1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động ngoại vụ hỗ trợ phát triển du lịch tại Quảng Ninh

133 450 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 1,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

và hữu nghị truyền thống với các nước láng giềng có chung biên giới đồng thời nỗ lực làm sâu sắc hơn nữa quan hệ với các đối tác chủ chốt; về ngoại giao đa phương, Việt Nam sẽ mở rộng th

Trang 1

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN HUYỀN ANH

HOẠT ĐỘNG NGOẠI VỤ HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Du lịch

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN HUYỀN ANH

HOẠT ĐỘNG NGOẠI VỤ HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI QUẢNG NINH

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 6

DANH MỤC BẢNG, BIỂU 8

Mẫu bảng chữ viết tắt: 9

MỞ ĐẦU 10

1 Lý do chọn đề tài 10

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 12

2.1 Mục đích 12

2.2 Nhiệm vụ của đề tài 12

3 Đối tượng nghiên cứu 12

4 Phạm vi nghiên cứu 12

5 Phương pháp nghiên cứu 13

6.Cấu trúc của đề tài 13

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA HOẠT ĐỘNG NGOẠI VỤ VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI ĐỊA PHƯƠNG 14

1.1 Một số lý luận cơ bản về hoạt động ngoại giao 14

1.1.1 Khái niệm “Ngoại giao”, "Ngoại vụ" 14

1.1.2 Phân loại 17

1.1.3 Hoạt động ngoại giao 21

1.2 Các hoạt động ngoại vụ hỗ trợ phát triển du lịch tại địa phương 27

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGOẠI VỤ HỖ TRỢ DU LỊCH QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN 2005 - 2011 29

2.1 Khái quát về du lịch Quảng Ninh 29

Trang 4

2.1.1 Tiềm năng phát triển du lịch 29

2.1.2.Tình hình phát triển du lịch Quảng Ninh 30

2.2 Thực trạng hoạt động ngoại vụ hỗ trợ du lịch Quảng Ninh 36

2.2.1 Giới thiệu về Sở Ngoại vụ tỉnh Quảng Ninh 36

2.2.2 Các hoạt động ngoại vụ hỗ trợ du lịch 44

2.2.2.1 Hoạt động đoàn vào 44

2.2.2.2 Hoạt động tổ chức đoàn ra 48

2.2.2.3 Hoạt động thông tin đối ngoại 55

2.2.2.4 Hoạt động mở rộng và phát triển quan hệ hợp tác quốc tế 59

2.2.2.5 Hoạt động phối hợp tổ chức các sự kiện lớn liên quan đến du lịch 87

2.3 Đánh giá chung 89

2.3.1 Những thành công 89

2.3.2 Những hạn chế 92

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH SỰ HỖ TRỢ CỦA CÁC HOẠT ĐỘNG NGOẠI VỤ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI QUẢNG NINH 99

3.1 Chủ trương, chính sách, định hướng của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về ngoại giao 99

3.2 Định hướng các hoạt động ngoại vụ của Quảng Ninh trong thời gian tới 100

3.3 Định hướng phát triển ngành du lịch Quảng Ninh 101

3.4 Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh sự hỗ trợ của hoạt động ngoại vụ đối với sự phát triển du lịch tại Quảng Ninh 104

3.4.1 Tuyên truyền quảng bá du lịch 104

3.4.2 Đối với công tác mở rộng hợp tác du lịch 109

Trang 5

3.4.3 Đối với hoạt động tổ chức các sự kiện du lịch lớn 113

3.5 Kiến nghị 115

3.5.1 Đối với Bộ Ngoại giao 115

3.5.2 Đối với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 117

3.5.3.Đối với Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh 117

KẾT LUẬN 120

TÀI LIỆU THAM KHẢO 122

PHỤ LỤC 125

Trang 6

1

1 Bảng 2.1 Lượng khách du lịch đến Quảng Ninh 2007 -2011

2 Biểu đồ 2.1 Lượng khách du lịch đến Quảng Ninh 2007 – 2011

3 Bảng 2.2 Doanh thu du lịch Quảng Ninh 2007 - 2011

4 Biểu đồ 2.2 Doanh thu du lịch Quảng Ninh 2007 – 2011

5 Sơ đồ 2.1 Sở Ngoại vụ Quảng Ninh

6 Biểu đồ 2.3 Số lượng đoàn khách và số lượng khách quốc tế đến Quảng Ninh 2006 – 2011

7 Biểu đồ 2.4 Thống kê đoàn ra 2006 – 2011

8 Biểu đồ 2.5 Số lượng đoàn phóng viên và số lượng phóng viên báo chí nước ngoài đến Quảng Ninh 2006 - 2011

Trang 7

Mẫu bảng chữ viết tắt:

AIPO ASEAN Inter - Parliament Ỏganization

Tổ chức Liên minh Nghị viện các nước ASEAN

APPF Asia Pacific Parliamentary Forum

Diễn đàn nghị viện Châu Á- Thái Bình Dương

ASEAN Association of South - East Asian Nations

Hiệp hội các nước Đông Nam Á

ASEP Asia - Europe Parliamentary Partnership Meeting

Hội nghị Đối tác Nghị viện Á – Âu

Hội chứng Suy giảm Miễn dịch Mắc phải

EATOF East Asia Inter-Regional Tourism Forum

Diễn đàn Hợp tác Du lịch khu vực Đông Á

Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người

Liên minh Nghị viện Quốc tế

UNESCO United Nations Educational Scientific and Cultural

Ỏganization

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc

Trang 8

và hữu nghị truyền thống với các nước láng giềng có chung biên giới đồng thời nỗ lực làm sâu sắc hơn nữa quan hệ với các đối tác chủ chốt; về ngoại giao đa phương, Việt Nam sẽ mở rộng tham gia và đóng góp ngày càng tích cực, chủ động, trách nhiệm vào các cơ chế, tổ chức, diễn đàn khu vực, đa phương và toàn cầu …

Trên cơ sở định hướng đối ngoại nêu trên, với mục tiêu ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế và lợi thế địa lý có chung biên giới với nước láng giềng Trung Quốc, Sở Ngoại vụ Quảng Ninh thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh trong các hoạt động đối ngoại của địa phương trong đó có nhiệm vụ phát triển các mối quan hệ hợp tác với các đối tác nước ngoài nhằm kêu gọi đầu tư, phát triển kinh tế trong đó có lĩnh vực du lịch

Trang 9

Quảng Ninh vẫn được ví là Việt Nam thu nhỏ có những lợi thế đặc biệt về địa lý như đường biên giới với Trung Quốc, đường biển dài, có kỳ quan thiên nhiên như Vịnh Hạ Long, Vịnh Bái Tử Long, những di tích lịch

sử, văn hóa đặc sắc như Yên Tử, Bạch Đằng, những bãi biển đẹp như Trà Cổ, Minh Châu – Quan Lạn, Đảo Cô Tô Với những lợi thế đó, Quảng Ninh đã xác định phát triển ngành du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn của Tỉnh

Với định hướng đối ngoại và phát triển du lịch như trên, hai cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực ngoại vụ và du lịch của Quảng Ninh đã có mối quan hệ hỗ trợ và phối hợp thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao Sở Ngoại

vụ tham mưu cho Tỉnh mở rộng quan hệ hợp tác với các đối tác nước ngoài trên nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực du lịch như: Kêu gọi đầu tư, hợp tác, tuyên truyền quảng bá, tham gia các tổ chức quốc tế về du lịch, tổ chức các sự kiện, hội chợ, triển lãm về du lịch…

Cho đến nay, tại Việt Nam, ở cấp trung ương đã có những đề tài nghiên cứu về hoạt động ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế, trong đó có phát triển ngành du lịch Tuy nhiên, tại Quảng Ninh, đây là một đề tài mới, rất cần thiết được nghiên cứu Xuất phát từ những thực tiễn nêu trên, với cương vị là một cán bộ đang công tác tại Sở Ngoại vụ tỉnh Quảng Ninh, tác giả chọn đề tài

“Hoạt động ngoại vụ hỗ trợ phát triển du lịch tại Quảng Ninh” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn cao học của mình Với đề tài này, tác giả rất mong muốn từ những lý luận cơ bản được hướng dẫn nghiên cứu tại Khoa Du lịch học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội và những trải nghiệm thực tế trong công tác, sẽ tiến hành nghiên cứu

và áp dụng vào thực tiễn trong lĩnh vực Ngoại vụ và lĩnh vực Du lịch tại Quảng Ninh

Trang 10

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.2.Nhiệm vụ của đề tài

- Tổng quan các tài liệu về hoạt động ngoại vụ, chức năng của Sở Ngoại vụ, đặc biệt là các chức năng có liên quan đến du lịch;

- Phân tích đánh giá vai trò của Sở Ngoại vụ đối với sự phát triển du lịch Quảng Ninh;

- Khảo sát các hoạt động của Sở Ngoại vụ có liên quan đến hỗ trợ hoạt động du lịch tại Quảng Ninh;

- Đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh sự hỗ trợ của các hoạt động ngoại vụ đối với sự phát triển của ngành du lịch tại Quảng Ninh

3 Đối tƣợng nghiên cứu

Hoạt động của Sở Ngoại vụ có liên quan đến việc hỗ trợ phát triển du lịch của tỉnh Quảng Ninh

