Nội dung của các chương trình du lịch Thiền là tổ chức cho khách tham quan các công trình kiến trúc của đạo Phật, quan sát và tham gia vào cuộc sống sinh hoạt của các thiền sư, thưởng th
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THÙY LAN
NGHIÊN CỨU CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH THIỀN (ZEN TOURISM) Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ DU LỊCH HỌC
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu: 7
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: 8
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu: 8
5 Phương pháp nghiên cứu: 8
6 Cấu trúc của luận văn : 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH THIỀN 10
1.1 Phật giáo và đạo Phật tại Việt Nam: 10
1.1.1 Sự ra đời của đạo Phật: 10
1.1.2 Giáo lý đạo Phật: 11
1.1.2.1 Tứ Diệu Đế: 11
1.1.2.2 Bát chính đạo 12
1.1.2.3 Thập nhị nhân duyên 16
1.1.2.4 Tam Tạng Kinh điển 23
1.1.3 Sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam 28
1.2 Thiền Tông: 30
1.2.1 Khởi nguyên của Thiền Tông và Thiền Tông Trung Hoa: 30
1.2.2 Thiền Tông Việt Nam: 31
1.2.3 Các phương pháp tu thiền tại Việt Nam 32
1.3 Du lịch Thiền: 42
1.3.1 Khái niệm về du lịch Thiền: 42
1.3.2 Đặc điểm của du lịch Thiền: 43
1.3.3 Vai trò của du lịch Thiền 45
Trang 31.1.3.1 Về mặt kinh tế: 45
1.1.3.2 Về mặt xã hội : 46
1.3.4 Các hoạt động du lịch Thiền trên thế giới : 46
1.3.4.1 Thái Lan: 46
1.3.4.2 Trung Quốc 49
1.3.4.3 Nhật Bản 50
1.3.5 Các hoạt động du lịch Thiền tại Việt Nam : 51
Tiểu kết chương 1: 54
CHƯƠNG 2: CÁC ĐIỀU KIỆN VÀ KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH THIỀN Ở VIỆT NAM 56
2.1 Tài nguyên du lịch Thiền: 56
2.1.2 Tài nguyên nhân văn mang tính vật thể: 56
2.1.2.Tài nguyên nhân văn phi vật thể: 59
2.1.3 Các hoạt động thiền: 60
2.1.3.1 Đạo Phật và hoạt động tu thiền của đạo Phật 60
2.1.3.2 Hoạt động Thiền yoga: 68
2.1.4 Lễ hội Thiền: 70
2.1.5 Nhạc Thiền: 72
2.2 Cơ sở vật chất cho du lịch Thiền: 74
2.3 Lao động trong du lịch Thiền: 77
2.4 Nguồn khách du lịch Thiền 78
2.4.1 Nhu cầu của khách hàng nội địa : 78
2.4.2 Nhu cầu của khách quốc tế: 79
2.4.3 Khả năng đáp ứng nguồn khách của các nhà cung cấp: 82
2.5 Chủ trương chính sách của nhà nước 83
2.6 Đánh giá chung về các điều kiện và khả năng phát triển du lịch Thiền tại Việt Nam 84
Trang 42.6.1 Thuận lợi 84
2.6.2 Khó khăn 86
Tiểu kết chương 2: 86
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG VÀ KHAI THÁC DU LỊCH THIÊN Ở VIỆT NAM 88
3.1 Căn cứ đề xuất 88
3.1.1 Định hướng phát triển du lịch Việt Nam: 88
3.1.2 Định hướng phát triển du lịch Thiền tại Việt Nam: 90
3.2 Đề xuất xây dựng và khai thác tour du lịch Thiền: 91
3.2.1 Xây dựng tour du lịch Thiền Hà Nội – Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên – Hà Nội 92
3.2.1 Xây dựng tour du lịch Thiền Hà Nội - Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử – Hà Nội 93
3.2.2 Các biện pháp tăng cường điều kiện phát triển du lịch Thiền 96
3.2.2.1 Đầu tư cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất phục vụ du lịch: 96
3.2.2.2 Tạo nguồn khách thông qua các hoạt động hướng dẫn thực hành thiền: 96
3.2.2.3 Kiến nghị với nhà nước, Bộ thể thao văn hóa và du lịch, Tổng cục du lịch và các cấp chính quyền 97
Tiểu kết chương 3: 99
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC 103
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU, ẢNH
Ảnh 1.1: Hoạt động thiền yoga trong tour du lịch Thiền – Yoga tại
Nha Trang của Công ty TNHH Du lịch Anh Anh
44
Ảnh 2.1: Các học sinh được các gia đình gửi lên tu thiền trong dịp
hè tại Thiền viện trúc lâm tây Thiên trên đường lên dự khóa lễ
Sám hối
64
Ảnh 2.2: Đại Hùng Bảo điện Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên
trong khóa lễ sám hối lục căn buổi chiều
76
Ảnh 2.3 : Du khách thực hiện “balwoo-gongyang” - một nghi thức
bao gồm bốn cái bát bằng gỗ trước bữa ăn của nhà sư ở ngôi đền
Baekdam, tỉnh Gangwon
81
Ảnh 2.4 : Hoạt động của du khách tại các chùa, đền 81 Ảnh 3.1; THời khóa biểu của Đạo Tràng An cư kiết hạ 95 Bảng 2.1: Số lượng các tăng ni theo học các trường đào tạo 59 Bảng 2.2 Bảng thống kê lượng du khách tham dự lễ hội Yên tử,
Chùa Hương
61
Trang 6
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Du lịch vốn là một ngành dịch vụ cung cấp các sản phẩm dịch vụ đem lại nhiều lợi ích cho các đơn vị tổ chức đi du lịch, các điểm đến du lịch và người tiêu dùng những sản phẩm du lịch đó – khách du lịch Với lợi thế của từng vùng và từng quốc gia trong việc khai thác các điều kiện, tiềm năng du lịch, phát triển các sản phẩm dịch vụ căn cứ nhu cầu của du khách thì một loạt các sản phẩm du lịch đã được cung cấp trong hai thế kỷ gần đây với nhiều dạng thức và mục đích đi du lịch khác nhau: du lịch nghỉ dưỡng, du lịch MICE, du lịch văn hoá, du lịch chữa bệnh, du lịch mạo hiểm, du lịch biển, du lịch thăm thân… và cùng với sự thay đổi nhận thức thế giới quan và sự phát triển của những tôn giáo, các loại hình thức du lịch tâm linh và du lịch hành hương ngày càng phát triển
Phát triển du lịch tại khắp các Châu lục đã tạo điều kiện cho khách du lịch hiểu biết nhiều hơn về các địa điểm du lịch, các nền văn minh, các đặc trưng văn hoá, các công trình và tuyệt tác không chỉ của thiên nhiên mà có sự góp sức của bàn tay con người và những nghệ nhân qua các thời đại Tuy nhiên với nhu cầu ham hiểu biết của con người ngày càng tập trung vào các vấn đề không thuộc phạm vi của vật chất mà những hoạt động mang tính chất tôn giáo, tinh thần đặc biệt là các tôn giáo mang tính triết lý và trải nghiệm
Với sự truyền giáo và duy trì của các tôn giáo trên thế giới, đạo Phật đã
Trang 7ra các nước Châu Á, Châu Âu Khái niệm Thiền đang dần trở nên quen thuộc đối với tầng lớp học giả nghiên cứu tại các quốc gia, những tăng ni Phật tử và
đã lan rộng ra mọi tầng lớp nhân dân đặc biệt là Việt Nam với sự du nhập của Đạo Phật được xem như là từ thế kỷ thứ 3
Với tiềm năng tài nguyên nhân văn và truyền thống Phật giáo tại các quốc gia như Nhật Bản , Ấn Độ, Thái Lan đã sử dụng hoạt động này trở thành một lợi thế du lịch cũng như hình thành một hình thức du lịch mới - Du lịch Thiền đem lại hiệu quả cho đất nước Trong khi đó tại Việt Nam cũng có rất nhiều điều kiện để có thể phát triển loại hình du lịch này nhưng chưa được các cấp các ngành và đơn vị tổ chức du lịch quan tâm, khai thác
Du lịch Thiền là một hình thức du lịch phát triển mạnh ở các quốc gia Châu Á nói chung và các quốc gia theo Phật giáo nói riêng Nội dung của các chương trình du lịch Thiền là tổ chức cho khách tham quan các công trình kiến trúc của đạo Phật, quan sát và tham gia vào cuộc sống sinh hoạt của các thiền sư, thưởng thức và chiêm ngưỡng những nét đặc sắc của các loại hình nghệ thuật Thiền như cắm hoa, trà đạo, bon sai, ẩm thực…
Ở Việt Nam, du lịch Thiền mới bắt đầu hình thành và phát triển với những tour du lịch tham quan chùa chiền, lễ hội, các quán cafe Thiền (Zen Cafe), công viên thiền (Zen Park), các khu Spa trong các khách sạn lớn ở những thành phố lớn
Với các quốc gia như Thái Lan, Nhật Bản, Ấn Độ….nguồn thu từ du lịch Thiền rất lớn và được các cấp chính quyền, hiệp hội và chính các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, người dân nhiệt tình tham gia vào loại hình du lịch này Mặc dù du lịch Thiền đang được đánh giá là sản phẩm du lịch mới lạ với nhiều doanh nghiệp lữ hành ở Việt Nam nhưng nhiều chính sách của các
cơ quan hữu quan cũng như sự năng động sáng tạo của công ty lữ hành cũng
Trang 8chưa đủ sức thuyết phục để hình thành nên loại hình du lịch hấp dẫn và bền vững với môi trường này
Chính những lợi ích thu được từ loại hình du lịch Thiền đã tạo động lực thúc đẩy cần phải nghiên cứu các điều kiện để phát triển du lịch Thiền, các tiềm năng để phát triển du lịch Thiền tại Việt Nam mà các nhà làm du lịch, các doanh nghiệp chưa thực sự chú tâm Đồng thời, việc nghiên cứu loại hình
