Với quan điểm trên, tác giả cho rằng việc thực hiện được mục tiêu thu hút khách ra các tuyến tham quan mới hơn sẽ là một trong những bài giải phù hợp đối với vấn đề quá tải ở một số điểm
Trang 1NGUYỄN THỊ THU HẦNG
Giải pháp thu hút khách cho các tuyến thăm
quan mới trên vịnh Hạ Long
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH HỌC
HÀ NỘI, 2008
Trang 2Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ, biểu đồ
Mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu 2
4 Phạm vi nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 2
6 Bố cục 3
Chương 1 Cung du lịch trên vịnh hạ long 5
1.1 T ài nguyên du lịch trên vịnh Hạ Long 5
1.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 5
1.1.1.1 Vị trí địa lý 5
1.1.1.2 Khí hậu 6
1.1.1.3 Thắng cảnh 8
1.1.1.4 Hang động và bãi tắm 9
1.1.1.5 Các hệ sinh thái 14
1.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 17
1.1.2.1 Các di chỉ khảo cổ 17
1.1.2.2 Di tích lịch sử và lễ hội 18
1.1.2.3 Các đối tượng tài nguyên du lịch nhân văn khác 19
1.2 Nguồn nhân lực làm việc trên vịnh Hạ Long 19
1.3 Cơ sở hạ tầng du lịch 21
1.3.1 Cơ sở hạ tầng vật chất kĩ thuật 21
Trang 31.4 Phương tiện vận chuyển khách 24
1.5 Khả năng phát triển du lịch trên vịnh Hạ Long 26
1.5.1 Các tiêu chí đánh giá 26
1.5.2 Đánh giá khả năng phát triển du lịch trên vịnh Hạ Long 27
1.5.2.1 Giá trị cảnh quan 27
1.5.2.2 Giá trị điạ chất 27
1.5.2.3 Giá trị sinh học 28
1.5.2.4 Giá trị khảo cổ 28
1.5.2.5 Giá trị văn hoá bản địa 29
1.5.2.6 Vị trí điạ lý (so với trung tâm du lịch chính trong vùng và trung tâm đón khách) 29
1.5.2.7 Vị trí địa lý (so với các trung tâm du lịch hấp dẫn khác trong vùng) 29 1.5.2.8 Khả năng quan sát các loài sinh vật 30
1.5.2.9 Khả năng tiếp cận 30
1.5.2.10 Cảnh quan vùng phụ cận 30
1.5.2.11 Điều kiện cơ sở hạ tầng vật chất kĩ thuật 31
Chương 2 Hiện trạng khai thác du lịch trên các tuyến tham quan ở vịnh Hạ Long 33
2.1 Các tuyến tham quan trên vịnh Hạ Long 33
2.1.1 Các tuyến tham quan cũ 34
2.1.2 Các tuyến tham quan mới trên vịnh Hạ Long 38
2.2 Hiện trạng khai thác các tuyến tham quan trên vịnh 43
2.2.1 Bối cảnh chung 43
2.2.2 Thực trạng hoạt động du lịch trên các tuyến tham quan 45
2.2.3 Tình hình khách đến vịnh Hạ Long 50
2.2.3.1 Đặc điểm chung 52
Trang 43.1 Những căn cứ và định hướng 66
3.1.1 Quan điểm phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh 66
3.1.2 Định hướng phát triển du lịch vịnh Hạ Long 68
3.1.3 Phân tích SWOT về du lịch vịnh Hạ Long 69
3.1.4 Mục tiêu quản lý du lịch 71
3.1.5 Xu hướng phát triển của thị trường khách 72
3.2 Khuyến nghị 74
3.2.1 Các giải pháp ngắn hạn 74
3.2.1.1 Quảng cáo 75
3.2.1.2 Giảm giá, khuyến mại 75
3.2.1.3 Cung cấp thông tin 76
3.2.2 Các giải pháp dài hạn 77
3.2.2.1 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 77
3.2.2.2 Bảo tồn giá trị Di sản 78
3.2.2.3 Nâng cao chất lượng dịch vụ 80
3.2.2.4 Tạo điều kiện thuận lợi cho khách du lịch nước ngoài 81
3.2.2.5 Giảm tải ở khu vực trung tâm 82
3.2.2.6 Đầu tư cơ sở hạ tầng vật chất kĩ thuật 83
3.2.2.7 Hoạt động xúc tiến và quảng bá du lịch 84
3.2.2.8 Với cộng đồng dân cư địa phương 84
3.2.2.9 Công tác quản lý 85
Kết luận 87
Tài liệu tham khảo 89 Phụ lục
Trang 5tham quan mới trên vịnh Hạ Long” là của riêng tôi, do tôi nghiên cứu và hoàn thành Kết quả nghiên cứu được công bố trong luận văn là trung thực, không sao chép và chưa từng được công bố trong bất cứ tài liệu nào Tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng Khoa học và Hội đồng chấm thi Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 6Bảng 2: Phân loại tùng ở khu vực Hạ Long – Cát Bà 16
Bảng 3: Đánh giá khả năng phát triển du lịch trên vịnh Hạ Long 31
Bảng 4: Phân chia các khu chức năng trên vịnh Hạ Long 39
Bảng 5: Phân chia các trung tâm bảo tồn trên vịnh Hạ Long 46
Bảng 6: Thống kê lượt khách tham quan trên vịnh Hạ Long (từ năm 1996 – 2007) 51
Bảng 7: Kết quả khảo sát động cơ du lịch của khách trên vịnh Hạ Long 53
Bảng 8: Tỷ lệ khách Châu á trong tổng lượt khách quốc tế đến vịnh Hạ Long giai đoạn 1996 – 2007 62
Bảng 9: Sản phẩm du lịch ưu tiên cho một số thị trường khách du lịch quốc tế 73
Trang 7Hình 2: Bản đồ du lịch vịnh Hạ Long………40 Hình 3: Biểu đồ tăng trưởng khách du lịch trên vịnh Hạ Long giai
đoạn 1996 – 2007 52 Hình 4: Biểu đồ phân loại động cơ du lịch của khách tham quan trên
vịnh Hạ Long (kết quả khảo sát 300 khách) 53 Hình 5: Biểu đồ tỉ lệ về động cơ du lịch của khách trên vịnh Hạ
Long 54 Hình 6: Biểu đồ mật độ khách tại một số điểm tham quan quen thuộc
trên vịnh Hạ Long (kết quản khảo sát 300 khách) 56 Hình 7: Biểu đồ mật độ khách tại một số điểm tham quan quen thuộc
trên vịnh Hạ Long năm 2006 56 Hình 8: Biểu đồ phân chia động cơ du lịch của khách Việt Nam trên
vịnh Hạ Long (kết quả khảo sát 150 khách) 59 Hình 9: Tỷ lệ khách châu á trong tổng lượt khách quốc tế đến vịnh
Hạ Long giai đoạn 1996 – 2007 63 Hình 10: Biểu đồ phân chia động cơ du lịch của khách quốc tế trên
vịnh Hạ Long (kết quả khảo sát 150 khách) 64
Trang 8Nguyễn Thị Thu Hằng – CH 3 Khoa Du lịch học 1
Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Vịnh Hạ Long là một thắng cảnh thiên nhiên đẹp, nổi tiếng của Việt Nam đã được UNESCO hai lần công nhận là Di sản Thiên nhiên thế giới (năm 1994 và 2000) bởi giá trị nổi bật toàn cầu về cảnh quan tự nhiên và giá trị địa chất địa mạo Số lượt khách tới vịnh Hạ Long trong hơn mười năm qua tăng trưởng rất mạnh
Đã có 8 tuyến tham quan được xây dựng và triển khai trên khắp khu vực vịnh Hạ Long Tuy nhiên từ nhiều năm nay chỉ có 4 trong 8 tuyến tham quan ấy trở nên quen thuộc với du khách Tổng số lượt khách trên 4 tuyến tham quan còn lại chỉ bằng một phần nhỏ trong tổng số lượt khách đến vịnh
Hạ Long Bốn tuyến tham quan thu hút được nhiều lượt khách tham quan nhất nằm trọn vẹn trong khu vực bảo vệ tuyệt đối của Di sản Thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long Tại khu vực này (khu vực đảo Đầu Gỗ, đảo Bồ Hòn, Ti Tốp hay Soi Sim) thường xuyên xảy ra tình trạng quá tải Đặc biệt trong giai đoạn chính vụ, mỗi ngày khu vực đáng ra được bảo vệ tuyệt đối này phải đón hàng nghìn lượt khách và khoảng trên 500 lượt tàu ra vào Điều này tất nhiên đã gây ra những hậu quả to lớn đối với môi trường và vấn đề bảo vệ giá trị tài nguyên Đồng thời còn trực tiếp tác động làm giảm chất lượng tour du lịch và
là nguyên nhân gián tiếp gây ra tình trạng “khách không muốn quay trở lại”
Việc vịnh Hạ Long trở thành Di sản Thiên nhiên thế giới đã mở ra nhiều triển vọng mới cho du lịch Quảng Ninh nói riêng và du lịch Việt Nam nói chung Nhưng cùng với đó là trách nhiệm nặng nề đối với công tác quản
lý, bảo tồn và phát huy giá trị Di sản Vịnh Hạ Long đã thực sự trở thành một trung tâm du lịch lớn và quan trọng của tỉnh, của quốc gia Do đó bảo tồn và giữ nguyên giá trị tài nguyên là một trách nhiệm to lớn hàng đầu song trách
Trang 9Nguyễn Thị Thu Hằng – CH 3 Khoa Du lịch học 2
