- Điều kiện kinh tế – chính trị – xã hội Đó là cơ sở hạ tầng của địa phương nơi có hoạt động kinh doanh du lịch hệ thống đường sá, sự phát triển mạng lưới giao thông, thông tin liên lạc…
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*******
ĐÀO THỊ THANH MAI
XÁC ĐỊNH HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA DU LỊCH
VIỆT NAM NĂM 2005 THEO QUAN ĐIỂM TIẾP CẬN TSA
CHUYÊN NGÀNH: DU LỊCH HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH HỌC
Người hướng dẫn: PGS.TS TRẦN ĐỨC THANH
HÀ NỘI - 2006
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Theo kết quả công bố của Tổng cục Thống kê, trong vòng 6 năm trở lại đây, ngành du lịch Việt Nam (tính chủ yếu là khối khách sạn nhà hàng) đóng góp trung bình khoảng 3,22% cho GDP cả nước [7;242] Trong khi được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn thì với kết quả thống kê này, du lịch dường như giữ một vị trí rất khiêm tốn so với các ngành kinh tế khác (trung bình giai đoạn 2000-2005, đóng góp cho GDP của công nghiệp chế biến là 20,07%, thương mại là 13,86%) Thực
tế cho thấy, du lịch đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế của đất nước Du lịch không chỉ trực tiếp đóng góp cho GDP mà ảnh hưởng ngoại biên về kinh tế của du lịch là rất lớn Du lịch gián tiếp góp phần vào sự tăng trưởng nhiều ngành kinh tế khác do hoạt động của du khách trong chuyến du lịch rất đa dạng: ăn uống, lưu trú, vận chuyển, mua sắm, giải trí, … Vì vậy, việc thống kê hiệu quả kinh tế của du lịch chỉ dựa trên kết quả kinh doanh của 2 ngành lữ hành và khách sạn là chưa thật hợp lý Điều này đặt ra yêu cầu: cần phải đánh giá lại hiệu quả kinh tế của du lịch một cách toàn diện hơn, nhằm nhận thức đúng đán hơn về vai trò của ngành du lịch đối với nền kinh tế đất nước
Vào thập kỷ 90 của thế kỷ 20, Tổ chức Du lịch thế giới (WTO) đã nghiên cứu và đề xuất một quan điểm tiếp cận mới cũng như một phương pháp mới về thống kê du lịch là Tài khoản vệ tinh du lịch (TSA) Trên cơ sở đó, Hội đồng Lữ hành và Du lịch thế giới (WTTC) đã xây dựng và phát triển quan điểm này thành một hệ thống phương pháp luận cụ thể Hiện nay, TSA đã được ứng dụng rộng rãi
ở nhiều nước trên thế giới và được xem là một phương pháp thống kê du lịch hiệu quả Từ năm 2003, vận dụng TSA, WTTC phối hợp với Cơ quan Dự báo Kinh tế Oxford (OEF) thống kê hiệu quả kinh tế của du lịch Việt Nam và đưa ra kết quả
Trang 3ước tính: năm 2003, du lịch Việt Nam đóng góp cho GDP khoảng 9,18%, tương đương với 3518,89 triệu USD Năm 2004, du lịch Việt Nam đóng góp 10,16% cho GDP, tương đương với 4190,69 triệu USD Năm 2005, con số này là 10,63%, tương đương 4745,17 triệu USD (xem bảng 1)
Bảng 1: Đóng góp của du lịch Việt Nam cho GDP giai đoạn 2001-2006
du lịch Việt
triệu USD
về vai trò của ngành du lịch đối với nền kinh tế Tuy nhiên, các tổ chức này không công bố cơ sở lý thuyết để tính toán được các con số nêu trên
Tại Việt Nam, năm 2002, TS Lý Minh Khái (Vụ Thương mại – Dịch vụ – Giá cả, Tổng cục Thống kê) đã chủ trì đề tài nghiên cứu cấp cơ sở: “Nghiên cứu thống kê tài khoản vệ tinh du lịch” Tuy nhiên đề tài mới chỉ dừng ở việc tìm hiểu TSA là gì và điều kiện vận dụng TSA ở Việt Nam, chưa có những tính toán cho tình hình cụ thể của du lịch Việt Nam
Xuất phát từ lý do trên, với mong muốn được góp phần nghiên cứu và ứng dụng quan điểm tiếp cận TSA tại Việt Nam, tác giả đã lựa chọn đề tài luận văn:
Trang 4“Xác định hiệu quả kinh tế của du lịch Việt Nam năm 2005 theo quan điểm tiếp cận TSA”
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quan điểm tiếp cận tài khoản vệ tinh
du lịch (TSA) và vai trò của du lịch đối với các ngành kinh tế khác của Việt Nam Phạm vi nghiên cứu của luận văn là việc xác định hiệu quả kinh tế của du lịch Việt Nam năm 2005
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là góp phần nghiên cứu hệ thống lý thuyết về tiếp cận tài khoản vệ tinh du lịch (TSA) và ứng dụng ở Việt Nam; trên cơ sở đó, ứng dụng quan điểm này để xác định hiệu quả kinh tế của ngành du lịch
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
Quan điểm nghiên cứu
- Quan điểm hệ thống
Tác giả nghiên cứu về thống kê hiệu quả kinh tế của du lịch Việt Nam năm
2005 được xuất phát từ hoạt động thống kê du lịch thế giới, của Việt Nam từ trước đến thời điểm nghiên cứu
- Quan điểm tổng hợp
Tác giả tiến hành nghiên cứu hiệu quả kinh tế của du lịch trong mối quan hệ với hiệu quả kinh tế nói chung, xem xét đánh giá về du lịch Việt Nam trong mối quan hệ liên ngành
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin
Tác giả đã thu thập thông tin từ sách chuyên khảo, tạp chí, báo cáo của Tổng cục thống kê, Tổng cục Du lịch, các đề tài nghiên cứu khoa học, luận án tiến sỹ
- Phương pháp phân tích, xử lý số liệu
Trang 5Để xử lý các số liệu thu thập được, luận văn đã dùng phần mềm Excel , số liệu được phân tích, kiểm định theo các biện pháp thống kê toán học, xây dựng thành các biểu bảng tổng hợp phục vụ cho mục đích nghiên cứu
- Phương pháp chuyên gia
Tác giả đã tiến hành phỏng vấn một số cán bộ, chuyên viên của Tổng cục Thống kê, Tổng cục du lịch, những chuyên gia nghiên cứu về du lịch và TSA
5 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm có
Trang 6CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA DU LỊCH VÀ MÔ HÌNH KHẢO SÁT DU KHÁCH
1.1 Hiệu quả kinh tế
1.1.1 Khái niệm
Theo quan điểm kinh tế học, “hiệu quả hiểu chung nhất là việc sử dụng không lãng phí các yếu tố đầu vào” và “hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loạt hàng hóa mà không cắt giảm một loạt hàng hóa khác Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của nó”[16;357] Thực chất quan điểm này đã đề cập đến khía cạnh phân bổ có hiệu quả các nguồn lực của nền sản xuất xã hội Việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực sản xuất trên đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ làm cho nền kinh tế có hiệu quả cao Có thể nói mức hiệu quả ở đây mà tác giả đưa ra là cao nhất, là lý tưởng và không có mức hiệu quả cao hơn nữa
Hai tác giả Wohe và Doring lại đưa ra khái niệm khác về hiệu quả kinh tế
Đó là hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật và hiệu quả kinh tế tính bằng đơn
vị giá trị Theo hai ông thì hai khái niệm này hoàn toàn khác nhau “Mối quan hệ tỷ
