1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Du lịch Khánh Hòa tiềm năng, thực trạng và giải pháp

125 4,5K 24

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hình thành một số trung tâm dịch vụ, du lịch có tầm cỡ khu vực và quốc tế, đa dạng hóa sản phẩm và các loại hình du lịch, nâng cao chất lượng để đạt tiêu chuẩn quốc tế”[75] Sự tăng trưởn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài 1

3 Phạm vi nghiên cứu 2

7 Cấu trúc luận văn 7

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 8

1.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng tới phát triển du lịch 16

1.1.4.1 Nhóm chỉ tiêu đánh giá nguồn lực phát triển du lịch 24

1.1.4.2 Nhóm chỉ tiêu đánh giá thực trạng phát triển du lịch 25

1.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển du lịch 28

1.2.1.5.Xúc tiến quảng bá, phát triển sản phẩm du lịch 32

1.2.2 Thực tiễn phát triển du lịch vùng du lịch duyên hải Nam Trung Bộ 32

Trang 3

Chương 2 TIỀM NĂNG & THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA TỈNH

2.1.4.1.Chính sách phát triển du lịch 61 2.1.4.2 Tình hình phát triển kinh tế –xã hội 62

2.2.2 Vị trí của du lịch Khánh Hòa trong nền kinh tế của Tỉnh 64

Trang 4

Tiểu kết chương 2 82

Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA TỈNH

3.1.1 Định hướng chung 83

3.1.1.1.Quan điểm và mục tiêu phát triển du lịch tỉnh Khánh Hòa tới năm 2020 và tầm nhìn đến đến năm 2030 83 3.1.2.Căn cứ của định hướng 86 3.1.3 Định hướng cụ thể 87 3.1.3.1 Theo ngành 87 3.1.2.2 Theo lãnh thổ 95 3.2 Các giải pháp phát triển du lịch Khánh Hòa đến năm 2020, tầm nhìn đến Năm 2030 102

3.2.1 Nhóm một số giải pháp chung phát triển du lịch Khánh Hòa 102

3.2.1.1 Giải pháp về công tác quy hoạch du lịch 102

3.2.1.2.Giải pháp đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch 102

3.2.1.3.Giải pháp tăng cường công tác xúc tiến quảng bá du lịch, hợp tác liên kết vùng ,tìm kiếm và mở rộng thị trường 103

3.2.1.4.Giải pháp về đào tạo phát triển nguồn nhân lực 105

3.2.1.5 Giải pháp bảo vệ tài nguyên du lịch và phát triển bền vững 106 3.2.1.6.Giải pháp về đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng KHCN và hợp tác quốc tế 107 3.2.1.7 Giải pháp về công tác tổ chức quản lý 108 3.2.1.8 Giải pháp về thu hút vốn đầu tư phát triển du lịch 108

3.2.2.Nhóm giải pháp hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa 109 3.2.2.1.Giải pháp chủ động nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường 109

3.2.2.2.Giải pháp tăng cường xã hội hóa phát triển du lịch 109

3.2.2.3 Giải pháp về liên kết cộng đồng địa phương 110

3.2.2.4 Giải pháp về tăng cường quảng cáo, khuyến mại 110

Trang 5

Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới (International Union for conservation of Nature) Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product) Hội đồng nhân dân

Khu nghỉ mát Quốc lộ Hội họp-Khen thưởng-Hội nghị/Hội thảo-Sự kiện/Hội chợ (Meetings-Incentives-Congresses/Conventions-Events/Exhibition) Chất rắn lơ lửng

Tổ chức lãnh thổ

Tổ chức lãnh thổ du lịch Tài nguyên du lịch Thành phố

Thị xã

Tổ chức du lịch thế giới (United Nations World Tourism Organization)

Ủy ban nhân dân

Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization) Vùng du lịch Nam Trung bộ

Sở VH-TT&DL: Sở Văn hóa , thể thao & du lịch

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1.Chỉ tiêu số lượng khách du lịch cả nước giai đoạn 2000 -2011 30

Bảng 1.2 Đóng góp du lịch vào GDP cả nước giai đoạn 2000 -2010 31 Bảng 1.3 Số lao động trong ngành du lịch Việt Nam giai đoạn 2000 -2010 32 Bảng 1.4 Khách du lịch đến vùng DH Nam Trung Bộ giai đoạn 2000 -2010 34 Bảng 1.5 Số lao động trong ngành du lịch vùng DHNTB giai đoạn 2000 -2010 35

Bảng 2.1 Số lượng di tích cấp tỉnh phân theo đơn vị hành chính huyện của

tỉnh Khánh Hòa 50

Bảng 2.2 Di tích lịch sử văn hóa, thắng cảnh được xếp hạng quốc gia của

Bảng2.3: Quy mô và cơ cấu GDP tỉnh Khánh Hòa phân theo ngành kinh tế

giai đoạn 2000 – 2010 (Giá thực tế) 64 Bảng 2.4 Lượng khách du lịch đến Khánh Hòa thời kỳ 2000 -2011 66

Bảng 2.5 So sánh lượng khách du lịch đến Khánh Hòa với các tỉnh lân cận 68

Bảng 2.6 Doanh thu ngành du lịch Khánh Hòa thời kỳ 2000 – 2011 69 Bảng 2.7 Hiện trạng cơ sở lưu trú của Khánh Hòa giai đoạn 2000 – 2011 70

Bảng 2.8 Số lao động trong ngành du lịch Khánh Hòa giai đoạn 2000 -2010 71

Bảng 3.1 Dự báo khách du lịch đến Khánh Hoà 87

Bảng 3.2 Dự kiến chi tiêu trung bình mỗi ngày của một du khách đến

Bảng 3.3 Dự báo cơ cấu chi tiêu của khách du lịch 88

Bảng 3.4 Dự báo thu nhập du lịch của tỉnh Khánh Hoà 89

Bảng 3.5 Dự báo chỉ tiêu GDP và vốn đầu tư cho du lịch tỉnh Khánh Hòa 90

Bảng 3.6 Dự báo nhu cầu phòng lưu trú của du lịch Khánh Hòa 91

Bảng 3.7 Dự báo nhu cầu lao động trong du lịch của Khánh Hòa 92

Bảng 3.8 Dự báo khách, nhu cầu vốn đầu tư du lịch của các cụm du lịch 101

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

1 Biểu đồ 1.1: Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 2000 – 2010 29

2 Biểu đồ 1.2: Khách du lịch nội địa giai đoạn 2000 – 2010 30

DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ

1 Bản đồ hành chính tỉnh Khánh Hòa 38

2 Bản đồ tài nguyên du lịch tỉnh Khánh Hòa 41

3 Bản đồ thực trạng hoạt động du lịch tỉnh Khánh Hòa 64

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Qua hơn 52 năm hình thành và phát triển, đến nay du lịch Việt Nam đã có những thành công nhất định và trở thành ngành kinh tế có vị trí khá quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, năm 2011 mang lại nguồn thu trên 6,2 tỷ USD/năm, góp phần không nhỏ vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội của nước ta Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định: “tập trung phát triển một số ngành dịch

vụ có lợi thế, có hàm lượng tri thức và công nghệ cao như du lịch, hàng hải, hàng không, viễn thông, công nghệ thông tin, y tế Hình thành một số trung tâm dịch vụ,

du lịch có tầm cỡ khu vực và quốc tế, đa dạng hóa sản phẩm và các loại hình du lịch, nâng cao chất lượng để đạt tiêu chuẩn quốc tế”[75]

Sự tăng trưởng nhanh chóng của ngành du lịch trong thời gian qua đã góp phần làm tăng tỷ trọng GDP trong ngành dịch vụ, tăng thu ngoại tệ, tạo thêm nhiều việc làm, xóa đói giảm nghèo, khôi phục nhiều ngành nghề, làng nghề truyền thống, truyền thống văn hóa, bộ mặt đô thị nhiều địa phương được tô điểm ngày càng đẹp hơn đã tác động tổng hợp đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy nhiều ngành kinh tế khác phát triển, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của nhiều vùng, địa phương trong cả nước

Khánh Hòa là một tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ, hội đủ các dạng địa hình cơ bản:vùng núi bán sơn địa, đồng bằng duyên hải, biển, bờ biển và các đảo, quần đảo Khánh Hòa như hình ảnh của đất nước Việt Nam thu nhỏ, có rừng núi, đồng bằng, miền ven biển duyên hải Đặc biệt với đường bờ biển dài 385km, với nhiều bãi tắm đẹp, cùng nhiều cảnh đẹp và truyền thống văn hóa lâu đời, đã đem lại cho Khánh Hòa một tiềm năng to lớn để phát triển dịch vụ,du lịch Tuy nhiên, trong những năm qua, sự phát triển du lịch Khánh Hòa vẫn chưa tương xứng với tiềm năng hiện có và đang đứng trước những thách thức mới Đó là việc khai thác, quản lý các nguồn tài nguyên du lịch, sản phẩm còn đơn điệu, chất lượng còn nhiều hạn chế Điều đó làm ảnh hưởng đến thương hiệu, doanh thu du lịch và sức thu hút du khách đến với Khánh Hòa, nhất là khách du lịch quốc tế

Xuất phát từ những thực tiễn đó và để hiểu thêm điều kiện, khả năng, thực

trạng du lịch của tỉnh Khánh Hòa, tôi đã lựa chọn đề tài “Du lịch Khánh Hòa tiềm năng, thực trạng và giải pháp” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình với mong muốn

đánh thức được tiềm năng, tìm được hướng đi mới cho ngành du lịch Khánh Hòa trong xu thế hội nhập giữa các vùng, các khu vực và quốc tế

2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

*Mục tiêu:

Trên cơ sở vận dụng lí luận và thực tiễn phát triển du lịch của thế giới và Việt Nam, luận văn tập trung đánh giá các tiềm năng và phân tích thực trạng phát

Trang 8

triển du lịch của tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2000 -2010 Từ đó đề xuất các giải pháp phát triển đến năm 2015và tầm nhìn đến năm 2030 nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng phong phú và đa dạng của du lịch Khánh Hòa, hướng đến mục tiêu phát triển

có hiệu quả và bền vững

* Nhiệm vụ của đề tài luận văn:

- Tổng quan những vấn đề lí luận và cơ sở thực tiễn về pht triển du lịch của thế giới và ở Việt Nam để vận dụng vào nghiên cứu tại địa bàn tỉnh Khánh Hòa

- Kiểm kê, đánh giá tiềm năng du lịch ở các địa phương tỉnh Khánh Hòa và phân tích thực trạng phát triển du lịch của tỉnh giai đoạn 2000 -2010 Từ đó làm sáng tỏ những lợi thế so sánh và hạn chế đối với việc tổ chức và phát triển du lịch của tỉnh

- Đề xuất các giải pháp khả thi phát triển du lịch đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2030 nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng và tài nguyên du lịch của tỉnh Khánh Hòa

3 Phạm vi nghiên cứu

*Về nội dung

Đề tài tập trung đánh giá tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng, các điều kiện phát triển du lịch và thực trạng hoạt động du lịch theo hai khía cạnh ngành và lãnh thổ(các tuyến, điểm, cụm, khu du lịch và trung tâm du lịch của tỉnh Khánh Hòa)

độ khác nhau

Trang 9

Theo Nguyễn Minh Tuệ [55], những nghiên cứu đầu tiên của các nhà địa lí du lịch được tiến hành ở Đức từ năm 1930 Tiếp đó là các công trình đánh giá các tổng thể tự nhiên phục vụ giải trí của Mukhina(1973), nghiên cứu sức chứa và sự ổn định của các điểm du lịch của Khadaxkia (1972) và Sepfer(1973), các nhà địa lý và cảnh quan học của của trường Đại học tổng hợp Matxco7va như E.D Xmirnova, V.B.Nhefedova …đã nghiên cứu các vùng cho mục đích nghỉ dưỡng trên lãnh thổ Liên Xô (cũ) Các nhà nghiên cứu Tiệp Khắc như Mariot(1971), Salavikova(1973)

đã tiến hành đánh giá và thành lập bản đồ tài nguyên du lịch nhân văn Ngoài ra các nhà địa lý Mỹ như Bo6hart(1971) và nhà địa lý Anh như H.Robinson(1976)…cũng

đã tiến hành đánh giá các loại tài nguyên thiên nhiên phục vụ mục đích du lịch Bên cạnh đó những nhà khoa học người Ba Lan như Kostroviky (1970), Vacdunxka (1973) đã xác định dung lượng tối ưu khách du lịch cho một lãnh thổ

Tóm lại, nhiều nhà địa lí du lịch đã xác định đối tượng nghiên cứu của địa lí

du lịch là hệ thống lãnh thổ hoặc thể tổng hợp lãnh thổ du lịch Như vậy, đã xác định các hệ thống địa bàn phát triển du lịch trên lãnh thổ và phân tích cơ cấu tổng hợp các yếu tố trên địa bàn để phát triển du lịch

Ở Việt Nam

Lịch sử ngành du lịch Việt Nam được đánh dấu từ năm 1960, từ đó đến nay các công trình nghiên cứu về địa lý du lịch nhìn chung chưa nhiều Phần lớn tập trung các vấn đề về tổ chức lãnh thổ không gian du lịch Qua đó làm sáng tỏ được nhiều vấn đề từ cơ sở lý luận đến thực tiễn trong nghiên cứu tài nguyên và sử dụng lãnh thổ du lịch, từ quy mô lãnh thổ cấp huyện, tỉnh, vùng đến cả nước.Nhiều công trình nghiên cứu có giá trị đến lĩnh vực này được thực hiện như:

Đề tài: “Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam” của Viện nghiên cứu phát triển du lịch do Vũ Tuấn Cảnh làm chủ nhiệm (1991).” Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam 1995 – 2010” của Viện nghiên cứu phát triển du lịch (1994).” Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng du lịch Bắc Bộ, vùng du lịch Bắc Trung Bộ, vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020”, Viện nghiên cứu phát triển du lịch (2000) “Cơ sở lý luận phương pháp nghiên cứu các điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch biển Việt Nam” do Nguyễn Trần Cầu và Lê Thông chủ trì (1993); “Quy hoạch quốc gia và vùng, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ” do Vũ Tuấn Cảnh và Lê Thông (1994); “Địa lí

du lịch Việt Nam” – Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên) (2010); “Tổ chức lãnh thổ du lịch” – Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ (1999); “Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam” do Phạm Trung Lương chủ biên (2000)…

Nhiều địa phương cũng có triển khai xây dựng quy hoạch tổng thể cho phát triển du lịch như :Lạng Sơn, Hải Phòng, Hà Nội, Bình Định, Khánh Hòa, Lâm

Đồng, Bà Rịa - Vũng Tàu, TP.Hồ Chí Minh…Ngoài ra, còn có nhiều công trình

Trang 10

nghiên cứu, một số dự án, đề tài cấp Nhà nước, các báo cáo trong các cuộc hội thảo

về du lịch của Việt Nam Dưới góc độ địa lí học, ở trình độ thạc sĩ cũng có nhiều luận văn nghiên cứu theo hướng này

Ở Khánh Hòa

Đối với tỉnh Khánh Hòa, trong những năm gần đây, khi du lịch được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, hàng loạt các công trình nghiên cứu đã được tiến hành Tuy vậy, các công trình này chỉ tập trung giới thiệu các điểm du lịch giàu tiềm năng và những định hướng cho quy hoạch phát triển Sau đây là một

số công trình nghiên cứu có giá trị: “ Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hòa đến năm 2020”, Sở Kế hoạch - Đầu tư Khánh Hòa (2005).” Chương trình phát triển du lịch Khánh Hòa giai đoạn 2001- 2005 và 2006 – 2010”, UBND tỉnh (2001) và Sở Du lịch - Thương mại Khánh Hòa (2006) Quy hoạch tổng thể Du lịch tỉnh Khánh Hòa 2001 - 2020 (2001), điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Khánh Hòa đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 (2006),

Sở Du lịch - Thương mại Khánh Hòa

Nhìn một cách tổng thể, kể từ cuối thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay, các công trình nghiên cứu ở Việt Nam nói chung và tỉnh Khánh Hòa nói riêng đã đề cập đến rất nhiều khía cạnh của phát triển du lịch Tuy nhiên, dưới góc độ kinh tế du lịch, vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ sự phát triển của du lịch Khánh Hòa Việc nghiên cứu đánh giá tổng quan hoạt động du lịch tỉnh Khánh Hòa mà đặc biệt là phân tích tiềm năng, thực trạng hoạt động du lịch và đề xuất các giải pháp tối ưu nhằm khai thác hiệu quả du lịch Khánh Hòa hầu như chưa được nghiên cứu đầy đủ và cập nhật

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Những quan điểm chủ yếu

-Quan điểm hệ thống

Đây là quan điểm được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu du lịch Theo quan điểm này, mỗi đối tượng nghiên cứu được coi là một hệ thống, có nhiều yếu tố cấu thành và có mối liên hệ mật thiết với nhau Khi nghiên cứu đối tượng phải đặt nó trong mối tương quan với đối tượng khác, với các cấp phân vị cao thấp khách nhau Với ý nghĩa đó, đề tài xác định du lịch Khánh Hòa là một bộ phận của hệ thống du lịch cao hơn, là một mắt xích trong vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ, cũng như hệ thống du lịch của cả nước Đồng thời, nó bao gồm các cấp phân vị thấp hơn

là các điểm, tuyến, cụm, khu du lịch Chỉ cần một thay đổi nhỏ của các phân hệ sẽ tác động đến hoạt động, phát triển chung của toàn hệ thống

-Quan điểm tổng hợp

Xuất phát từ chỗ coi hệ thống lãnh thổ du lịch là một hệ thống xã hội, được thành tạo bởi nhiều thành tố tự nhiên, văn hóa, lịch sử, con người có quan hệ mật thiết và

Trang 11

gắn bó với nhau một cách hoàn chỉnh theo từng phân công chức năng Quan điểm này được vận dụng trong đề tài nhằm:

- Nghiên cứu một cách tổng hợp các nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn ảnh hưởng đến sự phát triển của du lịch tỉnh Khánh Hòa

- Nghiên cứu sự kết hợp có quy luật của các hợp phần trên cơ sở phân tích tổng hợp các hợp phần đó của hệ thống lãnh thổ du lịch, từ đó có thể nhìn nhận, đánh giá các đối tượng du lịch một cách đồng bộ, đạt được những giá trị về mặt kinh tế –xã hội

và môi trường

-Quan điểm phát triển bền vững

Quan điểm này đòi hỏi sự phát triển phải đạt được sự bền vững về ba mặt: Kinh tế,xã hội và môi trường Theo đó việc khai thác các nguồn tài nguyên du lịch, tổ chức hoạt động du lịch chắc chắn sẽ dẫn đến sự tác động nhiều mặt cả tích cực lẫn tiêu cực đến môi truờng tự nhiên cũng như môi trường xã hội nhân văn Do đó, cần

có những biện pháp tổ chức, quản lý chặt chẽ để ngăn ngừa những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường tự nhiên –văn hóa-xã hội của địa bàn tỉnh Khánh Hòa

-Quan điểm lãnh thổ

Quan điểm lãnh thổ cho rằng các đối tượng nghiên cứu được phân bố trên phạm vi không gian lãnh thổ nhất định và có đặc điểm riêng Xem xét hoạt động du lịch trong mối quan hệ với đặc điểm lãnh thổ nhằm khái quát được đặc trưng của du lịch trên từng địa bàn nghiên cứu Và để mang lại hiệu quả tổ chức kinh doanh du lịch, cần tìm ra sự khac biệt trong từng đơn vị lãnh thổ từ đó tạo ra được sản phẩm

du lịch đặc trưng, khai thác thế mạnh, khắc phục những hạn chế

-Quan điểm lịch sử và viễn cảnh

Mỗi một hiện tượng địa lí kinh tế - xã hội nói chung và địa lí du lịch nói riêng đều tồn tại trong một thời gian nhất định, nghĩa là có quá trình phát sinh, phát triển

và suy vong Nghệ An là mảnh đất có nền văn hóa bản địa đặc sắc được hình thành lâu đời, cùng với truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường và nét độc đáo của thiên nhiên tạo cho vùng đất này một giá trị riêng Các đặc điểm này được khai thác phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và ngành du lịch của tỉnh Nghệ

An nói riêng Sử dụng quan điểm lịch sử, viễn cảnh để tìm hiểu quá trình khai thác, thực trạng phát triển của hoạt động du lịch tỉnh nhà; từ đó nhằm tiếp tục kế thừa, phát huy những thành quả, rút ra bài học kinh nghiệm và có kế hoạch phát triển

trong tương lai

Ngoài ba quan điểm chủ đạo trên, trong đề tài còn đề cập một số quan điểm khác như quan điểm kinh tế, quan điểm sinh thái, quan điểm dự báo

Các phương pháp nghiên cứu chính

-Phương pháp thu thập, xử lí phân tích tài liệu

Trang 12

Phương pháp này cho phéo kế thừa, tích lũy thành tựu của quá khứ Đây là phương pháp được sử dụng hầu như xuyên suốt trong đề tài, bao gồm hai giai đoạn: thu thập tài liệu và xử lí tài liệu Nguồn tài liệu được sử dụng trong đề tài có thể gồm các dạng: tài liệu chuyên khảo, các văn bản pháp luật, nghị quyết, nghị định; số liệu thống kê từ các cơ quan ban ngành; một số luận văn, luận án, đề tài nghiên cứu của các tác giả đi trước; và một số trang báo điện tử Kết quả của quá trình thu thập và xử lí tài liệu sẽ ảnh hưởng đến kết quả của quá trình nghiên cứu, tính chính xác và tính khoa học của đề tài

-Phương pháp thực địa

Sử dụng phương pháp này để có được cái nhìn trực quan, xác thực và toàn diện về vấn đề; tránh được những kết luận chủ quan, thiếu cơ sở thực tiễn và có cơ hội để so sánh, kiểm chứng độ chính xác của những tư liệu thu thập trong phòng Quá trình thực hiện đề tài đòi hỏi phải tiến hành nhiều đợt thực địa đến các tuyến, điểm du lịch Trong đó, lựa chọn một số điểm du lịch gần địa bàn thành phố, một số điểm ở các huyện vùng xa; một số điểm du lịch đã được khai thác và một số điểm tiềm năng Đồng thời, trực tiếp gặp gỡ thu thập thông tin, kiến thức không có trên sách vở từ người dân bản địa, các cơ quan ban ngành

-Phương pháp điều tra xã hội học

Phương pháp điều tra xã hội học bao gồm ba hình thức: phỏng vấn trực tiếp cá nhân, đơn vị; phỏng vấn qua điện thoại và phỏng vấn bằng phiếu điều tra Trong quá trình nghiên cứu, hình thức thứ ba được chúng tôi áp dụng nhiều nhất do có nhiều ưu điểm như: tiết kiệm chi phí, không qua khâu trung gian nên những câu trả lời là chắc chắn và xác thực, đặc biệt là những vấn đề tế nhị

-Phương pháp dự báo

Với đề tài nghiên cứu sự phát triển du lịch cần có những dự báo về thị trường khách như số lượng, chất lượng khách…; về nhu cầu của thị trường cũng như dự báo các chỉ tiêu phát triển du lịch của địa bàn nghiên cứu trong tương lai để phù hợp với xu thế phát triển du lịch trong nước và thế giới

-Phương pháp bản đồ - GIS

Với đặc thù là môn khoa học nghiên cứu khía cạnh lãnh thổ của các đối tượng địa lí và du lịch, phương pháp bản đồ cho ta thấy sự phân bố không gian của đối tượng Có thể nói, bản đồ là điểm khởi đầu và kết thúc của hoạt động nghiên cứu; cho phép khai thác thông tin trên hệ thống bản đồ đã được xây dựng và tiến

Trang 13

hành thể hiện các kết quả nghiên cứu lên bản đồ Theo mục tiêu nghiên cứu, đề tài

sẽ xây dựng hệ thống các bản đồ tài nguyên, bản đồ thực trạng tỉnh Khánh Hòa Và

để có được kết quả nhanh và chính xác, với sự hỗ trợ đắc lực của kỹ thuật máy tính,

đề tài đã sử dụng GIS để xây dựng hệ thống bản đồ

6.Những đóng góp chính của đề tài

-Tổng quan và hệ thống hóa vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch trên cơ sở đó vận dụng vào nghiên cứu cụ thể trên địa bàn của tỉnh Khánh Hòa

-Phân tích, đánh giá tiềm năng và đưa ra bức tranh về thực trạng hoạt động

du lịch của tỉnh Khánh Hòa Trên cơ sở đó tìm ra những mặt thuận lợi và khó khăn liên quan đến sự phát triển du lịch của tỉnh Khánh Hòa hiện nay

-Đề xuất được những giải pháp cụ thể nhằm mục đích góp phần vào việc khai thác tài nguyên để phát triển du lịch tỉnh Khánh Hòa hiệu quả và bền vững

7.Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, các bảng biểu, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, cụ thể như sau:

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển du lịch

Chương 2 Tiềm năng, thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Khánh Hòa

Chương 3 Định hướng và giải pháp phát triển du lịch của tỉnh Khánh Hòa đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2030

Trang 14

với tốc độ rất nhanh, nhưng cho đến nay, khái niệm “du lịch” vẫn chưa được thể

hiện thống nhất trên toàn thế giới Do hoàn cảnh (thời gian, khu vực) và dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi người có một cách hiểu riêng về du lịch Đúng như Giáo sư, Tiến sĩ Berneker -một chuyên gia về du lịch đã nhận định: “Đối với du lịch, có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa” [43, 55]

Thuật ngữ “du lịch” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp với ý nghĩa là đi một vòng

Thuật ngữ này được La Tinh hóa thành tornus và sau đó thành tourisme (tiếng Pháp), tourism (tiếng Anh) – xuất hiện khoảng năm 1800, mypuzm (tiếng Nga) Trong tiếng Việt, thuật ngữ tourism được dịch thông qua tiếng Hán: Du có nghĩa là

đi chơi, lịch có nghĩa là từng trải Tuy nhiên, người Trung Quốc gọi tourism là du lãm với ý nghĩa đi chơi để nâng cao nhận thức [40]

Về khái niệm, có thể thấy sự biến đổi nhận thức thông qua một số khái niệm

du lịch tiêu biểu sau đây:

Theo UNWTO: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ” [40, 54]

Theo Nguyễn Cao Thường và Tô Đăng Hải: “Du lịch là một ngành kinh tế xã hội, dịch vụ, có nhiệm vụ phục vụ nhu cầu tham quan, giải trí nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác” [trích dẫn theo Trần Đức Thanh 1998]

Năm 1930, Glusman (Thụy Sĩ) định nghĩa: Du lịch là sự chinh phục không gian của những người hướng đến những điểm nhất định nhưng không phải là nơi ở thường xuyên của họ Cho rằng du lịch không chỉ là hiện tượng di chuyển của cư

dân mà phải là tất cả những gì có liên quan đế sự di chuyển đó Năm 1941,

Hunziker và Kraff (Thụy Sĩ) cho rằng: Du lịch là tập hợp các mối quan hệ và hiện tượng bắt nguồn từ cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của các cá nhân tại những nơi không phải là nơi ở và nơi làm việc thường xuyên của họ [40]