du lịch này với mong muốn tạo ra một loại hình du lịch mới thu hút du khách, tạo công ăn việc làm, đem lại hiệu quả kinh tế cho các doanh nghiệp lữ hành
và nguồn thu cho ngân sách nhà nước Những hoạt động tìm hiểu và nghiên cứu này dựa trên nền tảng của các tác động về văn hoá của Phật giáo và hoạt động truyền giáo phối hợp với các tín ngưỡng bản địa, các hiệu quả thực sự của việc thực hành các phương pháp tu thiền đối với hoạt động của con người
và sức khoẻ của con người
Xuất phát từ các điều kiện và tiềm năng phát triển loại hình du lịch này
tác giả lựa chọn đề tài “Nghiên cứu các điều kiện để phát triển du lịch Thiền (Zen tourism) ở Việt Nam ”
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu:
Du lịch Thiền trên thế giới rất phát triển và đối với một số quốc gia như
Ấn Độ là một sản phẩm du lịch chính và cũng là một sản phẩm độc đáo thu hút du khách của các quốc gia theo đạo Phật nói chung Việc nghiên cứu về
du lịch Thiền trên thế giới được tính như một hình thức du lịch đặc thù tại một
số quốc gia, còn các hoạt động thiền định dưới hình thức thiền định Phật giáo hoặc Yoga được phổ biến, lan rộng ra khắp các Châu lục
Các nghiên cứu và lý luận trên thế giới hiện nay coi du lịch Thiền như một loại hình du lịch tâm linh hoặc nếu tham gia các tour du lịch Yoga thì được tính là du lịch chăm sóc sức khỏe, nghỉ dưỡng
Trang 9Đối với hoạt động du lịch Thiền ở Việt Nam hiện nay còn chưa có nghiên cứu chuyên sâu mà mới chỉ có các nghiên cứu ở mức độ tác động về văn hóa và du lịch văn hóa thông qua ảnh hưởng của Đạo Phật tại Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Trong chừng mực phạm vi và khả năng có thể, luận văn đưa tới một hệ thống lý luận cơ bản về loại hình du lịch Thiền nói chung và một số các hoạt động du lịch Thiền, hoặc có ứng dụng thiền tại Việt Nam (tập trung ở phía Bắc) Từ đó, luận văn nghiên cứu điều kiện phát triển và đặt nền móng bước đầu cho việc hình thành, khai thác ứng dụng Thiền vào du lịch, xây dựng các tour, tuyến điểm du lịch Thiền
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là loại hình du lịch Thiền hoặc có ứng dụng Thiền và những điều kiện để phát triển du lịch Thiền ở Việt Nam Việt Nam có nhiều vùng tập trung nhiều điều kiện để phát triển du lịch Thiền nhưng luận văn chỉ chú trọng vào việc nghiên cứu, đánh giá du lịch Thiền, các điều kiện để phát triển du lịch Thiền ở miền Bắc và từ đó đưa ra những định hướng, giải pháp phát triển cho loại hình du lịch này trong tương lai
Phạm vi nghiên cứu: Tại Việt Nam và tập trung chủ yếu ở Miền Bắc trong đó đi thực địa tại các điểm đến như: Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử, Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên; có tham khảo tại Nha Trang – Khánh Hòa
5 Phương pháp nghiên cứu:
Thu thập thông tin, dữ liệu cơ bản từ các nguồn nghiên cứu chính thống trước đó về du lịch Thiền, các điều kiện phát triển du lịch Thiền Thu thập thông tin về những công ty lữ hành đang khai thác các sản phẩm du lịch
Trang 10Thiền, những yếu tố tác động đến hoạt động du lịch Thiền từ đó phân tích tổng hợp dữ liệu
Phương pháp quan sát thực hiện từ những chuyến thực địa của tác giả tại nhiều địa phương và những công ty lữ hành có chương trình du lịch liên quan đến du lịch Thiền và phỏng vấn các đối tượng có liên quan
6 Cấu trúc của luận văn :
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành ba chương chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về du lịch Thiền
Chương 2: Các điều kiện và khả năng phát triển du lịch Thiền ở Việt Nam
Chương 3: Đề xuất xây dựng và khai thác phát triển du lịch Thiền ở Việt Nam
Trang 11CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU
LỊCH THIỀN
1.1 Phật giáo và đạo Phật tại Việt Nam:
1.1.1 Sự ra đời của đạo Phật:
Đức Phật sống vào khoảng thế kỷ thứ VI trước công nguyên tại Vùng Bắc Ấn Độ Ngài vốn là một vị Hoàng tử của Vương quốc Sakya tại chân dãy núi Hymalaya, ngày nay thuộc Nepal Cuộc sống của ngài rất sung sướng, ngài kết hôn với công chúa Yasodhara và có một con trai là Rahula Mặc dù sống trong nhung lụa, nhưng ngài luôn trăn trở về những mặt đen tối của xã hội Ấn Độ lúc đó, nỗi khổ đau của đồng loại, sự bất bình đẳng giai cấp trong
xã hội, tính vô thường của sự việc thông qua các cảnh vật đã làm thay đổi tư duy của ngài Ngài thấy một người già run rẩy, người bệnh rên siết, và một người chết khiến cho con người ta không thể thoát khỏi quá trình sinh lão bệnh tử và ngài cũng thấy một vị du tăng và ngài nảy sinh việc kiên quyết đi tìm chân lý thoát khỏi bể khổ của loài người
Ngài rời bỏ cuộc sống vương giả để đi tu tập tìm con đường diệt khổ Khi ngồi thiền dưới gốc cây bồ đề ngài đã tìm được lời giải đáp và giác ngộ, khi đó ngài 35 tuổi Sau đó, Đức Phật đi du hành khắp nơi để thuyết pháp và giảng dạy về con đường giác ngộ cho những ai hữu duyên và sẵn sàng tu học
Tăng đoàn do Đức Phật thành lập ngày càng lớn mạnh, giáo pháp của ngài được truyền đạo đến hết thảy dân chúng mà không dành riêng cho tầng
Trang 12lớp nào cả không như đạo Bà La Môn chỉ dành cho các nhà quý tộc Ấn Độ thời đó Sau khi ngài nhập Niết bàn, giáo pháp và đạo của Ngài đã được truyền bá khắp nơi và sang cả các quốc gia ở những châu lục khác
1.1.2 Giáo lý đạo Phật:
Sau khi giác ngộ trở thành bậc toàn năng, Đức Phật đã đi thuyết pháp ở nhiều nơi và thu hút được nhiều đệ tử đi theo Ngài, giáo lý của Ngài đã được truyền bá cho các tăng ni, Phật tử với nội dung chính của các buổi thuyết pháp
về các điều Ngài đã giác ngộ và thấu triệt như: Tứ Diệu Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Bát Chính Đạo, Tam Tạng Kinh…
1 Khổ Đế – sự thật về khổ: Đây là sự thật về các vấn đề của đời sống, qua sinh, già, bệnh và chết và những ưu sầu thất vọng
2 Tập Đế – sự thật về nguồn gốc của khổ: Trong sự thật này, Đức Phật quán xét và giải thích sự khởi sinh của hoạn khổ từ nhiều nguyên nhân và điều kiện Đây là sự thật sâu xa về luật Nhân – Quả và Duyên Nghiệp Tất cả các loại hoạn khổ trên đời đều bắt đầu từ lòng tham, và các tham muốn ích kỷ đều bắt nguồn từ si mê, vô minh
Trang 133 Diệt Đế – sự thật về sự diệt khổ: Đây là sự thật về mục đích của người con Phật Khi vô minh hoàn toàn được phá tan qua trí tuệ chân thật và khi lòng tham thủ và ích kỷ bị huỷ diệt và thay thế bằng thái độ đúng đắn của từ bi và trí tuệ, Niết Bàn – trạng thái của an bình tối hậu, hoàn toàn giải thoát mọi khổ đau hoặc sẽ được thực chứng
4 Đạo Đế – Con đường tận diệt khổ đau: Đây là sự thật về con đường hành đạo của mọi Phật tử, là đường hướng sinh hoạt của người con Phật, bao gồm các căn bản chính yếu của lời Phật dạy và đường lối thực hành để tiến đến Niết Bàn, giải phóng khỏi mọi ràng buộc vào cuộc sống luân hồi trong thế gian
Hiểu được Tứ Diệu Đế là nắm bắt được cái gốc, cái chân lý của các khổ đau để nhận thức và chấp nhận và có thái độ đúng đắn nhằm trải qua các cảm giác đó
1.1.2.2 Bát chính đạo
Con Ðường Đức Phật ngồi thiền dưới gốc cây Bồ Đề nhận thức ra dẫn đến sự chấm dứt khổ Con đường này được gọi là Trung đạo vì nó tránh hai cực đoan: cực đoan tìm hạnh phúc bằng cách theo đuổi khoái lạc giác quan,
và cực đoan tìm hạnh phúc bằng cách tự ép xác dưới nhiều hình thức khổ hạnh Vì đã đích thân thử hai cực đoan ấy và thấy chúng vô dụng, Phật đã tìm
ra Trung đạo bằng kinh nghiệm của chính Ngài và thấy nó đưa đến an tịnh, trí tuệ, giác ngộ, Niết-bàn Trung đạo này thường được gọi là Bát chính đạo : con đường thánh tám ngành, vì nó gồm có tám phần:
Chính kiến : thấy đúng
Chính tư duy : nghĩ đúng
Chính ngữ : nói đúng