nhiệm khai thác và phát triển du lịch cũng không thể coi là thứ yếu Giải quyết mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển du lịch là một bài toán khó với nhà quản lý Và việc mở rộng không gian du lịch, giảm tải cho khu vực trung tâm, giãn khách ra vùng đệm và ngoại biên có thể coi là một hướng đi an toàn
Với quan điểm trên, tác giả cho rằng việc thực hiện được mục tiêu thu hút khách ra các tuyến tham quan mới hơn sẽ là một trong những bài giải phù hợp đối với vấn đề quá tải ở một số điểm trên vịnh Hạ Long Bởi vậy, tác giả
đã lựa chọn đề tài “Giải pháp thu hút khách cho các tuyến tham quan mới trên vịnh Hạ Long” làm đề tài tốt nghiệp của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm ra giải pháp thu hút khách cho các tuyến tham quan mới trên vịnh Hạ Long nhằm góp phần thực hiện được mục tiêu:
Giảm tải cho khu vực trung tâm
Giới thiệu, quảng bá các giá trị tài nguyên chưa được biết đến của vịnh Hạ Long
Nâng cao nhận thức của du khách về vịnh Hạ Long
3 Đối tượng nghiên cứu
Các yếu tố cung du lịch của vịnh Hạ Long
Các tuyến tham quan trên vịnh Hạ Long
Giải pháp thu hút khách cho các tuyến tham quan mới trên vịnh
Trang 10Nguyễn Thị Thu Hằng – CH 3 Khoa Du lịch học 3
Để hoàn thành đề tài, tác giả đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp thu thập và xử lý tư liệu: Trước hết tác giả đã thu thập các tài liệu liên quan đến đề tài Đọc, chọn lọc thông tin và phân loại tài liệu theo các danh mục nghiên cứu, mức độ quan trọng và tin cậy để sử dụng làm tài liệu tham khảo và đưa ra được những nhận xét ban đầu
Phương pháp nghiên cứu thực địa (điền dã): Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã nhiều lần đến vịnh Hạ Long (đối tượng nghiên cứu của
đề tài) để quan sát, thu thập và kiểm chứng thông tin Tác giả cũng đã tham gia vào một số hoạt động du lịch cùng du khách và trước đó (tháng 3 năm 2005), tác giả đã thực tập tốt nghiệp Đại học tại Ban Quản lý vịnh Hạ Long Qua những nghiên cứu thực địa đó có thể nhận biết chính xác và đầy đủ hiện trạng của vấn đề nghiên cứu Từ đó có thể đưa ra các giải pháp phù hợp
Phương pháp điều tra xã hội học: Tác giả đã thực hiện phương pháp này dưới hai hình thức là điều tra bằng bảng hỏi (300 khách) và phỏng vấn sâu đối với khách du lịch, nhân viên Ban Quản lý vịnh Hạ Long, nhân viên tàu, hướng dẫn viên Qua đó nắm bắt được các thông tin, các ý kiến, các gợi
ý giải quyết vấn đề
Phương pháp phân tích hệ thống: Phân tích các yếu tố của vấn đề nghiên cứu, đặt chúng vào một hệ thống nhằm tìm ra mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố, giữa các vấn đề Từ đó thấy được căn nguyên vấn đề để có được những phân tích chặt chẽ và tìm ra được giải pháp thích hợp
Phương pháp cân đối kinh tế: Trong phạm vi đề tài này, tác giả đã thực hiện phương pháp này để tính toán cân đối giữa lợi ích sẽ đem lại của các vấn đề đối nghịch như: nhu cầu du lịch và khả năng đáp ứng, phát triển du lịch với bảo tồn tài nguyên, lợi ích của nhà quản lý với các cơ sở kinh doanh, giữa du khách và các nhà cung ứng
Trang 11Nguyễn Thị Thu Hằng – CH 3 Khoa Du lịch học 4
6 Bố cục
Đề tài được hoàn thành với bố cục gồm 3 phần, kết cấu như sau:
Phần 1: Phần mở đầu
Phần 2: Nội dung (gồm 3 chương):
Chương 1: Cung du lịch trên vịnh Hạ Long
Chương 2: Hiện trạng khai thác du lịch trên các tuyến tham quan
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2008
Tác giả
Nguyễn Thị Thu Hằng
Trang 12Nguyễn Thị Thu Hằng – CH 3 Khoa Du lịch học 5
Chương 1 Cung du lịch trên vịnh hạ long
Tiểu dẫn
Từ lâu, vịnh Hạ Long Việt Nam đã nổi tiếng khắp thế giới bởi vẻ đẹp tuyệt mỹ và hoành tráng của hàng ngàn đảo đá (1969 đảo) trên mặt biển Với cảnh quan ngoại hạng ấy, vịnh Hạ Long đã hai lần được Tổ chức UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới Nhưng Hạ Long không chỉ là một thắng cảnh đẹp mà trong nó còn ẩn chứa các giá trị ngoại hạng về địa chất, địa mạo, về giá trị đa dạng sinh học và lịch sử văn hoá
1.1 Tài nguyên du lịch trên vịnh Hạ Long
1.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên
1.1.1.1 Vị trí địa lý
Nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam, vịnh Hạ Long thuộc toạ độ địa lý từ điểm cực Nam ở đảo Hạ Mai, xã Ngọc Vừng là 20040’ độ vĩ Bắc đến điểm cực Bắc là dãy núi Mỏ Toòng của huyện Bình Liêu ở 21040’ vĩ độ Bắc; từ điểm cực Tây ở 106026’ kinh độ Đông với sông Vàng Chua của hai xã Bình Dương và Nguyễn Huệ thuộc huyện Đông Triều đến điểm cực Đông của tỉnh
là Mũi Gót ở 108031’ kinh độ Đông, trên đất Trà Cổ, thị xã Móng Cái [19, 3] Khu vực Di sản có vùng bảo vệ tuyệt đối xác định trong toạ độ từ 106059’24” đến 107020’30” kinh độ Đông và 20043’24” đến 21056’12 vĩ độ Bắc, giới hạn bởi 3 điểm: đảo Đầu Gỗ (phía Tây), đảo Đầu Bê (phía Nam) và đảo Cống Tây (phía Đông) với diện tích 434km2, gồm 775 hòn đảo, trong đó có 411 đảo đã
được đặt tên [7, 7] Đây cũng là khu vực giới hạn được nhắc đến trong khái
niệm vịnh Hạ Long dưới đây
Tỉnh Quảng Ninh là đơn vị hành chính – kinh tế trọng điểm, nằm trong tam giác phát triển Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh của miền Bắc Việt
Trang 13Nguyễn Thị Thu Hằng – CH 3 Khoa Du lịch học 6
Nam Hơn nữa, ở vào vị trí chỉ cách Hà Nội (trung tâm đón khách lớn nhất miền Bắc) 165km – một khoảng cách lí tưởng trong phát triển du lịch, Quảng Ninh đã trở thành một trong những điểm đến quan trọng nhất của Việt Nam
Vùng biển Quảng Ninh nằm trên luồng giao lưu đường biển chính từ Trung Quốc đến Vịnh Bắc Bộ vào các cảng lớn phía Bắc Việt Nam và vào phần phía Nam biển Đông đến các quốc gia lân cận vùng Đông Nam á Chính
vì vậy, tỉnh Quảng Ninh đã nhận một vị thế đặc biệt ở cửa ngõ Đông Bắc trong giao lưu kinh tế, giao bang với Trung Quốc láng giềng và cả trong bảo
vệ an ninh lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam nói chung
Sự hội tụ giữa vị trí địa lý và cấu trúc cảnh quan lãnh thổ cả trên đất liền và trên biển cùng những tiềm năng vốn có đã đưa vịnh Hạ Long vào vị thế thu hút khách thập phương về đây thưởng ngoạn, để nhận ra những nét hấp dẫn của các thắng cảnh trên một vùng thiên nhiên độc đáo để giao lưu tạo lập nên những mối quan hệ trong phát triển lâu dài
1.1.1.2 Khí hậu
Khí hậu Hạ Long là khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa hè (tháng 5 đến tháng 10) nóng ẩm, mưa nhiều nhiệt độ trung bình từ 27 – 290
C, mát khô vào mùa đông, nhiệt độ trung bình từ 16 – 180C Lượng mưa trung bình năm là
1680 mm, với khoảng trên 300 mm vào các tháng 6, 7, 8 và dưới 300 mm vào các tháng khô nhất trong năm là tháng 12, tháng 1 và tháng 2
Những đặc trưng khí hậu quan trọng nhất của các mùa trong năm ở Hạ Long là:
Mùa đông (từ tháng 11 đến tháng 3)
Từ các khối không khí cực đới ở phương Bắc tràn xuống, gió mùa Đông Bắc lạnh và khô xuất hiện với tần suất tương đối lớn và đến được những vĩ độ thấp nhất của nước ta Tuy vậy, sự khống chế của nó không phải
Trang 14Nguyễn Thị Thu Hằng – CH 3 Khoa Du lịch học 7
là thường xuyên Giữa các đợt gió mùa Đông Bắc lạnh là các khối không khí nhiệt đới Mùa Đông là mùa lạnh và ít mưa ở Quảng Ninh
Vào thời kì đầu mùa đông, từ tháng 11 đến giữa tháng 12, ảnh hưởng đến Quảng Ninh thường là từ rìa áp cao Gió mùa Đông Bắc lạnh chưa nhiều, trời ít mưa và khô Đôi khi rãnh phía Tây xuất hiện kết hợp lưỡi áp cao tạo nên sương mù, mưa nhỏ hoặc mưa phùn