Trang 15

Theo Michael Coltman (Mỹ): “Du lịch là sự kết hợp và tương tác của 4 nhĩm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách bao gồm: du khách, nhà cung ứng dịch vụ

du lịch, cư dân sở tại và chính quyền nơi đĩn khách du lịch”[55]

Cĩ thể thể hiện mối quan hệ đĩ bằng sơ đồ sau:

(Nguồn: [15])

Dưới con mắt các nhà kinh tế, du lịch khơng chỉ là một hiện tượng xã hội đơn thuần mà nĩ phải gắn chặt với hoạt động kinh tế Tuy nhiên mỗi học giả cĩ những nhận định khác nhau Các nhà kinh tế du lịch thuộc trường Đại học Kinh tế Praha (Cộng hịa Séc) mà đại diện là Mariot coi : “du lịch là tổng hợp các hoạt động

kĩ thuật, kinh tế và tổ chức liên quan đến cuộc hành trình của con người và việc lưu trú của họ ở ngồi nơi ở thường xuyên với nhiều mục đích khác nhau loại trừ mục đích hành nghề và thăm viếng cĩ tổ chức thường xuyên”

Theo hội đồng trung ương về du lịch của Cộng hịa Pháp 1978, tiêu chí chính

để phân biệt giữa hoạt động du lịch và hoạt động giải trí đơn thuần là di chuyển từ

24 tiếng trở lên và động cơ tìm sự vui vẻ Ở đây du lịch là khái niệm thiên về tiếp cận kinh tế, cịn nếu thiên về tiếp cận xã hội thì sẽ cĩ khái niệm giải trí

Gần đây hơn, trong “Cơ sở địa lí du lịch và dịch vụ tham quan”, với một nội dung chi tiết, nhà đia lí người Bêlarut – Pirojnik đã đưa ra một khái niệm khá hồn

thiện: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian nhàn rỗi liên quan với sự di chuyển và cư trú tạm thời bên ngồi nơi thường trú nhằm mục đích nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức, văn hĩa hoặc thể thao, kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hĩa và dịch vụ”.[55]

Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005) “Du lịch là các hoạt động cĩ liên quan đến chuyến đi của con người ngồi nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [20]

Như vậy, cĩ thể thấy sự biến đổi trong nhận thức về nội dung bản chất của thuật ngữ du lịch Tựu chung lại, du lịch là một khái niệm bao hàm nội dung kép Một mặt mang ý nghĩa thơng thường là hiện tượng xã hội chỉ việc đi lại của con người với mục đích nghỉ ngơi, giải trí… Mặt khác, du lịch được nhìn nhận như là hoạt động gắn chặt với kết quả kinh tế - sản xuất, tiêu thụ do chính nĩ tạo ra

Du khách dịch vụ du lịch Nhà cung ứng

Dân cư sở tại Chính quyền địa phương nơi đĩn

khách du lịch

Trang 16

b Khách du lịch

Khái niệm “Khách du lịch” hay “Du khách”, xuất hiện lần đầu tiên tại Pháp

vào cuối thế kỉ XVIII Tới nay đã có hàng trăm định nghĩa khác nhau về khách du lịch Theo tổ chức Du lịch thế giới, khách du lịch là những người có các đặc trưng:

- Là người đi khỏi nơi cư trú của mình

- Không theo đuổi mục đích kinh tế

- Đi khỏi nơi cư trú từ 24 giờ trở lên

Điểm chung nhất đối với các nước trong cách hiểu khái niệm về khách du lịch là: Khách du lịch là những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình đến một nơi nào đó, quay trở lại với mục đích khác nhau, loại trừ mục đích làm công và nhận thù lao ở nơi đến; có thời gian lưu lại ở nơi đến từ 24 giờ trở lên (hoặc có sử dụng dịch vụ lưu trú qua đêm) nhưng không quá thời gian một năm Khách du lịch

là những người tạm thời ở tại nơi họ đến du lịch với các mục tiêu như nghỉ ngơi, kinh doanh, hội nghị hoặc thăm gia đình

Khách du lịch được phân chia làm 2 nhóm cơ bản: khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa

* Khách du lịch quốc tế

Tại hội nghị Liên hiệp quốc về du lịch được tổ chức ở Roma (Ý) năm 1963, Ủy

ban thống kê của Liên hợp quốc đưa ra khái niệm khách du lịch quốc tế: là người thăm viếng một số nước khác ngoài nơi cư trú của mình với bất kỳ lí do nào ngoài mục đích hành nghề để nhận thu nhập từ nước được viếng thăm

Khái niệm khách viếng thăm quốc tế bao gồm hai thành phần: khách du lịch quốc tế (International tourist) – là người lưu lại tạm thời ở nước ngoài và sống ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ trong thời gian ít nhất là 24 giờ (hoặc sử dụng ít nhất một tối trọ) Và khách tham quan quốc tế (International excursionist) – là người lưu lại tạm thời ở nước ngoài và sống ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ trong thời gian ít hơn 24 giờ (hoặc là không sử dụng một tối trọ nào)

* Khách du lịch nội địa:

Định nghĩa khách du lịch nội địa sớm nhất được nêu ra vào năm 1957 và 1958 Lúc bấy giờ cuộc hội thảo di Cục du lịch của chính phủ Canada cùng Hội liên hợp

tổ chức du lịch chính phủ quốc tế cùng triệu tập và hội nghị của nhóm chuyên gia

thống kê du lịch tổ chức ở Madrid quy định khách nội địa là: “Bất cứ ai cư trú ở một nước (không xét tới quốc tịch) tới một nơi nào đó ngoài nơi người đó cư trú ở trong nước người đó để tiến hành du lịch không dưới 24 giờ hoặc không dưới một đêm, mà mục đích lữ hành không phải là các hoạt động thăm viếng theo đuổi để có thù lao”[40] Tuy nhiên, khái niệm khách du lịch nội địa được xác định không

giống nhau ở các nước khác nhau về khoảng cách chuyến đi và thời gian lưu trú

Trang 17

Căn cứ theo Luật Du lịch Việt Nam (2005), khái niệm: “Khách du lịch là

người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến” [20]

c Tài nguyên du lịch

* Khái niệm tài nguyên du lịch

Theo Pirojnik (Cơ sở địa lí du lịch và dịch vụ tham quan), du lịch là một ngành định hướng tài nguyên rõ rệt Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài nguyên nói chung, khái niệm tài nguyên du lịch luôn gắn liền với khái niệm du lịch

Theo Luật du lịch Việt Nam năm 2005, khoản 4, điều 4, chương I: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, tuyến du lịch, điểm du lịch, đô thị du lịch”.[20]

Theo Nguyễn Minh Tuệ: “Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hóa lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục và phát triển thể lực, trí tuệ của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ Những tài nguyên này được sử dụng trực tiếp và gián tiếp cho việc sản xuất dịch vụ du lịch”[55]

* Đặc điểm tài nguyên du lịch

- Tính phong phú và đa dạng: Đặc điểm này là cơ sở để tạo nên sự phong phú của sản phẩm du lịch, thỏa mãn nhu cầu đa dạng của khách du lịch

- Sự kết hợp giữa giá trị hữu hình và vô hình: Tài nguyên du lịch không chỉ có giá trị vật chất là phương tiện hữu hình, hình thành nên các sản phẩm du lịch, mà còn chứa đựng những giá trị vô hình Giá trị này được thể hiện qua sự cảm nhận, cảm xúc tâm lý và sự thỏa mãn nhu cầu của du khách, đồng thời còn được thể hiện qua kênh thông tin mà khách du lịch nhận được về sản phẩm

- Tính dễ khai thác: hầu hết các tài nguyên du lịch vốn đã có sẵn trong tự nhiên hoặc do con người tạo nên Do đó, chỉ cần đầu tư không lớn đã có thể tôn tạo, tăng them vẻ đẹp và tạo ra điều kiện thuận lợi nhằm khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên này

- Tính thời vụ: Thời gian có thể khai thác và thời điểm khai thác các loại tài nguyên thường không giống nhau và thay đổi trong năm tùy thuộc chủ yếu bởi yếu

tố khí hậu và tập quán dân gian Điều này đã chi phối và quyết định tính mùa trong

du lịch

- Tính bất biến về mặt lãnh thổ: đối với sản phẩm được tạo ra từ loại tài nguyên du lịch này thì du khách phải đến tận nơi để tận hưởng và thưởng thức; tạo nên lực hút cơ sở hạ tầng, dòng du lịch tập trung đến loại tài nguyên đó và là thế mạnh đặc trưng của từng địa phương

Trang 18

- Khả năng sử dụng nhiều lần: nếu tuân theo các quy luật tự nhiên, sử dụng hợp lý và áp dụng những biện pháp bảo vệ chung thì tài nguyên du lịch là một loại tài nguyên có khả năng tái tạo và sử dụng lâu dài

* Phân loại tài nguyên du lịch

Để khai thác hợp lí và có hiệu quả tài nguyên du lịch theo hướng bền vững cần tiến hành phân loại tài nguyên du lịch một cách phù hợp và mang tính khoa học Hiện nay có rất nhiều cách phân loại khác nhau của nhiều tác giả và các cơ quan nghiên cứu du lịch ở nước ta cũng như quốc tế Sau đây là một vài cách phân loại:

- Tổ chức du lịch Thế giới (UNWTO,1997) đã xây dựng hệ thống phân loại tài nguyên du lịch thành 3 loại, 9 nhóm gồm: loại cung cấp tiềm tang (gồm 3 nhóm: văn hóa kinh điển, tự nhiên kinh điển, vận động); loại cung cấp hiện đại (gồm 3 nhóm: đường sá, thiết bị, hình tượng tổng thể) và loại tài nguyên kĩ thuật (gồm 3 nhóm tính năng: hoạt động du lịch, cách thức và tiềm lực khu vực)

- Ở nước ta, cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX, một số tác giả (Vũ Tuấn Cảnh, Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ, Đặng Duy Lợi, Phạm Trung Lương…) trong quá trình đánh giá tài nguyên du lịch Việt Nam đã phân chúng thành hai nhóm:

Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm: địa hình, khí hậu; nguồn nước; sinh vật Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm: các di tích văn hóa lịch sử; các lễ hội; các đối tượng gắn với dân tộc học; các đối tượng văn hóa thể thao và hoạt động nhận thức khác [55]

d Sản phẩm du lịch

*Khái niệm sản phẩm du lịch

Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, hợp thành bởi nhiều bộ phận kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu phong phú, đa dạng của du khách trong chuyến du lịch Do đó, sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách; được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực là: cơ sở vật chất kĩ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó [15]

Sản phẩm du lịch = Dịch vụ du lịch + Tài nguyên du lịch

Trong đó, tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn Còn dịch vụ du lịch, xét dưới góc độ là quá trình tiêu dùng của khách du lịch,

có thể được tổng hợp theo các nhóm cơ bản sau:

- Dịch vụ vận chuyển: Du lịch gắn với những chuyến đi và sự di chuyển nên không thể thiếu loại dịch vụ này Nó bao gồm việc đưa khách đến điểm du lịch và di chuyển trong phạm vi điểm đến

Trang 19

- Dịch vụ lưu trú, ăn uống: cơ sở thuê buồng, giường phục vụ hoạt động nghỉ

ở lại và ăn uống – loại nhu cầu không thể thiếu của du khách Đây là hoạt động kinh doanh đáng kể trong du lịch

- Dịch vụ tham quan, giải trí: là một bộ phận quan trọng tạo nên sự hấp dẫn, thu hút và lôi kéo khách du lịch Đảm bảo cho khách du lịch sử dụng tối ưu thời gian rỗi và tăng thu nhập cho nhà kinh doanh du lịch

- Hàng hóa tiêu dùng và đồ lưu niệm: đây cũng là hoạt động tăng tính hấp dẫn, để lại dấu ấn cho sản phẩm du lịch và là nhu cầu không thể thiếu của nhiều du khách

- Ngoài ra, còn có các dịch vụ trung gian và dịch vụ bổ sung, bao gồm:

+ Dịch vụ thu gom, sắp xếp các dịch vụ riêng lẻ thành một sản phẩm du lịch Thể hiện qua việc các cơ sở mua lại những dịch vụ khác nhau, sắp xếp, phối hợp chúng thành một chương trình du lịch trọn gói hoặc đơn giản

+ Dịch vụ bán lẻ sản phẩm du lịch: cung cấp thông tin và bán lẻ các sản phẩm du lịch cho khách du lịch

* Đặc trưng cơ bản của sản phẩm du lịch

- Sản phẩm du lịch có tính tổng hợp: nó kết hợp các loại dịch vụ do nhiều đơn vị cá nhân, thuộc các ngành khác nhau cung cấp

- Sản phẩm du lịch chủ yếu tồn tại ở dạng vô hình: tuy sản phẩm du lịch bao gồm cả yểu tố hữu hình và vô hình, nhưng yếu tố hữu hình là hàng hóa chiếm tỉ trọng nhỏ, trong khi yếu tố vô hình là dịch vụ thường chiếm 80 – 90% về giá trị Do

đó, việc đánh giá chất lượng sản phẩm du lịch rất khó khăn, thường mang tính chủ quan và phụ thuộc vào khách du lịch

- Sản phẩm du lịch thường được tạo ra gắn liền với yếu tố tài nguyên du lịch

Do đó, không thể đưa sản phẩm du lịch đến nơi có khách du lịch, mà thực tế buộc khách du lịch phải đến nơi có sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu của mình

