Với những giá trị và đặc điểm như vậy, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động du lịch, đặc biệt là du lịch văn hóa ở Việt Nam, mà trực tiếp là ở tỉnh An Giang trong nhiều năm qua,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN HOÀI NHÂN
KHAI THÁC NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA VĂN HÓA CHĂM NHẰM
PHỤC VỤ CHO DU LỊCH Ở AN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
Hà Nội, 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN HOÀI NHÂN
KHAI THÁC NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA VĂN HÓA CHĂM NHẰM
Trang 3MỤC LỤC
Trang DANH MỤC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ HÌNH ẢNH
MỞ ĐẦU
Chương 1 TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU
LỊCH VĂN HÓA VÀ VIỆC NGHIÊN CỨU DU LỊCH VĂN HÓA
1.1 Những vấn đề lý luận về văn hóa và du lịch văn hóa 14
1.1.3 Mối quan hệ giữa du lịch và văn hóa 25
1.1.4 Vai trò của văn hóa trong phát triển du lịch 29
1.1.5 Điều kiện để phát triển du lịch văn hóa 30
1.1.6 Các nguyên tắc khai thác và phát triển du lịch văn
1.2 Những lĩnh vực nghiên cứu của du lịch văn hóa 32
1.2.1 Vấn đề cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch văn hóa
32
1.2.2 Vấn đề thị trường và khách du lịch văn hóa 33
Trang 41.2.3 Vấn đề tổ chức, quản lý du lịch văn hóa 34
1.2.4 Vấn đề nhân lực trong du lịch văn hóa 34
1.2.5 Vấn đề tuyên truyền, quảng bá du lịch văn hóa 35
1.2.6 Vấn đề bảo tồn di sản văn hóa trong du lịch 36
1.2.7 Du lịch văn hóa và điểm đến du lịch 37
1.2.8 Du lịch văn hóa và vấn đề xây dựng sản phẩm du
1.3 Những bài học kinh nghiệm trong nghiên cứu, phát triển du
1.3.2 Những bài học kinh nghiệm của nước ngoài
Tiểu kết chương 1
41
44
Chương 2 THỰC TRẠNG KHAI THÁC VĂN HÓA CHĂM PHỤC
2.1 Giới thiệu khái quát về tỉnh An Giang và văn hóa của
người Chăm An Giang
2.2 Tìm hiểu thực trạng khai thác văn hóa Chăm trong du
2.2.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật trong hoạt động du lịch
Trang 5văn hóa Chăm 75
2.2.3 Các sản phẩm du lịch văn hóa Chăm 80
2.2.4 Thị trường và khách du lịch văn hóa Chăm An
Tổ chức quản lý du lịch văn hóa Chăm
Bảo tồn di sản văn hóa Chăm trong du lịch
108
110
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN DU
LỊCH VĂN HÓA CHĂM Ở AN GIANG
118
3.1.2 Chủ trương chính sách của tỉnh An Giang 118
3.1.3 Chiến lược phát triển du lịch An Giang 121
3.2 Những giải pháp cụ thể phát triển du lịch văn hóa Chăm
tỉnh An Giang
123
3.2.1 Giải pháp về phát triển cơ sở vật chất của du lịch
văn hóa Chăm An Giang
Trang 63.2.4 Giải pháp về nhân lực du lịch văn hóa Chăm An
Giang
131
3.2.5 Giải pháp về tăng cường, quảng bá xúc tiến du lịch
văn hóa Chăm An Giang
Trang 7DANH MỤC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT:
ĐBSCL = Đồng bằng sông cửu long
VHTT = Văn hóa thể thao
VHTT&DL = Văn hóa thể thao và du lịch
UNESCO = Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc
UBND = Ủy ban Nhân dân
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU Trang
1 Bảng 2.1 Hiện trạng khách du lịch đến An Giang giai
1 Biểu đồ 2.1 Hiện trạng khách du lịch Quốc tế đến Việt
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do mục đích chọn đề tài
Trong nền văn hóa đặc sắc, rực rỡ của người Chăm ở tỉnh An Giang, những nét truyền thống là một thiết chế văn hóa vô cùng quan trọng và nổi bật Thiết chế này được xem như sự hội tụ, kết tinh và thăng hoa của nhiều giá trị bản sắc văn hóa, thể hiện đầy
đủ, tổng hợp và thể hiện nhiều nhất đời sống sinh hoạt, văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, nghệ thuật… của cộng đồng người Chăm địa phương Đồng thời, đây cũng chính là những sinh hoạt văn hóa mang tính mở, sống động và tập trung nhất của cộng đồng này
Với những giá trị và đặc điểm như vậy, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động du lịch, đặc biệt là du lịch văn hóa ở Việt Nam, mà trực tiếp là ở tỉnh An Giang trong nhiều năm qua, các lễ hội truyền thống của người Chăm nơi đây đã trở thành một trong những yếu tố thu hút sự quan tâm đầu tiên của du khách và các đơn vị kinh doanh
du lịch khi đến với vùng đất này cũng như đến với nền văn hóa Chăm Điều đó một mặt tạo nên những nét mới trong hoạt động du lịch, đưa hoạt động du lịch văn hóa Chăm trở thành một đặc trưng rất quan trọng và mang tính tiêu biểu của địa phương Nhưng mặt khác, quan trọng hơn, hoạt động du lịch cũng có những thúc đẩy và tác động trở lại đối với văn hóa truyền thống của người Chăm và đây là một vấn đề rất quan trọng cần sớm được nghiên cứu một cách đầy đủ Có như vậy việc bảo tồn và phát huy giá trị của văn hóa Chăm nói trên mới có hiệu quả và đúng hướng Ở nước ta, ngành du lịch luôn được Nhà nước quan tâm và văn hóa dân tộc phục vụ cho hoạt động du lịch cũng đã được các nhà chuyên môn khai thác Các yếu tố văn hóa đặc sắc của từng dân tộc, từng vùng miền tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng Ở Việt Nam hiện nay du lịch văn hóa đang trở thành xu thế chủ đạo trong chiến lược phát triển du lịch Xu thế đó được thể hiện trong Nghị Quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII : “ Phát triển du lịch tương xứng với tiềm năng du lịch to lớn của đất nước theo hướng du lịch văn hóa, sinh thái môi trường xây dựng các chương trình và các điểm du lịch hấp dẫn về văn hóa, di tích lịch sử
Trang 10và khu danh lam thắng cảnh”[30, tr.194] Trong công cuộc xây dựng đất nước, Đảng và nhà nước ngay từ đầu đã xác định "Phát triển du lịch là một hướng chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế-xã hội nhằm góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước…" (chỉ thị 46/CT-TW Ban Bí Thư Trung ương Đảng khoá VII, ngày 10/1994) và "Phát triển du lịch thật sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn …" ( Văn kiện Đại hội Đảng IX và X)
An Giang là một vùng đất với sự sáng tạo của con người đã tự giữ lại trong lòng mình những tài sản vô cùng quý giá Những giá trị văn hóa ấy đã tạo cho An Giang có một vẻ đẹp riêng, một phong cách riêng Ở An Giang cũng có những tiềm năng để phát triển du lịch, đặc biệt là văn hóa dân tộc Chăm - một dân tộc có bề dày văn hóa lâu đời sống rải rác ở các tỉnh Miền Trung cho đến tận Miền Tây Nam Bộ nước ta
Chính điểm đặc biệt của An Giang với những di sản văn hóa Chăm cùng với phong cảnh thiên nhiên hữu tình, tình cảm con người nồng hậu chất phát đã tạo ra sức hấp dẫn
du lịch đặc biệt Bản sắc văn hóa độc đáo được phản ánh trong các thánh đường uy nghi
cổ kính trong sắc cảnh thiên nhiên hùng vĩ, những trường ca (Ariya) bia ký, trong các lễ hội truyền thống dân gian, trong những làng điệu dân ca đằm thắm chứa chan và vũ điệu Chăm rừng rực bốc lửa đắm say quyến rũ lòng người, hay trong cả đời sống dân dã bình
dị của một làng nghề truyền thống của dân tộc An Giang chính là điểm dừng chân hấp dẫn, gợi mở đối với du khách Do vậy, các giá trị văn hóa Chăm An Giang cần được xem xét một cách đầy đủ và khai thác một cách tốt hơn để phục vụ cho du lịch Xuất phát từ yêu cầu trên, cùng với thực tế cho đến hiện nay đây vẫn là một vấn đề còn đang bỏ ngỏ
và chưa được quan tâm đúng mức mặc dù tiềm năng du lịch văn hóa còn rất lớn
Từ những suy nghĩ và đánh giá trên, là một người làm công tác văn hóa nhìn nhận
du lịch ở góc nhìn văn hóa, tác giả luận văn mạnh dạn chọn đề tài “Khai thác những giá
trị của văn hóa Chăm nhằm phục vụ cho du lịch ở An giang” làm luận văn tốt nghiệp
Cao học du lịch Mong muốn của tác giả là cần quan tâm hơn nữa trong việc phát triển du lịch văn hóa ở An Giang và phản ánh được tính cấp thiết của việc bảo tồn, phát huy những giá trị của văn hóa Chăm gắn với việc phát triển du lịch ở An Giang hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu đề tài
Trang 11Mục đích chung
Mục đích của luận văn là tập hợp và hệ thống hóa tư liệu một cách khái quát về văn hóa Chăm An Giang Phân tích và chỉ ra những yếu tố mà văn hóa Chăm góp phần vào thúc đẩy và phát huy các giá trị văn hóa Chăm trong hoạt động du lịch của tỉnh An Giang hiện nay
Mục đích cụ thể
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
- Trình bày những lý luận cơ bản về văn hóa, du lịch, về mối quan hệ văn hóa và
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng
Đề tài hướng tới việc tìm hiểu các đặc trưng, tính chất, giá trị của văn hóa vật thể
và phi vật thể của dân tộc Chăm ở An Giang đối với ngành du lịch; thông qua các hoạt động tham quan, biểu diễn nghệ thuật, lễ hội
Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu những giá trị của văn hóa nhằm phục vụ cho phát triển du lịch ở An Giang Nhưng đề tài giới hạn vào việc xem xét, đánh giá về chất lượng của hoạt động du lịch văn hóa Chăm tại An Giang
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ trước đến nay văn hóa Chăm luôn là đối tượng nghiên cứu hấp dẫn của các nhà khoa học trong và ngoài nước Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về văn hóa Chăm đa phần tập trung đi sâu vào các công trình lịch sử, nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, âm nhạc,