lệ giữa sản lượng tính theo đơn vị hiện vật (chiếc, kg) và lượng nhân tố đầu vào (giờ lao động, đơn vị thiết bị, nguyên vật liệu…) được gọi tính hiệu quả có tính chất kỹ thuật hay hiện vật Mối quan hệ giữa tỷ lệ chi phí kinh doanh phải chi ra trong điều kiện thuận lợi nhất và chi phí kinh doanh thực tế chi ra được gọi là tính hiệu quả xét về mặt giá trị Để xác định tính hiệu quả về mặt giá trị, người ta còn hình thành tỷ lệ giữa sản lượng tính bằng tiền và các nhân tố đầu vào bằng tiền” [17;34] Khái niệm hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị của hai ông chính là năng suất lao động, máy móc thiết bị và hiệu suất tiêu hao vật tư, còn hiệu quả tính bằng giá trị là hiệu quả hoạt động quản trị chi phí
Trang 7Một khái niệm khác được nhiều nhà kinh tế trong và ngoài nước quan tâm chú ý và sử dụng phổ biến là: “Hiệu quả kinh tế của một số hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã xác định” [17;35] Điển hình cho quan điểm này là các tác giả Eugene L Grant, W.Grant Ireson, H.Speight và Ian M.T.Stewart
Theo quan điểm thống kê, một số tác giả cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi quan hệ giữa tỷ lệ tăng lên của hai đại lượng kết quả và chi phí, nói cách khác hiệu quả kinh tế được đo lường bằng tỷ số giữa kết quả đầu ra với số lượng đầu vào Các quan điểm này đề cập đến hiệu quả của phần tăng thêm chứ không phải của toàn bộ phần tham gia vào quá trình kinh tế Điển hình cho quan điểm này
là Manfred Bruhn Theo ông: “Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo nhiều đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh” [28;48] Đây là quan điểm được nhiều nhà kinh tế và quản trị kinh doanh áp dụng và tính hiệu quả của các quá trình kinh tế Robert Lanquar cũng đề cập đến 2 chỉ tiêu trong vấn đề lao động việc làm:
- Hiệu quả lao động: hiệu quả gia tăng trên giá trị lao động [18;40]
Áp dụng quan điểm này, TS Trần Thị Kim Thu cũng đề xuất một khái niệm
về hiệu quả kinh tế: “Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữa kết quả kinh tế đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó” [20;4]
1.1.2 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế
Để xác định tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế, cần xuất phát từ lợi ích và động lực Hiệu quả kinh tế được xem xét đánh giá trên cơ sở hai cách tiếp cận, kết hợp hai loại lợi ích (lợi ích chung toàn xã hội và lợi ích tập thể doanh nghiệp), trên
cơ sở kết hợp 2 quan điểm (quan điểm xã hội và quan điểm doanh nghiệp) Vậy
Trang 8tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế cần xuất phát từ lợi ích, bao gồm cả lợi ích tập thể doanh nghiệp và lợi ích chung toàn xã hội Chỉ có như vậy mới tạo ra động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của các doanh nghiệp cũng như toàn xã hội, gắn hiệu quả với hoạt động sản xuất kinh doanh Xác định đúng đắn tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả là cơ sở để lựa chọn, xác định đúng các chỉ tiêu kết quả để tính hiệu quả kinh tế
1.1.3 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh tế
Nâng cao hiệu quả kinh tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Chúng ta đang thực hiện xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Trong nền kinh tế thị trường tất yếu không tránh khỏi cạnh tranh quyết liệt Đơn vị kinh tế nào, quốc gia nào có sức cạnh tranh, khả năng cạnh tranh cao, đơn vị đó, quốc gia đó sẽ đứng vững, tồn tại và phát triển Khả năng cạnh tranh của từng đơn vị kinh tế cũng như của một quốc gia liên quan đến hai yếu tố quan trọng là chất lượng và hiệu quả Chất lượng càng cao, hiệu quả càng cao thì khả năng cạnh tranh càng cao và ngược lại Ngày nay, toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới đã thành xu hướng tất yếu Toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế vừa có mặt tích cực nhưng cũng chứa nhiều mặt tiêu cực, làm cho cạnh tranh càng trở nên khốc liệt Trong điều kiện đó, nâng cao hiệu quả kinh tế lại càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Nâng cao hiệu quả kinh tế cho phép thu được kết quả kinh tế nhất định, có thể tiết kiệm nguồn lực và chi phí cho sản xuất kinh doanh Rõ ràng, nâng cao hiệu quả kinh tế có ý nghĩa đặc biệt lớn lao
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả
Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả gồm các nhóm sau:
- Thứ nhất, nhóm nhân tố thuộc về con người (sức khỏe, trình độ, tuổi tác,
giới tính …)
Trang 9- Thứ hai, nhóm nhân tố thuộc về tư liệu sản xuất (máy móc, thiết bị, công
nghệ, kỹ thuật, tài nguyên …)
- Thứ ba, nhóm nhân tố thuộc về quan hệ sản xuất (quan hệ quản lý, phân
phối …)
- Thứ tư, nhóm nhân tố thuộc về quản lý bao gồm cả quản lý vĩ mô và quản lý
vi mô (các chính sách vĩ mô, trình độ người quản lý, đảm bảo thông tin cho quản lý vv…)
- Thứ năm, nhóm nhân tố thuộc về môi trường sản xuất kinh doanh (môi
trường pháp lý, bạn hàng, đối tác, quan hệ hiệp hội, quan hệ quốc tế …)
- Thứ sáu, nhóm nhân tố thuộc về điều kiện thiên nhiên khí hậu …
1.2 Hiệu quả kinh tế trong du lịch
1.2.1 Khái niệm
Trên cơ sở lý luận chung nêu trên, vận dụng cho nghiên cứu hiệu quả kinh tế của du lịch, có thể nói hiệu quả kinh tế của du lịch là quan hệ so sánh giữa kết quả sản xuất kinh doanh du lịch đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó [20;17] Quan điểm này được vận dụng ở phạm vi một doanh nghiệp du lịch, một lĩnh vực hoạt động kinh doanh (lữ hành, lưu trú…), một khu vực, một ngành du lịch
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của du lịch
Vì hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế đặc biệt quan trọng phản ánh yêu cầu tiết kiệm thời gian, trình độ sử dụng lực lượng sản xuất và mức độ hoàn thiện quan hệ sản xuất trong nền sản xuất xã hội, do đó, có rất nhiều yếu tố tác động đến hiệu quả kinh tế Có những yếu tố tác động trực tiếp và cả những yếu tố tác động gián tiếp Có thể nêu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của ngành du lịch nói chung và của doanh nghiệp du lịch nói riêng
1.2.2.1 Các nhân tố khách quan
Trang 10- Điều kiện kinh tế – chính trị – xã hội
Đó là cơ sở hạ tầng của địa phương nơi có hoạt động kinh doanh du lịch (hệ thống đường sá, sự phát triển mạng lưới giao thông, thông tin liên lạc…), các chủ trương chính sách của chính quyền trung ương và địa phương, tình trạng dân trí… Điều kiện kinh tế xã hội ảnh hưởng gián tiếp đến hiệu quả kinh tế thông qua nguồn khách và chính sách giá cả đối với các dịch vụ và hàng hóa
- Môi trường kinh doanh
Môi trường vĩ mô: bao gồm hệ thống pháp luật, các chủ trương chính sách của Nhà nước và của các ngành Các luật lệ, chế độ chính sách kinh tế xã hội nơi
có hoạt động kinh doanh du lịch ảnh hưởng không ít tới hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp, nhất là chính sách đối ngoại của Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp đến lượng khách quốc tế