- Phần lớn quá trình tạo ra và tiêu dùng các sản phẩm du lịch trùng nhau về không gian và thời gian Không bán được cũng có nghĩa là không thể lưu kho và hầu như không còn giá trị, do đó phần lớn sản phẩm du lịch tự tiêu hao

- Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch thường không diễn ra đều đặn mà có thể tập trung vào thời gian nhất định, tạo nên tính mùa trong hoạt động kinh doanh du lịch

- Sản phẩm du lịch không có tính đồng nhất: các nhân viên không thể tạo ra những sản phẩm như nhau trong những thời gian làm việc khác nhau Khách du lịch khác nhau trong những thời gian, bối cảnh khác nhau cũng có những cảm nhận khác nhau về sản phẩm du lịch [55]

e Các loại hình du lịch

Trang 20

Có nhiều cách phân loại các loại hình du lịch tùy theo tiêu chí khác nhau, các chuyên gia du lịch Việt Nam thường phân chia theo các tiêu chí cơ bản sau [55]:

- Theo nhu cầu của khách: du lịch chữa bệnh, nghỉ ngơi, thể thao, văn hóa, công vụ, tôn giáo, thăm hỏi…

- Theo phạm vi lãnh thổ: du lịch nội địa, du lịch quốc tế

- Theo vị trí địa lí các cơ sở du lịch: du lịch nghỉ biển, nghỉ núi

- Theo việc sử dụng các phương tiện giao thông: du lịch xe đạp, máy bay, ô

tô, tàu thủy, tàu hỏa

- Theo thời gian của cuộc hành trình: du lịch ngắn ngày, dài ngày

- Theo lứa tuổi: du lịch thanh niên, thiếu niên, gia đình

- Theo hình thức tổ chức: du lịch có tổ chức, cá nhân

1.1.2 Chức năng của du lịch

a Chức năng xã hội

Chức năng xã hội của du lịch thể hiện trước hết ở chỗ, du lịch tạo ra nhiều công

ăn việc làm và là công cụ giảm nghèo khá hiệu quả Du lịch là ngành thu hút lao động rất lớn Theo thống kê của UNWTO, lao động trực tiếp và gián tiếp phục vụ

du lịch hiện chiếm hơn 10,7% tổng lao động trên toàn thế giới Tại Việt Nam, hàng năm, ngành du lịch tạo ra thêm 15.000 – 20.000 chỗ làm việc trực tiếp trong các khách sạn, nhà hàng và các cơ sở dịch vụ du lịch Với sự phát triển của du lịch, dân

cư có nhiều cơ hội tìm việc làm ngay tại địa bàn mình sinh sống với thu nhập cao,

và cũng có nhiều cơ hội được đào tạo nghề, được hưởng thụ hạ tầng kỹ thuật tốt

Du lịch còn góp phần thỏa mãn những nhu cầu tinh thần, nâng cao chất lượng cuộc sống, phục hồi sức khỏe, tái sản xuất khả năng lao động và tăng cường sức sống cho nhân dân Trong một chừng mực nào đó, du lịch có tác dụng hạn chế bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và tăng cường khả năng lao động của con người Theo các công trình nghiên cứu về y sinh học của Crivosev, Dorin (1981), nhờ chế độ nghỉ ngơi và

du lịch tối ưu, bệnh tật của dân cư giảm trung bình 30% Đặc biệt, bệnh tim mạch giảm 50%, bệnh thần kinh giảm 30%, bệnh tiêu hóa giảm 20% Một số khu điều dưỡng khẳng định rằng, nước khoáng của những vùng này có thể chữa được bệnh lao phổi, bệnh scorbut do thiếu Vitamin C, các bệnh về da liễu, chảy máu lợi… Bên cạnh đó, du lịch còn có tác dụng giáo dục tính thẩm mỹ, tinh thần yêu nước, khơi dậy lòng tự hào dân tộc khi trực tiếp được tiếp xúc với các thắng cảnh của đất nước, các công trình văn hóa, di tích lịch sử dân tộc Đồng thời, du lịch là điều kiện

để mọi người xích lại gần nhau, hiểu nhau hơn và tăng tính đoàn kết cộng đồng Đối với quan hệ quốc tế, du lịch là cơ hội để mở rộng, củng cố, thắt chặt tình hữu nghị thân ái giữa các quốc gia trên thế giới

b Chức năng kinh tế

Trang 21

Du lịch đã và đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều nước trên thế giới, đóng vai trò quan trọng trong việc làm tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế các nước Theo thống kê của UNWTO, thu nhập du lịch chiếm trên 10% GDP của thế giới [24] Hơn nữa thu nhập tạo ra trong ngành du lịch là “thu nhập kép”, khi phát triển một cơ sở dịch vụ này sẽ kéo theo sự phát triển của hàng loạt các hoạt động kinh tế khác Theo “Economics of leisure and tourism” (John Tribe): Cứ mỗi USD tiêu dùng của khách du lịch sẽ tạo ra khoảng 2 – 3 USD thu nhập gia tăng [24] Du lịch còn là ngành kinh tế có đóng góp quan trọng vào nguồn thu của chính phủ thông qua nghĩa vụ thuế Đây còn là ngành xuất khẩu tại chỗ với nhiều ưu thế nổi trội, góp phần quan trọng vào việc thu ngoại tệ, cân bằng cán cân thanh toán quốc

tế

Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, sự phát triển du lịch giúp đa dạng hóa và kích thích sự phát triển của các ngành kinh tế khác: giao thông vận tải, nông nghiệp, công nghiệp, thương mại… Ngoài ra, còn tăng cường cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất

kĩ thuật cho cộng đồng Tạo công ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân dân

Ở một khía cạnh gián tiếp, du lịch còn tác động đến kinh tế của một quốc gia thông qua việc phục hồi sức khỏe, khả năng lao động và đảm bảo tái sản xuất mở rộng lực lượng lao động với hiệu quả kinh tế rõ rệt [54]

c Chức năng sinh thái

Chức năng sinh thái của du lịch thể hiện qua việc tạo môi trường sống ổn định

về mặt sinh thái, giúp con người sống hòa hợp với thiên nhiên Tiềm năng tự nhiên đối với du lịch của lãnh thổ góp phần tối ưu hóa tác động qua lại giữa con người với môi trường tự nhiên trong điều kiện công nghiệp hóa, đô thị

Du lịch góp phần vào việc bảo tồn và phát triển các nguồn tài nguyên, giúp khai thác tốt hơn, có hiệu quả hơn các không gian đẹp, cảnh quan thiên nhiên; thúc đấy việc nghiên cứu, phát hiện công nhận thêm các vườn quốc gia, các khu bảo tồn mới, tăng cường đầu tư làm phong phú thêm các không gian du lịch; làm tăng khối lượng

và chất lượng các nguồn tài nguyên thiên nhiên

Hơn thế nữa, du lịch còn nâng cao nhận thức của con người về giá trị của tự nhiên, thay đổi thái độ và hành vi đối với môi trường thiên nhiên

d Chức năng chính trị

Du lịch như một nhân tố củng cố hòa bình, đẩy mạnh các mối giao lưu quốc tế,

mở rộng sự hiểu biết giữa các dân tộc Du lịch quốc tế làm cho con người ở các khu vực khác nhau hiểu biết và xích lại gần nhau Không phải ngẫu nhiên mà chủ đề về

du lịch được đưa ra năm 1967 là “Du lịch – giấy thông hành của hòa bình”

Trang 22

1.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch

a Vị trí địa lí

Vị trí địa lí với tư cách là một trong những nguồn lực để phát triển du lịch Điều kiện về vị trí địa lí bao gồm:

- Điểm du lịch nằm trong khu vực phát triển du lịch;

- Khoảng cách từ điểm du lịch đến các nguồn gửi khách du lịch ngắn

Khi phân tích và đánh giá vị trí địa lí, cần đặt nó trong khung cảnh của vùng, của quốc gia và quốc tế (nếu có) [54]

b Tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch tự nhiên là các đối tượng, hiện tượng trong môi trường tự nhiên xung quanh chúng ta có sức hấp dẫn phát triển du lịch Các đối tượng tự nhiên cần quan tâm khi nghiên cứu du lịch là: địa hình, khí hậu, thủy văn, sinh vật

Hình 1.1: Sơ đồ phân loại tài nguyên du lịch

[Nguồn: Địa lí Du lịch Việt Nam-55]

Theo Luật du lịch (Điều 13, chương II): “Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm

các yếu tố địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên

có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch”.[20]

- Địa hình: Hình dạng bề mặt đất ảnh hưởng đến du lịch với sự hấp dẫn của danh

thắng tự nhiên, cũng như khả năng xây dựng các cơ sở du lịch thuộc các loại hình

Thủy văn

Sinh vật

Di tích

VH -

LS

Lễ hội

Dân tộc học

Nhân văn khác

DI SẢN HỖN HỢP

Trang 23

khác nhau Khi phân tích ảnh hưởng của địa hình với hoạt động du lịch người ta chú

ý đến hai yếu tố là hình thái địa hình và các dạng địa hình đặc biệt

I.A Vedenin (1975) cho rằng khu vực có các kiểu địa hình các tương phản về mặt hình thái thì phong cảnh càng đẹp và được đánh giá càng cao đối với du lịch

Và trên thực tế, các dạng địa hình tương đối đơn điệu về mặt ngoại hình ít gây được cảm hứng cho khách du lịch Trong các dạng địa hình thì miền núi có ý nghĩa lớn nhất đối với du lịch

Ngoài các dạng địa hình chính, các dạng địa hình đặc biệt có ý nghĩa đối với du lịch cần được quan tâm là dạng địa hình Karst và địa hình ven bờ Một trong những kiểu Karst được quan tâm nhất đối với du lịch là hang động Karst Đối với kiểu địa hình ven bờ đây là dạng tài nguyên có thể khai thác phát triển du lịch với nhiều mục đích khác nhau thông qua chỉ tiêu đánh giá mức độ thuận lợi của các bãi biển để phát triển du lịch (chiều dài – rộng, độ mịn của cát, độ dốc, độ trong, độ mặn…)

- Khí hậu: Đối với hoạt động du lịch, đặc điểm khí hậu sinh học có ý nghĩa đặc

biệt quan trọng Các chỉ tiêu khí hậu được quan tâm nhất là nhiệt độ không khí và

độ ẩm không khí Ngoài ra, các tiêu chí sinh học khác được chú ý là yếu tố gió, áp suất, khí quyển, ánh nắng mặt trời Bên cạnh đó, cần lưu ý tới những hiện tượng thời tiết đặc biệt chi phối tới các kế hoạch du lịch Mỗi loại hình du lịch đòi hỏi những điều kiện khí hậu khác nhau Nhìn chung, những nơi có khí hậu điều hòa thường được khách du lịch ưa thích

Điều kiện khí hậu còn tác động đến tính mùa trong du lịch Phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, hoạt động du lịch có thể diễn ra quanh năm hoặc trong một vài tháng Các địa phương khác nhau có tính mùa du lịch không như nhau

Ngoài ra, điều kiện thời tiết cũng ảnh hưởng đến việc thực hiện các chuyến đi hoặc các hoạt động du lịch Yếu tố khí hậu còn tác động gián tiếp đến hoạt động du lịch qua tác động đến độ bền tài nguyên du lịch, làm phong hóa nhanh các công trình, các di tích lịch sử - văn hóa và thay đổi diện mạo cảnh quan tự nhiên

- Thủy văn: Tài nguyên nước phục vụ du lịch bao gồm nước trên mặt, nước dưới

đất và nước khoáng Trong đó, nguồn nước trên mặt có ý nghĩa to lớn nhất Ngoài

ra, cần phải nói đến nguồn nước khoáng với những thành phần vật chất đặc biệt (các nguyên tố hóa học, chất khí, nguyên tố phóng xạ…), hoặc có một số tính chất vật lý (nhiệt độ, độ pH…) có tác dụng đối với sức khỏe con người; đây là nguồn tài nguyên có giá trị cho du lịch an dưỡng và chữa bệnh

- Sinh vật: Tài nguyên sinh vật là dạng tài nguyên đặc biệt, có giá trị tạo nên

cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, hấp dẫn đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ ngơi, giải trí, khám phá và nâng cao nhận thức cho du khách Đối với một số loại hình du lịch như du lịch sinh thái, tham quan, nghiên cứu khoa học thì tài nguyên sinh vật có ý

Trang 24

nghĩa đặc biệt quan trọng ở tính đa dạng sinh học, sự bảo tồn các nguồn gen quý giá đặc trưng cho các vùng tự nhiên khác nhau trên thế giới

* Tài nguyên nhân văn

Tài nguyên nhân văn là những đối tượng, hiện tượng do con người tạo ra trong suốt quá trình tồn tại và có giá trị phục vụ nhu cầu du lịch Đối với du lịch, người ta khai thác các giá trị nhân văn sau: các di tích văn hóa – lịch sử, lễ hội, các đối tượng dân tộc học và các giá trị nhân văn khác

Theo điều 13, chương II, Luật du lịch năm 2005: “Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch”

Khi đánh giá đối tượng nhân văn này, cần quan tâm các tiêu chí: Tổng số di tích các loại trên lãnh thổ; số di tích được xếp hạng quốc gia; mật độ di tích trên một đơn vị diện tích [55] Mỗi chỉ tiêu có một ý nghĩa khác nhau Chỉ tiêu đầu tiên đánh giá về số lượng di tích, hai chỉ tiêu sau đánh giá về chất lượng di tích Đây là những chỉ tiêu quan trọng để phân tích khả năng khai thác, phát triển du lịch của các di tích văn hóa – lịch sử