4 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Tập trung nghiên cứu các hoạt động ngoại vụ nhằm hỗ

trợ ngành du lịch phát triển của Sở Ngoại vụ Quảng Ninh

- Về không gian: Địa bàn tỉnh Quảng Ninh (tập trung chủ yếu vào một

số địa bàn lớn của tỉnh như thành phố Hạ Long, Móng Cái, Uông Bí, huyện Vân Đồn)

- Về thời gian: Nghiên cứu các hoạt động ngoại vụ hỗ trợ phát triển

ngành du lịch của tỉnh Quảng Ninh từ năm 2005 đến năm 2011 Một số giải

Trang 11

pháp tăng cường sự hỗ trợ của hoạt động ngoại vụ cho phát triển ngành du lịch Quảng Ninh đến năm 2020

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu, số liệu

- Phương pháp phân tích hệ thống

- Phương pháp chuyên gia

- Phương pháp thực địa

6.Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, phần nội dung chính của luận văn bao gồm 03 chương như sau:

Chương 1 Một số vấn đề cơ bản về mối quan hệ của hoạt động ngoại

vụ với hoạt động du lịch tại địa phương

Chương 2 Thực trạng hoạt động ngoại vụ hỗ trợ du lịch tại Quảng Ninh giai đoạn 2005 - 2011

Chương 3 Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh sự hỗ trợ của các hoạt động ngoại vụ đối với sự phát triển của ngành du lịch tại Quảng Ninh

Trang 12

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN

VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA HOẠT ĐỘNG NGOẠI VỤ VỚI

HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI ĐỊA PHƯƠNG 1.1 Một số lý luận cơ bản về hoạt động ngoại giao

1.1.1 Khái niệm “Ngoại giao”, "Ngoại vụ"

Từ “ngoại giao” xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử ngành ngoại giao nhưng khái niệm “ngoại giao” đến nay được hiểu theo nhiều cách khác nhau

Từ điển tiếng Anh Oxford viết : “Ngoại giao là việc tiến hành quan hệ quốc tế bằng cách đàm phán, là phương pháp mà các đại sứ, công sứ … sử dụng để điều chỉnh và tiến hành các quan hệ đó, là công tác hoặc nghệ thuật của nhà ngoại giao” [ 1, Tr 119]; Từ điển tiếng Pháp Le Nouveau Petit Robert xuất bản năm 1994 nêu: “Ngoại giao là hoạt động chính trị liên quan đến mối quan

hệ giữa các quốc gia: Đại diện quyền lợi của một chính phủ ở nước ngoài, quản lý công việc quốc tế, hướng dẫn và tiến hành đàm phán giữa các quốc gia” [ 1, Tr.119]; Đại Từ điển bách khoa toàn thư của Nga tái bản năm 1998 định nghĩa : “ Ngoại giao là hoạt động chính thức của người đứng đầu nhà nước, chính phủ và của các cơ quan chuyên trách về quan hệ đối ngoại, nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của chính sách đối ngoại quốc gia, cũng như nhằm bảo vệ quyền lợi quốc gia ở nước ngoài…”[ 1, Tr.119];; Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam xuất bản năm 2003, khái niệm ngoại giao là: “Ngành khoa học mang tính tổng hợp, một nghệ thuật của các khả năng, là hoạt động chính thức của các cơ quan làm công tác đối ngoại và các đại diện có thẩm quyền thực hiện các nhiệm vụ chính sách đối ngoại của nhà nước nhằm bảo

vệ các quyền lợi và lợi ích của nước mình, của các cơ quan, tổ chức và công dân mình ở nước ngoài; góp phần giải quyết các vấn đề quốc tế bằng con đường đàm phán và các hình thức hoà bình khác [ 1 Tr 119]; Ngày nay, bên cạnh ngoại giao Nhà nước còn có ngoại giao nhân dân Đàm phán là nghệ

Trang 13

thuật nhằm ngăn ngừa hoặc giải quyết các xung đột quốc tế, tìm kiếm thoả hiệp hoặc giải pháp mà các bên cùng chấp nhận được, phát triển sâu rộng hợp tác quốc tế Trước kia ngoại giao là công việc của các bộ trưởng ngoại giao, các đại sứ hoặc phái viên đặc biệt Những thập niên gần đây, các vị đứng đầu quốc gia, đứng đầu Chính phủ cũng làm công việc ngoại giao thông qua những cuộc gặp thượng đỉnh, những chuyến thăm chính thức, viếng thăm làm việc và đàm phán cấp cao Ngoại giao còn được tiến hành trong các hội nghị

và gặp gỡ ngoại giao, chuẩn bị và ký kết điều ước quốc tế hoặc các văn kiện ngoại giao khác gồm hai bên hay nhiều bên, tham gia hoạt động của các tổ chức quốc tế và các cơ quan của tổ chức này”

Từ một số khái niệm nêu trên, có thể đưa ra nhận xét về khái niệm “ ngoại giao” như sau:

- Là công cụ thực hiện chính sách đối ngoại của quốc gia, bao gồm tổng thể các biện pháp phi quân sự, những phương pháp, thủ thuật phù hợp yêu cầu, đặc điểm của nhiệm vụ;

- Là các cơ quan chuyên trách về quan hệ đối ngoại ở trong nước và ở nước ngoài;

- Là những hoạt động chính thức của người đứng đầu Nhà nước, Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và những cán bộ làm công tác ngoại giao nhà nước;

- Là khoa học và nghệ thuật, trước hết là nghệ thuật đàm phán nhằm ngăn chặn hoặc dàn xếp những xung đột quốc tế, tìm cách thoả hiệp và đưa ra giải pháp có thể được các bên chấp nhận, mở rộng và củng cố hợp tác quốc tế

Trong thực tế, phương pháp ngoại giao thông dụng nhất là thăm viếng, đàm phán, hội nghị, hội thảo, cuộc họp, gặp gỡ, ký kết các thoả thuận quốc tế song phương, đa phương, tham gia vào công việc của các tổ chức, diễn đàn quốc tế, đại diện ngoại giao ở nước ngoài, trao đổi thư tín ngoại giao Chính

Trang 14

phủ lãnh đạo hoạt động ngoại giao của quốc gia, trước hết trực tiếp là Bộ Ngoại giao; Nội dung, nguyên tắc, mục đích, nhiệm vụ của ngoại giao do chế

độ xã hội quốc gia, do lợi ích của giai cấp cầm quyền quyết định

Ở Việt Nam, Chính phủ chỉ đạo hoạt động ngoại giao thông qua Bộ Ngoại giao Chính quyền cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo các hoạt động ngoại vụ địa phương thông qua cơ quan Sở Ngoại vụ hoặc bộ phận chịu trách nhiệm về các hoạt động ngoại vụ thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố Về chuyên môn, Sở Ngoại vụ chịu sự quản lý

và hướng dẫn của Bộ Ngoại giao

Hoạt động ngoại giao được gọi là hoạt động ngoại vụ khi các hoạt động này được thực hiện bởi các cơ quan Ngoại vụ tại các địa phương có Sở Ngoại

vụ hoặc bộ phận Ngoại vụ thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Các cơ quan Ngoại vụ này chịu sự quản lý, điều hành của Uỷ ban nhân dân tỉnh và chịu sự quản lý về chuyên môn nghiệp vụ của Bộ Ngoại giao

Hoạt động ngoại giao được thực hiện thông qua hệ thống các cơ quan quan hệ đối ngoại của Nhà nước Các cơ quan này có thẩm quyền đại diện cho lợi ích quốc gia trong quá trình thực hiện các mối quan hệ quốc tế Trong hệ thống cơ quan quan hệ đối ngoại thường có hai loại: cơ quan quan hệ đối ngoại ở trong nước và cơ quan quan hệ đối ngoại ở nước ngoài

Hoạt động ngoại giao là một hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của công chức ngành ngoại giao của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm thực hiện chính sách đối ngoại của nước Việt Nam, bảo vệ quyền lợi của Việt Nam trên trường quốc tế, bảo vệ quyền, lợi ích của công dân và tổ chức Việt Nam tại nước ngoài Hoạt động ngoại giao được thực hiện bởi các công chức ngành ngoại giao tại các cơ quan thuộc Bộ Ngoại giao (hoặc quản

Trang 15

lý chuyên môn thuộc Bộ Ngoại giao) hoặc tại các các cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài

Nhiệm vụ của công tác ngoại giao là đảm bảo lợi ích quốc gia bằng con đường củng cố quan hệ, lợi ích với các thành viên cộng đồng quốc tế, trên cơ

sở các nguyên tắc chung của luật quốc tế, triển khai nhất quán đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; giữ vững môi trường hoà bình, tạo các điều kiện thuận lợi cho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, hiện đại hoá đất nước… Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, thách thức và thời cơ xen nhau, ngành ngoại giao đặt ra một số nhiệm vụ cụ thể như sau:

- Ngoại giao chính trị: Tiếp tục mở rộng quan hệ đối ngoại; Có những biện pháp đột phá đưa quan hệ, nhất là quan hệ với các đối tác quan trọng đi vào chiều sâu, ổn định, hiệu quả và vững bền hơn; Tăng cường hoạt động trên các diễn đàn đa phương…