Trang 14Tám yếu tố ấy nhằm mục đích giúp phát triển và kiện toàn ba khía cạnh cốt yếu trong sự tu tập và giới luật Phật giáo là Giới, Ðịnh và Tuệ Bởi thế ta sẽ hiểu rõ hơn về Bát chính đạo nếu phân nhóm và giải thích theo ba đề mục ấy
Giới căn bản trên từ và bi bao gồm 3 yếu tố của Bát chính đạo: Chính ngữ, chính nghiệp và chính mạng (số 3, 4, 5 trong bảng kê trên)
Chính ngữ có nghĩa là:
- Không nói dối
- Không nói xấu, vu khống, hay nói những lời có thể gây thù ghét, bất hòa, tan rã giữa những cá nhân hay những nhóm người
- Không nói cứng cỏi, thô lỗ, vô lễ, ác độc, thóa mạ người
- Không nói lời mách lẻo, vô ích, xuẩn ngốc
Khi tránh được những hình thức ngôn ngữ sai quấy và có hại ấy, tất nhiên người ta phải nói sự thật, phải dùng những từ ngữ thân thiện, khoan hòa, êm ái, và nhã nhặn, có ý nghĩa và lợi ích Người ta không nên nói năng
Trang 15bừa bãi, mà phải nói đúng lúc và đúng chỗ Nếu không thể nói điều gì lợi ích, tốt hơn nên giữ sự "im lặng cao quý"
Chính nghiệp nhằm phát sinh lối hành xử hợp đạo đức, khả kính và hòa bình Chính nghiệp là nên từ bỏ giết hại sinh mạng, từ bỏ trộm cắp, bỏ việc buôn bán giao dịch bất lương, bỏ tà dâm và giúp kẻ khác sống một đời hòa bình đáng kính theo chính đạo
Chính mạng có nghĩa người ta nên từ bỏ sinh nhai bằng một nghề nghiệp có hại cho kẻ khác, như buôn bán khí giới, chất uống say sưa, độc dược, giết hại súc vật, lừa dối v.v và nên sống bằng nghề nghiệp đáng kính,
vô tội, không có hại cho người, vật Ở đây ta có thể thấy rõ đạo Phật cực lực chống đối bất cứ loại chiến tranh nào, khi lập nguyên tắc rằng buôn bán khí giới là một phương tiện sinh sống xấu xa bất chánh
Ba yếu tố này (chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng) của Bát chính đạo lập thành Giới Cần nhận chân rằng giới luật Phật giáo cốt nhằm mục đích đem lại hạnh phúc, an lạc cho đời sống cá nhân và xã hội Không thể có sự phát triển tâm linh nào nếu không có căn bản đạo đức ấy
Tiếp đến là kỷ luật tâm linh bao gồm 3 yếu tố khác của Bát chính đạo là chính tinh tiến, chính niệm và chính định (số 6, 7, 8)
Chính tinh tiến là ý chí mạnh mẽ để ngăn ngừa những điều xấu chưa sinh; để từ bỏ những điều xấu đã sinh; để làm phát sinh những điều thiện chưa sinh; và tăng trưởng những điều thiện đã sinh
Chính niệm (sự để ý, chú ý chân chính), là luôn luôn rõ biết, đầy đủ ý thức và chú ý về: những hoạt động của thân xác, những cảm giác hay cảm xúc, những hoạt động của tâm, ý tưởng, tư tưởng, quan niệm và sự vật
Phần thứ ba cuối cùng của kỷ luật tâm linh là Chính định, đưa đến tứ thiền Ở sơ thiền đẩy lùi được tham dục, (tư tưởng không lành như nhục dục), sân, hôn trầm (ngủ gà ngủ gật), trạo cử (lo âu, bất an) và hoài nghi; nhưng duy
Trang 16trì những cảm giác hỉ và lạc, cùng với một vài hoạt động tâm linh (tầm, tứ) Ở thiền thứ hai, tất cả mọi hoạt động của tâm (tầm, tứ) biến mất, sự an tĩnh và nhất tâm được phát triển, cảm giác hỉ và lạc vẫn còn được giữ lại Ở thiền thứ
ba, hỉ cũng biến mất nhưng lạc vẫn còn, cùng với tâm xả Ở thiền thứ tư, mọi cảm giác (thân) lạc khổ, (tâm) hỉ ưu đều tan biến, chỉ còn lại xả và sự nhất tâm thuần tịnh (xả niệm thanh tịnh)
Như thế tâm được huấn luyện, khép vào kỷ luật và phát triển nhờ chính tinh tiến, chính niệm và chính định
Chúng ta đã bàn qua sáu yếu tố của Bát chính đạo (3,4,5,6,7,8) làm đối tượng cho Giới và Ðịnh Hai yếu tố còn lại, Chính tư duy và Chính kiến, làm nên trí tuệ
Chính tư duy liên hệ đến những tư tưởng về từ bỏ, giải thoát, tình yêu
vô ngã, bất bạo động trải đến muôn loài Một điều thú vị và quan trọng cần chú ý ở đây là những ý tưởng về giải thoát, tình yêu vô ngã và bất bạo động được nhóm họp về phía trí tuệ Ðiều này tỏ rõ rằng trí tuệ chân thật vốn có những đức tính cao quý ấy, rằng mọi tư tưởng về dục vọng vị kỷ, sân hận hay bạo động đều là hậu quả của sự thiếu trí tuệ trong mọi lĩnh vực đời sống cá nhân, xã hội, chính trị
Chính kiến là sự thấy biết mọi sự đúng như thật, và chính Tứ Diệu Đế mới giải thích sự vật đúng như thật Bởi vậy chính kiến rốt cuộc là thấy, hiểu
Tứ Diệu Đế Sự hiểu biết này là trí tuệ cao cả nhất, thấy được thực tại tối hậu Theo Phật giáo có hai loại hiểu biết: hiểu biết thông thường của chúng ta là kiến thức, trí nhớ tích lũy, sự lãnh hội dựa trên một số dữ kiện Nó không sâu sắc lắm Sự hiểu biết sâu sắc thật sự gọi là thâm nhập, thấy biết sự vật trong bản chất của nó mà không cần tên Sự thâm nhập này chỉ có thể có khi tâm đã sạch mọi ô nhiễm và đã hoàn toàn phát triển nhờ thiền định
Trang 17Từ sự miêu tả sơ lược này về Bát chính đạo, ta có thể thấy rằng đấy là một lối sống phải được mỗi người tuân theo, thực hành và phát triển Nó là tự
kỷ luật trong thân xác, lời nói và ý nghĩ, tự phát triển và tự thanh lọc Nó không dính líu gì đến đức tin, cầu nguyện, thờ phụng hay nghi lễ Trong nghĩa
đó, nó không có gì có thể gọi là có tính cách "tôn giáo" thông thường Nó là một con đường dẫn đến sự thực chứng chân lý tối hậu, dẫn đến tự do hoàn toàn, hạnh phúc và bình an nhờ sự hoàn thiện về đạo đức, tâm linh và trí thức
1.1.2.3 Thập nhị nhân duyên
Thập nhị nhân duyên là giáo nghĩa cơ bản của những lời dạy căn bản của Đức Phật đối với việc giải thích mọi hiện tượng nhân duyên sinh khởi và biến dịch của nhân sinh cùng vũ trụ được Ngài triển khai rộng theo thời gian
và không gian của ba đời theo luật tắc nhân quả
Thập nhị Nhân duyên là pháp được đức Đạo sư hiện quán xuôi nghịch trong lúc Ngài tọa thiền dưới bóng cây Bồ Đề mà khám phá ra sự thật của các pháp là vô thường- vô khổ - vô ngã; nhưng vì vô minh nên chúng sinh không nhận ra được sự thật của chúng mà chấp vào chúng cho là thường còn bất diệt, để rồi từ vô minh này mà tạo ra nghiệp nhân đau khổ rồi cảm quả trong
ba cõi sáu đường Sự khám phá sự thật của các pháp này là một sự kiện phát hiện mới về những nguyên nhân trói buộc chúng sinh vào con đường sinh tử luân hồi, và phương pháp để diệt trừ những khổ đau mà chúng sinh phải gánh chịu Đạo lý giải thoát của Ngài được đặt nền tảng chính yếu qua Thập Nhị Nhân Duyên này và Tứ Diệu Đế đã đề cập ở phần trên
Với thập nhị nhân duyên Ngài đã khám phá ra nguyên nhân chính yếu của vòng tròn sinh khởi và huỷ diệt khổ đau của sinh tử luân hồi Theo phương pháp quán thuận nghịch, tức là cách quán lưu chuyển và hoàn diệt của thập nhị nhân duyên Trong 49 ngày đêm Ngài ngồi tư duy dưới bóng cây
Trang 18Bồ-đề không ngoài vấn đề này Vấn đề sinh, lão, bệnh, tử được Ngài đặt ra như là một tiên quyết là làm sao biết được vấn đề con người từ đâu sinh ra?
Và khi chết sẽ đi về đâu?
Đây là giáo nghĩa cơ bản của những lời dạy căn bản của Đức Phật đối với cách giải thích mọi hiện tượng nhân duyên sinh khởi và biến dịch của nhân sinh cùng vũ trụ được Ngài triển khai rộng theo thời gian và không gian của ba đời theo luật tắc nhân quả, qua nhận thức quán chiếu lưu chuyển và hoàn diệt theo định thức duyên khởi quán hay còn gọi là duyên sinh quán Mười hai chi này làm nhân và duyên vào nhau mà hiện khởi theo chiều lưu chuyển sinh khởi hay ngược lại, làm nhân duyên cho nhau mà biến diệt theo chiều hoàn diệt trong nhận thức quán lưu chuyển và hoàn diệt Theo kinh A-hàm thì mười hai chi nhân duyên này được thành lập như sau: Vô minh, Hành, Thức, Danh sắc, Lục xứ , Xúc, Thọ , Ái , Thủ , Hữu , Sinh , Lão tử
1/ Vô minh, là một tiếng gọi khác của phiền não căn bản, tức là vì phiền não che lấp phủ kín nên chúng ta không nhận thức một cách như thật về
sự vật và, không thông đạt được cái lý chân thật cùng khả năng lý giải rõ ràng
về những trạng thái tinh thần qua sự tướng của sự vật cùng đạo lý chân thật của cuộc sống Vô minh là chi thứ nhất của mười hai chi duyên khởi; vì phiền não hoặc chúng biến chúng ta thành những kẻ vô trí, ngu si đặc biệt chúng ta không nhận thức được đạo lý thế tục của những lời dạy Đức Phật
