Trong thực tế, việc khai thác nguồn tài nguyên nhân văn này trong phát triển du lịch chỉ dừng lại ở việc đưa di sản vào khai thác du lịch mà chưa chú trọng đến việc bảo tồn, giúp những g
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ MINH PHƯƠNG
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH GÓP PHẦN BẢO TỒN PHỐ CỔ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ DU LỊCH
Hà Nội - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ MINH PHƯƠNG
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH GÓP PHẦN BẢO TỒN PHỐ CỔ HÀ NỘI
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU SƠ ĐỒ
MỞ ĐẦU 7
1.Lý do chọn đề tài 7
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 8
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 10
6 Bố cục luận văn 10
7 Đóng góp của luận văn 10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VỚI BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA 11
1.1.Những vấn đề lý luận về văn hóa và du lịch văn hóa 11
1.1.1 Văn hóa 11
1.1.2 Di sản văn hóa 12
1.1.3 Du lịch văn hóa 13
1.1.4 Tài nguyên du lịch văn hóa 14
1.1.5 Cảnh điểm du lịch văn hóa 15
1.1.6 Cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch văn hóa 17
1.1.7 Sản phẩm du lịch văn hóa 18
1.1.8 Qui hoạch du lịch văn hóa 22
1.1.9 Tổ chức tuyên truyền, quảng bá du lịch văn hóa 24
1.1.10 Nhân lực trong du lịch văn hóa 25
1.1.11.Thị trường du lịch văn hóa 28
1.1.12.Quản lý văn hóa trong du lịch 30
1.2.Những vấn đề phát triển du lịch gắn với bảo tồn và phát huy di sản văn hóa 31
1.2.1 Vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trong du lịch 31
Trang 41.2.2 Những nguyên tắc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trong du lịch 33
1.2.3 Những phương pháp bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trong du lịch 36
1.2.4 Vấn đề tổ chức quản lý du lịch góp phần bảo tồn và phát huy di sản văn hóa 38
1.2.5 Qui hoạch du lịch với việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa 39
1.2.6 Phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch với việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa 40
1.2.7 Xây dựng sản phẩm du lịch với bảo tồn di sản văn hóa 41
1.2.8 Phát triển thị trường du lịch với bảo tồn di sản văn hóa 42
Tiểu kết chương 1 45
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VÀ VIỆC BẢO TỒN PHỐ CỔ HÀ NỘI 46
2.1 Khái quát về phố cổ Hà Nội 46
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của phố cổ Hà Nội 46
2.1.2 Không gian phố cổ Hà Nội 49
2.1.3 Những giá trị văn hóa của phố cổ Hà Nội 51
2.2 Thực trạng hoạt động du lịch tại phố cổ Hà Nội 55
2.2.1 Phố cổ Hà Nội – điểm đến không thể thiếu của du lịch thủ đô 55
2.2.2 Tổ chức quản lý hoạt động du lịch tại phố cổ Hà Nội 56
2.2.3 Cơ sở vật chất của du lịch tại phố cổ Hà Nội 57
2.2.4 Sản phẩm du lịch tại phố cổ Hà Nội 59
2.2.5 Nguồn lực và nhân lực du lịch tại phố cổ Hà Nội 63
2.2.6 Thị trường và khách du lịch phố cổ Hà Nội 65
2.2.7 Tuyên truyền quảng bá du lịch phố cổ Hà Nội 68
2.3 Thực trạng bảo tồn phố cổ Hà Nội 68
2.3.1 Các hoạt động bảo tồn phố cổ hiện nay 69
2.3.2 Bảo tồn không gian văn hóa phố cổ Hà Nội 71
2.3.3 Bảo tồn di sản văn hóa vật thể tại phố cổ Hà Nội 75
2.3.4 Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể tại phố cổ Hà Nội 79
Trang 52.3.5 Những vấn đề đặt ra trong công tác bảo tồn phố cố Hà Nội trong chiến
lược phát triển của thủ đô Hà Nội 81
2.4 Tác động của du lịch đối với việc bảo tồn phố cổ Hà Nội 84
2.4.1 Những tác động tích cực 84
2.4.2 Những tác động tiêu cực 85
2.4.3 Những nhiệm vụ đặt ra cho việc phát triển du lịch gắn với bảo tồn phố cổ Hà Nội 86
Tiểu kết chương 2 88
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH GÓP PHẦN BẢO TỒN PHỐ CỔ HÀ NỘI 89
3.1 Những căn cứ đề xuất giải pháp 89
3.1.1 Các cơ sở pháp lý 89
3.1.2 Căn cứ thực tiễn 95
3.2 Những giải pháp cụ thể 96
3.2.1 Giải pháp về phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch góp phần bảo tồn phố cổ Hà Nội 96
3.2.2 Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực góp phần bảo tồn phố cổ Hà Nội 97 3.2.3 Giải pháp về tổ chức, quản lý hoạt động du lịch gắn với bảo tồn phố cổ Hà Nội 98
3.2.4 Giải pháp khai thác tài nguyên du lịch góp phần bảo tồn phố cổ Hà Nội 100
3.2.5 Giải pháp xây dựng và phát triển sản phẩm du lịch góp phần bảo tồn phố cổ Hà Nội 102
3.2.6 Giải pháp phát triển thị trường và khách du lịch góp phần bảo tồn phố cổ Hà Nội 104
3.2.7 Giải pháp phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn phố cổ Hà Nội 106
Tiểu kết chương 3 109
KẾT LUẬN 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
PHỤ LỤC 117
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
and Sites) Hội đồng quốc tế các di tích và di chỉ
Scientific and Cultural Organization)
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc
Tổ chức Du lịch thế giới
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang Bảng 1.1: So sánh sự khác nhau giữa sản phẩm văn hóa và sản phẩm du lịch……… 21 Bảng 1.2: Nội dung tour du lịch phố cổ hà Nội……… 61
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ MÔ HÌNH
Trang
Sơ đồ 1.1: Vòng đời của một điểm đến du lịch……… 19
Sơ đồ 1.2: Quy trình xây dựng sản phẩm văn hóa thành sản phẩm du lịch…21
Sơ đồ 1.3: Quy trình chung của hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch 25 Biểu đồ 2.1: Các hoạt động chính của du khách trong khu phố cổ………….66 Biểu đồ 2.2: Đánh giá mức độ hài lòng của du khách trong chuyến tham quan phố cổ……… 67
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Những năm gần đây, du lịch văn hóa đã và đang trở thành xu hướng phổ biến của nhiều quốc gia trên thế giới và khu vực Du lịch văn hóa còn được xem là sản phẩm đặc thù của các quốc gia đang phát triển Với sự phát triển mạnh mẽ và những đóng góp to lớn cho nền kinh tế quốc dân, hoạt động du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng đang ngày càng phát triển và chiếm một vai trò quan trọng Hoạt động du lịch góp thêm phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Mặt khác, khi nhìn nhận một cách đầy đủ cũng
sẽ thấy bản thân hoạt động du lịch cũng chính là hoạt động văn hóa Giữa văn hóa và du lịch có sự liên hệ, gắn kết vô hình Chính bản thân văn hóa cũng là sức hút cấu thành nên sản phẩm du lịch, đó chính là việc khai thác các di sản văn hóa truyền thống bản địa để cấu thành nên sản phẩm du lịch Tuy nhiên, việc khai thác đó lại chưa gắn kết chặt chẽ với việc bảo tồn và giữ gìn các di sản văn hóa truyền thống cho tương lai
Trong bối cảnh đó, Nghị quyết TW 5 của Đảng đã xác định “Văn hóa là nền tảng của sự phát triển”; Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng khẳng định: Bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc, các giá trị văn học, nghệ thuật, ngôn ngữ, chữ viết và thuần phong mỹ tục của các dân tộc; Tôn tạo các
di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh; Khai thác các kho tàng văn hóa cổ truyền trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là nhiệm vụ sống còn của Đảng và Nhà nước ta hiện nay Đây cũng chính là nhiệm vụ của ngành du lịch nói chung trong việc phát triển kinh doanh du lịch và du lịch văn hóa nói riêng
Hà Nội là một trong những địa bàn tập trung nhiều di tích lịch sử, văn hóa của cả nước Nơi đây cũng có rất nhiều danh lam, thắng cảnh nổi tiếng Với những ưu thế là Thủ đô, trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế, đối ngoại của đất nước, Hà Nội có rất nhiều tiềm năng để phát triển du lịch Khi nói đến