- Ngoại giao kinh tế: Đưa ngoại giao kinh tế đi vào nề nếp và hiệu quả cao hơn; Thực hiện tốt vai trò mở đường, tham mưu, hỗ trợ và đôn đốc thực hiện các thoả thuận với các đối tác nước ngoài; tích cực đưa đất nước chủ động hội nhập kinh tế quốc tế sâu hơn, đầy đủ hơn

- Ngoại giao văn hoá: Đổi mới nhận thức về ngoại giao văn hoá, là một trong ba trụ cột của ngoại giao Nhiệm vụ là đẩy mạnh công tác tuyên truyền đối ngoại, quảng bá hình ảnh đất nước, con người và công cuộc đổi mới tại Việt Nam, nêu bật được hình ảnh một nước Việt Nam năng động, thân thiện, hợp tác tin cậy và hiệu quả

1.1.2 Phân loại

Ngoại giao có thể phân chia như sau:

Trang 16

+ Ngoại giao Đảng: Ngoại giao Đảng là hoạt động đối ngoại của các Đảng phái chính trị nhằm thiết lập, phát triển quan hệ với các đảng ở các nước khác trên thế giới Ngoại giao Đảng thường mang các đặc điểm hệ tư tưởng, các đảng có cùng hệ tư tưởng thiết lập quan hệ với nhau

Đảng Cộng sản Việt Nam chủ yếu xây dựng quan hệ với các Đảng Cộng sản và tổ chức chính trị cánh tả Bên cạnh đó, Đảng ta còn thiết lập và phát triển quan hệ với các đảng cầm quyền không phải Đảng Cộng sản, Đảng Công nhân Ngoại giao Đảng quan trọng như ngoại giao nhà nước và gắn chặt với ngoại giao nhà nước vì Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, các

vị lãnh đạo Đảng thường kiêm các chức vụ của Nhà nước Đảng lãnh đạo, Nhà nước thực hiện những mục tiêu đã đặt ra nhằm phát triển đất nước, mang lại hạnh phúc cho nhân dân, trong đó có công tác đối ngoại và ngoại giao của Nhà nước (trong các văn kiện của Đảng luôn có phần định hướng đối ngoại) Bộ phận giúp việc cho Trung ương Đảng về công tác đối ngoại có Ban Đối ngoại trung ương Đảng

+ Ngoại giao nghị viện (Quốc hội): Ngoại giao nghị viện là hoạt động đối ngoại, hoạt động quốc tế của nghị viện/nghị sỹ, hỗ trợ và bổ sung cho ngoại giao nhà nước Nét đặc trưng của ngoại giao nghị viện biểu hiện ở chính bản chất của thiết chế nghị viện Là cơ quan đại diện của nhân dân, thay mặt cho nhân dân quyết định các vấn đề chung của đất nước, nghị viện đóng vai trò quan trọng trong xã hội dân chủ Sự tham gia của nghị viện vào quan hệ đối ngoại quốc gia thể hiện ở cả ba chức năng chính là lập pháp, giám sát và đại diện Quốc hội có đại diện các đảng phái, tổ chức chính trị - xã hội, nhóm lợi ích, nhất là các nước mang chế độ chính trị đa nguyên nên ngoại giao nghị viện vừa mang tính đảng lại vừa thể hiện cho ý chí của người dân bầu cho họ Mặt khác, ngoại giao nghị viện vừa mang tính nhà nước vừa mang tính nhân dân Những năm gần đây, hoạt động ngoại giao nghị viện phát triển mạnh, các

Trang 17

nghị sỹ thường xuyên thăm viếng lẫn nhau để trao đổi ý kiến, trao đổi kinh nghiệm công tác và tăng cường quan hệ

Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là thành viên của Liên minh nghị viện các nước ASEAN (AIPO) thành lập ngày 22/09/1977, Hiệp hội các nghị viện Châu Á vì hoà bình (APPP), Diễn đàn nghị viện Châu Á- Thái Bình Dương (APPF), Liên minh nghị viện quốc tế (IPU) và là thành viên của nhiều tổ chức liên minh nghị viện khác Quốc hội cũng đã cử nhiều đoàn đại biểu đến thăm các nước trên khắp các châu lục và đón nhiều đoàn đại biểu nghị viện nước ngoài đến thăm Việt Nam Ngoại giao nghị viện hỗ trợ quan trọng cho ngoại giao nhà nước Bộ phận phụ trách giúp việc công tác đối ngoại của Quốc hội Việt Nam là Uỷ ban Đối ngoại Quốc hội trực thuộc Văn phòng của Quốc hội

+ Ngoại giao nhân dân: Ngoại giao nhân dân là hoạt động ngoại giao

do các tổ chức nhân dân như thanh niên, phụ nữ, công đoàn, Hội cựu chiến binh, Hội nông dân, Hội Liên hiệp các tổ chức Hữu nghị, hoạt động đối ngoại của các tổ chức nghề nghiệp (Hội Văn học Nghệ thuật, Hội Nhà báo …) thực hiện Mục đích ngoại giao nhân dân là tăng cường sự hiểu biết, đoàn kết và hữu nghị, hợp tác giữa các dân tộc, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển quan hệ nhà nước Ngoại giao nhân dân rộng rãi, đa dạng, mềm mỏng, không

gò bó về quy định lễ tân, có thể đi đầu, đi trước tại những nơi mà ngoại giao nhà nước chưa thể triển khai Nhiệm vụ của ngoại giao nhân dân là vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách hoà bình, hữu nghị, đoàn kết, hợp tác giữa Việt Nam với các nước, tuyền truyền, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới đối với công cuộc cách mạng giành độc lập dân tộc và xây dựng, phát triển đất nước của nhân dân ta Trong thực tiễn của Việt Nam, Ngoại giao nhân dân đã đóng góp to lớn trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và xây dựng đất nước Trong thời kỳ hiện nay,

Trang 18

ngoại giao nhân dân phát triển rộng rãi, tăng cường sự hiểu biết của nhân dân các nước trên thế giới về đất nước, con người, tinh hoa văn hoá, thành tựu phát triển của Việt Nam, góp phần đưa hình ảnh Việt Nam đến với đông đảo nhân dân thế giới và làm cho người dân Việt Nam hiểu biết thêm về các quốc gia, dân tộc có mối quan hệ với Việt Nam Ngoại giao nhân dân còn có hình thức đặc biệt nữa được gọi là ngoại giao Kênh II Đó là các hoạt động ngoại giao của các vị cựu quan chức cấp cao như nguyên các nhà ngoại giao cấp cao, các nhà khoa học thuộc các cơ quan nghiên cứu về quan hệ quốc tế, về an ninh quốc tế …

+ Ngoại giao của các tổ chức phi chính phủ: có hình thức phi chính phủ quốc tế, phi chính phủ quốc gia, phi chính phủ mang tính chất chính phủ

Hình thức ngoại giao này đang được phát triển mạnh mẽ trên thế giới

Ở Việt Nam cũng có nhiều các tổ chức phi chính phủ hoạt động Các hoạt động chủ yếu của các tổ chức này nhằm giúp đỡ, hỗ trợ giải quyết một số vấn

đề xã hội như xoá đói giảm nghèo, phòng chống dịch bệnh, giúp đỡ phụ nữ, trẻ em, bệnh nhân HIV/AISD … Tại Quảng Ninh cũng có rất nhiều các dự án phi chính phủ nhằm hỗ trợ cho các đối tượng nghèo tại các địa phương vùng sâu, vùng xa, núi cao, nơi sinh sống của đồng bào dân tộc thiểu số; các đối tượng xã hội như người nhiễm HIV/AISD, giúp đỡ chị em phụ nữ nạn nhân của buôn bán người … Bên cạnh đó hoạt động tiếp nhận các tình nguyện viên nước ngoài đến làm việc tại các cơ quan, tổ chức nhà nước, đoàn thể cũng phát triển Các tình nguyện viên này có thể trao đổi các kinh ngiệm trong công tác quản lý nhà nước của mình cho các cán bộ, viên chức Việt Nam, trao đổi, chuyển giao một số kỹ thuật, công nghệ chuyên sâu trong một số lĩnh vực tỉnh có nhu cầu…

Một số cách thức ngoại giao cơ bản như sau:

- Ngoại giao song phương là hoạt động ngoại giao giữa hai quốc gia

Trang 19

- Ngoại giao đa phương là hoạt động ngoại giao có sự tham gia đại diện của ba quốc gia trở lên và liên quan đến hoạt động của tổ chức liên chính phủ, các hội nghị, hội thảo, đàm phán, thương lượng …;

- Ngoại giao cấp cao: Là các cuộc gặp gỡ của những người đứng đầu, những người có thẩm quyền nhất trong việc quyết định các vấn đề được nêu ra;

- Ngoại giao chính thức là ngoại giao nhà nước

- Ngoại giao không chính thức là ngoại giao nhân dân, ngoại giao của các tổ chức phi chính phủ