Trang 12múa và một số nghi lễ tôn giáo… nhưng việc kết hợp bảo tồn, phát triển văn hóa Chăm trong khai thác và hoạt động du lịch tại An Giang chưa được tác giả nào nghiên cứu một cách toàn diện
Các công trình nghiên cứu về lễ hội dân tộc Chăm được ghi chép rải rác ở nhiều
nguồn tư liệu Từ thư tịch cổ của Trung Quốc, Việt Nam như Hán thư, Lương thư, Cựu đường thư, Nam Sử, Thuỷ kinh chú, Phủ biên tạp lục…đến những nhà thám hiểm như
Marco Polo, Linh mục Odiric de Pordenone ( Chuyến đi công du châu Á từ năm 1330) cũng có ghi chép về một số lễ hội Chăm Các nhà nghiên cứu Việt Nam như Phan
1318-Xuân Biên (Văn hóa Chăm, 1991), Ngô Văn Doanh (Văn hóa Chăm, 1994; Khi viết về
văn hóa Chăm, các tác giả đều đề cập đến lễ hội song đó chỉ là những ghi chép chung, chưa phải công trình chuyên khảo về lễ hội
Về các tháp Chăm, nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc dân tộc Chăm có các tác phẩm :
Truyền thuyết về các tháp Chăm ( Bố Xuân Hổ, 1995), Tháp Chăm sự thật và huyền thoại ( Ngô Văn Doanh, 1994)…, các tác giả đã ghi chép lại lịch sử ra đời và hiện trạng
của một số di tích tháp Chăm, phù điêu, bia ký cổ của người Chăm
Về tôn giáo tín ngưỡng người Chăm, mảng đề tài này được nhiều nhà nghiên cứu
tâm đắc Bản dịch của Đào Trọng Luỹ từ nghiên cứu của Aymonier M.E (1891)- Người Chàm và những tín ngưỡng của họ, Mah Mod (1975) với bài Bước đầu tìm hiểu về tôn giáo tín ngưỡng của người Chăm, Tôn giáo của người Chăm Việt Nam của tác giả Phan
Văn Dốp (1992), Tất cả các nghiên cứu đều được ghi chép tỉ mỉ đời sống hiện thực của dân tộc Chăm gắn chặt với tôn giáo, tín ngưỡng của họ
Về âm nhạc và múa Chăm có các tác phẩm : Nghệ thuật biểu diễn truyền thống Chăm của Tô Ngọc Canh, Lê Đông Hải (1995), Vai trò âm nhạc trong lễ hội dân gian Chăm An Giang ( 1999), Ý nghĩa dân gian hai điệu múa Chăm : múa quạt Pi diền ( múa con công) và múa Juak apui ( múa đạp lửa) – Bố Xuân Hổ (2003), Nghiên cứu của Nghệ
sỹ nhân dân Đặng Hùng (1993) - Duy trì và phát triển nghệ thuật múa truyền thống một
số dân tộc Miền Nam Việt Nam có đề cập đến múa dân gian Chăm
Các công trình nghiên cứu của các tác giả nêu trên là nguồn tư liệu quý giá, những nét chấm phá, gợi mở một cách nhìn khái quát về văn hóa Chăm Như vậy, có thể thấy
Trang 13rằng, trong các giá trị văn hóa: Tôn giáo, tín ngưỡng, lễ hội, văn học, nghệ thuật, kiến trúc của người Chăm nói chung và của người Chăm ở tỉnh An Giang nói riêng, trong những năm qua, đã được quan tâm nghiên cứu dưới nhiều phạm vi và góc độ khác nhau Tuy nhiên, việc tiếp cận một cách trực tiếp, tổng thể các giá trị văn hóa của cộng đồng người Chăm ở tỉnh An Giang khai thác trong hoạt động du lịch thì vẫn là vấn đề còn đang bỏ
ngõ và chưa được quan tâm đúng mức Luận văn “Khai thác những giá trị của văn hóa Chăm nhằm phục vụ cho du lịch ở An giang ” tác giả luận không đi sâu vào vấn đề lý
luận của văn hóa Chăm mà chỉ kế thừa những thành tựu khoa học của những nhà nghiên cứu đi trước để quan sát từng loại hình trong văn hóa Chăm, thu thập những tư liệu trong thực tế, từ đó định hướng việc khai thác, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa Chăm trong hoạt động du lịch
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Phương pháp luận
Vận dụng những hiểu biết về văn hóa, du lịch và phát triển bền vững bên cạnh những kiến thức về văn hóa dân tôc, tộc người và phát triển dân tộc, để nghiên cứu trình bày đề tài
Đề tài luận văn nhìn nhận đối tượng nghiên cứu là các giá trị văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể trong tổng thể các giá trị văn hóa Chăm tại tỉnh An Giang
Phương pháp cụ thể
Vận dụng những kiến thức được trang bị, tiếp thu qua quá trình học tập, qua tìm hiểu thực tế tại địa phương, đồng thời dựa vào nguồn tài liệu kinh điển, các văn kiện Đại hội Đảng, Nhà nước, các Chỉ thị, Nghị quyết, các báo cáo tổng kết chuyên ngành và các công trình nghiên cứu có liên quan để thực hiện luận văn qua các phương pháp chính:
- Phương pháp thu thập tài liệu (văn bản học): tìm tài liệu từ tạp chí, sách báo thư
viện, các nguồn tài liệu từ các ban ngành của tỉnh : Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Trung tâm Nghiên cứu văn hóa Chăm, Ban quản lý di tích, Tạp chí dân tộc học và một số tài liệu nghiên cứu của đồng nghiệp có liên quan về văn hóa Chăm và hoạt động du lịch
An Giang
Trang 14- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Đây là phương pháp quan trọng luôn sử
dụng, nhằm phân tích tổng hợp tài liệu, thông tin có liên quan nhằm tìm ra tính chất đặc thù, đặc trưng của địa bàn nghiên cứu, khái quát hóa, mô hình hóa các yếu tố nghiên cứu trên quan điểm phát triển bền vững
- Phương pháp miêu thuật: Tác giả đã sử dụng nghệ thuật miêu tả và thuật lại
những gì quan sát được hay nói cách khác là sự tái hiện lại những sự vật, hiện tượng, trạng thái tâm lý con người một cách chi tiết trong quá trình nghiên cứu đã chứng kiến và trải nghiệm tại địa phương
- Phương pháp thử nghiệm: Luận văn có sử dụng phương pháp thử nghiệm xây
dựng các sản phẩm du lịch, chương trình du lịch văn hóa Chăm trong việc tổ chức hoạt động du lịch từ đó đề xuất giải pháp áp dụng vào thực tế nhằm kiểm chứng hiệu quả đạt được của vấn đề được đưa ra có tính khả thi hay không
- Phương pháp xã hội học: Thống kê, điều tra, so sánh, hỏi ý kiến những nhà
nghiên cứu, những trí thức Chăm, cùng với sự quan sát cá nhân, nghiên cứu tài liệu
- Riêng phương pháp khảo sát thực địa, điều tra bảng hỏi, tác giả thực hiện khảo
sát trên mẫu có chủ định Chọn mẫu có chủ định là cách lựa chọn dựa trên cảm quan của tác giả Tuy nhiên vẫn phải đảm bảo rằng nó bao hàm được tất cả các trường hợp Tác giả tiến hành khảo sát trên 100 phiếu, trong đó: người dân địa phương là 45, khách du lịch là 55 người
- Phương pháp nghiên cứu chuyên ngành: Tác giả sử dụng phương pháp nghiên
cứu chuyên ngành du lịch học để khai thác và làm rõ nội dung về tổ chức du lịch, tư vấn,
hỗ trợ tổ chức, hướng dẫn các chương trình du lịch tới du khách tham quan
Bên cạnh các phương pháp nêu trên tác giả còn sử dụng một số phương pháp khoa học khác nhằm hỗ trợ thực hiện đề tài một cách hiệu quả nhất
6 Đóng góp của đề tài
- Phân tích, đánh giá những giá trị của văn hóa Chăm – nguồn lực cho phát triển du lịch tại tỉnh An Giang
Trang 15- Đánh giá thực trạng và đề xuất những giải pháp khả thi nhằm làm căn cứ cho việc hoạch định các chủ trương, chính sách của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Sở Văn hóa - Thể thao
và Du lịch trong việc giải quyết tốt mối quan hệ giữa văn hóa Chăm đối với sự phát triển
du lịch tại tỉnh An Giang hiện nay
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày theo bố cục gồm 3 chương:
Chương 1 Tổng quan những vấn đề lý luận về du lịch văn hóa và việc nghiên cứu du
lịch văn hóa Chăm An Giang
Chương 2 Thực trạng khai thác văn hóa Chăm phục vụ phát triển du lịch tỉnh An Giang Chương 3 Một số giải pháp góp phần phát triển du lịch văn hóa Chăm ở An Giang
Trang 16PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA VÀ VIỆC
NGHIÊN CỨU DU LỊCH VĂN HÓA CHĂM AN GIANG 1.1 Những vấn đề lý luận về văn hóa và du lịch
1.1.1 Văn hóa, văn hóa dân tộc
1.1.1.1 Khái niệm văn hóa
Từ xa xưa, hai chữ “văn hóa” đã sớm xuất hiện trong ngôn ngữ loài người, đặc biệt
ở những quốc gia được coi là cái nôi của văn minh nhân loại
Ở phương Đông, từ “văn hóa” xuất hiện rất sớm trong ngôn ngữ Trung Quốc Ngay từ trước Công nguyên, ở đời Tây Hán, trong bài “ Chi Vũ” sách “Thuyết Uyển”, Lưu Hương đã viết : “Bậc thánh nhân trị thiên hạ, trước dùng văn đức rồi sau mới dùng
vũ lực” Phàm dùng vũ lực với người bất phục tùng, dùng văn hóa không thay đổi được thì sau đó sẽ “trừng phạt” Như vậy văn hóa được dùng để đối lập với vũ lực
Ở phương Tây, trong nền văn minh cổ đại Hy Lạp, từ văn hóa (cultus) có nghĩa là trồng trọt Từ nghĩa trồng trọt dần dần biến thành gieo trồng trí tuệ, tinh thần Như vậy, trong quan niệm của người cổ đại, dù phương Đông hay phương Tây, văn hóa đã mang ý nghĩa giáo hóa con người
Như vậy, nói văn hóa là nói tới con người, nói tới việc phát huy những năng lực, bản chất của con người, nhằm hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội Do đó, khái niệm văn hóa chứa đựng bản chất nhân văn, nhân bản Cơ sở của mọi hoạt động văn hóa là khát vọng vươn tới cái chân, cái thiện, cái mỹ Có thể coi là 3 trụ cột vĩnh hằng của sự phát triển văn hóa nhân loại Chừng nào, cái chân, cái thiện, cái mỹ bị lãng quên, chừng
đó văn hóa sẽ xuống dốc
Cũng như mọi sinh thể khác trong vũ trụ, con người cũng là bộ phận của giới tự nhiên, chịu sự quy định chặt chẽ của giới tự nhiên Nhưng khác với những sinh vật khác, con người còn có một “ khoảng trời riêng”, một phần tự nhiên thứ hai do con người tạo ra bằng lao động và tri thức của mình Phần tự nhiên đó chính là văn hóa Nếu giới tự nhiên
