Đây là một trong những đề tài nghiên cứu về nghệ thuật ca trù được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đánh giá cao, bởi tác giả đã sử dụng các bản khắc văn bia làm tư liệu nghiên cứ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
– – – – – –
TRẦN THỊ HUYỀN
KHAI THÁC CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA NGHỆ THUẬT CA TRÙ Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ VIỆT NAM PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
Hà Nội, 2011
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
3 Mục đích và nội dung nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Bố cục đề tài 9
7 Đóng góp của đề tài 9
PHẦN NỘI DUNG 10
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NGHỆ THUẬT CA TRÙ 10
1.1 Khái niệm ca trù 10
1.2 Lịch sử phát triển của nghệ thuật Ca trù 12
1.2.1 Truyền thuyết về tổ nghề Ca trù 12
1.2.2 Lược sử phát triển của nghệ thuật ca trù 15
1.2.3 Sinh hoạt ca trù 20
1.2.4 Tổ chức giáo phường 22
1.2.5 Diễn trình buổi biểu diễn 24
1.3 Nghệ thuật Ca trù tại một số tỉnh đồng bằng sông Hồng 28
1.3.1 Tại Hà Nội 28
1.3.2 Tại Hà Tây 30
1.3.3 Tại Hải Phòng 30
1.3.4 Tại Thái Bình 32
1.3.5 Tại Nam Định 33
1.3.5 Tại Bắc Ninh 34
1.4 Các giá trị của nghệ thuật Ca trù 35
1.4.1 Giá trị văn học (Lời thơ) 35
1.4.2 Giá trị âm nhạc 39
1.4.3 Giá trị văn hoá 47
Chương 2: THỰC TRẠNG KHAI THÁC NGHỆ THUẬT CA TRÙ TRONG KINH DOANH DU LỊCH 51 2.1 Di sản văn hoá Ca trù và việc khai thác di sản văn hoá Ca trù trong du
Trang 4lịch 51
2.1.1 Quá trình Ca trù trở thành di sản văn hoá thế giới 51
2.1.2 Di sản văn hoá Ca trù - một sản phẩm du lịch độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc 54
2.1.3 Triển vọng thu hút khách của nghệ thuật Ca trù 57
2.2 Những vấn đề đặt ra trong việc khai thác nghệ thuật ca trù phát triển du lịch 60
2.2.1 Tính tất yếu của việc khai thác nghệ thuật ca trù phát triển du lịch 60 2.2.2 Những bài học kinh nghiệm trong nước và quốc tế 61
2.2.3 Những vấn đề cần được nghiên cứu khi khai thác nghệ thuật ca trù trong du lịch 64
2.3 Thực trạng khai thác kinh doanh du lịch với nghệ thuật ca trù 65
2.3.1 Công tác tổ chức quản lý 65
2.3.1.1 Nhà nước – Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch 65
2.3.1.2Doanh nghiệp 67
2.3.1.3 Địa phương 68
2.3.2 Cơ sở vật chất và nhân lực 69
2.3.2.1 Sân khấu chuyên nghiệp 69
2.3.2.2 Câu lạc bộ sinh hoạt ca trù 72
2.3.2.3 Hội diễn, liên hoan nghệ thuật 76
2.3.2.4 Nhân lực 78
2.3.3 Vấn đề về thị trường du lịch 85
2.3.3.1 Thị trường du khách 85
2.3.3.2 Công tác tuyên truyền quảng bá 92
2.3.3.3 Xây dựng chương trình du lịch 93
2.4 Những đánh giá về sản phẩm du lịch khai thác nghệ thuật ca trù 95
2.4.1 Những thuận lợi trong khai thác 95
2.4.2 Những khó khăn trong khai thác 97
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHAI THÁC NGHỆ THUẬT CA TRÙ 99
TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH 99
3.1 Các căn cứ khoa học nhằm đưa ra giải pháp 99
3.1.1 Chính sách của nhà nước 99
3.1.2 Các yêu cầu thực tiễn 101
3.2 Các giải pháp 106
3.2.1 Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực 106
Trang 53.2.2 Bảo tồn và phát triển nghệ thuật Ca trù 108
3.2.3 Xây dựng môi trường biểu diễn hợp lý 110
3.2.4 Đưa nghệ thuật Ca trù vào chương trình du lịch 114
3.2.5 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá nghệ thuật ca trù 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 120
PHỤ LỤC
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày 1 tháng 10 năm 2009, tại Abu Dhab – thủ đô của các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất, Ca trù đã trở thành di sản thứ tư của Việt Nam được công nhận, xếp vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp Đây là một tin vui với những người yêu ca trù bởi giờ đây nghệ thuật ca trù không chỉ được biết tới, được bảo tồn mà còn được khai thác phục vụ cho đời sống văn hóa tinh thần của người dân
Những năm gần đây, du lịch Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ
và đang vươn lên thành ngành kinh tế mũi nhọn với tốc độ tăng trưởng cao Đạt được điều này cũng là nhờ vào việc khai thác các giá trị tài nguyên du lịch độc đáo của đất nước Và trong xu thế toàn cầu hóa, khi bản sắc văn hóa dần bị mai một thì du khách luôn muốn tìm đến những giá trị văn hóa đặc trưng của từng vùng miền Nắm bắt được điều này nên đã có nhiều loại hình nghệ thuật được đưa vào khai thác kinh doanh du lịch như chèo, múa rối nước, quan họ,… và đã đạt được những thành công nhất định
Còn với nghệ thuật ca trù – một loại hình nghệ thuật quý giá, hấp dẫn của dân tộc, đã được thế giới công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp, vẫn còn ở dạng tiềm năng trong kinh doanh du lịch
và đang là một tài nguyên du lịch hấp dẫn Bên cạnh đó mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về nghệ thuật ca trù nhưng chủ yếu nghiên cứu dưới góc độ di sản văn hóa, chứ chưa có nghiên cứu đầy đủ nào về vấn đề đưa nghệ thuật
ca trù vào khai thác kinh doanh du lịch Và mặc dù đã có một vài tác giả tìm hiểu về vấn đề coi nghệ thuật ca trù như một sản phẩm du lịch độc đáo nhưng cũng chưa đưa ra những đánh giá về sự phát triển sản phẩm du lịch dựa trên nghệ thuật ca trù trong sự phát triển của hoạt động du lịch nói chung Việc đưa nghệ thuật ca trù vào khai thác kinh doanh du lịch không chỉ nhằm quảng bá về một loại hình nghệ thuật dân tộc độc đáo mà còn khai
Trang 7thác tối đa các giá trị kinh tế mang lại Vì vậy tôi đã chọn nghệ thuật ca trù làm đối tượng nghiên cứu cho đề tài:
“Khai thác các giá trị văn hóa của nghệ thuật ca trù ở đồng bằng Bắc Bộ
tại Việt Nam phục vụ phát triển du lịch”
Với mong muốn tìm ra các giá trị văn hoá của nghệ thuật ca trù trong hoạt động kinh doanh du lịch cũng như phương thức khai thác nghệ thuật ca trù trong kinh doanh du lịch
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Qua công tác tìm hiểu tài liệu liên quan tới nghệ thuật ca trù nói chung, nghệ thuật ca trù cho khai thác kinh doanh du lịch nói riêng Tôi nhận thấy cũng có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tới vấn đề này:
Trong các thập kỷ 20,30,40 của thế kỷ XX đã có nhiều tập sách, báo của các tác giả Phan Văn Duyệt, Nguyễn Mạnh Hồng, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Văn Ngọc, Phạm Quỳnh, Nguyễn Đôn Phục,… viết về ca trù Các tác giả đều đề cập tới nghệ thuật ca trù là một nghệ thuật dân gian đang chịu
sự cạnh tranh mạnh mẽ của các nghệ thuật Âu tây hiện đại khác, và họ cũng coi đây như một hình thức giải trí của tầng lớp nhà nho, nhà văn lúc bấy giờ
Về sau, phải kể đến Việt Nam ca trù biên khảo của Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ
Trọng Huề in năm 1962 tại Sài Gòn Đây là một trong những cuốn sách nghiên cứu khá hoàn chỉnh về lịch sử ra đời, phát triển của nghệ thuật ca trù Bên cạnh đó tác giả cũng đã sưu tầm được rất nhiều tác phẩm trong biểu diễn ca trù
Năm 1980, Sở VHTT Hà Nội tổ chức biên soạn tập sách Hát cửa đình
Lỗ Khê, giới thiệu về một làng có truyền thống ca trù của thủ đô và đặc biệt
là việc nghiên cứu về lối hát cửa đình tại một làng có truyền thống về hát ca trù ở Bắc Bộ
Năm 1987, có cuốn sách Tuyển tập thơ ca trù của tác giả Ngô Linh
Ngọc và Ngô Văn Phú
Trang 8Năm 2000, được sự tài trợ của Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam công
trình Góp phần tìm hiểu lịch sử ca trù của Nguyễn Xuân Diện đã được in tại
Nxb Khoa học xã hội và được công bố với công chúng
Năm 2000, tại Viện Văn học, Nguyễn Đức Mậu bảo vệ thành công luận
án tiến sĩ ngữ văn với đề tài Thể loại hát nói trong sự vận động của lịch sử
văn học
Năm 2002, Giang Thu – Vũ Thiệu Loan xuất bản sách Tìm hiểu ca trù
Hải Phòng; Lê Huy Trâm xuất bản sách Khảo sát Ca công ở Thanh Hóa
Năm 2003, Hoài Yên và Nguyễn Xuân Diện xuất bản Thơ Hát nói xưa
và nay; Nguyễn Đức Mậu giới thiệu và biên soạn sách Ca trù – nhìn từ nhiều phía; Hoàng Tuấn Phổ xuất bản sách Hát nhà trò Văn Trinh
Các đề tài nghiên cứu và cuốn sách trên đều đi tìm hiểu về lịch sử ra đời
và phát triển của nghệ thuật ca trù nhưng đã đi sâu hơn tại từng địa phương hoặc trên từng góc độ nghiên cứu khác nhau
Năm 2007, Nguyễn Xuân Diện bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Hán
Nôm Lịch sử và nghệ thuật ca trù Việt Nam - Khảo sát nguồn tư liệu tại
Viện nghiên cứu Hán Nôm Đây là một trong những đề tài nghiên cứu về
nghệ thuật ca trù được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đánh giá cao, bởi tác giả đã sử dụng các bản khắc văn bia làm tư liệu nghiên cứu nên kết quả nghiên cứu khá khả quan và sát với thực tiễn