Môi trường trực tiếp: là môi trường cạnh tranh giữa các lĩnh vực hoạt động, giữa các doanh nghiệp trong ngành Do sự phát triển nhanh chóng của du lịch trong những năm gần đây, số lượng các doanh nghiệp du lịch tăng lên nhanh chóng, dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt giữa các đơn vị sản xuất kinh doanh du lịch
- Các nguồn lực sẵn có
Các nguồn lực sẵn có bao gồm tài nguyên du lịch và các nguồn lực khác: vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng…
- Cơ chế quản lý kinh tế
Cơ chế quản lý kinh tế là một yếu tố quan trọng, nó chi phối tác động của các yếu tố khác tới hiệu quả của cả nền kinh tế nói chung và kinh doanh du lịch nói riêng
1.2.2.2 Các nhân tố chủ quan
Trang 11- Cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành du lịch: thể hiện về mặt vật chất dùng để sản xuất kinh doanh Nó bao gồm tài sản cố định và tài sản lưu động Về mặt giá trị, nó bao gồm vốn cố định và vốn lưu động
- Đội ngũ lao động trong hoạt động sản xuất kinh doanh du lịch: đây cũng là một yếu tố tác động trực tiếp đến kết quả kinh doanh du lịch Chính vì vậy, ngành
và các đơn vị kinh doanh du lịch phải chú trọng đến công tác đào tạo, không ngừng nâng cao trình độ của đội ngũ lao động, kể cả cán bộ quản lý và công nhân viên
- Cơ cấu tổ chức quản lý: cơ cấu tổ chức quản lý phải gọn nhẹ và có hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị kinh doanh
Các nhân tố trên tác động đến hiệu quả kinh tế theo các hướng khác nhau nhưng chúng có mối liên hệ và tác động qua lại lẫn nhau Do đó, việc đánh giá một cách đúng đắn và khai thác triệt để những tác động có lợi là điều kiện hết sức quan trọng để nâng cao hiệu quả kinh tế
1.3 Các phương pháp thống kê truyền thống nhằm xác định hiệu quả kinh
tế của ngành du lịch
1.3.1 Trên thế giới
Theo WTO, thống kê du lịch thế giới chủ yếu tập trung vào chi tiêu du lịch
và lượng khách du lịch Chi tiêu du lịch được xác định là “tổng số tiền đã chi phí của người đi tham quan hoặc thay mặt chi cho người đi tham quan trong suốt hành trình của chuyến đi và chi tiêu ở nơi đến” [1;25]
Về thống kê khách du lịch quốc tế, hầu hết các nước trên thế giới hiện nay đều thống kê dựa trên số liệu thống kê về xuất nhập cảnh tại các cửa khẩu biên giới, hải cảng, bao gồm các cửa khẩu biên giới đường bộ, đường thủy, đường hàng không Tuy nhiên đối với một số quốc gia trong các khối liên minh, do quy chế không phải làm thủ tục xuất nhập cảnh nên phải tiến hành thống kê qua các hãng
Trang 12giao thông vận chuyển hành khách để xác định số lượng khách quốc tế đến và du khách Việt Nam ra nước ngoài
Đối với khách du lịch nội địa, phương pháp thống kê cơ bản được nhiều nước áp dụng bao gồm:
- Điều tra tại nơi khách đến du lịch: tiến hành bằng cách đếm (điều tra toàn bộ) và điều tra chọn mẫu số khách tham quan tại các điểm du lịch
- Điều tra và đăng ký tại cơ sở lưu trú: đăng ký cập nhật số lượng khách và thực hiện chế độ báo cáo thống kê định kỳ; tổng điều tra số lượng khách; điều tra chọn mẫu khách nghỉ; điều tra chọn mẫu các đơn vị kinh doanh du lịch
- Điều tra qua mạng lưới quản lý giao thông đi lại: điều tra thu thập thông tin
từ các hồ sơ hành chính tại các đầu mối giao thông (bến xe, bến cảng, nhà ga, sân bay…); điều tra tại một số điểm dọc theo hành trình du lịch; điều tra thu thập thông tin từ các công ty, tổ chức quản lý hành chính công, viện nghiên cứu du lịch; điều tra chọn mẫu các cơ sở vận chuyển hành khách
- Điều tra tại nơi ở của dăn cư: điều tra hộ gia đình
1.3.2 Tại Việt Nam
Thống kê du lịch ở Việt Nam đã được quan tâm từ những ngày đầu ngành du lịch mới được thành lập Trong các thập kỷ 60, 70, 80 của thế kỷ trước, thống kê
du lịch thường được thông qua hình thức ban hành chế độ báo cáo định kỳ đối với các cơ sở kinh doanh du lịch và khách sạn thuộc khu vực kinh tế Nhà nước Việc thống kê số lượt khách, ngày khách du lịch chủ yếu thông qua số khách nghỉ ở các
cơ sở lưu trú Khái niệm về khách du lịch cũng rất hạn hẹp, chỉ dừng lại ở đối tượng đi du lịch thuần túy (tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí) và do đó cũng làm hạn chế kết quả thống kê Hiện nay, về phương pháp thống kê, đã kết hợp giữa việc ban hành chế độ báo cáo định kỳ cho các đơn vị cơ sở và các cấp quản lý ngành với việc tổ chức các cuộc điều tra chuyên môn định kỳ và không định kỳ Ở
Trang 13nước ta, thống kê du lịch chủ yếu dựa vào biểu mẫu thống kê quy chuẩn, các chỉ tiêu báo cáo thống kê và các chỉ tiêu gắn với khách
1.3.2.1 Biểu mẫu thống kê quy chuẩn
Hiện nay, biểu mẫu thống kê chủ yếu sử dụng hình thức báo cáo, trong đó phổ biến là các báo cáo thống kê định kỳ Trong báo cáo thống kê định kỳ lại chia hai loại chính : báo cáo thống kê hàng tháng và báo cáo thống kê hàng năm
Đối với các lĩnh vực thống kê ngoài doanh nghiệp như thống kê lượng khách, ngày khách, thông tin được tổng hợp dựa trên kết quả báo cáo của các ban ngành có liên quan (Bộ Quốc Phòng, Bộ Công an ) theo quy định trong Hệ thống chỉ tiêu Thống kê Nhà nước (National Indicator System_NIS) 3
Trên cơ sở số liệu đã thống kê, kết quả báo cáo về hoạt động sẽ được thành lập, tuân thủ theo hệ thống chỉ tiêu quy định sẵn, có bổ sung thêm một số chỉ tiêu đặc trưng của ngành
1.3.2.2 Các chỉ tiêu báo cáo thống kê
Trước hết, có thể thấy, hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia hiện hành quan tâm đến các chỉ tiêu chính sau:
* Thống kê về lượt khách du lịch:
Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và người Việt Nam ra nước ngoài: Số
liệu về khách quốc tế đến Việt Nam được thu thập từ các cơ quan quản lý xuất nhập cảnh Trước đây, việc thu thập, tổng hợp và công bố số liệu này do cơ quan quản lý xuất nhập cảnh thuộc Bộ Công an đảm nhiệm Từ năm 2000, việc thu thập
số liệu về khách quốc tế đến Việt Nam và người Việt Nam đi du lịch nước ngoài dựa vào hình thức báo cáo thống kê định kỳ hàng tháng về xuất nhập cảnh Việt Nam Chế độ này do Tổng cục Thống kê phối hợp với Tổng cục Du lịch và các cơ
3
Hệ thống chỉ tiêu thống kê là tập hợp những chỉ tiêu thống kê nhằm phản ánh bản chất của lĩnh vực nghiên cứu Hệ
thống chỉ tiêu thống kê do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành [Một số thuật ngữ thống kê thông dụng, mục
Trang 14quan liên quan nghiên cứu xây dựng và ban hành cho các cơ quan xuất nhập cảnh theo quyết định số 781/1999/TCTK-QĐ ngày 2/11/1999 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê Với chế độ báo cáo này, số liệu đã được cập nhật thường xuyên theo tháng, quý, năm về tổng lượng khách cũng như được phân tích theo các tiêu chí: mục đích chuyến đi, quốc tịch, thị trường du lịch và phương tiện vận chuyển