- Lễ hội

Lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp hết sức đa dạng và phong phú, một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân sau thời gian lao động mệt nhọc, hoặc hướng về một sự kiện trọng đại, ôn lại truyền thống, giải quyết nỗi âu lo Lễ hội là một yếu tố văn hóa quan trọng trong đời sống xã hội, ở mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc từng nét văn hóa đó chứa đựng những tính chất, đặc trưng riêng, mang hơi thở vào cuộc sống của xã hội đó Nó phù hợp với điều kiện sống cụ thể, nó nảy sinh và bị chi phối bằng các hình thức, phương thức lao động, hoàn cảnh sống và môi trường

tự nhiên

Lễ hội gồm hai phần: phần lễ và phần hội Thời gian diễn ra lễ hội thường khác nhau Nói chung, xuất hiện vào thời điểm thiêng liêng của sự chuyển tiếp giữa các mùa Ở một chừng mực nhất định, lễ hội cũng tạo ra tính mùa của du lịch [54] Phân tích giá trị của lễ hội với du lịch người ta thường tập trung các tiêu chí: Thời gian diễn ra lễ hội (mùa nào, tháng nào), độ dài của lễ hội; địa điểm tập trung

Trang 25

lễ hội; ý nghĩa của lễ hội (ý nghĩa địa phương, quốc gia) và đặc biệt là khả năng đón khách và kinh doanh du lịch [55]

- Các đối tượng gắn với dân tộc học

Sự huyền bí, nét đặc sắc của các đối tượng dân tộc học ngày càng thể hiện rõ giá trị của mình đối với các nhà du lịch trên hành trình tìm kiếm, gặp gỡ, nuôi dưỡng các nền văn hóa ấy, đồng thời “không ngừng tìm kiếm bản sắc dân tộc mình” Các đối tượng dân tộc học có ý nghĩa đối với du lịch là các tập tục lạ về cư trú, về tổ chức xã hội, về thói quen ăn uống – sinh hoạt, về kiến trúc cổ, các nét truyền thống trong quy hoạch cư trú và xây dựng, trang phục dân tộc…

Khi đánh giá đối tượng dân tộc, các tiêu chí được quan tâm là: tổng số dân trên lãnh thổ; các dân tộc và cơ cấu dân tộc; đặc điểm phong tục tập quán của các dân tộc và khả năng hình thành loại hình, sản phẩm du lịch từ đối tượng đó [55]

- Các tài nguyên nhân văn khác

+ Các làng nghề: làng nghề truyền thống là tinh hoa về mặt công nghệ, kĩ thuật

của một vùng thể hiện qua các sản phẩm có tính khu biệt, qua cách sống, các phong tục tập quán, văn hóa ứng xử của cộng đồng Làng nghề và các nghề thủ công truyền thống từ lâu đã trở thành đối tượng của hoạt động du lịch, nơi con người hướng tới để khám phá, tìm hiểu và chiêm nghiệm sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các giá trị vật chất và tinh thần một cách hài hòa và sinh động nhất

+ Một số các đối tượng văn hóa khác cũng thu hút khách với mục đích tham quan, nghiên cứu như: trung tâm của các viện khoa học, các thư viện lớn và nổi tiếng, các thành phố có triển lãm nghệ thuật, các trung tâm thường xuyên tổ chức liên hoan âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, các cuộc thi đấu thể thao quốc tế, biểu diễn

ba lê, các cuộc thi hoa hậu… Các đối tượng văn hóa thường tập trung ở các thủ đô

và thành phố lớn vì thế các thành phố này mặc nhiên trở thành những trung tâm du lịch văn hóa của các quốc gia, vùng – khu vực và là hạt nhân của các trung tâm du lịch

+ Các thành tựu kinh tế của đất nước hoặc vùng cũng có sức hấp dẫn đặc biệt đối với khách du lịch…

c.Cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng là đòn bẩy của mọi hoạt động kinh tế, đối với du lịch cở sở hạ tầng có vai trò đặc biệt quan trọng, trong đó nổi bật là mạng lưới và phương tiện giao thông Ngoài ra, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống cung cấp điện nước cũng

là một phần không thể thiếu, có vai trò phục vụ trực tiếp hoạt động du lịch

- Hệ thống giao thông vận tải: Du lịch gắn với sự di chuyển của con người, vì vậy nó phụ thuộc trực tiếp vào giao thông Về phương diện này, mạng lưới và phương tiện giao thông là những nhân tố quan trọng hàng đầu

Trang 26

+ Khi đánh giá mạng lưới giao thông cần quan tâm các chỉ tiêu: tổng chiều dài tuyến đường, mật độ đường, các tuyến đường chính

+ Các phương tiện giao thông chủ yếu là: đường ô tô, đường sắt, đường thủy, đường hàng không Mỗi loại giao thông có những đặc điểm riêng, đáp ứng nhu cầu

đa dạng của du khách

- Hệ thống thông tin liên lạc: đảm bảo sự giao lưu của khách du lịch trong nước

và quốc tế thông qua việc trao đổi các dòng tin tức xã hội Vẫn đề này được thỏa mãn bằng nhiều loại hình thông tin khác nhau: thông tin vệ tinh, internet, điện thoại, điện báo, bưu điện… Sự thuận tiện của mạng lưới thông tin liên lạc đảm bảo sự thông suốt trong các giao dịch kinh doanh du lịch, giúp cho hoạt động du lịch trở nên phổ biến, hiệu quả hơn

- Hệ thống điện: Các nhà máy điện, cơ cấu mạng lưới điện, khả năng đảm bảo điện của địa phương cho các hoạt động của các điểm, khu, cụm, trung tâm du lịch,

sự cân đối giữa khả năng cung cấp và nhu cầu tiêu thụ điện trong toàn vùng… có ý nghĩa lớn, bởi các sản phẩm của nó phục vụ trực tiếp cho việc nghỉ ngơi, giải trí của khách du lịch Hoạt động du lịch – một hoạt động mang tính hưởng thụ, nghỉ ngơi, giải trí để tái sản xuất sức lao động thì nhu cầu về điện là rất lớn

- Hệ thống cấp, thoát nước: Bao gồm nguồn nước cho sinh hoạt và các dịch vụ

du lịch Nguồn nước trong cơ sở hạ tầng cần được lưu ý ở hai khía cạnh: khả năng cung cấp nước, chất lượng nguồn nước và hệ thống cung cấp nước đáp ứng nhu cầu

du lịch

d Các nhân tố kinh tế - xã hội – chính trị

* Đường lối chính sách phát triển du lịch: đường lối, chính sách của mỗi quốc gia được xem là kim chỉ nam cho mọi hoạt động kinh tế - xã hội của quốc gia đó Đối với du lịch đường lối, chính sách cũng thể hiện rõ vai trò của mình Nó có thể là động lực thúc đẩy sự phát triển du lịch nếu định hướng đúng, phát triển hợp quy luật, đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao Ngược lại sẽ kìm hãm sự phát triển của ngành kinh tế này nếu không xây dựng được chính sách đúng đắn, không có thiện chí tạo điều kiện khai thác tiềm năng Đường lối, chính sách sẽ là cơ sở tạo ra hành lang pháp lý thông thoáng và thuận lợi cho hoạt động du lịch Từ đó, kích thích quá trình giao lưu, tăng cường hoạt động đầu tư phát triển du lịch

*Mạng lưới giao thông

Giao thông cũng là một trong những tiền đề quan trọng để phát triển du lịch Nhờ mạng lưới giao thông hoàn thiện mà du lịch có điều kiện phát triển với tốc độ nhanh Ngày nay, con người có thể rút ngắn các khoảng cách về mặt địa lý bằng các phương tiện giao thông hiện đại như tàu hỏa cao tốc, tàu du lịch cao cấp hay máy bay phản lực,… Tốc độ vận chuyển của các phương tiện giao thông ngày càng nhanh cho phép tiết kiệm thời gian đi lại và kéo dài thời gian lưu trú của khách Với

Trang 27

các phương tiện giao thông hiện đại có tốc độ cao, du khách có thể đến được những nơi xa xôi Bên cạnh tốc độ, sự đảm bảo về an toàn, tiện nghi, cùng giá thành hạ làm cho hoạt động vận tải ngày càng đóng góp tịch cực vào sự phát triển của ngành

du lịch

* Thời gian rỗi

Du lịch trong nước và quốc tế không thể phát triển được nếu con người thiếu thời gian rỗi Nó thực sự trở thành một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy hoạt động du lịch Vậy:

Thời gian rỗi (tự do) là thời gian cần thiết cho con người để nâng cao học vấn , phát triển trí tuệ, hoàn thiện các chức năng xã hội, tiếp xúc với bạn bè, vui chơi giải trí…

Thời gian rỗi là phần thời gian ngoài giờ làm việc , trong đó diễn ra các hoạt động nhằm phục hồi và phát triển thể lực, trí tuệ, tinh thần của con người Trong các tài liệu, người ta coi phần thời gian rỗi là thời gian nghỉ ngơi Nói một cách đầy đủ hơn, có thể hiểu thời gian rỗi là “thời gian cần thiết để phục hồi sức lực mà con người bỏ ra để tạo nên sản phẩm nào đấy trong điều kiệ n bình thường của sản xuất…và cả thời gian cần thiết cho việc phục hồi mở rộng để đảm bảo tiếp tục nâng cao năng suất lao động” (Crivosev, 1978)

Số thời gian rỗi nhiều hay ít phụ thuộc vào năng suất lao động , đặc điểm của quan hệ sản xuất và của dân cư Việc nâng cao năng suất lao động xã hội , một mặt, phải cho phép có thêm thời gian rỗi , mặt khác đòi hỏi phải tăng thời gian này như một điều kiện cần thiết cho tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng sức lực và tinh thần con người

Nguồn quan trọng nhất làm tăng thời gian rỗi là giảm thời gian làm việc mỗi tuần và giảm thời gian của công việc nội trợ Nhiều nước đã thực hiện chế độ mỗi tuần làm v iệc 5 ngày Để phát triển du lịch trong nước , điều kiện quan trọng đặc biệt là có nhiều thơi gian rỗi vào cuối tuần Bằng cách này người lao động có tổng số ngày nghỉ các loại (cuối tuần , phép…) chiếm khoảng 1/3 thời gi an trong năm (130 – 133 ngày) Có thể đây là nhân tố rất thuận lợi để phát triển loại hình du lịch dài ngày

* Điều kiện sống:

Điều kiện sống của nhân dân là nhân tố quan trọng để phát triển du lịch Nó được hình thành nhờ việc tăng thu nhập thực tế và cải thiện điều kiện sinh hoạt , nâng cao khẩu phần ăn, uống, phát triển đầy đủ mạng lưới y tế, văn hóa, giáo dục…

Du lịch chỉ có thể phát triển khi mức sống (vật chất, tinh thần) của con người đạt tới trình độ nhất định Một trong những nhân tố then chốt là mức thu nhập thực tế của mọi người trong xã hội Không có mức thu nhập cao (của cá nhân và xã hội ) thì khó có thể nghĩ tới việc nghỉ ngơi – du lịch Nhìn chung, ở những nước kinh tế

Trang 28

phát triển , có mức thu nhập tính bình quân theo đầu người cao thì nhu cầu hoạt động du lịch phát triển mạnh mẽ

Cùng với việc tăng thu nhập thực tế , các điều kiện sống khác liên tục được cải thiện Các phương tiện đi lại của cá nhân (chủ yếu là ô tô ) tăng lên , góp phần phát triển rộng rãi hoạt động du lịch , tăng cường tính cơ động của nhân dân trong quá trình nghỉ ngơi – giải trí

*Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch

Sự phát triển của nền sản xuất xã hội có tầm quan trọng hàng đầu, làm xuất hiện nhu

cầu du lịch và biến nhu cầu của con người thành hiện thực không thể nói tới nhu cầu hoặc hoạt động du lịch của xã hội nếu như lực lượng sản xuất xã hội còn ở trong tình trạng thấp kém.Sự phát triển của nền sản xuất xã hội đẻ ra nhu cầu nghỉ ngơi – du lịch Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng: sự xuất hiện và mở rộng những nhu cầu khác nhau (tất nhiên trong đó có nhu cầu nghỉ ngơi – du lịch) là kết quả của sự phát triển nền sản xuất các nhu cầu thường nảy sinh trực tiếp từ sản xuất Nền sản xuất xã hội càng phát triển,nhu cầu của nhân dân càng lớn, yêu cầu chất lượng càng cao

Các nước có nền kinh tế chậm phát triển, nhìn chung nhu cầu nghỉ ngơi – du lịch còn hạn chế Ngược lại, nhu cầu nghỉ ngơi – du lịch ở các nước kinh tế phát triển rất đa dạng Bên cạnh nhu cầu giải trí cuối tuần, hàng năm nhân dân còn đòi hỏi những đợt nghỉ ngơi dài ngày ở vùng biển (vào mùa hè), trên núi (vào mùa đông, mùa hè), trong nước hoặc ở nước ngoài Rõ ràng những nhu cầu này phải dựa trên cơ sở vững chắc của nền sản xuất xã hội Giữa nhu cầu và hiện thực tồn tại một khoảng cách nhất định Khoảng cách ấy phụ thuộc rất nhiều vào trình độ phát triển của nền sản xuất xã hội, trình độ phát triển càng cao, khoảng cách càng rút ngắn Nhu cầu nghỉ ngơi -du lịch và sự thay đổi của nó theo thời gian và không gian trở thành một trong những nhân tố quan trọng , ảnh hưởng đến quá trình ra đời và phát triển du lịch Sự hoạt động mang tính chấ t xã hội của cá nhân trong thời gian rỗi được quyết định bởi nhu cầu và những định hướng có giá trị Nhu cầu nghỉ ngơi là hình thức thể hiện và giải quyết mâu thuẫn giữa chủ thể với môi trường bên ngoài , giữa điều kiệ n sống hiện có với điều kiện sống cần có , thông qua các dạng nghỉ ngơi khác nhau

