá: Trong tổ chức

lãnh thổ du lịch cấp địa phương thì cụm du lịch là một tổ chức trung gian có vai trò quan trọng trong việc định hướng khai thác và sử dụng tài nguyên Việc đánh giá tổng hợp cụm du lịch dựa trên kết quả đánh giá các tiêu chí bao gồm: hiệu quả khai thác, tính hấp dẫn, cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật

* Hiệu quả khai thác: thể hiện qua các chỉ tiêu khách du lịch đến cụm

cũng như doanh thu du lịch của cụm Tiêu chí này là hệ quả của các tiêu chí khác nên được gán cho hệ số 3 Các bậc đánh giá của tiêu chí này và điểm từng bậc như sau:

+ Hiệu quả khai thác rất cao (4 điểm): Các điểm du lịch trong cụm được đầu tư khai thác mang lại nguồn khách lớn với mức tăng trưởng khách và doanh thu của toàn cụm đạt trên 10% năm

+ Hiệu quả khai thác cao (3 điểm): Các điểm du lịch trong cụm được đầu

tư khai thác mang lại nguồn khách lớn với mức tăng trưởng khách và doanh thu của toàn cụm đạt từ 7 đến 10% năm

+ Hiệu quả khai thác trung bình (2 điểm): Các điểm du lịch trong cụm được đầu tư khai thác, mức tăng trưởng khách và doanh thu của cụm từ 3 đến 6% năm

+ Hiệu quả khai thác thấp (1 điểm): nguồn khách của cụm không lớn, mức tăng trưởng khách và doanh thu trên toàn cụm đạt dưới 3% năm

* Tính hấp dẫn: biểu hiện ở việc có tài nguyên du lịch đặc sắc, điển hình

và phân bố tập trung, trong đó có điểm du lịch có sức hấp dẫn cao đối với khách

du lịch Cụm du lịch nào có nhiều điểm tài nguyên du lịch đặc sắc thì khả năng thu hút khách càng cao, do đó tiêu chí này được gán hệ số 2 Các bậc đánh giá của tiêu chí này và điểm từng bậc như sau:

Trang 32

+ Tính hấp dẫn rất cao (4 điểm): có tài nguyên du lịch đặc sắc, điển hình

và phân bố rất tập trung trong vòng bán kính 50km, trong đó có ít nhất 3 điểm

du lịch có sức hấp dẫn cao đối với khách du lịch

+ Tính hấp dẫn cao (3 điểm): có tài nguyên du lịch đặc sắc, điển hình và phân bố khá tập trung trong vòng bán kính 50km, trong đó có ít nhất 2 điểm du lịch có sức hấp dẫn cao đối với khách du lịch

+ Tính hấp dẫn trung bình (2 điểm): có tài nguyên du lịch đặc sắc, điển hình và phân bố tập trung trong vòng bán kính 50km, trong đó có ít nhất 1 điểm

du lịch có sức hấp dẫn cao đối với khách du lịch

+ Tính hấp dẫn thấp (1 điểm): có tài nguyên du lịch đặc sắc và phân bố tập trung trong vòng bán kính 50km, các điểm du lịch trong cụm có sức hấp dẫn đối với khách du lịch

* Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch: biểu hiện ở

việc có cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật đảm bảo khả năng phục vụ khách du lịch và tạo tiền đề phát triển du lịch của cụm Tiêu chí này đƣợc gán cho hệ số 1 Các bậc đánh giá của tiêu chí này và điểm từng bậc nhƣ sau:

+ Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật rất tốt (4 điểm): cơ sở hạ tầng đến các điểm du lịch trong cụm thuận lợi, cơ sở vật chất kỹ thuật đáp ứng đƣợc với mức độ cao nhu cầu của khách

+ Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật tốt (3 điểm): cơ sở hạ tầng đến các điểm du lịch trong cụm khá thuận lợi, cơ sở vật chất kỹ thuật đáp ứng đƣợc với mức độ khá nhu cầu của khách

+ Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật trung bình (2 điểm): cơ sở hạ tầng đến các điểm du lịch trong cụm thuận lợi trung bình, cơ sở vật chất kỹ thuật đáp ứng đƣợc với mức độ trung bình nhu cầu của khách

Trang 33

+ Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật chưa tốt (1 điểm): cơ sở hạ tầng đến các điểm du lịch trong cụm ít thuận lợi, cơ sở vật chất kỹ thuật đáp ứng được với mức độ thấp nhu cầu của khách

* Đánh giá tổng hợp cụm du lịch : Điểm đánh giá tổng hợp cụm du lịch

là tổng số điểm của từng tiêu chí được xác định qua việc nhân hệ số với bậc số của từng tiêu chí

- Cụm du lịch khai thác có hiệu quả cao: từ 19 đến 24 điểm

- Cụm du lịch khai thác có hiệu quả: từ 13 đến 18 điểm

- Cụm du lịch tiềm năng: từ 6 đến 12 điểm

1.4 Sự phát triển du lịch bền vững trên thế giới

Nhiều nước trên thế giới đã tiến hành nghiên cứu về vấn đề phát triển du lịch bền vững từ những năm 80, đặc biệt là các quốc gia sớm có định hướng xác định du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn Các nghiên cứu này được tiến hành theo hai hướng:

Trang 34

- Nghiên cứu một cách tổng thể những vấn đề đặt ra liên quan đến phát triển du lịch bên vững trên quy mô quốc gia rồi sau đó tiến tới xây dựng các mô hình điểm về du lịch bền vững như ở Australia, Mỹ, Malaysia [22]

- Dựa trên việc xây dựng các mô hình điểm về phát triển du lịch bền vững để rút kinh nghiệm xây dựng các chính sách triển khai trên toàn quốc như

ở Nepal, Ecuado, Senegal [22]

1.5 Du lịch Việt Nam với phát triển bền vững

Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam 1995 – 2010 (đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt) đã xác định sơ đồ tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam bao gồm 3 vùng du lịch : vùng du lịch Bắc bộ, vùng du lịch Bắc Trung bộ

và vùng du lịch Nam Trung bộ và Nam bộ Trong đó 2 vùng du lịch là Bắc bộ

và Bắc Trung bộ chỉ bao gồm 4 cấp phân vị là điểm du lịch, trung tâm du lịch, tiểu vùng du lịch và đến vùng du lịch Riêng vùng du lịch Nam Trung bộ và Nam bộ bao gồm đủ 5 cấp phân vị của vùng du lịch Ngoài 4 cấp như hai vùng trên, vùng du lịch Nam Trung bộ và Nam bộ được xác định có thêm cấp á vùng

du lịch và bao gồm hai á vùng: á vùng Nam Trung bộ và á vùng Nam bộ á vùng Nam Trung bộ được xác định có đủ các điều kiện về mặt tài nguyên và cơ

sở vật chất kỹ thuật để hình thành một vùng du lịch Tuy nhiên, trong số các điều kiện cần thiết của một vùng du lịch thì việc có trung tâm tạo vùng đủ mạnh

để chi phối hoạt động du lịch của cả vùng là điều kiện mang tính quyết định thì

á vùng này lại chưa có do trung tâm du lịch của á vùng này chưa có đủ điều kiện, đặc biệt là cơ sở hạ tầng với nòng cốt là sân bay quốc tế để trở thành trung tâm gửi khách của á vùng Dự báo á vùng này sẽ trở thành vùng du lịch khi hội

đủ những yêu cầu cần thiết, đặc biệt là sân bay quốc tế Đồng thời, khi á vùng này đủ điều kiện để trở thành một vùng du lịch độc lập thì á vùng Nam bộ cũng trở thành một vùng du lịch độc lập do không còn phải chia sẻ trung tâm du lịch thành phố Hồ Chí Minh với á vùng Nam Trung bộ nữa Dự báo này được đưa ra dựa trên cơ sở phân tích các điều kiện để phát triển du lịch ở khu vực này bao