Khách du lịch trong nước: Lĩnh vực thống kê này lâu nay vẫn chưa được
quan tâm đúng mức ở nước ta Cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu và phương pháp cụ thể nào để thống kê số lượng khách du lịch trong nước một cách đầy đủ, có hệ thống và chính xác như lĩnh vực khách quốc tế, mặc dù số lượng này ngày càng tăng Việc thống kê lượng khách nội địa hiện nay chủ yếu chỉ thực hiện được đối với số du khách có nghỉ tại các cơ sở lưu trú du lịch có đăng ký kinh doanh, các tổ chức quản lý hành chính công cộng như: Bảo tàng, các khu di tích Còn số khách đi trong ngày và số khách nghỉ tại các nhà nghỉ, nhà khách chưa đăng ký kinh doanh, các nhà nghỉ nhà khách của các cơ quan, xí nghiệp, nhà nghỉ cuối tuần, nhà nghỉ thứ hai, nhà nghỉ của người thân chưa được thống kê một cách đầy đủ và chính xác Nên chăng ta có thể xem xét và áp dụng các phương pháp thống kê khách du lịch nôi địa theo kinh nghiệm của các nước mà WTO đã tổng kết
* Thống kê về doanh thu của ngành du lịch: dựa trên kết quả tổng hợp của
các cục địa phương kết hợp với các sở du lịch sau khi thu thập phiếu điều tra doanh nghiệp Thống kê doanh thu được đánh giá theo 2 chỉ tiêu cơ bản :
Tổng doanh thu xã hội của du lịch: được tính trên cơ sở tổng mức chi tiêu
của toàn bộ lượng khách du lịch thông qua con số báo cáo của các doanh nghiệp trong lĩnh vực du lịch, bao gồm cả những khoản thu hộ cho các ngành khác
Trang 15Doanh thu từng lĩnh vực du lịch: bao gồm doanh thu trong lĩnh vực hoạt
động lữ hành, lĩnh vực hoạt động khách sạn, nhà hàng, lĩnh vực vận chuyển khách
và dịch vụ du lịch khác
Ngoài ra còn có chỉ tiêu cho ngành kinh doanh dịch vụ lưu trú, ngành kinh
doanh ăn uống, ngành lữ hành như sau :
+ Các chỉ tiêu của Ngành kinh doanh dịch vụ lưu trú gồm một số chỉ tiêu cơ bản như: Công suất sử dụng buồng, giường; Thời gian lưu lại trung bình
+ Các chỉ tiêu đặc trưng cho ngành kinh doanh ăn uống: như hệ số sử dụng chỗ ngồi
+ Các chỉ tiêu đặc trưng cho kinh doanh lữ hành: gồm số ngày đi tour, chi tiêu bình quân của một khách đi tour
Phương pháp thống kê về hoạt động du lịch và cơ sở lưu trú du lịch ở nước
ta thường được áp dụng theo hai hình thức cơ bản :
- Chế độ báo cáo thống kê định kỳ
Hiện nay vẫn áp dụng chế độ báo cáo thống kê định kỳ đối với các cơ sở kinh tế là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh du lịch và cơ sở lưu trú Đồng thời,
có cả chế độ báo cáo tổng hợp ban hành cho các Cục Thống kê, Sở Du lịch và Sở Thương mại Du lịch Trên cơ sở các chế độ báo cáo thống kê định kỳ hàng tháng, hàng quý, hàng năm, các cơ sở kinh doanh sẽ báo cáo cho các Cục Thống kê, Sở
Du lịch, Sở Thương mại Du lịch để tổng hợp báo cáo về Tổng cục Thống kê và Tổng cục Du lịch
- Phương pháp điều tra chuyên môn
Trong những năm qua, ở nước ta đã tiến hành một số cuộc điều tra chuyên
đề hoặc kết hợp, lồng ghép về hoạt động du lịch vào các cuộc điều tra khác như các cuộc điều tra số cơ sở, số lao động, vốn, tài sản, doanh thu, chi phí lỗ lãi đối với các doanh nghiệp, các hộ sản xuất kinh doanh cá thể về hoạt động du lịch, kinh
Trang 16doanh lưu trú du lịch định kỳ 1/3, 1/7 và 1/10 hàng năm, điều tra doanh thu từ hoạt động du lịch, hoạt động khách sạn nhà hàng hàng tháng, quý, tiến hành một số cuộc điều tra chuyên đề về chi tiêu của khách quốc tế và khách du lịch trong nước Năm 1994, Tổng cục Thống kê đã phối hợp với Tổng cục Du lịch tổ chức một cuộc điều tra toàn bộ đối với tất cả các cơ sở kinh doanh du lịch và lưu trú du lịch thuộc mọi thành phần kinh tế và tiến hành cuộc điều tra chọn mẫu về chi tiêu của khách quốc tế tại Việt Nam Năm 1999, Tổng cục Du lịch đã tổ chức cuộc điều tra
về tình hình chi tiêu của khách trong những ngày ở Việt Nam tại một số cửa khẩu quốc tế Đặc biệt, năm 2003, Tổng cục Thống kê đã tiến hành cuộc điều tra khách
du lịch qua các cửa khẩu biên giới và điều tra chi tiêu của khách tại các cơ sở lưu trú du lịch Cớ mẫu điều tra chi tiêu tương đối lớn với 23.000 phiếu điều tra dành cho khách nội địa và 7.000 phiếu đối với khách quốc tế Nội dung điều tra khá phong phú và chi tiết Phiếu điều tra áp dụng đối với khách quốc tế đến Việt Nam bao gồm các chi tiêu phản ánh tổng số tiền chi tiêu và cơ cấu chi tiêu theo các sản phẩm và theo từng loại khách (theo phương tiện, mục đích chuyến đi, độ tuổi, nghề nghiệp, quốc tịch ) Đối với điều tra chi tiêu của khách nội địa cũng thu thập những thống tin tương tự khách quốc tế Năm 2005, Tổng cục Thống kê cũng tiến hành điều tra chi tiêu của khách du lịch với cỡ mẫu 25.500 khách nội địa và 8.500 khách quốc tế Đây là nền tảng số liệu quan trọng cho phép áp dụng TSA để thống
kê du lịch tại Việt Nam
Ngoài ra, thống kê ở cấp cơ sở còn có thêm một số chỉ tiêu khác như : thống
kê ngày khách (số cộng dồn các ngày du lịch của khách du lịch trong kỳ nghiên cứu), vốn, lao động, nộp ngân sách Các chỉ tiêu này xét về thực chất, cũng chỉ là
các chỉ tiêu tham khảo Chúng phục vụ thêm cho công tác nghiên cứu hoạt động kinh tế, củng cố quan điểm xuất khẩu trực tiếp hay bổ sung một phần cho hoạt động kinh doanh, đầu tư
Trang 17Cùng với quá trình phát triển của ngành du lịch, để đáp ứng yêu cầu và chuẩn thế giới, Tổng cục Thống kê có tổ chức một số đợt điều tra (điều tra toàn bộ hoặc điều tra chọn mẫu) nhằm xây dựng, bổ sung và giới thiệu thêm các chỉ tiêu thông dụng khác được nhiều quốc gia ban hành
Dựa vào các chỉ tiêu trên, cơ quan chuyên trách sẽ tổng hợp thành báo cáo thống kê Trong ngành du lịch, báo cáo thống kê cũng chia thành báo cáo thống kê cấp cơ sở (doanh nghiệp, đơn vị kinh doanh) và báo cáo thống kê tổng hợp (do các cấp cao hơn như Phòng Thống kê quận huyện, Cục Thống kê, Sở Du lịch, Tổng cục Thống kê, Tổng cục Du lịch )
1.3.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động du lịch
Có thể nói các chỉ tiêu thống kê trên chủ yếu phục vụ cho các cấp quản lý Nhà nước Còn đối với các tổ chức kinh doanh du lịch thì họ lại quan tâm nhiều hơn đến tính hiệu quả của hoạt động du lịch Xét về yêu cầu đánh giá hoạt động du lịch, các nhà kinh tế hướng tới các chỉ tiêu về hiệu quả như sau :
Các chỉ tiêu gắn với khách: như chi tiêu ngày khách Hiện nay, các chỉ tiêu
này chưa đảm bảo độ tin cậy cho các doanh nghiệp và nhà đầu tư
Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế tổng hợp: là chỉ tiêu hiệu quả kinh tế cơ bản
nhất, đo bằng tỷ số giữa tổng thu nhập thuần với tổng chi phí thuần cho du lịch, trong một khoảng thời gian nhất định Chỉ tiêu này cho biết một đồng chi phí bỏ ra
sẽ thu được bao nhiêu đồng thu nhập, thường dùng để đo lường hiệu quả kinh tế