2/ Hành, có nghĩa là hành động, tạo tác, cũng còn có nghĩa là biến hóa dời đổi, là chi thứ hai trong mười hai chi duyên khởi
- Tạo tác, có cùng nghĩa với nghiệp Ở đây, trong mười hai duyên khởi thì, hành là chi thứ hai trong mười hai chi duyên khởi Hành có khả năng chiêu cảm nghiệp nhân ba đời trong quá khứ cho quả báo hiện tại Hành cũng chỉ cho tất cả mọi họat động của thân và tâm của con người
Trang 19- Biến hóa dời đổi, ở đây hành theo nghĩa hữu vi pháp, chúng lệ thuộc vào mọi hiện tượng hình thành và biến dịch của các pháp hữu vi, chúng do nhân duyên tạo tác mà hiện hữu hay biến dịch, cho nên chúng liên hệ và lệ thuộc vào luật tắc vô thường chi phối đối với các pháp hữu vi Hành trong các hành vô thường chúng thuộc vào loại hành này Cũng như hành uẩn trong ngũ uẩn chúng thuộc nghĩa thứ hai Do đó hành không phải chỉ có nghĩa là tạo tác hành động không thôi mà hành cũng được định nghĩa như là biến dịch dời đổi
từ trạng thái này sang trạng thái khác từ hình tướng này sang hình tướng khác dành cho các pháp hữu vi Nhưng hành ở đây chỉ liên hệ đến sự tác nghiệp và
sự chiêu cảm nghiệp nhân đưa đến nghiệp quả trong sự liên hệ qua mười hai chi duyên khởi, còn nghĩa thứ hai chúng ta chưa cần phải đề cập đến chúng trong tiêu đề này, mặc dù chúng cũng liên hệ đến năm thủ uẩn
3/ Thức, có nghĩa là phân tích, phân loại đối tượng để sau đó cho chúng
ta nhận biết tác dụng về chúng trong những thời kỳ đầu khi đức Đạo sư còn tại thế Trong thời kỳ Đức Phật còn tại thế Ngài tùy thuộc vào căn cơ, môi trường xã hội, mà nói pháp nên chưa có bất cứ hệ thống nào, việc sử dụng mang tính cách hỗn hợp, tùy duyên tùy căn cơ, tùy thời tùy đối tượng mà nói
Đó là cách định nghĩa chung cho Thức trên mặt phổ quát; tuy nhiên thức trong những thời kỳ phát triển sau này qua các bộ phái thì chúng được sắp xếp trở lại có hệ thống hơn; hay cũng có những định nghĩa chuyên môn và lệ thuộc vào những thuộc tính mà những biểu thức, chúng muốn chúng ta đề cập đến sự lệ thuộc đó qua từng thuộc tính một Như thức của tiền ngũ thức chúng mang bộ mặt của thức uẩn chưa qua tác ý, nên chưa có sự phân biệt, phân tích hay phân chia, chỉ là một thứ rõ biết về sự hiện diện của một đối tượng như là chính nó chưa qua bất cứ danh tự hay danh xưng nào khác do tác ý can thiệp vào, nên mỗi thức tự mang thuộc tính của chính mình, như nhãn thức chỉ thuộc của thức về mắt thôi …cho đến thân thức chỉ thuộc thức về thân thôi
Trang 20Thức ở đây chỉ là những cảm giác đơn thuần tác dụng khi các căn của chúng
ta tiếp xúc với các đối tượng bên ngoài sinh ra; nhưng chúng chưa đủ để có sự nhận thức phân biệt về đối tượng Ở đây chỉ có đệ lục thức của ý mới tổng hợp được những đối tượng của các pháp rơi rớt lại từ tiền ngũ thức cộng với ý tưởng khởi lên hình ảnh làm đối tượng cho ý duyên mà phát sinh ý thức có đầy đủ sự nhận thức phân biệt đối với các hiện tượng sự vật đó mà sinh ra tác dụng; nhưng vẫn còn dạng đơn thuần theo chức năng của ý thức
4/ Danh sắc, là chi thứ tư của mười hai chi duyên khởi Đây là chi gọi chung cho một sinh thể được kết hợp giữa tâm (tinh thần) và vật (vật chất) trong một cá thể mà thuật ngữ chuyên môn gọi là ngũ uẩn (sắc chỉ cho hình sắc thân thể của một cá nhân, còn thọ, tưởng, hành, thức chỉ cho tâm thức không có hình thể để có thể nhận thấy như vật thể của sắc) có được từ sự kết hợp nhân duyên mà hình thành và hiện hữu Ở đây danh chỉ cho phương diện tâm, còn sắc chỉ cho phương diện vật chất
Quan hệ và ý nghĩa giữa danh và sắc thì theo các bộ phái phát triển sau này vẫn có những bất đồng về cách giải thích theo quan điểm nhận thức, vì trình độ căn cơ và việc tu chứng đẻ ra Theo Hữu bộ thì, thai sinh (danh sắc)
đã hình thành được căn cứ vào mười hai duyên khởi mà lý giải thì, trong mỗi chi như vậy đều lấy ngũ uẩn làm thể cho nó Ở đây ngũ uẩn sẽ xuất hiện khi thần thức thác thai sinh ra kết quả trong vòng một sát-na tích tắc ban đầu, thời gian này còn gọi là thức, là chi thức trong mười hai chi Sau khi thần thức thác thai xong, nhưng lúc đó bốn sắc căn chưa phát khởi và, trước khi lục xứ chưa đầy đủ Trong thời gian này gọi là danh sắc hay còn gọi là chi danh sắc, trong khi đó theo các nhà Duy thức tông thì, cho rằng chủng tử của dị thục (quả báo) uẩn chính là danh sắc Do vậy trong mười hai duyên khởi ngoại trừ chủng tử của thức gốc, lục căn, xúc và, thọ ra còn tất cả những chi khác đều thuộc vào danh sắc
Trang 215/ Lục xứ , chỉ cho mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và, ý, chính là sáu nơi (sáu căn) có khả năng tiếp thu sáu ngoại cảnh (lục xứ) ở bên ngoài và, làm chỗ nương cho lục thức sinh ra cho nên gọi là xứ Còn lục căn là sáu nơi vào thuộc bên trong thân của một chủ thể và, lục cảnh là sáu đối tượng đi vào thuộc bên ngoài thân thường được gọi chung là mười hai nhập hay, mười hai
xứ
Tóm lại nếu lục căn và lục cảnh hỗ tương phối hợp vào nhau mà sinh ra lục thức thì gọi là nhập; còn lục căn lục thức khi làm chỗ nương tựa cho lục thức phát sinh thì gọi là xứ Nhưng ở đây chúng ta chỉ bàn đến lục nhập là chi thứ năm trong mười hai chi duyên khởi thì, lục nhập có được nhờ duyên vào danh sắc để hình thành Chính sự hiện hữu của lục nhập cũng là duyên để cho xúc hiện hữu cho nên lục nhập vừa là nhân của chính nó vừa là duyên để làm chỗ nương tựa cho xúc hiện hữu
6/ Xúc, nó là hình thức tác dụng của tâm, là một trong những tâm sở, là chỉ cho sự giao tiếp tiếp xúc giữa các cơ quan truyền cảm của các cơ năng (căn) trong thân của một cá thể đối với các trần cảnh đối tượng bên ngòai để cho ra nhận thức (thức) Ba quan năng này khi hòa hợp với nhau sản sinh ra tác dụng của tinh thần; cũng chính là những cảm giác có được, được sản sinh
ra bỡi do sự tiếp xúc giữa chủ thể và đối tượng, giữa chủ quan và khách quan Như vậy theo trên chúng ta có sáu căn, sáu trần, sáu thức khi chúng tiếp xúc tiếp cận nhau tạo ra sáu xúc (lục xúc thân), chúng tùy thuộc vào sự tương ưng của nhiễm ô hay trong sạch mà có tên gọi khổ-vui hay không khổ không vui
Ở đây xúc thuộc chi thứ sáu, được chúng ta căn cứ vào mười hai duyên khởi mà giải thích thì, xúc theo các nhà Hữu bộ căn cứ vào phân vị của nó trong duyên khởi, nó thuộc vào thời kỳ còn là anh nhi trẻ thơ nên sự tiếp xúc của sáu căn trong thân, sáu trần cảnh bên ngoài, sáu thức sinh ra nhưng chưa
có một tác ý vào nên chưa có sự phân biệt khác nhau được trong khổ đau hay
Trang 22khoái lạc khi tiếp xúc chúng, vì những cảm giác này chưa có sự can thiệp của
ý
7/ Thọ, có nghĩa là cảm thọ, cảm giác Thọ được phát sinh từ sự duyên khởi liên hệ lệ thuộc hợp tác giữa sáu cảm quan ( sáu căn) trong thân mỗi cá thể, sáu đối tượng trần cảnh ở bên ngoài (sáu trần), cùng các chủ thể nhận thức (sáu thức) hòa hợp tiếp xúc vào nhau mà hiện khởi ra cảm thọ hay, cảm giác Trong những trạng thái cảm thọ, cảm giác này có sự can thiệp của ý nên thọ ở đây có trạng thái buồn, vui, không khổ không vui phát sinh tùy theo thuộc tính cảm thụ của chúng Ở đây trạng thái buồn vui tùy thuộc vào sự tác
ý lãnh nạp thuận nghịch đối với mọi sự phân biệt của ý còn bản thân của căn trần, xúc không quyết định được những trạng thái này, mà chúng có được nhờ vào sự can thiệp của ý tác động thuộc tinh thần, nên có những cảm thọ hay những cảm giác khổ, vui, hoặc không khổ không vui
8 / Ái, là chi thứ tám trong mười hai chi duyên khởi, có nghĩa là tham luyến, chấp trước đối với tất cả mọi sự vật nói chung và con người nói riêng Thông thường chữ ái được hiểu theo một nghĩa là thương yêu, tham luyến một chiều; nhưng đối với Phật giáo thì ái mang hai bộ mặt trái ngược nhau như kinh Tăng chi bộ thì ái được đức Đạo sư định nghĩa như sau: “ái có thể sinh ra ái, cũng có thể sinh ra ghét; ghét có thể sinh ra ái, cũng có thể sinh ra ghét.”