Thời kỳ giữa mùa, từ tháng 2 đến cuối tháng 3 thường ít có gió mùa Đông Bắc hơn, thời tiết thường âm u, ẩm thấp, mưa phùn nhiều Đây là khoảng thời gian có nhiều mưa phùn nhất trong năm
Mùa xuân (tháng 4)
Thực chất đây là khoảng thời gian quá độ từ đông sang hè, vì vậy thời tiết trong khoảng thời gian này có sự giao tranh giữa không khí cực đới và không khí nhiệt đới, trời bắt đầu có mưa giông
Mùa hè (từ tháng 5 đến tháng 9)
Thường xuất hiện khối không khí nhiệt đới xích đạo, áp cao Thái Bình Dương, bão xoáy thấp xuất hiện khá nhiều nhất là vào giữa mùa Nửa đầu mùa thường có mưa dông và mưa rào, nửa cuối mùa ít dần đi Thỉnh thoảng
có gió mùa Đông Bắc yếu làm nhiệt độ giảm đi chút ít
Đây là thời gian nóng nhất trong năm, có nhiều dông bão và lượng mưa lớn
Mùa thu (tháng 10)
Thời gian này ảnh hưởng của áp cao đã yếu dần đi và rút dần ra biển Bão và giải hội tụ nhiệt đới hoạt động mạnh ở các vĩ độ thấp ở nước ta Không khí cực đới bắt đầu phát triển, Quảng Ninh thường chịu ảnh hưởng của rìa áp cao lạnh Vào khoảng thời gian này, tuy không thường xuyên song thỉnh thoảng Hạ Long vẫn có mưa lớn do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc
Trang 15Nguyễn Thị Thu Hằng – CH 3 Khoa Du lịch học 8
Nhìn chung, khí hậu Hạ Long thích hợp cho phát triển du lịch đặc biệt
là du lịch tham quan, tắm biển, phơi nắng, nghỉ dưỡng, thể thao và du lịch sinh thái Tuy nhiên do có mùa đông lạnh và có nhiều ngày thời tiết xấu nên
đã có những trở ngại trực tiếp đến các hoạt động của con người, trong đấy có hoạt động du lịch và chính điều đó tạo nên tính mùa vụ trong du lịch Hạ Long Mùa hè là thời kỳ hoạt động của dông bão và các trận mưa lớn gây ra biển động, lũ lụt, sạt lở đường giao thông, xói mòn bờ sông, bờ biển, gây nên những tổn thất lớn về kinh tế và khó khăn cho đời sống sinh hoạt của nhân dân Điều này cũng ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu đi du lịch của du khách
và gây ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh du lịch của vịnh Hạ Long Vì vậy ngành du lịch cần có kế hoạch chủ động phòng tránh thiên tai, lợi dụng xu thế nổi trội theo mùa để phát triển các dạng sản phẩm du lịch, đảm bảo sự hoạt động đồng đều cho du lịch vịnh Hạ Long trong cả năm
1.1.1.3 Thắng cảnh
Vịnh Hạ Long đã hai lần được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới bởi các giá trị thẩm mỹ và địa chất địa mạo Đây là một Di sản thiên nhiên rất có giá trị và nổi tiếng thế giới được cấu tạo bởi các chất liệu chính là đá, nước và bầu trời
Vịnh Hạ Long là thắng cảnh độc đáo có giá trị nhiều mặt, trong đó khu vực tập trung nhiều giá trị nổi bật nhất là khu vực nằm trong bán kính 434km2
mà UNESCO đã công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới
Nếu nhìn bao quát vịnh Hạ Long sẽ hiện lên như một tác phẩm nghệ thuật tạo hình vĩ đại của thiên nhiên – một tác phẩm nghệ thuật độc đáo mà có
lẽ chỉ có tạo hoá mới làm được Bởi đó là sự kết hợp rất tinh tế và tài tình giữa điêu khắc và hội hoạ, giữa sự cứng cỏi mạnh mẽ của đá với sự duyên dáng thơ mộng của nước Đó thật là một tác phẩm mà khó có người nghệ sỹ nào làm được Điều đặc biệt nữa khi đi tham quan thắng cảnh vịnh Hạ Long đấy là du
Trang 16Nguyễn Thị Thu Hằng – CH 3 Khoa Du lịch học 9
khách sẽ thấy cảnh quan vịnh Hạ Long sẽ không ngừng biến đổi theo từng góc nhìn, từng thời điểm và thậm chí là theo từng tâm trạng của du khách Vâng, chắc chắn sẽ là như vậy, bởi tác phẩm nghệ thuật mà tạo hoá đã tạo dựng và cho đến nay Ngài vẫn chưa ngừng tu sửa đó là một tác phẩm nghệ thuật mang tính động Hạ Long đẹp bốn mùa Mùa xuân thảm thực vật đâm chồi nảy lộc, xanh biếc trên núi đá vôi, thời tiết lại hay có mưa phùn, nhiều sương tuy làm hạn chế tầm nhìn của du khách song lại càng làm tăng vẻ đẹp
mờ ảo quyến rũ Mùa hè trời trong xanh, nhiệt độ không quá cao, lại có ánh nắng chiếu xuống làm đổ bóng những đảo đá vôi xuống mặt nước biển Những đảo đá này vốn đã rất tạo hình nay lại càng đẹp lung linh dưới ánh nắng ngày hè Mùa thu, nhất là vào những đêm trăng sáng, trăng soi các đảo
đá xuống mặt nước, Hạ Long hiện lên với vẻ đẹp của một thiếu nữ Mùa đông, khói sóng, khói sương bay là là nửa như muốn giấu bớt đi vẻ đẹp của
Hạ Long và điều đó lại càng làm cho Hạ Long trở nên quyến rũ hơn
Theo quy hoạch, khu vực vịnh Hạ Long được chia thành ba tiểu khu vực như sau:
Tiểu khu vực 1: bao gồm 775 hòn đảo của vịnh Hạ Long nằm trong
ranh giới được UNESCO công nhận
Tiểu khu vực 2: theo vùng đệm UNESCO đã hoạch định, bao gồm
một số khu vực tác động trực tiếp đến Di sản
Tiểu khu vực 3: từ ranh giới vùng đệm đến ranh giới bảo tồn quốc
gia.[19, 14]
1.1.1.4 Hang động và bãi tắm
Vịnh Hạ Long có tổng diện tích là 1553km2 với 1969 hòn đảo, trong đó
có hơn 900 đã có tên Nhưng không phải tại tất cả các đảo đều có hang động
và bãi tắm, một số đảo có hang động hoặc bãi tắm cũng chưa được đưa vào khai thác phục vụ du lịch Vì vậy, các bãi tắm và hang động được nói đến
Trang 17Nguyễn Thị Thu Hằng – CH 3 Khoa Du lịch học 10
dưới đây chỉ bao gồm các hang động và bãi tắm đã được đưa vào danh sách các điểm đến trên vịnh với mục đích phục vụ hoạt động tham quan, tắm biển của du khách
1.1.1.4.1 Hang động
Động Thiên Cung: Tổng diện tích rộng hơn 3000m2, động có độ tuổi khoảng 2000 năm Đây là loại động có kiểu kiến trúc dọc, 2 tầng, nằm theo hướng bắc nam, treo lơ lửng cách mặt nước 27m [27] Nền động là loại đất hoàng thổ, đá màu gan gà và rất nhiều măng đá Trần động là các dải nhũ kết tủa và các rèm đá Trong động cũng có rất nhiều các cột đá lớn nhỏ Sự hình thành các cột đá là do sự tích tụ lâu ngày làm cho măng đá và nhũ đá chạm nhau và hợp lại làm một, quá trình này cần đến cả gần nhìn năm Tên gọi của động xuất phát từ vẻ đẹp nguy nga, tráng lệ của nó Thiên Cung có nghĩa là hoàng cung nơi tiên giới Động được một người dân chài Hạ Long tìm ra vào năm 1993 nhưng theo dấu tích còn ghi lại trên vách động thì động được người Pháp phát hiện từ đầu thế kỉ XX (1901 và 1946)
Hang Đầu Gỗ: Nằm trong quần thể khu thắng cảnh Thiên Cung - Đầu
Gỗ Xưa đảo này có tên là Canh Độc, sỡ dĩ gọi là đảo Đầu Gỗ, theo truyền thuyết kể lại rằng: Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, tướng Trần Hưng Đạo đã cho chuẩn bị nhiều cọc gỗ lim ở đây để cắm xuống sông Bạch Đằng, có rất nhiều mảnh còn sót lại nên mới gọi là hang Đầu Gỗ Hang được chia làm 3 ngăn chính Ngăn phía ngoài có hình vòm, trần hang được ví là một bức tranh sơn dầu khổng lồ, ở giữa hang có một cột đá lớn (khoảng chục người ôm) Ngăn thứ hai được ngăn cách với ngăn thứ nhất bằng một khe cửa hẹp Tận cùng hang là một chiếc giếng tiên bốn mùa đều có nước ngọt trong vắt
Hang Sửng Sốt: Hang nằm ở khu trung tâm của vịnh Hạ Long, thuộc
đảo Bồ Hòn, cách bến tàu du lịch Bãi Cháy 14 km về phiá Nam Cửa hang rộng và khá cao ước chừng 25m, trần hang chỗ cao nhất đo được 30m, lòng
Trang 18Nguyễn Thị Thu Hằng – CH 3 Khoa Du lịch học 11
