Nền giáo dục Nho học đã để lại một di sản văn hóa vật thể trước tiên đó là hệ thống các Văn Miếu, Văn Từ, Văn Chỉ nơi thờ Khổng Tử, các bậc tiên thánh, tiên hiền của nền giáo dục này và
Trang 1Chuyên ngành: Du lịch (Chương trình đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS LÊ CHÍ QUẾ
Hà Nội, 2012
Trang 22
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU 5
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ 6
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DI SẢN VĂN HÓA NHO HỌC VÀ DU LỊCH VĂN HÓA 7
1.1 Di sản văn hóa Nho học 7
1.1.1 Một số khái niệm về di sản văn hóa 7
1.1.2 Một số khái niệm về di sản văn hóa Nho học 7
1.1.3 Phân loại di sản văn hóa Nho học 9
1.2 Du lịch văn hóa 12
1.2.1 Tài nguyên du lịch 12
1.2.2 Du lịch văn hóa 13
1.3 Di sản văn hóa nho học là một trong những thành tố quan trọng tạo nên loại hình du lịch văn hóa 14
1.3.1 Giá trị lịch sử 14
1.3.2 Giá trị nghệ thuật kiến trúc 16
1.3.3 Giá trị tâm linh 16
1.3.4 Các giá trị khác 17
Chương 2 : THỰC TRẠNG VIỆC KHAI THÁC CÁC GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA NHO HỌC PHỤC VỤ DU LỊCH TẠI HÀ NỘI CŨ 19
2.1 Hoạt động du lịch tại Hà Nội 19
2.1.1 Hà Nội- trung tâm du lịch của cả nước 19
2.1.2 Hoạt động kinh doanh du lịch tại Hà Nội 20
2.2 Giới thiệu một số di tích Nho học tiêu biểu của Hà Nội cũ 25
2.2.1 Di tích lịch sử văn hóa Văn Miếu - Quốc Tử Giám 26
2.2.2 Cụm di tích Nho học làng Đông Ngạc 29
2.2.3 Cụm di tích Nho học làng Bát Tràng 31
2.2.4 Cụm di tích Nho học làng Thượng Cát 34
2.2.5 Cụm di tích Nho học làng Tả Thanh Oai 36
2.2.6 Cụm di tích Nho học làng Vân Điềm 38
Trang 33
2.3 Đánh giá thực trạng khai thác các giá trị di sản văn hóa Nho học phục
vụ du lịch tại Hà Nội cũ 40
2.3.1 Thực trạng về khách du lịch 40
2.3.2 Thực trạng về doanh thu du lịch 45
2.3.3 Thực trạng cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch 47
2.3.4 Thực trạng hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch 49
2.3.5 Thực trạng công tác bảo tồn di sản văn hóa Nho học 50
2.4 Những thuận lợi và khó khăn trong khai thác các giá trị di sản văn hóa Nho học phục vụ du lịch tại Hà Nội cũ 54
2.4.1 Thuận lợi 54
2.4.2 Khó khăn 56
Chương 3 : GIẢI PHÁP ĐỂ ĐẨY MẠNH KHAI THÁC CÁC GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA NHO HỌC PHỤC VỤ DU LỊCH TẠI HÀ NỘI CŨ 60
3.1 Quan điểm, mục tiêu, định hướng của du lịch Hà Nội 60
3.1.1 Quan điểm, mục tiêu 60
3.1.2 Định hướng, giải pháp 62
3.2 Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh khai thác các giá trị di sản văn hóa Nho học phục vụ du lịch 63
3.2.1 Phát triển cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch 63 3.2.2 Tăng cường quảng bá, giới thiệu hình ảnh di sản văn hóa Nho học đến các du khách trong và ngoài nước 65
3.2.3 Phát triển thị trường khách du lịch 67
3.2.4 Đa dạng hóa sản phẩm du lịch, phát triển sản phẩm du lịch đặc thù 69
3.2.5 Liên kết với các công ty du lịch, đưa di tích Nho học vào chương trình tour 73
3.2.6 Phát huy tài nguyên du lịch, bảo tồn các giá trị di sản văn hóa Nho học 73
3.3 Kiến nghị 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC 2
Trang 44
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 VHKH: văn hóa, khoa học
2 BQL: Ban quản lý
Trang 55
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 2.1 Số lượt khách đến Hà Nội từ năm 2005 đến 2010 22Bảng 2.2 Số lượng khách sạn được xếp hạng trên địa bàn Hà Nội 24Bảng 2.3 Số lượt khách tham quan các di tích Nho học trên địa bàn Hà Nội cũ năm 2005-2010 40
Trang 66
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Số lượt khách quốc tế đến Hà Nội và đến các di tích Nho học 41Biểu đồ 2.2 Số lượt khách Việt Nam đến Hà Nội và đến các di tích 42Biểu đồ 2.3 Tổng lượt khách đến Hà Nội và đến các di tích Nho học 44Biểu đồ 2.4 Doanh thu từ du lịch tại các di tích Nho học của Hà Nội cũ giai đoạn 2000-2010 46Biểu đồ 2.5 Doanh thu từ du lịch tại các di tích Nho học của Hà Nội cũ và doanh thu từ du lịch của Hà Nội giai đoạn 2000-2010 47
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thăng Long - Hà Nội, mảnh đất địa linh nhân kiệt, từ lâu đã được biết đến như một địa chỉ du lịch nổi tiếng trong và ngoài nước Trải qua một nghìn năm phát triển, Hà Nội lưu giữ trong mình những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể vô cùng đặc sắc Những công trình kiến trúc cổ, khu phố cổ, khu phố Pháp, làng cổ, những công trình kiến trúc văn hóa; tín ngưỡng cùng với lối sống, phong tục tập quán, nghề truyền thống là những di sản vô giá của dân tộc
Với tiềm năng du lịch đặc sắc đó, với các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể đã trở thành một biểu tượng của văn hóa Việt Nam, Hà Nội đã và đang
là điểm đến hấp dẫn du khách Nhiều tổ chức, tạp chí, sách báo chuyên ngành
đã đánh giá Hà Nội là một trong những thành phố đáng đến nhất trong khu vực Tạp chí Lữ hành và giải trí (Travel & Leisure) - một tạp chí du lịch lữ hành hàng đầu thế giới - 5 năm liên tiếp đã bầu chọn Hà Nội là một trong 10 thành phố hấp dẫn nhất châu Á
Nho giáo và nền giáo dục Nho học được du nhập vào Việt Nam trong thời Bắc thuộc và có ảnh hưởng nhiều mặt tới đời sống của người dân Việt Nam thời phong kiến, góp phần xây dựng nên nền văn hóa Việt Nam Sự du nhập của Nho giáo và Nho học đã để lại một loại hình di sản văn hóa Nho học
là một phần quan trọng trong kho tàng các di sản văn hóa Việt Nam
Trên đất Thăng Long-Hà Nội xưa, không chỉ có Văn Miếu - Quốc Tử Giám được xây dựng để thờ Khổng Tử, các bậc Tiên thánh, Tiên nho, mà hầu như làng nào, xã nào cũng lập văn chỉ thờ Khổng Tử và các bậc khoa hoạn của địa phương, bên cạnh đó còn có rất nhiều các nhà thờ các dòng họ khoa bảng, các vị tiến sĩ
Trang 82
Có thể nói trong số các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đang là tiềm năng du lịch đặc sắc, làm nên tên tuổi của thủ đô Hà Nội, có sự đóng góp không nhỏ của các giá trị di sản văn hóa Nho học
Trong những năm qua, việc khai thác các giá trị di sản văn hóa Nho học
để phục vụ du lịch đã được ngành du lịch Hà Nội thực hiện và đạt được một
số kết quả nhất định Tuy nhiên, hoạt động du lịch mới chỉ được phát huy ở một vài di tích Nho học của Hà Nội, doanh thu từ du lịch cũng vô cùng khiêm tốn so với tổng thu nhập từ du lịch của toàn thành phố
Nhằm đẩy mạnh khai thác các giá trị di sản văn hóa Nho học, tương xứng với tiềm năng và lợi thế của du lịch Hà Nội; qua khảo sát thực trạng và nghiên cứu thực tế hoạt động du lịch tại các di tích Nho học trên địa bàn Hà
Nội cũ, tác giả đã chọn đề tài "Khai thác các giá trị di sản văn hóa Nho học
phục vụ du lịch tại Hà Nội cũ - Thực trạng và giải pháp" làm đề tài nghiên
cứu cho luận văn cao học của mình
Hy vọng đề tài sẽ có những đóng góp nhỏ bé cho sự phát triển du lịch của thủ đô Hà Nội nói chung và ở các di tích Nho học nói riêng
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hiện nay, có nhiều cuốn sách, tài liệu nghiên cứu về Nho giáo và Nho học được xuất bản Tuy nhiên các công trình đã công bố chủ yếu tập trung vào việc nghiên cứu sự ra đời, hình thành, phát triển cũng như ảnh hưởng của
Nho giáo, Nho học vào Việt Nam như: Nho học và Nho học ở Việt Nam - Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn của Nguyễn Tài Thư; Nho giáo của Trần Trọng