9 / Thủ, là một tên gọi của phiền não, nó là chi thứ 9 trong mười hai chi duyên khởi, tức là chỉ cho lòng chấp trước vào đối cảnh từ chi thứ 8 tức là
ái chủ động thúc đẩy dẫn sanh đưa đến hiện hành mọi họat động nhiệt thành tích cực hơn trong việc chấp thủ
Theo Thuyết nhất thiết Hữu bộ thì vấn đề phân vị của thủ trong mười hai duyên khởi cho rằng: Thủ là chỉ cho thời kỳ thanh niên của một sinh thể hiện hữu đối với dâm, thực vấn đề khát ái trở nên đòi hỏi và thúc đẩy nhiều
Trang 23hơn, cho nên việc tìm cầu để thõa mãn nó thì chúng sinh không biết mệt mỏi, giai đọan này gọi là thủ (chấp thủ: nắm giữ không để mất) Nhưng đối với Kinh bộ thì, dựa vào nghĩa sát-na duyên khởi mà định nghĩa thủ là chỉ cho dục tham cùng các thứ phiền não; cho đến vì hành tướng của nó mạnh mẽ sắc bén có thể khiến cho lửa nghiệp cháy bừng mà giải thích nghĩa cho nó
10/ Hữu, có nghĩa là tồn tại, sinh tồn, sự hiện hữu Trong Phật giáo hữu được sử dụng rất rộng rãi về ý nghĩa cũng như cách phân loại phần nhiều không giống nhau trong chủ trương của các bộ phái phát triển sau này Tuy nhiên trên đại thể vẫn có tiếng nói chung chủ yếu chỉ chung thể của quả dị thục của các chúng sinh hữu tình cùng khả năng chiêu cảm các nghiệp của thể quả dị thục này cũng phát xuất từ nghiệp nhân thiện ác, để từ đó chiêu cảm quả báo khổ-vui, các loại nhân quả báo ứng này luôn luôn tương tục không mất cho nên gọi là hữu
Tóm lại hữu được các bộ phái sau này tùy theo quan điểm và cảm thụ
sở đắc của họ đối với những lời dạy của Đức Phật, nên từ đó hữu được phân
ra làm nhiều loại: Tam hữu (dục, sắc, vô sắc giới), Thất hữu (địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, nhân, thiên, nghiệp, trung hữu), Nhị thập ngũ hữu (bao quát chi tiết từ ba đường ác, bốn châu, các tầng trời, các cõi thiền… cho đến vô sắc giới thiên), Nhị thập cửu hữu… nói chung là tất cả các loài hữu tình chịu sinh
tử luân hồi trong ba cõi sáu đường đều thuộc vào sự lệ thuộc của Hữu
11 / Sinh, có nghĩa là sinh khởi từ nghiệp lực quá khứ đưa đến kết quả trong tương lai một cách chính xác theo nghĩa của chi thứ mười một trong mười hai chi duyên khởi Sinh là một trong bốn tướng (sinh, trụ, dị, diệt) là hiện tượng hiện khởi tương tục qua bốn tướng, tức pháp hữu vi sinh từ thời vị lai cho đến thời hiện tại – Sinh này là một hiện tượng của sức mạnh sinh xuyên suốt, sức mạnh này do thật thể mang lại cho chúng ta lý giải từ sinh trụ
dị diệt trong duyên khởi – Sinh là một trong bốn hữu, tức sinh hữu, là sinh
Trang 24trong hiện tại, sát-na khi thác thai thọ sinh vẫn sinh tồn không biến mất, nó được gọi là kết sinh hay là thọ sinh – Sinh còn chỉ cho nghĩa sinh tồn của cuộc sống Cuộc sinh tồn trong hiện tại được gọi là kim sinh; sự sinh tồn trong quá khứ, vị lai thì được gọi là tha sinh – Chúng sinh y vào sự sai khác của thọ sinh tùy theo đó mà chúng ta có thể phân loại Như thai sinh, thấp sinh, nõan sinh, hóa sinh, đó là bốn loại sinh Ngòai ra còn có hữu sắc, vô sắc, hữu tưởng, vô tưởng, phi hữu tưởng, phi vô tưởng ở trong chín loài sinh hay mười hai loài sinh
12 / Lão tử, tức là già và chết, chúng chỉ cho lúc chúng sinh cá thể suy biến đưa đến họai diệt Căn cứ vào nhân quả hai lớp ba đời mà nói thì, sinh chi và lão tử chi là hai quả của đời vị lai, đối với đời hiện tại sau khi bỏ thân mạng, đó chính là lúc bắt đầu hình thành thân mạng mới trong thời gian một sát-na để năm uẩn tích hợp trở lại, lúc này gọi là chi sinh; ở đây sát-na thức sinh khởi trở về sau theo đó danh sắc xuất hiện, lục xúc bắt đầu họat động, thọ, ái dần dần tăng thêm cho đến khi nào tất cả đều biến đổi diệt đi thì gọi là lão tử Ở trong đây, lão là trạng thái suy biến của sắc và tâm, còn tử là thọ mạng đã hết nên diệt hoại
Trên là tất cả mọi ý nghĩa và nội dung có được của mười hai chi duyên khởi với ý nghĩa riêng và chung của chúng Dưới đây chúng tôi sẽ trình bày phần liên hệ lệ thuộc vào nhau để chúng hiện khởi trong sinh diệt theo hai chiều lưu chuyển và hòan diệt của mười hai duyên khởi
1.1.2.4 Tam Tạng Kinh điển
Sau 45 năm thuyết pháp, những lời giảng daỵ của Đức Phật không những không bị quên lãng, thất lạc mà còn được lưu giữ, truyền bá mãi đến ngày nay, làm nền tảng cho một nền văn hóa vĩ đại với những đặc thù về mỹ thuật, kiến trúc, điêu khắc, hội họa, văn học, triết học v.v và trở thành nguồn
Trang 25sống và niềm hy vọng của nhân loại trên khắp thế giới Được như thế, có hai nguyên do: Thứ nhất, những lời giảng dạy của Đức Phật phù hợp với chân lý khắp nơi và muôn đời; thứ hai do quá trình lưu giữ và truyền bá của chư vị thánh tăng mà trong đó, những lần kết tập kinh điển và những công trình phiên dịch kinh điển là căn bản
Không có những lần kết tập kinh điển và những công trình phiên dịch kinh điển thì không có Tam Tạng Thánh Điển như ngày nay
Chính lần kết tập thứ nhất đã hình thành Luật tạng và Kinh tạng Lần kết tập này được tổ chức chỉ 4 tháng sau khi Đức Phật Niết Bàn Luật tạng do ngài Ưu Ba Li chủ trì và Kinh tạng do ngài A Nan chủ trì Dĩ nhiên các lần kết tập kế tiếp đã bổ túc thêm nội dung cho Luật tạng và Kinh tạng Luận tạng được thành hình trong hai lần kết tập thứ ba và thứ tư Lần kết tập thứ ba do vua A Dục hậu thuẩn và bảo trợ tổ chức sau khi Đức Phật Niết Bàn 218 năm (trước Tây lịch 325 năm) nhằm thanh lọc những pha trộn và phản bác những xuyên tạc của ngoại đạo cùng lúc đúc kết các bài thuyết giảng về tâm lý, thể tính và sự tướng của vạn pháp, tạo thành Thắng Pháp Tạng Lần kết tập thứ
tư diễn ra khoảng 400 năm sau Đức Phật Niết Bàn do vua Ca Nị Sắc Ca bảo trợ tổ chức, soạn ra được ba bộ luận nhằm giải thích kinh, luật và luận gồm ba mươi vạn bài tụng Theo Phật giáo Nam truyền, lần kết tập thứ tư diễn ra tại Sri Lanka cũng khoảng thời gian 400 năm sau Đức Phật Niết Bàn với thành quả là hoàn tất và viết xuống bằng tiếng Pàli toàn bộ Tam tạng kinh điển hệ Nam truyền
Bên cạnh những lần kết tập kinh điển như đã tóm lược trên, những công trình phiên dịch đã đóng góp lớn trong sự hình thành Đại Tạng Kinh, đặc biệt đối với Đại Tạng Kinh Bắc truyền Trong khi Đại Tạng Kinh Pali Nam Truyền có nguồn gốc đơn giản từ giáo pháp trong đó có 5 bộ Nikàya do Đại Đức Ma Sân Đà, con vua A Dục đã đem khẩu truyền ở Siri Lanka thì Đại
Trang 26Tạng Kinh Bắc truyền có nguồn gốc từ Phạn ngữ Sanskrit được hình thành qua một quá trình gian khổ
Cho đến thế kỷ thứ 10, Phật giáo Ấn Độ nói chung và Phật giáo Bắc truyền Sanskrit nói riêng vẫn phát triển tốt đẹp Không ai có thể nghĩ rằng sau
đó không lâu, đặc biệt từ đầu thế kỷ 13 trở đi, Phật giáo xem như bị triệt tiêu hoàn toàn Bị triệt tiêu đến độ có thể nói Phật giáo đã vắng bóng hẳn 5 thế kỷ trên chính quê hương của mình Các nhà nghiên cứu đã nêu ra nhiều nguyên
do, nhưng chính yếu là do sự tiêu diệt của các bộ tộc Hồi giáo thuộc Thổ Nhĩ
Kỳ Với tinh thần kỳ thị, bất khoan dung tôn giáo một cách cực đoan, cuồng tín, họ đã tàn sát những người không chịu theo Hồi giáo, đốt phá chùa chiền, kinh điển và các cơ sở văn hóa không thuộc Hồi giáo Điển hình trường hợp Phật Học Viện Na – lan - da Đây là một trung tâm văn hóa, giáo dục, đào tạo danh tiếng kỳ cựu của Phật giáo ở Ấn Độ được vua Thước-ca-la Dật-đa thành lập trong thế kỷ thứ hai, nghĩa là trước khi bị tàn phá hơn 10 thế kỷ, nơi lúc đông nhất có đến mười ngàn học viên, nơi các luận sư danh tiếng của Phật giáo Đại Thừa như các ngài Vô Trước, Thế Thân, Long Thọ giảng dạy, nơi ngài Huyền Trang, Pháp Hiền, Nghĩa Tịnh trong thế kỷ thứ 7 đã lưu trú tu học, nơi mà từ xưa đã nổi tiếng có một thư viện tàng trữ nhiều sách quý và hiếm, kể cả những kinh điển Sanskrit Chính nơi đây đã hai lần bị các đạo quân Hồi giáo tàn phá tiêu diệt Lần thứ nhất, năm 1197, dưới sự chỉ huy của tướng Mo ha mét, bộ tộc Hồi giáo Kha di thuộc Thổ Nhĩ Kỳ đã đốt phá cơ sở, kinh sách và giết trên 8000 tu sĩ và trên 1500 vị giáo sư tu sĩ lỗi lạc đương thời tại Đại Học Na – lan - da Lần thứ hai, năm 1235, một đạo quân Hồi giáo khác đã đốt phá và giết hại hầu như tất cả những người cư trú tu học và giảng dạy tại đây, chỉ còn lại 70 vị Tăng sống sót phải trốn sang Nepal và Tây Tạng
Đó là điển hình cho hầu hết những chùa chiền, cơ sở của Phật giáo khắp nơi trên đất Ấn Đó là lý do tại sao Phật giáo đã bị vắng mặt hoàn toàn tại Ấn Độ