Trang 35

gồm tài nguyên du lịch, các yếu tố cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục

vụ phát triển du lịch Các phân tích và dự báo này phù hợp với yêu cầu về phân

kỳ phát triển đối với các không gian du lịch khác nhau trong một lãnh thổ

Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam, quy hoạch tổng thể phát triển du lịch các vùng, các trung tâm du lịch và các địa phương, đặc biệt là Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010 đã xác định các trọng điểm phát triển du lịch của quốc gia, của từng vùng, của từng địa phương trên

cơ sở phân tích giá trị và sự phân bố tài nguyên du lịch Từ các phân tích này, các trọng điểm ưu tiên đầu tư khai thác phát triển du lịch được xác định đã làm nổi bật các không gian với mức độ ưu tiên khác nhau trong tổ chức lãnh thổ du lịch quốc gia, vùng, trung tâm cho đến từng địa phương

Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 đã xác định địa bàn trọng điểm của du lịch Việt Nam giai đoạn này là

Hà Nội và phụ cận, Hải Phòng – Quảng Ninh, Huế - Đà Nẵng, Văn Phong - Nha Trang – Ninh Chữ - Đà Lạt, Long Hải – Vũng Tàu – Côn Đảo, thành phố

Hồ Chí Minh và phụ cận, Rạch Giá - Hà Tiên – Phú Quốc Từ các địa bàn trọng điểm này, các khu du lịch trọng điểm cũng được xác định trong Chiến lược và trong quy hoạch tổng thể phát triển du lịch các trung tâm, các tỉnh trong địa bàn Các khu du lịch trọng điểm quốc gia được xác định trong Chiến lược bao gồm: Khu du lịch tổng hợp Hạ Long – Cát Bà (Quảng Ninh - Hải Phòng), Khu

du lịch văn hoá Hương Sơn (Hà Tây), Khu du lịch văn hoá - sinh thái Tam Cốc – Bích Động (Ninh Bình), Khu du lịch tổng hợp Lăng Cô - Bạch Mã (TT-Huế), Khu du lịch tổng hợp Văn Phong - Đại Lãnh (Khánh Hoà), Khu du lịch tổng hợp Đankia – Suối Vàng (Lâm Đồng), Khu du lịch tổng hợp Long Hải – Phước Hải (Bà Rịa – Vũng Tàu), Khu du lịch tổng hợp đảo Phú Quốc (Kiên Giang)…

Các phân tích tổng hợp về tài nguyên du lịch Việt Nam trong các đề tài nghiên cứu khoa học, trong các dự án phát triển cho thấy tiềm năng tài nguyên

du lịch Việt Nam rất phong phú và đa dạng Tuy nhiên, các dự án, các kế hoạch

Trang 36

phát triển du lịch, đặc biệt trong thời gian gần đây đã chú trọng đến việc bảo tồn tài nguyên cho mục tiêu phát triển lâu dài Do vậy, một số nguồn tài nguyên có giá trị cao đối với du lịch nhưng nhạy cảm với các tác động của quá trình phát triển đã được đưa vào không gian bảo tồn nghiêm ngặt, hoặc có kế hoạch khai thác giới hạn, hoặc đưa vào không gian có mức độ ưu tiên đầu tư phát triển thấp như các Vườn quốc gia, các Khu bảo tồn thiên nhiên, các Khu bảo vệ sinh cảnh, các Khu bảo tồn biển, các Khu di sản Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành

“Cơ sở khoa học phát triển du lịch sinh thái Việt Nam” đã phân tích các giá

trị cho du lịch của các hệ sinh thái đa dạng và phong phú của Việt Nam và đưa

ra các nguyên tắc cho phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam Việc phân khu chức năng trong các Vườn quốc gia, các Khu bảo tồn thiên nhiên … quy định

về tính toán cũng như đảm bảo sức chứa trong khu du lịch, quy định về xây dựng cơ sở hạ tầng cũng như cơ sở vật chất kỹ thuật trong phạm vi các Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên … cũng được đề xuất trong báo cáo nghiên cứu đề tài