Trang 17là cái nôi đầu tiên nuôi sống con người, thì văn hóa là cái nôi thứ hai, ở đó toàn bộ đời sống tinh thần của con người được hình thành, được nuôi dưỡng và phát triển Con người không thể tồn tại nếu tách rời giới tự nhiên, cũng như con người không thể trở thành con người nếu tách rời môi trường văn hóa
Vì văn hóa là phát huy những năng lực bản chất của con người, là sự thể hiện đầy
đủ nhất chất người, nên văn hóa có mặt ở bất cứ họat động nào của con người, dù đó là hoạt động trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội hay cách cư xử, giao tiếp…cho đến
cả những suy tư thầm kín nhất Các khái niệm như nhân cách văn hóa, văn hóa lao động, văn hóa chính trị,…đang ngày càng được sử dụng rộng rãi trong ngôn ngữ xã hội Tuy nhiên, điều đó không loại trừ sự tồn tại những lĩnh vực riêng của văn hóa, nghĩa là những hoạt động không thuộc lĩnh vực kinh tế, chính trị hay xã hội Những lĩnh vực riêng của văn hóa mà người ta nói ở đây cũng không phải chỉ là những hoạt động đang thuộc sự quản lý hành chính của nhà nước thông qua ngành văn hóa Hoạt động của ngành văn hóa
là hoạt động sản xuất ra các giá trị tinh thần nhằm giáo dục con người có khát vọng hướng tới cái chân, cái thiện, cái mỹ và khả năng sáng tạo ra chân, thiện, mỹ trong đời sống Với ý nghĩa đó, văn hóa bao gồm hoạt động về giáo dục, khoa học, văn học nghệ thuật, đạo đức, lối sống v.v
Trong bản thảo NHẬT KÝ TRONG TÙ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo
và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn" [51, Tập 3, tr.431]
Ở khái niệm trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên một số những sản phẩm do con người sáng tạo ra, trong đó có văn hóa vật thể (những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về
ăn, mặc, ở…); có văn hóa phi vật thể (ngôn ngữ, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật) Chữ “giá trị” được ẩn dưới câu “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống…nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” Những sản phẩm do con
Trang 18người phát minh ra mà Chủ tịch Hồ Chí Minh liệt kê nêu trên phải là những sản phẩm nhằm phục vụ cho con người, có nghĩa là chứa đựng những giá trị Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra một khái niệm văn hóa theo nghĩa rộng
Trong Hội nghị liên Chính phủ về các chính sách văn hóa họp năm 1970 tại
Venise, ông Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO đưa ra khái niệm:
"Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động”
[87, tr.19 - 22]
“ Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo ( của các cá nhân và các cộng đồng) trong quá khứ và hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo đó đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu – những yếu tố xác định đặc thù riêng của mỗi dân tộc”.[66, tr.14]
Đây là khái niệm được đưa ra trong bối cảnh thế giới còn có sự phân biệt văn hóa
dân tộc lớn, dân tộc nhỏ, văn hóa dân tộc này cao, dân tộc kia thấp, văn hóa dân tộc này văn minh, văn hóa dân tộc kia lạc hậu Khái niệm nêu trên có ý nghĩa chính trị rất lớn về việc khẳng định mỗi dân tộc có bản sắc riêng Quan điểm này càng được khẳng định tại tại Hội nghị quốc tế về văn hóa ở Mêxicô để bắt đầu thập kỷ văn hoá UNESCO Hội nghị này có hơn một nghìn đại biểu đại diện cho hơn một trăm quốc gia tham gia từ ngày 26/7 đến 6/8 năm 1982, người ta đã đưa ra trên 200 định nghĩa, nhìn nhận văn hóa với một ý nghĩa rộng rãi hơn, coi văn hóa như một phức thể, tổng thể các đặc trưng, diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức, tình cảm khắc họa lên một cộng đồng gia đình, làng xóm, vùng miền, quốc gia, xã hội Cuối cùng Hội nghị chấp nhận một định nghĩa như sau:
“Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền
cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng” [101, tr.24]
Trang 19Khái niệm trên vừa nói đến văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, vừa nói đến hệ giá trị và đặc biệt là nêu lên “những nét riêng biệt về văn hóa của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội” Như vậy, khái niệm trên cũng là khái niệm văn hóa theo nghĩa rộng, kèm theo đó là quan điểm công nhận mỗi dân tộc dù lớn hay nhỏ đều có bản sắc văn hóa riêng biệt Với ý nghĩa đó, văn hóa có mặt trong bất cứ hoạt động nào của con người, dù đó là hoạt động sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần, hay trong quan hệ giao tiếp ứng xử xã hội, trong thái độ đối với thiên nhiên
Theo PGS,TSKH Trần Ngọc Thêm trong “Cơ sở văn hóa Việt Nam” đã đưa ra một
định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và
tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn trong sự
tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.” [75, tr 13]
Từ những định nghĩa đã nêu, xét thấy văn hóa có phạm vi nội hàm rất rộng, nó chỉ toàn bộ những hoạt động, sáng tạo của con người về vật chất, tinh thần và ứng xử Đó là những hoạt động và sáng tạo có ích cho đời sống của con người, cho xã hội loài người và cho thế giới xung quanh Theo phân loại của UNESCO, văn hóa có các thành tố:
- Văn hóa vật thể: chỉ khía cạnh vật chất kỹ thuật của những sản phẩm do con người
sáng tạo ra, nó mang dấu ấn của một cộng đồng dân tộc trong từng thời kỳ lịch sử nhất định
Các thể loại văn hóa vật thể: di vật, cổ vật, kiến trúc cổ (chùa, đình, lăng mộ, nhà truyền thống, cung điện…)
- Văn hóa phi vật thể: là những sáng tạo của con người nhằm đáp ứng nhu cầu sinh
hoạt xã hội của con người như: tôn giáo, triết học, nghệ thuật…
Các lĩnh vực: tín ngưỡng tôn giáo, lễ hội (gồm phần lễ và phần hội), dân ca – nghệ thuật biểu diễn…
1.1.1.2 Văn hóa dân tộc
Văn hóa dân tộc được hiểu và trình bày dưới các quan niệm khác nhau:
Quan niệm thứ nhất: đó là đồng nhất văn hóa dân tộc với văn hóa của dân tộc đó, trình bày lịch sử văn hóa dân tộc chỉ như là lịch sử văn minh của riêng một dân tộc
Trang 20Quan niệm thứ hai: văn hóa dân tộc là toàn bộ văn hóa của một đất nước, cư trú trên mảnh đất quốc gia, chỉ có văn hóa từng tộc người, không có văn hóa dân tộc/quốc gia
Quan niệm thứ ba: văn hóa dân tộc là cộng đồng văn hóa dân tộc/quốc gia, đây là nền văn hóa dân tộc thống nhất trên cơ sở đa dạng sắc thái văn hóa tộc người Khái niệm dân tộc/quốc gia chỉ một quốc gia có chủ quyền, trong đó phần lớn công dân gắn bó với nhau bởi những yếu tố tạo nên một dân tộc Quan niệm thứ ba này hiện nay đang là quan niệm chiếm số đông bởi các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý trong lĩnh vực văn hóa dân tộc
Vì vậy, nội dung về văn hóa dân tộc sẽ được trình bày theo quan niệm thứ ba
1.1.2 Du lịch và du lịch văn hóa
1.1.2.1 Khái niệm về du lịch
Ngày nay, du lịch đã trở thành một hoạt động không thể thiếu trong cuộc sống hiện
đại hóa đất nước và nó cũng trở thành một nhu cầu thiết yếu của xã hội Về lợi ích kinh
tế, du lịch đã trở thành một sự bùng nổ, một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều nước trên
thế giới và Việt Nam cũng không là ngoại lệ Vậy nghĩa từ của du lịch được hiểu như thế nào trong quá trình đẩy mạnh tổ chức hoạt động này trong xã hội
Hầu hết các nhà nghiên cứu và các nhà du lịch học đều trả lời du lịch có từ thời
tiền sơ –sử, thời cổ đại, trung đại cận đại: Đi tìm kiếm ăn, đi chơi, đi thăm bạn bè, đi
công chuyện, đi ngắm cảnh lạ, ngắm sông núi, non nước, biển cả, hoặc đi xem hội
Về nguồn gốc chữ nghĩa, từ du lịch là một từ gốc Hán Theo „„hán tự tố nguyên”, thì du lịch có ý nghĩa là đi chơi và trải nghiệm đời sống „„du = đi chơi; lịch = trải
nghiệm” Như vậy, từ nghĩa gốc từ du lịch đã nói lên mục đích của du lịch không chỉ đi chơi mà còn để học hỏi và trải nghiệm Người Trung Quốc gọi tourism là du lãm với ý nghĩa là đi chơi để nhận thức Câu nói tục ngữ dân gian của Việt Nam như cũng đã đề
cập đến vấn đề này từ xưa : „„Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” cũng mang ý nghĩa
về du lịch Vậy mục đích của du lịch là để trải nghiệm, để khám phá, để tìm hiểm văn hóa, tìm biết đến cái mới hơn Để đáp ứng nhu cầu đó của du lịch người làm công tác du
Trang 21lịch cần phải được đào tạo, cần có vốn hiểu biết về văn hóa, đặc biệt là những hiểu biết về văn hóa liên quan đến du lịch như những di tích lịch sử, những phong tục tập quán, những lễ hội, tín ngưỡng dân gian, kể cả văn hóa ẩm thực, văn hóa địa phương dân cư nơi
có những điểm tham quan du lịch
Du lịch là một khái niệm rộng mang tính trừu tượng, được khái quát theo nhiều cách hiểu khác nhau của mỗi người Do đó, hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau
Còn đối với Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO) thì “Du lịch được hiểu là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến không phải là nơi làm việc của họ.”