Trang 27suốt 5 thế kỷ Đó cũng là lý do tại sao đại bộ phận kinh điển Sanskrit biến mất khiến cho ngôn ngữ Sankrit , cái nôi chuyên chở kinh điển Phật giáo Bắc truyền đã không là ngôn ngữ gốc của một Đại Tạng Kinh Phật giáo Bắc truyền ngày nay như Pali là ngôn ngữ gốc của Đại Tạng Kinh của Phật giáo Nam truyền
Tuy nhiên, đại bộ phận kinh điển Sanskrit mà phần lớn bị đốt phá, tiêu diệt ở Ấn Độ đã được bảo lưu qua các bản dịch Tây Tạng và Trung Hoa vài thế kỷ trước đó để về sau trở thành Đại Tạng Kinh Tây Tạng và Đại Tạng Kinh Trung Hoa
Đại Tạng Kinh hay Tam Tạng Kinh Điển hay Tam Tạng Thánh Giáo
là tên gọi chỉ cho toàn bộ kinh điển Phật giáo đã được hệ thống hóa trong cùng một ngôn ngữ, bao gồm 3 tạng: Kinh, Luật , Luận Từ hai ngôn ngữ gốc được dùng để ghi chép kinh điển là Sanskrit và Pali, kinh điển Phật giáo hiện nay đã được dịch ra nhiều ngôn ngữ trên thế giới nên cũng đã có nhiều Đại Tạng Kinh với ngôn ngữ khác nhau Tuy nhiên, do các yếu tố hoàn chỉnh, hệ thống và ảnh hưởng lịch sử mà các Đại Tạng Kinh Pali, Trung Hoa và Tây Tạng có giá trị vượt trội hơn Cần để ý rằng trong cùng một loại Đại Tạng Kinh có những khác biệt trong mỗi ấn bản, chẳng hạn có những khác biệt trong Đại Tạng Kinh Pali ấn bản của Thái Lan so với Đại Tạng Kinh Pali ấn bản của Siri Lanka Cũng vậy, tuy được xem là Đại Tạng Kinh Trung Hoa, nhưng có những khác biệt về nội dung giữa các ấn bản của Nhật Bản, của Hàn Quốc, của Trung Hoa vì khi tập thành đã dựa trên những ấn bản khác nhau trước đó của Đại Tạng Kinh Trung Hoa
Nam Truyền Đại Tạng Kinh hay cũng được gọi là Thánh điển Pali là Đại Tạng Kinh của các quốc gia Phật giáo thuộc Phật giáo Nam truyền như Siri Lanka, Miến Điện, Thái Lan, Campuchia Đây là Đại Tạng Kinh được
hệ thống và hoàn chỉnh sớm nhất, không trải qua những chặng đường phiên
Trang 28dịch nhiêu khê nên được các nhà nghiên cứu Tây phương tin tưởng cho rằng gần gủi với những gì Đức Phật giảng dạy nhất
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh: Đây là Đại Tạng Kinh Trung Hoa được các học giả danh tiếng của Nhật tập thành dưới triều Đại Chánh của Nhật (1912-1925) và được xuất bản trong thời gian 10 năm bắt đầu từ năm
1924 và hoàn tất năm 1934 Đây là Đại Tạng được giới học giả nghiên cứu đánh giá là hoàn bị nhất, có thẩm quyền nhất và uy tín nhất được xử dụng khắp nơi trên thế giới kể cả trong các Đại Học Âu Mỹ để nghiên cứu Phật giáo Đại Tạng này gồm 100 tập dày và lớn theo khổ tự điển, bao gồm gần 12 ngàn quyển, chứa đựng 3360 kinh văn, luật văn và luận văn Phần chính của Đại Tạng là 55 tập bao gồm kinh, luật, luận, các tông phái của Trung Hoa và Nhật Bản và những đề mục liên quan đến lịch sử, tiểu sử, mục lục Ngoài 55 tập chính còn có 30 tập với 736 tác phẩm của người Nhật và 15 tập Đồ tượng
Đại Tạng Kangyur và Tengyur: Đây là tên gọi Đại Tạng Kinh Tây Tạng, bao gồm hơn 300 bộ kinh luận được dịch từ Sanskrit Kinh tạng Kangyur ghi lại những thuyết giảng của Đức Phật bao gồm luôn cả giới luật, gồm 92 bộ với 1055 bài Luận tạng Tangyur bao gồm các bộ luận của các bậc Luận sư Phật giáo Ấn Độ, gồm 224 bộ với 3626 bài Điều đáng lưu ý là trên thực tế có nhiều kinh điển được đọc tụng, nghiên cứu, giảng dạy hơn là số lượng đã được in trong Đại tạng Có thể vì mất bản gốc Sanskrit nên một số lớn các bản dịch trước đây trong thời kỳ đầu của Phật giáo Tây Tạng không được chính thức thừa nhận Mãi đến thế kỷ 11, mới có kế hoạch xét lại các bản dịch và cho vào mục lục Đại Tạng Kinh Tuy vậy vẫn còn một số lớn nằm ngoài Được dịch trực tiếp từ nguyên bản Sanskrit ở giai đoạn khá sớm nên Đại Tạng Kinh Tây Tạng được các học giả đánh giá là nguồn tư liệu trung thực và quan trọng
Trang 29Tam Tạng Kinh điển hay Đại tạng Kinh là kho tàng kiến thức không chỉ của Đức Phật để lại mà là sự giải nghĩa và tập hợp tri thức của bao nhiêu thế hệ tăng ni Phật tử dày công nghiên cứu và sưu tập để trở thành một sản phẩm có giá trị tinh thần vô giá và mang tính chất lý luận để cho các học giả nghiên cứu, các thế hệ tăng ni tu tập và học giáo lý Phật giáo Việt Nam đã thành lập Hội đồng để dịch các kinh tạng này ra Tiếng Việt để phục vụ tăng
ni, Phật tử Việt Nam tu học
1.1.3 Sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam
Với điều kiện cơ bản để phát huy được du lịch Thiền chính là nền tảng của Đạo Phật tại quốc gia đó Để hiểu rõ hơn về du lịch Thiền tại Việt Nam chúng ta cần tìm hểu về Phật giáo tại Việt Nam
Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, ngay từ đầu công nguyên với truyện cổ tích Chử Đồng Tử học đạo của một nhà sư Ấn Độ Luy Lâu (thuộc tỉnh Bắc Ninh ngày nay) là trụ sở của Quận Giao Chỉ từ thời đầu phong kiến đô hộ phương Bắc sớm trở thành trung tâm Phật giáo quan trọng Các truyền thuyết về Thạch Quang Phật và Man nương Phật Mẫu xuất hiện cùng với sự giảng đạo của Khâu Đà La trong thời gian 168 – 189
Do tiếp thu Phật giáo trực tiếp từ Ấn Độ nên từ Buddha (Bậc giác ngộ) được phiên âm trực tiếp thành Bụt, từ Bụt được dùng nhiều trong các truyện dân gian Phật giáo vào thời điểm đó mang màu sắc Phật giáo Tiểu thừa, Bụt được coi như là là một vị thần chuyên đi cứu giúp người tốt, trừng phạt kẻ xấu Sau này vào thế kỷ thứ 4- 5, do ảnh hưởng của Phật giáo Đại thừa đến từ Trung Quốc mà từ Bụt mất dần đi và thay vào đó là từ Phật
Phật giáo ăn sâu, bám rễ vào Việt Nam từ rất sớm Đến đời nhà Lý , nhà Trần, Phật giáo phát triển cực thịnh được coi là quốc giáo, ảnh hưởng đến tất cả mọi vấn đề trong cuộc sống Đến đời nhà Hậu Lê thì Nho giáo được coi
Trang 30là quốc giáo và Phật giáo đi vào giai đoạn suy thoái Đến đầu thế kỷ thứ 18, vua Quang Trung cố gắng chấn hưng đạo Phật, chỉnh đốn xây chùa, nhưng vì mất sớm nên việc này không có nhiều kết quả Đến thế kỷ 20, mặc dù ảnh hưởng mạnh của quá trình Âu hoá, Phật giáo Việt Nam lại phát triển mạnh mẽ khởi đầu từ các đô thị miền Nam với các đóng góp quan trọng của các nhà sư Khánh Hoà và Thiện Chiếu
Với các hoạt động của Phật giáo trong suốt thời gian truyền bá tại Việt Nam và các biến cố của lịch sử, Phật giáo Việt Nam tính đến thời điểm hiện nay tạm thời được phân ra làm 4 giai đoạn chính sau:
Giai đoạn 1: Từ đầu công nguyên đến hết thời kỳ Bắc thuộc (TK 10) là giai đoạn hình thành và phát triển rộng khắp;
Giai đoạn 2: Thời kỳ Đại Việt là giai đoạn cực thịnh;
Giai đoạn 3: từ thời Hậu Lê đến cuối thể kỷ 19 là giai đoạn suy thoái; Giai đoạn 4: từ đầu thế kỷ 20 đến nay là giai đoạn Phục Hưng
Đạo Phật sau khi được truyền bá vào Trung Quốc đã phát triển hình thành các tông phái khác nhau và cũng theo đó truyền bá vào Việt Nam trong
đó nổi bật là tác động của 3 tông phái lớn: Thiền Tông, Tịnh Độ Tông và Mật Tông
Như vậy, Phật giáo đến Việt Nam từ rất sớm và trải qua nhiều giai đoạn phát triển đặc biệt là thời gian phát triển dưới thời Lý và tiếp theo đến triều Trần để rồi Việt Nam có dòng Thiền Tông riêng biệt với sự hợp nhất các thiền phái của Phật Hoàng Trần Nhân Tông để hình thành Thiền phái Trúc Lâm Quan trọng nhất, Phật giáo đóng vai trò quan trọng trong việc đem lại giá trị đạo đức xã hội trong suốt thời gian tồn tại ở Việt Nam Ngoài ra, Phật giáo còn góp phần không nhỏ trong các giá trị văn hoá còn lại đến hiện nay như các công trình điêu khắc mang đậm nét văn hoá, các công trình kiến trúc có
Trang 31tính thẩm mỹ cao, các tác động của Phật giáo vào nếp sống, giáo dục nhân cách con người…
Chính các giá trị tinh thần, giá trị văn hoá to lớn qua tác động truyền bá của Phật giáo đã đem lại một kho tàng nhân văn để các thế hệ tiếp sau biết được các hoạt động phát triển của Phật giáo của thế hệ đi trước và cũng là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn để giới thiệu đến bạn bè năm châu về hoạt động không chỉ mang tính chất tôn giáo thuần tuý mà còn mang tính xã hội rất cao và với khía cạnh du lịch là nguồn tài nguyên hấp dẫn để khai thác đem lại nguồn thu bền vững cho nền kinh tế
1.2 Thiền Tông:
1.2.1 Khởi nguyên của Thiền Tông và Thiền Tông Trung Hoa:
Trong các tông phái Phật giáo Trung Quốc, Thiền Tông là tông phái có tầm ảnh hưởng quan trọng nhất đối với toàn bộ hệ thống tư tưởng Phật giáo Trung Quốc từ đời Ðường trở về sau Nếu xét từ cội nguồn thì hai phái chính trong hệ thống Thiền Tông là Như Lai Thiền và Tổ Sư Thiền Như Lai Thiền được xem là phương pháp tu thiền có cội nguồn từ Phật giáo Ấn Ðộ, trong khi