Nhu cầu nghỉ ngơi – du lịch mang tính chất kinh tế – xã hội là sản phẩm của sự phát triển xã hội Nó được hình thành trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội dưới sự tác động của các yếu tố khách quan thuộc môi trường bên ngoài và phụ thuộc trước hết vào phương thức sản xuất Cụ thể hơn,đó là nhu cầu của con người về khôi phục sức khỏe, khả năng lao đ ộng, thể chất và tinh thần bị hao phí trong quá trình sinh sống và lao động

Trang 29

Nhu cầu nghỉ ngơi – du lịch là một hệ thống và được thể hiện ở 3 mức độ: xã hội – nhóm người – cá nhân, trong đó, quan trọng hàng đầu là nhu cầ u nghỉ ngơi xã hội

Nó được xác định như nhu cầu của toàn xã hội về phục hồi sức khỏe và khả năng lao động, sự phát triển toàn diện thể chất và tinh thần cho mỗi thành viên trong xã hội Nhu cầu này quyết định cấu trú c của ngành du lịch và được phản ánh qua các hình thức tổ chức lãnh thổ của nó

*Cánh mạng khoa học -công nghệ và xu hướng hội nhập quốc tế

Những tiến bộ của các cuộc khoa học –công nghệ và xu hướng hội nhập quốc tế sâu rộng đã làm thay đổi tận gốc hoạt động sản xuất của con người Nhờ những tiến bộ trong khoa học và công nghệ, lao động trong cơ bắp giảm xuống,thay thế vào đó là các hoạt động sản xuất hiện đại, tự động hóa và cơ giới hóa Tuy nhiên, lao động bằng các công cụ sản xuất hiện đại, tự động hóa và cơ giới hóa lại

có đặc điểm riêng Mặc dù lao động chân tay giảm xuống với tốc độ nhanh chóng nhưng cường độ và sự căng thẳng trong lao động lại tăng lên với tốc độ tương ứng Điều đó đòi hỏi phải được phục hồi sau những ngày làm việc căng thẳng thông qua con đường nghỉ ngơi du lịch

Mặt khác, cách mạng khoa học –công nghệ và xu hướng toàn cầu hóa cũng

là nhân tố thúc đẩy mạnh sự phát triển du lịch Cuộc cách mạng này cùng với xu thế quốc tế hóa đã làm khuấy động mọi hoạt động sản xuất, đem lại năng xuất lao động

và hiệu quả kinh tế cao Đó là tiền đề nâng cao thu nhập của người lao động, tăng thêm khả năng thực tế tham gia hoạt động nghỉ ngơi du lịch, hoàn thiện cơ cấu hạ tầng và tạo cho du lịch có bước phát triển mới, vững chắc hơn

*Dân cư và lao động

Dân cư và lao động là nguồn lực quan trọng của nền sản xuất xã hội Cùng với hoạt động lao động, dân cư còn có nhu cầu nghỉ ngơi và du lịch Nơi nào số dân càng đông thì số người tham gia vào hoạt động du lịch càng nhiều Số lượng người lao động trong sản xuất và dịch vụ ngày càng đông gắn liền trực tiếp với kinh tế du lịch Việc nắm vững số dân, thành phần dân tộc, đặc điểm nhân khẩu, sự phân bố và mật độ dân cư có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển du lịch Nhu cầu du lịch của con người tùy thuộc vào nhiều đặc điểm xã hội, nhân khẩu của dân cư

Cần phải nghiên cứu cơ cấu dân cư theo nghề nghiệp, lứa tuổi để xác định nhu cầu nghỉ ngơi, vì đây là một trong những nhân tố có tác dụng thúc đẩy du lịch phát triển

* Các nhân tố kinh tế - xã hội khác

Tác động đến hoạt động du lịch còn có hàng loạt các nhân tố khác như: sự phát triển của nền sản xuất xã hội, tình hình chính trị hòa bình ổn định tất cả các yếu tố này đều có tác dụng là đòn bẩy thúc đẩy hoạt động du lịch tăng trưởng nhanh hoặc kìm hãm ngành kinh tế này chậm phát triển

1.1.4.Chỉ tiêu đánh giá sự phát triển du lịch

Trang 30

Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp Do đó, việc xây dựng bộ chỉ tiêu gồm các tiêu chí đánh giá sự phát triển du lịch là một việc làm quan trọng; đảm bảo việc đánh giá một cách tương đối đầy đủ và khách quan đối tượng du lịch qua các tiêu chí thành phần Trong quá trình phát triển du lịch, nhận thấy có thể chia ra hai nhóm chỉ tiêu: chỉ tiêu nguồn lực phát triển và chỉ tiêu thực trạng phát triển du lịch

1.1.4.1 Nhóm chỉ tiêu đánh giá nguồn lực phát triển du lịch

a Vị trí địa lí: là chỉ tiêu quan trọng trong nhóm nguồn lực phát triển du lịch Vị

trí địa lí được đánh giá dưới hai khía cạnh:

- Về mặt giới hạn lãnh thổ, vị trí địa lí ảnh hưởng nhất định đến các đặc điểm tự nhiên và mức độ tập trung giá trị nhân văn của điểm du lịch, quyết định khả năng tiếp cận điểm du lịch; được đánh giá thông qua khoảng cách thời gian đi đường và các loại phương tiện giao thông có thể sử dụng đến điểm du lịch

- Về mặt kinh tế - chính trị, điều kiện kinh tế và tình hình chính trị ổn định tại khu vực diễn ra hoạt động du lịch có tác động gây cản trở hay tạo điều kiện thuận lợi kích thích hoạt động này diễn ra mạnh mẽ

Ngoài ra, trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới, các vị trí địa lí đặc biệt (có cửa khẩu, hải cảng…) sẽ là điều kiện thuận lợi cho việc hình thành các tuyến du lịch xuyên quốc gia, thúc đẩy việc tiếp cận, trao đổi, giao lưu, thâm nhập sâu vào nền kinh tế văn hóa thế giới

b Tài nguyên du lịch: được đánh giá qua sự hấp dẫn, tính mùa vụ và độ bền vững của điểm đến Tiêu chí này đánh giá khả năng khai thác và quyết định mức độ

hoạt động du lịch Tùy theo đặc điểm của từng loại tài nguyên mà lựa chọn loại hình

du lịch, hình thức kinh doanh và thời gian hoạt động du lịch phù hợp

* Sức hấp dẫn: là một trong tiêu chí hàng đầu thể hiện được tính thẩm mỹ, đặc

sắc, độc đáo, sự kết hợp hài hòa các yếu tố thành phần; góp phần thỏa mãn nhu cầu

và đáp ứng tâm lý tìm đến với cái đẹp của du khách

- Đối với tài nguyên du lịch tự nhiên: tính hấp dẫn được đánh giá tổng hợp, với

sự kết hợp hài hòa của các yếu tố địa hình, khí hậu, thủy văn và sinh vật Mà cụ thể

là được xác định bằng sự phân hóa đa dạng hình thái địa hình kết hợp các dạng địa hình đặc biệt; điều kiện khí hậu tương đối ôn hóa phù hợp với đặc điểm sinh học của con người, vắng mặt các hiện tượng thời tiết bất thường; sự có mặt của hệ thống sông, ao, hồ, suối tự nhiên hoặc nhân tạo có giá trị tạo môi trường du lịch trong lành, tô điểm cho cảnh quan; và đặc biệt là các hệ sinh thái đặc hữu, điển hình tồn tại dưới dạng vườn quốc gia, khu dự trữ sinh quyển, các điểm tham quan sinh vật…

- Đối với tài nguyên du lịch nhân văn: tính hấp dẫn khách du lịch là tiêu chí có tính chất tổng hợp được xác định bằng nét độc đáo về mỹ thuật, nghệ thuật và kiến trúc của các công trình văn hóa (quốc tế, quốc gia hoặc địa phương); bề dày thời gian của di tích lịch sử (cổ đại, trung đại, cận đại và hiện đại); nét huyền bí, hấp dẫn

Trang 31

trong các phong tục, nếp sống, trang phục, văn hóa nghệ thuật…của các tộc người;

sự độc đáo, tinh tế của các làng nghề; các đặc sản địa phương và sự đa dạng phong phú, ấn tượng của các sự kiện văn hóa – thể thao khác

* Tính mùa của hoạt động du lịch: tính chất mùa vụ là một trong những đặc

điểm đặc trưng của hoạt động du lịch Sự thường xuyên hay gián đoạn của hoạt động du lịch sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến phương hướng khai thác, đầu tư, kinh doanh phục vụ du lịch Thời gian hoạt động du lịch chủ yếu chịu sự chi phối của điều kiện khí hậu tại điểm, vùng du lịch Được xác định bởi số thời gian thích hợp nhất của các điều kiện khí hậu đối với sức khỏe của khách du lịch và số thời gian thuận lợi nhất cho việc triển khai các hoạt động du lịch

Trong những trường hợp mà số thời gian thích hợp nhất của điều kiện khí hậu với sức khỏe con người và số thời gian thuận lợi cho hoạt động du lịch có khác biệt thì lấy số thời gian thuận lợi cho hoạt động du lịch làm tiêu chí đánh giá

* Độ bền vững của tài nguyên du lịch: là tiêu chí thể hiện khả năng bền vững

của các thành phần, bộ phận tự nhiên và nhân văn trước áp lực của hoạt động du lịch, của khách du lịch và của các đối tượng khác hoặc thiên tai

Tiêu chí này được đánh giá qua số lượng các thành phần tự nhiên bị phá hoại, khả năng phục hồi, sự cân bằng sinh thái và sự đảm bảo hoạt động du lịch diễn ra thường xuyên của các tài nguyên du lịch tự nhiên Đồng thời còn được đánh giá qua

số lượng các công trình văn hóa, các di tích lịch sử còn được bảo tồn qua thời gian

mà không bị phá hoại bởi môi trường nhiệt đới ẩm, thiên tai và chiến tranh; sự gìn giữ nguyên vẹn các giá trị văn hóa của các lễ hội, các dân tộc, các làng nghề, đảm bảo cho các hoạt động du lịch được diễn ra liên tục

c Cơ sở hạ tầng: tiêu chí này có ý nghĩa quyết định mức độ hoạt động du lịch

Đây là cơ sở để biến các tiềm năng du lịch trở thành hiện thực và hạn chế các tác động tiêu cực làm tổn hại đến môi trường tự nhiên cũng như môi trường nhân văn Chỉ tiêu này được đánh giá qua sự có mặt cũng như chất lượng và khả năng đáp ứng nhu cầu của du khách về mạng lưới và phương tiện giao thông, khả năng cung cấp điện nước cho hoạt động sản xuất và kinh doanh du lịch; khả năng đáp ứng giao lưu trao đổi thông tin liên lạc cho các hoạt động kinh tế và du lịch

1.1.4.2 Nhóm chỉ tiêu đánh giá thực trạng phát triển du lịch

Với chức năng nghiên cứu khía cạnh không gian của hoạt động du lịch, việc đánh giá thực trạng phát triển của một điểm đến du lịch cũng phải được xem xét dưới khía cạnh lãnh thổ thông qua các phân vị là: điểm du lịch, tuyến du lịch, cụm

du lịch và trung tâm du lịch Bên cạnh đó, du lịch là một ngành kinh tế, để đánh giá được sự tăng trưởng cũng như vai trò của du lịch đối với nền kinh tế - xã hội của một địa phương, vùng lãnh thổ thì việc xây dựng bộ chỉ tiêu hoạt động theo ngành

Trang 32

gồm các tiêu chí đánh giá về lượt khách, doanh thu, cơ sở vật chất kĩ thuật và lao động là rất cần thiết

a Chỉ tiêu hoạt động theo ngành

* Nguồn khách: Khách du lịch là một trong năm phân hệ quan trọng của hệ thống lãnh thổ du lịch Có thể nói sự có mặt của du khách đồng nghĩa với “sự sống” của một điểm du lịch

Khi đánh giá về tiêu chí này, trước hết người ta quan tâm đến tổng lượt khách qua các năm và tốc độ tăng trưởng bình quân (trong đó, phân biệt khách nội địa và khách quốc tế) Tiếp đó, mục đích du lịch là một tiêu chí cần được phân tích Đối với khách du lịch quốc tế, mục đích du lịch bao gồm: du lịch thuần túy, thăm thân, thương nhân và các mục đích khác Đối với khách nội địa, mục đích du lịch chủ yếu được phân theo: du lịch nghỉ biển, tham quan, lễ hội, chữa bệnh và các mục đích khác Xác định được số lượng khách theo các mục đích du lịch là định hướng quan trọng trong việc hoạch định chiến lược, vạch định hướng và điều chỉnh các hoạt động kinh doanh phù hợp, đem lại hiệu quả cao Cơ cấu khách du lịch còn được xem xét dưới góc độ phương tiện đi lại, gồm: đường bộ, đường biển, đường hàng không Các yếu tố này là cơ sở thiết kế các tuyến du lịch đảm bảo đáp ứng với nhu cầu và điều kiện của du khách Ngoài ra còn thúc đẩy việc nâng cấp, xây dựng các

cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch cũng như các hoạt động kinh tế khác Cuối cùng, đối với đánh giá tiêu chí nguồn khách cần xác định được mức độ chi tiêu và thời gian lưu trú của khách du lịch tại một điểm đến