Trong thực tế, khi hai địa phương của hai quốc gia thiết lập quan hệ với nhau thì đó là quan hệ hợp tác song phương, nhưng khi nhiều địa phương của một quốc gia thiết lập quan hệ hợp tác với một địa phương của một quốc gia khác thì hình thức này trong trường hợp cụ thể cũng có thể gọi là hợp tác đa phương Bởi vì mỗi địa phương khi tham gia hợp tác quốc tế đều có những đặc thù riêng và có lợi ích riêng mang lại cho chính địa phương đó

và cho đối tác

1.1.3 Hoạt động ngoại giao

Hoạt động ngoại giao được thực hiện thông qua hệ thống các cơ quan quan hệ đối ngoại của nhà nước Các cơ quan này có thẩm quyền đại diện cho lợi ích quốc gia trong quá trình thực hiện các mối quan hệ quốc tế Trong hệ thống cơ quan quan hệ đối ngoại thường có hai loại: cơ quan quan hệ đối ngoại trong nước và cơ quan quan hệ đối ngoại ở nước ngoài Các cơ quan quan hệ đối ngoại này hoạt động theo sự quản lý thống nhất của Bộ Ngoại giao về các chức năng, nhiệm vụ thuộc Bộ

Một số hoạt động ngoại giao chủ yếu như sau:

Thứ nhất, trao đổi thư tín ngoại giao: Thư tín ngoại giao ra đời cùng

với hoạt động ngoại giao và là tổng thể các loại công văn, những văn bản

Trang 20

chính thức khác nhau có tính chất ngoại giao, nhờ đó mà các mối quan hệ giữa các quốc gia được thực hiện, là một trong hình thức cơ bản của hoạt động chính trị đối ngoại, hoạt động ngoại giao của nhà nước Trao đổi giữa các quốc gia bằng hình thức văn bản được thực hiện thay mặt nhà nước, chính phủ, bộ ngoại giao, các tổ chức nhà nước, chính trị xã hội và các tổ chức hay những người đứng đầu các tổ chức, cơ quan đại diện ngoại giao, các tổ chức quốc tế,

cơ quan ngoại giao, nhà ngoại giao… Thư tín ngoại giao là phương tiện giao tiếp quan trọng, được hình thành và phát triển trong lịch sử ngoại giao Các loại thư tín ngoại giao và những quy định thư tín từng bước được hoàn thiện

và trở thành thông lệ quốc tế Tuy nhiên, Việt Nam chưa có văn bản quy định

cụ thể về thư tín ngoại giao mà chủ yếu vận dụng thông lệ quốc tế và tham khảo kinh nghiệm các nước Nội dung của thư tín ngoại giao cũng đa dạng, phong phú liên quan đến tất các vấn đề về sinh hoạt quốc tế, chính sách đối ngoại, các vấn đề hàng ngày liên quan đến quan hệ hợp tác song phương, đa phương, từ thông tin, thông báo, đề nghị, yêu cầu, trình bày quan điểm, lập trường về vấn đề quốc tế Các loại thư tín ngoại giao gồm có: công hàm, thư, điện, tuyên bố, thông báo chính thức, Bản ghi nhớ, các loại thiếp … Tại Quảng Ninh, cơ quan Ngoại vụ là đầu mối tham mưu cho tỉnh trong việc trao đổi thư tín với các đối tác nước ngoài/ thực hiện trao đổi thư tín với đối tác nước ngoài khi có uỷ quyền của lãnh đạo tỉnh và là cầu nối giữa các cơ quan tương ứng của tỉnh với các đối tác có mối quan hệ hợp tác trong việc kết nối, giải quyết vấn đề phát sinh thông qua kênh ngoại giao

Thứ hai, tiếp xúc ngoại giao: Tiếp xúc cá nhân các nhà lãnh đạo quốc

gia, đại diện được uỷ quyền, người đứng đầu các cơ quan trong hệ thống chính trị, các đại diện chính thức khác… Trong thực tiễn, hoạt động này được thực hiện bằng các cuộc gặp định kỳ, không định kỳ, trong các chuyến thăm, tại các cuộc hội nghị, hội thảo, đàm phán, chiêu đãi …

Trang 21

Thứ ba, công tác báo chí và thông tin đối ngoại: Công tác báo chí và

thông tin đối ngoại là chiến lược thông tin phục vụ lợi ích quốc gia Báo chí, thông tin tuyên truyền đối ngoại là nhiệm vụ của công tác đối ngoại Mục đích của hoạt động này là mục tiêu đường lối, chính sách đối ngoại, là công tác tư tưởng, văn hoá trên phạm vi quốc tế với đối tượng đa dạng, phức tạp là dư luận quốc tế Công tác báo chí – thông tin đối ngoại liên quan đến tất cả các ngành, địa phương, lĩnh vực và phục vụ mục tiêu chung quốc gia Chính vì vậy cần phải quán triệt tư tưởng thống nhất quản lý thông tin đối ngoại Thông tin đối ngoại là nhiệm vụ của tất cả các bộ, ngành, địa phương và đòi hỏi sự phối hợp tốt giữa các bộ, ngành, địa phương trong thông tin đối ngoại (tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là sự phối hợp giữa các ban, ngành, địa phương trực thuộc) Trọng tâm của việc thông tin, tuyên truyền đối ngoại là: Đường lối, chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước; Đường lối chính sách đối ngoại của nước ta; Chính sách kinh tế đối ngoại và hội nhập quốc tế; Đất nước, con người, lịch sử, văn hoá …; Đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái của các lực lượng thù địch Đối tượng báo chí – thông tin đối ngoại có

02 loại : người nước ngoài, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và người nước tại Việt Nam và quần chúng nhân dân ta Hình thức thông tin đối ngoại của ngành ngoại giao thực hiện thông qua các cuộc tiếp xúc với nước ngoài, hội nghị, hội thảo, diễn đàn song phương, đa phương, các tuyên bố, họp báo, trả lời phỏng vấn phóng viên nước ngoài, đăng bài trên các báo, tạp chí đối ngoại và của nước ngoài, phân phát, phổ biến các sách báo, tài liệu, ấn phẩm tuyên truyền, phối hợp tổ chức triển lãm, hội chợ, chiếu phim, ngày Việt Nam, tuần Việt Nam ở nước ngoài Một số công tác báo chí – thông tin đối ngoại chủ yếu hiện nay: Công tác vận động và đấu tranh dư luận; Công tác phóng viên nước ngoài; Công tác thông tin phục vụ các hoạt động đối ngoại; công tác thông tin đối ngoại của các cơ quan đại diện ngoại giao

Trang 22

Thứ tư, ngoại giao văn hoá: Văn hoá đối ngoại là hoạt động giao lưu

với thế giới bên ngoài của dân tộc, quốc gia nhằm không ngừng hoàn thiện nền văn hoá dân tộc, phát huy nâng cao vị thế đất nước, đóng góp chung vào

sự phát triển của cộng đồng quốc tế Ngoại giao văn hoá hay tuyên truyền văn hoá đối ngoại là một bộ phận trong đường lối chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta, là tổng hợp các hoạt động thông tin, tuyên truyền, quảng bá văn hoá Việt Nam; Trao đổi, giao lưu, hợp tác về văn hoá nhằm tạo điều kiện hỗ trợ giao lưu kinh tế, chính trị, nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế; Tiếp thu tinh hoa văn hoá thế giới phục vụ phát triển nền văn hoá dân tộc, đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội, quá trình hội nhập quốc tế và thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Tóm lại Ngoại giao văn hoá là lĩnh vực đặc biệt của hoạt động ngoại giao, liên quan đến việc

sử dụng văn hoá như là đối tượng và phương tiện nhằm đạt những mục tiêu cơ bản của chính sách đối ngoại quốc gia, tạo hình ảnh tốt đẹp của đất nước, quảng bá văn hoá và ngôn ngữ quốc gia ở nước ngoài

Thứ năm, ngoại giao kinh tế: Nghị định số 08/2003/NĐ-CP, ngày

10/02/2003 về hoạt động đại diện của cơ quan ngoại giao nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài về phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế

đã nêu: Ngoại giao kinh tế là thúc đẩy thương mại, hợp tác đầu tư, hợp tác khoa học công nghệ, du lịch, lao động, dịch vụ, thu ngoại tệ, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân Việt Nam trong hoạt động kinh tế đối ngoại Tuy nhiên, có nhiều ý kiến khác nhau về ngoại giao kinh tế, nhưng chủ yếu ngoại giao kinh tế có các nội dung như sau: Giữ vững môi trường hoà bình, tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc; Kết hợp kinh tế và chính trị, chính trị và kinh tế trong các hoạt động ngoại giao, kinh tế thúc đẩy, củng cố quan hệ