Ngoài ra, còn có hàng loạt các cuộc hội thảo như năm 1998, Hội thảo ca trù Cổ Đạm do Sở VHTT Hà Tĩnh tổ chức; năm 1999, Hội thảo ca trù Thăng Long – Hà Nội do Sở VHTT Hà Nội và CLB Ca trù Hà Nội tổ chức; năm
2005, Chi hội Văn nghệ dân gian Thanh Hóa tổ chức Hội thảo ca trù Thanh Hóa; năm 2006, diễn ra hội thảo quốc tế về ca trù tại Việt Nam; năm 2011, Hội thảo tổng kết kiểm kê ca trù năm 2009 – 2010 tại Hà Nội,… Qua các cuộc hội thảo là cơ hội để các nhà nghiên cứu trình bày các kết quả nghiên cứu của mình về việc tìm hiểu lịch sử ra đời và phát triển của nghệ thuật ca
Trang 9trù và đặc biệt đưa ra những kiến nghị cho việc bảo tồn và phát huy các giá trị của nghệ thuật ca trù trong giai đoạn hiện nay
Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu cho đến nay đều mới nghiên cứu về nghệ thuật ca trù dưới góc độ một loại hình âm nhạc hoặc một di sản văn hoá Và chưa có nghiên cứu nào ở cấp độ luận văn thạc sĩ về khai thác nghệ thuật ca trù trong du lịch
3 Mục đích và nội dung nghiên cứu
Nghệ thuật ca trù là một di sản văn hóa quý báu, mang đậm bản sắc dân tộc Vì vậy, khi nghiên cứu không ngoài mục đích tìm hiểu cái hay, cái đẹp, cái độc đáo của nghệ thuật ca trù Mặt khác việc nghiên cứu nghệ thuật ca trù trong khai thác hoạt động kinh doanh du lịch nhằm tìm ra những phương thức khai thác và những giải pháp giữ gìn, phát huy loại hình nghệ thuật này trong cuộc sống Và cũng từ đó, làm đa dạng hóa sản phẩm du lịch, góp phần thu lợi nhuận, thúc đẩy ngành du lịch phát triển
Với mục đích nghiên cứu trên, nội dung nghiên cứu của đề tài tập trung tìm hiểu về giá trị văn hoá của nghệ thuật ca trù và thực trạng khai thác các giá trị văn hoá của nghệ thuật ca trù vào hoạt động kinh doanh du lịch hiện nay, từ đó nhằm đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác sản phẩm du lịch của nghệ thuật ca trù
Ngoài ra tôi cũng mong muốn đưa ra những đánh giá ban đầu về sự phát triển của sản phẩm du lịch dựa trên nghệ thuật ca trù trong phát triển du lịch nói chung
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng mà luận văn nghiên cứu tập trung chủ yếu là loại hình hát ca trù thính phòng phục vụ nơi ca quán, chứ không bao gồm hát cửa đình hay hát trong cung đình xưa Ngoài ra đối tượng nghiên cứu chính là sản phẩm
du lịch do nghệ thuật ca trù tạo ra cũng như các yếu tố khác liên quan khác đến việc khai thác nghệ thuật ca trù cũng như du khách, cơ sở vật chất, tổ chức quản lý, quảng bá
Trang 10Tuy nhiên do điều kiện thực tế và khả năng của bản thân có hạn nên trong quá trình nghiên cứu, tôi tập trung nghiên cứu về nghệ thuật ca trù đang được khai thác hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn Hà Nội Còn nghệ thuật ca trù tại một số tỉnh thành khác thuộc Đồng bằng sông Hồng, tôi chỉ xin giới thiệu như một tài nguyên du lịch tiềm năng
5 Phương pháp nghiên cứu
Để tìm hiểu những vấn đề liên quan đến đề tài, học viên đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thu thập tài liệu
+ Thu thập các tài liệu liên quan tới các nghệ thuật truyền thống của Việt Nam, các tài liệu nghiên cứu về Ca trù nói chung, các tài liệu về hoạt động du lịch tại Việt Nam,…
+ Thu thập các tài liệu về hoạt động du lịch trên địa bàn Hà Nội, các hoạt động biểu diễn nghệ thuật truyền thống,…
- Phương pháp phân tích và tổng hợp dữ liệu:
Sau khi thu thập các tài liệu liên quan đến luận văn, học viên thực hiện phương pháp tổng hợp tài liệu, dữ liệu đã có Đặc biệt các dữ liệu quan trọng, liên quan trực tiếp tới bài viết thì phải vừa tổng hợp và phân tích cho phù hợp
- Phương pháp tổng hợp phân tích số liệu
Kế thừa các tài liệu, sách báo, tạp chí, internet, các báo cáo, về các nghiên cứu ca trù nói chung và hoạt động du lịch liên quan tới ca trù nói riêng từ đó tác giả bổ sung hoàn thiện nội dung bài luận văn
- Phương pháp khảo sát thực tế:
Do thời gian và khả năng của bản thân có hạn, nên học viên tập trung chủ yếu cho công tác khảo sát thực tế tại một số địa điểm sinh hoạt nghệ thuật truyền thống nhằm phục vụ du khách trên địa bàn Hà Nội Trong đó tập trung là các địa điểm biểu diễn ca trù
Trong quá trình khảo sát thực tế, học viên ngoài việc quan sát còn phỏng
Trang 11vấn nhanh đối với các nghệ nhân, du khách, người quản lý
6 Bố cục đề tài
Nội dung đề tài gồm 3 chương ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo Kết cấu 3 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về nghệ thuật ca trù
Chương 2: Thực trạng khai thác nghệ thuật ca trù trong kinh doanh du lịch Chương 3: Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả khai thác nghệ thuật ca trù trong kinh doanh du lịch
7 Đóng góp của đề tài
Mặc dù trong nghiên cứu còn nhiều hạn chế, chưa đạt được các kết quả như mong muốn nhưng sau khi hoàn thành đề tài, tôi xin đóng góp một số ý kiến nhỏ cho việc phát triển hoạt động kinh doanh du lịch dựa trên nghệ thuật ca trù:
- Tìm hiểu tình hình thực tế của hoạt động khai thác kinh doanh du lịch dựa vào nghệ thuật ca trù Từ đó đưa ra những đánh giá về việc khai thác sản phẩm du lịch dựa trên nghệ thuật ca trù
- Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác kinh doanh du lịch dựa vào nghệ thuật ca trù
- Cung cấp một phần tài liệu cho việc nghiên cứu về nghệ thuật ca trù giúp thế hệ trẻ thêm yêu mến, trân trọng, giữ gìn vốn cổ của dân tộc
Trang 12PHẦN NỘI DUNG Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NGHỆ THUẬT CA TRÙ
Nghệ thuật ca trù là một loại hình nghệ thuật truyền thống của dân tộc,
có lịch sử ra đời từ rất sớm, đã trải qua những biến cố, thăng trầm trong lịch
sử phát triển của dân tộc Khi tìm hiểu tổng quan về nghệ thuật ca trù có rất nhiều vấn đề cần được trình bày, tuy nhiên với phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tôi xin nghiên cứu về tổng quan nghệ thuật ca trù với các khía cạnh sau:
1.1 Khái niệm ca trù
Ca trù là tên gọi chung của rất nhiều điệu hát (khoảng trên 40 điệu) và chính ca trù cũng có thể được thay thế bằng những khái niệm khác như: hát Cửa đình, hát Cửa quyền, hát Ả đào, hát Cô đầu, hát Nhà trò, hát Nhà tơ,…
mà nội dung của chúng không thay đổi và vẫn được hiểu như nhau Sở dĩ, nghệ thuật ca trù có nhiều tên gọi như vậy là do nó có một lịch sử phát triển rất dài và khá phức tạp
Cho đến nay, Ca trù (hay hát Ả đào) là tên gọi thông dụng hơn cả so với các khái niệm khác, cho dù chưa phải là cách gọi tối ưu Vậy Ca trù nghĩa là gì? Đó là một khái niệm chỉ một lối hát gồm rất nhiều điệu (theo thống kê của Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề thì Ca trù có 46 điệu): thét nhạc, non mai, hồng hạnh, hát nói,… Trong cách hiểu thông thường, khái niệm Ca trù
có thể được thay thế bằng các khái niệm khác như đã nói ở trên mà vẫn được hiểu như nhau Ở Thanh Hóa, Ca trù còn được gọi là hát ca công, hát
gõ Về nghĩa chữ thì Ca trù trước nay được giải thích là hát Thẻ Thẻ gọi bằng Trù, làm bằng mảnh tre ghi chữ đánh dấu, dùng để thưởng đào hát hay thay cho trả tiền mặt trực tiếp Khi ả đào hát, quan viên thị lễ chia ngồi hai bên, một bên đánh chiêng, một bên đánh trống Trống đánh chát và chiêng đánh một tiếng khi thấy hát hay thì thưởng cho đào một cái Trù Xong tiệc hát, đào kép ứng theo trù thưởng mà tính tiền, nhận tiền theo đúng quy định
Trang 13Khái niệm Ca trù sớm nhất hiện biết là thế kỷ 16 trong bài “Đại nghĩ bát giáp thưởng đào giải văn” của Lê Đức Mao
Cũng như khái niệm Ca trù, hát Ả đào là tên gọi chung của cùng một nội dung Theo các thư tịch cổ hiện biết thì thời điểm xuất hiện hát Ả đào sớm
nhất so với các khái niệm Ca trù, cô đầu,… Việt sử tiêu án của Ngô Thời Sĩ
nói rằng: “thời Lý Thái Tổ (1010 - 1028) có người ca nhi tên là Đào Thị tài giỏi, hát hay được vua ban thưởng, từ đó về sau những người đi hát được gọi
là đào nương (tức ả đào)”, nhưng trong Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề
lại nói: “vào một thời điểm muộn hơn, cuối nhà Hồ (1400 - 1407) một ca nhi
họ Đào (cũng là họ Đào), ở làng Đào Đặng, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên,
giết được nhiều giặc Minh, về sau dân làng ở đây lập đền thờ, gọi thôn của nàng là thôn Ả đào, và cũng từ đó ca nhi được gọi là ả đào” Tuy nói khác nhau về thời gian xuất hiện khái niệm Ả đào mấy thế kỷ nhưng đều nói đến một lý do giống nhau là có một ca nhi họ Đào được ái mộ Thông tin về sự xuất hiện khái niệm được biết như thế nhưng các điệu hát thời đó như thế nào thì cũng chưa có tư liệu nào cung cấp cho chúng ta kể cả sự hiện diện dưới hình thức dấu hiệu ở một vài tư liệu hiện có Thành tựu nghiên cứu cho đến nay vẫn chưa có cách giải thích khác về khái niệm Ả đào