Trong các dự án phát triển du lịch ở các Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên, các bãi biển, các khu di tích lịch sử văn hoá, các bản làng dân tộc

ít người các nguyên tắc về loại hình du lịch, loại hình dịch vụ, về xây dựng hạ tầng nhằm hạn chế tác động của hoạt động du lịch đến môi trường và tài nguyên đã được chú trọng Một trong những nguyên tắc quy định cho tất cả các

dự án khai thác tài nguyên cho phát triển du lịch là phải có đánh giá tác động môi trường với các phân tích, dự báo và biện pháp khắc phục cụ thể cho từng

dự án khi phê duyệt Hiện nay, các dự án phát triển du lịch trong các Vườn quốc gia, các Khu bảo tồn thiên nhiên, các khu dự trữ sinh quyển đều tập trung đầu

tư phát triển du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng như các dự án phát triển du lịch sinh thái ở khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ, các Vườn quốc gia Hoàng Liên, Cát Bà, Ba Bể, Bạch Mã, Chư Yang Sin, Yok Don, Tràm Chim, Phú Quốc

Trang 37

Tổ chức lãnh thổ và xác định các loại hình du lịch ưu tiên đang dần hướng tới cộng đồng dân cư còn nhiều khó khăn trong đời sống như ở các vùng nông thôn, vùng núi và hải đảo xa xôi Biểu hiện rõ rệt nhất là những loại hình

du lịch thân thiện với môi trường đồng thời khai thác các giá trị tự nhiên và nhân văn ở các vùng sâu, vùng xa, góp phần phát triển du lịch và nâng cao đời sống cộng đồng dân cư như du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái ngày càng được chú trọng và phát triển rộng rãi Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 1995 -2010 đã xác định sản phẩm du lịch đặc trưng của các vùng du lịch bao gồm: vùng du lịch Bắc bộ là du lịch văn hoá kết hợp với du lịch sinh thái, tham quan, nghỉ dưỡng; vùng du lịch Bắc Trung bộ là du lịch tham quan các di tích văn hoá - lịch sử kết hợp với du lịch biển, hang động và du lịch quá cảnh; vùng Nam Trung bộ và Nam bộ chia thành 2 á vùng trong đó á vùng Nam Trung bộ là du lịch tham quan, nghỉ dưỡng biển và núi, á vùng Nam bộ là du lịch sông nước và du lịch sinh thái Trên cơ sở đó, các quy hoạch phát triển du lịch các vùng, các trung tâm du lịch và đặc biệt là các địa phương đã đề xuất các

dự án xây dựng và phát triển các khu du lịch sinh thái, khu du lịch sinh thái kết hợp nghỉ dưỡng, khu du lịch sinh thái kết hợp văn hoá… Một số khu du lịch sinh thái ở Việt Nam đã và đang khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch

và đóng góp cho sự phát triển cộng đồng Trong đó đáng kể là hai khu du lịch sinh thái được tổ chức du lịch thế giới đánh giá là khu du lịch sinh thái bền vững của thế giới bao gồm: khu du lịch Vàm Sát (Cần giờ- TP Hồ Chí Minh)

và khu du lịch suối nước nóng Bình Châu (Xuyên Mộc – Vũng Tàu)

Điều này đã góp phần nâng cao đời sống cộng đồng dân cư, giảm tác động của lối sống lạc hậu lên môi trường và tài nguyên, tăng ý thức bảo vệ tài nguyên và môi trường của cộng đồng

Trang 38

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI TÂY BẮC VIỆT NAM

2.1 Tiềm năng phát triển du lịch của vùng

2.1.1 Vị trí địa lý

Vùng Tây Bắc chính thức gồm 4 tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu và có thêm một phần hữu ngạn sông Hồng của hai tỉnh là Lào Cai và Yên Bái