Trang 10Hà Nội, chúng ta không thể không nhắc đến Phố cổ Hà Nội Đây là một phần minh chứng cho những giá trị di sản của nền văn minh đồng bằng sông Hồng
Hiện nay, trong Phố cổ Hà Nội, mật độ công trình di tích lịch sử văn hóa cao nhất thành phố, khoảng 120 di tích gồm đình, đền, chùa, miếu, các công trình cách mạng… Ngoài giá trị vật thể, còn có giá trị phi vật thể, yếu tố tạo nên cái hồn của Phố cổ Hà Nội Đó chính là các giá trị truyền thống, giá trị đạo đức, là lối sống, cách làm ăn, nói năng, giao tiếp… Nguồn tài nguyên nhân văn quý báu đó chính là nội lực to lớn trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển du lịch của Hà Nội
Trong thực tế, việc khai thác nguồn tài nguyên nhân văn này trong phát triển du lịch chỉ dừng lại ở việc đưa di sản vào khai thác du lịch mà chưa chú trọng đến việc bảo tồn, giúp những giá trị của di sản phát huy hết được tiềm năng khi được gắn kết với du lịch Hoạt động du lịch và hoạt động bảo tồn phải luôn luôn tồn tại song song và tương tác lẫn nhau Bảo tồn nguồn tài nguyên di sản để phát triển du lịch và phát triển du lịch nên định hướng bảo tồn di sản
Căn cứ vào thực trạng và tính cấp bách của vấn đề, tác giả đã lựa chọn đề tài “ Nghiên cứu phát triển du lịch góp phần bảo tồn phố cổ Hà Nội” nhằm tìm ra những định hướng và giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động khai thác giá trị di sản phố cổ Hà Nội trong kinh doanh du lịch nhưng vẫn bảo tồn bền vững những giá trị đó
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Đã có nhiều nghiên cứu về văn hóa Hà Nội và du lịch văn hóa Hà Nội, bảo tồn phố cổ Hà Nội, ví dụ như: “ Di tích lịch sử - văn hóa trong khu phố cổ và xung quanh hồ Hoàn Kiếm” của tác giả Lê Văn Lan, “ Các loại hình di tích kiến trúc trong khu phố cổ Hà Nội (thế kỷ XIX) của tác giả Nguyễn Thị Hòa,
“ Nghiên cứu, sưu tầm, điều tra thực trạng khảo cổ học trên địa bàn thành phố
Hà Nội” của tác giá Nguyễn Thị Dơn, “ Giải pháp cơ bản khai thác tiềm năng
du lịch của thủ đô và phụ cận nhằm phát triển du lịch đến năm 2010” của tác
Trang 11giả Nguyễn Thị Nguyên Hồng.Tuy nhiên, các công trình trên chưa nghiên cứu riêng về phát triển du lịch văn hóa phố cổ Hà Nội nhưng phát triển là để góp phần vào việc bảo tồn những giá trị văn hóa tại phố cổ Hà Nội, chưa nghiên cứu cụ thể, toàn diện về du lịch phố cổ Hà Nội Cùng với đó, thực tiễn hoạt động du lịch phố cổ Hà Nội hiện nay cho thấy sản phẩm du lịch ở đây còn nghèo nàn, đơn điệu, chưa tương xứng với tiềm năng, chưa mang tính đặc trưng của một thủ đô có lịch sử lâu đời, chưa tạo được tính cạnh tranh trên thị trường, vì thế chưa thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu của du khách Nhiều dự án đầu
tư du lịch đã được tiến hành và đi vào hoạt động nhưng nhìn chung hầu hết vẫn ở quy mô nhỏ lẻ, rời rạc hoặc có những dự án lớn nhưng vẫn còn trong tình trạng dang dở
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
- Thực tiễn hoạt động du lịch và những tác động của du lịch với việc bảo tồn phố cổ Hà Nội
- Những nhiệm vụ đặt ra cho việc phát triển du lịch góp phần bảo tồn phố cổ Hà Nội
Trang 125 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu
- Phương pháp thống kê, phân loại, so sánh
- Phương pháp khảo sát thực địa
6 Bố cục luận văn
Luận văn gồm 110 trang Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn chia làm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận của đề tài
Chương 2: Thực trạng hoạt động du lịch và việc bảo tồn phố cổ Hà Nội Chương 3: Một số giải pháp phát triển du lịch góp phần bảo tồn phố cổ
Hà Nội
7 Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về văn hóa, du lịch văn hóa, phát triển du lịch gắn với bảo tồn và phát huy di sản văn hóa
- Nghiên cứu, khảo sát thực tế hoạt động du lịch tại phố cổ Hà Nội, thực trạng bảo tồn phố cổ Hà Nội và những tác động của du lịch đối với việc bảo tồn phố cổ Hà Nội
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch nhưng phát triển là
để góp phần bảo tồn phố cổ Hà Nội
Trang 13CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
VỚI BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA 1.1.Những vấn đề lý luận về văn hóa và du lịch văn hóa
1.1.1 Văn hóa
Văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo, có từ thuở bình minh của
xã hội loài người.Từ “văn hóa” có rất nhiều nghĩa Ở Phương Đông, từ văn hóa đã có trong đời sống ngôn ngữ từ rất sớm Trong tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa); theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn (văn hóa Đông Sơn)… Trong khi theo nghĩa rộng thì văn hóa bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống, lao động… Theo GS TSKH Trần Ngọc Thêm thì “ văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”1 Định nghĩa này đã nêu bật 4 đặc trưng quan trọng của văn hóa: tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử, tính nhân sinh
PGS Phan Ngọc đưa ra một định nghĩa văn hóa mang tính chất thao tác luận, khác với những định nghĩa trước đó “Không có cái vật gì gọi là văn hóa
cả và ngược lại bất kỳ vật gì cũng có cái mặt văn hóa Văn hóa là một quan hệ
Nó là mối quan hệ giưa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, một cá nhân khác Nét khác biệt giữa các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hóa khác nhau là độ khúc
1
Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, tr.10
Trang 14xạ Tất cả mọi cái mà tộc người tiếp thu hay sáng tạo đều có một độ khúc xạ riêng có mặt ở mọi lĩnh vực và rất khác độ khúc xạ ở một tộc người khác
Trong ý nghĩa rộng nhất, “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể của những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền co bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng; Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lí Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân”2
Như vậy, văn hóa không phải là một lĩnh vực riêng biệt Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo
ra Văn hóa là chìa khóa của sự phát triển
1.1.2 Di sản văn hóa
Theo từ điển Tiếng Việt thì “ Di sản” được hiểu là “ cái của thời trước
để lại” Theo GS.TS Trần Ngọc Thêm thì văn hóa có đặc trưng là tính hệ thống và tính lịch sử Văn hóa được lưu truyền cùng với sự phát triển của con người qua từng thế hệ”3 Theo GS Từ Chi thì “văn hóa là những gì phi tự nhiên”4, tức là những gì không phải tự nhiên mà được con người biến đổi đều được coi là văn hóa Ngoài ra, có nhà nghiên cứu còn cho rằng văn hóa là những gì còn lại sau khi đã quên hết
2 Trần Quốc Vượng (2006), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, tr.23-24
3 Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, tr.11-12
Trang 15Trong Điều 1 của Luật di sản văn hóa thì khẳng định: “ Di sản văn hóa gồm DSVH vật thể và DSVH phi vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”5 Di sản văn hóa là cầu nối giữa truyền thống và hiện đại, giữa kế thừa và phát triển Di sản văn hóa tồn tại trong hiện tại là cái đã được tích lũy, hình thành từ trước đó, cái được truyền lại từ quá khứ và mang dấu ấn của quá khứ Sự trao truyền văn hóa qua các thế hệ như thế tạo nên cho văn hóa tính liền mạch, hình thành bản sắc riêng của từng dân tộc
Như vậy, di sản văn hóa được khái quát lại là tổng thể những tài sản văn hóa truyền thống trong hệ thống giá trị của nó, được chủ thể nhận biết và đưa vào sử dụng nhằm đáp ứng những nhu cầu và đòi hỏi của hiện tại
1.1.3 Du lịch văn hóa
Du lịch văn hóa là một khái niệm có nhiều định nghĩa và nhiều cách hiểu