Ở Việt Nam, dù ngành du lịch chỉ mới phát triển trong khoảng một thế kỷ nay, nhưng cũng đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau được đưa ra
Du lịch “ là (kinh tế) 1, một dạng nghỉ dưỡng sức tham quan tích cực của con người ở ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa, nghệ thuật…2, Một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài đem lại tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; du lịch có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và lao động dịch vụ tại chỗ ”…[80, tr.684]
Trang 22Du lịch “ là tổng hợp các mối quan hệ và hiện tượng bắt nguồn từ cuộc hành trình
và lưu trú tạm thời của các cá nhân tại những nơi không phải là nơi ở và nơi làm việc thường xuyên của họ Theo định nghĩa của Hunziker và Kraff ” [68, tr 7]
Sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi nhằm mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao tại chỗ trình độ nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ do các
cơ quan chuyên nghiệp cung ứng
“ Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của các nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hòi sức khỏe, nâng cao trình độ nhận thức tại chỗ
về thế giới xung quanh ”.[68, tr.14]
Du lịch nhìn chung là “ Đi chơi và Trải nghiệm” Con người biết đi từ thời tiền sử, khi đã đứng được trên hai chân Lúc đầu đi là để kiếm cái ăn, sau là đi công chuyện, đi chơi hoặc kết hợp cả hai [6, tr.20]
Tuy nhiên, quan trọng và phổ biến nhất là định nghĩa về du lịch được dùng làm căn
cứ pháp lý trong Luật Du lịch Việt Nam, được ban hành năm 2005 Theo đó, “ Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định ” [ 83, chương I, điều 4]
Bên cạnh định nghĩa du lịch, trong hoạt động nghiên cứu về lĩnh vực này còn có nhiều khái niệm quan trọng khác Đó là:
Khách du lịch/du khách (Tourist): “là khách thăm viếng, lưu trú tại một quốc gia hoặc
một vùng khác với nơi ở thường xuyên trên 24 giờ và nghỉ qua đêm tại đó với các mục đích như: nghỉ dưỡng, tham quan, thăm viếng gia đình, tham dự hội nghị, tôn giáo, thể thao.” [71,
tr 24]
Khách tham quan (Excursionist): “ là loại du khách thăm viếng lưu lại ở một nơi nào
đó dưới 24 giờ và không lưu trú qua đêm.” [71, tr 24]
Trang 23Khách du lịch quốc tế (International tourist): là những người lưu trú ít nhất là một
đêm nhưng không quá một năm tại một quốc gia khác với quốc gia thường trú với nhiều mục đích khác nhau ngoài hoạt động để được trả lương ở nơi đến
Trong trường hợp cụ thể của Việt Nam, Luật Du lịch năm 2005 xác định “ Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch.” [83, chương V, điều 34, khoản 3]
Khách du lịch nội địa/khách trong nước (Domestic tourist): là người đang sống
trong một quốc gia, không kể quốc tịch nào, đi đến một nơi khác không phải nơi cư trú thường xuyên trong quốc gia đó trong khoảng thời gian ít nhất 24 giờ và không quá một năm với các mục đích khác nhau ngoài hoạt động để được trả lương ở nơi đến
Trong trường hợp cụ thể của Việt Nam, theo Luật du lịch năm 2005, “ Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong
phạm vi lãnh thổ Việt Nam.” [83, chương V, điều 34, khoản 2]
Cộng đồng chủ (Host community): “ là cộng đồng địa phương nơi mà du lịch có
những tác động lớn nhất, cả tích cực lẫn tiêu cực Du khách không những mang đến thu nhập, công ăn việc làm, tương tác văn hóa mà còn có cả những quan ngại về môi trường.” [26, tr 04]
Tài nguyên du lịch: “là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị
nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch; là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự
hấp dẫn du lịch.” [71, tr 27]
Sản phẩm du lịch: “là sự kết hợp hàng hóa và dịch vụ trên cơ sở khai thác hợp lý tài
nguyên du lịch nhằm đáp ứng mọi nhu cầu cho du khách trong hoạt động du lịch.” [71, tr
44- 45]
Từ định nghĩa trên, có thể khái quát về sản phẩm du lịch như sau:
Sản phẩm du lịch = Hàng hóa và dịch vụ du lịch + Tài nguyên du lịch
Trang 24Phát triển du lịch bền vững
Tại Hội nghị về môi trường và phát triển của Liên Hiệp Quốc tổ chức ở Rio de Janeiro (Brazil) năm 1992, WTO (Tổ chức du lịch thế giới) đã lần đầu tiên đưa ra khái niệm “du lịch bền vững” như sau:
“Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt dộng du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa, đa dạng sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống của con
người” [87, tr 27]
Đối với Việt Nam, quan điểm phát triển bền vững nói chung và phát triển du lịch bền vững nói riêng, cũng đã được quan tâm nghiên cứu và đưa vào áp dụng trong những năm gần đây trên cơ sở tiếp thu các thành quả nghiên cứu về lý luận và thực tiễn trên thế giới, có đối chiếu với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của nước ta Trong đó, khái niệm về phát triển du lịch bền vững luôn gắn với khái niệm chung về phát triển bền vững và một quan điểm nhìn chung đang được nhiều người tán thành là:
“ Phát triển du lịch bền vững là hoạt động khai thác có quản lý các giá trị tự nhiên và nhân văn nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn trong khi vẫn đảm bảo sự đóng góp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai; cho công tác bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương ” [36, tr 40]
1.1.2.2 Khái niệm du lịch văn hóa
Du lịch văn hóa “ là loại hình du lịch mà du khách muốn được thẩm nhận bề dày văn
hóa của một nước, một vùng thông qua các di tích lịch sử, văn hóa, những phong tục tập quán còn hiện diện.” [71, tr 30]
Trang 25Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 tại chương I, Điều 4, Khoản 20 có ghi “ Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng
nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống” [83, tr 11]
Bên cạnh những loại hình du lịch như: du lịch sinh thái, du lịch khám chữa bệnh,
du lịch mạo hiểm, du lịch giáo dục gần đây du lịch văn hóa được xem là loại sản phẩm đặc thù của các nước đang phát triển, thu hút nhiều khách du lịch quốc tế Du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc, kể cả những phong tục tín ngưỡng để tạo sức hút đối với khách du lịch bản địa và từ khắp nơi trên thế giới Đối với khách du lịch có sở thích nghiên cứu, khám phá văn hóa và phong tục tập quán bản địa, thì du lịch văn hóa là cơ hội để thỏa mãn nhu cầu của họ
Phần lớn hoạt động du lịch văn hóa gắn liền với địa phương - nơi lưu giữ nhiều lễ hội văn hóa và cũng là nơi tồn tại đói nghèo Khách du lịch ở các nước phát triển thường lựa chọn những lễ hội của các nước để tổ chức những chuyến du lịch nước ngoài Bởi thế, thu hút khách du lịch tham gia du lịch văn hóa tức là tạo ra dòng chảy mới và cải thiện cuộc sống của người dân địa phương
Ngày nay, hầu như người ta đã khá quen thuộc với khái niệm văn hóa được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau Vì thế, đã xuất hiện nhiều cụm từ ghép với từ văn hóa ví như: văn hóa doanh nghiệp, văn hóa kinh doanh, văn hóa giao tiếp… mang ý nghĩa nội hàm yếu tố văn hóa trong lĩnh vực đó Hay những cụm từ chỉ về một loại hình văn hóa như: văn hoá nghệ thuật, văn hoá ẩm thực… Cũng có khi các cụm từ được chỉ cho cả một ngành nghề như: kinh tề văn hóa, du lịch văn hóa…
Du lịch văn hoá đôi khi được xem như một ngành trong ngành kinh tế văn hóa, tức ngành kinh doanh có sử dụng yếu tố văn hóa Tuy nhiên, bản thân nó là một loại hình du lịch nằm trong ngành du lịch, được gọi là ngành công nghiệp không khói, thực chất là ngành kinh doanh
Rõ ràng về mặt khái niệm thì hai cụm từ “du lịch văn hóa” và “văn hóa du lịch” mang ý nghĩa hoàn toàn khác hẳn nhau Tuy nhiên, đôi lúc người ta vẫn sử dụng một cách lẫn lộn, nhầm lẫn với một ý nghĩa duy nhất là một “loại hình du lịch” mà hiện nay đang được hết sức quan tâm
Trang 26Thực ra vấn đề khai thác các yếu tố (giá trị) văn hóa để làm kinh tế không phải là mới, người ta còn gọi là “kinh tế trong văn hóa” Từ rất lâu, con người đã nhận thức được rằng các sản phẩm văn hóa, giá trị văn hóa không chỉ có ý nghĩa vế mặt giá trị tinh thần, đem đến hiệu quả xã hội mà còn có thể mang lại hiệu quả về kinh tế thông qua việc con người khai thác, sử dụng như thế nào Vì vậy, ngành du lịch, được coi là ngành “thời thượng” trong thời đại ngày nay đã không bỏ qua ý nghĩa đó Bên cạnh các loại hình du lịch truyền thống và các loại hình du lịch đang thịnh hành như: du lịch nghỉ dưỡng, du lịch tham quan, du lịch sinh thái, du lịch thể thao mạo hiểm, du lịch chữa bệnh, du lịch hành hương… thì loại hình du lịch văn hóa đang được chú trọng khai thác