Kim; và một số khóa luận tốt nghiệp đại học, luận văn thạc sỹ và luận án tiến sỹ cùng nhiều bài báo và tạp chí
Bên cạnh những tài liệu trên, còn có một số cuốn sách, đề tài nghiên cứu, các hội thảo khoa học đã được tổ chức nghiên cứu về các di tích Nho
học, giới thiệu về các di tích này như: luận văn thạc sỹ Văn Miếu - Quốc Tử
Trang 93
Giám và hệ thống văn miếu, văn từ, văn chỉ của Đỗ Hương Thảo năm 2000; hội thảo Văn Miếu - Quốc Tử Giám và hệ thống di tích Nho học ở Việt Nam
của Trung tâm Hoạt động VHKH Văn Miếu - Quốc Tử Giám tổ chức năm
2009; Hội nghị các đơn vị quản lý di tích Nho học ở Việt Nam của Trung tâm Hoạt động VHKH Văn Miếu - Quốc Tử Giám tổ chức năm 2010; sách Văn
Miếu - Quốc Tử Giám Thăng Long Hà Nội của tác giả Nguyễn Quang Lộc,
Phạm Thúy Hằng,
Như vậy từ trước tới giờ chưa có một đề tài nghiên cứu nào tập trung nghiên cứu về di sản văn hóa Nho học của Việt Nam Cũng chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập đến việc khai thác các giá trị di sản này để phục
vụ du lịch Như vậy, việc nhận diện các giá trị của di sản văn hóa Nho học, đánh giá thực trạng nhằm đưa ra một số giải pháp đẩy mạnh hiệu quả khai thác phục vụ du lịch có ý nghĩa quan trọng và thiết thực trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa Nho học mà du lịch được coi là một trong những ngành mũi nhọn, tiên phong Mặt khác, điều này cũng giúp cho sự phát triển đa dạng và đặc sắc sản phẩm du lịch của Hà Nội, góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành du lịch thủ đô và du lịch Việt Nam
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục tiêu
Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh khai thác các giá trị di sản văn hóa Nho học phục vụ du lịch tại Hà Nội cũ
*Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nắm bắt, hệ thống các giá trị của di sản văn hóa Nho học, đặc biệt là các di tích Nho học nói chung và trên địa bàn Hà Nội cũ nói riêng
- Đánh giá tình hình khai thác các giá trị di sản văn hóa Nho học trên địa bàn Hà Nội cũ giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2010
Trang 104
- Rút ra một số kinh nghiệm và đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh khai thác các giá trị di sản văn hóa Nho học trên địa bàn Hà Nội cũ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu của đề tài
- Thực trạng khai thác các giá trị di sản văn hóa Nho học, cụ thể tại các
di tích Nho học trên địa bàn Hà Nội cũ
- Các giải pháp để đẩy mạnh khai thác các giá trị di sản văn hóa Nho học phục vụ du lịch
* Phạm vi nghiên cứu của đề tài
-Về không gian: Các di sản văn hóa Nho học trên địa bàn Hà Nội cũ (Hà Nội khi chưa mở rộng địa giới)
- Về thời gian: Hoạt động khai thác các giá trị di sản văn hóa Nho học phục vụ du lịch trên địa bàn Hà Nội cũ từ năm 2000 đến năm 2010
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp luận: Vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm nền tảng trong quá trình phân tích và kết luận các vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát điền dã: Để phục vụ cho đề tài nghiên cứu, tác giả thường xuyên đến khảo sát thực tế tại các di tích Nho học trên địa bàn Hà Nội cũ: quan sát, chụp ảnh, thu thập tài liệu các di sản văn hóa Nho học, thực trạng hoạt động du lịch tại các di tích này
- Phương pháp thu thập thông tin và tổng hợp phân tích số liệu: Đề tài
đã kế thừa, tổng hợp và phân tích tài liệu, số liệu, kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, các chuyên gia có liên quan đến nội dung của đề tài, các cơ quan hữu quan như: Tổng cục du lịch; Sở Văn hóa, thể thao và du lịch Hà
Trang 115
Nội; BQL Di tích và danh thắng Hà Nội; Trung tâm Hoạt động VHKH Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Internet,
- Phương pháp xử lý thông tin: Đề tài sử dụng phương pháp thống kê
để xử lý thông tin, đưa ra các nhận xét, đánh giá và kết luận
6 Nội dung nghiên cứu của đề tài
Với mục tiêu và phạm vi nghiên cứu đã được xác định như trên, Đề tài
có những nội dung nghiên cứu chính như sau:
- Nghiên cứu các di tích Nho học trên địa bàn Hà Nội cũ làm cơ sở xây dựng điểm đến du lịch
- Nghiên cứu thực trạng khai thác các giá trị di sản văn hóa Nho học phục vụ du lịch tại Hà Nội cũ giai đoạn 2000 - 2010
- Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh khai thác các giá trị di sản văn hóa Nho học phục vụ du lịch tại Hà Nội cũ
7 Bố cục của đề tài
Chương 1: Cơ sở lý luận về di sản văn hóa Nho học và du lịch Văn hóa
Chương 2: Thực trạng khai thác các giá trị di sản văn hóa Nho học phục vụ du lịch tại Hà Nội cũ
Chương 3: Giải pháp để đẩy mạnh khai thác các giá trị di sản văn hóa Nho học phục vụ du lịch tại Hà Nội cũ
8 Những điểm mới và đóng góp của đề tài
- Hệ thống hoá một số cụm di tích Nho học của các làng ngoại ô Hà Nội cũ
để làm cơ sở xây dựng điểm đến du lịch
- Xây dựng các tour du lịch chuyên đề thăm quan các di tích Nho học
Trang 126
- Nghiên cứu thực tế và đánh giá một cách có hệ thống thực trạng khai thác các giá trị di sản văn hóa Nho học phục vụ du lịch tại Hà Nội cũ giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2010
- Dựa trên căn cứ thực tiễn và các căn cứ khoa học để đưa ra đồng bộ các giải pháp nhằm đẩy mạnh khai thác các giá trị di sản văn hóa Nho học phục vụ du lịch tại Hà Nội cũ
Trang 137
Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DI SẢN VĂN HÓA NHO HỌC
VÀ DU LỊCH VĂN HÓA 1.1 Di sản văn hóa Nho học
1.1.1 Một số khái niệm về di sản văn hóa
Di sản văn hóa trong tiếng Anh là culture heritage, còn trong tiếng
Pháp là patrimoine culturel Ở Việt Nam, di sản văn hóa được định nghĩa: "
bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
".[43, tr.6]
1.1.2 Một số khái niệm về di sản văn hóa Nho học
- Nho giáo "hệ thống các nguyên tắc đạo đức, chính trị do Khổng Tử
sáng lập nhằm duy trì trật tự xã hội phong kiến".[37, tr.1253]
- Nho học nền học vấn theo nho giáo [37, tr.1253]
- Văn Miếu: là nơi thờ Khổng Tử, người sáng lập ra học thuyết Nho
giáo Theo Từ điển Từ Nguyên của Trung Quốc: "Văn Miếu là miếu Khổng
Tử Năm thứ 27 niên hiệu Khai Nguyên thời Đường phong Khổng Tử là Văn
Tuyên Vương, gọi miếu Khổng Tử là Văn Tuyên Vương miếu Từ thời Nguyên, Minh về sau phổ biến gọi là Văn Miếu"[42, tr.737]
- Quốc Tử Giám: theo Từ điển Từ và ngữ Việt Nam định nghĩa, Quốc
Tử Giám là : "Trường đại học do triều đình lập ra ở kinh đô để đào tạo nhân
tài" [12, tr.1506]
Trường Quốc Tử Giám được xây dựng phía sau Văn Miếu Thăng Long vào năm 1076 Ban đầu đây là nơi dành riêng cho hoàng tử và con em của các quan lại đến học Về sau, trường được mở rộng cho tất cả con em tuấn tú của các tầng lớp bình dân khác theo học Quốc tử Giám được coi là trường đại
Trang 148
học đầu tiên của Việt Nam Ngày này cùng với Văn Miếu gọi chung là cụm di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám
- Văn Từ, Văn Chỉ
Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ định nghĩa, Văn chỉ là : "nền và
bệ xây để thờ Khổng Tử ở các làng xã thời trước"[40, tr1062] Từ điển Văn
hóa cổ truyền Việt Nam có nói cụ thể hơn: "Văn từ, Văn chỉ là nơi thờ Khổng
Tử và những bậc khoa hoạn trong làng Bệ gạch xây lộ thiên là Văn chỉ, có mái che là Văn từ" [41, tr.683]