“ Du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà mục tiêu là khám phá những
di tích và di chỉ Nó mang lại những ảnh hưởng tích cực bằng việc đóng góp vào việc duy tu, bảo tồn Loại hình này trên thực tế đã minh chứng cho những
nỗ lực bảo tồn và tôn tạo, đáp ứng những nhu cầu của cộng đồng vì những lợi ích văn hóa – kinh tế - xã hội” (ICOMOS)
“ Du lịch văn hóa là loại hình chủ yếu hướng vào việc qui hoạch, lập trình, thiết kế các tour lữ hành tham quan các công trình văn hóa cổ kim”6
“ Du lịch văn hóa là loại hình du lịch dựa trên cơ sở khai thác các giá trị
di sản văn hóa dân tộc và được tổ chức một cách có văn hóa”7
Như vậy, du lịch văn hóa là một loại hình du lịch lấy việc khai thác tài nguyên văn hóa làm mục đích, khai thác các giá trị văn hóa vào phát triển như một nguồn tài nguyên du lịch Du lịch văn hóa là phương tiện truyền tải các
5
Luật Di sản văn hóa và văn bản hướng dẫn thi hành (2003), Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, tr.12
6 Trần Thúy Anh, Nguyễn Thu Thủy, Nguyễn Thị Anh Hoa (2010), Ứng xử văn hóa trong du lịch,
Nxb Đại học Quốc gia Hà nội, tr.22
7 Nguyễn Văn Bình (2005), Phát triển du lịch sinh thái, du lịch văn hóa – một công cụ bảo vệ môi
trường tự nhiên và môi trường xã hội, Bảo vệ môi trường du lịch, Tổng cục Du lịch, tr.98
Trang 16giá trị văn hóa của một địa phương, một dân tộc, một quốc gia cho du khách khám phá, thưởng ngoạn, học tập, giao lưu Nó góp phần đánh thức, làm sống dậy các giá trị văn hóa Thông qua du lịch, các di sản văn hóa được bảo vệ, tôn tạo, phục hồi và phát huy giá trị
1.1.4 Tài nguyên du lịch văn hóa
Du lịch văn hóa sử dụng di sản văn hóa như một nguồn lực, là nguồn tài nguyên độc đáo, là “nguyên liệu” để hình thành nên hoạt động du lịch
Nguồn nguyên liệu di sản văn hóa có hai loại cơ bản: di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể Di sản văn hóa vật thể là những sáng tạo của con người, hiện hữu trong không gian mà có thể cảm nhận bằng các giác quan như thị giác, xúc giác Chẳng hạn như các di tích lịch sử văn hóa, hang thủ công, công cụ sinh hoạt, sản xuất, các món ăn dân tộc… Còn di sản văn hóa phi vật thể chính là các lễ hội, các loại hình nghệ thuật, cách ứng xử, giao tiếp…, lại được cảm nhận một cách gián tiếp và “ vô hình”
Dưới góc độ du lịch, các nhà nghiên cứu xếp các thành tố văn hóa vào tài nguyên du lịch nhân văn (phân biệt với tài nguyên du lịch tự nhiên như biển, hồ, núi sông, hang động…) Cùng với tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn là một trong những điều kiện phát triển du lịch của mỗi quốc gia, vùng miền, địa phương Giá trị của những di sản văn hóa cùng với các thành tựu kinh tế, chính trị, xã hội… là đối tượng cho du khách khám phá, thưởng thức
Bên cạnh đó, nguồn tài nguyên này còn quyết định tới qui mô, thể loại, chất lượng và hiệu quả của hoạt động du lịch của mỗi vùng miền Tuy nhiên, không phải yếu tố văn hóa nào cũng trở thành tài nguyên du lịch nhân văn Chỉ có những tài nguyên có sức hấp dẫn với du khách và có thể khai thác phát triển du lịch để tạo ra hiệu quả kinh tế xã hội, môi trường mới được gọi là tài
Trang 17nguyên du lịch nhân văn Chỉ có những sản phẩm văn hóa nào có giá trị phục
vụ du lịch mới được coi là tài nguyên du lịch nhân văn Vì vậy, tài nguyên du lịch nhân văn thường là những giá trị văn hóa tiêu biểu, đặc sắc của mội địa phương, mỗi quốc gia
Tài nguyên du lịch nhân văn có những tính chất chung là: Đa dạng (làm phong phú sản phẩm du lịch), Hấp dẫn (thu hút khách du lịch), Độc đáo (là nét riêng có, đặc trưng), Không dịch chuyển (ngay cả khi có các sản phẩm mô phỏng cũng không thay thế được), và Dễ tổn thất8
Trong khi tài nguyên du lịch tự nhiên tạm coi là vô hạn (vô hạn tương đối) thì tài nguyên du lịch nhân văn và xã hội lại là hữu hạn Bên cạnh đó, tài nguyên
du lịch nhân văn còn có mối quan hệ chặt chẽ với điều kiện tự nhiên, tài nguyên tự nhiên, với các điều kiện kinh tế xã hội, chịu sự chi phối của các qui luật tự nhiên, qui luật phát triển văn hóa như: phân vùng, lan tỏa và đan xen, hội nhập, cũng như các qui luật xã hội… Vì vậy, mỗi địa phương, mỗi quốc gia thường có tài nguyên du lịch nhân văn mang tính đặc sắc, độc đáo để hấp dẫn du khách Du khách đi du lịch để trải nghiệm, tìm hiểu, hưởng thụ các giá trị về văn hóa, tự nhiên Song do tính kết tinh, đan xen, hội nhập nên quá trình khai thác, sử dụng vào hoạt động du lịch, tài nguyên du lịch nhân văn rất dễ bị mai một, thay đổi, mất bản sắc văn hóa
Do vậy, trong quá trình bảo tồn, tôn tạo và khai thác tài nguyên du lịch nhân văn vào mục đích du lịch thì việc bảo vệ tính độc đáo, đặc sắc, nguyên vẹn của loại tài nguyên này là bí quyết hấp dẫn du khách và phát triển du lịch bền vững
1.1.5 Cảnh điểm du lịch văn hóa
8 Charles R.Goeldner, J.R Brent Ritchie (2009), Tourism Princples, Practices, Philosophies, John Wiley& Sons, tr.279
Trang 18Theo M.Buchvarov (1982) điểm du lịch là cấp thấp nhất trong hệ thống phân vị du lịch gồm 5 cấp: điểm du lịch – hạt nhân du lịch – tiểu vùng du lịch – á vùng du lịch – vùng du lịch Về mặt du lịch, điểm du lịch có quy mô nhỏ,
“là nơi tập trung một loại tài nguyên nào đó (tự nhiên, văn hóa – lịch sử hoặc kinh tế xã hội) hay một loại công trình riêng biệt phục vụ du lịch hoặc kết hợp
cả hai ở quy mô nhỏ”9
“ Điểm đến du lịch là một thành phố, thị xã, khu vực mà có sự phụ thuộc đáng kể vào nguồn lợi nhuận thu được từ du lịch Nó có thể chứa một hoặc nhiều điểm tham quan du lịch hấp dẫn”10
Điểm đến du lịch cũng trải qua các giai đoạn hình thành, phát triển, suy thoái Các nhà nghiên cứu gọi đó là “vòng đời” của điểm đến du lịch Biểu đồ dưới đây minh họa diễn tiến của một điểm đến du lịch Ban đầu, một điểm đến trở nên tiềm năng, hấp dẫn với những nhóm nhỏ du khách nhắm đến một vài đặc tính nổi bật của nó Những đặc tính đó có thể là di sản văn hóa của điểm đến, hay di sản thiên nhiên, vẻ đẹp cảnh quan… Dần dần theo thời gian, điểm đến trở nên nổi tiếng hơn Khi đó có thể nói điểm đến đang trong quá trình phát triển cùng với việc mở rộng số lượng dân cư
và du khách tới thăm Các hoạt động thương mại tăng dần để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của du khách Theo thời gian, điểm đến có thể thay đổi rất nhiều Đương nhiên, sẽ tới một thời điểm cần có các quyết định đúng đắn để ngăn chặn nguy cơ xuống cấp và duy trì đặc điểm cốt lõi của điểm đến, cũng như phải có các chiến lược để đối phó với những thay đổi sâu sắc, lâu dài đối với nó
Như vậy, có thể hiểu điểm đến du lịch văn hóa là nơi tập trung một loại tài nguyên du lịch nhân văn nào đó phục vụ du lịch, đặc biệt là du lịch văn
9 Nguyễn Minh Tuệ và đồng sự (1999), Địa lý du lịch, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, tr.113
Trang 19hóa và có nguồn thu từ du lịch Điểm đến du lịch văn hóa cũng có vòng đời như một điểm đến du lịch
Sơ đồ 1.1: Vòng đời của một điểm đến du lịch (Nguồn: UNWTO)
1.1.6 Cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch văn hóa
Cơ sở vật chất kỹ thuật có vai trò đặc biệt đối với hoạt động phát triển
du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng, là yếu tố đảm bảo cho hoạt động du lịch được thực hiện một cách có hiệu quả