Tên gọi hát Cửa đình (hát Đình môn) dùng để chỉ cuộc hát được tổ chức tại đình làng hàng năm, vào ngày hội tế thần, tế thành hoàng làng Luật lệ hát rất chặt chẽ, nghiêm khắc, nghi lễ hát linh thiêng trọng thể Các bài hát Cửa đình bao gồm giáo trống, giáo hương, dâng hương, thét nhạc, hát giai,… với đặc điểm là uy nghi, nghiêm kính, thiêng liêng
Còn hát Cửa quyền xưa nay được hiểu là hát trong cung vua, trong nhà quan hay những gia đình giàu có, quyền uy,… nghĩa là nơi hát, địa điểm hát góp phần tạo nên lối hát Hát Cửa quyền theo nhiều sách thì ngày xưa có quan chuyên trách, có các quy định phép tắc, sau đó bỏ dần và pha lẫn với hát ngoài giáo phường
Trang 14Một tên gọi khác của hát Ca trù, hát Ả đào,… là hát nhà Tơ So với các khái niệm khác, trong các tư liệu hiện đang lưu hành, thì khái niệm hát nhà
Tơ vào loại ít được dùng đến Nghĩa là tính phổ biến của nó không rộng Chúng ta cũng chưa có tư liệu để xác định thời điểm ra đời của khái niệm
này Các tác giả Việt Nam ca trù biên khảo nói rằng: “ngày xưa, các quan
khi có yến tiệc trong dinh, thì mời ả đào về hát” “Tơ” là biến âm của từ “ty”
mà ra Hát nhà Tơ là hát trong ty Khác với khái niệm khác, khái niệm này tác giả chỉ giải thích mà không dẫn sách
Cái tên gọi hát Cô đầu được các tác giả Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng
Huề giải thích như sau: “Chữ ả nghĩa là cô, ta vẫn thường nói cô ả Vậy ả
đào tức cô đào” Sách Ca trù bị khảo có ghi: Những ả đào danh ca dạy con
em mình thành nghề, mỗi khi đi hát đình đám bọn con em phải trích ra một
món tiền cung dưỡng thầy gọi là tiền đầu Sau người ta dùng tiếng cô thay cho tiếng ả cho rõ ràng và tiếng đầu thay cho tiếng đào để tỏ ý tán tụng bậc
danh ca lão luyện, đã dạy nhiều con em thành tài và được tặng nhiều món
tiền đầu, nên gọi là cô đầu Như vậy, hát Ả đào cũng là hát Cô đầu1
Tóm lại, Ca trù là tên gọi chung và thông dụng nhất về một loại hình âm nhạc cổ truyền của Việt Nam Nó có thể được thay thế bằng nhiều tên gọi khác như: hát ả đào,hát cô đầu,… Tuy nhiên sự xuất hiện các tên gọi đó cũng như thời điểm xuất hiện, tên nào có trước, tên nào có sau cho đến nay giới nghiên cứu dường như chưa đặt thành một vấn đề riêng để tìm hiểu Và như vậy, mỗi tên gọi được coi là “tấm biển” chỉ đường ý nghĩa nhất định trong việc nghiên cứu về lịch sử phát triển của nghệ thuật Ca trù
1.2 Lịch sử phát triển của nghệ thuật Ca trù
1.2.1 Truyền thuyết về tổ nghề Ca trù
Ca trù là một thể loại âm nhạc có từ lâu đời và trong dân gian thường lưu truyền những câu chuyện về tổ nghề Ca trù Tương truyền thì ở mỗi nơi mỗi khác
Trang 15
Bản thần phả “Sự tích tổ sư giáo phường” soạn năm 1476 ở làng Lỗ Khê (Đông Anh, Hà Nội) tổ ca trù là ông Đinh Dự và bà Đường Hoa, con ông Đinh Lễ, ở thời Lê Thái Tổ, quê gốc ở Thanh Hóa Đinh Lễ do đi đánh giặc nên đóng quân ở Lỗ Khê, và ở đây, Đinh Dự đã gặp tiên nữ Đường Hoa rồi nên duyên vợ chồng Hai ông bà đã mở giáo phường truyền nghề hát Ả đào khắp vùng Mãn hạn trần, Đường Hoa về trời, và Đinh Dự cũng hóa ngày 13 tháng 11 Sau khi họ mất, vua phong cho chồng là Thanh Xà đại vương, vợ
là Mãn Hoa công chúa, cho lập đền thờ ngay cạnh đền Lỗ Khê Hàng năm vào ngày hóa của họ, dân làng tổ chức cúng tế rất linh đình
Trong bài viết Ca trù qua một số truyền thuyết, tác giả Trần Thị An dẫn
ý kiến của cụ Chu Hà cho biết: tại các huyện Thiệu Yên, Thọ Xuân, Quảng Xương ở Thanh Hóa có những dòng ca công phát triển đã thờ chung một vị
tổ sư tên là Phong Quân Ông này vốn là một hàn sĩ tiều phu, nhờ hát hay
đàn ngọt đã chinh phục được trái tim công chúa khiến nàng bỏ cả cung đình
đi theo tiếng gọi của nghệ thuật Về sau họ trở thành vợ chồng và trở thành nghệ sĩ dân gian, truyền nghề đàn hát và được lập đền thờ ở xã Ngọc Trung Nay đền không còn, chỉ còn dấu tích gọi là Dải Đàn và Túi Sênh2
Sự tích tổ cô đầu ở làng Cổ Đạm, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh là sự tích được kể chi tiết nhất Truyền thuyết này có một số chỗ giống và khác với bản phả ở Lỗ Khê Truyền thuyết kể rằng: Vào đời nhà Lê, Đinh Lễ, tự Nguyên Sinh, người làng Cổ Đạm, con nhà gia thế, tính tình phóng khoáng, không thích công danh bó buộc, thường ôm đàn nguyệt đến bên bờ suối gảy, rồi ca hát để hòa với tiếng suối chảy Một hôm, Sinh đem đàn và rượu vào rừng thông để tiêu khiển, bỗng gặp được hai ông lão Đó chính là Lý Thiết Quài và Lã Đại Tiên, hai cụ già đưa cho Sinh khúc gỗ ngô đồng và tờ giấy
vẽ kiểu đàn mẫu và dặn đóng đàn như vậy Tiếng của cây đàn này sẽ trừ ma quỷ, giải được phiền muộn Sinh y theo lời Nhờ tiếng đàn kỳ diệu ấy mà Sinh chữa được bệnh cho rất nhiều người, ở nhiều nơi Một lần Sinh đến
2 Ca trù qua một số truyền thuyết, Trần Thị An, Tạp chí văn hóa dân gian, số 1/1999, trang 21-22
Trang 16châu Thường Xuân, Thanh Hóa, ở đó chàng đã chữa khỏi bệnh câm cho người con gái tên Hoa, con của vị quan châu Bạch Đình Sa Rồi hai người nên vợ nên chồng, sống với nhau hòa thuận ngay tại nhà của Bạch Công Sinh đã đặt ra lối hát múa mới, rồi lấy hai thanh tre vót thật đẹp để cho nàng
gõ trên mảnh gỗ theo nhịp đàn mà hát Sau hai vợ chồng từ biệt ông bà nhạc dẫn nhau về quê Sinh ở Cổ Đạm để lập nghiệp, chồng dạy đàn, vợ dạy múa hát, đệ tử rất đông Ít lâu sau, Sinh gặp lại các vị tiên ông và được đưa về trời, hóa thành con chim xanh Vợ Sinh biết chuyện bèn phát tán hết gia tài rồi đóng cửa dạy đám con em trong làng múa hát Sau nàng vô bệnh mà mất, hóa thành cây đào đỏ Dân làng Cổ Đạm và đệ tử nhớ ơn lập đền thờ, gọi là
Tổ Cô đầu, hay đền thờ bà Bạch Hoa Công chúa Lịch triều phong Đinh Lễ
là Thanh Xà đại vương, Bạch Hoa là Mãn Đào Hoa công chúa, lấy ngày 11 tháng Chạp làm ngày giỗ Ở Hưng Yên, Nam Định, Hải Dương, Hà Nội đều
có đền thờ hai vị tổ sư này Riêng giáo phường Thượng Mỗ (Đan Phượng,
Hà Nội) thì lại thờ vị tổ sư có tên là Đinh Triết Phải chăng ông là hậu duệ của Đinh Lễ ở Cổ Đạm? Tuy nhiên điều này chưa có đủ cứ liệu để chứng minh
Như vậy, xung quanh các truyền thuyết về tổ ca trù thì ở các làng tổ nghề thường gồm hai người (một nam, một nữ) Người đàn ông thường được gọi bằng cái tên không giống nhau, khi thì Đinh Lễ (Cổ Đạm), khi thì Đinh Dự (Lỗ Khê), lúc lại là Đinh Triết (Đan Phượng),… Các nhà nghiên cứu cũng quan sát thấy ở đâu có ả đào thì thường liên quan đến họ Đinh, đã đặt ra nghi vấn nhưng chưa thiết lập giải đáp Nhưng các truyền thuyết, hầu hết đều thống nhất rằng vùng đất Thanh Nghệ là miền quê phát tích Mặc dù chưa thể đưa ra được kết luận về sự hình thành và phát triển của thể loại qua những truyền thuyết, song đây cũng là một cứ liệu có ý nghĩa nhất định trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu về nguồn gốc ca trù trong đời sống tâm thức dân gian và trong đời sống sinh hoạt dân gian
Trang 171.2.2 Lược sử phát triển của nghệ thuật ca trù
Ở nước ta, từ thời Tiền Lê về trước không có sử sách nào ghi chép về vấn đề ca vũ, nhưng từ thời Lý trở đi, có ghi chép đầy đủ với những quy định trong việc tổ chức biên chế rất nghiêm ngặt (các sách chính sử và dã sử
có ghi chép rõ ràng) Theo ý kiến của tác giả Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng
Huề trong Việt Nam ca trù biên khảo thì “Lối hát ả đào có từ thời Lý”3 và
“Ca trù bắt nguồn từ lối ca vũ”4 cụ thể là ban Nữ nhạc trong cung vua Khi xưa khi có yến tiệc, vua chúa dùng Nữ nhạc múa hát góp vui Trong khi đó ngoài dân gian vào dịp đình đám, hội hè người ta cũng tìm ca nhi đến hát để
tế thần Nhạc cung đình được lập thành 2 ban: ban Nhã nhạc dùng khi tế tự Giao Miếu, nghi lễ nghiêm trang trọng đại; và ban Nữ nhạc dung vào dịp khánh tiết, tiếp đãi các sứ thần ngoại quốc hay những tiệc vui mừng tỏ ra thiên hạ thái bình ấm no Hai tác giả này cho rằng Ca trù là sự kết hợp của
ca vũ Trung Hoa và âm nhạc cung đình Việt Nam trong khoảng từ năm 111 TCN đến năm 938 Và lối hát này có từ đời nhà Lý (1009 - 1225), với sự kiện Lý Thái Tổ bổ nhiệm một người làm chức Quản giáp cho giới con hát Năm 1035, vua Thái Tông tuyển hơn 100 ca nữ phục vụ trong cung
Đến đời Trần, các lối múa hát được biểu diễn vào các dịp lễ tết, yến tiệc, các buổi tiếp sứ hoặc trong các cuộc đi chơi của vua tôi nhà Trần Trong một lần ăn mừng chiến thắng quân Nguyên, Chiêu văn vương Trần Nhật Duật đã sáng tạo ra lối múa “Bài Bông” - một lối múa luôn đi kèm với lối hát cửa đình
Cho đến cuối đời nhà Hồ (1400 - 1407), cái tên Ả đào xuất hiện gắn với
sự kiện người con hát họ Đào, làng Đào Xá, huyện Tiên Lữ, Hưng Yên đã lập mưu giết được giặc Minh
Đến thời Lê (niên đại Hồng Đức), ca trù phát triển rực rỡ với việc đặt ra
2 bộ: Nhã nhạc (luyện thanh) và Đồng văn (luyện tập âm luật) do quan Thái thường trông coi Âm nhạc ở dân gian thì đặt giáo phường cai quản Nhã
3 Việt Nam ca trù biên khảo, Đỗ Bằng Đoàn – Đỗ Trọng Huề, Sài Gòn 1962, trang 31