Trong các chỉ tiêu trên, tiêu chí số lượt khách cho phép đánh giá về khía cạnh

“lượng” của hoạt động du lịch, trong khi đó tiêu chí mức độ chi tiêu và thời gian lưu trú lại đánh giá về mặt “chất” của ngành này Từ đó cho thấy, trong quá trình phát triển du lịch không chỉ cần quan tâm thu hút lượng khách lớn mà còn phải đặt việc tăng thời gian lưu trú và chi tiêu của du khách là mục tiêu quan trọng của ngành

* Cơ sở vật chất – kĩ thuật: Là điều kiện quan trọng đảm bảo hoạt động kinh doanh du lịch được tiến hành hiệu quả Mức độ tiện nghi và đa dạng của cơ sở vật chất – kỹ thuật tại các điểm đến tỷ lệ thuận với khả năng tăng nguồn thu và kéo dài thời gian lưu trú của du khách Trong đó, cơ sở lưu trú và ngành kinh doanh lưu trú

là chỉ tiêu quan trọng – một trong ba trụ cột của ngành du lịch Cơ sở lưu trú được đánh giá qua số phòng, buồng, mức tăng trưởng hàng năm, công suất sử dụng phòng; số khách sạn được xếp sao và số khách sạn phân theo hình thức quản lý Ngoài ra, sự có mặt của các cơ sở vui chơi giải trí, mua sắm, các cơ sở phục vụ ăn uống có vai trò đảm bảo các nhu cầu đa dạng của khách du lịch, góp phần lấp đầy khoảng thời gian đi du lịch bằng nhiều hoạt động thú vị, thoải mái, tạo nên sự độc đáo và ấn tượng riêng cho mỗi sản phẩm du lịch

Trang 33

* Doanh thu: Du lịch thể hiện chức năng kinh tế của mình qua đóng góp doanh thu hàng năm Thu nhập từ du lịch bao gồm tất cả các khoản thu do du khách chi trả, đó là doanh thu từ lưu trú, ăn uống, vận chuyển khách du lịch và các dịch vụ khác…Đối với những điểm du lịch mới hình thành và chưa phát triển cao, doanh thu du lịch chủ yếu tập trung vào cơ sở lưu trú Trên thực tế, tất cả các khoản này không phải chỉ do ngành du lịch trực tiếp thu mà còn do nhiều ngành khác có tham gia các hoạt động du lịch thu, do đó chỉ tiêu doanh thu du lịch thường không phản ánh hết đóng góp của ngành cho nền kinh tế

* Nguồn lao động: lao động trong ngành du lịch là yếu tố quan trọng để hoạt động du lịch được diễn ra, và có tính quyết định lớn đối với sự thành công của hoạt động kinh doanh Tiêu chí này được đánh giá qua tổng số lao động, mức độ tăng trưởng qua các năm và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nguồn lao động Số lượng lao động đảm bảo khả năng phục vụ khách và chất lượng lao động quyết định mức độ hài lòng của du khách, đây là tiêu chí để đánh giá chất lượng sản phẩm du lịch

b Chỉ tiêu hoạt động theo lãnh thổ (cấp tỉnh)

* Điểm du lịch: Là cấp phân vị thấp nhất, là kết quả đầu ra trước tiên trong hệ thống lãnh thổ du lịch Các điểm du lịch trước hết được phân tích qua sự có mặt của một loại tài nguyên nào đó (tự nhiên, văn hóa, lịch sử hoặc kinh tế - xã hội), cơ sở

hạ tầng phục vụ du lịch và mức độ hoạt động du lịch tại điểm du lịch Hai tiêu chí này sẽ quyết định điểm du lịch là điểm đang khai thác hay điểm tiềm năng Dựa vào

sự hấp dẫn của tài nguyên và sự hoàn thiện của kết cấu hạ tầng mà người ta xếp hạng các điểm du lịch quốc gia và điểm du lịch địa phương Ngoài ra, tiêu chí thời gian lưu trú tại điểm du lịch cũng khá quan trọng, thể hiện mức độ phát triển và khả năng hấp dẫn du khách tại điểm đó

* Tuyến du lịch: Là một đơn vị tổ chức không gian du lịch, được tạo bởi nhiều điểm du lịch khác nhau về quy mô, chức năng Việc xây dựng các tuyến du lịch thông thường dựa trên các tuyến đường giao thông sẵn có, hệ thống đô thị, các cơ

sở lưu trú cũng như giá trị các điểm đến Do đó việc đánh giá tuyến du lịch cũng thông qua các tiêu chí cụ thể: tên, chiều dài tuyến; các điểm du lịch trên tuyến; thời gian hoạt động của tuyến và các sản phẩm du lịch chủ yếu

Căn cứ vào phạm vi hoạt động của tuyến du lịch, có thể phân loại tuyến du lịch

là tuyến nội tỉnh hay liên tỉnh; tuyến du lịch quốc gia hay quốc tế Và dựa vào đặc điểm hoạt động của điểm du lịch trên tuyến có thể xác định được các tuyến du lịch tiềm năng

* Cụm du lịch: Là nơi tập trung nhiều điểm du lịch với mật độ tương đối lớn Các tiêu chí để đánh giá cụm du lịch là hạt nhân của cụm, các điểm du lịch, sản phẩm du lịch đặc trưng

Trang 34

Việc xác định cụm du lịch là cụm đang hoạt động hay cụm tiềm năng được dựa trên cơ sở đánh giá nguồn tài nguyên, khả năng khai thác và thực trạng hoạt động của các điểm du lịch cũng như mức độ liên kết của các điểm trong cụm

* Khu du lịch: Theo quy định tại khoản 7, điều 4, chương I, Luật Du lịch Việt

Nam “Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiểu quả về kinh tế, xã hội và môi trường”

* Trung tâm du lịch (của quốc gia và địa phương): là nơi tập trung khá đa dạng các nguồn tài nguyên, cơ sở hạ tầng tương đối phong phú và đặc biệt có vai trò thu hút khách du lịch và tạo nguồn thu rất lớn Được coi là hạt nhân phát triển du lịch của địa phương Tiêu chí khi phân tích thực trạng của một trung tâm du lịch là nêu được các sản phẩm du lịch của trung tâm và đánh giá vai trò của trung tâm du lịch trong sự phát triển du lịch địa phương

1.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển du lịch

1.2.1 Thực tiễn về hoạt động du lịch ở Việt Nam

Qua hơn 52 năm hình thành và phát triển, đến nay ngành du lịch Việt Nam đã

có những bước phát triển đáng kể và đã được Đảng và Nhà nước xác định là ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế –xã hội của đất nước, đóng góp ngày càng nhiều vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước và chuẩn bị hành trang để vững bước tiến lên với vai trò “ngành kinh tế mũi nhọn” trong thế kỷ XXI

Những năm gần đây, hòa nhịp với công cuộc đổi mới đất nước, toàn ngành đã tập trung nghiên cứu, đề xuất chính sách phát triển, xây dựng chiến lược, quy hoạch

và kế hoạch, hoàn thiện dần hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tăng cường quản

lý Đặc biệt, Luật Du lịch Việt Nam ra đời đã tạo một hành lang pháp lý thuận lợi cho hoạt động du lịch nước ta phát triển Trong quá trình hội nhập và phát triển, du lịch Việt nam đã từng bước khẳng định được vị thế của một ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng

1.2.1.1.Khách du lịch

*Khách du lịch quốc tế:

Thời gian qua, Ngành đã tích cực giới thiệu và quảng bá hình ảnh của đất nước

ra thế giới, mang lại giá trị lớn về kinh tế - xã hội Thu nhập xã hội từ du lịch tăng nhanh Năm 1990, Du lịch Việt nam mới chỉ đón được khoảng 250.000 lượt khách quốt tế, năm 2000, đón 2.140.100 lượt khách quốc tế, năm 2005, đón 3.478.000 lượt khách, tăng trung bình hàng năm là 22%; năm 2006, đón gần 3,6 triệu lượt quốc tế Đến năm 2010 đón được 5.049.855 lượt khách quốc tế Tốc độ tăng trưởng của khách du lịch quốc tế giai đoạn 2000 – 2010 đạt 8,9%/năm Song trong 2 năm

2002 và 2009 tăng trưởng âm do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn

Trang 35

cầu và đại dịch cúm AH1N1 và năm 2011 đón được 6.014.032 lượt khách quốc tế, tăng 19,1% so với năm 2010 Bên cạnh đó người Việt Nam đi ra nước ngoài du lịch đạt 1,4 triệu lượt

Biểu đồ 1.1: Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 2000 - 2010

2000 – 2010 và năm 2011 đón và phục vụ trên 30 triệu lượt khách nội địa Góp phần giải quyết việc làm cho khoảng 1,3 triệu lao động cả trực tiếp và gián tiếp (2011), thúc đẩy quá trình đô thị hóa, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống của cộng đồng dân cư nơi có hoạt động du lịch

Trang 36

Biểu đồ 1.2: Khách du lịch nội địa giai đoạn 2000 – 2010

Bảng 1.1: Chỉ tiêu số lượng khách du lịch cả nước giai đoạn 2000 -2011

Đơn vị tính: triệu lượt khách

Chỉ tiêu 2000 2005 2007 2008 2009 2010 2011 Tổng số 13,3 19,48 23,43 24,73 28,77 33.04 36.02 Khách DL Quốc tế 2,1 3,48 4,23 4,23 3,77 5,04 6,01 Khách DL nội địa 11,2 16 19.2 20,5 25,0 28 30,01

Nguồn: Tổng cục Thống kê

1.2.1.2.Doanh thu

Cùng với sự gia tăng của khách du lịch, thu nhập xã hội của ngành Du lịch đã mang lại ngày càng tăng cao, năm 1995 khoảng 500 triệu USD; thì năm 2005, đạt khoảng 2 tỷ USD, tăng trung bình hàng năm là 33%; năm 2008,đạt gần 4 tỷ USD và năm 2011 ước đạt trên 6,2 tỷ USD tăng 30% so với năm 2010

Bên cạnh sự gia tăng về thu nhập xã hội của du lịch, giá trị gia tăng của ngành

du lịch cũng tăng theo và đóng góp ngày càng tích cực vào GDP của nền kinh tế đất nước

Triệu lượt

Năm

Trang 37

Bảng 1.2 :Đóng góp du lịch vào GDP cả nước giai đoạn 2000 -2010

Đơn vị tính:Tỷ đồng, giá so sánh năm 1994

Năm 2000 2005 2007 2008 2009 2010 Giá trị gia tăng du lịch 8.923 13.971 25.05 24.383 27.100 37.400

Tỷ lệ đóng góp vào GDP 3,27% 3,55% 5,43% 4,97% 5,25% 5,80%

Nguồn:Niên giám thống kê 2011

1.2.1.3Cơ sở lưu trú & doanh nghiệp kinh doanh du lịch

Tính đến tháng 09/2011, cả nước có gần 987 doanh nghiệp lữ hành quốc tế, khoảng trên 10.000 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh lữ hành nội địa với đội ngũ hướng dẫn viên gần 5.000 người

Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, đặc biệt là cơ sở lưu trú cũng phát triển khá nhanh Tính đến tháng 9 năm 2011, Việt Nam có 12.500 cơ sở lưu trú với tổng số 250.000 phòng, trong đó có hơn 2000 khách sạn, 666 nhà nghỉ, 434 căn hộ và còn lại là các cơ sở lưu trú khác Trong số khách sạn trên, có 53 khách sạn, resort được xếp hạng 5 sao với 12.121phòng;127 khách sạn 4sao với 15.517 phòng và 271 khách sạn 3sao với 18.855 phòng Một số khu du lịch, khu vui chơi giải trí hoạt động tốt, có chất lượng cao, đáp ứng một phần nhu cầu của du khách Ngành vận chuyển khách du lịch phát triển nhanh, nhiều phương tiện vận chuyển hiện đại đã được các công ty du lịch đưa vào phục vụ du khách

Đầu tư hạ tầng cơ sở du lịch được Nhà nước hỗ trợ một phần, các địa phương

đã chủ động thu hút nhiều nguồn đầu tư khác nhau để xây dựng hệ thống giao thông, giải quyết vấn đề điện, nước, vệ sinh môi trường tại các khu du lịch Đầu tư nước ngoài tăng mạnh Tính đến năm 2010, 63 tỉnh thành trong cả nước đã thu hút được 625 dự án đầu tư vào các lĩnh vực khách sạn, resort, sân golf, lữ hành quốc tế… với tổng vốn đăng ký là 12,258 tỷ USD Các địa phương thu hút được nhiều dự

án và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nhất là TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Lâm Đồng, Quảng Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Khánh Hòa và Bình Thuận

Trang 38

Bảng 1.3 Số lao động du lịch trong ngành du lịch Việt Nam

Đơn vị tính: Người

Lao động 94.069 241.685 440.277

(Nguồn: Tổng cục du lịch Việt Nam )

Về mặt chất lượng, số lao động có trình độ đại học, cao đẳng tăng lên và tạo thành đội ngũ nòng cốt phục vụ cho ngành du lịch Tuy nhiên, số lao động này chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng số lao động của ngành du lịch và còn nhiều hạn chế như chưa đáp ứng được nhu cầu về cả số lượng và chất lượng Tỉ lệ lao động chưa qua đào tạo còn lớn (hơn 50% năm 2009), trình độ ngoại ngữ, năng lực nghiệp vụ còn nhiều bất cập Đặc biệt, lao động trong ngành còn thiếu tác phong công nghiệp, chưa thật sự gắn bó với nghề, ngoại trừ lao động ở một số trung tâm du lịch lớn