Hiểu theo nghĩa rộng thì cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch là toàn bộ các phương tiện vật chất kỹ thuật được huy động tham gia vào việc khai thác tài nguyên du lịch nhằm tạo ra và thực hiện các dịch vụ, hàng hóa, thỏa mãn nhu cầu của du khách trong chuyến hành trình của họ Theo cách hiểu này, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm các cơ sở vật chất kỹ thuật của bản thân ngành du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật của một số ngành kinh tế khác như mạng lưới và phương tiện giao thông vận tải, hệ thống thông tin liên lạc, công trình cung cấp điện nước tham gia phục vụ du lịch… Những yếu tố này được gọi chung là yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng xã hội, giữ vai trò đảm bảo điều kiện
Trang 20chung cho việc phát triển du lịch Điều này được giải thích bởi sự lệ thuộc vào
du lịch vào thành quả của các ngành kinh tế khác
Hiểu theo nghĩa hẹp, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được hiểu là toàn
bộ các phương tiện vật chất kỹ thuật do các tổ chức du lịch xây dựng nhằm khai thác tiềm năng du lịch, tạo ra và làm mới lại các sản phẩm dịch vụ và hàng hóa, làm thỏa mãn nhu cầu của du khách Bao gồm hệ thống các khách sạn, nhà hàng, khu vui chơi giải trí, phương tiện vận chuyển khách du lịch…
và các công trình bổ trợ Đây chính là yếu tố tác động trực tiếp tới số lượng và chất lượng dịch vụ du lịch Chính vì vậy, sự phát triển du lịch bao giờ cũng gắn liền với việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch
Trong hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm các thành phần:
Cơ sở phục vụ ăn uống và lưu trú như khách sạn, nhà khách, nhà hàng, camping, bungalow…; Mạng lưới cửa hàng chuyên nghiệp: bao gồm mạng lưới cửa hàng thuộc các trung tâm du lịch và mạng lưới thương nghiệp địa phương; Cơ sở thể thao: gồm công trình thể thao, phòng thể thao, trung tâm thể thao…; Cơ sở y tế: gồm phòng y tế, trung tâm chữa bệnh… nhằm phục vụ
du lịch chữa bệnh và cung cấp dịch vụ bổ sung tại các điểm du lịch; Các công trình phục vụ hoạt động thông tin văn hóa như trung tâm văn hóa, rạp chiếu phim, nhà hát, câu lạc bộ, phòng triển lãm… Ngoài ra còn có các công trình
bổ trợ khác
Từ đó, có thể hiểu rằng cơ sở vật chất để phát triển du lịch văn hóa bao gồm cơ sở vật chất của các ngành kinh tế khác có liên quan tới du lịch (như nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm, kết cấu hạ tầng, giao thông vận tải…)
và cơ sở vật chất của chính các điểm du lịch văn hóa, các di sản văn hóa, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch văn hóa tạo điều kiện cho du lịch văn hóa phát triển
1.1.7 Sản phẩm du lịch văn hóa
Trang 21Sản phẩm văn hóa được sinh ra trước sản phẩm du lịch Văn hóa là do con người sáng tạo ra, vì thế mọi sản phẩm văn hóa đều thuộc về con người
Ở đâu có con người, ở đó có văn hóa, có sản phẩm văn hóa
“ Sản phẩm du lịch là toàn bộ những dịch vụ tạo ra các hàng hóa văn hóa mang tính đặc thù do các cá nhân và tổ chức kinh doanh du lịch cung cấp
để phục vụ những nhu cầu của các đối tượng du khách khác nhau; nó phù hợp với những tiêu chí nghề nghiệp theo thông lệ quốc tế; đồng thời chứa đựng những giá trị văn hóa đặc trưng bản địa, đáp ứng và làm thỏa mãn các mục tiêu kinh tế - xã hội đối với các cá nhân, tổ chức và địa phương nơi đang diễn
ra các hoạt động kinh doanh du lịch”
Sản phẩm du lịch trước hết là sản phẩm văn hóa, hai loại sản phẩm này
có mối quan hệ mật thiết với nhau, được thể hiện như sau11
:
Bảng 1.1: So sánh sự khác nhau giữa sản phẩm văn hóa và sản phẩm du lịch
Bền vững, tính bất biến cao Thích ứng, tính khả biến cao
Mang nặng dấu ấn của cộng đồng dân
Sản xuất ra không phải để bán, chủ
yếu để phục vụ đời sống sinh hoạt văn
hóa – tinh thần của cư dân bản địa
Hàng hóa sản xuất phải được bán ra thị trường, bán cho du khách, phục vụ nhu cầu của các đối tượng khách du lịch là cư dân của các vùng miền khác nhau
Chú trọng giá trị tinh thần, giá trị Giá trị văn hóa đi kèm giá trị kinh tế
11
Dương Văn Sáu (2010), Phát triển sản phẩm du lịch ở Việt Nam, Tạp chí Du lịch số 2, tr.33
Trang 22không đo được hết bằng giá cả - xã hội Giá trị đo được bằng giá cả Quy mô hạn chế, thời gian và không
Từ đó cho thấy sản phẩm du lịch văn hóa là sản phẩm du lịch khai thác những giá trị văn hóa, sử dụng tài nguyên du lịch văn hóa trong hoạt động của mình, khác biệt với sản phẩm du lịch tự nhiên
Sản phẩm du lịch văn hóa cùng khác với sản phẩm văn hóa ở chỗ: sản phẩm văn hóa là để cung ứng cho con người nói chung; còn sản phẩm du lịch văn hóa chỉ cung cấp cho khách du lịch có nhu cầu tìm hiểu, thưởng thức văn hóa Tuy nhiên, sự phân định này rất khó, chỉ mang tính định tính, không mang tính định lượng Hơn nữa, sản phẩm văn hóa không tạo tính tò mò, mới lạ, bắt con người phải tìm hiểu; còn sản phẩm du lịch văn hóa lại tạo tính dị biệt đối với cư dân vùng khác đến
Yếu tố “dị biệt” được làm nên bởi sự khác biệt về văn hóa Sự khác biệt văn hóa giữa các cộng đồng người, giữa các vùng miền, giữa các dân tộc, giữa các quốc gia… thậm chí giữa văn hóa của người hiện đại với các nền văn hóa qua khứ chính là căn nguyên làm nên tính dị biệt của sản phẩm du lịch văn hóa, tạo sự hấp dẫn, tò mò, ham khám phá của du khách
Đa dạng văn hóa chính là lý do sinh tồn của du lịch, bởi đa dạng văn hóa làm nên yếu tố mới lạ của du lịch, là cơ sở để xây dựng nên những sản phẩm du lịch văn hóa mới lạ, độc đáo, riêng có của mỗi vùng miền Đảm
Trang 23bảo được điều này, sản phẩm văn hóa bản thân nó đã có sức hấp dẫn đối với du khách Nhưng để biến nó thành một sản phẩm du lịch phổ biến, rộng rãi còn phải căn cứ vào nhiều yếu tố, đòi hỏi nhiều nỗ lực và trải qua nhiều bước, nói cách khác là phải có một quy trình xây dựng sản phẩm văn hóa trở thành sản phẩm du lịch12
Sơ đồ 1.2: Quy trình xây dựng sản phẩm văn hóa thành sản phẩm du lịch
Trên thực tế, du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp mang bản chất và nội dung văn hóa sâu sắc Trên cơ sở văn hóa dân tộc – vùng miền, nguồn tài nguyên nhân văn phong phú, hoạt động du lịch luôn đem đến cho du khách những sản phẩm chứa đựng những giá trị nhân văn đặc sắc, mang sắc thái bản địa Sản phẩm văn hóa chỉ trở thành sản phẩm du lịch khi nó tham gia vào các quá trình của hoạt động kinh doanh du lịch, phục vụ các
12 Nguyễn Quang Vinh (2007), Quy trình xây dựng sản phẩm văn hóa thành sản phẩm du lịch, Hội thảo khoa học “Nghiên cứu và đào tạo du lịch ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế”, tr.91
Trang 24nhu cầu khác nhau của khách du lịch Khi đó nó được gọi tên là sản phẩm
du lịch văn hóa, trở thành một yếu tố hợp thành của các chương trình du lịch văn hóa đẻ thỏa mãn nhu cầu của du khách tham gia loại hình du lịch này Có xuất xứ từ sản phẩm văn hóa, nhưng sản phẩm du lịch văn hóa mang nhiều đặc trưng của sản phẩm du lịch Chúng đã trở thành hàng hóa phục vụ kinh doanh, đem lại lợi ích kinh tế
1.1.8 Qui hoạch du lịch văn hóa
Du lịch là một hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp Nó có ảnh hưởng tích cực cũng như tiêu cực đến đời sống kinh tế văn hóa, xã hội, môi trường cho địa bàn phát triển du lịch Trong khi cung du lịch thường mang tính cố định, khó có thể thay đổi, thì cầu du lịch vẫn luôn mang tính không ổn định,
dễ bị thay đổi Từ đó, có thể cho thấy sự phức tạp trong việc đầu tư phát triển
du lịch không kể ở cấp độ quốc gia, khu vực hay ở cấp độ các doanh nghiệp Trong chiến lược phát triển du lịch các cơ quan có thẩm quyền cấp Trung ương, địa phương, các nhà quản trị doanh nghiệp cần phải đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng quy hoạch phát triển du lịch Công tác này được thực hiện tốt có thể làm gia tăng những lợi ích từ du lịch và giảm thiểu những tác động tiêu cực mà du lịch có thể đem lại cho cộng đồng, cho doanh nghiệp Nếu công tác này không được thực hiện tốt có thể dẫn đến sự phát triển du lịch thiếu tính kiểm soát