4 Việt Nam ca trù biên khảo, Đỗ Bằng Đoàn – Đỗ Trọng Huề, Sài Gòn 1962, trang 23
Trang 18nhạc và tục nhạc riêng biệt, không lẫn với nhau Tuy nhiên trong “Vũ trung tùy bút”, Phạm Đình Hổ (1768 - 1839) có viết: “ Hát ở trong cung, gọi là hát cửa quyền, giọng hát uyển chuyển, dịu dàng, thanh nhã hơn giọng hát ở chốn giáo phường Nhưng âm luật không khác mấy” Và từ năm 1578 “tục nhạc ở chốn giáo phường mới thịnh hành, tế giao miếu và lễ triều hạ, hay chốn dân gian tế thần cũng dùng nhạc ấy…”
So sánh âm luật đời Hồng Đức với lối ca trù ngày nay, ta thấy có 5 lối lưu truyền lại là: Cung bắc, Đại thực, hát tầng (Xướng tầng), thiết nhạc, hà nam (cơ sở đặt ra điệu Hát nói sau này) Thực tế cho thấy vào thời vua Lê, chúa Trịnh, hát ca trù đã phát triển rất sâu rộng từ chốn cung đình ra ngoài dân gian Nhiều bậc vua chúa lấy vợ là ả đào, ví như vua Lê Thánh Tông đã sách lập một người trong ban nữ nhạc múa hát làm Trường lạc hoàng hậu Đời vua Lê Thần Tông, chúa Trịnh Tráng lập nàng Phùng Ngọc Đài là ả đào làm vương phi Đời vua Dụ Tông, chúa Trịnh Cương phong nàng Nguyễn Thị Huệ là ả đào làm Ngọc kiều phu nhân và làm nữ quan trông coi ban nữ nhạc Đặc biệt, dưới đời Lê có Đinh Lễ (Cổ Đạm, Hà Tĩnh), lấy gỗ ngô đồng chế ra đàn đáy, rồi cùng vợ là Bạch Hoa đặt ra nhiều khúc hát mới, dạy bọn
đệ tử hát đời sau tôn làm tổ cô đầu Ngoài ra, còn có một số sự kiện có liên quan đến ca trù: Lê Dụ Tông rất sành ca trù đã đặt ra điệu Ngâm vọng trữ tình; chúa Trịnh đã dâng mừng vua Lê khúc Đại thực (sau đổi là Đại thạch); chúa Trịnh Sâm đã chế ra điệu Thổng,… Cũng dưới đời Lê ca trù được biết đến với các tên gọi: hát cửa quyền, hát cửa đình, hát nhà tơ, hát nhà trò, hát
ả đào
Từ hình thức sinh hoạt văn hóa tổng thể thời Lê gồm ca, múa, nhạc thì đến đầu thời Nguyễn, ca trù chuyển thành lối hát thính phòng, phần múa bị tước bỏ, phần ca nhạc được nâng cao Về sau ca trù thính phòng ngày càng được ưa chuộng và trở thành thú chơi tao nhã của giới ca sĩ kinh thành Đặc biệt dưới thời Minh Mạng (1820 - 1840), Thiệu Trị (1841 - 1847), thể loại hát nói ra đời với sự đóng góp lớn của Nguyễn Công Trứ trong việc đưa ca
Trang 19trù tới độ thuần Việt tuyệt đỉnh Ngoài ra các bậc danh nho như Cao Bá Quát, Nguyễn Quý Tân, Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, Chu Mạnh Trinh,… cũng làm nên những bài Hát nói truyền tụng đến ngày nay Đây cũng là thời kỳ phát phát triển nhất của thể loại thơ Ca trù mới này
Từ khi ra đời đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, ca trù chủ yếu tồn tại
ở khu vực phía Bắc (Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Tây cũ, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Hải Phòng, Huế,…) Đến năm 1940, một nghệ nhân ca trù ở Hải Phòng khi
đó mới 16 tuối đã dẫn một số đào kép vào Phú Nhuận, Sài Gòn mở ca quán hát ả đào tại thành phố phương Nam này Như vậy ca trù đã lan rộng khắp Việt Nam vào nửa đầu thế kỷ XX Cũng trong thời gian này, người Pháp sang đô hộ nước ta, đường giao thông đi lại thuận tiện hơn, Ả đào đua nhau
mở nhà hát ở các tỉnh Nạn đào rượu rộ lên Ca trù đi dần vào con đường suy tàn, tuy lúc đầu thế kỷ cũng có một số bài Hát nói của nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục và một số nhà nho yêu nước như: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng… đã viết để truyền bá tinh thần Duy Tân và lòng
ái quốc Nhưng rồi Hát nói lại quay lại con đường cũ là tự tình, tả cảnh, hưởng nhàn, trào phúng, đợi thời,… ít nhiều mang tư tưởng Lão Trang như các nhà nho lớp trước, với Trần Tuấn Khải, Trần Tán Bình, Nguyễn Khắc Hiếu,… Nhiều nhà cách mạng trong Việt Nam Quang Phục hội như Nguyễn Văn Cừ, Xuân Thủy,… đã đặt ra nhiều bài ca trù để động viên, giác ngộ quần chúng Các nhà văn trong nhóm Tự lực văn đoàn và phong trào thơ Mới như Lê Văn Trương, Nguyễn Tuân, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Bính,… rất mê ca trù và đều là những “cây ca trù” đáng kính nể Thời đó người ta lập ra những xóm Ả đào ở các thành phố, thị xã như: ấp Thái Hà, Khâm Thiên, Vạn Thái, Ngã Tư Sở, Chùa Mới, Cầu Giấy, Kim Mã,… hoặc nhóm Phú Nhuận ở Sài Gòn Đa số người đi hát không còn ham thích lời ca tiếng nhạc nữa mà thiên về sắc dục, nên ca trù ngày càng suy tàn và gần như mất hẳn trước phong trào ca vũ nhạc Tây phương
Trang 20Đến năm 1945, để lập lại sự lành mạnh của nền văn hóa mới, ở Hà Nội, người ta đã dẹp nạn đào rượu, nhưng đồng thời lối hát ca trù cũng bị lắng xuống, tinh thần ca trù bị suy giảm do thành kiến Cô đầu là xấu xa
Từ năm 1977 trở đi, làn điệu ca trù thi thoảng mới được phát qua làn sóng của đài tiếng nói trung ương Một vài nhạc sĩ đã lấy chất liệu ca trù trong sáng để sáng tác ca khúc của mình như Nguyễn Xuân Khoát, Văn Cao, Đoàn Bổng, Trương Ngọc Ninh,… Và ngày nay, Hà Nội đã có câu lạc bộ ca trù Điều đó cho thấy dòng nhạc Ca trù đang được tái sinh Ca trù vẫn bền bỉ sống trong lòng người dân yêu mến loại hình này với tiếng hát tuyệt kỹ của
bà Nguyễn Thị Phúc, Quách Thị Hồ, Phó Thị Kim Đức, Nguyễn Thị Mùi, Nguyễn Thị Trúc,… hay tiếng đàn đáy của cụ Chu Văn Du, ông Đinh Khắc Ban, Phó Đình Kỳ,…
Như chúng ta đã biết, ngoài tên gọi Ca trù, lối hát này còn nhiều tên gọi khác nữa Những tên gọi ấy đã phần nào thể hiện được sự chuyển biến, thay đổi ít nhiều về số lượng, trật tự các điệu hát, về không gian của lối hát cũng như sự thay đổi đối tượng công chúng kéo theo sự thay đổi về chất Để có được một lối hát Ca trù tuyệt đỉnh như ngày nay, nó đã trải qua quá trình sáng tạo suốt hàng nghìn năm của dân tộc, và phát triển cả về bề rộng lẫn chiều sâu Nó có mặt trong cung đình phục vụ cho vua chúa, quan lại; phổ biến ngoài dân gian với những buổi hát thờ thần ở cửa đình và sau này thì phát triển mạnh nơi ca quán với lối hát chơi nhằm phục vụ cho lớp nho sinh, trí thức
Khi ca trù còn giới hạn trong cung đình và đền miếu, các lối hát hãy còn
ít ỏi, yếu tố thơ chưa thực sự coi trọng, nhạc là chủ đạo với sự tham gia của múa Nhưng sau này khi chuyển thành lối hát ca trù thính phòng, phần múa
bị tước bỏ, phần ca nhạc được nâng cao Càng về sau, ca trù thính phòng càng được ưa chuộng và trở thành thú chơi tao nhã của giới nho sĩ kinh thành – những người yêu chuộng thơ văn, tính tình phóng khoáng Nhờ những danh sĩ tài hoa, rành âm luật, Ca trù có thêm nhiều điệu hát mới mà
Trang 21điển hình nhất là thể loại Hát nói Lúc này, yếu tố thơ đã được đề cao, nhạc
là để phục vụ cho thơ Đi nghe hát Ca trù là vừa kết hợp nghe đào nương hát những bài thơ hay của cổ nhân, vừa là dịp thưởng thức thơ mình do chính bản thân soạn ra theo làn điệu cố định
Mặt khác, văn chương và âm luật Ca trù cũng tiến triển không ngừng Đời Lý, Trần văn Nôm chưa mở mang Những tên của ca khúc như Trang Chu mộng điệp, Bạch lạc thiên mẫu biệt tử,… cho phép chúng ta nghĩ rằng những khúc hát đầu tiên trong cung vua được viết bằng chữ Hán Ngày nay chỉ còn rất ít bài viết bằng chữ Hán Khi ca trù bắt đầu dùng văn Nôm thì văn chương ca trù có thể chia thành bằng ba giai đoạn:
Giai đoạn đầu, lời ca mộc mạc giản dị, ý tứ rời rạc, nhiều câu nghe như phương ngôn hay ca dao nhưng khi hát lên cùng nhạc thì lại rất hay Do vậy văn chương ở đây chỉ đóng vai trò phụ trợ cho âm nhạc Giai đoạn này chấm dứt vào đời Lê
Giai đoạn hai, theo đà tiến bộ chung của văn chương quốc âm, lời thơ ca ngày càng chải chuốt bóng bẩy, ý thơ ngày càng sâu sắc, phong phú Âm luật đã ổn định Giai đoạn này lấy văn chương làm chính yếu lấy âm nhạc làm phụ trợ, đạt đến mức cao nhất vào thời Nguyễn với những bài Hát nói của Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Dương Khuê,… Giai đoạn ba là giai đoạn suy tàn với sự đô hộ của người Pháp Ả đào đua nhau mở ra nhà hát ở các tỉnh Quan viên thiên về sắc dục, cô đầu lại thiên về nô lệ đồng tiền, nhà cô đầu dần trở thành nơi buôn hương bán phấn Nên các giá trị nghệ thuật của Ca trù đã bị mai một thậm chí là người dân còn có nhiều cái nhìn kỳ thị về Ca trù
Như vậy, khúc ca tiếng hát và điệu bộ đã theo thời gian mà biến đổi Lối hát ca trù ngày xưa như Thét nhạc, Dâng hương, Cung bắc, Ngâm vọng, từ khúc hát rất chân phương, âm thanh chất phác Đến thời cận đại, Hát nói, Mưỡu, Bắc phản, Tỳ bà lại có từ khúc bóng bẩy, âm thanh du dương Đó cũng là bước tiến của văn chương âm nhạc Có thể nói, Ca trù phát triển cả
Trang 22về chiều rộng và chiều sâu Từ hát Cửa đình đến hát Cô đầu là một quá trình phát triển liên tục Các tên gọi khác nhau chính là sự đánh dấu các giai đoạn khác nhau trong sự phát triển của hát Ca trù Và ta có thể hiểu ca trù ngày nay chính là lối hát chơi - một bộ phận hát phụ cho vui của hát Cửa đình trong giai đoạn đầu - phát triển dần lên, tách khỏi hình thức hát thờ thần ban đầu