hang rộng khoảng 10000m [27] Đây là một hang rộng và đẹp nhất nhì Hạ Long và cũng là nơi tập trung nhiều đảo đá có hình dáng đặc sắc không nơi nào có được Hang nằm ở vị trí khá cao so với mặt nước biển, đường lên hang lại cheo leo, luồn dưới những tán lá rừng Đây lại chính là một trong những điểm làm nên sức hấp dẫn cho hang, du khách khi lên thăm hang sẽ có được cái thú và cái háo hức của người leo núi
Hang Luồn: Cũng nằm trên đảo Bồ Hòn, cùng hệ thống với hang Sửng
Sốt, hồ Động Tiên, hang Trinh Nữ Hang Luồn thực chất là một hệ thống các đảo khép kín thông với biển bằng một cửa hang rộng chừng 4m, cao 3m và dài 100m [27] Phía trước hang là hòn Con Rùa, bên phải là Cổng Trời, cửa hang nằm ở phía dưới sát với mép nước Lòng hang chính là hồ nước lợ rộng chừng 1000m2
[28] Cách duy nhất để vào thăm hang là đi bằng thuyền nan nhỏ hoặc ca nô
Hang Trinh Nữ - Hang Trống: Nằm trên đảo Bồ Hòn, hai hang đối
diện nhau chúng cùng nổi tiếng với tiếng dội rất giữa chúng và điều đó đã tạo
ra sự gắn kết rất đặc biệt Đến thăm hai hang này du khách không chỉ được chiêm ngưỡng vẻ quyến rũ của cảnh quan mà còn bị thu hút bởi câu chuyện
về tình yêu, lòng chung thuỷ cuả chàng trai (hang Trống) và cô gái (hang Trinh Nữ) Chính truyền thuyết ấy là cái đã thổi hồn cho những khối đá rất vật chất ở đó và tạo ra sức hấp dẫn lớn đối với du khách như vậy
Hang Hanh: Nằm ở vị trí khá xa so với bến cảng du lịch Bãi Cháy
(khoảng 20km), cách thị xã Cẩm Phả 9 km về phiá Tây, thuộc dãy núi đá
Quang Hanh [28] Khi tìm ra hang này người Pháp đã nói đó là con đường
hầm, bởi nó chạy xuyên suốt dãy núi Quang Hanh, có hai cửa thông ra biển
Hang này có chiều dài 1300m [27], lại uốn khúc quanh co Đây được coi là hang động dài và đẹp nhất vịnh Hạ Long Để vào thăm hang phải đi vào lúc thuỷ triều xuống thấp nhất và tính toán chính xác được con nước nếu không
Trang 19Nguyễn Thị Thu Hằng – CH 3 Khoa Du lịch học 12
dễ bị mắc kẹt trong hang Bình thường một thuyền nhỏ ra vào hang mất khoảng 60 – 90 phút Trong hang rất tối và đẹp nên cần chuẩn bị đuốc hoặc đèn pin Đây là điểm đến rất hấp dẫn đối với ai ưa mạo hiểm
Hang Bồ Nâu: Cách hòn Trống Mái 2 – 3km về phiá Đông Nam [27]
Hang có dạng hàm ếch, cửa hang rộng, thoáng lại ở vị trí khá thấp nên từ trên
du thuyền du khách đã có thể bao quát được cả hang Hang rộng khoảng 200m2 [27], phẳng, trần hang có nhiều vết nứt, hở nên ánh sáng mặt trời có thể rọi xuống, phía trước cửa hang có một hòn đảo khác nữa Vì vậy hang lúc nào cũng rất sáng nhưng lại không bao giờ bị chói chang Đã từ lâu hang được đánh giá là hang động có cửa hang đẹp nhất vịnh Hạ Long
Hồ Ba Hầm: Nằm trên đảo Đầu Bê, thuộc vịnh Lan Hạ Đảo Đầu Bê
thuộc nhóm đảo nằm ở ngoài cùng phiá Tây Nam vịnh Hạ Long, tiếp giáp với biển Long Châu [28] Hồ Ba Hầm là một hệ thống gồm ba trũng biển hình tròn, thông với nhau qua một hang luồn hẹp uốn khúc quanh co Mặc dù cách
bờ 25km nhưng đã từ lâu đây đã là một điểm đến hấp dẫn cuả vịnh Hạ Long bởi vẻ đẹp khác biệt không chỉ của cảnh quan mà còn của hệ động thực vật Đường vào hang khá giống với hang Luồn nhưng lại không dễ dàng như thế
và đó chính là điều tạo nên cái thú cho khách thăm quan
Động Tam Cung: Nằm trên đảo Mây Đèn – một hòn đảo gần như cách
biệt hoàn toàn với các đảo khác nhưng cũng thuộc vào khu đảo trung tâm cuả vịnh Hạ Long Động cách hang Sửng Sốt 5km về hướng Đông Bắc Sở dĩ có tên gọi là động Tam Cung vì động này được chia làm 3 ngăn với các khối nhũ
đá, măng đá mang các hình thù rất tự nhiên và sống động
Động Mê Cung: Cách bãi tắm Ti Tốp 2km về phiá Tây Nam, nằm trên
đảo Lờm Bò, ở độ cao 25m so với mực nước biển [27] Cửa động rất hẹp chỉ
có thể từng người đi qua, lòng động mở ra nhiều ngăn song vẫn nhỏ hẹp Động Mê Cung được các nhà khoa học xác định là một di chỉ khảo cổ học
Trang 20Nguyễn Thị Thu Hằng – CH 3 Khoa Du lịch học 13
thuộc nền văn hoá tiền Hạ Long thời sơ kỳ đồ đá mới, cách nay 7000 – 10000 năm [27] Gần đây người ta còn phát hiện ra bộ xương thú hoá thạch trong động, cửa động còn có một lớp ốc suối Melina đã kết tầng bán hoá thạch khá dày và dài làm nền Vì vậy động không chỉ có giá trị về tài nguyên thiên nhiên
mà còn có giá trị rất lớn về tài nguyên nhân văn và khảo cổ
Động Kim Quy: Động dài 100m, rộng 5 – 10m, trải dài theo hướng
Bắc Nam Nằm trên đảo Dầm Nam, đỉnh cao 187m, phiá trước là đảo Dầm Bắc, phía sau là đảo Soi Sim [28] ở hang Đầu Gỗ người ta tìm thấy dấu tích của các mẩu gỗ trong trận điạ Bạch Đằng, còn tại nơi đây thiên nhiên lại tái tạo trận điạ ấy một cách sống động và chính xác bằng chất liệu đá và nước
1.1.1.4.2 Bãi tắm
Bãi Cháy: Là bãi tắm nhân tạo, rộng 100m, dài 500m, nằm sát bờ vịnh
Hạ Long [27] Hiện nay, bãi tắm đang do công ty cổ phần quốc Hoàng Gia quản lý Đây là bãi tắm lâu đời nhất ở Hạ Long, nằm ngay bên đường quốc lộ, tiện đi lại nên cho đến nay đây vẫn là bãi tắm có lượng khách đông nhất ở Hạ Long
Ti Tốp: Cách Bãi Cháy 14km về phiá Đông Bãi tắm có hình vầng
trăng ôm gọn chân đảo Ti Tốp [27] Tuy nhỏ song thoáng đãng, yên tĩnh, không gian đẹp, nước trong xanh nên có sức hấp dẫn rất lớn đối với du khách Hiện nay, do lượng khách quá đông, những ngày trong thời vụ du lịch tàu chở khách neo đậu tràn lan ngay gần bãi tắm nên đã làm mất đi vẻ đẹp cảnh quan, gây ô nhiễm nguồn nước ở khu vực bãi tắm
Minh Châu: Nằm ở vị trí khá xa so với bến cảng du lịch Bãi Cháy,
cách bãi tắm Quan Lạn 9 km Bãi tắm nổi tiếng với bãi cát dài, trắng muốt, đi không dính chân Để ra đến đây du khách có thể đi bằng thuyền tham quan vịnh từ bến tàu du lịch bãi Cháy cũng có thể xuất phát từ Cẩm Phả, qua phà Tài Xá, đến thị trấn Cái Rồng rồi đi thuyền ra Minh Châu Nơi này nằm ở vị
Trang 21Nguyễn Thị Thu Hằng – CH 3 Khoa Du lịch học 14
trí khá xa, ở phiá ngoài khu trung tâm du lịch trên vịnh Hạ Long nên lượng khách ít khi bị quá tải
Ba Trái Đào: Cái tên Ba Trái Đào xuất phát từ ba bãi cát hình cánh
cung ôm lấy chân của một cụm gồm 3 đảo Ba đảo này có hình thù nhìn từ trên xuống, từ xa lại rất giống hình 3 trái đào tiên Bãi tắm này mỗi ngày chỉ tắm được 2 – 3h, khi thủy triều xuống Tuy thế vẫn có hàng năm vẫn có hàng triệu lượt khách đến tắm ở đây Điều này cũng đủ chứng tỏ sức hấp dẫn và vẻ đẹp của bãi tắm này
Quan Lạn: Nằm trên đảo Quan Lạn, thuộc vịnh Bái Tử Long, ở giữa hai
xã Minh Châu và Quan Lạn, huyện Vân Đồn Đây là bãi tắm còn khá nguyên sơ, cách thành phố Hạ Long 25km [27] Bãi tắm rộng và dài, cát trắng dài vài km, ngay sát mép nước lại là rặng dứa dại, gần đấy là rặng phi lao ngút ngàn
Ngọc Vừng: Nằm ở phía Nam đảo Ngọc Vừng, cách bến tàu du lịch
Bãi Cháy 34 km về phía Đông Nam [27] Là một bãi tắm xa bờ, rất rộng, dài khoảng 3 km, còn rất hoang sơ, có rất ít khách du lịch đến đây Hầu hết các bãi tắm ở Hạ Long là nhân tạo hoặc được các nhà đầu tư bồi thêm cát, còn ở Ngọc Vừng bãi tắm là hoàn toàn tự nhiên
Tuần Châu: Là bãi tắm hoàn toàn nhân tạo, dài khoảng 2 km, nằm trên
đảo Tuần Châu, cách bến tàu du lịch khoảng 8 km [27] Hiện nay Tuần Châu
đã được các nhà đầu tư cơ bản hoàn thiện các hạ tầng cơ sở Con đường nối