của từng doanh nghiệp, từng loại hoạt động kinh doanh
Chỉ tiêu doanh lợi: được tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa tổng lợi nhuận thu
được và tổng chi phí hoặc vốn sản xuất trong một thời kỳ Chỉ tiêu này giúp so sánh hiệu quả kinh doanh giữa các doanh nghiệp, hay giữa các ngành kinh tế
Trang 18Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn: được đo bằng tỉ lệ giữa doanh thu và đồng
vốn, chia thành các chỉ tiêu như hiệu quả sử dụng vốn cố định, hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Chỉ tiêu hiệu quả lao động (năng suất lao động, hiệu quả sử dụng lao động
của doanh nghiệp)
Đa số các chỉ tiêu trên chỉ được xem xét ở quy mô doanh nghiệp mà ít được chú ý ở quy mô thống kê Nhà nước
Đối với ngành du lịch, các yếu tố đầu ra có thể được tính bằng các chỉ tiêu: doanh thu, lượng khách, chi tiêu của du khách… Yếu tố đầu vào được xác định với các chỉ tiêu về đầu tư, lao động … Ở Việt Nam, do có những khó khăn về kinh phí cũng như phương pháp điều tra thống kê nên ngay việc xác định chi tiêu của du khách cũng chủ yếu sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu, kết quả thống kê về đầu tư tư nhân, số lượng lao động trong ngành du lịch cũng gặp nhiều khó khăn Vì vậy, để xác định hiệu quả kinh tế của du lịch Việt Nam có thể thông qua các chỉ tiêu gián tiếp như:
- Tỷ lệ đóng góp của ngành du lịch cho GDP
- Số nhân Keynes: giúp đánh giá ảnh hưởng lan tỏa của du lịch
1.4 Quan điểm tiếp cận tài khoản vệ tinh du lịch (TSA)
1.4.1 Lịch sử phát triển của hệ thống tài khoản vệ tinh du lịch
Từ sau hội nghị quốc tế về thống kê du lịch ở Ottawa – Canada năm 1991, bên cạnh việc hoàn thiện các khái niệm, nội dung, phương pháp thống kê, các bảng phân loại về du lịch có tính chất chuẩn quốc tế thì một hệ thống tài khoản vệ tinh
du lịch đã được WTO đề xuất và khuyến nghị các quốc gia nghiên cứu, vận dụng Tiếp đó, Hội đồng Lữ hành và Du lịch thế giới (WTTC) tiến hành xây dựng TSA thành một hệ thống phương pháp luận và lượng hóa các tác động kinh tế của ngành
du lịch Phương pháp luận của họ tập trung vào định lượng tác động kinh tế của
Trang 19tiêu dùng du khách (ngành du lịch) cũng như toàn bộ cầu du lịch (đối với kinh tế
du lịch) thông qua các mô hình có tính mô phỏng Tác động kinh tế của tiêu dùng
du khách chỉ giới hạn trọng phạm vi tác động trực tiếp đối với sản xuất Trong khi
đó, tổng cầu lại xem xét đến các tác động trực tiếp và gián tiếp có liên quan đến nguồn vốn đầu tư, chi tiêu của chính phủ và ngoại thương, kể cả mức tăng nhu cầu hàng hóa và dịch vụ tạo ra do sự di chuyển của con người trên khắp thế giới (du lịch thế giới) WTTC nghiêng về phương pháp tiếp cận theo hướng cầu vì phương pháp này đưa ra định nghĩa rất toàn diện về phạm vi và có mối liên hệ chặt chẽ với các mô hình kinh tế có liên quan đến các khái niệm về nguồn cung Nghiên cứu của tổ chức này chủ yếu dựa vào các kỹ thuật mô hình kinh tế
Tháng 9 năm 1999, ba tháng sau Hội nghị quốc tế về Đo lường các tác động kinh tế của ngành du lịch tại Enzo Paci do WTO tổ chức, một nhóm làm việc liên thư ký giữa WTO, OECD và EUROSTAT (Cơ quan thống kê của Cộng đồng châu Âu) đã được thành lập nhằm xây dựng khung khái niệm chung cho các phương pháp luận về tài khoản vệ tinh du lịch Kết quả là ba tổ chức nói trên đã thống nhất
về “Dự thảo tài khoản vệ tinh du lịch – các tài liệu tham khảo về phương pháp luận” Ba tổ chức đều nhất trí: họ là những cơ quan chịu trách nhiệm thúc đẩy việc thực hiện tài khoản vệ tinh du lịch cho các nước thành viên thuộc tổ chức của mình
Nhận thức được tính hữu ích và tầm quan trọng của TSA, nhiều nước trên thế giới đã tiến hành nghiên cứu, tổ chức thu thập thông tin, xử lý, tính toán và lập được hệ thống tài khoản vệ tinh du lịch của nước mình ngay từ những năm giữa thập kỷ 90 của thế kỷ 20, điển hình là các nước: Canada, Cộng hòa Dominica, Pháp, New Zealand, Mexico, Chile, Ecuador, Cuba, Ba Lan, Na Uy, Singapore, Thụy Điển, Mỹ, Australia, Philippinnes, Indonesia vv… Tính đến nay đã có
Trang 20khoảng trên 170 quốc gia đã tiến hành (hoặc được) tính toán và lập tài khoản vệ tinh du lịch
Tại Canada tháng 10/1994, hai cơ quan Du lịch và Thống kê đã phối hợp đưa ra tài khoản vệ tinh đầu tiên Tháng 6/1996, các chỉ tiêu du lịch quốc gia lần đầu tiên được xuất bản Kết quả hệ thống TSA cho biết doanh thu của ngành du lịch Canada chiếm 2,5% GDP, tỷ lệ thuế thu từ ngành du lịch chiếm 7% so với thuế các loại hàng hóa khác, lao động trong ngành du lịch chiếm 5% lao động trong các ngành sản xuất kinh doanh
Tại Australia, Cục Thống kê (ABS) và Vụ Du lịch của Bộ Công nghiệp Du lịch và Tài nguyên (ITR) đã tiến hành thu thập thông tin, xử lý, tính toán và biên soạn được hệ thống tài khoản vệ tinh du lịch Australia từ năm 1997 Tháng 5/2003, ABS đã xuất bản ấn phẩm “Tài khoản quốc gia – tài khoản vệ tinh du lịch” Ấn phẩm này đã liệt kê 13 bảng số liệu bao gồm các tài khoản vệ tinh du lịch và kèm theo một số tài khoản kinh tế quốc dân tổng hợp giai đoạn 1997-2002 với mục đích trực tiếp so sánh, phân tích về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của ngành du lịch trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Hệ thống tài khoản vệ tinh du lịch ở Philippinnes (PTSA) gồm 11 biểu, nội dung không hoàn toàn giống với nội dung trong 10 biểu của WTO Chu kỳ thống kê TSA ở Philippines là 4 năm 1 lần Tương
tự như Philippinnes, Indonesia cũng lập 1 hệ thống TSA gồm 7 biểu, trong đó, các biểu tiêu dùng cho các loại khách du lịch đã được gộp lại thành 1 biểu, các biểu khác cũng được rút gọn cho phù hợp với điều kiện thực tế của Indonesia
1.4.2 Nội dung tài khoản vệ tinh du lịch
Tài khoản vệ tinh du lịch (TSA) là một tập hợp các bảng biểu đo lường, tính toán phản ánh kết quả các mặt hoạt động du lịch trong mối quan hệ qua lại với các ngành kinh tế quốc dân khác theo cùng một phương pháp tính của tài khoản quốc gia
Trang 21Kết cấu hệ thống tài khoản vệ tinh du lịch của WTO được trình bày thành các bảng biểu thống kê với nhiều phân tổ theo nhiều tiêu thức khác nhau Các bảng biểu TSA cho phép đánh giá sự ảnh hưởng tác động qua lại giữa ngành du lịch đối với nền kinh tế quốc dân nói chung và cho phép phân tích được kết cấu và những biến động của du lịch
Những nội dung chủ yếu trong hệ thống TSA thường được người sử dụng quan tâm nhiều nhất là:
- Giá trị tăng thêm của ngành du lịch trong các ngành kinh tế quốc dân và sự phụ thuộc của các ngành kinh tế quốc dân với du lịch
- Lao động trong ngành du lịch và GDP của ngành du lịch
- Quy mô tiêu dùng của khách du lịch và cơ cấu chi tiêu du lịch của khách du lịch quốc tế cũng như nội địa