Tổ Sư Thiền lại có khuynh hướng được xem là sáng tạo riêng của Phật giáo Trung Quốc và khởi nguyên với sự hiện diện của Ngài Bồ Ðề Ðạt Ma
Bồ Ðề Ðạt Ma (Bodhidharma) là thái tử thứ 3, con vua Kancipura xứ Nam Ấn Theo lời dạy của thầy là Ngài Bát Nhã Ða La (Prajnàtara), Ngài sang Trung Quốc vào đời Lương ,khoảng năm 470-520 Theo phổ hệ truyền thừa của Thiền Tông Ấn Ðộ, từ Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đến đời Ngài là thứ 28, nhưng Ngài được xem là người khai sáng của phổ hệ truyền thừa Thiền Tông Trung Quốc gồm; 1/Bồ Ðề Ðạt Ma 2/Huệ Khả (? - 593) 3/ Tăng Xán (?-606) 4/ Ðạo Tín (580-651) 5/ Hoằng Nhẫn (602-675) Bắt đầu từ Ngài Hoằng Nhẫn, Thiền Tông Trung Quốc đã bắt đầu phát triển cực mạnh với sự
Trang 32truyền giảng của hai ngài Thần Tú (605-706) và Huệ Năng (được xem là Tổ thứ 6 của Thiền Tông Trung Quốc, 638-713) Ngài Thần Tú truyền giáo ở phương Bắc nên dòng thiền này gọi là dòng thiền Bắc tông.Tương tự dòng thiền của Huệ Năng được gọi là dòng thiền Nam tông.Thiền Bắc tông chủ trương giáo pháp tiệm ngộ (sự bừng sáng của trí tuệ giải thoát có được theo quá trình tu tập thứ lớp) nên được gọi là "Bắc tiệm".Trong khi đó, Thiền Nam tông lại có mục tiêu đốn ngộ (giác ngộ ngay, không theo thứ lớp) nên được gọi là "Nam đốn".Trong các thời đại sau đó,thiền phái của Ngài Huệ Năng phát triển rất mạnh và phân thành 5 tông phái là Lâm Tế, Quy Ngưỡng, Tào Ðộng, Vân Môn và Pháp Nhãn Lâm Tế tông sau lại chia thành hai phái là Hoàng Long và Dương Kỳ Năm tông trên, thêm vào hai phái sau thường được sử viết là "Ngũ gia thất tông"
Vào các thời đại Nguyên, Minh, Thanh, trong khi một số tôn phái khác
bị suy thoái dần do sự du nhập và phát triển mạnh mẽ của Lạt Ma giáo Tây Tạng thì Thiền Tông lại trở thành tông phái phổ biến nhất Từ Trung Hoa Dân Quốc đến nay, Thiền Tông vẫn là một tông phái chủ đạo của Phật giáo Trung Quốc
1.2.2 Thiền Tông Việt Nam:
Thiền có nghĩa là tĩnh tâm, chủ trương tập trung trí tuệ để quán định (thiền) nhằm đạt đến chân lý giác ngộ của đạo Phật Theo Thiền Tông, “thiền” không phải là “suy nghĩ” vì suy nghĩ là “tâm vọng tưởng”, làm phân tâm và mầm mống của sanh tử luân hồi Cách tu theo Thiền Tông đòi hỏi phải tập trung toàn bộ công sức và thời gian cộng với khả năng đốn ngộ Yêu cầu đó chỉ có kẻ căn cơ cao mới có có được nên người tu thiền thì nhiều nhưng người chứng ngộ quả thật hiếm hoi Tuy nhiên lịch sử Thiền Tông ở Việt Nam cũng
có một lịch sử rõ ràng hơn cả
Trang 33Dòng thiền tu thứ nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam do nhà sư Tỳ
Ni Đa Lưu Chi lập ra Ông là người Ấn Độ, qua Trung Quốc rồi đến Việt Nam năm 580, tu tại chùa Pháp Vân (hay chùa Dâu), thuộc huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh và truyền cho Tổ thứ hai là Pháp Hiền Dòng thiền này được truyền đến 19 thế hệ Dòng thiền thứ hai do Vô Ngôn Thông, người Trung Quốc lập ra năm 820, tu tại chùa Kiến Sơ, thuộc xã Phù Đổng – huyện Gia Lâm, Hà Nội Dòng thiền này được truyền đến 17 đời Dòng thiền thứ 3
do Thảo Đường người Trung Quốc, vốn là tù binh bị bắt tại Chiêm Thành và được vua Lý Thánh Tông giải phóng khỏi kiếp nô lệ và cho mở đạo tại Chùa Khai quốc vào năm 1069 Dòng thiền này được truyền đến 6 đời Năm 1299, vua Trần Nhân Tông, dưới sự hướng dẫn của Thiền sư Tuệ Trung Thượng Sỹ, xuất gia và lên tu ở Núi Yên Tử, thuộc huyện Đông Triều – Quảng Ninh, thống nhất các thiền phái tồn tại trước đó lập nên Thiền phái Trúc Lâm Sau này, một số thiền phái khác xuất hiện như Tào Động dưới thời Trịnh Nguyễn, phái Liên tôn vào thế kỷ 16-19(có trụ sở tại Chùa Bà Đá và Chùa Liên Phái,
Hà Nội), phái Liễu Quán (một vị tổ dòng Lâm Tế) vào thế kỷ 18 ở miền Trung, phái Lâm Tế dưới thời nhà Nguyễn (miền Trung, sau này phát triển ở miền Nam)
Thiền Tông Việt Nam cốt lõi đề cao cái “tâm””Phật ở tại tâm”, tâm là Niết Bàn, hay Phật Phật Hoàng Trần Nhân Tông đã từng viết:
“Nơi mình có Ngọc tìm đâu nữa
Trước cảnh vô tâm, ấy đạo Thiền.” 1
1.2.3 Các phương pháp tu thiền tại Việt Nam
1.2.3.1 Đức Phật và thiền định của Phật giáo:
1
Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu về thiền tuyển tập anh , tr 121
Trang 34Căn cứ theo sự phát triển của các học phái mà nói, Phật giáo Đại thừa hay Tiểu thừa, trên thực tế đều khởi nguồn từ sự tu chứng thiền định Đức Phật khai sáng Phật giáo trên căn bản là cũng nương theo thiền mà ngộ đạo và dạy lại cho các đệ tử
Phật Thích Ca sau khi xuất gia theo tu học Thiền định với hai vị thầy của phái số luận và mỗi thầy đều lấy một cảnh giới trong tứ thiền để làm cứu cánh Nhưng Đức Phật không cho rằng hai cảnh giới định này không đi đến
sự giải thoát nên cuối cùng ngày ngồi Thiền định dưới gốc cây Bồ đề và khai ngộ thành bậc Vô thượng chính giác, đây chính là khởi nguyên của Thiền định Phật giáo Đức Phật Thích Ca nương theo thiền quán mà thành Phật Ngài cũng yêu cầu đệ tử của ngài tu học thiền quán Trong thời Phật giáo nguyên thuỷ, Thiền định là pháp môn cực kỳ quan trọng Đối với Đức Phật Thích Ca mà nói, chỉ có thiền định mới là phương pháp trực tiếp nhanh chóng giúp người ta ngộ đạo giải thoát Tứ Diệu Đế, thập nhị nhân duyên là giáo lý căn bản của Phật giáo nguyên thuỷ, cách thuyết pháp của họ có thể nói cũng
là căn cứ trên thực tế của sự tu tập Thiền định mà ra
Đức Phật Thích Ca cũng là người đầu tiên hệ thống hoá hoàn toàn phương pháp và hình thức tu học thiền định Thiền định trước khi Phật giáo được sáng lập, các phương pháp như phép toạ, phép quán, cho đến phép điều thân, điều tức, điều tâm đều không xác định và không nhất quán, xuất hiện những hiện tượng chi ly vụn vặt Thiền định của Phật giáo thì từ giai đoạn bắt đầu chuẩn bị tu hành đến giai đoạn đại ngộ viên mãn tối hậu đều có một hệ thống tu học hoàn chỉnh Phép Thiền định của Đức Phật Thích Ca và của các giáo phái khác về căn bản có những điểm khác nhau, Ngài không lấy “khổ hạnh” làm phương cách, cũng không lấy “thần thông” làm mục đích Mà là dùng Thiền định để thống nhất tinh thần, sinh ra tuệ quán, để đạt được chính
Trang 35trí bát nhã Cho nên Thiền định có thể nói là tiến trình quan trọng của sự chứng đắc trí tuệ bát nhã mà không trông chờ kết quả
Việc thiền định của Phật giáo hiện nay tại Việt Nam được chia thành Thiền Định và Thiền Minh Sát (Vipassana) Thiền định là là phương pháp gom tâm trụ nó vào một đề mục cố định để giữ cho tâm được vắng lặng, còn Thiền Minh Sát quan sát các đề mục của Thiền Minh Sát để thấy được sanh diệt của danh sắc và ngũ uẩn qua đó kinh nghiệm được vô thường, khổ và vô ngã để cuối cùng chứng đắc các tầng tuệ Minh sát, đạt được Giải Thoát, Niết Bàn và hai phương pháp thiền khác nhau ở những điểm sau:
Thiền Định :
- Định của thiền định là tâm sở nhất tâm, trụ tâm nằm trên một đề
mục cố định duy nhất
- Đề mục của thiền định là tục đế (chế định), không có sinh diệt
- Thiền định sử dụng đại định, kiên cố định và an chỉ định
- Thiền định chỉ giúp tạm thời đè nén, khống chế phiền não Thiền Minh Sát :
- Định của thiền quán là tâm sở nhất hành, thực hành thiềnMinh
Sát, hành giả có khả năng định trên nhiều đối tượng khác nhau
- Đề mục của thiền Minh Sát là chân đế, có sinh diệt
- Thiền Minh Sát sử dụng cận định và sát na định
- Thiền Minh Sát nhổ tận gốc rễ phiền não và tham ái
1.2.3.2 Sự truyền bá các hoạt động thiền khác:
Khi nói đến thiền ai cũng nghĩ đến Thiền Tông của Phật giáo hay với những người đã từng tu tập thiền sẽ nghĩ đến các phương pháp tu thiền hay các pháp môn toạ thiền như: Thiền Tứ niệm xứ, Thiền Minh Sát , thiền quán niệm hơi thở mà chúng ta vẫn được thấy, được nghe qua như trên … tuy vậy đối với một số các hoạt động được truyền từ xa xưa đến nay như Yoga hay
Trang 36các hoạt động phái sinh từ sự kết hợp của Thiền với các tín ngưỡng bản địa tại Nhật đã tạo ra lối sống thiền, phong cách thiền, trà đạo, vườn thiền, nghệ thuật thiền: hội hoạ, điêu khắc, âm nhạc …
* Hoạt động Thiền Yoga:
Yoga có nguồn gốc từ Ấn Độ và nó cũng được coi là một trong các hệ thống triết lý tồn tại lâu đời nhất trên thế giới Cách đây khoảng 5000 năm, Đức Sadashiva đã hệ thống kiến thức về khoa học thiền, được biết với cái tên Tantra Yoga Tantra được hình thành như một khoa học toàn diện về cuộc sống, bao gồm mọi khía cạnh liên quan đến việc phát triển cá nhân và xã hội