bờ với đảo đã hoàn thiện và đã được đưa vào sử dụng vài năm nay Điều này
đã tạo rất nhiều thuận lợi cho du khách song lại là vấn đề nhức nhối đối với hoạt động bảo vệ môi trường và hệ sinh thái biển
1.1.1.5 Các hệ sinh thái
Vịnh Hạ Long là một biển đảo được bao bọc bởi các dải ven bờ thuộc các huyện Yên Hưng, Hoành Bồ, Hạ Long, Tiên Yên, Cẩm Phả, Móng Cái và một phần huyện đảo Cát Bà Mặt vịnh có rất nhiều đảo đá lớn nhỏ tạo thành
Trang 22Nguyễn Thị Thu Hằng – CH 3 Khoa Du lịch học 15
các tùng, áng, vũng Ven bờ và các vùng lân cận là cửa của hàng chục con sông lớn nhỏ đổ ra vịnh rồi đi ra biển Đông đã tạo ra vô số luồng lạch và bãi triều rộng lớn Đây là khu vực nước lợ giàu dinh dưỡng, là nguồn thức ăn lớn
và là điều kiện tốt cho các hệ sinh thái biển tồn tại và phát triển
Về giá trị đa dạng sinh học ở vịnh Hạ Long có thể chia thành hai hệ sinh thái lớn: hệ sinh thái rừng thường xanh nhiệt đới, hệ sinh thái biển và ven bờ
1.1.1.5.1 Hệ sinh thái rừng thường xanh nhiệt đới
Phân bố ở các đảo trên vịnh Hạ Long Tổng số loài thực vật sống trên đảo chưa được xác định nhưng có lẽ con số sẽ rất lớn Tuy nhiên mức độ tập trung lại rất thấp Một số quần xã các loài thực vật đã được phát hiện gồm: các loài ngập mặn, các loài thực vật ở bờ cát ven đảo, các loài mọc trên sườn núi và vách đá, trên đỉnh núi, cửa hang hay khe đá [7, 23] Theo thống kê năm
2003 của các nhà khoa học, thực vật Hạ Long có 435 loài với 416 loài mộc lan, 14 loài dương xỉ, 2 loài thông đất, 2 loài thông hạt trần, ngành lá thông 1 loài Động vật có 4 loài lưỡng cư, 8 loài bò sát, 76 loài chim và 22 loài thú [7, 24] Đặc biệt, ở Hạ Long đã phát hiện được 13 loài thực vật đặc hữu như: Khổ
Cử Đại Nhung, Móng Tai Hạ Long, Lan Tím [7, 23]
1.1.1.5.2 Hệ sinh thái biển và ven bờ
Bao gồm hệ sinh thái đất ướt và hệ sinh thái biển Đến nay, các nhà khoa học đã xác định được 315 loài cá, 545 loài động vật không xương sống đáy, 234 loài san hô, 411 loài sinh vật phù du, 139 loài rong biển, 5 loài cỏ biển và 28 loài thực vật ngập mặn [7, 24]
Hệ sinh thái đất ướt
Gồm 6 hệ sinh thái:
Hệ sinh thái vùng triều và ngập mặn: Là nơi sinh sống của nhiều loài sinh vật khác nhau, mang năng suất sinh học cao
Trang 23Nguyễn Thị Thu Hằng – CH 3 Khoa Du lịch học 16
Hệ sinh thái đáy cứng, rạn san hô: Là hệ sinh thái mang năng suất sinh học cao và là bộ lọc giúp làm sạch môi trường Hiện ở Hạ Long phát hiện có 234 loài san hô Rạn san hô này là nơi sinh sống của 155 loài cá biển, 230 loài thân mềm, 77 loài giáp xác, 129 loài rong biển, 11 loài hải miên v.v [7, 25]
Hệ sinh thái hang động và Tùng, áng: Theo định nghĩa của các nhà khoa học, áng là các hồ chứa nước, nằm giữa đảo; còn Tùng là vùng nước có một cửa tương đối kín, ít sóng [7, 25] Hiện ở khu vực vịnh Hạ Long – Cát Bà có 57 Tùng (riêng vịnh Hạ Long có 19 Tùng) và 62 áng với diện tích và số lượng cụ thể như sau:
Bảng 1: Phân loại áng ở khu vực Hạ Long - Cát Bà
STT Diện tích (ha) Số lượng Tỷ lệ (%)
Trang 24Nguyễn Thị Thu Hằng – CH 3 Khoa Du lịch học 17
Bảng 2: Phân loại tùng ở khu vực Hạ Long - Cát Bà
STT Diện tích (ha) Số lượng Tỷ lệ (%)
Nguồn: Phân viện Hải dương học tại Hải Phòng
Hệ sinh thái đáy mềm: Là hệ sinh thái của quần xã cỏ biển Chúng có tác dụng chắn sóng và tham gia hấp thụ các chất hữu cơ làm sạch môi trường biển Hiện đã thống kê được 17 loài rong biển, 25 loài động vật phù du, 76 loài động vật đáy 3 loài giun nhiều tơ; 29 loài nhuyễn thể; 9 loài giáp xác [7, 25 - 26]
Hệ sinh thái bãi triều không có rừng ngập mặn: Thường phân bố ở đới triều thấp, là nơi sinh sống của động vật nhuyễn thể hai mảnh vỏ và giun biển có giá trị như sá sùng, hải sâm, ngao, sò [7, 26]
Hệ sinh thái nhân tạo: Là điều kiện sinh thái do con người tạo ra nhằm mục đích phát triển kinh tế, qua đó đã làm thay đổi một số nguồn gen
tự nhiên để tạo ra năng suất cao hơn
Hệ sinh thái biển
Hệ sinh thái biển bao gồm:
Thực vật phù du: Là thực vật nhỏ sống trôi nổi trong nước, có thể tự dưỡng trong quá trình quang hợp ở vịnh Hạ Long, các nhà khoa học đã thống kê được 278 loài [7, 27]
Trang 25Nguyễn Thị Thu Hằng – CH 3 Khoa Du lịch học 18
Động vật phù du: Là động vật nhỏ sống trôi nổi trong nước Theo kết qủa điều tra của Viện Tài nguyên và Môi trường biển thì vùng biển Hạ Long – Cát Bà có 133 loài động vật phù du [7, 27]
Động vật đáy: Là nhóm động vật sống ở đáy biển Tính đến năm 2003, các nhà nghiên cứu đã thống kê được 545 loài động vật đáy ở vịnh Hạ Long với 4 nhóm chính: Động vật thân mềm (261 loài), giun nhiều tơ (145 loài), giáp xác (113 loài) và nhóm da gai (26 loài) [7, 27]
Động vật tự du: Là động vật hoàn toàn tự chủ bơi lội trong nước, di cư kiếm mồi, sinh sản và trú đông Đến nay người ta đã xác định được 328 loài động vật tự du, trong đó có 315 loài cá, 10 loài bò sát và 3 loài thú biển [7, 28]
1.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
1.1.2.1 Các di chỉ khảo cổ
Quảng Ninh nói chung và Hạ Long nói riêng là nơi có nền văn hoá lâu đời
và liên tục Đây được coi là một trong những nôi sinh sống của người Việt cổ thuộc hậu kì đồ đá mới cách nay 22000 – 25000 năm với một quá trình phát triển liên tục với ba nền văn hoá kế tiếp với những di chỉ khảo cổ nổi tiếng:
1.1.2.1.1 Văn hoá Soi Nhụ (cách nay 18000 – 7000 năm)
Phân bố chủ yếu trong khu vực các đảo đá vôi thuộc vịnh Hạ Long và Bái Tử Long, ngoài ra còn phân bố ở các hang động ven bờ Các dấu tích loài hàu lớn ở đây đã chứng tỏ rằng: so với văn hóa Hoà Bình – Bắc Sơn cùng thời, người Soi Nhụ đã có mô hình văn hoá đa dạng và phong phú hơn bởi ngoài các phương thức kiếm sống khác, cư dân ở đây còn có thêm yếu tố biển
1.1.2.1.2 Văn hoá Cái Bèo (cách nay 7000 – 5000 năm)
Các di chỉ của nền văn hoá này phân bố trên bờ các vïng vịnh kín gió tựa vào núi mà chủ yếu là núi đá vôi Phương thức kiếm sống của người Cái Bèo là định hướng khai thác biển cùng với săn bắn, hái lượm trên cạn Trình
Trang 26Nguyễn Thị Thu Hằng – CH 3 Khoa Du lịch học 19
độ chế tác đồ gốm còn đơn giản, thô sơ Đặc biệt, người Cái Bèo đã khai thác biển cả bằng giao lưu, trao đổi trên biển
1.1.2.1.3 Văn hoá Hạ Long (cách nay 4500 – 3500 năm)
- Giai đoạn sớm của văn hóa Hạ Long (giai đoạn Thoi Giếng): Phương thức sống của cư dân giai đoạn Thoi Giếng là săn bắn và hái lượm Nghệ thuật chế tác công cụ lao động và đồ gốm đã tinh xảo hơn
- Giai đoạn muộn của văn hóa Hạ Long: Trong giai đoạn này, người Hạ Long cư trú trên những khu vực bị biển ngăn cách thành đảo, họ đã hoàn toàn
là cư dân của biển, kĩ thuật chế tác đã trở thành đặc trưng của văn hoá Hạ Long Vì thế giai đoạn này có một vị trí đặc biệt đối với nền văn minh Việt Cổ
1.1.2.2 Di tích lịch sử và lễ hội
ở Quảng Ninh có rất nhiều di tích lịch sử và lễ hội nổi tiếng với nhiều quy mô khác nhau đã và đang thu hút được nhiều khách thập phương Tuy nhiên, tính riêng khu vực vịnh Hạ Long yếu tố tài nguyên này rất ít mà hầu hết lại ở dạng quy mô nhỏ và ở vị trí xa khu vực trung tâm vịnh Đây chính là một sự thiếu sót về mặt tài nguyên song cũng không làm giảm đi sức hấp dẫn của vịnh Hạ Long
1.1.2.3 Các đối tượng tài nguyên du lịch nhân văn khác