Người ta phân chia ra nhiều loại hình du lịch riêng biệt để khảo sát, nghiên cứu về nhu cầu, đối tượng nhằm định hướng cho mục tiêu khai thác hiệu quả các tiềm năng du lịch sẵn có của từng loại hình ở địa phương cụ thể Tuy nhiên, hiện trạng cho thấy, ngày nay hầu như các loại hình du lịch thường được lồng ghép, kết hợp nhau Với sự phát triển phong phú của đời sống, nhu cầu của con người cũng phát triển đa dạng hơn Người ta đi
du lịch không chỉ mục đích nghỉ dưỡng, nâng cao thể chất đơn thuần Ngày càng cho thấy nhu cầu giao lưu, khám phá thế giới của con người là vô cùng lớn, trong đó có khám phá thiên nhiên, con người, văn hóa và chính bản thân họ Nếu như du lịch sinh thái là một loại hình du lịch ở đó con người được thỏa mãn nhu cầu khám phá tự nhiên đồng thời với việc được hòa mình vào tự nhiên thì du lịch văn hóa cho người ta những hiểu biết về con người và những nền văn hóa đi theo, để từ đó con người xích lại gần nhau hơn, có cái nhìn về cuộc đời nhân văn hơn và thế giới vì thế sẽ trở thành nhỏ bé hơn, thân ái hơn.Trong quá trình đi du lịch nghỉ dưỡng hay chữa bệnh, hành hương đi chăng nữa người ta vẫn cần được đáp ứng về nhhu cầu khám phá văn hóa, đó là lý do cho loại hình
du lịch văn hóa có cơ sở phát triển, lồng ghép hầu hết vào các loại hình du lịch khác Khi nói đến du lịch văn hóa tức tiếp cận văn hóa từ du lịch, thông qua du lịch, thực chất là việc khai thác và biến sản phẩm văn hóa thành sản phẩm du lịch Là một sản phẩm kinh doanh nên đó là sản phẩm hàng hóa hay gọi đúng hơn là sản phẩm hàng hóa văn hóa, một loại sản phẩm hàng hóa đặc biệt, qua tiêu thụ không hề mất đi như những sản
Trang 27phẩm hàng hóa thông thường khác mà còn được nhân lên về mặt giá trị tinh thần và hiệu quả xã hội
Văn hóa nhìn từ góc độ du lịch thì nó là nguyên liệu mà là nguyên liệu gốc Vì thế buộc phải qua “chế biến” mới có thể trở thành hàng hoá - dịch vụ để buôn bán trên thị trường, đó chính là sự đầu tư, xây dựng điểm du lịch văn hóa để khai thác Về vấn đề này cũng có nhiều ý kiến khác nhau Có ý kiến cho rằng việc khai thác các giá trị văn hóa phục vụ cho du lịch vừa đem lại lợi ích về kinh tế vừa phát huy các giá trị ấy thông qua giới thiệu, quảng bá chúng với du khách Nhưng cũng có ý kiến cho rằng việc khai thác
ấy là hành vi “phá hoại văn hóa” thông qua việc người ta tận dụng, khai thác triệt để các
di tích, cảnh quan văn hóa cho mục đích kinh doanh làm phá vỡ cảnh quan, biến dạng di tích, chẳng hạn như việc xây dựng hệ thống cáp treo, các quầy dịch vụ, hang động tự tạo…một cách tràn lan, thậm chí tự phát Quan điểm thứ hai này xuất phát từ tình hình thực tế đây đó một số nơi đã vì mục tiêu lợi nhuận mà tiến hành khai thác một cách ồ ạt, thiếu tính toán và thiếu tôn trọng tính giá trị nguyên bản của một thực thể văn hóa mà chỉ thiên về kinh tế Các quan điểm trái ngược mang tính bảo thủ, cực đoan thiên về bảo tồn nguyên trạng hay tận dụng khai thác kinh doanh triệt để đều không đúng đắn Một nhận thức đầy đủ và khôn ngoan trong du lịch văn hóa là lấy văn hóa làm hạt nhân (gồm di tích văn hóa, sản phẩm văn hóa, cảnh quan văn hóa, cơ sở thiết chế văn hóa, không gian văn hóa… gọi chung là giá trị văn hóa) với tất cả giá trị nguyên thuỷ của nó mà linh hồn sống chính là “ấn tượng” nó để lại trong lòng du khách thông qua những gì được tiếp cận, từ
đó có thể thu nhỏ hình ảnh trong tâm thức mang về sau cuộc hành trình, bên cạnh sự thoả mãn được đáp ứng mọi yêu cầu về dịch vụ một cách tốt nhất Đó chính là “văn hóa du lịch”
Văn hóa du lịch là một vấn đề không kém phần quan trọng trong công tác tổ chức
du lịch nhưng hầu như nó ít được quan tâm như khi người ta bàn về “du lịchvăn hóa”
1.1.3 Mối quan hệ giữa du lịch và văn hóa
Nhiều năm qua ở nước ta, có một bài học, một kinh nghiệm hết sức thuyết phục là văn hoá trong du lịch ở nước ta vừa như là mục tiêu mang tính định hướng, vừa như là một quan điểm khẳng định rằng, văn hoá là nội dung, là bản chất đích thực của du lịch
Trang 28Việt Nam, tạo nên tính độc đáo, đặc sắc, hấp dẫn nhất của các sản phẩm du lịch Việt
Nam, góp phần tạo dựng hình ảnh quốc gia trong mắt bạn bè quốc tế
Du lịch là một hoạt động thực tiễn xã hội của con người, nó được hình thành nhờ
sự kết hợp hữu cơ giữa 3 yếu tố người du lịch, tài nguyên du lịch và môi giới du lịch Người du lịch là chủ thể du lịch, tài nguyên du lịch là khách thể du lịch, ngành du lịch là môi giới cung cấp sự phục vụ cho người du lịch Xét theo phạm trù văn hoá xã hội, du lịch là một hoạt động văn hoá cao cấp của con người Bởi văn hoá là mục đích mà du lịch hướng tới, là nguyên nhân nội sinh của nhu cầu du lịch Dù người đi du lịch nhằm mục đích gì (thăm thân, tìm hiểu, nghiên cứu, ngắm cảnh, nghỉ dưỡng…) hoặc theo phương thức nào (đường bộ, đường sắt, đường biển, đường hàng không…) thì mục đích cuối cùng là nhằm thoả mãn những nhu cầu của bản thân, để cảm nhận, thụ hưởng những giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra ở một xứ sở ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ Nói cách khác du lịch là hành vi ứng xử của con người với môi trường tự nhiên
và xã hội nhằm phục vụ lợi ích cho họ và là hoạt động có lợi cho việc thúc đẩy phát triển
trí tuệ của loài người
Đó là nhận định mang tính tổng quát còn biểu hiện cụ thể của mối quan hệ mật
thiết giữa văn hoá và du lịch được thể hiện qua các khía cạnh:
Văn hoá là nguồn tài nguyên độc đáo của du lịch (nguồn nguyên liệu để hình thành nên hoạt động du lịch) Khi nói văn hoá là nguồn nguyên liệu để hình thành nên hoạt động du lịch, tức là chúng ta nói đến vật hút / đối tượng hưởng thụ của du khách Nguồn nguyên liệu văn hoá có hai loại cơ bản: Văn hoá vật thể là những sáng tạo của con người tồn tại, hiện hữu trong không gian mà có thể cảm nhận bằng thị giác, xúc giác, chẳng hạn những di tích lịch sử văn hoá, những mặt hàng thủ công, các công cụ trong sinh hoạt, sản xuất, các món ăn dân tộc… Văn hoá phi vật thể như: lễ hội, các loại hình nghệ thuật, cách ứng xử, giao tiếp… Theo quan niệm của ngành du lịch, người ta xếp các thành tố văn hoá vào tài nguyên nhân văn (đối lập với tài nguyên tự nhiên như: biển, sông hồ, núi rừng, hang động…) cụ thể là: Các di tích lịch sử - văn hoá; hàng lưu niệm mang tính đặc thù dân tộc; ẩm thực; lễ hội; các trò chơi giải trí; phong tục, tập quán, cách ứng xử, giao tiếp;
tín ngưỡng, tôn giáo; văn học - nghệ thuật
Trang 29Vì vậy mà văn hoá là điều kiện và môi trường để cho du lịch phát sinh và phát triển Cùng với tài nguyên tự nhiên, tài nguyên văn hoá là một trong những điều kiện đặc trưng cho việc phát triển du lịch của một quốc gia, một vùng, một địa phương Giá trị của những di sản văn hoá: di tích lịch sử, các công trình kiến trúc, các hình thức nghệ thuật, các tập quán, lễ hội, ngành nghề truyền thống… cùng với các thành tựu kinh tế, chính trị,
xã hội, các cơ sở văn hoá nghệ thuật, các bảo tàng… là những đối tượng cho du khách khám phá, thưởng thức, cho du lịch khai thác và sử dụng Sự khai thác và thu lợi nhuận
từ tài nguyên, việc xây dựng các khu điểm du lịch đều phản ánh trí tuệ và sức sáng tạo của loài người Chính những tài nguyên này không chỉ tạo ra môi trường và điều kiện cho
du lịch phát sinh và phát triển mà còn quyết định quy mô, thể loại, chất lượng và hiệu quả
của hoạt động du lịch của một quốc gia, một vùng, một địa phương
Mối quan hệ giữa du lịch và văn hoá còn được biểu hiện qua hành vi ứng xử, đạo đức trong phục vụ, hay trong giao dịch kinh doanh du lịch Thực chất của mối quan hệ giữa văn hoá với kinh doanh nói chung và kinh doanh du lịch nói riêng (hay vai trò của văn hoá trong phát triển kinh tế) đã được khẳng định Nói cách khác, hành vi kinh doanh muốn có được thành công phải được thực hiện một cách văn hoá Có thể gọi chung là
nghệ thuật kinh doanh hay văn hoá kinh doanh