Quy hoạch phát triển du lịch và du lịch văn hóa ở cấp quốc gia và vùng mang lại những lợi ích đặc trưng quan trọng sau :
- Thiết lập được các mục tiêu bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa
và chính sách nhằm tìm ra những giải pháp để đạt được mục tiêu
- Phát triển du lịch đồng thời với việc khai thác, sử dụng và bảo vệ hợp lý các tài nguyên du lịch nhân văn cho hiện tại cùng như trong tương lai
Trang 25- Tạo sự thống nhất trong sự phát triển du lịch tổng thể của một quốc gia, một vùng và thiết lập các mối liên kết giữa du lịch và các ngành kinh tế khác
- Tạo cơ sở cho việc ra các quyết định về phát triển du lịch
- Tạo ra sự phối kết hợp đồng bộ giữa các hoạt động du lịch trên địa bàn :
sự tác động hỗ trợ giữa các điểm du lịch, các loại hình du lịch trong đó có du lịch văn hóa, các sản phẩm du lịch văn hóa
- Tối ưu và cân bằng các lợi ích kinh tế, môi trường tự nhiên, văn hóa, xã hội mà ngành du lịch đóng góp cho xã hội, đồng thời giảm thiểu các tác hại
mà hoạt động du lịch có thể gây ra đối với các di sản văn hóa
- Đưa ra những hướng dẫn cơ bản về việc bố trí, kiểu loại, quy mô phát triển các điểm du lịch, tiện nghi, dịch vụ và cơ sở hạ tầng du lịch văn hóa
- Đề ra các tiêu chuẩn và hướng dẫn soạn thảo quy hoạch chi tiết cho các khu, các điểm du lịch đã được xác định
- Tạo khuôn khổ cho việc thực hiện có hiệu quả các kế hoạch và chính sách phát triển du lịch trong đó có du lịch văn hóa, cũng như đặt nền tảng cho việc quản lý thường xuyên hoạt động du lịch thông qua việc cung cấp các khung pháp lý và hệ thống tổ chức cần thiết
- Tạo khuôn khổ cho việc phối kết hợp có hiệu quả các nỗ lực của lĩnh vực nhà nước và tư nhân trong việc đầu tư phát triển du lịch
- Tạo cơ sở để kiểm soát thường xuyên và duy trì định hướng phát triển
du lịch
Trong các hướng dẫn của Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO) thường đưa
ra các giai đoạn cơ bản trong quy trình lập quy hoạch du lịch (ở cấp độ quốc gia và vùng) như sau13
:
Giai đoạn nghiên cứu chuẩn bị (Study preparation)
Giai đoạn xác định mục tiêu (Determination of objectives)
13
Trần Đức Thanh (2005), Nhập môn khoa học du lịch, NXb Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 26Giai đoạn khảo sát tất cả các yếu tố (Survey of all elements)
Giai đoạn phân tích và tổng hợp (Analysis and synthesis)
Giai đoạn thiết lập chính sách và quy hoạch (Polcicy and Plan formulation)
Giai đoạn đề xuất các khuyến nghị (Recommendation)
Giai đoạn thực hiện và rà soát (Implementation and monitoring)
Quy trình quy hoạch này đã được nghiên cứu và vận dụng trong công tác xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển du lịch ở Việt Nam và quy hoạch phát triển du lịch văn hóa
1.1.9 Tổ chức tuyên truyền, quảng bá du lịch văn hóa
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, có nhiều cơ hội nhưng cũng nhiều thách thức đối với mọi nền kinh tế, vấn đề cạnh tranh khốc liệt hơn, mọi ngành, tổ chức, cá nhân đều hiểu được ý nghĩa và vai trò quan trọng của xúc tiến, trong đó có tuyên truyền, quảng bá nhằm đạt được mục đích của mình Trong ngành Du lịch nói riêng, để chiếm lĩnh được thị trường, thu hút được nhiều khách du lịch, công tác tuyên truyền, quảng bá về các điểm đến, sản phẩm và dịch vụ tới các đối tượng đang là vấn đề được quan tâm của các cấp lãnh đạo, các nhà quản lý ở phạm vi quốc gia, ngành, của các nhà kinh doanh
Trang 27đó Do đó, cần thiết phải tuyên truyền quảng bá cho các sản phẩm của du lịch bằng nhiều hình thức và phương tiện truyền thông
Tuyên truyền quảng bá du lịch là một bộ phận, một phần quan trọng trong xúc tiến du lịch Quảng cáo và quảng bá du lịch có vai trò tạo thuận lợi cho việc đưa sản phẩm du lịch vào các thị trường phù hợp nhất thông qua các
kỹ thuật nghiên cứu, dự đoán và quyết định
Quá trình quảng bá du lịch bao gồm sự thu thập, phân tích, giải thích và phổ biến một cách có hệ thống những dữ kiện thông tin quảng cáo nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các quyết định cung và cầu của một sản phẩm du lịch Quảng bá còn có một vai trò lớn làm tăng tính hấp dẫn của sản phẩm du lịch và có ảnh hưởng đến các quyết định lựa chọn của khách du lịch, tác động đến độ dài các chuyến du lịch của du khách Khi có đầy đủ các thông tin của điểm đến, khách du lịch có thể kéo dài thời gian đi du lịch hơn, có thể chi tiêu nhiều hơn
Bên cạnh đó, tuyên truyền quảng bá nâng cao nhận thức về du lịch trong xã hội, có tác động đến quan điểm, cách nhìn nhận và đánh giá được vai trò của du lịch trong các cấp lãnh đạo, các nhà quản lý và cộng đồng
Hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch được tiến hành theo quy trình như sau14
:
Sơ đồ 1.3 : Quy trình chung của hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch
Đây là quy trình chung áp dụng cho công tác tuyên truyền quảng bá du lịch nói chung và cũng là quy trình cho việc tuyên truyền quảng bá du lịch văn hóa nói riêng
1.1.10 Nhân lực trong du lịch văn hóa
Lao động là hoạt động có mục đích của con người Lao động là “bản chất chân chính” của con người và lịch sử và như là sự tái tạo, khách thể hóa con
14
Lê Anh Tuấn (2010), Nghiên cứu hoạt động tuyên truyền, quáng bá du lịch Việt Nam
Mục tiêu Ngân sách Nội dung Tổ chức Đánh giá
Trang 28người bằng lao động Theo C.Mác cho rằng “khi nói đến lao động thì người ta trực tiếp bàn đến bản thân con người” Trong lĩnh vực du lịch, là lĩnh vực hoạt động kinh doanh cung cấp dịch vụ, vai trò của con người là rất quan trọng, không máy móc nào có thể thay thế được Ngành du lịch mặc dù có liên quan đến nhiều ngành và lĩnh vực khác nhau và mang tính chất khác nhau nhưng bản chất của nó bao gồm một số lĩnh vực kinh doanh nhất định, do các công
ty hoặc doanh nghiệp kinh doanh du lịch đảm nhận Nếu xét trên mức độ tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của ngành du lịch và của mỗi doanh nghiệp, nhân lực trong lĩnh vực du lịch có thể phân thành 3 nhóm sau :
- Nhóm lao động chức năng quản lý Nhà nước về du lịch
- Nhóm lao động chức năng sự nghiệp ngành du lịch
- Nhóm lao động chức năng kinh doanh du lịch
Trong nhóm lao động chức năng kinh doanh du lịch có thể chia thành 4 nhóm nhỏ (hay 4 bộ phận) :
+ Bộ phận lao động chức năng quản lý chung của doanh nghiệp du lịch + Bộ phận lao động chức năng quản lý theo các nghiệp vụ kinh tế trong doanh nghiệp du lịch
+ Bộ phận lao động chức năng đảm bảo điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp du lịch
+ Bộ phận lao động trực tiếp cung cấp dịch vụ cho khách trong doanh nghiệp du lịch
Nhân lực trong quản lý nhà nước về du lịch văn hóa:
Có các cơ quan quản lý Nhà nước về du lịch từ Trung ương đến địa phương như : Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch, Sở Du lịch hoặc Sở Thương mại – Du lịch, Cục di sản, Cục xúc tiến thương mại và du lịch, Ban quản lý
Trang 29Bộ phận lao động này có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng chiến lược phát triển du lịch của quốc gia và của từng địa phương, tham mưu cho các cấp Đảng và chính quyền trong việc đề ra đường lối và chính sách phát triển du lịch bền vững và có hiệu quả Mặt khác, họ cũng đại diện cho Nhà nước để hướng dẫn, giúp đỡ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kinh doanh