1.2.1.5.Xúc tiến, quảng bá, phát triển sản phẩm du lịch

Những thành tựu đã và đang đạt được đã mở ra cho du lịch Việt Nam những vận hội mới Hình ảnh du lịch Việt Nam đã khẳng định được những nét riêng độc đáo với dấu ấn của một số thành phố du lịch rất đậm nét trong lòng du khách: “Hà Nội – thành phố phục hưng của Đông Nam Á”, “Thành phố Hồ Chí Minh – sự pha trộn đầy quyến rũ giữa quá khứ và hiện tại”, “Nha Trang – biển nhiệt đới Việt Nam” Bên cạnh khai thác những giá trị tự nhiên và văn hóa tạo ra các sản phẩm du lịch truyền thống (du lịch tham quan nghỉ dưỡng, du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch biển, núi, du lịch chữa bệnh…) nhiều loại hình du lịch mới: du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, du lịch làng nghề không những được đầu tư phát triển mà còn nhận được

sự hỗ trợ tích cực của một số quốc gia và tổ chức như Liên minh Châu Âu (EU), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) Hiệp hội các trường đại học – cao đẳng Canada (ACCC)… góp phần xóa đói giảm nghèo ở một số địa phương

Hoạt động du lịch của nước ta đã có bước phát triển mới góp phần làm thay đổi diện mạo đất nước, tạo thêm việc làm, gia tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo; góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy xuất khẩu, phát triển ngành nghề thủ công; thúc đẩy giao thông, văn hóa, thông tin và giao lưu các vùng miền trong nước và quốc tế Những hiệu quả kinh tế - xã hội mà du lịch đem lại là động lực thúc đẩy đầu tư cho sự phát triển vững chắc của ngành Vận hội mới đang mở ra cho du lịch Việt Nam nhiều cơ hội tốt để đẩy mạnh quảng bá, kích cầu du lịch, hứa hẹn sẽ đạt được nhiều thành tựu hơn trong thời gian tới

1.2.2 Thực tiễn về hoạt động du lịch vùng du lịch duyên hải Nam Trung Bộ

Vùng duyên hải Nam trung bộ có diện tích 41.561 km2

, nằm trải dài trên 850km, bao gồm: Thành phố Đà Nẵng và các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi,

Trang 39

Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận Toàn vùng có số dân 8.842.600 người(Năm 2010) Mật độ dân số 213 người/km2

Vùng du lịch DHNTB phía Bắc giáp với tỉnh Thừa Thiên Huế; Phiá Nam và Đông Nam giáp tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa Vũng Tàu; Phía Tây và và Tây Bắc giáp các tỉnh Tây Nguyên và Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Các tỉnh trong vùng đều

có biển tạo nên tiềm năng to lớn để phát triển du lịch biển- đảo với các loại hình du lịch như nghỉ dưỡng biển-đảo, thể thao trên biển, trên cát cũng như du lịch sinh thái biển, lặn biển…v v

Sự kết hợp hài hòa giữa biển và núi đã tạo cho vùng nhiều kỳ quan, thắng cảnh hùng vĩ, những bờ biển đẹp như Mỹ Khê, Non Nước (Đà Nẵng),Quy Nhơn (Bình Định), Long Thủy – Mỹ Á (Phú Yên), Ninh Chữ (Ninh Thuận), Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), Bãi Dài, Dốc Lết, Vịnh Vân Phong(Khánh Hòa), Mũi Né(Bình Thuận) và nhiều suối nước nóng, suối bùn khoáng Ngoài ra, vùng còn có nhiều đảo

đá lớn, nhỏ như bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) được xếp vào danh sách rừng cấm với cảnh đẹp và thảm động thực vật phong phú, cù lao Chàm (Quảng Nam) khu vực dự trữ tự nhiên có diện tích 1.535 ha và nhiều danh thắng khác như gành Đá Đĩa (Phú Yên), Hòn Nội (Khánh Hòa), Phú Quý (Bình Thuận)…Ngoài ra, có hai quần đảo khá nổi tiếng là quần đảo Trường Sa (Khánh Hòa) và Hoàng Sa (Đà Nẵng) Những vịnh đẹp của vùng là Dung Quất (Quảng Ngãi), Vịnh Vân Phong, Vịnh Nha Trang, Vịnh Cam Ranh (Khánh Hòa)

Ngoài biển, đảo thì những danh thắng, di tích cũng là điểm nổi bật của vùng với những giá trị về mặt văn hóa, lịch sử, tâm linh và nghỉ dưỡng Hiện nay, vùng duyên hải Nam Trung bộ có khoảng 362 di tích được xếp hạng, chiếm 14,4% số di tích được xếp hạng trong cả nước

Bên cạnh vẻ đẹp của tự nhiên và những di tích thì hệ sinh thái với những loài động thực vật đa dạng cũng tạo nên sức hút du lịch cho vùng Trước tiên phải kể đến là nguồn gốc hải sản phong phú Vùng chiếm gần 20% sản lượng đánh bắt của

cả nước, với những loài hải sản đặc sản như tôm, tôm hùm, cá mú, ngọc trai… Bên cạnh đó, còn có nhiều loài động vật với chủng loại đa dạng như: thú có 7 bộ, 19 họ

và trên 50 loài với các loại đại diện như hổ, báo, gấm, bò rừng, sơn dương, sóc chân vàng vọoc ngũ sắc, khỉ đuôi dài, trăn gấm…; chim có 13 bộ và trên 150 loài, các loài đại diện gồm có công, đại bang đất, gà lôi, bìm bịp, đặc biệt chim yến cho sản phẩm có giá trị cao, nổi tiếng trong nước và quốc tế

Vùng duyên hải Nam Trung bộ thu hút khách đến tham quan quanh năm kể

cả du khách trong nước và quốc tế Du khách đến vào tháng 2, tháng 5 và tháng 12 chiếm tỷ lệ cao, đặc biệt mùa hè ( tháng 7,8) là mùa cao điểm về du lịch biển đảo của vùng Khách đến đây theo nhiều loại hình du lịch đa dạng như tham quan thắng

Trang 40

cảnh thiên nhiên; nghỉ dưỡng biển, tham quan di tích văn hóa – lịch sử; du lịch

thương mại và tham dự hội thảo, hội nghị…

Vùng du lịch duyên hải Nam trung bộ là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc Ở

đồng bằng, bên cạnh dân tộc Kinh còn có nhiều dân tộc khác như: Chăm, với nền

văn hóa Chàm nổi tiếng từ lâu đời, nhiều tháp Chàm, di tích của một nền văn hóa cổ

xưa với kiến trúc cổ bằng đá hoặc bằng gạch còn lại tới ngày nay

Nơi đây, mạng lưới giao thông có sự kết hợp chặt chẽ giữa các hệ thống

đường giao thông với nhau Thông qua mạng lưới giao thông tương đối phát triển,

vùng có thể liên hệ trực tiếp với nhiều vùng khác trong và ngoài nước

Hệ thống đường ôtô trong vùng có tầm quan trọng hàng đầu Các tuyến đường

chính như: QL1 chạy dọc xuyên suốt qua toàn bộ lãnh thổ của vùng, QL19 từ Quy

Nhơn đi KonTum (136km), QL27 từ Phan Rang đi Đà Lạt (113km);Quốc lộ 26 từ

Khánh Hòa đi Đaklak Hệ thống đường sắt Bắc - Nam qua nhiều tỉnh thành Nam

Trung Bộ Trước đây, vào thời Pháp thuộc, có tuyến đường sắt từ Phan Rang lên Đà

Lạt nhưng hiện đã ngưng sử dụng

Hệ thống đường biển tương đối phát triển, trong vùng có một số hải cảng quan

trọng như: cảng Cam Ranh, cảng Vũng Rô, Cảng Tiên Sa, cảng Quy Nhơn Ngoài

các tuyến đường biển trong nước, từ đây còn có các tuyến đường đi nhiều nơi khác

trên thế giới

Hệ thống đường hàng không khá phát triển, trong vùng có các sân bay như:

Cam Ranh, Phú Yên, Quy Nhơn, Đà Nẵng, Chu Lai với các tuyến đường bay trong

nước và quốc tế mà trung tâm quan trọng là TP.Đà Nẵng

Bảng 1.4: Khách du lịch đến vùng duyên hải Nam Trung Bộ giai đoạn 2000 – 2010

Để phục vụ du lịch, không thể không nhắc đến việc sản xuất và cung cấp điện

Trong vùng, có một số nhà máy điện song quy mô tương đối nhỏ hơn so với vùng

du lịch Bắc Bộ Đáng lưu ý hơn cả là thủy điện Sông Tranh, Sông Ba Hạ… và một

số nhà máy thuỷ - nhiệt điện của các địa phương trong vùng hòa vào mạng lưới điện

Quốc gia

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Sơ đồ phân loại tài nguyên du lịch - Du lịch Khánh Hòa  tiềm năng, thực trạng và giải pháp
Hình 1.1 Sơ đồ phân loại tài nguyên du lịch (Trang 22)
Bảng 1.1: Chỉ tiêu số lượng khách du lịch cả nước giai đoạn 2000 -2011 - Du lịch Khánh Hòa  tiềm năng, thực trạng và giải pháp
Bảng 1.1 Chỉ tiêu số lượng khách du lịch cả nước giai đoạn 2000 -2011 (Trang 36)
Bảng 1.4: Khách du lịch đến vùng duyên hải Nam Trung Bộ giai đoạn 2000 – 2010 - Du lịch Khánh Hòa  tiềm năng, thực trạng và giải pháp
Bảng 1.4 Khách du lịch đến vùng duyên hải Nam Trung Bộ giai đoạn 2000 – 2010 (Trang 40)
Bảng  2.1.  Số  lượng  di  tích  cấp  tỉnh  phân  theo  đơn  vị  hành  chính  huyện  của  tỉnh  Khánh Hòa [37] - Du lịch Khánh Hòa  tiềm năng, thực trạng và giải pháp
ng 2.1. Số lượng di tích cấp tỉnh phân theo đơn vị hành chính huyện của tỉnh Khánh Hòa [37] (Trang 56)
Bảng 2.2. Di tích lịch sử văn hóa, thắng cảnh được xếp hạng quốc gia của Khánh  Hòa [37] - Du lịch Khánh Hòa  tiềm năng, thực trạng và giải pháp
Bảng 2.2. Di tích lịch sử văn hóa, thắng cảnh được xếp hạng quốc gia của Khánh Hòa [37] (Trang 57)
Bảng 2.4. Lượng khách du lịch đến Khánh Hòa thời kỳ 2000 – 2011[12] - Du lịch Khánh Hòa  tiềm năng, thực trạng và giải pháp
Bảng 2.4. Lượng khách du lịch đến Khánh Hòa thời kỳ 2000 – 2011[12] (Trang 72)
Bảng 2.5. So sánh lượng khách du lịch đến Khánh Hòa với các tỉnh lân cận [33] - Du lịch Khánh Hòa  tiềm năng, thực trạng và giải pháp
Bảng 2.5. So sánh lượng khách du lịch đến Khánh Hòa với các tỉnh lân cận [33] (Trang 74)
Bảng 2.6. Doanh thu ngành du lịch Khánh Hòa thời kỳ 2000 – 2011 [12] - Du lịch Khánh Hòa  tiềm năng, thực trạng và giải pháp
Bảng 2.6. Doanh thu ngành du lịch Khánh Hòa thời kỳ 2000 – 2011 [12] (Trang 75)
Bảng 2.7. Hiện trạng cơ sở lưu trú của Khánh Hòa giai đoạn 2000 - 2011 - Du lịch Khánh Hòa  tiềm năng, thực trạng và giải pháp
Bảng 2.7. Hiện trạng cơ sở lưu trú của Khánh Hòa giai đoạn 2000 - 2011 (Trang 76)
Bảng 2.8: Số lao động trong ngành du lịch Khánh Hòa từ năm 2000 -2010 - Du lịch Khánh Hòa  tiềm năng, thực trạng và giải pháp
Bảng 2.8 Số lao động trong ngành du lịch Khánh Hòa từ năm 2000 -2010 (Trang 77)
Bảng 3.2. Dự kiến trung bình mỗi ngày chi tiêu của một du khách đến Khánh Hòa - Du lịch Khánh Hòa  tiềm năng, thực trạng và giải pháp
Bảng 3.2. Dự kiến trung bình mỗi ngày chi tiêu của một du khách đến Khánh Hòa (Trang 94)
Bảng 3.4. Dự báo thu nhập du lịch của tỉnh Khánh Hòa [32] - Du lịch Khánh Hòa  tiềm năng, thực trạng và giải pháp
Bảng 3.4. Dự báo thu nhập du lịch của tỉnh Khánh Hòa [32] (Trang 95)
Bảng 3.5. Dự báo chỉ tiêu GDP và vốn đầu tư cho du lịch tỉnh Khánh Hòa[32] - Du lịch Khánh Hòa  tiềm năng, thực trạng và giải pháp
Bảng 3.5. Dự báo chỉ tiêu GDP và vốn đầu tư cho du lịch tỉnh Khánh Hòa[32] (Trang 96)
Bảng 3.7. Dự báo nhu cầu lao động trong du lịch của Khánh Hòa [32] - Du lịch Khánh Hòa  tiềm năng, thực trạng và giải pháp
Bảng 3.7. Dự báo nhu cầu lao động trong du lịch của Khánh Hòa [32] (Trang 98)
Bảng 3.8. Dự báo khách, nhu cầu vốn đầu tư du lịch của các cụm du lịch - Du lịch Khánh Hòa  tiềm năng, thực trạng và giải pháp
Bảng 3.8. Dự báo khách, nhu cầu vốn đầu tư du lịch của các cụm du lịch (Trang 107)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w