Xét ở một khía cạnh khác, mối quan hệ mật thiết này được thể hiện: nếu muốn phát triển du lịch cần phải có một môi trường du lịch tốt (bao gồm cả môi trường tự nhiên và môi trường nhân văn - hai yếu tố này không tách rời) Môi trường tự nhiên như: không có rác bẩn, nguồn nước sạch, không viết vẽ lên đá…môi trường nhân văn đó là di tích được giữ gìn, cư dân, nhân viên làm việc ở nơi du lịch phải có văn hoá, tố chất văn hoá, cơ chế
chính sách, hệ thống pháp luật hoàn chỉnh…
Tri thức, thông tin xã hội, cách ứng xử, hiểu biết tâm lý du khách…là những động
lực hữu hiệu thúc đẩy sự phát triển du lịch
Ngược lại đối với văn hoá, du lịch cũng thể hiện một vai trò hết sức quan trọng trong mối quan hệ này Du lịch trở thành phương tiện để truyền tải và trình diễn các giá trị văn hoá của một địa phương, một dân tộc để mọi khách du lịch trong nước và quốc tế
khám phá, chiêm ngưỡng, học tập và thưởng thức
Trang 30Nhờ có du lịch mà sự giao lưu văn hoá giữa các cộng đồng, các quốc gia được tăng
cho nhu cầu được thẩm nhận những giá trị của những di sản đó
Xét ở góc độ kinh tế, nhờ có du lịch đã tạo ra một nguồn thu nhập cho phép các địa phương tích luỹ và phát triển kinh tế – xã hội; trong đó có văn hoá Nhờ đó các tài sản văn hoá được bảo vệ, tu sửa, tôn tạo đồng thời với việc xây dựng mới các cơ sở văn hoá
và làm phong phú thêm các giá trị văn hoá đương đại Chính vì văn hoá và du lịch có mối quan hệ tương tác/lẫn vào nhau như vậy nên văn hoá và du lịch không thể tách rời nhau
và càng không thể đối lập nhau
Như vậy có thể xác nhận một luận điểm: du lịch là một hoạt động văn hoá mang tính tổng hợp, hay nội hàm của du lịch là văn hoá và tính văn hoá đó được thể hiện hoặc
rõ ràng hoặc ẩn hiện xuyên suốt các mặt hoạt động du lịch Các hoạt động chủ yếu của du lịch bao gồm: ăn, ở, du ngoạn, mua sắm, vui chơi giải trí (nhu cầu nội tại của con người ) thì trong tất cả các hoạt động đó ngoài việc để làm thoả mãn nhu cầu đời sống thiết yếu của mọi thành viên trong xã hội đều mang những đặc trưng văn hoá, khát vọng
về văn hoá - thể hiện sự ngưỡng mộ, theo đuổi đối với nền văn hoá của nơi khác Du khách có thể bỏ những căn phòng với tiện nghi cao cấp để được sống trong các căn nhà sàn, nhà lá đơn sơ, có thể bỏ phương tiện giao thông hiện đại để đi thuyền độc mộc, đi xe xích lô lọc xọc trên những đường phố cổ, có thể bỏ những món ăn quen khẩu vị để thưởng thức những món “khó chơi”, sẵn sàng tiêu tốn một khoản tiền lớn để mua đặc sản của nước khác “Những vật mà du khách có thể nhìn thấy, ăn, sờ, cầm nắm được tuy là loại vật chất cụ thể nhưng trong đó đều bao chứa loại văn hoá tinh thần nào đó mà du khách đi xem, đi mua, đi ăn, điều chủ yếu nhất mà họ chọn không phải là bản thân vật chất mà ở chỗ thoả mãn nhu cầu tâm lý tìm cái mới, cái lạ, cái đẹp” Vì thế du lịch mặc
Trang 31dù là một ngành kinh tế trong đó bao hàm nội dung hoạt động kinh tế, nhưng về tổng thể
du lịch là một hoạt động văn hoá - một sinh hoạt văn hoá xã hội của loài người
1.1.4 Vai trò của văn hóa trong phát triển du lịch
Văn hóa có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự phát triển toàn diện đất nước về kinh
tế, chính trị, xã hội, trong đó du lịch là một ngành kinh tế đang trở thành mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nước ta trong thế kỷ XXI Chính những giá trị văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc là điểm hấp dẫn đặc biệt, là động lực mạnh mẽ cho
du lịch phát triển Bởi vì đối với du lịch bền vững, văn hóa trở thành tài nguyên tạo nên
sự hấp dẫn có chiều sâu đối với du lịch Và sở dĩ du lịch là ngành kinh tế có sức thu hút mạnh mẽ bởi vì trong nó hàm chứa nội dung văn hóa sâu sắc và phong phú
Trong Luật Du lịch Việt Nam được ban hành năm 2005 thì tài nguyên du lịch được xác định là “cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình sáng tạo của con người và những giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, tuyến du lịch, đô thị
du lịch” [83 chương I, Điều 4]
Các di tích lịch sử - văn hóa, các di sản văn hóa có mặt hầu hết ở các địa phương trên cả nước từ miền xuôi lên miền ngược, từ Bắc vào Nam, từ nông thôn đến thành thị đó là lợi thế để ngành du lịch phát huy các di sản văn hóa trong tổ chức hoạt động du lịch Có thể nói rằng tiềm năng to lớn của du lịch Việt Nam nằm trong văn hóa dân tộc
Cùng với các di tích lịch sử văn hóa được xem như những tài nguyên tĩnh thì các loại hình văn hóa phi vật thể là tài nguyên động của du lịch Việt Nam Tính chất động của nó đặc biệt do gắn liền với hoạt động của con người, tái hiện, tái tạo bản thân con người trong quá khứ và hiện tại làm sống lại lịch sử trong tính toàn vẹn, tính hình tượng
cụ thể cảm tính, sinh động của nó, tạo nên môi trường du lịch độc đáo và sức hấp dẫn kỳ
lạ đối với khách du lịch từ nơi xa đến ( những lễ hội dân gian, những chương trình nghệ thuật cổ truyền, những làn điệu dân ca, những công trình kiến trúc, điêu khắc )
Văn hóa là nguồn tài nguyên chủ yếu của du lịch Môi trường thiên nhiên và môi trường văn hóa, nhân văn có vai trò đặc biệt quan trọng đối với du lịch Vì chính nó là nguồn tài nguyên, là yếu tố cơ sở cho phát triển du lịch Ngày nay xu hướng du lịch sinh
Trang 32thái, du lịch cảnh quan và du lịch văn hóa đang trở thành những loại hình du lịch chủ yếu trong xu thế phát triển của ngành du lịch Thực tế cho thấy trên thế giới quốc gia nào có truyền thống văn hóa lâu đời, có nhiều danh lam thắng cảnh thì quốc gia đó có thị trường
du lịch hấp dẫn
1.1.5 Điều kiện để phát triển du lịch văn hóa
Trong mối quan hệ với văn hóa, du lịch là yếu tố quan trọng đẩy mạnh giao lưu văn hóa giữa các vùng, miền trong nước và giữa các quốc gia dân tộc trên thế giới Sự phát triển của du lịch tác động trực tiếp và gián tiếp đến việc trấn hưng và bảo tồn các di sản văn hóa Du lịch đã tạo nên điều kiện thúc đẩy kinh tế - xã hội của các địa phương và của các dân tộc phát triển Nói một cách khác, du lịch đã có tác động quan trọng vào đời sống văn hóa của xã hội
Tiếp xúc với những giá trị văn hóa, khách du lịch sẽ có những hiểu biết toàn diện, những tình cảm lành mạnh trong sáng, thông qua đó con người xây dựng những quan niệm đúng đắn về thế giới của chính mình, hình thành những phẩm chất đạo đức tốt đẹp, quyết định sự phát triển nhân cách của mỗi cá nhân trong xã hội
Trong thời gian du lịch, du khách thường sử dụng các dịch vụ, hàng hóa và tiếp xúc trực tiếp với dân ở địa phương Thông qua các cuộc tiếp xúc đó, cả khách và cả dân
cư địa phương đều được trau dồi và nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau về văn hóa và lịch sử,
về phong tục tập quán… Doanh thu từ các hoạt động dịch vụ được sử dụng một phần cho việc tu bổ di tích, chỉnh lý các bảo tàng, đồng thời khôi phục và phát huy các di sản văn hóa phi vật thể, đặc biệt khôi phục và thúc đẩy các ngành nghề thủ công truyền thống, văn hóa nghệ thuật truyền thống, tín ngưỡng dân gian… phục vụ du lịch
Tóm lại: giữa du lịch và văn hóa luôn có mối quan hệ biện chứng, mối quan hệ này càng thể hiện rõ trong sự liên kết giữa bảo vệ và phát huy các di tích lịch sử - văn hóa, các giá trị văn hoá với tư cách như bộ phận trọng yếu của nguồn tài nguyên du lịch
Ở đây, giao lưu là một trong những thuộc tính cơ bản của văn hóa, nó biểu hiện sinh động thông qua sự vận hành của các di sản văn hóa mà du lịch đã góp phần không nhỏ vào việc thực hiện thuộc tính này Du lịch là cầu nối giữa các bộ phận dân cư thuộc các nền văn hóa khác nhau trên thế giới, đồng thời tạo lập mối quan hệ trực tiếp giữa quá khứ, hiện tại
Trang 33và tương lai của mỗi dân tộc Điều đó chứng tỏ giữa du lịch và văn hóa luôn gắn bó khăng khít với nhau, nương tựa vào nhau để cùng tồn tại và phát triển Văn hóa là nguồn tài nguyên nhân văn vô cùng phong phú đặc sắc có thể tạo ra các sản phẩm du lịch độc đáo để thu hút khách du lịch Du lịch văn hóa đang trở thành một loại hình du lịch phổ biến và có hiệu quả cao Hoạt động du lịch cũng có những tác động tích cực đối với văn hóa Du lịch chính là cầu nối để thúc đẩy, trao đổi, giao lưu văn hóa giữa các quốc gia, cộng đồng các dân tộc, là động lực góp phần phát triển, giữ gìn, bảo tồn, phát huy truyền thống văn hóa của dân tộc