du lịch kinh doanh có hiệu quả cũng như kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh doanh đó
Tùy theo chức năng và nhiệm vụ được phân công, những người làm việc
ở cơ quan quản lý Nhà nước về du lịch có thể đảm trách các công việc khác nhau như : xúc tiến, quảng bá du lịch; hợp tác quốc tế về du lịch ; tổ chức cán
bộ, đào tạo trong du lịch ; quản lý lữ hành, khách sạn ; thanh tra du lịch ; kế hoạch đầu tư du lịch
Bộ phận này chiếm tỷ trọng không lớn trong toàn bộ nhân lực du lịch, song đây là bộ phận nhân lực có trình độ cao, có hiểu biết tương đối toàn diện
và có trình độ chuyên môn về du lịch Những kiến thức, hiểu biết của họ là ở tầm vĩ mô thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước
Nhân lực lao động chức năng sự nghiệp ngành du lịch, văn hóa :
Bao gồm những người làm việc ở các cơ sở giáo dục, đào tạo như : cán
bộ giảng dạy, nghiên cứu ở các trường đại học, cao đẳng, trung học và cán bộ nghiên cứu ở các viện khoa học về du lịch và văn hóa như : Viện khoa học xã hội, Viện nghiên cứu và phát triển du lịch, Viện văn hóa dân gian, Viện di tích và khảo cổ
Đây là bộ phận nhân lực có trình độ học vấn cao và có trình độ chuyên môn sâu, đặc biệt là ở các trường đại học và viện nghiên cứu, bao gồm đội ngũ các giáo sư, phó giáo sư, tiến sỹ, thạc sỹ
Nhân lực lao động chức năng kinh doanh du lịch :
Bộ phận lao động này bao gồm 4 nhóm nhỏ :
Trang 30Nhóm lao động chức năng quản lý chung của doanh nghiệp du lịch Nhóm lao động quản lý chung trong lĩnh vực kinh doanh du lịch được hiểu đó
là những người đứng đầu (người lãnh đạo), là loại lao động trí óc đặc biệt, lao động tổng hợp
Nhóm lao động chức năng quản lý theo các nghiệp vụ kinh tế trong doanh nghiệp du lịch : gồm lao động thuộc phòng kế hoạch đầu tư và phát triển, lao động thuộc phòng tài chính –kế toán, lao động thuộc phòng vật tư thiết bị, lao động thuộc phòng quản lý nhân sự Nhiệm vụ chính của lao động thuộc các bộ phận này là tổ chức hạch toán kinh doanh, tổ chức bộ máy quản lý trong doanh nghiệp, tổ chức lao động, tổ chức các hoạt động kinh doanh, hoạch định quy mô và tốc độ phát triển doanh nghiệp
Nhóm lao động chức năng đảm bảo điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp du lịch : đảm bảo điều kiện kinh doanh du lịch được hiểu đó là những người không trực tiếp cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho khách du lịch
Nhóm lao động trực tiếp cung cấp dịch vụ cho khách trong doanh nghiệp
du lịch Bao gồm những lao động trực tiếp cung cấp dịch vụ và phục vụ khách
du lịch như : hướng dẫn viên du lịch, nhân viên điều hành tour, nghề bếp
Xã hội càng phát triển, sự chuyên môn hóa công việc ngày càng lớn và cũng từ đó đòi hỏi người lao động phải có những kỹ năng chuyên sâu trong từng lĩnh vực Nhận thức đúng đắn về vấn đề này đem lại sự phát triển nhanh hơn cho một ngành cụ thể Trong hoạt động kinh doanh du lịch, với sự đòi hỏi của thị trường, đặc biệt là nhu cầu du lịch của con người, càng cần đòi hỏi cao hơn nữa về kỹ năng của người lao động
1.1.11 Thị trường du lịch văn hóa
Trong lịch sử phát triển của du lịch, lúc đầu khách đến một vùng nào đó rất ít ảnh hưởng đến cư dân điểm du lịch Việc đi lại do khách du lịch tự lo Nơi ăn chốn ở do những người hảo tâm hoặc bà con nơi du lịch sắp xếp bố trí
Trang 31Nhưng cùng với quá trình phát triển, du lịch dần trở thành một hiện tượng phổ biến, đã xuất hiện những tổ chức chuyên doanh dịch vụ vận chuyển, ăn uống
và lưu trú Khách du lịch trả tiển cho những cơ sở chăm lo cho việc họ đi lại,
ăn, nghỉ, lưu trú và vui chơi, giải trí Thị trường du lịch đã được hình thành như vậy trong quá trình chuyển đổi tiền – hàng giữa khách du lịch và các cơ
sở chuyên doanh
Ta có thể hiểu thị trường du lịch là bộ phận của thị trường chung, một phạm trù của sản xuất và lưu thông hàng hóa, dịch vụ du lịch, phản ánh toàn
bộ quan hệ trao đổi giữa người mua và người bán, giữa cung và cầu và toàn
bộ các mối quan hệ thông tin kinh tế, kỹ thuật gắn với mối quan hệ đó trong lĩnh vực du lịch
Dưới góc độ của các nhà kinh doanh du lịch thì thị trường du lịch là các nhóm khách hàng đang có mong muốn và sức mua sản phẩm du lịch nhưng chưa được đáp ứng
Trong thị trường, trước tiên phải nói tới cầu du lịch và trong đó là cầu du lịch văn hóa của du khách Có không ít định nghĩa về du khách/ khách du lịch, dưới mỗi lăng kính khác nhau của các học giả, các định nghĩa được đưa
ra không phải hoàn toàn như nhau
“Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp
đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập từ nơi đến”15
“Du khách là người từ nơi khác đến với/ hoặc kèm theo mục đích thẩm nhận tại chỗ những giá trị vật chất, tinh thần hữu hình hay vô hình của thiên nhiên và/ hoặc của cộng đồng xã hội Về phương diện kinh tế, du khách là người sử dụng dịch vụ của các doanh nghiệp du lịch lữ hành, lưu trú, ăn uống…”16
Từ đó, có thể khái quát rằng khách du lịch đi với mục đích văn hóa trước hết mang đầy đủ các yếu tố của khách du lịch, và là những du khách giành
15 Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật Du lịch, Nxb Chính trị Quốc gia, tr.2
16
Trần Đức Thanh (2005), Nhập môn khoa học du lịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.20
Trang 32mối quan tâm tới các đối tượng văn hóa, khai thác, thưởng thức, hưởng thụ các sản phẩm văn hóa Họ là những người từ nơi khác đến với mục đích thẩm nhận tại chỗ những giá trị vật chất, tinh thần, hữu hình hay vô hình của các di sản văn hóa của một cộng đồng xã hội nhất định Giống như các loại hình du lịch khác, khách du lịch đi với mục đích văn hóa có thể đi với động cơ là nghỉ ngơi, giải trí phục hồi tâm sinh lý ; hay đi với mục đích nghiên cứu, tìm hiểu, học tập về văn hóa ; hoặc đi du lịch kết hợp với mục đích công vụ, hội nghị, hội thảo Với mỗi mục đích khác nhau thì du khách có những nhu cầu, sở thích khác nhau tương ứng
1.1.12 Quản lý văn hóa trong du lịch
Trong xu thế đẩy mạnh sự phát triển vượt bậc của ngành du lịch, các di sản văn hóa (bao gồm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể) đều đã và đang trở thành nguồn tài nguyên quan trọng, được ngành du lịch chú ý khai thác Vì thế, cần khẳng định rằng, hiệu quả to lớn mà du lịch đạt được trong nhiều năm qua không thể tách rời việc khai thác những giá trị đặc sắc và độc đáo của kho tàng di sản văn hóa của cộng đồng Để triển khai loại hình du lịch văn hóa một cách hiệu quả theo định hướng phát triển bền vững thì tổ chức, quản lý du lịch văn hóa và quản lý di sản trong kinh doanh du lịch văn hóa được coi là điều kiện rất quan trọng và cấp thiết
Căn cứ vào Luật Du lịch quy định nội dung quản lý Nhà nước về du lịch,
có thể đưa ra trách nhiệm vụ về tổ chức, quản lý du lịch văn hóa của các cơ quan quản lý Nhà nước về du lịch, của các cấp chính quyền địa phương cũng như của chính các đơn vị, công ty hoạt động trong lĩnh vực du lịch Mỗi cơ quan sẽ có chức năng, nhiệm vụ khác nhau trong công tác tổ chức, quản lý du lịch văn hóa, song những hoạt động đó đều hướng tới du lịch văn hóa, di sản văn hóa, điểm đến văn hóa, tài nguyên du lịch văn hóa…
Đối với cơ quan quản lý Nhà nước về du lịch:
Trang 33- Xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển du lịch văn hóa
- Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm về tiêu chuẩn định mức kinh tế - kỹ thuật trong hoạt động du lịch văn hóa
- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về du lịch văn hóa
- Tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch văn hóa; nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ
- Tổ chức điều tra, đánh giá tài nguyên du lịch văn hóa để xây dựng quy hoạch phát triển du lịch văn hóa, xác định tuyến du lịch văn hóa, điểm du lịch văn hóa
- Tổ chức thực hiện hợp tác quốc tế, xúc tiến quảng bá du lịch văn hóa ở trong và ngoài nước
- Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về du lịch, sự phối hợp của các cơ quan nhà nước trong việc quản lý du lịch văn hóa
- Cấp, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về hoạt động du lịch văn hóa
- Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động du lịch văn hóa
Đối với chính quyền địa phương:
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình và theo sự phân cấp của Chính phủ có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về du lịch văn hóa tại địa phương; cụ thể hóa quy hoạch, kế hoạch,
cơ chế, chính sách phát triển du lịch văn hóa phù hợp với thực tế tại địa phương và có biện pháp đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội, vệ sinh môi trường tại khu du lịch văn hóa, điểm du lịch văn hóa, tuyến du lịch văn hóa…
Đối với cơ sở, đơn vị kinh doanh du lịch:
Thực hiện các hoạt động của đơn vị, tuân thủ các quy định của nhà nước
và sự quản lý của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở địa phương, như quy
Trang 34định về khai thác tài nguyên du lịch văn hóa, kinh doanh du lịch văn hóa, quy định về đóng góp cho mục đích bảo tồn di sản văn hóa…
1.2.Những vấn đề phát triển du lịch gắn với bảo tồn và phát huy di sản văn hóa
1.2.1.Vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trong du lịch
Văn hóa và những giá trị văn hóa chính là tài nguyên, là chất liệu cho
du lịch và du lịch văn hóa Giữa văn hóa và du lịch luôn luôn có mối quan hệ biện chứng và trực tiếp Giao lưu là một trong những thuộc tính cơ bản của văn hóa và được biểu hiện sinh động trong các di sản mà du lịch đã, đang và
sẽ góp phần không nhỏ để thực hiện sự kết nối
Các di sản văn hóa là các di sản của thời gian, được truyền lại qua nhiều thế hệ và trong nhiều hoàn cảnh khác nhau Di sản văn hóa cần được bảo vệ vì nó là một thành tố quan trọng trong việc hình thành nên bản sắc văn hóa của một cộng đồng Các di sản này được truyền lại, đã trải qua sự thử thách của thời gian cũng như được những sáng tạo mới làm phong phú thêm
và trở thành một kho báu văn hóa cóa giá trị lớn Sự dung hòa các yếu tố văn hóa hiện tại và truyền thống sẽ làm phong phú kho tàng văn hóa nói chung và chính các giá trị văn hóa truyền thống cùng với tiến trình phát triển của nó luôn là nền tảng vẵng chắc nhất cho sự phát triển kế tiếp của các giá trị văn hóa hiện đại Chính vì lẽ đó nảy sinh ra yêu cầu phải bảo tồn các di sản văn hóa trong đời sống hiện đại
Di sản văn hóa là nguồn tài nguyên chủ yếu của du lịch Môi trường thiên nhiên và môi trường văn hóa, nhân văn có vai trò đặc biệt quan trọng đối với du lịch vì chúng chính là nguồn tài nguyên, là yếu tố cơ bản để tạo ra sản phẩm du lịch, phát triển các loại hình du lịch Ngày nay, xu hướng du lịch sinh thái, du lịch cảnh quan và du lịch văn hóa đang trở thành những loại hình
du lịch chủ yếu Trong đó di tích là mảng quan trọng của di sản văn hóa vật thể và khi đưa vào khai thác phục vụ kinh doanh du lịch thì giá trị khai thác
Trang 35không bị cạn kiệt mà ngày càng gia tăng theo thời gian Trong thực tế, nhiều
di tích sau khi được tu bổ đã thúc đẩy sự phát triển của du lịch, góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế của cư dân địa phương và mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho cộng đồng dân cư Chính vì vậy, việc bảo tồn di sản có mối quan hệ mật thiết với phát triển du lịch chứ không phải chỉ mang ý nghĩa văn hóa đơn thuần Bên cạnh đó thì du lịch cũng được coi là phương tiện để làm sống lại các giá trị của di sản và làm cho các giá trị của di sản được mọi người biết đến rộng rãi hơn
Giữa du lịch và văn hóa luôn có mối quan hệ biện chứng và trực tiếp, mối quan hệ này càng thể hiện rõ hơn trong sự liên hệ giữa việc bảo vệ và phát huy giá trị của các di tích lịch sử văn hóa – một bộ phận của tài sản văn hóa và đồng thời là một trong những bộ phận quan yếu nhất của nguồn tài nguyên du lịch
Giao lưu là một trong những thuộc tính cơ bản của văn hóa và được biểu hiện sinh động trong các di sản văn hóa mà du lịch đã, đang và sẽ góp phần không nhỏ giao lưu văn hóa Du lịch là cầu nối giữa các bộ phận dân cư thuộc các nền văn hóa khác nhau trên thế giới, dồng thời tạo lập mối quan hệ trực tiếp giữa quá khứ, hiện tại, tương lai của mỗi dân tộc
Sự phát triển của du lịch tác động trực tiếp và gián tiếp đến việc chấn hưng và bảo tồn di sản văn hóa Doanh thu từ các hoạt động du lịch được sử dụng cho việc tu bổ các di tích, chỉnh lý các bảo tàng, dồng thời khôi phục các
di sản văn hóa Du lịch góp phần làm cho các di tích sống lại vì du lịch không chỉ đưa di sản văn hóa đến với công chúng mà còn tiếp sức cho di sản bằng nguồn lợi ích mà nó khai thác từ di sản, góp phần tái tu bổ di sản Di sản là minh chứng hùng hồn cho bề dày văn hóa của mỗi quốc gia và du lịch với các hoạt động của mình sẽ góp phần quảng bá văn hóa của quốc gia đến thế giới
Trang 36Nhưng sự bùng nổ số lượng khách tham quan, sự phát triển các dịch vụ thiếu kiểm soát, sự buôn bán trái phép đồ cổ, sự mai một truyền thống do giao lưu, tiếp xúc… đang là mối nguy cơ đối với các di sản văn hóa Bởi vậy, việc bảo tồn, khôi phục, gìn giữ các tài sản quý báu đó vừa là nhu cầu tự thân, vừa
là yêu cầu bắt buộc đối với hoạt động du lịch
1.2.2.Những nguyên tắc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trong
du lịch
Bảo tồn các di sản văn hóa là một hoạt động nhằm mục đích lưu giữ, bảo vệ các di sản văn hóa đang có nguy cơ biến mất vì lý do này hay lý do khác Bảo tồn bao gồm nhiều hoạt động khác nhau như việc điều tra, nghiên cứu, bảo quản, tu bổ, phục dựng Bảo tồn được coi là một lĩnh vực khoa học chuyên ngành với những yêu cầu về kỹ năng riêng biệt Bên cạnh đó, việc bảo tồn các di sản văn hóa vật thể phải tuân thủ các nguyên tắc về việc trùng tu, tôn tạo, bảo quản
Khi bảo tồn di sản văn hóa, mỗi cá nhân, mỗi tổ chức cần phải hiểu di sản là tài sản, niềm tự hào, nền văn hóa của chính người dân sở tại Chính vì điều này mà nguyên tắc đầu tiên trong bảo tồn di sản văn hóa cần phải đảm bảo, đó là cân bằng lợi ích giữa bảo tồn văn hóa và lợi ích kinh tế
Khi gắn kết các di sản với hoạt động du lịch, không thể chỉ nhìn thấy lợi ích trước mắt là nguồn lợi ích kinh tế mà khai thác cạn kiệt các di sản văn hóa mà bỏ qua việc khai thác nên kết hợp với tái đầu tư cho hoạt động bảo tồn
và duy trì hiện trạng của các di sản Nguyên tắc này liên quan đến khâu tổ chức quản lý, khai thác sản xuất và lưu thông các sản phẩm du lịch Tại các di sản văn hóa cần hình thành bộ máy chuyên trách quản lý bảo tồn và phát huy các giá trị của các di sản
Phát triển du lịch bền vững cũng được coi là nguyên tắc đảm bảo trong bảo tồn di sản văn hóa Hiện nay, việc không tuân thủ các nguyên tắc trong
Trang 37phát triển du lịch bền vững là nguyên nhân dẫn đến việc trùng tu và phục dựng tùy tiện, thiếu khoa học, hoặc làm biến dạng, đánh mất tính nguyên gốc của các di sản Dưới tác động của xu hướng này, công tác bảo tồn di sản mang nặng tính thực dụng Còn có xu hướng “ xã hội hóa di sản” nhưng đã bị hiểu sai và tiến hành tùy tiện nên việc thực hiện giao khoán công tác bảo tồn di sản
ở các địa phương cho các hội quần chúng cơ sở, thiếu sự giám sát, không có