Diện tích tự nhiên: 3.610.140 ha, chiếm 10% diện tích cả nước

Dân số (1995): 2.088 nghìn người, chiếm 2,82% dân số cả nước

Tây Bắc có vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng vì có đường biên giới chung với Trung Quốc và Lào dài 870 km

Là vùng đầu nguồn xung yếu của sông Đà, nơi có các nhà máy thuỷ điện lớn của cả nước, mái nhà xanh của đồng bằng Bắc Bộ

Giải biên giới có các cửa khẩu lớn, là các cửa khẩu ra vào quan trọng để giao lưu hàng hoá, phát triển kinh tế hiện tại cũng như tương lai trong những năm tới

Tây Bắc nằm gần các vùng đông dân, tiềm lực khoa học, công nghệ, khoáng sản và nguồn nhân lực lớn là đồng bằng sông Hồng, Đông Bắc và Bắc Trung

Bộ, đây là điều kiện thuận lợi để Tây Bắc phát triển kinh tế

2.1.2 Địa hình

Núi cao, dốc lớn, chia cắt mạnh, phần lớn lãnh thổ là núi cao và núi trung bình với nhiều đỉnh núi cao từ 2090 - 3080m Xen kẽ giữa các dãy núi cao là sông, suối, thung lũng hẹp, làm cho đất đai bị chia cắt mạnh, hiếm có những giải đất bằng rộng và liền nhau, gây ra nhiều trở ngại trong việc bố trí sản xuất Việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng (giao thông, thuỷ lợi, xây dựng ) rất tốn kém nhưng hiệu quả phát huy thấp, việc giao lưu kinh tế, đi lại giữa các huyện,

Trang 39

tỉnh trong vùng và ngoài vùng gặp rất nhiều khó khăn, nhiều khi còn gây ra hậu quả nghiêm trọng, lũ quét, sụt đất đã diễn ra trong mấy năm vừa qua ở Lai Châu và Sơn La gây thiệt hại nhiều tỷ đồng tài sản của Nhà nước và của nhân dân

2.1.3 Điều kiện khí hậu không đến mức khắc nghiệt như các vùng khác,

nhưng cũng có những yếu tố khí hậu bất thuận lợi như gió nóng, mưa đá vào mùa hè, sương muối, băng giá vào mùa đông ở thung lũng, núi cao, gây ra những hiệu quả xấu cho sản xuất và đời sống

2.1.4 Kinh tế Tây Bắc vẫn phát triển chậm so với nhiều vùng trong cả

nước, đang đứng trước nhiều khó khăn gay gắt Tổng GDP năm 1995 mới chiếm 1,73% so với cả nước, GDP/người chỉ bằng 61,1% so với mức trung bình của cả nước, tỷ lệ huy động ngân sách và tích luỹ đầu tư từ GDP đều thấp so với cả nước Thu không đủ chi, tỉnh thu ngân sách cao nhất như Hoà Bình cũng mới đảm bảo được 49% của chi, còn tỉnh thu thấp như Lai Châu chỉ đảm bảo được 15% của chi thường xuyên, số ngân sách thiếu hụt phải trông chờ Trung Ương viện trợ Cơ cấu kinh tế chuyển đổi chậm, tỷ trọng nông lâm nghiệp còn chiếm lớn (59%), công nghiệp, xây dựng, dịch vụ chiếm có 29,7% Công nghiệp vùng quá nhỏ bé (trừ thủy điện Hòa Bình) nên chưa có tác động nhiều đến nông - lâm nghiệp Số lượng, giá trị hàng hoá xuất ra khỏi vùng còn ít, chủ yếu là xuất nguyên liệu, số lượng mặt hàng ít, sức cạnh tranh kém, sản xuất nông lâm nghiệp tuy có tiến bộ nhưng vẫn còn lạc hậu so với nhiều vùng, phương thức canh tác nương rẫy, chọc lỗ bỏ hạt vẫn còn tồn tại trong một số dân tộc, nên năng suất nông nghiệp còn thấp, chỉ bằng 40 - 50 % so với mức trung bình của cả nước Phân công lao động chưa có chuyển biến tích cực, lao động nông lâm nghiệp còn chiếm tới 85,4%, là vùng đất rộng, người thưa nhưng còn tới 9,3% lao động chưa bố trí được việc làm, ở một số vùng nông thôn rộng lớn các ngành thương mại dịch vụ chưa phát triển Những nơi có cửa khẩu, việc lợi dụng phát huy còn yếu Các ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm

Trang 40

hoạt động yếu; du lịch tuy có tiềm năng nhưng chưa được phát huy đầy đủ Công tác giáo dục, y tế văn hóa, xã hội còn nhiều yếu kém đây đang là những vấn đề nổi cộm cần quan tâm Đời sống nhân dân vùng sâu, xa, biên giới còn nhiều khó khăn, phân hóa giàu nghèo rõ rệt Số hộ đói nghèo còn nhiều (toàn vùng tới trên 40%, vùng cao xa 70%), số người mù chữ chiếm trên 50% dân số, các vùng cao, xa chiếm trên 80%, tệ nạn nghiện hút, cờ bạc, mê tín còn nhiều là những khó khăn trở ngại lớn cho quá trình phát triển

2.1.5 Trình độ dân trí nhìn chung còn rất thấp và không đồng đều giữa

các dân tộc và giữa các tiểu vùng, dân tộc Kinh, dân tộc Thái trình độ dân trí có khá hơn Số người được đào tạo là người các dân tộc ít người còn quá ít, trình

độ văn hoá giữa các dân tộc cũng khá chênh lệch, người Kinh hầu như không còn người mù chữ, số người có trình độ văn hoá cấp một, cấp hai cũng tương đối nhiều, còn chiếm khoảng 70 - 80%, số có trình độ văn hoá cấp I, cấp II thì rất ít Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên vẫn ở mức cao (3,1% năm) Hiện nay còn 49,6% số người trong độ tuổi lao động còn mù chữ, số người được đào tạo có trình độ cao đẳng và đại học so với cả nước chỉ chiếm 1,7%, đang là trở ngại lớn trong quá trình đổi mới và tiếp thu khoa học, kĩ thuật, chuyển giao công nghệ vào sản xuất và phát triển kinh tế xã hội của vùng

2.1.6 Cơ s hạ tầng hết sức yếu kém, về đường giao thông, có 1300 km

đường quốc lộ chạy qua, lòng đường tương đối rộng và nền đường phần lớn đã được cứng hoá bằng đá, nhưng mặt đường rất xấu, phần lớn là đá, đất trộn với nhau rải lổn nhổn, xe cộ đi lại hết sức khó khăn, tỷ lệ mặt đường rải nhựa chỉ chiếm khoảng 9% Đường tỉnh, đường huyện, đường xã thì phần lớn là đường hẹp, nền, mặt đường hầu hết là bằng đất gồ ghề đi lại khó khăn trong tất cả các mùa Giao thông nông thôn chậm phát triển, đến nay vẫn còn trên 40 xã chưa có đường ôtô vào được đến trung tâm Giao thông tuyến trục dọc còn thiếu và xấu nhưng cũng còn đi lại được, các trục giao thông tuyến ngang thì hầu như chưa phát triển nên việc giao lưu kinh tế và sự đi lại của nhân dân trong vùng với