1.1.6 Các nguyên tắc khai thác và phát triển du lịch văn hóa
Du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc, kể cả những phong tục tập quán, tín ngưỡng để tạo sức hút đối với khách
du lịch bản địa và từ khắp nơi trên thế giới Đối với khách du lịch có sở thích nghiên cứu, khám phá văn hóa và phong tục tập quán bản địa, thì du lịch văn hóa là cơ hội để thỏa mãn nhu cầu của họ
Phần lớn hoạt động du lịch văn hóa gắn liền với địa phương - nơi lưu giữ những lễ hội văn hóa và cũng là nơi tồn tại các sinh hoạt đời thường Khách du lịch ở các nước phát triển thường lựa chọn những lễ hội của các nước để tổ chức những chuyến du lịch nước ngoài Bởi thế, thu hút khách du lịch tham gia du lịch văn hóa tức là tạo ra dòng chảy mới và cải thiện cuộc sống của người dân địa phương
1.1.6.1 Bảo vệ môi trường và bảo vệ nét văn hóa
Đây là một trong nguyên tắc cơ bản, quan trọng cần tuân thủ bởi các giá trị của nó:
- Việc bảo vệ môi trường là quyết định sự tồn tại và duy trì nét văn hóa chính của các mục tiêu hoạt động của du lịch văn hóa
- Bảo tồn du lịch văn hóa gắn bó mật thiết môi trường tự nhiên, sự xuống cấp, sự suy thoái đồng nghĩa với sự xăm thực đi xuống của hoạt động du lịch văn hóa
1.1.6.2 Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng
Hoạt động du lịch phải đảm bảo nguyên tắc bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng, phải có sự kế thừa không vì lợi ích kinh tế chung hay cá nhân mà làm phá vỡ
truyền thống và làm biến đổi những giá trị văn hóa địa phương và dân tộc
Trang 341.1.6.3 Giúp cộng đồng địa phương tạo cơ hội việc làm, mang lại lợi ích cho người dân bản địa
Ở những nước đang phát triển như Việt Nam, nền tảng phát triển phần lớn không dựa vào những đầu tư lớn để tạo ra những điểm du lịch đắt tiền, mà thường dựa vào nguồn du lịch tự nhiên và sự đa dạng trong bản sắc dân tộc Những sản phẩm du lịch văn hóa này tạo ra giá trị rất lớn cho ngành du lịch, mà còn đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội thông qua sự phát triển của hoạt động du lịch sẽ tạo cơ hội rất nhiều việc làm cho người dân địa phương
1.2 Những lĩnh vực nghiên cứu của du lịch văn hóa
1.2.1 Vấn đề cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch văn hóa
Theo giáo trình Kinh tế du lịch của GS-TS Nguyễn Văn Đính, PGS-TS Trần Thị Minh Hòa của Đại học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội “là cơ sở vật chất kỹ thuật trong du lịch bao gồm toàn bộ các phương tiện vật chất tham gia vào việc khai thác các tiềm năng
du lịch tạo ra và thực hiện các dịch vụ và hàng hóa du lịch nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của du khách trong suốt cuộc hành trình du lịch.” [28, tr.85]
Cơ sở vật chất kỹ thuật phải đa dạng hóa và chuyên môn hóa theo từng địa phương
và từng loại địa hình và loại hình du lịch như: du lịch văn hóa, du lịch sinh thái, du lịch nghỉ biển, du lịch chữa bệnh theo đặc thù của địa phương… cơ sở vật chất kỹ thuật đều
có thành phần giống nhau như: cơ sở phục vụ lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí,… Tuy nhiên, từng loại hình du lịch khác nhau sẽ có các công trình bổ sung đặc biệt để sử dụng tài nguyên du lịch phục vụ cho khai thác loại hình du lịch cụ thể nào đó Điển hình như đối với du lịch nghỉ biển cần công trình bổ sung phục vụ tắm biển, bãi tắm,…
Như vậy, cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch văn hóa cần đảm bảo sự hợp lý, tối ưu trong đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị hạ tầng du lịch, nhưng ngoài thông lệ quốc tế, còn phải có phần đặc thù của nó Theo các tuyến, điểm du lịch đã được quy hoạch chi tiết, phải từng bước xây dựng hệ thống đường xá, phương tiện vận chuyển, cơ sở lưu trú: khách sạn, nhà hàng, nơi mua sắm; phương tiện thông tin liên lạc theo tiêu chuẩn quốc
tế, càng hiện đại, càng thuận lợi càng dễ thu hút khách Tuy nhiên, bên cạnh phần thông
lệ quốc tế, trong du lịch còn có những phần cơ sở vật chất, thiết bị hạ tầng mang đậm bản
Trang 35sắc văn hoá dân tộc hấp dẫn du khách Ví như tại các danh thắng, các khu cảnh quan phải giữ được con đường gập ghềng uốn khúc qua các sườn núi, ven sông, lên các hang động, chùa chiền mới là du lịch Không thể hoặc nhất quyết không được bê tông hoá/gạch hoá/
đá hoá hoàn toàn những con đường quanh co, uốn lượn, đó là “phần hồn” của điểm du lịch Đánh mất phần hồn ấy, giá trị của của du lịch sẽ bị giảm sút và chất lượng du lịch cũng sẽ bị suy giảm Hay trong điểm du lịch là các ngôi làng, đô thị cổ, khi quy hoạch, xây dựng phải đảm bảo không làm tổn hại đến không gian, bảo tồn những con đường cổ, nhà cổ, cây cầu cổ, chợ, nơi sinh hoạt của cộng đồng cư dân thì điểm này mới khẳng định được những giá trị đặc sắc, riêng có của nó một cách đầy đủ Kể cả trong trang thiết bị khách sạn, nhà hàng cũng vậy, ngoài phần quốc tế, phải tăng tỷ lệ cơ sở vật chất, thiết bị
hạ tầng mang phong cách riêng như: tạo dáng kiến trúc, trang trí nội thất, hoa văn trang trí, các vật dụng làm từ các đồ thủ công truyền thống như: thêu ren, lụa, gốm, đá, cói
1.2.2 Vấn đề thị trường và khách du lịch văn hóa
Tiếp cận theo kinh tế chính trị học, thị trường du lịch là một bộ phận của thị trường chung một phạm trù của sản xuất và lưu thông hàng hóa, dịch vụ du lịch phản ánh toàn
bộ quan hệ trao đổi giữa người mua và người bán, giữa cung và cầu và toàn bộ các thông tin kinh tế kỹ thuật gắn với mối quan hệ đó trong lĩnh vực du lịch Tiếp cận theo hướng marketing du lịch, thị trường du lịch là “tập hợp người mua và người bán sản phẩm hiện tại và tiềm năng Người mua với tư cách là người tạo ra thị trường du lịch và người bán với tư cách là người tạo ra ngành du lịch” [59, tr.112]
Thị trường khách du lịch văn hóa được xác định dựa trên những giá trị về văn hóa
ở địa phương, yếu tố tâm lý, tuổi tác, nhu cầu sở thích của du khách Đối với một số thị trường khách du lịch quốc tế, có thể khai thác loại hình du lịch văn hóa để phục vụ du khách yêu thích tìm hiểu về văn hóa, phong tục, tập quán của các dân tộc Đối với thị trường nội địa, du lịch văn hóa thu hút hầu hết sự quan tâm, tham gia của cư dân địa phương và các vùng lân cận Bên cạnh đó, những du khách thuộc lứa tuổi về hưu, trung niên, khách có thu nhập và trình độ văn hóa ở dạng trung bình,… cũng là những thị trường khách du lịch thường quan tâm, yêu thích loại hình du lịch văn hóa Tiếp cận được vấn đề thị trường và khách du lịch lễ hội nhằm tạo cơ sở lý luận vững chắc trong việc đề
Trang 36xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động du lịch văn hóa của người Chăm ở An Giang
1.2.3 Vấn đề tổ chức, quản lý du lịch văn hóa
Theo từ điển bách khoa Việt Nam, quản lý là chức năng và hoạt động của hệ thống
có tổ chức thuộc các giới khác nhau, đảm bảo thực hiện những chương trình và mục tiêu của hệ thống đó… Do tính chất lao động của con người, quản lý tồn tại trong mọi xã hội,
ở bất kì lĩnh vực nào và trong bất cứ giai đoạn phát triển nào Quản lý là “một khoa học, dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật phát triển của các đối tượng khác nhau, quy luật tự nhiên và quy luật xã hội, đồng thời, quản lý còn là một nghệ thuật, đòi hỏi nhiều kiến thức xã hội, tự nhiên hay kỹ thuật… Những hình thức quản lý có ý thức luôn gắn liền với hoạt động có mục tiêu, có kế hoạch và được thực hiện qua những thể chế xã hội đặc biệt”
[80, tr.580]
Dựa vào khái niệm trên để nghiên cứu vấn đề tổ chức, quản lý du lịch văn hóa Điều này thể hiện rõ hai nhiệm vụ chính của quản lý du lịch văn hóa: 1) là việc xây dựng hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật của Nhà nước liên quan đến du lịch văn hóa 2)
là tham gia tổ chức điều hành văn hóa theo một quy trình đã định trước
Người quản lý hoạt động du lịch văn hóa phải nắm vững các giá trị văn hóa Phát huy các giá trị văn hóa Chăm trong du lịch đồng thời chú trọng đến công tác bảo tồn
1.2.4 Vấn đề nhân lực trong du lịch văn hóa