sự hỗ trợ của chuyên gia văn hóa đã đưa đến những hệ quả ngoài ý muốn
Di sản là những giá trị được hình thành qua quá trình lịch sử, phản ánh đời sống của cộng đồng; bao gồm những giá trị vật thể và phi vật thể Bảo tồn
di sản văn hóa là hoạt động bảo vệ, gìn giữ các giá trị đó, tránh sự mai một, xuống cấp và biến mất Phát triển, bảo tồn di sản có mục tiêu chủ yếu là tôn vinh các giá trị truyền thống, phát huy nó trong điều kiện xã hội mới Sự tách biệt giữa bảo tồn và phát huy chỉ có ý nghĩa về nhận thức, bởi nó là hai mặt của một vấn đề Sự quá đề cao mặt này hay xem nhẹ yếu tố kia đều không tốt cho công tác bảo tồn và phát huy di sản
Trong hoạt động bảo tồn thường có nhiều cấp độ khác nhau như: nguyên trạng, trùng tu, phục hồi, tái tạo… nhưng chủ yếu xoay quanh quan điểm lựa chọn “nguyên trạng” và “không nguyên trạng” Bảo tồn nguyên trạng đề cao những giá trị nguyên bản trong lưu giữ và phục hồi di sản; bảo tồn không nguyên trạng ghi nhận những giá trị đổi thay của di sản, theo hai hướng kế thừa và phát triển Mô hình “bảo tồn phát triển” đang là xu hướng được lựa chọn trong điều kiện hiện nay, gắn với chủ trương tạo sức sống, sinh khí mới cho di sản, gắn di sản với hoạt động du lịch nhằm khai thác tiềm năng Tuy nhiên, đây là xu hướng gây nhiều tranh cãi, nhiều ý kiến trái chiều trong trùng tu, phục dựng, quản lý và khai thác di sản
Có thể nói, dù với bất cứ lý do nào, việc bảo vệ, bảo tồn, tôn tạo di tích,
di sản cũng phải đảm bảo đúng nguyên tắc bảo lưu tối đa những giá trị nguyên gốc của di sản Những yêu cầu của hoạt động du lịch cũng không phải
Trang 38là trường hợp ngoại lệ Trong chính sách và chiến lược phát triển ngành Du lịch, một trong những mục tiêu phát triển được đặt ra là mục tiêu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Phát triển du lịch phải nhằm bảo vệ được những giá trị văn hóa truyền thống, góp phần chấn hưng nền văn hóa truyền thống, đậm
đà bản sắc dân tộc Mục tiêu đó được thể hiện trong các chính sách, trong các quy hoạch và trong các dự án đầu tư Vì vậy, trong khi xem xét các dự án trên, Tổng cục Du lịch cần quan tâm đến chất văn hóa trong các sản phẩm, các dự án, phải không được xâm hại, phá vỡ các giá trị văn hóa truyền thống, phải có tác động tích cực đến việc bảo tồn di tích, di sản văn hóa
Quan điểm của ngành du lịch là trong bảo tồn nên tuân thủ triệt để các quy định quốc tế và trong nước, tránh tác động nhiều vào các di tích và cố gắng duy trì, bảo quản nguyên trạng di tích như khi phát hiện là tốt nhất Đặc biệt ngày nay, khách du lịch quốc tế và ngay cả trong nước có trình độ văn hóa cao nên thường quan tâm nhiều hơn đến giá trị xác thực của di sản Những di tích còn giữ được nhiều nét nguyên bản thường có giá trị hấp dẫn nhiều hơn đối với du khách Thực tế trên thế giới cũng có nhiều trường hợp các di sản là những di tích đổ nát nhưng vẫn hấp dẫn du khách, cho dù chủ sở hữu hoàn toàn có thể làm lại y như nguyên bản, như đền thờ Acropol ở Hy Lạp là một ví dụ, hoặc đấu trường Coliseum ở Lã Mã cũng vậy
1.2.3.Những phương pháp bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trong
du lịch
Du lịch văn hóa đang trở thành xu thế chủ đạo trong việc phát triển du lịch nhằm khai thác tiềm năng di sản văn hóa Đối với một quốc gia nhiều tiềm năng di sản như Việt Nam, sự nhận thức đúng về mối quan hệ giữa di sản văn hóa và hoạt động du lịch, sẽ tạo nên sự tương tác tích cực giữa bảo tồn và phát triển, văn hóa và du lịch trong phát triển bền vững Khai thác
và phát huy di sản văn hóa phải được coi là nguồn tài nguyên tạo nền móng
Trang 39cho hoạt động du lịch phát triển bền vững Chính vì vậy, bảo tồn và phát huy giá trị di sản phải gắn với phát triển du lịch bền vững, vừa đảm bảo lợi ích kinh tế - xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống
Di sản văn hóa dù là hình thức gì đi nữa cũng là niềm tự hào của người dân địa phương, gắn liền với cộng đồng cư dân địa phương Vì thế, để bảo tồn
và phát huy giá trị của các di sản một cách tốt nhất cần phải có sự tham gia của cộng đồng trong kinh doanh du lịch và bảo tồn di sản văn hóa Ngoài ra, cần tăng cường cho người dân địa phương nhận thức về di sản văn hóa
Sự tham gia của cộng đồng dân cư trong kinh doanh du lịch và bảo tồn
di sản là rất quan trọng, nó được thể hiện ở việc cư dân địa phương được tham gia vào các hoạt động kinh doanh du lịch như cung cấp các dịch vụ ăn uống, lưu trú, bán hàng lưu niệm, các sản vật địa phương cho du khách để thu lợi nhuận và được chia sẻ các quyền lợi khác từ hoạt động du lịch như việc đón khách tại các ngôi nhà cổ, công ty du lịch và người dân đều được lợi Từ đó,
cư dân địa phương có ý thức bảo vệ các di sản văn hóa và có trách nhiệm bảo tồn các di sản văn hóa hơn
Muốn bảo tồn và phát huy được giá trị của các di sản một cách tốt nhất trước hết phải tập trung vào việc nhận thức cộng đồng, phải để họ hiểu một cách sâu sắc giá trị của di sản mà mình đang nắm giữ và khả năng khai thác của di sản đó Muốn nâng cao ý thức của cộng đồng về bảo tồn di sản trước hết cần thông qua các hoạt động tuyên truyền của địa phương phối hợp với các tổ chức, đơn vị chức năng, sau đó là sự vận động của các cấp quản lý Việc tăng cường nhận thức của người dân địa phương không chỉ dừng lại ở việc tuyên truyền mà cần phải có các chương trình giáo dục nhận thức về di sản cụ thể Con người được coi là trung tâm của quá trình phát triển Và do
đó, di sản văn hóa phải được gắn với con người và cộng đồng cư dân địa
Trang 40phương (với tư cách là chủ thể sáng tạo văn hóa và chủ sở hữu tài sản văn hóa), coi việc đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa lành mạnh của đông đảo công chúng trong xã hội là mục tiêu hành động
Ngoài ra, cần phải quan tâm xây dựng nội dung giới thiệu giá trị các di sản, bảo vệ, tôn tạo di sản phải nhằm mục đích giới thiệu di sản đến với công chúng Do vậy cần phải chuẩn bị tốt nội dung giới thiệu về di sản Đây cũng
là yêu cầu của phục vụ phát triển du lịch Trong quy hoạch tổng thể bảo tồn
và phát huy giá trị di sản văn hóa đến 2020 của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch cũng đã nêu rõ về vấn đề này Trong phần định hướng cụ thể, mục 2.1.4
đã nêu rõ: “Ưu tiên cho công tác tư liệu hóa qua việc xây dựng hồ sơ khoa học, phim, ảnh tư liệu hoặc hình thức ghi nhận sự kiện bằng bia, đài kỷ niệm” Nội dung giới thiệu cho du khách không cần thiết phải thật sự chi tiết, nhưng phải đầy đủ và chọn lọc, và cũng có thể sử dụng những hình thức giới thiệu đa dạng khác Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay, việc chuẩn bị nội dung giới thiệu
về giá trị của các di sản cho khách du lịch vẫn còn nhiều bất cập
1.2.4.Vấn đề tổ chức quản lý du lịch góp phần bảo tồn và phát huy
di sản văn hóa
Công tác quản lý nhà nước về du lịch cần phải được quan tâm chỉ đạo
để hoàn thiện, đổi mới từng bước, vừa là để có những chính sách, chiến lược đúng đắn cho phát triển du lịch văn hóa nhưng lại vừa góp phần vào bảo tồn các giá trị văn hóa, các tài nguyên di sản văn hóa nhằm để khai thác các tài nguyên đó một cách lâu dài và bền vững, cụ thể:
- Đối với công tác quản lý du lịch cấp TW: Tổ chức lại bộ máy quản lý nhà nước về du lịch Ngành trong điều kiện ngành du lịch sát nhập về với ngành văn hóa và Hà Tây sát nhập về Hà Nội Cho đến nay bộ máy quản lý nhà nước về du lịch của Hà Nội đã ngày được kiện toàn và phát huy tốt vai trò tham mưu Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố về chiến lược phát triển du