1.2.3 Sinh hoạt ca trù
Qua khảo sát về địa bàn sinh hoạt ca trù sẽ giúp ta hiểu được mối liên hệ mật thiết của nghệ thuật ca trù với các sinh hoạt và phong tục làng xã trước Việc nghiên cứu địa bàn sinh hoạt ca trù thông qua hệ thống các văn bia được thể hiện cụ thể qua bảng thống kê sau5:
Tên huyện Số lượng bia
Từ bảng thống kê trên chúng ta có thể thấy được một số vấn đề sau Thứ nhất, về địa bàn phân bố loại bia liên quan đến giáo phường chỉ thấy xuất
Trang 23hiện ở vùng đồng bằng sông Hồng, tỉnh có nhiều nhất là Hà Tây và Hà Nội,
có lẽ vì đây đây là vùng ven đô, giao thông đi lại thuận tiện, đời sống kinh tế khấm khá hơn vùng khác nên các sinh hoạt văn hóa cũng có nhiều hoạt động hơn Thứ hai, về niên đại, văn bia tập trung vào thế kỷ 17, 18 và 19 (cụ thể thế kỷ 17 có 15 văn bia; thế kỷ 18 có 39 văn bia; thế kỷ 19 có 12 văn bia)
Về lề lối sinh hoạt ca trù trong sách “Việt Nam ca trù biên khảo” có chia
làm 3 lối chính: hát chơi, hát cửa đình, hát thi
Hát cửa đình là lối hát thờ thần trong các miếu, hát thờ Tổ hoặc thờ Thành Hoàng làng trong các đình làng Lễ tế tổ là một sinh hoạt khá quan trọng của các giáo phường, vừa mang ý nghĩa tâm linh kính tổ, nhờ tổ cho
ăn lộc, vừa là dịp để các đào nương trình diễn các kỹ thuật ca hát của mình như một sự báo cáo trước tổ tiên
Hát chơi là hát khao trong các tư gia (mừng nhậm chức, mừng khánh thành nhà, sinh con, đám cưới), hát nơi dinh thự, hoặc ca quán Trong các tài liệu cổ về ca nhạc đã ghi lại rất rõ việc thưởng thức đàn ca trong các dinh thự của các quan lại, các gia đình quý tộc Trong ca trù còn có một số điệu hát có liên quan đến việc hát ở các dinh thự như điệu Hãm, điệu Ngâm Vọng (điệu Hãm dùng trong lúc uống rượu, điệu Ngâm Vọng tương truyền do vua
Lê đặt ra6 Trong sách “ Ca trù thể cách” cũng đã ghi nhận như sau:
Hát trong các dịp vui mừng, tiếp khách tại các dinh thự có các bài: Hát giai,
Hà Nam, Thét nhạc, Hát vọng, Dồn vọng, Hà Liễu, Hát Mưỡu, Hát nói, Cung Bắc, Gửi thư,…
Hát chơi ở nhà thường dân dùng các điệu: Thét nhạc, Ngâm vọng, Hát giai, Bắc Phản, Hát mưỡu, Dịp ba cung bắc, Hát hãm,…
Hát chơi ở ca quán dùng các điệu: Thét nhạc, Ngâm dồn, Bắc phản, Mưỡu nói, Dịp ba cung bắc, Gửi thư, Hát phản,…
Hát thi là lối hát để khảo sát tài năng của đào hát thường tổ chức
giữa các giáo phường Việc hát thi trong sách Việt Nam ca trù biên khảo đã
6 Lịch sử và nghệ thuật ca trù, Nguyễn Xuân Diện, Nxb Thế Giới, năm 2007, trang 156
Trang 24mô tả khá rõ Thể lệ thi hát được thể hiện dưới các bản yết thị, thông báo treo tại đình làng Ngày vào tiệc, bản xã theo lệ có thông báo về thể thức thi, nói rõ ngày tháng thi, các giáo phường tham gia thi, các quan viên làm giám khảo,… Đợi đến ngày ra bảng, ai trúng thì tên niêm yết trên bảng Thậm chí,
trong tài liệu Ca trù cách thức mục lục còn nói rõ hát thi trải qua các vòng:
Vòng 1 gồm: Giáo cổ (giáo trống), Thư cách, Hát nam, Thư phòng, Hát giai, Tiến chức, Thăng quan, Nhạc hương, Thét nhạc, Hà Nam, Độc phú, Ngâm vọng, Hãm Dựng, Huỳnh, Bỏ bộ, Dồn dựng
Vòng 2 gồm: Rung trống, Chạy đuổi, Hát giai, Hát tầng, Ngâm hát, Hát nam, Hát truyện, Hát dở, Hát nói, Dựng, Huỳnh
Vòng 3 gồm: Giáo cổ, Thư cách, Hát giai, Thư phòng, Tiến chức, Thăng quan, Nhạc hương, Thét nhạc, Ngâm vọng, Bắc phản, Hát mưỡu, Hát nói, Dồn cung nam, Gửi thư, Đại thạch
Như vậy, có thể thấy trong các lối hát và ngâm vịnh cổ truyền Việt Nam hiếm có một lối hát nào lại xâm nhập sâu rộng hầu hết các sinh hoạt văn hóa tinh thần như là lối hát ca trù, một lối hát mà cả Thần và Người đều chuộng Nơi đình miếu, đền đài thâm nghiêm các vị thần thánh nghe hát trong hương trầm đượm tỏa, trong sự sùng phụng của xã dân Và trong dân gian, mỗi khi khao vọng, từ khao họ, khao thi đỗ, khao thăng chức đến khai trương cửa hiệu, mừng đón nhau đều vời đào kép ca trù, tùy việc tùy duyên mà thưởng ngoạn câu thơ khổ phách cung đàn Rồi những khi thư thả việc công, những khi buồn thế thái nhân tình, hoặc tình duyên gặp trắc trở, ai đó lại đến ca quán vịn vào tiếng hát, tiếng thơ, nhịp phách của ca trù để chia sẻ tâm sự, để hòa mình vào thế giới nội tâm, để hào hứng dốc sạch túi tiền vào cuộc hát
mà thưởng cho một ngón nghề tài hoa
1.2.4 Tổ chức giáo phường
Giáo phường và Ty giáo phường là thuật ngữ xuất hiện khá sớm Theo Phạm Đình Hổ thì vào niên hiệu Hồng Đức đời Lê Thánh Tông, trong triều đình có đặt hai dinh thự Đồng Văn và Nhã Nhạc, trong dân gian thì đặt Ty
Trang 25giáo phường để coi các việc về âm nhạc Theo ghi chép cổ xưa thì Ty giáo phường là tổ chức quản lý hoạt động ca xướng tương đương với cấp huyện Giáo phường các xã thuộc về Ty giáo phường của huyện, mỗi huyện có một
Ty giáo phường còn một xã có thể có nhiều hơn một Giáo phường Ngày xưa nơi đào kép ở, tổ chức Giáo phường rất quy củ, nhiều họ họp thành một Giáo phường Mỗi họ cử một người kỳ cựu làm Trùm họ, các ông Trùm họ bầu người có khả năng, có uy tín nhất làm Quản giáp, phụ trách điều khiển tất cả mọi việc của giáo phường Họ ả đào trong giáo phường không có nghĩa là họ hàng thân thích, theo dòng máu Nó mang tính chất tổ chức nghề nghiệp, bảo đảm về mặt chuyên môn nghệ thuật Trong họ, tôn ti trật tự trên dưới cùng chặt chẽ, nghiêm túc hoàn toàn như người cùng họ thật Những ả đào trong họ được gọi là cô đầu nòi Người ngoài muốn học nghề hát phải được người trong “họ” (nhà nòi) nhận đỡ đầu làm con nuôi một người trong
họ truyền thống, thì mới được giáo phường công nhận Những cô đầu nòi luôn có uy tín và được đề cao vì người ta tin rằng họ có khuôn phép hơn Quản giáp được quan tỉnh cấp bằng công nhận, nên từ trùm họ đến đào kép,
ai nấy đều tôn trọng nội quy chung của giáo phường một cách tự giác
Điều quan trọng trong nội quy giáo phường là đào kép phải giữ tư cách phẩm giá, giữ gìn nề nếp, luân lý gia đình cũng như quan hệ giáo phường và quan hệ xã hội Đào kép có nhiệm vụ kèm cặp, bảo ban, giám sát nhau khi ở nhà cũng như khi đi hát nơi xa Trong khi hát, ả đào phải giữ thái độ nghiêm túc, không được nhìn ngang nhìn ngửa, không được công nhiên trò chuyện với quan viên, sợ mang tiếng cho dòng họ, cho giáo phường, cho quê hương Bất kỳ ai mượn nghề ca xướng làm việc bất chính thì quản giáp họp mọi người trong phường lại để phán xét, phê bình khuyết điểm Nhẹ thì phê bình, cảnh cáo; nặng hơn thì đuổi khỏi giáo phường, thông báo cho giáo phường khác biết để không phường nào cho vào nữa
Đào, kép rất kính trọng Tổ sư giáo phường Lệ kiêng tên húy “Lễ, Châu,
Dự, Hoa” không ai được vi phạm Nếu vô ý nói đến thì phải nộp phạt, bị
Trang 26cảnh cáo và truất ngôi thứ trong phường, tùy theo lỗi mới mắc lần đầu, hay
đã nhiều lần mà vẫn không nhớ Thầy như cha mẹ nên ngày Tết phải đến bái niên, ngày giỗ phải đến chịu lễ Và mỗi buổi hát đình đám, các học trò phải trích ra một phần tiền để cung dưỡng thầy gọi là tiền đầu Việc học hát của các đào nương cũng rất công phu, phải mất 5 năm mới gọi là biết hát Những đào học tập đã thành thục, khi bắt đầu ra hát phải có trầu cau trình với quản giáp, qua một buổi sát hạch rồi chọn ngày lành tháng tốt làm lễ cáo
tổ và mở tiệc để thiết đãi phường Buổi sát hạch đầu tiên ấy, giáo phường gọi là lễ mở xiêm áo
Bên cạnh việc các đào kép phải đóng góp cho giáo phường thì giáo phường cũng phải có trách nhiệm đóng góp với dân làng trong các nghi lễ thờ cúng theo quy định giữa làng xã sở tại với giáo phường Giáo phường xưa còn tôn vinh người có công truyền nghề như năm Vĩnh Trị (1681) có vị trong Ty giáo phường xã Đông Lâm, huyện Hiệp Hòa, phủ Bắc Hà, đạo Kinh Bắc vì có người ngoại tổ họ Hà là Phúc Đạo, ở xã Trung Trật trước có
mở nghiệp giáo phường, có con gái là Hà Thị Khánh lấy chồng họ Nguyễn ở Đông Lâm nhớ đến ân nghĩa sinh thành của ngoại tổ, tỏ lòng báo đáp, đặt ra
lệ, hễ đình Trung Trật mở tiệc thì các khoản tiền tiệc, tiền khao và tiền lễ xông đình, các khoản tiền làm cỗ đều do giáo phường Đông Lâm trang trải Đây là một nét đẹp nhân văn của một giáo phường ca trù, vừa tôn vinh nghiệp tổ, vừa thành kính tri ân người có công gây dựng nghề cho giáo phường
Giáo phường ca trù không chỉ biểu diễn phục vụ trong các lễ hội dân gian ở các làng xã mà còn vượt ra khỏi địa phương để tham gia vào các nghi thức tiếp khách của nhà nước
1.2.5 Diễn trình buổi biểu diễn
* Nhạc khí và ban nhạc
Hát ca trù truyền thống tự nó khu biệt với các lối hát khác nên bộ khí nhạc rất đơn giản gồm cỗ phách, đàn đáy, trống chầu Nhưng từ thế kỷ 18 về