Trên thực tế, đối với người dân, việc phân biệt Văn từ, Văn chỉ không hoàn toàn như vậy Có những nơi người dân vẫn gọi là Văn chỉ mặc dù chúng không phải là bệ thờ lộ thiên Vì vậy việc phân biệt này chỉ mang tính chất tương đối
Nho giáo và Nho học được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, vào khoảng đầu Công nguyên Đến đầu thế kỉ 11, nhà Lý cho dựng Văn Miếu để thờ Khổng Tử, Quốc Tử Giám làm nơi đào tạo nhân tài cho đất nước cùng với các khoa thi liên tiếp được mở ra thì trên đất nước ta dần dần hình thành và phát triển một nền giáo dục, đó là nền giáo dục Nho học Nền giáo dục Nho học đã để lại một di sản văn hóa vật thể trước tiên đó là hệ thống các Văn Miếu, Văn Từ, Văn Chỉ nơi thờ Khổng Tử, các bậc tiên thánh, tiên hiền của nền giáo dục này và tôn vinh, ngưỡng vọng những người ham học, học giỏi,
đỗ cao; Các trường học từ trung ương đến địa phương cùng với các hiện vật liên quan như: bia đá, bảng vàng, sắc phong, thần phả, gia tích, nhà thờ các vị
đỗ đại khoa ; những hiện vật của các vị khoa bảng như: sách vở, nhà cửa, phương tiện học hành (bút, nghiên, gánh sách ) Nền giáo dục nho học cũng
để lại di sản văn hóa phi vật thể Đó là truyền thống tôn sư trọng đạo, hiếu học hiếu nghĩa của dân tộc, tác động tới đời sống văn hóa, tư tưởng tình cảm của cộng đồng
Từ trước tới nay chưa có một tài liệu sách vở nào đưa ra một định nghĩa cụ thể về di sản văn hóa Nho học Tuy nhiên qua nội dung trên chúng
Trang 159
ta có thể tạm hiểu như sau: di sản văn hóa nho học là một bộ phận của di
sản văn hóa Việt Nam, cụ thể là hệ thống các thể chế văn Miếu, Văn Từ, Văn Chỉ, trường Quốc Tử Giám và các trường học khác ở địa phương, nhà thờ các nhà khoa bảng, cùng những hiện vật như: bia đá, bảng vàng, sắc phong, thần phả, gia phả, ; những hiện vật của các vị khoa bảng như: sách vở, nhà cửa, phương tiện học hành (bút, nghiên, gánh sách ) và cả truyền thống tốt đẹp của dân tộc như: truyền thống tôn sư trọng đạo, hiếu học hiếu nghĩa, tôn trọng nhân tài
Như vậy có thể khẳng định di sản văn hóa là một bộ phận của di sản văn hóa Việt Nam Nó vừa là di sản văn hóa vật thể như các di tích Văn Miếu, Văn Từ, Văn Chỉ hay hệ thống các trường học như Quốc Tử Giám và các trường học ở địa phương, nhà thờ các vị đại khoa, những tài liệu hán nôm Vừa là di sản văn hóa phi vật thể là các truyền thống hiếu học, đề cao việc học
1.1.3 Phân loại di sản văn hóa Nho học
Đối chiếu với định nghĩa di sản văn hóa quy định tại Điều 1 Luật di sản văn hóa dẫn ra ở phần trên ta thấy, di sản văn hóa Nho giáo Việt Nam cũng được cấu thành từ hai bộ phận: di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể
• Nói tới văn hóa, trước hết là nói đến con người với tư cách là chủ thể
sáng tạo văn hóa, đồng thời cũng là sản phẩm hay “là siêu phẩm” của văn
hóa Với cách tiếp cận như thế, ta thấy Nho giáo, Nho học Việt Nam đã góp phần đào luyện và để lại cho chúng ta giá trị văn hóa quý giá là tư tưởng nhân văn và tấm gương đạo đức sáng ngời của các vị anh hùng dân tộc và danh nhân văn hóa kiệt xuất Họ là những bậc đại khoa, nhà bác học, nhà nho yêu nước, các vị quan thanh liêm gắn bó với đời sống của nhân dân lao động, hết lòng phụng sự, bảo vệ sự phồn vinh và ổn định của các triều đại phong kiến Việt Nam
Trang 1610
• Di sản Hán Nôm là tài sản văn hóa quý giá chứa đựng lượng thông tin
đa dạng liên quan đến tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội Việt Nam thời phong kiến như: văn học, sử học, giáo dục, địa lý…
- Trước hết, phải kể tới kho tàng đồ sộ các trước tác do các bậc đại khoa, các nhà bác học gắn với Nho học đã dày công nghiên cứu, biên soạn
và truyền lại cho đời sau Chỉ có thể dẫn ra đây một vài tác phẩm như là những ví dụ điển hình: Đại Việt sử ký toàn thư do Ngô Sỹ Liên biên soạn hay hơn 30 bộ sách về Nho học, Lão học, Phật học, sử học, thi văn tạp bút của nhà bác học Lê Quý Đôn (Kiến văn tiểu lục, Phủ biên tạp lục, Vân đài loại ngữ…) Có thể coi đây là những thành tựu vĩ đại và niềm tự hào của nền văn hiến Việt Nam
- Văn khắc Hán Nôm là hiện tượng văn hóa nảy sinh trong đời sống xã hội, là nét đặc thù đồng thời cũng là hình thức thông tin chủ yếu thời cổ trung đại, trong đó tiêu biểu nhất phải kể tới hệ thống văn bia Có thể coi đây là loại
di sản phản ánh tinh hoa trí tuệ Việt Qua văn bia ta không chỉ tìm thấy những bài giảng sâu sắc về tư tưởng triết học, đạo lý làm người, mà còn có cả những
tư liệu phong phú về lịch sử, ngôn ngữ, văn học, địa lý, giáo dục… Mỗi tấm bia
là một áng hùng văn và cũng là một tác phẩm điêu khắc nghệ thuật (các hoa văn trang trí trên trán bia và diềm bia) do những bậc tài danh biên soạn và do những nghệ nhân dân gian chạm khắc
- Thần phả, sắc phong - loại văn bản pháp quy mà Nhà nước phong kiến phong tặng chức tước cho quý tộc, quan chức các vương triều cùng các vị thần linh (nhân vật lịch sử, nhân vật huyền thoại, vật linh…) được thờ trong các thiết chế tôn giáo tín ngưỡng như: đình, đền, miếu, văn miếu, văn chỉ…
- Câu đối, đại tự (loại để thờ, phúng, mừng, tặng trong các dịp lễ tết, câu đối tự thuật, tức cảnh) là loại hình di sản được tạo tác nhằm biểu thị ý chí, quan điểm, tình cảm của tác giả (thường là các bậc danh nho văn hay
Trang 1711
chữ tốt) trước một hiện tượng, sự việc trong đời sống xã hội Câu đối, đại
tự đồng thời cũng là những chứng cứ về nghệ thuật thư pháp và nghệ thuật trang trí mỹ thuật truyền thống Thư pháp được sử dụng như là một phương tiện giao lưu tình cảm , trí tuệ giữa người viết và người nhận, nó phản ánh trình độ học thức và nhân cách của người viết Đó cũng là phương pháp rèn luyện tâm tính, bản lĩnh của con người cho nên đã được nâng lên thành một thứ nghệ thuật
Việc Thủ tướng Chính phủ có quyết định cho phép xây dựng Hồ sơ khoa học về “Châu bản triều Nguyễn” và “Bia đá các khoa thi Tiến sĩ triều
Lê - Mạc (1442-1779)” tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội trình UNESCO khu vực Châu á - Thái Bình Dương đưa vào danh mục Di sản tư liệu ký ức của thế giới và việc Hồ sơ “Châu bản triều Nguyễn” đã được UNESCO công nhận, là một bằng chứng hùng hồn về giá trị di sản văn hóa Nho học Việt Nam
• Di sản văn hóa vật thể gắn với Nho học Việt Nam là hệ thống thiết chế văn hóa đặc thù gắn với Nho học (Văn Miếu, Văn chỉ, Từ chỉ, Nhà thờ dòng họ của các bậc đại khoa, danh nho, đặc biệt là đền thờ các danh nhân
văn hóa tiêu biểu của đất nước) Trước hết, các “thiết chế văn hóa Nho học” thể hiện đạo lý tốt đẹp “uống nước nhớ nguồn” của người Việt Nam, được
Nhà nước phong kiến và nhân dân các địa phương dựng lên để tôn vinh những gương mặt văn hóa sáng giá, những đỉnh cao thành tựu văn hóa Nho học Việt Nam Tiêu biểu nhất phải kể đến Văn Miếu - Quốc Tử Giám ở Hà Nội - một thiết chế văn hóa Nho học sớm nhất của Việt Nam
Tiếp theo, truyền thống “Hiếu học” với tinh thần tôn sư trọng đạo
“nhất tự vi sư, bán tự vi sư” (một chữ là thày, nửa chữ cũng là thày) hay tinh
thần “học không chán, dạy không mỏi” - một nét đẹp trong văn hóa Nho học
Việt Nam được khẳng định và khích lệ trong đời sống xã hội bằng các hoạt động được tổ chức định kỳ tại các thiết chế văn hóa Nho học phân bổ rộng
Trang 1812