- Vốn đầu tư cho hoạt động du lịch
- Tiêu dùng chung, xúc tiến, đầu tư du lịch vv…
Tổ chức du lịch thế giới còn nhấn mạnh vai trò rất quan trọng của hệ thống tài khoản vệ tinh du lịch (TSA) Nhờ TSA có thể:
- Đánh giá được hiệu quả kinh doanh du lịch của từng nước, cho biết được số lượng khách đến và khách đi cũng như đặc điểm của từng loại khách
- Đánh giá mối quan hệ giữa các chỉ tiêu về lượng với các chỉ tiêu giá trị của
du lịch như số lượt khách, ngày khách, tỉ lệ sử dụng buồng, giường…với các chỉ tiêu doanh thu từ các cơ sở du lịch
- Đưa ra những đánh giá quan trọng về cán cân thanh toán quốc tế của một nước Điều đó xuất phát từ chỗ: ngành du lịch nhiều nước đã được coi như là giải pháp rất quan trọng để cân đối các vấn đề thanh toán quốc tế
- Đối với nhiều nước, khách du lịch từ các nước khác đến hầu hết đều thông qua các cơ sở kinh doanh lữ hành Vì vậy, để xác định được mức chi tiêu của du
Trang 22khách, đặc biệt là xác định cơ cấu chi tiêu, không thể điều tra trực tiếp từ du khách Bởi vì gần như toàn bộ tổng số tiền trong chuyến đi của du khách đã nộp cho các
cơ sở kinh doanh lữ hành để các cơ sở này chi hộ, họ chỉ có thể biết được tổng số tiền đã nộp cho tour, còn cơ cấu chi tiêu như thế nào thì không thể biết chính xác được Thông qua TSA ta lại có thể xử lý được cơ cấu chi tiêu này của du khách Mặt khác, TSA còn có thể giúp cải thiện chất lượng số liệu ước lượng về chi tiêu của du khách
- Mỗi tài khoản vệ tinh du lịch trong hệ thống TSA đều cung cấp một khái niệm cơ bản về mối quan hệ kinh tế giữa ngành du lịch với các ngành kinh tế khác Các tài khoản này được gọi là vệ tinh vì chúng được xem như công cụ giúp cho người sử dụng thông tin có thể hiểu đầy đủ về du lịch và chức năng của nó nằm trong khuôn khổ hệ thống tài khoản quốc gia Trong đó, nhiều tài khoản có thể cung cấp những thông tin riêng để đáp ứng nhu cầu nghiên cứu về các quan hệ kinh tế, làm căn cứ xây dựng các chiến lược, chính sách phát triển kinh tế xã hội Chẳng hạn, TSA cho biết các thông tin quan trọng như: tỷ trọng GDP du lịch trong tổng sản phẩm trong nước (GDP), lao động và việc làm trong ngành du lịch, tỷ trọngdoanh thu từ khách du lịch nước ngoài so với tổng giá trị xuất khẩu, tỷ lệ đầu
tư cho du lịch, vai trò của du lịch đối với phát triển kinh tế vùng
- Cung cấp số liệu cụ thể về chi tiêu du lịch và nhu cầu của du lịch đối với hoạt động kinh tế trong nước và được thể hiện ở tài khoản “cung” và tài khoản
Trang 23- Cung cấp thông tin đánh giá sự phát triển của du lịch đối với sự phát triển kinh tế vùng địa phương và toàn nền kinh tế quốc dân
- TSA sẽ tiêu chuẩn hóa được các khái niệm và bảng phân loại để so sánh được giữa các nước và giữa các vùng, địa phương với nhau
Hệ thống tài khoản vệ tinh du lịch của Tổ chức du lịch thế giới hiện nay bao gồm 10 bảng biểu có nguồn gốc từ hệ thống tài khoản quốc gia và liên quan đến việc cung cấp và sử dụng các loại hàng hóa và dịch vụ
Thông tin được sử dụng trong TSA gồm 2 mảng chính: thông tin về sản xuất
và thông tin về tiêu dùng Hệ thống 10 bảng biểu tài khoản vệ tinh du lịch của Tổ chức du lịch thế giới (WTO) hiện hành như sau:
Bảng 1 Tiêu dùng của khách quốc tế đến
Bảng 2 Tiêu dùng của khách du lịch trong nước
Bảng 3 Tiêu dùng du lịch của khách trong nước ra nước ngoài
Bảng 4 Tiêu dùng cuối cùng của du lịch trong nước (tổng hợp từ biểu 1&2) Bảng 5 Giá trị sản xuất của ngành du lịch và các ngành khác
Bảng 6 Cung ứng và tiêu thụ nội địa theo sản phẩm
Bảng7 Lao động và việc làm trong ngành du lịch
Trang 24I: Tác động kinh tế I có thể được tính toán về các phương diện: chi tiêu, mua bán, thu nhập, giá trị gia tăng, thu nhập từ thuế, việc làm…
Hệ số nhân vùng: được sử dụng nhằm chuyển chi tiêu thành thu nhập và nghề nghiệp cũng như để đánh giá các tác động thứ cấp từ việc tiêu dùng du lịch
Có nhiều loại hệ số nhân vùng khác nhau: Hệ số nhân Keynes loại 1, 2, 3…; các hệ
số nhân về mua bán, thu nhập, việc làm; các hệ số nhân tổng và thành phần
Hệ số nhân Keynes được xác định trong các trường hợp :
- Đối với nền kinh tế đóng và không có sự can thiệp của chính phủ :
1 MPC
Trong đó : Y là khoản thu nhập quốc dân tăng thêm
I là đầu tư trong năm dành cho lĩnh vực du lịch G là chi tiêu của chính phủ dành cho lĩnh vực du lịch
Trang 25X là chi tiêu của khách quốc tế MPC là khuynh hướng tiêu dùng cận biên
Gọi k1 là số nhân Keynes đối với đầu tư trong nền kinh tế đóng và không có
sự can thiệp của chính phủ, ta có :
k1 =
MPC
11
- Đối với nền kinh tế mở và có sự can thiệp của chính phủ:
Y =
MPZ t
MPC
X G I
Trong đó : t là mức thuế cận biên
MPZ là khuynh hướng tiêu dùng biên hàng nhập ngoại
(1 )1
1
*Tiểu kết chương 1
Du lịch là một nhu cầu đặc biệt và tổng hợp của con người Nhu cầu này được hình thành và phát triển trên nền tảng của cả nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần Có thể phân chia nhu cầu du lịch thành các nhu cầu bộ phận như : nhu cầu vận chuyển, đi lại; nhu cầu lưu trú và ăn uống, nhu cầu cảm thụ cái đẹp, giải trí và các nhu cầu khác Tương ứng với mỗi loại nhu cầu, cần thiết có các hoạt động dịch
Trang 26vụ nhằm đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu đó cho khách du lịch Điều này đòi hỏi ngành kinh tế du lịch phải phát triển một cách năng động và sáng tạo Với nhu cầu tổng hợp của mình, du khách mang lại hiệu ứng tiêu dùng dây chuyền, đem lại doanh thu và lợi nhuận cho rất nhiều ngành kinh tế khác nhau Cũng có nghĩa rằng, tính toán hiệu quả kinh tế của ngành du lịch không thể chỉ xem xét kết quả doanh thu của ngành lữ hành và khách sạn như cách thức thống kê phổ biến hiện nay Đóng góp kinh tế của du lịch có thể tính bằng giá trị gia tăng của ngành du lịch thông qua tổng mức chi tiêu của du khách Tuy nhiên, việc tính toán này không thể thông qua kết quả thống kê theo bảng phân ngành hiện nay của Việt Nam Quan điểm tiếp cận tài khoản vệ tinh du lịch (TSA) với mô hình khảo sát du khách, thêm vào đó là số nhân Keynes (giúp tính toán ảnh hưởng lan tỏa về kinh tế của du lịch) cho phép đánh giá, nhìn nhận đầy đủ hơn về hiệu quả của du lịch đối với toàn bộ nền kinh tế Ở Việt Nam, tính đến nay, Tổng cục Thống kê đã 2 lần tiến hành điều tra chi tiêu đối với cả khách du lịch quốc tế và nội địa (vào năm 2003 và 2005) Tuy chưa thật đầy đủ nhưng đây là nguồn số liệu ban đầu rất quan trọng giúp góp phần tính toán hiệu quả kinh tế của du lịch Việt Nam
Trang 27CHƯƠNG 2 ỨNG DỤNG TSA ĐỂ XÁC ĐỊNH HIỆU QUẢ KINH TẾ
CỦA NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM NĂM 2005
2.1 Quá trình khảo sát du khách
2.1.1 Đối tượng, nội dung, phạm vi điều tra