Trang 27trước, đệm cho ca trù là cả một dàn nhạc lớn trong cùng đình gồm nhiều nhạc cụ khác nhau như trúc dịch (sáo), yêu cổ (trống cơm), địch quản, đới cầm, sinh tiền, trống đàn điện cổ (trống mảnh) Đến đầu thế kỷ 19, ca trù trở thành một thú chơi tao nhã của nho sĩ, mang hẳn tính chất ca nhạc thính phòng thì một số nhạc cụ được giảm dần và đến cuối thế kỷ 19, còn lại hai nhạc cụ chính là đàn đáy và đàn nhị Sang thế kỷ 20, chỉ còn lại đàn đáy do kép đánh, đào vừa hát vừa gõ phách và trống chầu để người nghe (quan viên) đánh
Phách có một chức năng quan trọng như xương sống của lối hát Tính
nhất quán của lối hát phần nhiều dựa vào nó và nếu trong giai điệu không bao giờ nhắc lại chủ đề, thì mấy khổ phách lại như là những chủ đề nhắc đi nhắc lại trong suốt các bài Cỗ phách ba lá là bộ gõ hoàn chỉnh, gồm bàn phách và dùi phách Dùi phách trông như đôi đũa to mập, dài khoảng 27 cm, đường kính khoảng 11 – 12 mm, một để nguyên, một chẻ đôi theo chiều dọc Khi gõ phách, cầm 1 dùi (dùi để nguyên còn gọi là lá phách) trong tay trái, 1 dùi chập đôi (gọi là tay ba) trong tay phải Bàn phách là một tấm gỗ hay tre đẹp, bẹt, dài khoảng 22, 23 cm; rộng 44, 45 cm; dày khoảng 20 mm, có đế thấp ở hai đầu, chững 3 – 4 cm
Đàn đáy là cây đàn duy nhất trong lối hát ả đào, nó còn có tên là vô để cầm hay đới cầm Người ta cho rằng đàn đáy là chữ đới trong tiếng Hán nói
chệch ra Khi hát cửa đình hay hát ở cung đình, người đào kép thường lấy dải lụa điều đeo đàn vào người gảy cho đỡ mỏi Cũng có người cho rằng đàn đáy có cái thùng hở mặt sau coi như không có đáy, nên sau gọi tắt là đàn đáy cho gọn hơn là đàn không đáy Đàn gồm có: hộp đàn hình thang cân chiều đứng là 30 cm, chiều ngang phía trên khoảng 20 cm, bên dưới 17 cm, dày 19
cm Mặt đàn thường bằng gỗ vàng tâm canh (có tính chất nhẹ xốp) Cần đàn (dọc đàn) và khung hộp đàn bằng trắc mun hay gốc nhãn (là loại gỗ cứng) Đáy đàn có một khoảng trống hình chữ nhật kích thước 9x12 cm Cần đàn dài khoảng 1,2 m trên có 12 phím gỗ gắn cao thấp từ 2 – 3 cm, sát về phía
Trang 28hộp đàn Đàn có 3 dây bằng sợi tơ tằm với kích cỡ khác nhau: dây đài (to), dây trung (vừa), dây tiểu (nhỏ)
Ngoài ra trong dàn nhạc còn có sự góp mặt của tiếng trống chầu Đó là một chiếc trống nhỏ (cao 22 cm, đường kính mặt 20 cm), mặt bưng da trâu, tang bằng gỗ mít Dùi trống còn được gọi là roi chầu dài khoảng 36 cm, đường kính 7 – 8 mm làm bằng thứ gỗ vừa dẻo vừa cứng, thường là cành găng ruối, tầm vông hoặc gỗ nguyệt quý vuốt bóng Tiếng trống chầu ngoài việc dùng để chấm, ngắt câu văn mà còn là thứ để đánh giá tiếng hát của đào nương
Bên cạnh đó, tiếng hát của đào nương cũng được coi là một nhạc khí – nhạc khí đặc biệt, thể hiện các bài thơ, với yêu cầu diễn cảm ý thơ, tình thơ rất cao
Có thể nói, bộ nhạc khí của ca trù đã được tinh giảm đến mức tối đa nhưng lại đến hiệu quả thật bất ngờ Âm thanh của từng nhạc khí hòa quyện với nhau, gắn bó với nhau mật thiết đến mức ta không thể thêm bớt nhạc cụ nào nữa Ban nhạc cũng rất đơn giản, gồm có ả đào vừa hát vừa gõ phách, kép đệm đàn Về sau, khi ca trù trở thành lối hát thính phòng, một thú chơi tao nhã thì quan viên trở thành một thành viên của ban nhạc Trong ban nhạc,
ả đào là thành viên chính và là linh hồn của lối hát Vai trò của ả đào là làm
ca sĩ cho tiệc hát nhưng khác với ca sĩ ở chỗ ả đào vừa hát vừa gõ phách, ả đào luôn là nữ Việc học hát cũng lắm công phu Ngày xưa, người nào thông minh, chịu khó lắm một vài năm mới cầm được phách, trung bình phải từ 5 năm trở ra mới gọi là biết hát Các ca nương trẻ mới vào học hát phải ăn uống kiêng khem, không được ăn no (sợ kém hơi), không được uống rượu
và ăn các thứ chua cay (sợ kém giọng) Để giữ giọng có người thường nhấm chè ngon, thảo quả, ô mai, chanh, muối,… Họ chăm sóc giọng hát rất kỹ Trước ngày hát mấy hôm, dầu cho thích ăn thịt đến đâu, cũng kiêng cho giọng hát được trong Hát nhất thiết phải tròn vành rõ chữ Đã thế họ còn phải học phách nữa, vừa hát vừa gõ phách, hai công việc cùng làm một lúc,
Trang 29rất khó khăn đối với những người mới vào nghề Hơn nữa, bài hát thường bằng chữ Hán nên các ca nương học thuộc rất vất vả Ngoài ra còn phải học
ăn nói, đi đứng cho đúng phép tắc lễ nghi
Kép cùng với đào hát là thành viên quan trọng trong tổ chức hát ca trù, vai trò chính của kép là gảy đàn (nhạc công), kép luôn là nam giới Trước đây, kép có tham gia vào hát nhưng về sau chỉ có nhiệm vụ đệm đàn cho đào nương
Quan viên là người đi nghe hát, người thưởng thức tiếng hát của đào nương Người quan viên cầm chầu ngoài chức năng tham gia vào ban nhạc với vai trò cầm quyền âm nhạc, còn có nhiệm vụ quan trọng là chấm thưởng mỗi khi đào nương hát hay hoặc hát đến câu văn hay, chữ hay, ý hay và còn chấm cả đàn hay, phách hay Trong lối hát cửa đình, người cầm chầu đánh trống lớn là tiên chỉ, hoặc thứ chỉ, những người chức sắc vai vế nhất làng Ở
ca quán, thính phòng, nhà tư người cầm chầu gồm đủ mọi tầng lớp như quan lại, công chức, nhà nho, nhà văn, nhà buôn,… Nhưng bất kỳ ai, nếu đàn hay, hát hay mà trống chầu bập bõm, đánh không đúng phép tắc thô tục thì cả chầu hát nhạt nhẽo hẳn đi vì không đảm bảo tính nghệ thuật, chất thơ, chất nhạc
* Buổi biểu diễn
Trình tự một buổi hát có thể hình dung như sau:
Tao nhân mặc khách đến một gia đình, hay một ca quán, ở đó đã bố trí chỗ cho khách trà rượu và chỗ để đào kép hát Về phía khách sẽ tự có một quan viên đánh trống chầu
Bắt đầu buổi hát, quan viên điểm 5 hồi trống: 3 hồi đầu để giục đào kép
Sơ cổ: điểm 5 tiếng, 3 tiếng trước khoan, 2 tiếng sau mau
Tùng cổ: điểm 4 tiếng, 2 tiếng trước khoan, 2 tiếng sau mau
Trung cổ: điểm 3 tiếng, 1 tiếng trước khoan, 2 tiếng sau mau
Từ đây, trống chỉ được dùng để điểm trù: gõ mặt trống tom, tom,… là quan viên chấm câu hát; gõ mặt trống chát, chát,… là quan viên thưởng trù
Trang 30Đào nương bước vào chiếu, ngồi ngay ngắn Mặt xây (quay về phía) về quan viên Đặt phách xuống chiếu Hai tay cầm hai roi, ngửa tay gieo phách Đào giỏi thì tùy ý biến đổi mà không sai tiết tấu, gọi là sắc tay Người chưa giỏi mà gieo phách thường bị lộ khổ phách nghĩa là phách không hợp lắm với tiết tấu nhạc
Đầu tiên đào nương hát một bài hát mở hay Bắc phản, tiếp đó là các bài hát nói, hát mưỡu, hát ru, mười thương, nhịp ba cung bắc, huê tình,… Mưỡu thường là câu lục bát đi kèm với Hát nói (ở trên gọi là Mưỡu đầu, ở dưới gọi
là Mưỡu hậu) nêu tóm tắt ý tưởng của bài hát đó
Hòa vào với tiếng hát du dương, trong mịn là tiếng đàn đáy đục trong, khoan nhặt, tiếng phách giòn ríu ran, và tiếng trống chầu tom, chát Tất cả đan quyện vào nhau, tạo nên một không gian nghệ thuật đặc biệt, tạo nên một thứ “ma lực” hấp dẫn, say đắm lòng người
1.3 Nghệ thuật Ca trù tại một số tỉnh đồng bằng sông Hồng
đã tổ chức làm phim “Hát cửa đình” tại Lỗ Khê Đây cũng là dịp tập trung
Trang 31nhiều nhất các danh ca, danh cầm nổi tiếng trong giới ca trù như: Quách Thị
Hồ, Nguyễn Thị Phúc, Nguyễn Thị Hào, Chu Văn Du, Nguyễn Thế Tuất, Phó Đình Kỳ, Đinh Khắc Ban, Phó Thị Kim Đức, Phạm Thị Mùi
Ngoài ra, vùng ven đô Thăng Long cũng còn một làng quê còn giữ được đền ca công Đó là làng Phú Đô là một làng thuộc xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội Tại đây cũng có một đền Ca công ở xóm 1 Đền
có ba chữ Ca công từ xác nhận tên gọi của đền Trong đền có một sắc phong
có nội dung: Sắc cho Mãn Đường Hoa Phương Phi Chân Thực Từ Hoà Công chúa và Thanh Xà Thuận Bình Hưng Linh Thông Tuy Hưu Tích Hỗ Đại vương Niên đại của sắc là năm Chiêu Thống 1 (1787) Sắc này cũng chỉ
là một bản sao, vì trên sắc không thấy có dấu ấn triện Thần tích hiện còn giữ cũng là một bản sao, trên giấy sắc, nội dung cũng không có gì khác thần tích Lỗ Khê
Trong một bài thơ cổ đã cho chúng ta thông tin quan trọng: ngôi đình Đông Ngạc, xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội có trước năm 1500 và hát cửa đình đã có trước năm 1500 Bài thơ cho ta mường tượng ra không khí đại lễ trang nghiêm, hào hùng của lễ hội đầu xuân cầu phúc của làng Đông Ngạc hồi cuối thế kỷ XV Trong ngày hội lớn của làng Đông Ngạc bấy giờ có ít nhất là 8 giáp, đã cùng nhau thưởng đào ở đình làng Các cô đào hát những bài thơ ca ngợi thành hoàng làng và cầu phúc cho dân làng
Và đáng kể nhất phải kể đến hoạt động sinh hoạt ca trù tại các câu lạc bộ
ca trù tại Hà Nội hiện nay, như câu lạc bộ ca trù Thăng Long, câu lạc bộ ca trù Hà Nội, trung tâm văn hóa ca trù Thăng Long, câu lạc bộ ca trù Thái Hà,… Đây đều là những tổ chức sinh hoạt ca trù mang tính chuyên nghiệp, luôn nỗ lực giữ gìn và phát huy các giá trị của nghệ thuật ca trù không chỉ của Hà Nội mà của cả nước
Trang 321.3.2 Tại Hà Tây