khắp ở nhiều địa phương trong cả nước Theo thống kê đến thời Nguyễn cả nước ta có 28 Văn miếu được xây dựng ở kinh đô và các tỉnh thành, dinh trấn Hầu hết các thiết chế đó đều có chức năng kép vừa tôn vinh Nho học vừa là nơi đào tạo nhân tài cho đất nước Đó cũng là một nét nhân văn đặc thù của Nho học Việt Nam Ở Trung Quốc, Văn Miếu được dựng lên chủ yếu để thờ Khổng Tử và các học trò nổi tiếng của Ông Ở Thăng Long - Hà Nội cũng có Văn Miếu thờ Khổng Tử nhưng lại phối thờ cả Chu Văn An (vị Tư nghiệp đầu tiên ở nước ta) Và đặc biệt hơn nữa ở đó còn dựng bổ sung Quốc Tử Giám làm nơi dạy học cho các vương tôn, công tử của hoàng gia và các quý tộc Ở một số địa phương, Văn Miếu còn là nơi tổ chức các trường thi lựa chọn nhân tài cho đất nước
Cuối cùng, trong các thiết chế văn hóa Nho học đó còn hội tụ đầy đủ các yếu tố cấu thành di sản văn hóa Nho học Việt Nam (hình ảnh các Danh nhân văn hóa, tư tưởng, những bài học lịch sử, tấm gương đạo đức và thế ứng
xử văn hóa mà các vị đó muốn gửi gắm cho cháu con mai sau; về vật thể ta thấy có tượng thờ, nhang án, câu đối, đại tự, bia ký…) xứng đáng được bảo tồn như là một loại “bảo tàng sống động” trong đời sống xã hội
1.2 Du lịch văn hóa
1.2.1 Tài nguyên du lịch
Luật Du lịch Việt Nam đã quy định: "Tài nguyên du lịch là cảnh quan
thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa, công trình sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch".[44, tr.17]
Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác hoặc chưa được khai thác
Tài nguyên du lịch có đặc điểm:
- Khối lượng các nguồn tài nguyên là cơ sở xây dựng tiềm năng du lịch
Trang 1913
- Việc khai thác tài nguyên du lịch mang tính thời vụ, đặc biệt là tài nguyên du lịch ở dạng tự nhiên
- Tài nguyên du lịch chỉ được khai thác nơi được phân bố
- Nếu biết tôn tạo, bảo vệ, trùng tu thì các tài nguyên du lịch có khả năng được sử dụng lâu dài và bền vững
Cũng tại luật Du lịch Việt Nam (năm 2012) đã quy định rõ hơn về tài
nguyên du lịch nhân văn: "Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn
hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng , khảo
cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể sử dụng vào mục đích du lịch"[44, tr.17]
Ngày nay du lịch văn hoá là một xu hướng mạnh mang tính toàn cầu, trong đó văn hoá trở thành nội hàm, động lực để phát triển du lịch bền vững, giá trị văn hoá khiến sản phẩm du lịch mang đậm tính độc đáo nhân văn, được coi là nguồn tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn Nếu tài nguyên du lịch tự nhiên hấp dẫn du khách bởi sự hoang sơ, hùng vĩ, độc đáo và hiếm hoi của nó, thì tài nguyên du lịch nhân văn thu hút du khách bởi tính phong phú, đa dạng, độc đáo và tính truyền thống cũng như tính địa phương của nó Các đối tượng văn hoá, tài nguyên du lịch nhân văn là cơ sở để tạo nên các loại hình du lịch văn hoá phong phú, nó đánh dấu sự khác nhau giữa nơi này với nơi khác, quốc gia này với quốc gia khác, dân tộc này với dân tộc khác, là yếu tố thúc đẩy động cơ du khách, kích thích quá trình lữ hành
Trang 2014
Có thể nói, du lịch văn hoá là hoạt động du lịch diễn ra trong môi trường nhân văn hoặc hoạt động du lịch đó tập trung khai thác tài nguyên du lịch nhân văn tại các điểm du lịch, vùng du lịch
1.3 Di sản văn hóa nho học là một trong những thành tố quan trọng tạo nên loại hình du lịch văn hóa
Di sản văn hóa Nho học là một phận quan trọng trong kho tàng di sản văn hóa Việt Nam, bởi thế nó chính là tài nguyên du lịch, cụ thể hơn đó là tài nguyên du lịch nhân văn với những giá trị tâm linh, nghệ thuật - kiến trúc, lịch sử rất lớn và đồ sộ như sau:
1.3.1 Giá trị lịch sử
Để xây dựng quốc gia tự chủ, độc lập và hưng thịnh cần phải có một
hệ thống triết học làm nền tảng, một thể chế tổ chức xã hội vững mạnh và một nền giáo dục để đào tạo nhân tài cho đất nước Để đáp ứng nhu cầu đó, nhà Lý đã chọn Nho giáo, một học thuyết chính trị, đạo đức ra đời trước đó gần hai nghìn năm đã góp phần to lớn tạo lập nên nước Trung Hoa trật tự
kỷ cương với nền văn hóa rực rỡ và đã được du nhập vào nước ta từ lâu Sự
du nhập của Nho giáo và nền giáo dục Nho học đã để lại trên đất nước ta một hệ thống các di sản văn hóa Nho học như: kho tàng các di sản Hán Nôm, tấm gương của các bậc đại khoa, danh nhân của đất nước và đặc biệt
là hệ thống các thiết chế Nho học là các Văn miếu, Văn từ, Văn chỉ, nhà thờ dòng họ Tiến sĩ,
Các tác phẩm Hán Nôm như bộ sử Đại Việt sử ký toàn thư là tài liệu
quý giá cho biết lịch sử phát triển của đất nước, hay những thần phả, sắc phong là nguồn tư liệu có giá trị lịch sử, phản ánh tiểu sử, công trạng của các nhân vật lịch sử nổi tiếng vừa có tài, vừa có đức, có nhiều công lao to lớn với dân, với nước, với những địa phương cụ thể Nguồn tư liệu lịch sử đó còn phản ánh hệ thống hành chính và các đơn vị hành chính cùng các địa danh cụ thể của đất nước qua các thời kỳ
Trang 2115
Những di tích Nho học là những chứng tích phản ánh những cuộc bể dâu, cùng với tình cảm thiết tha của con người muốn bảo tồn những điều thiêng liêng của cha ông để truyền lại cho muôn đời sau Theo sách Đại Việt
sử ký toàn thư thì năm 1070 vua Lý Thánh Tông đã cho dựng Văn Miếu để thờ Khổng Tử và các bậc Tiên Thánh, Tiên Hiền của nho học Vào năm 1075
mở khoa thi đầu tiên để chọn nhân tài và một năm sau đó vua Lý Nhân Tông
đã cho lập Quốc Tử Giám là nơi đào tạo nhân tài cho đất nước Từ đó Văn Miếu - Quốc Tử Giám qua các triều đại Lý, Trần, Lê không ngừng được củng
cố và phát triển, đã trở thành trường học cao cấp, trung tâm giáo dục Nho học lớn nhất của nước ta với hơn 700 năm hoạt động đã đào tạo hàng nghìn nhân tài cho đất nước, là biểu tượng của nền văn hiến Việt Nam, là tinh hoa của dân tộc, là niềm tự hào của chúng ta hôm nay và mai sau
Như chúng ta đều biết truyền thống hiếu học, trọng nhân tài của nước ta được biểu hiện rất cụ thể qua hệ thống Văn Miếu - Quốc Tử Giám và các Văn
từ, Văn chỉ từ trung ương xuống tận các làng xã Việc xây dựng Văn Miếu ở cấp trung ương do nhà nước đảm nhận, ở các cấp hành chính thấp hơn do nhiều người đóng góp để xây dựng Có làng Văn chỉ rất đơn giản, chỉ là một
bệ thờ các bậc tiên hiền nhưng cũng nói lên đó là làng có học Đó là điều hãnh diện của mỗi người dân Việt Nam
Quá trình hình thành và phát triển của Văn Miếu - Quốc Tử Giám cũng như hệ thống các Văn từ, Văn chỉ qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, ở mối thời đều có những nét riêng nhưng tựu chung lại thì những nét riêng đó đã tổng hòa thành cái chung, có giá văn hóa lịch sử to lớn Giá trị lịch sử của các
di tích này giúp chúng ta thấy rõ tiến trình xây dựng các di tích, các công trình văn hóa của đất nước, cảm nhận những nét quan trọng về sự hình thành và phát triển, cũng như đời sống kinh tế, chính trị, vănhóa, xã hội của một đất nước có truyền thống lịch sử lâu đời
Trang 2216
1.3.2 Giá trị nghệ thuật kiến trúc
Cũng giống như những công trình kiến trúc truyền thống của Việt Nam, giá trị của các thiết chế văn hóa Nho học không thể hiện ở quy mô to lớn hoành tráng mà thường nhỏ bé, giản dị hài hòa với thiên nhiên Những công trình kiến trúc này được tạo dựng theo đúng thức kiến trúc truyền thống và quan niệm phong thủy phương Đông của Việt Nam đã làm nên một hợp thể thiên nhiên- kiến trúc - điêu khắc - hội họa, mang giá trị tiêu biểu về mặt kiến trúc nghệ thuật Có những hạng mục, công trình kiến trúc trong Văn Miếu đã trở thành biểu tượng văn hóa gợi nhớ về hình ảnh của các địa phương như: Văn miếu Mao Điền (Hải Dương), Văn miếu Xích Đằng (Hưng Yên) hay Khuê Văn Các trong Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội)…