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2: Đánh giá tổng hợp cụm du lịch - Một số giải pháp góp phần xây dựng và phát triển du lịch bền vững ở Tây Bắc Việt Nam
Bảng 1.2 Đánh giá tổng hợp cụm du lịch (Trang 33)
Hình thức quần cư và kiến trúc nhà ở: Một trong những bản sắc văn hoá - Một số giải pháp góp phần xây dựng và phát triển du lịch bền vững ở Tây Bắc Việt Nam
Hình th ức quần cư và kiến trúc nhà ở: Một trong những bản sắc văn hoá (Trang 49)
Hình 2.1: Cơ cấu khách du lịch đến Hoà Bình - Một số giải pháp góp phần xây dựng và phát triển du lịch bền vững ở Tây Bắc Việt Nam
Hình 2.1 Cơ cấu khách du lịch đến Hoà Bình (Trang 61)
Hình 2.2: Cơ cấu doanh thu du lịch Hoà Bình năm 2004 - Một số giải pháp góp phần xây dựng và phát triển du lịch bền vững ở Tây Bắc Việt Nam
Hình 2.2 Cơ cấu doanh thu du lịch Hoà Bình năm 2004 (Trang 63)
Hình 2.3: Tỷ trọng GDP du lịch trong ngành thương mại dịch vụ   của tỉnh Hoà Bình năm 2004 - Một số giải pháp góp phần xây dựng và phát triển du lịch bền vững ở Tây Bắc Việt Nam
Hình 2.3 Tỷ trọng GDP du lịch trong ngành thương mại dịch vụ của tỉnh Hoà Bình năm 2004 (Trang 64)
Bảng 2.1: Hiện trạng cơ sở lưu trú  tỉnh Hoà Bình theo qui mô năm 2004 - Một số giải pháp góp phần xây dựng và phát triển du lịch bền vững ở Tây Bắc Việt Nam
Bảng 2.1 Hiện trạng cơ sở lưu trú tỉnh Hoà Bình theo qui mô năm 2004 (Trang 65)
Bảng 2.2:  Tỷ lệ lao động trong ngành du lịch theo cơ cấu trình độ - Một số giải pháp góp phần xây dựng và phát triển du lịch bền vững ở Tây Bắc Việt Nam
Bảng 2.2 Tỷ lệ lao động trong ngành du lịch theo cơ cấu trình độ (Trang 68)
Bảng 2.3: Tình hình cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch Sơn la - Một số giải pháp góp phần xây dựng và phát triển du lịch bền vững ở Tây Bắc Việt Nam
Bảng 2.3 Tình hình cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch Sơn la (Trang 74)
Bảng 2.5: Tình hình lao động của nghành du lịch Sơn la. - Một số giải pháp góp phần xây dựng và phát triển du lịch bền vững ở Tây Bắc Việt Nam
Bảng 2.5 Tình hình lao động của nghành du lịch Sơn la (Trang 78)
Bảng 2.7: Một số chỉ tiêu chính của hoạt động du lịch - Một số giải pháp góp phần xây dựng và phát triển du lịch bền vững ở Tây Bắc Việt Nam
Bảng 2.7 Một số chỉ tiêu chính của hoạt động du lịch (Trang 79)
Bảng  2.10:    Số  doanh  nghiệp  hoạt  động  trong  lĩnh  vực  du  lịch  giai  đoạn 2001 – 2005 - Một số giải pháp góp phần xây dựng và phát triển du lịch bền vững ở Tây Bắc Việt Nam
ng 2.10: Số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch giai đoạn 2001 – 2005 (Trang 93)
Bảng 2.12 : Đầu tư cho phát triển du lịch thời kỳ 2001 - 2005: - Một số giải pháp góp phần xây dựng và phát triển du lịch bền vững ở Tây Bắc Việt Nam
Bảng 2.12 Đầu tư cho phát triển du lịch thời kỳ 2001 - 2005: (Trang 95)
Bảng 3.5: Dự báo GDP Dịch vụ phần kinh tế địa phương (Phương án chọn) - Một số giải pháp góp phần xây dựng và phát triển du lịch bền vững ở Tây Bắc Việt Nam
Bảng 3.5 Dự báo GDP Dịch vụ phần kinh tế địa phương (Phương án chọn) (Trang 103)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w