Nhân lực trong du lịch văn hóa là nội dung cơ bản của việc tổ chức, thực hiện hoạt động du lịch Trong đó, có hai nội dung cơ bản là tổ chức bộ máy, nhân sự, phân công nhiệm vụ điều hành các hoạt động du lịch văn hóa và công tác bảo tồn các giá trị văn hóa Tính văn hoá còn được biểu hiện bởi thái độ ứng xử, hiểu biết rộng, thói quen chính xác khoa học của người môi giới du lịch nhất là người thiết kế sản phẩm và đặc biệt là hướng
dẫn viên du lịch - người trực tiếp hướng dẫn khách du lịch tham quan, tìm hiểu
Ngoài ra, chính quyền địa phương cần xác định vai trò quan trọng của chủ thể văn hóa; đó chính là cư dân địa phương Để hoạt động du lịch văn hóa thực sự trở thành một hoạt động mang ý nghĩa văn hóa và phát triển kinh tế, góp phần xóa đói giảm nghèo cho
Trang 37người dân Chăm tỉnh An Giang thì cần phải đào tạo, phát triển được nguồn nhân lực phục
vụ du lịch văn hóa là người dân địa phương
1.2.5 Vấn đề tuyên truyền, quảng bá du lịch văn hóa
Du lịch văn hóa là một hoạt động mang tính tổng hợp cao, đa dạng và phức tạp, đòi hỏi có sự tham gia của nhiều lĩnh vực kinh tế, y tế, văn hóa, giáo dục,… Trong đó, hoạt động tuyên truyền, quảng bá du lịch lễ hội góp phần quan trọng nhằm thu hút ngày càng nhiều du khách đến tham quan du lịch ở An Giang
Theo các tài tài liệu “tuyên truyền, quảng cáo và xúc tiến du lịch” của các tác giả, tuyên truyền du lịch theo nghĩa thông dụng là “giải thích rộng rãi để thuyết phục mọi người tán thành, ủng hộ, làm theo” bằng nhiều hình thức khác nhau để truyền đạt thông tin như báo viết, báo nói, báo hình, sách, tập gấp, người tiếp cận công chúng với nhiều mục đích về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,… Nói rộng ra tuyên truyền bao gồm cả việc quảng cáo và các hoạt động xúc tiến Tuyên truyền du lịch là một hệ thống thông tin
về du lịch được các quốc gia, các địa phương, các doanh nghiệp du lịch, các cá nhân tiến hành nhằm thu hút đông đảo nguồn khách du lịch và gia tăng khả năng chi tiêu của khách
du lịch đối với dịch vụ và hàng hóa Tuyên truyền du lịch đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển du lịch của một đất nước, một địa phương, một doanh nghiệp du lịch
Trong từ điển Việt – Việt, quảng cáo được giải thích là “sự trình bày, giới thiệu rộng rãi cho nhiều người biết nhằm tranh thủ được nhiều khách hàng” Theo tài liệu
“tuyên truyền, quảng cáo và xúc tiến du lịch”, quảng cáo du lịch là một bộ phận của tuyên truyền du lịch, bản chất của quảng cáo du lịch là tổng hợp các biện pháp sử dụng
để phổ biến những tài nguyên du lịch, các cơ sở dịch vụ, các điều kiện đi du lịch cho nhân dân trong nước và người nước ngoài nhằm mục đích thu hút khách du lịch, phát triển du lịch của đất nước và phát triển các hoạt động sản xuất – kinh doanh du lịch
Hiện nay, đối với du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng, các phương tiện thường được sử dụng để quảng cáo bao gồm: báo, đài, internet, phim ảnh, ấn phẩm bằng băng hình, đĩa hình, các tạp chí chuyên ngành, băng rôn, màn hình đặt nơi công cộng… hay các chương trình hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao và các hội chợ triển lãm trong và ngoài nước, xúc tiến tại chỗ
Trang 381.2.6 Vấn đề bảo tồn di sản văn hóa trong du lịch
Điều 2, Chương I, Luật di sản văn hóa Việt Nam xác định tương đối đầy đủ nội hàm và tính chất của di sản văn hóa, di sản văn hóa Việt Nam bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Thông qua đó, các khái niệm di sản văn hóa phi vật thể và vật thể cũng được xác định rõ, đó là:
Trong văn kiện Trung ương lần thứ 5, khóa VIII, Đảng ta đã xác định: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể” [30, tr.63] Vì vậy, việc giữ gìn nguyên vẹn và đầy
đủ các giá trị đích thực của di sản văn hóa là rất quan trọng; đồng thời cần quan tâm đầu
tư, tôn tạo các di sản văn hóa dân tộc nhằm phát triển chúng thành sản phẩm du lịch văn hóa nói chung và du lịch lễ hội nói riêng
- Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học,
được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và tri thức dân gian khác
- Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao
gồm di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của người Chăm tạo điều kiện cho ngành du lịch tỉnh An Giang phát huy được thế mạnh của tỉnh Bên cạnh đó, bảo tồn di sản văn hóa trong du lịch là một trong những yếu tố cần thiết đảm bảo phát triển du lịch bền vững
Trang 391.2.7 Du lịch văn hóa và điểm đến du lịch
Theo định nghĩa của UN-WTO (2004): “điểm đến du lịch là một không gian vật chất mà du khách ở lại ít nhất là một đêm Nó bao gồm các sản phẩm du lịch như các dịch vụ hỗ trợ, các điểm đến và tuyến điểm du lịch trong thời gian một ngày Nó có các giới hạn vật chất và quản lý giới hạn hình ảnh, sự quản lý xác định tính cạnh tranh trong thị trường Các điểm đến du lịch địa phương thường bao gồm nhiều bên hữu quan như một cộng đồng tổ chức và có thể kết nối lại với nhau để tạo thành một điểm đến du lịch lớn hơn”
Sản phẩm du lịch văn hóa là một trong những sản phẩm du lịch quan trọng tạo sức hấp dẫn du khách đến với điểm đến An Giang Nếu được quy hoạch và phát triển theo hướng bền vững, gắn với bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Chăm thì trong tương lai không xa, An Giang sẽ là điểm đến hấp dẫn du khách với loại hình du lịch văn hóa
Theo bài giảng Marketing điểm đến du lịch của PGS.TS Trần Thị Minh Hòa: điểm đến du lịch (Destination) “là những điểm có tài nguyên du lịch nổi trội, có khả năng hấp dẫn du khách; hoạt động kinh doanh du lịch có hiệu quả và đảm bảo phát triển bền
Tại Điều 4, Luật Du lịch Việt Nam 2005 giải thích từ ngữ: “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch” Các dịch vụ đó bao gồm: dịch vụ lữ hành, dịch vụ vận chuyển khách, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống, dịch vụ vui chơi giải trí…
Vậy, có thể hiểu sản phẩm du lịch là những cái nhằm đáp ứng nhu cầu và mong muốn của khách du lịch, nó bao gồm các dịch vụ du lịch, các hàng hóa và tiện nghi cho
du khách, được tạo nên bởi yếu tố tự nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một
Trang 40vùng, một cơ sở nào đó Sản phẩm du lịch bao gồm 2 thành phần quan trọng là tài nguyên
du lịch và các dịch vụ và hàng hóa du lịch Do đó, sản phẩm du lịch vừa mang tính hữu hình vừa mang tính vô hình Sản phẩm du lịch văn hóa là sự kết hợp giữa hàng hóa và dịch vụ trên cơ sở khai thác hợp lý các giá trị văn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu về văn hóacủa du khách
Sản phẩm du lịch đặc thù được xác định trên cơ sở phân tích những lợi thế, sự khác biệt, nổi bật mang tính đặc trưng về tài nguyên du lịch của tỉnh An Giang so với các tỉnh vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ Mặt khác, các chuyên gia của Tổ chức du lịch thế giới, khi làm dự án VIE/89/003 đã đánh giá Việt Nam là nước có tiềm năng du lịch, trong đó lễ hội dân gian được xem như một bộ phận của tiềm năng ấy Trong đó, văn hóa của người Chăm An Giang là một bảo tàng sống động, là nơi lưu trữ những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, những sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật,… Tất cả sẽ tạo nên một sản phẩm du lịch đặc thù cho tỉnh An Giang, mang đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Chăm Đây cũng là điểm nhấn, tạo sự khác biệt, độc đáo giữa du lịch văn hóa tỉnh An Giang và các tỉnh khác
ở Duyên Hải Nam Trung Bộ Bên cạnh đó, phát triển du lịch văn hóa của người Chăm tỉnh An Giang sẽ giải quyết được vấn đề xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù cho tỉnh, không trùng lắp với sản phẩm du lịch của các tỉnh khác Có như thế, tài nguyên du lịch văn hóa của người Chăm tỉnh An Giang mới được khai thác một cách hiệu quả và bền vững
1.3 Những bài học kinh nghiệm trong nghiên cứu, phát triển du lịch văn hóa
1.3.1 Bài học kinh nghiệm trong nước
Du lịch văn hóa tỉnh Quảng Nam
Các di sản văn hóa Hội An vừa hội tụ những đặc trưng, những tinh hoa của văn hóa dân tộc, vừa thể hiện những nét riêng có của một vùng văn hóa truyền thống; được đánh giá là “đỉnh cao của sức sáng tạo Việt Nam” Không những mang ý nghĩa về mặt lịch sử văn hóa, mà nhiều di tích ở Hội An còn là những tác phẩm kiến trúc nghệ thuật vô giá, có sức hấp dẫn rất lớn đối với các nhà nghiên cứu; du khách tham quan trong và
ngoài nước