1.3.3 Giá trị tâm linh
Di tích Nho học là nơi tôn vinh đạo học và là một hình thức khuyến học, duy trì thuần phong mỹ tục của Việt Nam Trong suy nghĩ của mỗi người dân Việt Nam, tầng lớp tri thức đứng trên cùng trong quan niệm về thứ bậc xã hội: sĩ, nông, công, thương mà khoa cử là con đường chân chính để có thể trở thành kẻ sĩ Hệ thống các Văn từ, Văn chỉ là một phương tiện có ích về mặt tâm lý Đứa trẻ khi cắp sách tới trường, hay đến học nhà thầy đều được cha
mẹ dẫn đến làm lễ trước Văn chỉ để mong con cái mình học giỏi Các vị tân khoa sau khi đỗ đạt cũng về Văn chỉ để lễ tạ, đó còn là nơi giáo dục, nhắc nhở động viên khuyến khích tinh thần học tập của mỗi người Vì vậy không chỉ có những làng có truyền thống khoa bảng mới cho xây dựng Văn chỉ mà cả những làng nghề thủ công truyền thống, làng làm nông nghiệp thuần túy cũng cho xây dựng Văn chỉ Bởi họ luôn có mong muốn rằng việc thờ cúng những người khai sinh ra việc học, những người có học tất sẽ có ảnh hưởng lớn đến
sự học của con cháu trong làng Nét đặc biệt của các Văn từ, Văn chỉ trong các làng xã là ở chỗ không nhất thiết phải có người thi đỗ, có thể thờ vọng tiến sĩ của làng khác với mong muốn trong làng có người sẽ thi đỗ
Trang 2317
Các di tích Nho học thể hiện truyền thống tôn sư trọng đạo, hiếu học của dân tộc ta, tác động đến đời sống văn hóa tư tưởng, tình cảm của cộng đồng Điều này được thể hiện rất rõ qua trường hợp di tích Văn Miếu - Quốc
Tử Giám nơi thờ Khổng Tử nhà triết học Trung Quốc cổ đại đồng thời cũng
là một nhà giáo, một người thầy lớn Trước mối kì thi đại học hay các kì thi quan trọng khác, có rất nhiều học sinh, sinh viên đến đây thắp hương với mong muốn được phù hộ để đạt điểm cao trong các kì thi
1.3.4 Các giá trị khác
Ngoài những giá trị nêu trên, hệ thống Văn Miếu - Quốc Tử Giám và các Văn từ, Văn chỉ ở Thăng Long - Hà Nội còn là nơi bảo tồn, lưu giữ các hiện vật văn hóa quý báu của cha ông Hầu như tại các di tích này đều bảo lưu được khá nhiều hoành phi, câu đối với nội dung phần lớn để tôn vinh đạo học, khuyến học, khuyến tài và ca ngợi Đức Khổng Tử Các bức hoành phi, câu đối ấy có giá trị ở nhiều mặt: từ nội dung có tính triết lý nhân sinh đến hình thức nghệ thuật viết thư pháp chữ Hán, kỹ thuật sơn son thếp vàng, chạm khắc của người nghệ nhân dân gian Việt Nam, Bên cạnh đó còn lưu giữ hệ thống các bia đá ghi tên các bậc khoa bảng của đất nước, được coi như các pho sử liệu bằng đá quý Đơn cử như 82 bia Tiến sĩ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội năm 2011 đã được UNESCO công nhận là "Ký ức di sản văn hóa thế giới"
Khác với các di tích lịch sử văn hóa khác, di tích Nho học ngoài vẻ đẹp của không gian kiến trúc, sự linh thiêng của đối tượng được thờ phụng, nó còn là biểu tượng của nền văn hiến Việt Nam Như di tích lịch sử Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội chẳng hạn: người dân Việt Nam cùng với bạn bè khắp năm châu tới viếng thăm nơi đây, điều đầu tiên khiến cho họ khâm phục, tạo cho họ niềm cảm xúc sâu sắc đó chính là các di vật, di sản chuyền tải nền văn hiến, văn hóa lâu đời của Việt Nam
Trang 2418
Trong kho tàng di sản văn hóa Việt Nam, di sản văn hóa Nho học vừa mang những sắc thái chung của di sản văn hóa Việt, lại vừa có những nét riêng độc đáo Các di sản văn hóa Nho học là bộ phận đặc biệt trong cơ cấu tài nguyên du lịch Các di sản đó cả về mặt nội dung lẫn hình thức đều có khả năng tạo nên sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với khách du lịch trong và ngoài nước Bởi thế di sản văn hóa Nho học là một trong những thành tố quan trọng tạo nên loại hình du lịch văn hóa
và hoạt động thực tiễn của mình đã góp phần xây dựng sự phồn vinh cho đất nước, cho hạnh phúc của nhân dân; đó còn là kho tàng các di sản Hán Nôm như: văn khắc, thần phả, sắc phong, câu đối đại tự, các tác phẩm Hán Nôm, là tài sản quý giá chứa đựng nhiều thông tin quan trọng liên quan đến tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội Việt Nam thời phong kiến; cuối cùng đó là
hệ thống các thiết chế văn hóa gắn với Nho học như: Văn Miếu, Văn từ, Văn chỉ, nhà thờ dòng họ, hội tụ nhiều yếu tố cấu thành di sản văn hóa Nho học Việt Nam
Là một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa Việt Nam, di sản văn hóa Nho học được đánh giá là tài nguyên du lịch nhân văn hấp dẫn, là một trong những thành tố quan trọng tạo nên loại hình du lịch văn hóa ở Việt Nam với những giá trị lịch sử, văn hóa, tâm linh, kiến trúc, đặc sắc
Trang 2519
Chương 2 : THỰC TRẠNG VIỆC KHAI THÁC CÁC GIÁ TRỊ
DI SẢN VĂN HÓA NHO HỌC PHỤC VỤ DU LỊCH TẠI HÀ NỘI CŨ
2.1 Hoạt động du lịch tại Hà Nội
2.1.1 Hà Nội- trung tâm du lịch của cả nước
Kể từ mùa thu năm Canh Tuất 1010, vua Lý Thái Tổ đã chọn thành Đại
La làm kinh đô mới và đổi tên là kinh đô Thăng Long, năm 1931 gọi là Hà Nội đến nay đã hơn một 1000 năm tuổi Hà Nội là một thủ đô cổ lâu đời ở Đông Nam Á Với bề dày ngàn năm đó, lại ở vào vị trí giữa đồng bằng sông Hồng, cái nôi của nền văn minh lúa nước, mỗi tấc đất của Hà Nội đều chứa đựng những dấu tích di sản văn hóa Việt Nam Con số thống kê mới nhất, tính đến hết năm 2011 cả nước có trên 4 vạn di tích lịch sử văn hóa, trong đó có hơn 3000 di tích được Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch xếp hạng cấp quốc gia
và hơn 5000 di tích được xếp hạng cấp tỉnh Riêng thủ đô Hà Nội với tổng số
5175 di tích, có 1200 di tích xếp hạng cấp quốc gia và 950 di tích xếp hạng cấp thành phố, trong đó trên phạm vi địa bàn Hà Nội cũ tổng di tích có 1952 thì có 412 di tích xếp hạng quốc gia và 477 di tích xếp hạng thành phố (Nguồn: Ban quản lý di tích và danh thắng Hà Nội) Số liệu trên đây chứng minh rằng tài nguyên du lịch của Hà Nội rất lớn và phong phú Điều đặc biệt
là những tài nguyên đó không chỉ đơn thuần trở thành những điểm thăm quan
du lịch mà đó còn là những trung tâm văn hóa từ xa xưa, trung tâm trí tuệ ở một tâm điểm của đất nước, để từ đó, vị trí thủ đô kinh kì của Hà Nội tỏa sáng
ra cả nước
Hà Nội, nơi khởi đầu của quốc lộ 1 thiên lí Bắc-Nam Hà Nội đi quốc
Lộ 1 qua cầu Long Biên hay Chương Dương và mới đây là cầu Thanh Trì, cầu Vĩnh Tuy lên phía Bắc để nối tiếp với quốc lộ số 4 tỏa đi các ngả Quốc lộ
5 từ Hà Nội đưa ta về hướng đông; đến với Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh Từ Hà Nội đi phía tây đã có đại lộ Thăng Long qua Xuân Mai, Hòa
Trang 26Từ nhà ga Hà Nội, tàu hỏa xuyên Việt đưa du khách đến thành phố Hồ Chí Minh và có các nhánh đường sắt đi Lào Cai, đi Thái Nguyên, Lạng Sơn,
đi Uông Bí, Quán Triều,
Sân bay quốc tế Nội Bài cách trung tâm Hà Nội không xa, đã được hiện đại hóa Các hãng hàng không Việt Nam như: hãng hàng không quốc gia Việt Nam Vietnam Airline, hãng hàng không Jestar, hãng hàng không Air Mekong, hãng hàng không Vasco, đưa du khách đi khắp miền đất nước và tới khắp năm châu Cũng từ sân bay quốc tế Nội Bài, khách du lịch quốc tế đến Hà Nội ngày càng nhiều
2.1.2 Hoạt động kinh doanh du lịch tại Hà Nội