Đến với Hạ Long, ngoài việc tham quan ngắm cảnh thiên nhiên hùng
vĩ, tươi đẹp du khách còn có cơ hội tìm hiểu nét văn hoá đặc biển của cư dân biển Làng chài Cửa Vạn là nơi tập trung rất nhiều cư dân biển, những người
từ lâu đã coi thuyền là nhà, biển là quê
Ngoài ra, du khách còn được thưởng thức các đặc sản biển như rượu ngán, canh hà, cháo hà, chả mực, sá sùng, các loài hải sản tươi sống khác
Vịnh Hạ Long không chỉ có nền văn hoá lâu đời mà tại đây đã ghi dấu bao sự kiện lịch sử trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Trong suốt một thời gian dài từ thời Lý, Trần, Lê Vân Đồn đã nổi tiếng là một
Trang 27Nguyễn Thị Thu Hằng – CH 3 Khoa Du lịch học 20
thương cảng sầm uất và là một điểm giao lưu văn hoá phồn thịnh Vịnh Hạ Long còn là nơi chứng kiến ba trận thắng oanh liệt của quân và dân ta trên sông Bạch Đằng dưới sự chỉ huy của ba anh hùng dân tộc là Ngô Quyền (938), Lê Hoàn (981) và Trần Hưng Đạo (1288) Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ quân dân Quảng Ninh đã chiến đấu hết mình góp phần bảo vệ hoà bình cho Tổ quốc
Ngày nay, bên vịnh Hạ Long có 21 dân tộc anh em với những phong tục tập quán khác nhau đang cùng sinh sống Nh÷ng phong tôc tËp qu¸n cña
hä chính là văn hoá phi vật thể của dân tộc Ngoài ra, vịnh Hạ Long còn gần với những di tích lịch sử văn hoá khác như quần thể di tích Yên Tử, núi Bài Thơ, đền Cửa Ông, bãi cọc Bạch Đằng, chùa Lấm Với vị trí địa lý như thế cũng có thể coi là một tiềm năng du lịch
1.2 Nguồn nhân lực làm việc trên vịnh Hạ Long
Do đặc thù là một điểm đến nên nguồn nhân lực làm việc trên vịnh Hạ Long nên ngoài số lao động cơ hữu của Ban Quản lý vịnh Hạ Long còn có đông đảo lao động (cả trực tiếp và gián tiếp) của các đơn vị kinh doanh lữ hành, kinh doanh vận chuyển khách khác Ngoài ra còn có rất nhiều lao động khác là hướng dẫn viên, nhân viên điều hành tour của các công ty du lịch có nhiệm vụ đưa khách đến tham quan vịnh Hạ Long Chính vì thế rất khó thống
kê chính xác số lượng và trình độ lao động làm việc trên vịnh Tuy nhiên chúng ta có thể phân loại lao động theo nhiệm vụ công việc Công việc chính của số lao động trực tiếp này gồm: hướng dẫn viên, lái tàu (thuyền trưởng và nhân viên nhà tàu), nhân viên kiểm tra xử lý vi phạm, nhân viên cứu hộ cứu nạn, nhân viên soát vé, bán vé, bảo vệ hang động, nhân viên môi trường, nhân viên kĩ thuật điện, máy Trong thời gian làm việc trên khu vực di sản vịnh
Hạ Long tất cả các lao động này đều chịu sự quản lý và điều phối của Ban Quản lý vịnh
Trang 28Nguyễn Thị Thu Hằng – CH 3 Khoa Du lịch học 21
Về sự tham gia của cộng đồng dân cư, hiện nay trên vịnh Hạ Long sự tham gia của dân cư các làng chài trên biển vào công tác khai thác và bảo tồn các giá trị du lịch là khá đông đảo Hiện, Ban Quản lý vịnh Hạ Long đã kí hợp đồng lao động với một số dân chài sống trên vịnh, để họ tham gia vào công tác quản lý Di sản, tạo công ăn việc làm cho họ, qua đó nâng cao nhận thức về giá trị Di sản vịnh Hạ Long cho cộng đồng dân cư trên vịnh Công việc chủ yếu là vệ sinh môi trường biển, thợ lặn, chèo thuyền Ngoài ra, cộng đồng dân cư trên vịnh còn tham gia vào hoạt động kinh doanh ăn uống, lưu trú và vận chuyển Họ sử dụng chính ngôi nhà (nhà bè) và phương tiện di chuyển của họ làm phương tiện kinh doanh
Năm 2008, Ban Quản lý vịnh Hạ Long có 295 cán bộ công nhân viên chức, trong đó có 233 lao động thường xuyên làm việc trên vịnh Trong số này có 49 hướng dẫn viên, 37 lái tàu, 28 nhân viên môi trường biển còn lại là nhân viên soát vé, bán vé, nhân viên cứu hộ, kiểm tra, bảo vệ Về trình độ có
02 thạc sỹ, 129 cử nhân, kĩ sư [6]
Về số lao động làm việc trên vịnh Hạ Long không thuộc quân số của Ban Quản lý vịnh hiện rất khó thống kê chính xác về số lượng và lại càng khó hơn trong việc kiểm tra trình độ lao động
1.3 Cơ sở hạ tầng du lịch
1.3.1 Cơ sở hạ tầng vật chất kĩ thuật
Vịnh Hạ Long là Di sản Thiên nhiên thế giới do vậy mục đích bảo tồn luôn được đặt lên hàng đầu Việc khai thác tài nguyên du lịch trước hết là nhằm quảng bá vịnh Hạ Long sau mới đến mục đích lợi nhuận Với mục đích hoạt động như thế việc đầu tư cơ sở hạ tầng vật chất kĩ thuật ở khu vực này là rất hạn chế Các cơ sở hạ tầng vật chất được đầu tư là nhằm mục đích tôn tạo, đảm bảo an toàn cho du khách tạo điều kiện thuận lợi cho khách trong việc quan sát đối tượng tham quan mà không làm mất đi vẻ hoang sơ, tự nhiên ban
Trang 29Nguyễn Thị Thu Hằng – CH 3 Khoa Du lịch học 22
đầu của cảnh quan hay làm hư hại, thay đổi hệ sinh thái, hình dạng, cấu trúc của đối tượng tham quan
Hiện nay các hạng mục được đầu tư gồm cảng tàu, cầu tàu đón trả khách tại bến và một số đảo, hang động được coi là điểm tham quan chính trên vịnh; đường đi lên hang động, lối đi trong hang động; hệ thống chiếu sáng trong hang; loa mic, đèn laser phục vụ hoạt động hướng dẫn thuyết minh cho khách tham qua; mạng thông tin VHF Không phải tất cả các điểm tham quan trên vịnh đều được đầu tư đầy đủ các hạng mục này Do vậy du khách khó/không thể tiếp cận các đối tượng tham quan Chính điều này đã góp phần tạo nên sự quá tải tại một số điểm tham quan quen thuộc trong những ngày đông khách
1.3.2 Cơ sở lưu trú
Cơ sở lưu trú trên vịnh Hạ Long chủ yếu là các tàu du lịch được phép nghỉ đêm trên vịnh, ngoài ra còn có một số hang động bãi tắm được phép đón
du khách nghỉ đêm cắm trại và một số nhà nghỉ, khách sạn các đảo xa bờ
Theo thống kê của Sở Du lịch Quảng Ninh, hiện có 117 tàu lưu trú với
955 phòng, 1888 giường, trong đó có 16 tàu 3 sao, 2 tàu 2 sao Trọng tải tàu
từ 8 – 80 chỗ [21] Tất cả những tàu này đều được thiết kế bằng sắt thép hoặc
gỗ cao cấp đảm bảo an toàn và có kiểu dáng, nội ngoại thất trang nhã, hài hoà,
có đầy đủ các phòng chức năng như: phòng ngủ, phòng ăn, phòng khách, bar, boong dạo
Khu vực tàu lưu trú được phép neo đậu nằm xung quanh khu vực đảo
Bồ Hòn, đảo Ti Tốp và đảo Lờm Bò (khu vực các hang Trống, hang Trinh
Nữ, hang Luồn, khu Mê Cung) [23] Đầu năm 2008, Ban Quản lý vịnh phối hợp với Uỷ ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh và các ban ngành liên quan đầu tư xây dựng đề án và đưa vào sử dụng bổ sung 02 điểm lưu trú nghỉ đêm trên vịnh tại khu vực Hồ Ba Hầm và khu vực Cống Đỏ [5] Tại các khu vực này
Trang 30Nguyễn Thị Thu Hằng – CH 3 Khoa Du lịch học 23
tàu du lịch được phép neo đậu cho khách nghỉ đêm song nếu muốn lên bờ hay vào hang cắm trại phải có giấy phép riêng Cho đến nay mới chỉ có 3 điểm nghỉ đêm được phép tổ chức tiệc đêm là Ti Tốp, hồ Động Tiên và hang Trống
1.3.3 Cơ sở ăn uống
Tại tất cả các điểm tham quan trên vịnh đều không có hoạt động kinh doanh hàng ăn, chỉ một số điểm tham quan quen thuộc có kinh doanh đồ uống
và đồ ăn nhẹ Vì vậy nếu du khách muốn thưởng thức một bữa ăn trên vịnh phải liên hệ trước với chủ tàu Tất cả các tàu được phép hoạt động vận chuyển khách trên vịnh đều có dịch vụ nấu nướng Du khách có thể đặt đồ ăn trước với chủ tàu với giá thấp nhất 50.000VND/suất, hoặc tự mua hải sản tươi sống tại các nhà bè trên vịnh rồi thuê nhà tàu nấu Buổi tối, nghỉ đêm trên vịnh du khách có thể thuê mủng hoặc thuyền nan nhỏ đi câu mực và thưởng thức sản phẩm câu được ngay trên thuyền mủng ấy Chính dịch vụ này cũng góp phần tạo nên đặc sản du lịch Hạ Long mà không phải du khách nào cũng biết đến