Trang 23

chính trị và chính trị định hướng cho quan hệ kinh tế; Đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại song phương, đa phương: mở rộng thị trường xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, tranh thủ viện trợ ODA, tăng cường hợp tác du lịch, lao động, khoa học công nghệ …; Tăng cường quảng bá, tuyên truyền, giới thiệu đất nước, con người Việt Nam ở nước ngoài; Tích cực chủ động hội nhập sâu, rộng hơn vào nền kinh tế quốc tế; Đàm phán, ký kết các hiệp định, thoả thuận hợp tác quốc tế, tạo khung pháp lý thúc đẩy quan hệ kinh tế, đẩy mạnh việc thực hiện các thỏa thuận quốc tế đã ký kết; Nghiên cứu, tham mưu, cung cấp thông tin về kinh tế quốc tế, góp phần xây dựng và định hướng chính sách kinh tế đối ngoại; Tăng cường vận động người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, ổn định và đẩy mạnh bảo

hộ công dân, bảo vệ quyền lợi chính đáng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài … Trong đó có thể nói có 04 vai trò của ngành ngoại giao trong công tác phục vụ phát triển kinh tế là: Vai trò mở đường: Phát huy sức mạnh của ngoại giao chính trị, ngoại giao văn hoá để khai thông, mở rộng và đưa quan hệ hợp tác của phía Việt Nam với các đối tác quốc tế đi vào chiều sâu, đi tiên phong trong việc mở các thị trường, lĩnh vực hợp tác mới; Vai trò tham mưu: Tham mưu cho Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành, địa phương trong việc hoạch định chính sách, chiến lược phát triển, các vấn đề kinh tế - chính trị quốc tế, kinh nghiệm, chính sách các nước; Vai trò hỗ trợ: các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp đóng vai trò chủ đạo trong hoạt động kinh tế đối ngoại

và ngoại giao sẽ hỗ trợ giải quyết những vướng mắc trong triển khai kế hoạch,

dự án hợp tác với nước ngoài; Vai trò đôn đốc thực hiện: Kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ, cam kết quốc tế về kinh tế đối ngoại (Phạm Gia Khiêm “Nâng cao hiệu quả công tác ngoại giao phục vụ kinh tế” Báo Nhân dân, ngày 24/07/2007)

Trang 24

Thứ sáu, công tác lãnh sự: Trong quan hệ giữa các quốc gia ngoài quan

hệ ngoại giao còn có quan hệ lãnh sự Quan hệ lãnh sự là một bộ phận chức năng đối ngoại của nhà nước nhằm bảo vệ quyền lợi của nước cử lãnh sự trong phạm vi khu vực lãnh sự, góp phần thức đẩy và phát triển quan hệ kinh tế, thương mại, văn hoá, khoa học và quan hệ hữu nghị giữa nước cử và nước tiếp nhận lãnh sự đồng thời quản lý về mặt đối ngoại với những người nước ngoài tại nước mình theo quy định của luật pháp nước tiếp nhận và luật quốc tế về lãnh sự

Thứ bảy, đàm phán ngoại giao: Đàm phán ngoại giao là trao đổi, thảo

luận chính thức của các đại diện quốc gia về các vấn đề chính trị, kinh tế và các vấn đề khác liên quan đến quan hệ song phương, đa phương, với mục đích thoả thuận, nhất trí chiến lược chính trị đối ngoại, chiến thuật, hoặc phối hợp những hoạt động ngoại giao; trao đổi ý kiến, trao đổi thông tin, chuẩn bị nội dung để đi đến ký kết các điều ước quốc tế, các thỏa thuận quốc tế, giải quyết những tranh chấp … Đàm phán ngoại giao là phương tiện hoà bình giải quyết tranh chấp, xung đột nảy sinh giữa các bên có hợp tác quốc tế, là một trong những phương pháp phổ biến nhất được khẳng định trong luật quốc tế nhằm phát triển, củng cố quan hệ giữa các quốc gia Đàm phán ngoại giao có thể tiến hành trực tiếp hoặc gián tiếp bằng con đường trao đổi thư tín ngoại giao, nhiều khi là tiến hành cả hai hình thức song song Thông thường công tác chuẩn bị cho đàm phán rất quan trọng, mất nhiều thời gian và công sức để xác định lập trường, dự thảo các văn kiện, bàn bạc địa điểm, chương trình nghị sự …

Thứ tám, lễ tân ngoại giao: Lễ tân ngoại giao là tổng thể những luật lệ,

tập quán đã được chấp nhận rộng rãi, được các chính phủ, bộ ngoại giao, cơ quan đại diện ngoại giao, những quan chức chính thức trong giao tiếp quốc tế thể hiện Lễ tân ngoại giao là một phạm trù mang tính quốc tế Mặc dù luật quốc tế không có quy định cụ thể, bắt buộc các chủ thể trong quan hệ quốc tế

Trang 25

phải thực hiện những tất cả các quốc gia đều có trách nhiệm thực hiện những nguyên tắc cơ bản của lễ tân ngoại giao khi tham gia vào quan hệ quốc tế Khi tiến hành các hoạt động đối ngoại như đón tiếp khách nước ngoài, đặc biệt là trong các hoạt động cấp cao, các quốc gia đều phải tuân thủ những chuẩn mực chung của lễ tân ngoại giao Trên thực tế, tất cả các hoạt động đối ngoại đều được tiến hành phù hợp với yêu cầu quy phạm lễ tân Thiếu hiểu biết, bất cẩn trong công tác tổ chức, vi phạm chuẩn mực lễ tân ngoại giao có thể dẫn đến hậu quả khó lường Ví dụ như vi phạm về ngôi thứ ngoại giao có thể dẫn đến những hiểu nhầm, coi thường không tôn trọng quốc gia, tổ chức mà người bị

vi phạm về ngôi thứ đại diện

1.2 Các hoạt động ngoại vụ hỗ trợ phát triển du lịch tại địa

phương

Hoạt động đoàn vào: Hoạt động tổ chức đón tiếp các đoàn khách quốc

tế đến thăm/làm việc với tỉnh Thông qua công tác đón tiếp đoàn vào hỗ trợ ngành du lịch quảng bá giới thiệu về danh lam thắng cảnh, điểm du lịch, sản phẩm du lịch, dịch vụ du lịch … của địa phương đến với các đoàn khách quốc

tế, thông qua các cuộc tiếp xúc ngoại giao, mở rộng, tìm kiếm các đối tác hợp tác phát triển du lịch

Hoạt động đoàn ra: Hoạt động tổ chức các chuyến công tác nước ngoài

do các lãnh đạo cấp cao của tỉnh đi thăm chính thức, làm việc với lãnh đạo cấp cao của nước ngoài có quan hệ hợp tác với tỉnh Thông qua công tác tham mưu, tổ chức đoàn ra hỗ trợ ngành du lịch địa phương mở rộng tìm kiếm các đối tác mới, củng cố thêm quan hệ hợp tác với đối tác truyền thống, tiến hành

ký kết thoả thuận hợp tác, giải quyết các khó khăn vướng mắc, đôn đốc thực hiện các thoả thuận quốc tế đã ký kết, tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu du lịch, tổ chức hội nghị, hội thảo, hội chợ, triển lãm về du lịch …

Trang 26

Hoạt động thông tin đối ngoại: Phối hợp với các cơ quan trực thuộc Bộ

Ngoại giao, các cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài trong việc thực hiện các thông tin đối ngoại của tỉnh đến với bạn bè thế giới, thu thập, phân tích, tổng hợp thông tin về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội … có liên quan đến các đối tác có quan hệ hợp tác với địa phương phục vụ việc tham mưu định hướng chiến lược phát triển đối ngoại của tỉnh; thống nhất quản lý phóng viên nước ngoài hoạt động báo chí tại tỉnh, xây dựng chương trình hoạt động, tổ chức việc tiếp, trả lời phỏng vấn của phóng viên nước ngoài của lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh, cung cấp thông tin có định hướng, theo dõi và quản lý hoạt động của phóng viên nước ngoài theo quy định của pháp luật Sử dụng các hoạt động trên một cách linh hoạt, khéo léo để hỗ trợ ngành du lịch quảng bá, giới thiệu, thu hút sự quan tâm của nước ngoài

Hoạt động mở rộng và phát triển quan hệ hợp tác quốc tế: Hỗ trợ

ngành du lịch mở rộng thị trường, kêu gọi đối tác hợp tác đầu tư mới, củng cố quan hệ hợp tác truyền thống đã có, quảng bá, giới thiệu các lĩnh vực của du lịch, ký kết thoả thuận quốc tế mới, đôn đốc thực hiện thoả thuận quốc tế đã ký …

Hoạt động phối hợp tổ chức các sự kiện lớn liên quan đến du lịch:

Tham mưu mời các đối tác nước ngoài đến tham dự các sự kiện lớn liên quan đến du lịch, phối hợp trong công tác đón tiếp các đoàn khách quốc tế, tổ chức các buổi tiếp xúc đối ngoại của lãnh đạo tỉnh với các đối tác nước ngoài, hỗ trợ các hoạt động quảng bá, giới thiệu du lịch đến các đoàn quốc tế

Tóm lại, hầu hết các hoạt động ngoại vụ đều có thể hỗ trợ ngành du lịch trong việc phát triển hợp tác quốc tế Tuy nhiên trong khuôn khổ đề tài này, sẽ

đi sâu, nhấn mạnh, làm nổi bật lên 05 (năm) hoạt động ngoại vụ hỗ trợ ngành

du lịch địa phương phát triển kể trên

Trang 27

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGOẠI VỤ

HỖ TRỢ DU LỊCH QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN 2005 - 2011