Trong những năm qua du lịch Hà Nội đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận và ngày càng khẳng định vị trí, tầm quan trọng của mình trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô
Sản phẩm du lịch
Lịch sử ngàn năm Thăng Long - Hà Nội đã để lại cho thủ đô nhiều di sản văn hóa quý giá Với việc mở rộng địa giới, số lượng các di tích lịch sử - văn hóa, làng nghề, phố nghề truyền thống của Hà Nội được tăng lên rất nhiều Đây thực sự là thế mạnh của Hà Nội để phát triển nhiều sản phẩm du lịch hấp dẫn
Tại khu vực nội thành, các sản phẩm du lịch tiêu biểu được tổ chức ở thủ đô
Hà Nội là:
Trang 27Hà Nội không có nhiều công trình văn hóa, nghệ thuật cổ kim hoành tráng hấp dẫn du khách như nhiều thủ đô của các nước khác trên thế giới ngược lại
Hà Nội hấp dẫn du khách bởi chính hương đất, hồn người Kinh Kỳ - Kẻ Chợ phải mất hàng nghìn năm hun đúc, đến nay vẫn giữ được vẻ cổ xưa
Di sản văn hóa Nho học cũng là tiềm năng trở thành sản phẩm du lịch đặc trưng của Hà Nội Tuy nhiên, ngoài Văn Miếu - Quốc Tử Giám ngày nay
đã trở thành một địa điểm du lịch yêu thích của du khách trong và ngoài nước thì các di tích Nho học như các Văn từ, Văn chỉ, nhà thờ dòng họ khác hầu như bị bỏ quên
Số lượngkhách du lịch
Từ năm 1990 đến nay, hình ảnh thủ đô Hà Nội tươi đẹp, an toàn thân thiện với bản sắc văn hóa độc đáo được biết đến ngày càng rộng rãi trên thế giới đã thu hút ngày càng nhiều du khách đến với Việt Nam Từ năm 1992 đến năm 1997, lượng khách quốc tế đến Hà Nội tăng gần 2 lần Từ năm 2000, lượng khách đã có sự gia tăng đáng kể nhờ những chủ trương và hành động kịp thời của ngành du lịch Thông qua các hoạt động tuyên truyền quảng bá,
Trang 2822
các lễ hội, du lịch Việt Nam nói chung và du lịch Hà Nội nói riêng đã gặt hái được những kết quả đáng mừng Việt Nam đã và đang trở thành "điểm đến của thiên niên kỷ mới" với những chương trình hành động quốc gia về du lịch Chính vì vậy, giai đoạn từ năm 2000 trở về đây, số lượng khách du lịch quốc tế đến Hà Nội tăng lên rất nhanh, đạt mức tăng trưởng bình quân 16,5%, chiếm trên 30% lượng khách quốc tế vào Việt Nam
Năm 2008, dù chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
số du khách quốc tế đến Hà Nội vẫn đạt con số gần 545 nghìn lượt gần bằng với lượng khách quốc tế đến Hà Nội năm 2007 Năm 2010 với đại lễ 1000 năm và năm Du lịch quốc gia 2010 được tổ chức tại Hà Nội, Hà Nội đã đón
544 nghìn lượt khách quốc tế, tăng 11% so với cùng kỳ năm 2009
(Nguồn: Sở Văn hóa thể thao và du lịch Hà Nội)
Năm Tổng số Khách Quốc tế Khách Việt Nam
Bảng 2.1 Số lượt khách đến Hà Nội từ năm 2005 đến 2010
Chúng ta có thể thấy du khách nước ngoài đến Hà Nội từ rất nhiều nước khác nhau Theo thống kê, hiện nay khách du lịch quốc tế đến Hà Nội từ hơn 160 quốc gia và vùng lãnh thổ Trong đó, quốc gia có lượng khách đến
Hà Nội nhiều nhất là Trung Quốc, cụ thể năm 2000 là 80,058 lượt khách, năm
2009 là 122,972 lượt khách, và năm 2010 lượng khách Trung Quốc tới Việt Nam tăng gấp đôi so với năm 2000, đạt 163,849 lượt khách Xếp sau Trung Quốc có thể kể đến các nước như là Pháp, Nhật, Hàn Quốc, Mỹ,
Hà Nội là thủ đô của đất nước và cũng là nơi tụ hội người dân của mọi miền tổ quốc Khách trong nước đến Hà Nội để đi du lịch trên địa bàn thành
Trang 29Doanh thu từ du lịch
Những năm qua, với việc thu hút ngày càng nhiều khách du lịch, du lịch Hà Nội đã có những đóng góp nhất định vào sự phát triển kinh tế - xã hội của thủ đô Nhìn vào giá trị thu nhập hàng năm du lịch Hà Nội mang lại, với mức gia tăng từ 445 tỷ đồng năm 1993 lên 2.850 tỷ đồng năm 2000 (cao hơn gấp
6 lần năm 1993), năm 2006 đạt 13.950 tỷ đồng và năm 2008, mặc dù khủng hoảng kinh tế thế giới có ảnh hưởng lớn tới du lịch, song vẫn đạt 23.800 tỷ đồng
và tới năm 2010, doanh thu từ du lịch của Hà Nội đạt 27.000 tỷ đồng; cho thấy vai trò to lớn của ngành du lịch trong sự phát triển kinh tế - xã hội của thủ đô Thời gian qua, cơ cấu kinh tế của thủ đô đã dần chuyển dịch theo hướng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ ngày một tăng, tỷ trọng nông nghiệp giảm Có được điều
đó, có phần đóng góp không nhỏ của ngành du lịch
Hệ thống các doanh nghiệp du lịch
Để đáp ứng nhu cầu phục vụ du khách đến Hà Nội ngày càng tăng, trong những năm qua, hệ thống các doanh nghiệp du lịch Hà Nội cũng đã phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng Hà Nội hiện có khoảng 1400 doanh nghiệp lữ hành, trong đó doanh nghiệp lữ hành quốc tế là 400 và doanh nghiệp lữ hành nội địa là 1000, khoảng 2000 cơ sở lưu trú du lịch, hơn 100 doanh nghiệp vận chuyển khách du lịch và hơn 500 cơ sở kinh doanh giải trí
Các doanh nghiệp vận chuyển khách được đầu tư các phương tiện vận chuyển chất lượng cao với khoảng 1500 ô tô các loại cùng với hàng trăm xe xích lô phục vụ khách Hiện nay có khoảng 80% doanh nghiệp lữ hành quốc
Trang 3024
tế của Hà Nội thường xuyên cung cấp dịch vụ cận chuyển chất lượng cao, sử dụng các loại xe du lịch đời mới, có nhiều tiện nghi phục vụ du khách Tàu chở khách trên sông Hồng được nâng cấp thường xuyên Tàu hỏa du lịch tuyến Hà Nội - Lào Cai (đưa khách du lịch tới Sa Pa, Bắc Hà) cũng được đầu
tư trang thiết bị và tổ chức dịch vụ du lịch văn minh hiện đại
tư liên doanh với nước ngoài và sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, đặc biệt là các khách sạn tư nhân Các dịch vụ phục vụ khách trong khách sạn trở lên phong phú, đa dạng với đội ngũ lao động được đào tạo và tuyển chọn phù hợp theo yêu cầu của từng nghiệp vụ trong khách sạn
Hiện nay tổng số các cơ sở lưu trú tại Hà Nội khoảng 2000 cơ sở với 41.600 phòng, trong đó số khách sạn được xếp hạng là 212 khách sạn với tổng số 11.676 phòng
(Nguồn: Sở Văn hóa thể thao và du lịch Hà Nội)
Loại KS 5 sao 4 sao 3 sao 2 sao 1 sao Tổng số
Số phòng 3.84 1.66 2.13 3.08 974 11.676
Bảng 2.2 Số lượng khách sạn được xếp hạng trên địa bàn Hà Nội
Theo thống kê, Hà Nội hiện có 11 khách sạn đạt tiêu chuẩn 5 sao Trong số này có khách sạn hơn 100 tuổi Sofitel Metropole Hà Nội, nơi mà danh hài Charlie Chaplin, tiểu thuyết gia Somerset Maugham và ngôi sao điện
Trang 3125
ảnh Jane Fonda từng đến Ngoài ra còn phải kể đến các khách sạn hiện đại và sang trọng như Charmvit Plaza với 564 phòng và Crown Plaza với 393 phòng mới được xây dựng Bên cạnh các khách sạn 5 sao, Hà Nội còn có 10 khách sạn 4 sao và 26 khách sạn 3 sao với chất lượng khác cao, tương đương hoặc
có chất lượng cao hơn các khách sạn cùng loại trên thế giới và khu vực Hầu hết các khách sạn đều có các tiện nghi phục vụ ăn uống phong phú như nhà hàng, quán bar, cà phê, trung tâm thương mại, các phòng tiện nghi phục vụ hội thảo, hội nghị Đặc biệt các khách sạn trên 300 phòng thường có các tiện nghi thể thao và vui chơi giải trí như bể bơi, sân tennis, phòng tập thể dục thể thao, vũ trường, câu lạc bộ,
Tuy đã có những bước tăng trưởng cả về số lượng và chất lượng, tình trạng thiếu khách sạn và giá phòng cao vẫn là một trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến du lịch Hà Nội Tình trạng thiếu hụt khách sạn đặc biệt là khách sạn có qui mô lớn từ 300-500 phòng Vì thế việc đáp ứng nhu cầu lưu trú của khách du lịch, đặc biệt vào những mùa cao điểm, các ngày lễ, dịp tổ chức các sự kiện lớn có ý nghĩa quốc gia và quốc tế rất khó khăn Bên cạnh