Ngày 20 tháng 6 năm 2005, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ra quyết định số 1083/QĐ-TCTK về việc điều tra chi tiêu của khách du lịch Việt Nam năm
2005, theo đó lập phương án tổ chức điều tra chọn mẫu chi tiêu của khách du lịch nội địa ở 26 tỉnh, thành phố và khách quốc tế ở 12 tỉnh, thành phố
Đối tượng điều tra là khách du lịch quốc tế và khách du lịch trong nước đang nghỉ tại các cơ sở lưu trú du lịch (gồm các khách sạn, nhà nghỉ, nhà khách, nhà trọ, bãi cắm trại, làng du lịch…) trong thời gian điều tra
Nội dung điều tra gồm các chỉ tiêu chính như sau:
- Tổng mức chi tiêu và một số khoản chi tiêu chủ yếu của khách du lịch như:
đi lại, ăn uống, nghỉ ngơi, tham quan: chi mua các dịch vụ văn hóa, vui chơi giải trí, chi cho y tế bảo vệ sức khỏe; chi mua hàng hóa, quà tặng, quà lưu niệm…
- Một số nhận xét đánh giá của khách du lịch đối với cảnh quan thiên nhiên, môi trường, điều kiện vật chất, dịch vụ và thái độ phục vụ của các cơ sở kinh doanh du lịch
Thời gian điều tra từ ngày 10/7/2005 đến 30/7/2005
2.1.2 Phương pháp điều tra
Quá trình điều tra được tiến hành theo phương pháp chọn mẫu phân tầng nhiều bước:
- Bước thứ nhất là chọn tỉnh, thành phố đại diện
- Bước thứ hai là chọn cơ sở lưu trú du lịch đại diện
- Bước thứ ba là chọn khách du lịch để điều tra
2.1.2.1 Chọn tỉnh, thành phố đại diện
Trang 28Các tiêu chí để chọn tỉnh, thành phố đại diện là có tài nguyên du lịch (tự nhiên và nhân văn) và có số lượng đáng kể khách du lịch quốc tế và nội địa tại địa phương đó Trên cơ sở thông tin, số liệu thu thập được từ điều tra chi tiêu của du khách năm 2003, điều tra doanh nghiệp, điều tra cơ sở kinh tế cá thể và các báo cáo về hoạt động du lịch, cơ sở lưu trú du lịch năm 2004 của các địa phương gửi về Tổng cục Thống kê theo chế độ điều tra và báo cáo hiện hành, Tổng cục đã quyết định chọn mẫu điều tra chi tiêu của du khách năm 2005 gồm các tỉnh thành phố:
- Điều tra chi tiêu của du khách nội địa tại 26 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Lào Cai, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Điện Biên, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Bình Định, Khánh Hòa, Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Đồng, thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Bình Thuận, An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ và Cà Mau
- Điều tra chi tiêu của du khách quốc tế tại 12 tỉnh thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Lào Cai, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Nghệ An, Thừa Thiên – Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Khánh Hòa, Lâm Đồng và thành phố Hồ Chí Minh
2.1.2.2 Chọn cơ sở lưu trú du lịch đại diện
Căn cứ vào yêu cầu về tính đại diện để suy rộng kết quả điều tra và khả năng kinh phí cho phép, mẫu điều tra đối với các cơ sở lưu trú du lịch được xác định là
từ 30-40% tổng số cơ sở lưu trú du lịch đang hoạt động trên địa bàn địa phương Riêng Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là những nơi có số lượng cơ sở lưu trú du lịch lớn, chọn tỷ lệ từ 20-30% Các cơ sở lưu trú du lịch được phân thành 3 nhóm:
- Nhóm 1: gồm các khách sạn đã được xếp hạng theo tiêu chuẩn sao (từ 5 sao đến 1 sao)
- Nhóm 2: gồm các khách sạn chưa được xếp hạng theo tiêu chuẩn sao
- Nhóm 3: gồm toàn bộ các cơ sở lưu trú du lịch không phải khách sạn (nhà nghỉ, nhà khách…)
Trang 29Tiến hành sắp xếp các cơ sở lưu trú trong từng nhóm theo độ dốc của số lượng khách phục vụ (nếu không có thông tin đầy đủ về số lượng khách phục vụ thì xếp theo số giường, buồng hoặc số lao động) Việc sắp xếp độ dốc đối với nhóm 1 chủ yếu áp dụng đối với các địa phương có số khách sạn lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh… Đối với các tỉnh thành phố có số lượng khách sạn đạt tiêu chuẩn sao không nhiều thì có thể chọn toàn bộ hoặc phần lớn các khách sạn này vào mẫu điều tra theo phương pháp chuyên gia, sao cho có đủ số lượng khách
và đảm bảo tính đại diện Sau đó, chọn các cơ sở lưu trú trong nhóm vào mẫu điều tra theo phương pháp chọn mẫu “cân bằng rải đều” với khoảng cách K
Khoảng cách K là khoảng cách giữa các đơn vị mẫu điều tra cần chọn và được xác định theo công thức:
K = Tổng số cơ sở lưu trú du lịch của nhóm
Số cơ sở lưu trú du lịch cần chọn Sau khi tính được khoảng cách tổ K, tiến hành chia tổng số các cơ sở lưu trú trong cùng nhóm thành các tổ có số lượng đơn vị như nhau để tiến hành chọn các
cơ sở ở giữa tổ vào mẫu điều tra Ví dụ: tỉnh A có 40 cơ sở lưu trú du lịch nhóm 2
và cỡ mẫu phân bổ cho nhóm này là 8 đơn vị, khoảng cách K trong trường hợp này là: K=40/8=5 Các cơ sở lưu trú ở các vị trí 3, 8, 13, 18, 23, 28, 33 và 38 (trong danh sách đã được sắp xếp theo độ dốc) là các cơ sở lưu trú nằm ở giữa các tổ 1, 2,
3, 4, 5, 6, 7 và 8 sẽ được chọn vào mẫu điều tra
Trang 30Mẫu điều tra được phân bổ theo từng loại khách nội địa và quốc tế trên cơ sở lượng du khách thực tế của Việt Nam Đối với khách du lịch nội tỉnh chỉ tính những người đến từ các huyện, quận khác trong tỉnh với cự ly quãng đường đi từ
20 km trở lên, không tính những người đi trong huyện/quận, thị xã, thành phố trong cùng tỉnh và khách đến trong phạm vi bán kính dưới 20 km Tổng hợp những tính toán nói trên, Tổng cục Thống kê tiến hành điều tra với cỡ mẫu 8.500 phiếu điều tra dành cho khách quốc tế và 25.500 phiếu đối với khách nội địa
2.2 Kết quả khảo sát
Cỡ mẫu được xác định là 8.500 phiếu dành cho khách quốc tế và 25.500 phiếu dành cho khách nội địa Sau khi tổng hợp và bỏ đi những phiếu chưa phù hợp, kết quả thu được là 8.195 phiếu trả lời phù hợp của khách quốc tế và 25.261 phiếu của khách nội địa
Bảng 2 Khách du lịch quốc tế chia theo quốc tịch, giới tính, độ tuổi
Trang 31Đối với khách quốc tế, 63,8% số du khách được hỏi là nam giới, còn lại 36,2% là nữ giới Trong số 8.195 du khách, có 3.482 du khách đi theo tour du lịch (chiếm 42,5%), 4.713 du khách tự sắp xếp chuyến đi (chiếm 57,5%) Về độ tuổi, chiếm tỷ lệ cao nhất là độ tuổi từ 25-34 với 2.611 du khách (tương đương 31,9%) Đây là độ tuổi mà du khách thường đã có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, có sức khỏe cũng như trình độ văn hóa, tri thức nhất định để thưởng thức, thẩm nhận các giá trị của sản phẩm du lịch mà du khách được thụ hưởng trong chuyến đi Về cơ cấu quốc tịch của du khách, lượng khách Việt kiều chiếm 12,7% Một số quốc gia
có tỷ lệ du khách lớn nhất là: Trung Quốc (17,9%), Pháp (12,6%), Mỹ (10,8%), Nhật (9,4%), Australia (6,3%), Anh (5,7%), Hàn Quốc (4,1%), Đức (3,3%), Thái Lan (4,1%), Canada (2,6%), Đài Loan (2,4%) (xem bảng 2)