2.1 Khái quát về du lịch Quảng Ninh

2.1.1 Tiềm năng phát triển du lịch

Tài nguyên du lịch: Quảng Ninh là một tỉnh nằm trong tam giác phát

triển kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh và nằm trong vùng phát triển kinh tế động lực phía Bắc, Việt Nam Quảng Ninh có diện tích 6.110 km2, có 118,825 km biên giới trên bộ chung với Khu tự dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc, dân số khoảng 1.161.600 người Tài nguyên du lịch Quảng Ninh phong phú đa dạng, có tài nguyên được xếp vào hàng đặc sắc của Việt Nam

và thế giới Nói như thế là chúng ta phải kể đến Vịnh Hạ Long, hai lần được

tổ chức UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới về giá trị địa chất, địa mạo và cảnh quan Năm 2011, Vịnh Hạ Long lại được công nhận là kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới Bên cạnh Vịnh Hạ Long còn có Vịnh Bái

Tử Long với những đảo đá, đảo đất, vườn quốc gia, bãi biển cát trắng, và rừng nguyên sinh vô cùng thuận lợi cho việc phát triển loại hình du lịch sinh thái

Hệ thống các di tích lịch sử văn hóa với trên 600 di tích, trong đó có nhiều di tích có quy mô lớn và giá trị nổi bật như Trung tâm Phật giáo Việt Nam nổi tiếng với Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử ( thành phố Uông Bí), quần thể di tích lịch sử Bạch Đằng (huyện Yên Hưng), khu di tích lịch sử, văn hoá (huyện Đông Triều), đền Cửa Ông (Cẩm Phả), đình làng Trà Cổ ( Móng Cái), Đình Quan Lạn, chùa Cái Bầu (Vân Đồn), Khu du lịch biển trên đảo Cô Tô (nơi duy nhất Hồ Chủ Tịch đã cho xây dựng tượng của mình khi Người còn sống)

Quảng Ninh còn có nguồn tài nguyên suối nước khoáng nóng Quang Hanh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển loại hình du lịch nghỉ dưỡng

Trang 28

Như vậy, hệ thống tài nguyên du lịch của Quảng Ninh có tính đặc thù, giá trị nổi bật và lợi thế cạnh tranh cao so với các tỉnh trong khu vực phía Bắc

và các tỉnh trong cả nước

Điều kiện kinh tế - xã hội : Xác định mục tiêu phát triển kinh tế với tốc

độ cao, ổn định, bền vững, phấn đấu xây dựng Quảng Ninh thực sự trở thành một địa bàn động lực, phát triển năng động trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc

Bộ và cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm

2015, tỉnh Quảng Ninh đã bám sát chỉ đạo, định hướng của trung ương, vận dụng nội lực cùng với một cơ chế hoạt động linh hoạt kết hợp trải nghiệm thực tiễn và quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị để thu hút và huy động được các nguồn lực đầu tư, khuyến khích các doanh nhân, các nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế trong và ngoài nước, đầu tư chất xám và vật chất cho các dự án sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh Vì vậy, Quảng Ninh đã đạt được những thành tựu quan trọng và toàn diện trên mọi lĩnh vực kinh tế -

xã hội Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 12,7 %; Khu vực công nghiệp tăng 15,8 %; Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 6,7%; Khu vực dịch vụ tăng 19,1%; du lịch tăng 22,5%; thu ngân sách tăng 24,9% Cơ cấu kinh tế của Quảng Ninh chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ - Nông nghiệp GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 24,666 triệu đồng Đầu tư ngân sách cho phát triển giáo dục, y tế, xã hội, văn hóa tăng bình quân 35,6%/năm An sinh xã hội tăng bình quân 59%/năm, Kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ lực, hàng năm chiếm tỷ lệ gần 70% GDP toàn tỉnh

2.1.2.Tình hình phát triển du lịch Quảng Ninh

Đánh giá cao tầm quan trọng của việc phát triển ngành du lịch Quảng Ninh, Ban thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh đã ban hành Nghị quyết 08-NQ/TU, ngày 20/11/2001 về đổi mới và phát triển du lịch Quảng Ninh giai đoạn 2001 – 2010 Quan điểm và mục tiêu là phát huy và khai thác triệt để

Trang 29

các lợi thế về vị trí địa lý, tài nguyên du lịch, tạo ra bước phát triển mới cả về lượng và chất, tiếp tục mở rộng không gian du lịch, phát triển các tuyến, điểm, sản phẩm du lịch mới; củng cố, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về

du lịch; Đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế của tỉnh; Phấn đấu đưa du lịch Quảng Ninh trở thành trung tâm du lịch lớn của cả nước và là một trung tâm du lịch quốc tế trong khu vực

Nghị quyết đã đi vào thực tiễn, làm thay đổi nhận thức của các cấp, các ngành và cộng đồng xã hội, tạo sự đồng tâm hợp lực của toàn hệ thống chính trị và nhân dân, từng bước đưa du lịch Quảng Ninh thay đổi diện mạo, tự tin vượt qua khó khăn, giữ vững tốc độ phát triển Điều đó thể hiện qua một số kết quả kinh doanh du lịch sau:

Bảng 2.1 Lƣợng khách du lịch đến Quảng Ninh năm 2007 – 2011

Trang 30

Biểu đồ 2.1 Lƣợng khách du lịch đến Quảng Ninh năm 2007 – 2011

(Nguồn: Sở Văn hoá Thể Thao và Du lịch Quảng Ninh)

Bảng 2.2 Doanh thu du lịch Quảng Ninh 2007- 2011

Trang 31

Biểu đồ 2.2 Doanh thu du lịch Quảng Ninh 2007 - 2011

(Nguồn : Sở Văn hoá Thể thao và Du lịch Quảng Ninh)

Qua số liệu thống kê trên về một số chỉ tiêu chủ yếu của hoạt động du lịch Quảng Ninh năm 2007- 2011, cho thấy:

Khách du lịch, Lượng khách du lịch tăng trung bình khoảng 15%, một

năm, trong đó khách quốc tế 19,63% Thời gian lưu trú bình quân của khách

du lịch đạt từ 1,3 đến 1,5 ngày/khách Chỉ tiêu này chưa cao do nguyên nhân chủ yếu là sản phẩm du lịch và chất lượng dịch vụ du lịch Quảng Ninh chưa

đa dạng đủ sức hấp dẫn với du khách trong và ngoài nước Năm 2008, du lịch Quảng Ninh đã thực hiện thành công chương trình kích cầu Du lịch do Tổng cục Du lịch phát động, do vậy lượng khách du lịch quốc tế đạt trên 2,3 triệu lượt, cao hơn các năm khác

Doanh thu du lịch tăng trung bình khoảng hơn 11%/ năm, cùng với sự tăng trưởng về doanh thu, các khoản thu nộp ngân sách từ các hoạt động du lịch như thuế, phí xuất nhập cảnh, lệ phí tham quan Vịnh Hạ Long…đều tăng trưởng đóng góp quan trọng trong cơ cấu thu ngân sách của Tỉnh

Một số loại hình kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh như sau:

Trang 32

Hoạt động kinh doanh lữ hành: Quảng Ninh có cửa khẩu quốc tế Móng

Cái (đường bộ) và cửa khẩu quốc tế Hòn Gai (đường thuỷ) tạo sự thuận lợi cho du khách xuất nhập cảnh Đây cũng là lợi thế để các công ty lữ hành quốc

tế của Quảng Ninh có cơ hội kinh doanh trực tiếp với các công ty lữ hành quốc tế nước ngoài và nối tour du lịch Theo số liệu thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, từ 27 đơn vị năm 2007, đến năm 2010 Quảng Ninh đã có

36 đơn vị, phục vụ 1.254.798 lượt khách quốc tế nhập, xuất cảnh qua các cửa khẩu quốc tế tại Quảng Ninh đi du lịch các tỉnh trong và ngoài nước Trong

đó, lượng khách nước ngoài nhập, xuất cảnh tăng từ 275.709 lượt năm 2007 lên 309.000 lượt năm 2010 Tốc độ tăng bình quân về số lượng doanh nghiệp

là 8%; lượt khách là 5%, trong đó khách nước ngoài là 12%

Hoạt động kinh doanh cơ sở lưu trú trên bờ: Loại hình kinh doanh du

lịch này chiếm tỷ trọng cao trong các hoạt động dịch vụ du lịch (doanh thu lưu trú chiếm khoảng 56- 60 %/ tổng doanh thu) Mấy năm qua, số lượng các khách sạn có xu hướng giảm, các khách sạn nhỏ kinh doanh không hiệu quả

đã phải tự chuyển mục đích sử dụng (từ 866 cơ sở năm 2007 xuống còn 820

cơ sở năm 2010, giảm bình quân 1,4%) nhưng về mặt chất lượng dịch vụ được quan tâm, đầu tư Lượng khách du lịch lưu trú tăng bình quân 6,3%,

trong đó khách quốc tế tăng 10%

Kinh doanh vận chuyển khách thăm vịnh Hạ Long: Các chỉ tiêu phản

ánh tốc độ tăng trưởng bình quân 2007 - 2010: Tổng số tàu tăng 9,4%, trong

đó tàu lưu trú tăng 17%; khách du lịch tăng 17,4%, trong đó khách quốc tế tăng 21% Kinh doanh vận chuyển khách thăm vịnh Hạ Long là một loại sản phẩm mang tính đặc trưng của du lịch Hạ Long - Quảng Ninh, có sức hấp dẫn đặc biệt đối với khách du lịch trong nước và quốc tế Vào những ngày cao điểm, đội tàu vận chuyển khách thăm vịnh Hạ Long phục vụ hơn 10.000 lượt/ngày, bình quân mỗi ngày có từ 5.000 đến 7.500 lượt khách thăm Vịnh