đó giá phòng ở Hà Nội cũng là vấn đề đáng quan ngại Trong 5 điểm du lịch hút khách nhất là Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Phan Thiết, Đà Lạt, Hội An thì thủ đô là nơi có giá phòng cao nhất
2.2 Giới thiệu một số di tích Nho học tiêu biểu của Hà Nội cũ
Trên đất Thăng Long Hà Nội xưa, không chỉ có Văn Miếu - Quốc Tử Giám được xây dựng để thờ Khổng Tử, các bậc Tiên thánh, Tiên nho, mà hầu như làng nào, xã nào cũng lập văn chỉ thờ Khổng Tử và các bậc khoa hoạn của địa phương, bên cạnh đó còn có rất nhiều các nhà thờ các dòng họ khoa bảng, các vị tiến sĩ
Ngày nay, trải qua bao thăng trầm của lịch sử, nhiều di tích Nho học đã
bị phá hủy nhưng số lượng còn lại vẫn là một bộ phận không nhỏ trong hệ thống những di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn thành phố Những di tích này
Trang 32- Các di tích Nho học có quy mô kiến trúc nhỏ song còn tương đối nguyên vẹn và chứa đựng nhiều hiện vật như các Văn từ, Văn chỉ, nhà thờ dòng họ, đền thờ tam thánh Bên cạnh đó, các di tích này có vị trí tương đối gần nhau tạo thành các cụm di tích Nho học phân bố theo đơn vị hành chính thôn, làng đặt trong mối liên hệ với các di tích khác như đình, đền, chùa, tạo nên điểm đến du lịch có sức hấp dẫn
2.2.1 Di tích lịch sử văn hóa Văn Miếu - Quốc Tử Giám
Năm 1070, vua Lý Thánh Tông đã cho dựng Văn Miếu để thờ Khổng
Tử, các bậc Tiên thánh, Tiên nho Sáu năm sau đó, tức là năm 1076, vua Lý Nhân Tông là con trai trưởng của vua Lý Thánh Tông với nguyên phi Ỷ Lan
đã cho dựng trường Quốc Tử Giám phía đằng sau Văn Miếu Trải qua hơn
700 năm lịch sử, nơi đây là trung tâm đào tạo nhân tài lớn nhất cho đất nước, được gọi là trường đại học cao cấp đầu tiên của Việt Nam
Di tích lịch sử văn hóa Văn Miếu - Quốc Tử Giám hiện thuộc phường Văn Miếu, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội Quần thể di tích trải rộng trên một diện tích là hơn 54000 m2 gồm có khu nội tự và khu ngoại tự
Khu ngoại tự là Hồ Văn ở phía trước Văn Miếu và khu Vườn Giám nằm ngoài dãy tường bao ở bên phải của di tích Giữa hồ Văn có gò Kim
Trang 33Khuê Văn Các là một lầu gác vuông 2 tầng, 8 mái được xây dựng vào năm 1805 đời vua Nguyễn Gia Long Tầng dưới là 4 trụ gạch, 4 bề trống không, tầng trên là kiến trúc gỗ 2 tầng mái lợp ngói ống, trang trí 4 góc bằng đất nung Bốn mặt gác trổ 4 cửa sổ tròn xung quanh có những thanh gỗ con tiện toả ra bốn phía tượng trưng cho các tia của sao Khuê toả sáng
Hai dãy bia Tiến sĩ là những hiện vật quý giá nhất của khu di tích Hiện còn 82 tấm bia phân đều thành 2 bên, mỗi bên 41 bia đối xứng nhau qua giếng Thiên Quang Hai toà đình bia xây dựng vào năm 1863, bốn mặt
bỏ trống Xưa kia xuân thu nhị kỳ, khi trong Điện thánh tế lễ Khổng Tử, thì
ở đây cũng sắm sửa lễ vật tế lễ các vị tiên nho mà quý danh được khắc trên bia đá dựng nơi cửa hiền tài Hiện nay 2 đình bia là nơi dựng 2 tấm bia của hai khoa thi đầu tiên triều Lê năm 1442 và 1448 cùng danh sách 1307 tên và quê quán của các vị đỗ đại khoa của 82 khoa thi từ năm Đại Bảo 3 (1442) đến năm Kỷ Hợi (1779) đã được ghi trên 82 tấm bia Tiến sĩ đặt tại Văn Miếu Năm 2011, khu vườn bia tiến sĩ đã được UNESCO công nhận là "Kí
ức di sản tư liệu thế giới"
Khu vực chính thờ Khổng Tử và các bậc Tiên hiền, Tiên nho bao gồm điện Đại Thành, nhà Bái Đường, hai dãy Đông vu, Tây vu Là nơi tổ chức các nghi thức tế lễ, do vậy chính giữa toà Đại Bái đặt một hương án, trên
Trang 3428
bày đồ thờ Hương án làm bằng gỗ sơn son thếp vàng, hai mặt trước và sau
có hoạ tiết đục trạm gỗ kiểu hoa văn thời Lê
Điện Đại Thành là nơi thờ Khổng Tử, Tứ phối, Thập triết Gian chính
là tượng đức Khổng Tử, mặt nhìn về hướng nam, phía sau là khám thờ trên
có ngai và bài vị: "Đại Thành Chí Thánh Tiên Sư Khổng Tử thần vị"
Bên đông là tượng Phục Thánh Nhan Hồi và Thuật Thánh Tử Tư Bên tây là Tông Thánh Tăng Tử và Á Thánh Mạnh Tử
Hai gian đầu hồi là 10 bia đá bài vị Thập triết, là những người tiêu biểu cho 4 khoa là: Đức hạnh, Ngôn ngữ, Chính trị và Văn học
Toà Đại Bái và Điện thánh là nơi các triều đại Lý, Trần, Lê hàng năm xuân thu hai lần chọn ngày Đinh đầu tiên của tháng hai và tháng tám tế lễ, do vua chủ tế hoặc cử hoàng thân, đại thần tế thay
Khu Quốc Tử Giám xưa kia có nhà giảng đường, thư viện, khu tam xá cho học sinh ở, kho để đồ tế khí và kho chứa bản gỗ khắc in sách Triều Nguyễn xây dựng Quốc Tử Giám Huế, khu này trở thành học phủ của phủ Hoài Đức (sau thuộc Hà Nội) và xây đền Khải Thánh để thờ cha mẹ của Khổng Tử Toàn bộ khu này đã bị đốt phá năm 1946
Năm 2010, để tôn vinh nền văn hóa dân tộc, nhà nước ta đã cho xây dựng công trình Thái Học trên nền cũ của trường Quốc Tử Giám xưa Quy
mô kiến trúc khu Thái Học rất bề thế, trang nghiêm và hài hoà với kiến trúc cảnh quan của khu Văn Miếu phía trước
Tầng 1 là nơi tôn vinh Danh sư Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn
An và là nơi trưng bày về "Văn Miếu- Quốc Tử Giám Thăng Long và nền giáo dục Nho học Việt Nam" giới thiệu khái quát lịch sử hình thành và phát triển của Văn Miếu - Quốc Tử Giám cùng những giá trị sâu sắc của truyền thống tôn sư trọng đạo, hiếu học, đề cao nhân tài, thừa kế và phát huy di sản
Trang 35Đó là các vị vua Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và Lê Thánh Tông
Quy mô và bố cục của Văn Miếu Hà Nội hiện nay là Văn Miếu lớn nhất trong cả nước, được bảo tồn tương đối hoàn chỉnh đã thu hút đông đảo khách tham quan trong nước và nước ngoài, trở thành điểm du lịch quan trọng của Thủ đô và cả nước
2.2.2 Cụm di tích Nho học làng Đông Ngạc
Xã Đông Ngạc thuộc huyện Từ Liêm thành phố Hà Nội, cách trung tâm
Hà Nội 12 km về phía tây bắc Hiện nay tại Đông Ngạc còn lưu giữ được một
hệ thống đình chùa, đền miếu, văn chỉ, nhà thờ các dòng họ Hầu hết các di tích này in đậm dấu ấn của các danh nhân và các dòng họ khoa bảng, những người làm quan trong làng, đến truyền thống hiếu học và khoa bảng của làng
bờ nóc đắp kiểu bờ đinh Tường bao nhà tiền tế và hậu cung xây bằng gạch Bát Tràng cổ, tường để mộc không trát
Hậu cung là một nhà 3 gian rộng lòng, cũng xây kiểu tường hồi bát đốc, mái lợp ngói mũi hài, 2 đốc mái đắp nổi hình rồng cách điệu Trong hậu
Trang 36Mỗi năm đến ngày hội làng, ngày 10 tháng 2 âm lịch, dân làng tổ chức
lễ hội rất trọng thể và có rước kiệu thánh từ đình về văn chỉ để tế, sau đó lại rước về đình
Nhà thờ họ Phan hiện nay đã được trùng tu sửa chữa nhiều lần, tuy nhiên bên trong các nếp nhà, những thức vì cổ xưa vẫn được bảo tồn nguyên vẹn các mảng chạm khắc rất sinh động qua hai thời Lê - Nguyễn Nơi đây vẫn bảo lưu được một số di vật mang giá trị lịch sử văn hóa cao gồm: cuốn gia phả ghi chép lịch sử của dòng họ bắt đầu từ tiến sĩ Phan Phu Tiên đến các chi ngành, 2 câu đối cổ, 3 bức hoành phi, 1 bức cửa võng, khám thờ, bát bửu cùng nhiều loại bát hương, cây đèn, mâm bồng, quả đựng nước,
Là từ đường của một dòng họ đại khoa, di tích gắn bó mật thiết với các vị khoa bảng trong lịch sử giáo dục truyền thống của dân tộc như danh nhân Phan
Trang 3731
Phu Tiên, tiến sĩ Phan Trọng Phiên, nhà yêu nước Phan Văn Trường Với nhiều người đỗ tiến sĩ, cử nhân, tú tài dòng họ Phan đã có những đóng góp lớn trong việc giáo dục, đào tạo nhân tài cho đất nước Sự thành đạt của dòng họ cũng đã góp phần tạo nên tiếng thơm, truyền thống hiếu học của vùng quê Đông Ngạc nổi tiếng, làng văn hiến đã được lưu truyền từ xưa đến nay