Nếu như Kinh Bắc là đất quan họ, thì xứ Đoài là một trong những cái nôi của ca trù cửa đình Các giáo phường, các nơi có nhà hát cô đầu ở Xứ Đoài có thể kể như: Phù Xa, Đông Tác (Sơn Tây), Gạch (Phúc Thọ), Thượng Mỗ (Đan Phượng), Sơn Đồng, Ngãi Cầu (Hoài Đức) Trong dân gian vùng Kẻ Mía (làng cổ Đường Lâm) còn lưu truyền câu chuyện về cô đào nọ đã đẻ rơi và đứa bé đã chết vào giờ thiêng ngay trong đêm hát ở đình làng Mông Phụ Còn dân Phố Gạch thì lưu truyền câu chuyện về người ca
nữ bị cảm trên đường trở về nhà sau một đêm hát, đã chết vào giờ thiêng khiến cho ngôi mộ bị mối đùn thành ra một nấm mồ bên cây cầu nhỏ
Sinh hoạt văn hóa ca trù cũng đã xuất hiện và tồn tại lâu đời ở nhiều làng xã của Hà Tây Chúng ta có thể kể ra một số làng có các nghệ nhân ca trù và vẫn giữa được các sinh hoạt văn hóa ca trù trong các dịp lễ hội của làng như: làng Chanh Thôn, xã Văn Nhân, huyện Phú Xuyên hay làng Phượng Cách, xã Phượng Cách, huyện Quốc Oai cũng là một nơi có di tích đền thờ tổ Phượng Cách là tên làng cũng đồng thời là một xã, thuộc huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây Trong lịch sử nơi đây là một vùng rất thịnh của ca trù Ở trong khu nhà thờ họ Nguyễn Thế (do ông Nguyễn Thế Mạnh trông nom) có một gian điện thờ đức tổ ca trù với hai pho tượng tròn rất đẹp Theo các vị cao tuổi trong dòng họ thì đây là nơi các giáo phường lớn nhỏ trong huyện Quốc Oai về dâng hương lễ tổ hàng năm Phượng Cách cũng là quê hương của ông Tự So và bà Đào Nhu - một đào nương nổi tiếng đã từng chống Pháp Gần đây nhất, dòng họ có Kép Tư Châu và cô Đào Phê (thường gọi là Bà Hương Phê), những danh ca, danh cầm ở ấp Thái Hà, Hà Nội trước
1945
1.3.3 Tại Hải Phòng
Tại Hải Phòng, cùng với loại hình nghệ thuật hát đúm, Thuỷ Nguyên được biết đến như một cái nôi của hát ca trù của vùng Duyên hải bắc bộ Vào thời điểm hưng thịnh, hát ca trù được coi là một nghề kiếm sống cho
Trang 33hàng trăm người dân ở Đông Môn, xã Hoà Bình (Thuỷ Nguyên) Theo ông Trần Bá Sự - nguyên Chủ nhiệm CLB ca trù Đông Môn - ca trù xuất hiện ở đây từ đầu thế kỷ XIX Và người đưa ca trù về Đông Môn là cụ kép đàn Tô Tiến Trọng - trùm phường của một giáo phường Kinh Môn (Hải Dương) thuộc ty giáo phường Bắc Thạch (Bắc Ninh) Được sự đồng ý của giáo phường Kinh Môn, ông trùm phường Tô Tiến Trọng đã rước 2 bức tượng ông tổ nghề là Đinh Dự thanh xà đại vương và Mãn đường hoa công chúa cùng bản sắc phong về phủ từ Đông Môn - là nơi đền thờ tổ nghề của cả vùng Duyên hải bắc bộ Ông là người dạy ca trù cho người thân trong họ, các dòng họ tại địa phương và biến làng Đông Môn trở thành một ca quán của cả một vùng duyên hải Vào những giai đoạn từ năm 40 - 45 của thế kỷ trước, hát ca trù ở Đông Môn trở thành một nghề kiếm sống của nhiều dòng
họ lớn trong làng như: Tô, Phạm, Nguyễn… Những đứa trẻ lớn lên đã được ông, bà truyền nghề trở thành “ca nương”, “kép đàn” cùng với đó những dòng họ, gia đình đứng ra thành lập các giáo phường chuyên đi biểu diễn tại các tỉnh thành Hà Nội, Thái Bình, Quảng Ninh, Nam Định Do chiến tranh loạn lạc, năm 1950, ca trù Đông Môn bị dần mai một Với mong muốn bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống của dân tộc, năm 1993 chính quyền địa phương đã đứng ra thành lập CLB ca trù Đông Môn với sự đóng góp của nghệ nhân hát ca trù Tô Thị Chè (dạy hát), ông Tô Văn Nghị (kép đàn) và rất nhiều người đam mê ca trù cùng tham gia Bà Tô Thị Chè được nhà nước phong tặng nghệ nhân hát ca trù Bên cạnh đó, những lớp thế hệ con cháu Đông Môn được học hỏi để gìn giữ những giá trị văn hoá của quê hương Và đây cũng là niềm tự hào của người dân Đông Môn, một địa phương duy nhất của Hải Phòng có nhiều em học sinh biết hát ca trù, đánh phách như em Phạm Thị Liên đã đoạt huy chương vàng ca múa nhạc dân tộc Hải Phòng năm 1996 Nhiều em trong làng được tuyển chọn tham gia vào lớp đào tạo ca trù do ngành văn hoá tổ chức7
7Ca trù Đồng Môn và những thăng trầm, Dương Thị Nhụn, Hội Liên hiệp văn học Hải Phòng,
http://www.cuabien.vn, ngày 25/7/2009
Trang 341.3.4 Tại Thái Bình
Một trong những nơi còn lưu giữ được dấu ấn của nghệ thuật hát ca trù
là Thái Bình Cũng giống như một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, Thái Bình là một tỉnh thuần nông, nhưng với sự cộng cư, dân từ nhiều vùng về đây khai
ấp lập làng, là điều kiện cho văn hóa văn nghệ dân gian của Thái Bình giao thoa, tiếp biến Dấu ấn rõ nét nhất của nghệ thuật hát ca trù trên đất Thái Bình hiện vẫn còn lưu giữ tại đền Đồng Xâm thuộc xã Hồng Thái huyện Kiến Xương Tại đền hiện còn lưu giữ một cuốn sách cổ ghi chép bằng chữ Hán, trong đó có một bài tế Tổ nghề ca công và 8 bài tế Thánh bằng ca trù Cũng theo một số ghi chép, thì hội đền Đồng Xâm xưa thường được tổ chức khá quy mô, với nhiều trò diễn dân gian thu hút khá đông du khách về trảy hội Các giáo phường trong tỉnh dù đi lưu diễn ở tỉnh ngoài, nhưng đến ngày hội của đền cũng cử những ca nương đàn hay, hát giỏi nhất về hát chầu Thánh gọi là tục Chầu cử
Hát ca trù những năm trước 1954 khá phát triển ở Thái Bình với nhiều giáo phường tập trung ở một số địa phương: Tiền Hải, Kiến Xương… Sau năm 1954 do hoàn cảnh mưu sinh và một số điều kiện khách quan mà hát ca trù dần mai một Hiện nay, ở Thái Bình còn duy nhất một nghệ nhân tên là Bùi Thị Nhài sinh năm 1925, mặc dù cụ vẫn còn minh mẫn và nhớ được nhiều làn điệu nhưng nay tuổi cao, sức yếu, trong khi thế hệ kế cận vẫn chưa tâm huyết với nghề Từ 2009 - 2010, Nhà Văn hóa Trung tâm tỉnh đã mời các nghệ nhân ca trù từ các địa phương khác về truyền và dạy hát cho thế hệ trẻ, với 3 lớp học mở tại Kiến Xương, Tiền Hải, và thành phố Thái Bình đã đào tạo được khoảng hơn 200 học viên, với các làn điệu cơ bản của nghệ thuật ca trù
Ca trù ở tỉnh Thái Bình đậm đặc nhất ở hai trung tâm là thành phố Thái Bình và huyện Kiến Xương Tại huyện Kiến Xương với hai địa chỉ đáng chú
ý là làng Dương Liễu thuộc xã Bình Định và khu vực đền Đồng Sâm thuộc
xã Hồng Thái Cho tới thời điểm này, tỉnh Thái Bình đã có hai CLB Ca trù
Trang 35là CLB Ca trù của Trung tâm Văn hóa tỉnh và CLB Ca trù xã Bình Định, quy tụ được trên 20 đào nương và kép đàn có khả năng phát huy và quảng
bá nghệ thuật Ca trù của tỉnh Riêng CLB Ca trù xã Bình Định, qua một tháng phát động truyền dạy và học liên tục, các học viên đã nắm được 5 khổ
phách cơ bản và các làn điệu như Bắc phản, Mưỡu, Hát nói, Hát Chúc hỗ
Trong lớp học, học viên cao tuổi nhất là 70 tuổi, người nhỏ tuổi nhất là 13 tuổi Thành phần giảng dạy tại lớp học là những đào nương Ca trù trong tỉnh, chủ yếu là các nghệ nhân về từ CLB Ca trù Trung tâm Văn hóa tỉnh Thái Bình8
1.3.5 Tại Nam Định
Nghệ thuật ca trù Nam Định gắn liền với tên tuổi của các đào nương đã vang danh sử sách cũng như phong trào diễn xướng của loại hình nghệ thuật độc đáo này tại các làng quê trong tỉnh Đó là ca nương tài, sắc Trần Thị Ngọc Đài ở vùng đất Thiên Bản xưa, nay là xã Cộng Hòa (Vụ Bản), được dân gian phong là bà Chúa Thông Khê, trở thành một trong 6 sự tích kỳ là của vùng đất Thiên Bản Theo truyền thuyết, ca nương Ngọc Đài sinh năm
1577, từ nhỏ đã nổi tiếng trong vùng về hát hay, múa dẻo, theo cha mẹ đi hát, sau đó được Chúa Trịnh phong làm Thái Phi Nhờ giọng hát Ca Trù của bà
mà Tổng Đồng Đội bấy giờ được vua cấp đất, miễn là phải đi tạp dịch Thế
kỷ XVIII, nghệ thuật Ca trù phát triển mạnh tại xã Hồng Thuận (Giao Thủy),
xã Nghĩa Thắng (Nghĩa Hưng), xã Đồng Sơn (Nam Trực) Nói đến Ca trù Nam Định không chỉ có những đào, kép hát hay, đàn giỏi mà có nhà thơ Trần Tế Xương tác giả của nhiều bài hát Ca Trù nổi tiếng như: "Thi hồng",
"Ngẫu chiếm", Diễu bạn", " Chú mãn"
Về giá trị nghệ thuật, Ca trù Nam Định có hơn 40 thể, chia làm 3 lối hát chính: hát cửa đình, hát thi và hát chơi Hát cửa đình là lối hát gắn với tục
8
Ca trù một nghệ thuật độc đáo cần được lưu giữ, Phạm Nga (Sở văn hóa du lịch Thái Bình),
http://www.thaibinh.gov.vn, ngày 23/9/2011
Trang 36thờ thần hoàng làng, có nội dung ca ngợi công đức của các bậc anh hùng dân tộc, những danh nhân, các vị tổ nghề đã có công khai ấp, lập thôn, trong
sự nghiệp xây dựng và đấu tranh chống giặc ngoại xâm, xây dựng đất nước Lối hát này có các thể chính như: dâng hương, đọc phú, tấu nhạc, múa bài bông, giáo trống, giáo hương Lối hát thi thường gắn với đời sống được tổ chức tại cửa đình Hàng năm vào mùa xuân, các làng thường mở hội, tổ chức cuộc thi ở cửa đình để tuyển chọn đào hay kép giỏi, qua đó, các đào nương chính thức làm lễ " mở xiêm áo" và được công nhận hành nghề Hát thi có các giai đoạn là vãn, chầu thi gồm 28 thể, chầu cầm gồm 17 thể dành cho đào và kép Hát chơi là lối hát phổ cập, có nội dung phóng khoáng với các bài hát tả tình với các thể chính như: hát nói, hát ru, ngâm vọng, kể chuyện, tỳ bà, nhịp ba cung
1.3.5 Tại Bắc Ninh