Trang 33

và hàng trăm lượt khách lưu trú qua đêm Các dịch vụ trên tàu và tại các điểm thăm quan ngày càng phong phú, chất lượng từng bước được cải thiện tạo ấn tượng cho du khách Khách du lịch được trải nghiệm thực tế cùng cuộc sống ngư dân làng chài, đánh bắt cá, thưởng thức ẩm thực biển, tìm hiểu văn hoá làng chài, câu cá dưới trăng, bơi thuyền thể thao, thể dục dưỡng sinh, tắm

biển, thăm quan hang động,

Bên cạnh đó, một số sản phẩm du lịch mới có sức cạnh tranh làm tăng thêm sức hấp dẫn như: Hệ thống cáp treo và các công trình khu du lịch Yên

Tử, Khu du lịch quốc tế Tuần Châu với âu cảng tàu lớn có thể đưa đón khách

đi tham quan Vịnh Hạ Long, Cát Bà, giúp giảm tải cho Bến tàu du lịch Bãi Cháy cùng với các dịch vụ vui chơi giải trí như biểu diễn cá heo, nhạc nước, nhà văn hoá, bảo tàng và hệ thống nhà hàng dân tộc, Âu, Á, khu biệt thự sang trọng thích hợp cho du lịch nghỉ dưỡng; Khu du lịch Bãi Dài, Vân Đồn, Du lịch Móng Cái với bãi biển Trà Cổ, các khu vui chơi giải trí của các công ty liên doanh nước ngoài như sân golf Vĩnh Thuận, khu giải trí Lợi Lai, các khu chợ thương mại biên giới, những tour du lịch khám phá, sinh thái trên đảo Cô

Tô … Cùng các loại hình dịch vụ, thông tin bưu điện, ngân hàng, bảo hiểm, vận tải lưu thông hàng hoá, dịch vụ thương mại, cung ứng tầu biển, phát triển với tốc độ nhanh tạo ra sự đồng bộ về cơ sở vật chất phục vụ du lịch

Tóm lại, Du lịch Quảng Ninh đã có sự chuyển đổi cả về lượng và chất,

bước đầu đã tận dụng và phát huy những tiềm năng, lợi thế Công tác quản lý nhà nước được quan tâm, nâng cao tư duy nhận thức của các cấp, các ngành

và cộng đồng dân cư về vai trò, vị trí của du lịch trong đời sống kinh tế - xã hội Hoạt động phát triển du lịch đã có sự gắn kết cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế khác, tạo sức hấp dẫn thu hút các nguồn đầu tư trong và ngoài nước Cơ sở hạ tầng, cơ sở dịch vụ du lịch được nâng cấp, bổ sung mới với tốc độ nhanh Du lịch ngày càng được khẳng định là ngành kinh tế có

Trang 34

tiềm lực lớn, có sức cạnh tranh và có triển vọng phát triển mạnh, tác động tích cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm thay đổi diện mạo, cảnh quan các khu đô thị Quan hệ hợp tác quốc tế được tăng cường mở rộng, hình ảnh và thương hiệu du lịch Hạ Long, Quảng Ninh ngày càng trở nên nổi tiếng, được biết đến rộng rãi hơn đối với bạn bè quốc tế, tạo tiền đề thuận lợi cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

2.2 Thực trạng hoạt động ngoại vụ hỗ trợ du lịch Quảng Ninh

2.2.1 Giới thiệu về Sở Ngoại vụ tỉnh Quảng Ninh

Sơ đồ 2.1 Sở Ngoại vụ Quảng Ninh

(Nguồn: Sở Ngoại vụ Quảng Ninh)

Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Ngoại vụ Quảng Ninh được quy định tại Quyết định số 2458/QĐ-UBND, ngày 14 /8/2009 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh như sau:

Sở Ngoại vụ Quảng Ninh là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực

Giám đốc

Phó Giám đốc

Trung tâm dịch vụ đối ngoại

Phòng Quản

lý biên giới

Phòng Hợp tác quốc tế

Phòng Lãnh

sự

Phòng Thanh tra

Phó Giám đốc

Văn

phòng

Trang 35

hiện quản lý nhà nước về công tác ngoại vụ, biên giới lãnh thổ quốc gia; các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Sở và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn khác theo phân cấp, ủy quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh

và theo quy định của pháp luật Sở Ngoại vụ chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân tỉnh, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Ngoại giao

Sở Ngoại vụ Quảng Ninh có nhiệm vụ và quyền hạn cơ bản sau:

- Trình Ủy ban nhân dân tỉnh: Dự thảo quyết định, chỉ thị và các văn bản khác thuộc thẩm quyền ban hành của Ủy ban nhân dân tỉnh về công tác ngoại vụ, biên giới lãnh thổ quốc gia; Dự thảo quy hoạch, kế hoạch dài hạn, năm năm và hàng năm, các chương trình, đề án, dự án về công tác ngoại vụ, biên giới lãnh thổ quốc gia; biện pháp tổ chức thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước về lĩnh vực ngoại vụ, biên giới thuộc phạm vi quản lý của Sở; Dự thảo văn bản quy định về tiêu chuẩn chức danh đối với Trưởng, Phó các đơn vị thuộc Sở

- Trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh: Dự thảo các quyết định, chỉ thị thuộc thẩm quyền ban hành của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh về lĩnh vực công tác ngoại vụ, biên giới lãnh thổ quốc gia; Dự thảo quyết định thành lập, sáp nhập, giải thể các đơn vị thuộc Sở theo quy định của pháp luật; Hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án và các vấn đề khác về công tác ngoại vụ, biên giới lãnh thổ quốc gia sau khi được phê duyệt; tổ chức thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Sở

- Tổ chức và quản lý các đoàn ra và đoàn vào: Thống nhất quản lý các đoàn đi công tác nước ngoài và đón tiếp các đoàn nước ngoài, đoàn quốc tế

Trang 36

vào Việt Nam đến thăm và làm việc trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật và phân cấp của Ủy ban nhân dân tỉnh; Tổ chức đón tiếp các đoàn khách quốc tế đến thăm và làm việc với Ủy ban nhân dân tỉnh; chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan tổ chức các đoàn đi công tác nước ngoài của lãnh đạo

Ủy ban nhân dân tỉnh; thống kê, tổng hợp các đoàn đi nước ngoài của cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý của Ủy ban nhân dân tỉnh

- Về công tác lãnh sự: Tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra, quản lý và đề nghị cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung hộ chiếu ngoại giao, hộ chiếu công vụ theo quy định của pháp luật; Phối hợp với các Sở, ban, ngành liên quan thực hiện công tác xuất nhập cảnh của người Việt Nam và người nước ngoài trên địa bàn tỉnh; theo dõi, tổng hợp tình hình di trú của công dân Việt Nam và công dân nước ngoài tại địa bàn tỉnh; xử lý những vấn đề nhạy cảm, phức tạp nảy sinh trong công tác lãnh sự tại địa phương; Hướng dẫn, quản lý hoạt động của các

cá nhân, tổ chức nước ngoài liên quan đến nhân dân, tài sản, đi lại, làm ăn, sinh sống, học tập, công tác, du lịch, kinh doanh, đầu tư trên địa bàn tỉnh tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam

- Về thông tin đối ngoại: Phối hợp với các cơ quan liên quan triển khai chương trình, kế hoạch thông tin tuyên truyền đối ngoại của địa phương đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt; Cung cấp thông tin liên quan đến địa phương để phục vụ công tác tuyên truyền đối ngoại cho Bộ Ngoại giao và các

cơ quan có thẩm quyền; Tổ chức thu thập, phân tích, tổng hợp thông tin về tình hình chính trị-an ninh, kinh tế quốc tế và khu vực phục vụ phát triển kinh tế-xã hội của địa phương; Thống nhất quản lý phóng viên nước ngoài hoạt động báo chí tại địa phương; xây dựng chương trình hoạt động, tổ chức việc tiếp và trả lời phỏng vấn của lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh, cung cấp thông tin có định hướng, theo dõi và quản lý hoạt động của phóng viên nước ngoài theo quy định của pháp luật

Trang 37

- Về biên giới lãnh thổ quốc gia: Là cơ quan thường trực của Ủy ban nhân dân tỉnh về công tác biên giới lãnh thổ quốc gia; giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện các nhiệm vụ về biên giới lãnh thổ quốc gia tại địa phương theo quy định của pháp luật; Là cơ quan thường trực Ban chỉ đạo phân giới cắm mốc của tỉnh; chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng phương

án, kế hoạch và tổ chức khảo sát đơn phương, song phương; phối hợp với các

cơ quan liên quan tổ chức thực hiện công tác phân giới, cắm mốc theo yêu cầu của Ban chỉ đạo phân giới cắm mốc của tỉnh; Theo dõi, tổng hợp và báo cáo