Ngoài ra còn phải kể đến những nhà thờ khác như nhà thờ họ Hoàng, nhà thờ họ Phạm, nhà thờ họ Đỗ, nhà thờ họ Nguyễn, đều là những di tích lịch sử có giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật kiến trúc cao Việc thờ phụng tổ tiên, giáo dục con cháu vẫn luôn được nhắc đến thông qua những ngôi nhà thờ này Mối liên kết họ hàng và việc thờ cúng tổ tiên là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta Các ngôi nhà thờ họ luôn là những di tích có giá trị văn hóa khoa học và xã hội lớn
Dân gian xưa có câu: "Đất Kẻ Giàn, quan Kẻ Vẽ" hay "Thơ Mỗ, phú Cách, sách Vẽ" (nghĩa là: thơ làng Đại Mỗ, phú làng Cách Thượng Trì, văn sách làng Vẽ), để ca ngợi truyền thống khoa bảng của làng Đông Ngạc Ngay
từ cuối thời Trần làng đã có cụ Phan Phu Tiên đỗ Thái học sinh năm Quý Dậu (1393) Thời Lê có 12 người đỗ tiến sĩ, dưới triều Nguyễn làng có 9 người đỗ tiến sĩ bên cạnh đó là một số lượng lớn các cử nhân, hương cống, tú tài
Đông Ngạc không chỉ là làng quê nổi tiếng khoa bảng, lắm quan sang,
mà nơi đây còn lưu lại nhiều vết tích văn hóa của các thời đại như: ngôi chùa
cổ Tư Khánh, đình Vẽ, khu mộ Hán cùng cây hương đá, giếng nước đá, và
cả những ngôi từ đường liên quan đến những dòng họ lớn có nhiều người đỗ đạt làm quan Đây là một địa chỉ du lịch hấp dẫn cho những du khách muốn tìm hiểu về truyền thống Nho học, khoa bảng cũng như những giá trị lịch sử văn hóa khác của Thăng Long Hà Nội
2.2.3 Cụm di tích Nho học làng Bát Tràng
Xã Bát Tràng thuộc huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội, cách trung tâm thủ đô 15 km về phía đông nam Người dân Bát Tràng không chỉ tự hào về một làng gốm nổi tiếng ngay từ thế kỉ 15 đã chế ra được men lam và đầu thế kỉ 17
Trang 3832
chế ra men rạn mà còn tự hào về một làng văn có nhiều người đỗ đạt cao Cùng với truyền thống khoa bảng, làng cổ Bát Tràng còn lưu giữ được một hệ thống các di tích Nho học gồm văn từ, đền thờ tiến sĩ, cho đến ngày nay
Văn từ Bát Tràng là một di tích có niên đại xây dựng sớm, trải qua thời gian, tháng năm và binh hoả, di tích hiện nay đã được trùng tu sửa chữa, khôi phục được dáng vẻ ban đầu Căn cứ vào nguồn tư liệu dân gian của địa phương và các cụ cao tuổi trong Tiểu ban quản lý di tích Văn từ Bát Tràng cho biết, di tích được xây dựng từ thời gian rất sớm, vào khoảng thế kỷ 15
Văn từ Bát Tràng thờ Khổng Tử, các học trò ưu tú của Khổng Tử và đặc biệt là các danh nhân khoa bảng của làng, trong đó nổi bật nhất là Trạng nguyên Giáp Hải
Văn từ Bát Tràng được xây dựng trên một khu đất giữa làng Bát Tràng, phía sau đình làng Bát Tràng Di tích bao gồm các hạng mục kiến trúc như: Nghi môn và kiến trúc chính là tiền đường và hậu cung kết cấu kiểu chữ
“Nhị” Tiền đường xây kiểu đầu hồi bít đốc gồm 5 gian 2 dĩ, mái lợp ngói ta,
bờ nóc đắp ngói bò Nếp nhà thứ hai, gọi là hậu cung được chia làm 5 gian 2
dĩ, vì kèo giống nhà tiền tế, là dạng vì kèo quá giang kẻ suốt chốn cột Gian chính giữa tạo một khung hình chữ nhật đắp cuốn thư, không trang trí
Hiện nay, di vật tại di tích không còn nhiều, các di vật chủ yếu có niên đại muộn như : Lư hương bằng đá có niên đại khoảng thế kỷ 19, màu xám đen,
vành miệng tạo gờ trang trí hoa văn chữ triện; Bia công đức, chiêng, trống thờ bằng gỗ và da, cùng nhiều các tư liệu hán nôm hoành phi câu đối
Tại một làng quê giàu truyền thống văn hoá, nơi sinh ra những tiên Nho tiên hiền, việc tôn thờ Khổng Tử và những danh nhân khoa bảng của làng ở Văn từ, văn chỉ là niềm tự hào, là nguồn động viên khuyến khích các thế hệ con cháu đời sau noi gương Chính vì vậy, hàng năm ở đây đã tổ chức lễ
Khuyến học cho thế hệ trẻ của làng
Trang 3933
Nhà thờ họ Vũ là nơi thờ cúng tổ tiên và tưởng niệm các nhân vật của dòng họ Vũ ở Bát Tràng Đó là Quốc công Vũ Ngang người đã kiên trung, hết lòng vì nghĩa phò tá Thái Tổ Cao Hoàng đế và tiến sĩ Vũ Văn Tuấn - quan tuần phủ Hưng Hóa sau thăng Thị độc Viện Hàn Lâm phụng nghị đại phu
Kiến trúc nhà thờ gồm một tòa nhà 3 gian 2 dĩ, xây kiểu tường hồi bít đốc tay ngai, mái lợp ngói ta Toàn bộ kết cấu gỗ ở đây là loại gỗ trai, chắc,
có màu sẫm
Hiện di tích còn giữ được một số hiện vật như: 2 đạo sắc phong, 1 cuốn gia phả của dòng họ, ngai thờ, án thư và 4 đôi câu đối
Tìm hiểu về qua trình hình thành và phát triển nhà thờ cũng như dòng
họ Vũ là một nguồn tư liệu quí trong việc nghiên cứu qua trình lập làng cổ Bát Tràng Dòng họ Vũ là một dòng họ lớn, có lịch sử tạo dựng từ lâu đời có nhiều đóng góp vào sự hình thành phát triển của làng và truyền thống văn hóa tốt đẹp của vùng quê nổi tiếng này Đây chính là một địa chỉ cho việc giáo dục truyền thống văn hóa, truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ
Bên cạnh hệ thống các di tích Nho học, cũng như mọi làng quê Việt Nam xưa, làng Bát Tràng có cả một quần thể cơ sở phụng tự như: đình Bát Tràng, hào chỉ, chùa Kim Trúc, miếu Hương hiền thờ những người hiền, Văn từ, các nhà thờ họ Bát Tràng nằm trên một vùng đất cổ với làng nghề truyền thống nổi tiếng, các di tích đình - đền cổ kính… Với ý nghĩa tự có của hai chữ “Văn từ”, “văn chỉ”, sự hiện diện của Văn từ Bát Tràng và hệ thống di tích Nho học nơi đây càng làm tăng lên giá trị của một làng cổ ven đô Đó là một trong những điểm thu hút khách du lịch muốn tham quan, tìm hiểu rõ về làng cổ Bát Tràng
Trang 4034
2.2.4 Cụm di tích Nho học làng Thượng Cát
Xã Thượng Cát thuộc huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội, cách trung tâm Thủ đô khoảng 20km về phía tây bắc Thượng Cát là một làng Việt cổ có nhiều dòng họ lớn, cũng là làng có truyền thống khoa bảng với nhiều người
đỗ đạt dưới thời phong kiến Ngày nay, hệ thống đình, chùa, đền, miếu, nhà thờ các dòng họ, của làng còn được bảo lưu tương đối nguyên vẹn
Đền Thái Cực là một di tích tôn giáo tín ngưỡng, nơi thờ tam giáo Nho, Phật, Lão Lịch sử tạo dựng và nội dung thờ phụng tại di tích cho ta hiểu rõ thêm về lịch sử dân tộc và những biến động đổi thay của các tôn giáo: Nho giáo, Phật giáo và Lão giáo
Đền Thái Cực tọa lạc trên một gò đất cao giữa một hồ nước rộng, xung quanh có nhiều cây cổ thụ tạo thêm cảnh quan cho di tích Đền quay hướng nam nhìn ra cánh đồng lúa ngút ngàn tầm mắt Các công tình kiến trúc của Đền gồm: Cổng Đền, nhà dải vũ và đền chính kết cấu kiểu chữ Đinh mang phong cách kiến trúc thời Nguyễn
Giá trị điêu khắc được thể hiện rõ qua hệ thống tượng thờ tại di tích Các pho tượng được tạo tác ở các thời kỳ lịch sử khách nhau nên mang phong cách và cách thể hiện trang trí cũng khác nhau Các pho tượng được tạo tác công phu, tinh xảo, nét chạm chau chuốt thể hiện tính chân dung và mang tính nghệ thuật cao của thế kỉ 18-19
Các tư liệu Hán Nôm trên chuông đồng, hoành phi, câu đối là nguồn tư liệu quí góp phần tìm hiểu về lịch sử phong tục tập quán của địa phương
Nhà thờ họ Trần là di tích Nho học gắn với dòng họ Trần có truyền thống hiếu học và có nhiều người đỗ đạt làm quan to trong triều Cụ Trần Như Nhật làm quan Thái Bảo thời Lê, kế tiếp sau là nhiều tiến sĩ, cử nhân, tú tài của dòng họ nối tiếp nhau giữ nhiều trọng trách cao trong xã hội đương thời Dòng họ Trần còn nổi danh là dòng họ có truyền thống yêu nước nồng