Bảng 3 Khách du lịch nội địa chia theo giới tính, độ tuổi, hình thức tổ chức chuyến đi
Trang 32(chiếm 35,4%, tương đương với 8.907 lượt khách) Về hình thức tổ chức chuyến
đi, số lượng khách tự sắp xếp chuyến đi chiếm tới 88,11% (tương đương 22.170 lượt người), số lượng người đi theo tour du lịch chỉ chiếm 11,88% (tương đương 2.990 lượt người) Điều này cho thấy: du khách Việt Nam nếu đi du lịch trong nước vẫn có thói quen tự tổ chức chuyến đi là chính
2.2.1 Các mức chi tiêu theo từng nhóm khách
2.2.1.1 Chi tiêu bình quân 1 ngày khách
a Khách quốc tế
- Đối với khách tự sắp xếp chuyến đi
Bảng 4 Chi tiêu bình quân 1 ngày khách quốc tế (đối với khách tự sắp xếp chuyến đi)
với năm 2003 (%)
Nhìn vào bảng 4 ta thấy chi tiêu bình quân một ngày khách quốc tế năm
2005 là 76,4 USD, tăng 2,4% so với năm 2003 Trong đó, các danh mục chi tiêu tăng là ăn uống, đi lại tại Việt Nam, tham quan, mua sắm, y tế Tuy nhiên mức tăng chưa cao: ăn uống tăng 11,1%, tham quan chỉ tăng 3,6%, mua sắm tăng 6,7% Đi lại tại Việt Nam có mức chi tăng cao nhất (31,2%) Đáng lưu ý là các khoản chi dành cho thuê phòng, vui chơi giải trí và chi khác giảm Chi cho thuê phòng giảm 7,7%, vui chơi giải trí giảm 12,8%, các loại chi khác giảm 26,4% Điều này chỉ ra
Trang 33thực tế: về buồng phòng ở Việt Nam, số lượng các cơ sở lưu trú tăng lên khiến cho giá cả cạnh tranh, du khách có nhiều lựa chọn hơn, trong khi đó lượng khách sử dụng dịch vụ lưu trú giá thấp và trung bình cũng tăng lên khiến cho chi tiêu bình quân một ngày khách quốc tế về mặt lưu trú lại giảm Khoản chi dành cho vui chơi giải trí của du khách giảm 12,8%, cho thấy hoạt động này tại Việt Nam giảm sức hấp dẫn đối với du khách Không nhiều hình thức vui chơi giải trí dành cho du khách, nếu có thì vẫn nghèo nàn đơn điệu
Về cơ cấu chi tiêu của khách quốc tế (đối với khách tự sắp xếp chuyến đi), năm 2003, trung bình một ngày khách chi 67% cho các khoản chi du lịch (thuê phòng, ăn uống, đi lại tại Việt Nam, tham quan), 33% dành cho các khoản chi
Trang 34ngoài du lịch (mua sắm, vui chơi giải trí, y tế vv…) Cơ cấu này đối với năm 2005
là 70% chi cho du lịch, 30% cho các khoản chi ngoài du lịch
- Đối với khách đi theo tour
Trang 35Bảng 5: Chi tiờu (ngoài tour) bỡnh quõn 1 ngày khỏch quốc tế (đối với khỏch đi theo tour)
với năm 2003 (%)
28%
72%
Cơ cấu chi tiêu (ngoài tour) bình quân
1 ngày khách quốc tế (đối với khách đi theo tour) năm 2003
Chi cho du lịch Chi ngoài du lịch
Trang 36Về cơ cấu chi tiờu (ngoài tour) bỡnh quõn 1 ngày khỏch quốc tế đối với khỏch đi theo tour năm 2005, khoản chi dành cho du lịch chiếm 23%, chi ngoài du lịch chiếm 77% Như vậy, cơ cấu chi đó thay đổi theo chiều hướng tớch cực cho du lịch Việt Nam So với năm 2003, khoản chi ngoài du lịch của du khỏch tăng 5%
b Khỏch nội địa
- Đối với khỏch tự sắp xếp chuyến đi
Bảng 6 Chi tiờu bỡnh quõn một ngày khỏch nội địa (đối với khỏch tự sắp xếp chuyến đi)
Cơ cấu chi tiêu (ngoài tour) bình quân
1 ngày khách quốc tế (đối với khách đi theo tour) năm 2005
Chi cho du lịch Chi ngoài du lịch
Trang 37tăng 29,3%, đi lại tăng 29,6%, mua sắm tăng 13,7% Khoản chi cho y tế tăng cao nhất với 91,7% Các khoản chi giảm là tham quan: giảm 4,6%, vui chơi giải trí 2%, các khoản chi khác giảm 17,9%
Về cơ cấu chi tiêu bình quân 1 ngày khách nội địa (đối với khách tự sắp xếp chuyến đi) năm 2005, khoản chi cho du lịch chiếm 75%, các khoản chi ngoài du lịch chiếm 25% So với năm 2003, khoản chi cho du lịch tăng lên 3%
- Đối với khách đi theo tour
Trang 38Bảng 7: Chi tiờu (ngoài tour) bỡnh quõn 1 ngày khỏch nội địa (đối với khỏch đi theo tour)
21%
79%
Cơ cấu chi tiêu (ngoài tour) bình quân
1 ngày khách nội địa (đối với khách đi theo tour) năm 2003
Chi cho du lịch Chi ngoài du lịch
Trang 39
2.2.1.2 Chi tiờu bỡnh quõn 1 lƣợt khỏch
Kết quả khảo sỏt đối với chi tiờu bỡnh quõn 1 lƣợt khỏch là nguồn số liệu chớnh để giỳp ta tớnh toỏn đƣợc tiờu dựng của du khỏch
a Khỏch quốc tế
- Đối với khỏch tự sắp xếp chuyến đi
Bảng 8 Chi tiờu bỡnh quõn 1 lƣợt khỏch quốc tế (đối với khỏch tự sắp xếp chuyến đi)
(USD)
Năm 2005 (USD)
Năm 2005 so với năm 2003 (%)
Đối với khỏch tự tổ chức chuyến đi, chi tiờu bỡnh quõn 1 lƣợt khỏch năm
2005 tăng 42,2% so với năm 2003 Tất cả cỏc khoản chi tiờu của khỏch năm 2005 đều tăng so với năm 2003, trong đú, tăng cao nhất là khoản chi cho đi lại tại Việt
27%
73%
Cơ cấu chi tiêu (ngoài tour) bình quân
1 ngày khách nội địa (đối với khách đi theo tour) năm 2005
Chi cho du lịch Chi ngoài du lịch
Trang 40Nam (tăng 81,6%) Điều này có thể do nhiều lý do: nếu du khách đi tham quan, mua sắm… ở Việt Nam nhiều hơn thì khoản chi cho đi lại cũng tăng Hơn nữa giá xăng dầu năm 2005 tăng đáng kể so với năm 2003, khiến cho dịch vụ vận chuyển của hầu hết các phương tiện giao thông đều tăng giá Chi cho y tế tăng 65,4%, ăn uống tăng 54,1%, mua sắm tăng 47,7%, tham quan tăng 43,8%, thuê phòng tăng 28,0%, vui chơi giải trí tăng 22,7%, các khoản khác tăng 1,7%
Về cơ cấu chi tiêu của du khách, năm 2003, khoản chi cho du lịch chiếm 67% (bao gồm thuê phòng, ăn uống, đi lại, tham quan), khoản chi ngoài du lịch chỉ chiếm 33% Năm 2005, khoản chi cho du lịch chiếm 70%, ngoài du lịch là 30% Như vậy, cơ cấu chi tiêu của du khách quốc tế tại Việt Nam vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất là cho du lịch, đặc biệt là các dịch vụ cơ bản, thậm chí khoản chi này lại
có xu hướng tăng (năm 2005 tăng 3% so với năm 2003) Đây là một kết quả chưa tích cực đối với du lịch Việt Nam nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung Xu
hướng của nhiều nước có ngành du lịch phát triển trong khu vực và trên thế giới là: giảm nguồn thu từ các dịch vụ cơ bản của du lịch, thu hút du khách bằng các tour giá rẻ, phát triển các hãng hàng không giá rẻ Tuy nhiên, trong cơ cấu chi tiêu của khách du lịch, tiền thu từ hoạt động mua sắm là chính chứ không phải chi phí khách sạn hay chi phí tour Ví dụ như Thái Lan có những chiến dịch tạm thời hạ giá khách sạn thì đồng thời cũng có những biện pháp để tăng thu từ kinh doanh bán hàng, từ đó điều tiết trở lại cho phía khách sạn Trong khi đó, Singapore lại áp dụng phương thức hạ giá “hàng hiệu” (brand – name) một tuần lễ để thu hút khách đến mua sắm, tạo nguồn thu từ đó và cũng nhằm giải quyết việc làm cho lao động trong nước Malaysia cũng thu hút một lượng du khách rất lớn với du lịch mua sắm Hàng năm vào mùa hè, trên tất cả các bang của Malaysia đều có chương trình giảm giá cho tất cả các loại hàng hóa trong các ngày lễ hội lớn như Hari Raya, Deepavali, Lễ Giáng sinh, Tết Cổ truyền Nổi bật nhất là lễ hội “Malaysia muôn