Trên vịnh Hạ Long, tuy chưa hình thành chợ song du khách lại có thể mua bất cứ đồ ăn uống hoặc đồ lưu niệm biển nào ngay trên mặt vịnh “Chợ” lưu động này được hình thành một cách tự phát do các dân chài sống trên vịnh
đi thuyền nhỏ bám theo các tàu du lịch để rao bán thực phẩm, đồ uống và đồ lưu niệm Một số trong số họ là cư dân trên bờ thậm chí là ở các tỉnh khác đến kinh doanh nhỏ ở đây Thực phẩm của họ ngoài các sản phẩm biển mà họ đánh bắt được còn có cả rau xanh, thịt, gạo, các loại gia vị, Đồ uống cũng rất đa dạng như các loại nước đóng chai thậm chí là nước mía ép đóng túi, dừa, kem Đồ lưu niệm hầu hết là san hô, vỏ ốc biển hoặc các sản phẩm có cùng nguồn gốc Về giá cả thì tất cả đều rất cao Hiện không có quy định nào
về việc nghiêm cấm họ kinh doanh các mặt hàng đó trên vịnh Vì theo nguyên tắc đã hình thành khu dân cư thì phải có hoạt động kinh doanh các nhu yếu
Trang 31Nguyễn Thị Thu Hằng – CH 3 Khoa Du lịch học 24
phẩm này Ban Quản lý vịnh cũng đã có quy định cụ thể nghiêm cấm các thuyền nhỏ của dân chài đeo bám tàu du lịch để chào bán hàng làm mất an ninh trật tự và an toàn giao thông đường thuỷ Đồng thời cũng đã có những văn bản quy định chặt chẽ về việc xử phạt các hành động mua bán các sản phẩm từ san hô và ốc biển Song cho đến nay các hoạt động kinh doanh nhỏ này vẫn đang ngày tiếp diễn trên vịnh Hạ Long tuy rằng nó không còn tấp nập như trước nữa
1.3.4 Cơ sở vui chơi giải trí
Về tiềm năng vịnh Hạ Long có khả năng và điều kiện phát triển rất nhiều loại hoạt động vui chơi giải trí và thể thao biển nhưng hiện trạng của các cơ sở vui chơi giải trí biển còn rất thiếu thốn Theo khảo sát của các chuyên gia vịnh Hạ Long có khả năng tổ chức một số loại hình vui chơi giải trí và thể thao đặc biệt như lướt ván, môtô nước, kéo dù, bóng nước, kayaking, leo núi, lặn biển Tuy nhiên với điều kiện vật chất như hiện nay ở
Hạ Long mới chỉ có một số môn giải trí và thể thao biển như kayaking, môtô nước, kéo dù và bóng nước Các môn thể thao giải trí biển này tập trung chủ yếu ở vùng biển quanh đảo Ti Tốp, đảo Soi Sim, khu Ba Hang, hang Luồn, hồ
Ba Hầm
Các dịch vụ vui chơi giải trí trên bờ và trên đảo khá đa dạng, tập trung
ở các khu du lịch Tuần Châu, Bãi Cháy, Thẻ Vàng, Cống Tây, Vũng Đục Đây là các khu du lịch và giải trí tổng hợp nên ngoài các môn thể thao giải trí biển như trên vịnh, tại đây còn có vườn chim thú quý, vườn hoa lan, xương rồng cảnh, bãi bắn cung, sàn nhảy, phòng hát karaoke, ô tô điện tử, tàu lắc cảm giác mạnh, nhà ma, bảo tàng sinh thái biển, phòng tranh mỹ thuật Đặc biệt chỉ tại các khu du lịch trên bờ và đảo này du khách mới có cơ hội được chơi môn thể thao bóng chuyền, bóng rổ, bóng đá bãi biển Ngoài ra các khu
du lịch này còn có các khu biểu diễn đặc biệt như sân khấu nước, sân khấu
Trang 32Nguyễn Thị Thu Hằng – CH 3 Khoa Du lịch học 25
ngoài trời biểu diễn muá rối nước và ca múa nhạc dân tộc, khu biểu diễn của
cá heo Một môn giải trí đặc biệt khác có sức thu hút lớn đối với du khách nữa là sòng bạc quốc tế
Nhìn chung, các cơ sở vui chơi giải trí biển ở vịnh Hạ Long phát triển còn chưa đồng bộ Nhiều môn giải trí và điểm vui chơi có tên nhưng cơ sở vật chất lại quá nghèo nàn không đủ phục vụ nhu cầu của du khách Các khu du lịch này đều do các doanh nghiệp tư nhân hoặc liên doanh với nước ngoài quản lý do vậy vì vấn đề lợi nhuận đôi khi họ đã bỏ qua các yêu cầu về việc bảo tồn giá trị cảnh quan và đa dạng sinh học
1.4 Phương tiện vận chuyển khách
Do đặc thù về loại hình du lịch ở vịnh Hạ Long là du lịch biển nên phương tiện vận chuyển khách đi thăm vịnh là các phương tiện giao thông đường biển Các phương tiện vận chuyển khách hiện có ở vịnh Hạ Long gồm: xuồng cao tốc, ca nô kéo dù, mô tô trượt nước, lướt ván, kayak, tàu du lịch, thuyền buồm, thuyền nan nhỏ Tuy nhiên không phải tất cả các phương tiện
ấy đều được phép chở khách trên diện tích toàn vịnh mà chỉ được vận chuyển theo từng chặng, từng phạm vi khu vực và tuỳ vào từng mục đích tham quan
Điểm 4 điều 11 mục 2 – quy chế quản lý vịnh Hạ Long quy định:
Phương tiện vận tải hành khách công cộng (không phải là phương tiện vận chuyển khách du lịch) không được đưa khách đến các điểm tham quan du lịch trên vịnh Hạ Long [8, 15]
Phương tiện vận chuyển chính, phổ biến nhất là tàu du lịch với rất nhiều chủng loại, kích thước, cụ thể gồm các loại như sau:
Tàu gỗ 10 – 15 chỗ: là dạng tàu nhỏ, 1 tầng, chạy chậm khoảng 8 –
13 km/h Đi tàu này nếu gặp sóng to thì tàu lắc rất mạnh Tuy vậy, những nhóm khách nhỏ vẫn thích thuê tàu này vì không phải thuê chung tàu với khách khác, hơn nữa vì Hạ Long là vịnh kín nên thường ít có sóng to
Trang 33Nguyễn Thị Thu Hằng – CH 3 Khoa Du lịch học 26
Tàu gỗ 15 – 20 chỗ: tàu có mui và một số giường nhỏ dưới hầm tàu Vì vậy, khách có thể lên mui tàu ngắm vịnh và cũng có thể nằm nghỉ dưới hầm tàu
Tàu gỗ 35 – 60 chỗ: Boong tàu có buồng nghỉ, có cửa kính cho khách tránh gió mưa Hầm tàu có giường cá nhân để khách nghỉ Tốc độ trung bình của loại tàu này khoảng 12 – 15 km/h Mui tàu
có mái che, ghế ngồi
Tàu vỏ thép 60 – 70 chỗ: Là loại tàu chuyên dụng được sửa chữa lại làm tàu du lịch Tốc độ không lớn hơn các loại tàu gỗ nhiều
Ca nô cao tốc: là loại tàu nhỏ 10 – 15 chỗ, tốc độ khá cao khoảng
Loại đạt tiêu chuẩn tối thiểu
Loại đạt tiêu chuẩn 1 sao
Loại đạt tiêu chuẩn 2 sao
Loại đạt tiêu chuẩn 3 sao [24]
(Tiêu chí xếp loại sao cho tàu du lịch mời xem chi tiết tại phụ lục số 1)
Cả hai cách phân loại này được sử dụng song song
Tính đến 30/ 6/ 2008, số tàu du lịch được phép vận tải khách trên vịnh có: 411 tàu, 103 tàu được phép nghỉ đêm trên vịnh, với gần 40 doanh nghiệp kinh doanh vận chuyển [5]
Trang 34Nguyễn Thị Thu Hằng – CH 3 Khoa Du lịch học 27
1.5 Khả năng phát triển du lịch trên vịnh Hạ Long
1.5.1 Các tiêu chí đánh giá
Giá trị cảnh quan (mức độ hấp dẫn, độc đáo)
Vị trí điạ lý (so với trung tâm du lịch chính trong vùng và trung tâm đón khách)
Vị trí so với các trung tâm du lịch hấp dẫn khác trong vùng
Khả năng tiếp cận
Cảnh quan vùng phụ cận
Giá trị sinh học
Khả năng quan sát các loài sinh vật
Giá trị văn hoá bản địa
Giá trị khảo cổ
Giá trị điạ chất
Điều kiện cơ sở hạ tầng vật chất kĩ thuật
Mỗi tiêu chí sẽ được đánh giá căn cứ vào thang điểm 4 bậc:
Rất thuận lợi: 4 điểm
Khá thuận lợi: 3 điểm
Trang 35Nguyễn Thị Thu Hằng – CH 3 Khoa Du lịch học 28
Nhóm 2: Quan trọng (tính hệ số 2), gồm:
Vị trí điạ lý (so với trung tâm du lịch chính trong vùng và trung tâm đón khách)
Vị trí so với các trung tâm du lịch hấp dẫn khác trong vùng
Khả năng quan sát các loài sinh vật
Khả năng tiếp cận
Nhóm 3: Có ý nghĩa (tính hệ số 1), gồm:
Cảnh quan vùng phụ cận
Điều kiện cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật
Thang điểm đánh giá:
Rất thuận lợi: > 70 điểm
Thuận lợi: 55 - 70 điểm
Trung bình: 35 - 54 điểm
Không thuận lợi: <35 điểm