Cũng trong khuôn khổ tập hợp và hoàn tất hồ sơ đề cử di sản văn hoá phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại cho nghệ thuật Ca trù, Sở VH-TT Bắc Ninh đã phối hợp với Viện Âm nhạc (Bộ VH-TT) tổ chức đợt khảo sát, điền dã tại các huyện, thành phố trong tỉnh về nghệ thuật Ca trù Đoàn khảo sát đã về làm việc tại thôn Thanh Tương Tại đây vẫn còn giữ được nhà thờ
tổ của dòng họ Nguyễn vốn có truyền thống hát Ca trù và cố nghệ nhân Nguyễn Thị Thuỷ hồi trẻ từng đạt giải trong cuộc thi hát "Ca kép phượng" thời Pháp thuộc Ở Yên Phong, gia đình cụ Đào Văn Cường ở xã Đông Tiến vốn làm nghề ca công Từ năm 1945, nghề ca công không còn duy trì được nữa, gia đình mở tiệm cô đầu tại Niềm Xá (Thành phố Bắc Ninh), mặt khác cũng mở 2 nhà hát tại Bắc Giang và 2 nhà hát khác tại Thanh Sơn (nay thuộc phường Vũ Ninh – Thành phố Bắc Ninh) và phủ Từ Sơn trước đây Tại Châu Khê (Từ Sơn), điển hình có nghệ nhân Ngô Xuân Hoành, ông cũng mở nhà hát ở 2 nơi Bắc Ninh và khu vực Ô Cách (nay thuộc quận Long Biên – Thành phố Hà Nội), lấy tên là Ngô ca công Ở các địa phương khác như thôn Hoài Thượng (Liên Bão – Tiên Du), vùng Lim… đều có
Trang 37những dấu tích của nghệ thuật hát Ca trù, đối chiếu các kết quả nghiên cứu hoàn toàn có thể khẳng định ca trù có từ rất lâu đời tại các địa phương trong toàn tỉnh9
1.4 Các giá trị của nghệ thuật Ca trù
1.4.1 Giá trị văn học (Lời thơ)
Ca trù là một loại hình ca hát có giá trị cao về mặt văn chương Các điệu hát Ca trù ngày xưa như Đại thạch, Dâng hương, Gửi thư … hãy còn mộc mạc chất phác; thì về sau với các điệu Hát nói, Hát mưỡu, Tỳ bà… từ ngữ
đã chau chuốt, bóng bẩy hơn Điều đó đã đánh dấu một bước tiến bộ lớn của nền nghệ thuật âm nhạc Đến nay, trong số đó chỉ có Hát nói là phổ biến nhất Hát nói là một trong 15 thể hát trong hình thức Hát chơi và là lối hát chính trong Ca trù gắn bó chặt chẽ với thơ ca Thơ hay phú, văn tế hay văn bia còn bảo bắt chước mô phỏng của Tàu, chớ hát nói, thì thật của riêng ta,
tự ta đặt ra thành lối, xưa nay chưa ai có điệu từ, khúc hay nhạc phủ nào của Tàu giống hẳn như thế10 Theo tác giả Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức trong cuốn “Hình thức và thể loại thơ ca Việt Nam” (NXB Khoa học xã hội
Hà Nội năm 1968), các ông đã định nghĩa như sau: “Hình thức tổng hợp cao giữa ngũ ngôn, hay thất thể ngôn Trung Quốc với thể Hát nói sử dụng song thất lục bát và thể lục bát của ta là thể Hát nói Thể này được sáng tạo do sự phối hợp khéo léo về các quy luật thanh điệu và nhịp điệu, giữa tiếng ta và tiếng Hán, giữa thơ ta và thơ Hán,…” Qua đó, chúng ta thấy văn chương thể Hát nói biểu hiện rất rõ rệt khả năng đồng hóa của dân tộc ta Thơ hát nói khác lạ trên ba bình diện: nó là thể thơ giàu chất văn xuôi, là thơ của công chúng văn học khác, của một môi trường văn học khác,… nó cũng thể hiện con người nhà nho nhưng là nhà nho tự thoát ly ra khỏi khuôn khổ Cả
ba yếu tố đó không phải là yếu tố tách biệt mà có mối liên quan mật thiết với nhau Vì những đặc điểm ấy, Hát nói càng ngày càng được thể hiện chau
9
Bảo tồn ca trù ở Bắc Ninh, Báo Bắc Ninh, số 20, ngày 15/4/2009
10Văn chương hát nói, Nguyễn Văn Ngọc, trích Ca trù nhìn từ nhiều phía, Nguyễn Đức Mậu,
NXB VH-TT, năm 2003, Hà Nội, trang 54
Trang 38chuốt, và sử dụng rộng rãi trong suốt kỳ cận đại Những bài thơ bằng chữ Nôm được sử dụng làm lời cho bài hát là một trong những lý do khiến cho mối quan hệ của Ca trù với văn học ngày càng mật thiết hơn, phức tạp hơn, thúc đẩy sự nở rộ dòng văn Nôm có tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc Thời kỳ cực thịnh của văn Nôm là thời cận đại, đánh dấu bước ngoặt lịch sử phát triển nhất của ngôn ngữ Việt Nam mà Ca trù đã phản ánh lên rõ nét nhất cái tiến bộ đó Và Hát nói chiếm một địa vị ưu đẳng với những áng thơ kiệt xuất của Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Quý Tân, Nguyễn Khuyến, Dương Khuê,… Hát nói đã giúp thi nhân phát triển đủ mọi khuynh hướng đủ mọi tình cảm Hát nói sinh sau đẻ muộn, nhưng đã vươn lên vị trí danh dự trong văn học sử nước nhà Hát nói là thơ, nhưng vẫn đảm bảo tính cách hát của nó, nên đã được vận dụng theo bài bản âm nhạc của hát ca trù với đàn đáy, phách và trống chầu Thơ và nhạc đã cùng nhau nâng chất lượng hát nói lên; các đào kép cũng tuân theo sự biến hóa ấy mà trau dồi nghiệp vụ11
Các bài Hát nói được chia ra dưới nhiều khía cạnh nội dung: chờ đợi, chán đời, ăn chơi, tả cảnh, tự tình, dạy đời, đùa vui,… Nhưng bản thân hát nói, không chỉ là những khúc hát tâm tình, hát vui chơi mà cũng phải đảm bảo tính chất “thi ngôn chí” của nó Văn hát nói có thể mạnh mẽ hùng tráng
Ý của lời văn có thể chứa đựng những thúc giục, động viên, tùy theo tác giả của nó đang làm gì hay đang muốn gì Nhiều bài hát nói của Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát đã đề cập đến chí nam nhi, đến “vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc” hay đến “thiên sinh hào kiệt bất ứng hư” Văn hát nói đủ khả năng làm văn cổ động, nó sẵn sàng đi sâu vào quần chúng để làm nhiệm vụ đấu tranh Như trong phong trào Duy Tân đầu thế kỷ 20, tác phẩm Đông Kinh nghĩa thục gồm nhiều bài hát nói; các cụ Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng đã làm nhiều bài hát nói Cả trong Xô-viết Nghệ Tĩnh, trong các nhà tù, hát nói vẫn vang lên để kêu gọi “Đại liên minh toàn
11Thơ nhạc từ dân gian đến bác học để trở về dân gian – Vũ Ngọc Khánh, trích Ca trù nhìn
Trang 39quốc công nông” và “gan sắt đá chữ đồng xin tạc” Và trở thành một lợi khí tuyên truyền, chứng tỏ nó đi sâu vào nhân dân12 Nhưng trong quá trình phát triển của mình, Ca trù bị coi là loại hình âm nhạc phục vụ cho mục đích chính trị Đó là những tiếng cười trào phúng, đả kích, những tiếng nói căm thù, vạch tội bọn cướp nước, bán nước; đó còn là những lời kêu gọi đồng bào, đồng chí cùng nhau đứng dậy, đòi lại nước nhà cho bằng được Bên cạnh đó, văn chương Hát nói còn chịu ảnh hưởng của Nho giáo kết hợp với
tư tưởng tự do cá nhân của mỗi nhà nho tài tử Điều này được biểu hiện rõ ở quan niệm về hành xử, một quan niệm chính thống bao đời của kẻ sĩ, xuất phát từ Nho giáo; ở mỗi đam mê “giai quý thích, cầm kỳ thi họa”, thú hành lạc phong lưu, tinh thần tự do tự tại thoát khỏi những quy phạm của Nho giáo Hai biểu hiện trên đan xen nhau, xuyên suốt toàn bộ các tác giả thơ Hát nói dài hơn một thế kỷ Các nhà nho tài tử trong Hát nói hành động để đạt được cái sở thích cá nhân của họ mà không tách khỏi quần thể nhân loại Thiên nhiên đối với họ là thứ mà tạo hóa sinh ra nhằm để cho họ thưởng ngoạn, để cho họ có nguồn cảm hứng, có thi liệu sáng tác thơ ca Tuy nhiên, khi muốn vượt ra ngoài khuôn khổ của đời thường, muốn lẩn tránh thực tại, thì thiên nhiên là nơi gửi gắm, hóa giải tâm sự của người nghệ sĩ Thiên nhiên ấy là nơi mà thi nhân tìm kiếm cái đẹp của sự thăng hoa để trốn khỏi thực tại, tự giải phóng mình và trở về với tự nhiên
Ngày nay, hòa mình vào không khí chung của thời đại, chủ đề của Hát nói ngày càng phong phú hơn Nội dung chủ yếu là ca ngợi cảnh đẹp quê
hương đất nước: Hạ Long thắng cảnh – Vũ Ngọc Kha, Hương Sơn đệ nhất
động – Đức Ngân, Hồ Hoàn Kiếm – Xuân Phong,… ca ngợi cách mạng, sự
nghiệp đổi mới của đất nước: Hát mừng Cách mạng tháng Mười, Xuân
Rồng của Chu Hà, Đất nước mạnh giàu của Hoàng Phong, Xuân Đảng, xuân đời của Thanh Lam, Vui đất nước của Hữu Diên,…
12Thơ nhạc từ dân gian đến bác học để trở về dân gian – Vũ Ngọc Khánh, trích Ca trù nhìn
từ nhiều phía, Nguyễn Đức Mậu, Nxb VH-TT,trang 425, năm 2003, Hà Nội
Trang 40Hát nói giàu âm điệu, sáng tạo tuyệt vời Kết cấu bài thơ rất chặt chẽ, khuôn khổ nhưng lại rất phóng túng, tự do Mỗi bài Hát nói chia ra làm nhiều đoạn gọi là khổ bài Bài Hát nói đủ khổ gồm 11 câu chia làm 3 khổ: khổ đầu (4 câu), khổ giữa (4 câu), khổ cuối (3 câu) Đây được coi là thể chính thức và bài “Gặp đào Hồng, đào Tuyết” của Dương Khuê là một bài được giới yêu thích ca trù coi là mẫu mực Bên cạnh những bài đủ khổ còn
có những bài dôi khổ, khổ dôi thường là ở khổ giữa (xuyên mau hoặc thưa) Một bài hát nói dôi khổ có thể là 15 câu, 19 câu, 23 câu thậm chí tới 27 câu
Ví dụ của thể dôi khổ này là bài Ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ Thiếu khổ là những bài thiếu hẳn một khổ, thường là khổ giữa (xuyên mau), một bài thiếu khổ chỉ có 7 câu, ví dụ như bài Chú Mán của Trần Tế Xương
Sự tự do trong thơ Hát nói còn thể hiện ở việc không hạn định số từ trong một câu Thường đặt những câu 7, 8 chữ; có những câu 3, 4 chữ, có những câu dài tới 12, 15 chữ như13:
Ừ thế thì, khi trăng trong, khi gió mát, lúc hoa xuân Chi sự nghiệp, để tình quân ngao ngán dạ