Từ “tantra” có nghĩa là “cái để giải thoát khỏi sự ngu dốt”,vì thế các bài tập của nó được đặt căn bản trên một phương pháp có hệ thống và khoa học để đưa con người đạt đến giác ngộ về tinh thần Các bài tập của nó không những chỉ giới hạn trong Thiền và Yoga mà còn được mở rộng sang các lĩnh vực nghệ thuật, âm nhạc, văn chương, y học, khiêu vũ và ý thức về môi trường Nói tóm lại, Tantra là một con đường để tiếp cận cuộc sống
Kể từ đó, môn Yoga vẫn được tiếp tục bổ sung và ngày càng phát triển phong phú với nhiều hệ phái khác nhau, nó có xu hướng tách ra khỏi sự ràng buộc của các tôn giáo và chính vì đó mà nó vẫn tồn tại qua hàng ngàn năm, đồng thời nó còn phát triển không chỉ ở tại Ấn Độ mà còn lan rộng sang hầu hết các quốc gia và châu lục
Yoga khi phát triển đã được truyền bá và hình thành nhiều phái hệ khác nhau thông qua các phương pháp luyện tập và quan điểm lý luận Yoga phiên
âm là Du già (nhưng từ Yoga dùng thông dụng nhất), gốc tiếng Phạn có nghĩa
là đặt dưới mình một cái ách, điều ngự, cột thắt lại, chuẩn bị, chuyên chú Theo nghĩa này thì Yoga là luyện thân, luyện tâm, giúp hành giả nâng cao
Trang 37năng lực thân tâm cũng như hoạt động của chúng trong chính mình, điều hoà chúng để rồi có thể tiến đến cấp bậc hoàn hảo tâm linh
Nguyên tắc thực hành Yoga là tư thế thân, điều chế các giác quan và tâm thức, cách điều vận hơi thở v.v Trước hết, phải giữ vững tư thế của thân thể, các bộ phận ở phía trên người , gồm ngực, vai và đầu phải thẳng tắp, rồi hướng các giác quan và tâm ý vào trái tim Kế đó là sự kiểm soát hơi thở Thực tập cho đến khi nào các hơi thở thành trầm tĩnh, nhẹ nhàng, qua các lỗ mũi Nhờ đó mà thu thúc tâm ý, như buộc chặt con ngựa chứng vào cỗ xe Hành giả được khuyến cáo là nên thực tập yoga trong một hang đá cản được gió cao, hay tại một nơi cao ráo, trong sạch, không bị gây trở ngại bởi các tiếng động, của nước chẳng hạn, nơi mà tâm trí có thể dễ dàng thơ thới, con mắt không bị gây khó chịu Kết quả tiến bộ đầu tiên của yoga là sự khinh an
và sảng khoái, tráng kiện của thân thể, vắng bặt ham muốn, da tươi nhuận, âm thanh êm tai, hương vị dịu ngọt
Yoga là sự diệt trừ các tác dụng của tâm , cho đến khi các phẩm tính, được thu hồi trở lại trạng thái nguyên sơ, không bị chi phối và ràng buộc bởi thế giới vật chất Các tác dụng của tâm trên bình diện tri thức gồm cả hai khía cạnh, hoặc đau khổ hoặc không đau khổ Tu tập là nỗ lực đưa các tác dụng tâm này xuôi theo dòng thiện ở trong chiều đó, nhờ phân biệt chính trí mà ta diệt trừ các tác dụng từng ý vốn là bất thiện, gây đau khổ
Yoga có nhiều môn phái Sau đây vài môn chính :
1-HATHA YOGA là một khoa luyện Âm Dương hợp nhất Nó giống khoa luyện khí công của người Trung Hoa Vần HA tiêu biểu cho Mặt Trời là Dương Vần THA tiêu biểu cho Mặt Trăng là Âm Khoa này dùng phương pháp hô hấp và phương pháp thể dục để thu thập sinh lực vào cơ thể mình Có thể gọi nó là Khoa Luyện Trường Sinh Ngày nay môn Yoga phổ biến và thịnh hành ở các nước Tây Phương là Hatha Yoga
Trang 382- KARMA YOGA là con đường Hành động Người tập Karma Yoga tin tưởng sự hiện hữu hiện tại là do các hành động của quá khứ ( Nghiệp) nên
cố gắng hành động tốt , tư tưởng tốt , tạo nhân tốt để được quả tốt ở đời sau
3- JNANA YOGA là con đường Minh Triết , luyện tập trí tuệ thông minh và hiểu biết sâu xa
4- BHAKTI YOGA là con đường Sùng Tín (Sùng đạo) hay là con đường của Tình Thương Người thực tập Bhakti Yoga sẽ thấy thượng đế ở trong tất cả mọi người nên không ganh ghét và hận thù bất cứ ai
5- LAYA YOGA cũng gọi là Kundalini Yoga vì Yoga nầy chuyên lo
mở luồng Hỏa Hầu Cung , nó ảnh hưởng tới các Luân Xa
6- MANTRA YOGA dùng Thần Chú làm cho cái Trí trở nên yên tịnh
và còn nhiều sự hữu ích khác Môn phái nầy thường bị hiểu nhầm là tà đạo vì
sử dụng những công thức kỳ quặc, khó hiểu Thực ra người thực hành Mantra Yoga phải tập nhận thức toàn diện và từ bỏ dục vọng, sống trong sạch, khiêm tốn, hiến dâng, dũng cảm, thiện tâm
7- KRIYA YOGA tu theo cách khổ hạnh nhưng cũng học hỏi, cũng thờ phụng, cũng hiến dâng Kriya Yoga tăng tuổi thọ và mở rộng tâm thức, nó kiểm soát trực tiếp tinh thần nhờ sinh lực So sánh với con đường chậm chạp
và không chắc chắn của Thần học thì Kriya Yoga giống như chiếc máy bay với cổ xe ngựa đời xưa
Một yogi (người tập luyện yoga) muốn đạt đến đỉnh cao phải qua ngưỡng cửa của Hatha Yoga Hatha Yoga là nền tảng của tất cả các môn Yoga, là cân bằng giữa căng và giãn, vận động và nghỉ ngơi Gọi Hatha Yoga
là dưỡng sinh tức là đánh thấp giá trị của nó vì trong Hatha Yoga có các môn khác và trong các môn khác đều có Hatha Yoga Dù ở vào pháp môn nào, các bước căn bản mà một yogi phải theo là:
Trang 391- Giới (Yama) hay cấm chế Những điều răn cấm không được vi phạm, có 5: không sát sanh , không nói dối , không trộm cướp, không tà dâm
và không tham Những răn cấm này được coi là có giá trị phổ biến, không hạn chế trong không gian, thời gian hay hoàn cảnh
2- Luật (Niyama) hay khyến chế Thực hiện các khuyến cáo: thanh tịnh , tri túc, khổ hạnh, học tập và tưởng niệm Thượng đế
3- Điều thân (Asana) là điều nói về các tư thế, chẳng những làm chủ cơ thể mà còn phục hồi lại tất cả lệch lạc do đời sống mang lại đối với thể chất, tinh thần và tình cảm
Có nhiều ngàn tư thế khác nhau, nhưng trên thực tế mỗi vị thầy yoga chỉ đưa ra vài chục và một yogi chỉ cần tập luyện từ 6 đến 10 tư thế hay chỉ một tư thế duy nhất (ví dụ tư thế Hoa sen hay Tọa thiền - Padmasana) tùy theo từng mục tiêu của họ Tư thế ngồi hay tọa pháp là phép ngồi vững chắc và dễ chịu nhất , được coi là hoàn hảo khi nào không cần có cố gắng, khiến cho thân thể không bị dao động, hoặc khi tâm trí mở rộng vô hạn Nhờ tư thế ngồi hợp cách mà khỏi bị gây phiền nhiễu bởi nóng và lạnh Tư thế nầy được đạt qua tâm thư giãn tuyệt đối, qua tâm vô thức về các cặp đối nghịch như nóng lạnh, khổ lạc v.v và qua sự quán chiếu cái tuyệt đối vô biên
Theo các vị thầy này thì các quan năng khi đã khai mở (ngoài ngũ quan con người) sẽ kích thích, xoa nắn các tuyến hạch nằm sâu trong cơ thể, cộng với sự mềm dẻo của gân cốt, làm cho chúng ta lấy lại được cái vốn quý báu
mà tạo hóa đã ban tặng Sức khỏe càng tăng tiến thì mọi tính xấu như bi quan, mặc cảm, lo sợ dần dần bị xóa tan Điều chú ý về tư thế, một tư thế dù khó nhất cũng sẽ làm được, hãy chọn cách nào thích hợp với lứa tuổi mình, tập tuần tự và kiên trì, không nôn nóng, nếu chưa thực hiện hoàn hảo cũng có tác dụng tốt như đã làm được
Trang 404- Điều khí (Pranayama) kiểm soát và điều hòa hơi thở sau khi thân thể
đã ngồi vững Nên hiểu "khí" nơi đây trên cả dưỡng khí, là năng lượng vi tế chỉ có thể dẫn dắt bằng tâm trí đến một nơi hay toàn cơ thể Luyện khí khá phức tạp và đa dạng Người tập nên theo hướng dẫn của chân sư, vị thầy sẽ đưa ra từng cách vì lộ trình của người này tốt nhưng với kẻ khác thì không, và cũng tùy theo từng mục tiêu theo đuổi của mỗi cá nhân
Thở có ba việc: thở ra, thở vào và ngưng thở, và điều khiển tùy theo vị trí, thời gian và số Về nơi chốn, chú ý quan sát hơi thở khi vào thì đến vị trí nào trong ngực và bụng, khi ra thì đến đâu trong vũ trụ Về thời gian, hơi thở đều đặn theo sự dài, ngắn, nhất định Về số, tức đếm hơi thở, theo một con số với giới hạn nào đó Như vậy, cho đến khi hơi thở dài và tế nhị Cuối cùng là tâm và cảnh hợp nhất; tâm được tập trung trên một điểm duy nhất của đối tượng, không còn tán loạn
5- Điều tâm (Pratyahara) hay chế cảnh , chế ngự các cảm quan và tách chúng ra khỏi những đối tượng ngoại giới, không buông thả chúng theo bản chất vốn luôn luôn hướng đến các đối tượng Sự chế cảm là hướng chúng đến mục tiêu nội tại Năm phần Yoga trên là những bộ môn tu tập về tâm, thuộc ngoại phần tu tập , cũng gọi là hữu đức Yoga Ba chi còn lại thuộc nội phần
tu tập
6- Tập trung (Dharana) hay chấp trì Sau khi đã chế ngự được các cảm quan, tâm không còn tán loạn theo ngoại giới, bấy giờ chuyên chú trên một đối tượng của tu tập, như chóp mũi, giao điểm hai chân mày, hoa sen của trái tim, đan điền, hay hình ảnh của thần linh Tâm phải an trụ vững vàng không dao động, như ngọn lửa không lung lay của một ngọn đèn Không áp đặt tâm trí đến mức căng thẳng Trạng thái phải nhẹ nhàng khoan thai
7- Thiền (Dhyana) hay tĩnh lự Thiền là trạng thái kéo dài của tập trung cộng thêm sự suy nghiệm đối tượng, sống với đối tượng đó, hay nói chính xác