1.5.2 Đánh giá khả năng phát triển du lịch trên vịnh Hạ Long
1.5.2.1 Giá trị cảnh quan
Năm 1994, vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới bởi giá trị ngoại hạng về vẻ đẹp thẩm mỹ Với vị thế ấy Hạ Long không chỉ thu hút được khách du lịch trong nước mà còn là điểm đến hấp dẫn với du khách quốc tế Nay vịnh Hạ Long đang tiếp tục được Tổ chức New Open World
đề cử tham gia cuộc thi bình chọn 7 kỳ quan thiên nhiên thế giới Và từ khi tham gia cuộc thi vịnh Hạ Long luôn đứng trong top dẫn đầu Những điều đó dường như đã quá đủ để khẳng định mức độ hấp dẫn đặc biệt cuả vịnh Hạ Long
Điểm đánh giá: 4 x 3 = 12 (điểm)
1.5.2.2 Giá trị điạ chất
Trang 36Nguyễn Thị Thu Hằng – CH 3 Khoa Du lịch học 29
Với những giá trị đặc biệt về địa chất khu vực, địa chất đệ tứ và địa chất biển cùng với giá trị địa mạo Karst cũng như các giá trị tài nguyên đi kèm, vịnh Hạ Long đã thuyết phục được 100% số phiếu biểu quyết công nhận vịnh Hạ Long là Di sản thiên nhiên thế giới bởi giá trị ngoại hạng về điạ chất vào tháng 11 năm 2000 Đây được coi là một mẫu Karst điển hình trưởng thành trong điều kiện nhiệt đới ẩm trưởng thành trong điều kiện nhiệt đới ẩm Ngoài ra đây còn là mẫu hình tiêu biểu về một vịnh thuỷ triều đều biên độ lớn điển hình nhất thế giới, một kiểu bờ ăn mòn hoá học tiêu biểu và đặc sắc
Điểm đánh giá: 4 x 3 = 12 (điểm)
1.5.2.3 Giá trị sinh học
Vịnh Hạ Long là môi trường thích hợp với hầu hết các loài cá nhiệt đới [22, 50] Các hệ sinh thái điển hình có giá trị du lịch không nhiều Không có động vật đặc hữu Thực vật đặc hữu 13 loài hài vệ nữ hoa vàng, thiờn tuế Hạ Long, khổ cử đại tớm, khổ cử đại nhung, cọ Hạ Long, múng tai Hạ Long và ngũ gia bỡ Hạ Long Sự đa dạng sinh học cao nhưng xa khu vực trung tâm, nằm ở khu vực phụ cận
Điểm đánh giá: 3 x 3 = 9 (điểm)
1.5.2.4 Giá trị khảo cổ
Cho đến nay, tại khu vực vịnh Hạ Long các nhà khoa học trong và ngoài nước đã phát hiện được 25 điểm [17, 123] được xác định là di chỉ của nền văn hoá Hạ Long Căn cứ vào tổng thể các yếu tố, cho đến nay các nhà nghiên cứu đều cho rằng văn hoá Hạ Long là nền văn hoá hậu kỳ đá mới, phát triển qua hai giai đoạn sớm và muộn Và các di chỉ khảo cổ tiêu biểu cho giai đoạn này đều phân bố ở khu vực vịnh Hạ Long, Bái Tử Long và một số huyện thị [17, 123 - 124]
Trang 37Nguyễn Thị Thu Hằng – CH 3 Khoa Du lịch học 30
Tuy nhiên tại hầu hết các điểm được coi là di chỉ khảo cổ này đều đã được cải tạo với mục đích đưa khách du lịch đến tham quan ngắm cảnh hoặc
vì một số lý do khác nên các hiện vật có giá trị đã được di dời
Điểm đánh giá: 2 x 3 = 6 (điểm)
1.5.2.5 Giá trị văn hoá bản địa
Nói về văn hoá bản địa, một nét độc đáo và hấp dẫn của Hạ Long phải nói tới là sự xuất hiện của các cư dân làng chài trên vịnh Hiện trên vịnh Hạ Long có 595 hộ (tức 595 nhà bè) với 2168 nhân khẩu [5] Họ được coi là hâụ duệ có tính kế thừa của nền văn hoá Hạ Long xa xưa, sống và chịu chi phối chặt chẽ của biển Trong quá trình tồn tại và phát triển, những cư dân làng chài này đã sáng tạo và bảo tồn, lưu giữ được những nét văn hoá mang đặc trưng riêng, trở thành “đặc sản” văn hoá của vịnh Hạ Long như hò, vè, hát giao duyên, hát đúm, hát chèo đường Tuy nhiên, những nét văn hoá bản điạ này không được thể hiện rõ nét và phạm vi sinh hoạt cuả cộng đồng dân cư trên vịnh không rộng
Điểm đánh giá: 1 x 3 = 3 (điểm)
1.5.2.6 Vị trí điạ lý (so với trung tâm du lịch chính trong vùng và trung tâm
đón khách)
Vịnh Hạ Long nằm trong tiểu vùng du lịch duyên hải Đông Bắc của vùng du lịch Bắc Bộ Trung tâm đón khách chính trong vùng là Thủ đô Hà Nội, cách vịnh Hạ Long 165 km Đây là một khoảng cách khá lý tưởng trong phát triển du lịch Ngoài trung tâm đón khách Hà Nội, vịnh Hạ Long còn rất gần với điểm đón khách cửa khẩu Móng Cái, bản thân Hạ Long cũng là một điểm đón khách tàu biển quốc tế Như vậy, về mặt vị trí địa lý, vịnh Hạ Long
có được những thuận lợi rất lớn về nguồn khách
Điểm đánh giá: 4 x 2 = 8 (điểm)
1.5.2.7 Vị trí địa lý (so với các trung tâm du lịch hấp dẫn khác trong vùng)
Trang 38Nguyễn Thị Thu Hằng – CH 3 Khoa Du lịch học 31
Vịnh Hạ Long là trung tâm du lịch của tỉnh Quảng Ninh, nằm trong tam giác kinh tế lớn nhất miền Bắc Việt Nam (Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh) Một số trung tâm du lịch lớn, hấp dẫn, có lượng khách lớn trong vùng như Hà Nội, Hải Phòng, Móng Cái, Cát Bà, vườn Quốc gia Bái Tử Long đều rất gần với Hạ Long Thêm những thuận lợi về giao thông nhờ việc các tuyến đường quốc lộ liên tục được mở rộng, kéo dài và tu sửa làm cho việc vận chuyển khách từ các điểm du lịch khác trong vùng đến Hạ Long ngày càng dễ dàng hơn
Điểm đánh giá: 4 x 2 = 8 (điểm)
1.5.2.8 Khả năng quan sát các loài sinh vật
Vịnh Hạ Long ngoài các giá trị về thẩm mỹ, địa chất, khảo cổ còn có một giá trị rất lớn nữa, đó là giá trị đa dạng sinh học với sự phong phú về giống loài và các hệ sinh thái Tuy nhiên do chưa được đầu tư khai thác đúng
đủ với các giá trị như việc đầu tư nhà kính, đường hầm dưới nước để du khách có thể quan sát các hệ sinh thái tầng đáy Khu vực mặt nước cũng còn nhiều hạn chế do địa hình Hạ Long khá phức tạp Các loài sinh vật trên núi đá vôi nhiều song vách đá lại cheo leo, nguy hiểm nên việc để du khách trực tiếp lên đảo để tận mắt quan sát các loài sinh vật rất khó thực hiện Chính vì vậy khả năng quan sát sinh vật (đặc biệt là các loài sinh vật quý hiếm, đặc hữu) ở
Trang 39Nguyễn Thị Thu Hằng – CH 3 Khoa Du lịch học 32
Điểm đánh giá: 2 x 2 = 4 (điểm)
1.5.2.10 Cảnh quan vùng phụ cận
Vùng phụ cận của vịnh Hạ Long chính là khu nghỉ mát biển đảo Ngọc Vừng, Quan Lạn, Minh Châu, vườn Quốc gia Cát Bà, vườn Quốc gia Bái Tử Long, khu du lịch Móng Cái, Trà Cổ Đây đều là những điểm du lịch có cảnh quan hấp dẫn hàng năm thu hút hàng triệu lượt khách
Điểm đánh giá: 4 x 1 = 4 (điểm)
1.5.2.11 Điều kiện cơ sở hạ tầng vật chất kĩ thuật
Hiện nay tại tất cả các hang động, đảo được phép đưa du khách đến thăm trên vịnh Hạ Long đều đã hoàn thiện cầu, bến đón trả khách đạt tiêu chuẩn an toàn Hệ thống chiếu sáng, cứu nạn, cứu hộ trên vịnh và các hang động đều đã hoàn thiện và đều được định kỳ kiểm tra bảo dưỡng Các phương tiện vận chuyển khách trên vịnh đều đạt tiêu chuẩn chất lượng và ngày càng phong phú về kích thước, chủng loại Các điều kiện cơ sở hạ tầng vật chất kĩ thuật khác đều khá tốt
Điểm đánh giá: 4 x 1 = 3 (điểm)
Bảng 3: Đánh giá khả năng phát triển du lịch trên vịnh Hạ Long
STT Các tiêu chí đánh giá Điểm Hệ số
đánh giá
Thành điểm
6 Vị trí điạ lý (so với trung tâm du lịch chính
trong vùng và trung tâm đón khách)
Trang 40Nguyễn Thị Thu Hằng – CH 3 Khoa Du lịch học 33
7 Vị trí địa lý (so với các trung tâm du lịch hấp
mẽ Và một bộ phận lớn, một yếu tố cơ bản làm nờn bước phát triển và hỡnh ảnh du lịch Quảng Ninh đó chính là du lịch vịnh Hạ Long Tuy nhiên cũng như các điểm du lịch khác, trong quá trình phát triển du lịch vịnh Hạ Long còn nhiều tồn đọng Và vấn đề phỏt triển du lịch bền vững phát huy được các nội lực trên đang thực sự là một vấn đề thời sự đối với các nhà quản lý, các nhà đầu tư và cả cộng đồng dân cư