Ủy ban nhân dân tỉnh và Bộ Ngoại giao tình hình thực hiện các điều ước quốc

tế về biên giới quốc gia, quy chế quản lý biên giới trên đất liền và các tranh chấp nảy sinh trên đất liền và trên biển thuộc địa bàn tỉnh; Tổ chức các lớp tập huấn, tuyên truyền phổ biến pháp luật, chủ trương, chính sách của Đảng

và Nhà nước về biên giới lãnh thổ quốc gia; hướng dẫn, kiểm tra và quản lý các văn bản, tài liệu, bản đồ và hồ sơ về biên giới thuộc phạm vi quản lý của địa phương

- Về Kinh tế đối ngoại: Giúp Ủy ban nhân dân tỉnh triển khai thực hiện chương trình hoạt động đối ngoại phục vụ phát triển kinh tế-xã hội của địa phương sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt; Phối hợp với các cơ quan liên quan, các cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài thu thập, lựa chọn

và thẩm tra các đối tác nước ngoài vào kinh doanh, liên doanh, liên kết kinh

tế, đầu tư tại địa phương theo sự phân công của Ủy ban nhân dân tỉnh; Tham gia công tác xúc tiến kinh tế, thương mại, đầu tư, du lịch, xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của địa phương; giúp các doanh nghiệp địa phương mở rộng hợp tác với các nước

- Về văn hóa đối ngoại: Tổ chức thực hiện chương trình hoạt động văn hóa đối ngoại của địa phương sau khi được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt;

Trang 38

Phối hợp với các cơ quan liên quan trong việc tổ chức các sự kiện văn hóa đối ngoại tại địa phương và việc xây dựng, quảng bá hình ảnh con người, văn hóa của địa phương ở nước ngoài

- Về người Việt Nam ở nước ngoài: Triển khai thực hiện chương trình,

kế hoạch và chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài tại địa phương theo hướng dẫn của Bộ Ngoại giao; Phối hợp với các Sở, ban, ngành của tỉnh trong công tác thông tin, tuyên truyền về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người Việt Nam ở nước ngoài; vận động, hướng dẫn và hỗ trợ người Việt Nam ở nước ngoài và thân nhân của họ ở địa phương trong các hoạt động tại địa phương; Định kỳ tổng kết, đánh giá và đề xuất kiến nghị giải quyết các vấn đề liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài và thân nhân của họ tại địa phương

- Tổ chức hội nghị, hội thảo, ký kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế; tổ chức triển khai thực hiện điều ước quốc tế tại địa phương: Thống nhất quản lý các hoạt động về tổ chức hội nghị, hội thảo, ký kết và thực hiện các thỏa thuận quốc tế, thực hiện điều ước quốc tế theo quy định của pháp luật; Báo cáo và xin ý kiến chỉ đạo của cấp có thẩm quyền hướng giải quyết những vấn

đề phát sinh phức tạp trong công tác ngoại vụ, biên giới lãnh thổ quốc gia ở địa phương;

- Đối với các tổ chức phi Chính phủ và cá nhân nước ngoài: Phối hợp với các cơ quan liên quan xúc tiến vận động, quản lý hoạt động của các khoản viện trợ thuộc các chương trình hoặc dự án nhân đạo, phát triển và viện trợ khẩn cấp của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài giúp địa phương theo quy định của pháp luật; Hỗ trợ các thủ tục hành chính trong việc triển khai các chương trình hoặc dự án nhân đạo, phát triển và viện trợ khẩn cấp do các tổ chức phi chính phủ nước ngoài giúp đỡ địa phương

Trang 39

- Một số chức năng, nhiệm vụ khác như: Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ thuộc lĩnh vực ngoại vụ đối với cán bộ, công chức làm công tác ngoại vụ, biên giới thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện; Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ; xây dựng cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin, lưu trữ phục vụ công tác quản lý nhà nước và chuyên môn, nghiệp

vụ về lĩnh vực ngoại vụ, biên giới; Kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong lĩnh vực ngoại vụ, biên giới theo quy định của pháp luật hoặc theo phân công, phân cấp của Ủy ban nhân dân tỉnh; Thực hiện công tác tổng hợp, thống kê, thông tin, báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình thực hiện nhiệm vụ ngoại vụ, biên giới được giao theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh và Bộ Ngoại giao…

Cơ cấu tổ chức và biên chế:

Về lãnh đạo: Sở Ngoại vụ Quảng Ninh có một Giám đốc, hai Phó Giám đốc,

Về các bộ phận chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Sở gồm có: Văn phòng,Thanh tra, Phòng Hợp tác quốc tế, Phòng Lãnh sự, Phòng Quản lý biên giới và Trung tâm dịch vụ đối ngoại Quảng Ninh Theo phân công của Giám đốc Sở: Giám đốc trực tiếp phụ trách Văn phòng, Phòng Thanh tra; 01 Phó giám đốc phụ trách Phòng Lãnh sự, Phòng Hợp tác quốc tế; 01 Phó giám đốc phụ trách Phòng Quản lý biên giới và Trung tâm dịch vụ đối ngoại Bên cạnh

đó, các phó giám đốc, các bộ phận luôn có mối quan hệ trao đổi, phối hợp với nhau trong các công việc, sự vụ có liên quan nhằm hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao cho cơ quan

- Biên chế: Biên chế hành chính của Sở Ngoại vụ do Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định trong tổng biên chế hành chính của tỉnh được Trung ương

Trang 40

giao; Biên chế sự nghiệp của các đơn vị thuộc Sở do Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định theo định mức biên chế và theo quy định của pháp luật

Trong những năm qua, được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo tỉnh, hoạt động ngoại vụ tại địa phương không ngừng phát triển, góp phần vào công cuộc đổi mới, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu mà tỉnh đã đề ra trong việc hội nhập quốc tế cả về chiều rộng và chiều sâu Sở Ngoại vụ Quảng Ninh đóng vai trò tích cực trong các hoạt động thuộc Ngoại giao Đảng thông qua các chuyến viếng thăm nước bạn láng giềng Trung Quốc của các đồng chí nguyên Bí thư Tỉnh uỷ, Bí thư Tỉnh uỷ, các đồng chí Phó Bí thư Tỉnh uỷ, các đồng chí lãnh đạo các Ban của Đảng ( Ban Tổ chức Tỉnh uỷ, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, Uỷ Ban Kiểm tra Tỉnh uỷ, Ban dân vận Tỉnh uỷ ) Thông qua các chuyến viếng thăm này, các vị lãnh đạo Đảng cấp cao của các địa phương đã họp bàn, trao đổi đưa ra những định hướng nhằm tăng cường, củng cố phát triển mối quan hệ hợp tác song phương, đa phương Trên cơ sở những thống nhất đó, đưa ra chỉ đạo cho các cơ quan của Đảng, chính quyền triển khai thực hiện các nội dung cụ thể, mang lại lợi ích cho tỉnh, cho nhân dân mình Đặc biệt, với lợi thế có phong cảnh tuyệt đẹp Vịnh Hạ Long, Quảng Ninh cũng là điểm đến của rất nhiều những đoàn khách quốc tế cấp cao của Đảng Tỉnh uỷ Quảng Ninh rất quan tâm, chỉ đạo sát sao mỗi khi có các đoàn khách của Đảng do Ban Đối ngoại Trung ương Đảng chắp nối, đưa đến thăm và làm việc tại tỉnh Thông qua đó, Tỉnh uỷ Quảng Ninh cũng tiếp xúc và gặp gỡ đón tiếp nhiều Đoàn đại biểu cấp cao của các Đảng có quan hệ với Việt Nam, giới thiệu, quảng bá, làm cho họ hiểu rõ hơn về quê hương, sự thay da đổi thịt của vùng đất mỏ Quảng Ninh Đồng thời, Quảng Ninh cũng rất vinh dự được đón tiếp nhiều đoàn đại biểu cấp cao của các Nghị viện của các quốc gia có mối quan hệ với Quốc hội Việt Nam đến thăm và tìm hiểu về Quảng Ninh Thông qua Uỷ ban Đối ngoại Văn phòng quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Lƣợng khách du lịch đến Quảng Ninh năm 2007 – 2011 - Hoạt động ngoại vụ hỗ trợ phát triển du lịch tại Quảng Ninh
Bảng 2.1. Lƣợng khách du lịch đến Quảng Ninh năm 2007 – 2011 (Trang 29)
Bảng 2.2. Doanh thu du lịch Quảng Ninh  2007- 2011 - Hoạt động ngoại vụ hỗ trợ phát triển du lịch tại Quảng Ninh
Bảng 2.2. Doanh thu du lịch Quảng Ninh 2007- 2011 (Trang 30)
Sơ đồ 2.1. Sở Ngoại vụ Quảng Ninh - Hoạt động ngoại vụ hỗ trợ phát triển du lịch tại Quảng Ninh
Sơ đồ 2.1. Sở Ngoại vụ Quảng Ninh (Trang 34)
Sơ đồ 1. Bộ máy tổ chức ngoại giao Việt Nam - Hoạt động ngoại vụ hỗ trợ phát triển du lịch tại Quảng Ninh
Sơ đồ 1. Bộ máy tổ chức ngoại giao Việt Nam (Trang 123)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w