1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc giai đoạn 1945 - 1954

119 3,6K 27

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về phía Việt Nam, trước cách mạng tháng Tám, Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam đã kiên quyết bày tỏ sự ủng hộ đối với cuộc đấu tranh của nhân dân Trung Quốc chống phát xít Nhật.. Quan h

Trang 1

Đại học Quốc gia hà nội Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn

Nguyễn Thị Phương Hoa

Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc

giai đoạn 1945-1954

Luận văn thạc sĩ Đông phương học

Hà Nội 10-2005

Trang 2

Đại học Quốc gia hà nội Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn

Nguyễn Thị Phương Hoa

Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc

giai đoạn 1945-1954

Chuyên ngành : Trung Quốc học

Mã số :

Luận văn thạc sĩ Đông phương học

Người hướng dẫn khoa học

TS Đỗ Tiến Sâm

Hà Nội 10-2005

Trang 3

2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 3

2.2 Tình hình nghiên cứu ở Trung Quốc và quốc tế 5

Chương 1 Khái quát lịch sử quan hệ Việt - Trung trước năm 1945 11

1.1 Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trước thời Pháp thuộc 11

1.1.1 Thời kỳ 1000 năm Bắc thuộc 11

1.1.2 Từ năm 938 đến năm 1858 14 1.1.2.1 Quan hệ giữa hai nhà nước phong kiến 14 1.1.2.2 Quan hệ trao đổi buôn bán giữa hai nước 17

1.2 Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc thời kỳ Pháp thuộc 19

1.2.1 Từ năm 1858 đến những năm 20 của thế kỷ XX 19 1.2.1.1 ảnh hưởng và giúp đỡ của những nhà cách mạng Trung

Quốc đối với Việt Nam

19

1.2.1.2 Tình hữu nghị của nhân dân ta dành cho cuộc đấu tranh

của nhân dân Trung Quốc

22

1.2.2 Từ những năm 20 đến năm 1945 của thế kỷ XX 24 1.2.2.1 Hoạt động của những nhà cách mạng Việt Nam ở Trung Quốc 24 1.2.2.2 Tinh thần quốc tế vô sản của những người cộng sản Việt Nam 26

Trang 4

Chương 2 Quan hệ Việt - Trung từ năm 1945 đến năm 1949 31 2.1 Tình hình Việt Nam, Trung Quốc và thế giới 31

nước CHND Trung Hoa đối với nước ta 49

2.2.2 Quan hệ kinh tế thương mại 53

Chương 3 Quan hệ Việt - Trung từ năm 1950 đến năm 1954 57 3.1 Bối cảnh lịch sử và ý nghĩa của việc hai nước thiết lập quan hệ ngoại

giao

57

3.1.2 Hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao 60

3.1.2 ý nghĩa của việc thiết lập quan hệ ngoại giao 61

3.2 Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong các lĩnh vực 64

3.2.1 Quan hệ chính trị, quân sự 64

3.2.1.2 Viện trợ của Trung Quốc cho cuộc kháng chiến chống

Pháp của Việt Nam

67

3.2.1.3 Đóng góp của Trung Quốc trong Hội nghị Giơnevơ về vấn

đề giải quyết chiến tranh ở Đông Dương

72

3.2.2 Quan hệ kinh tế, thương mại 76

3.2.3 Quan hệ giao thông vận tải, thông tin liên lạc 81

3.2.4 Quan hệ giáo dục văn hoá 83

Trang 5

Tài liệu tham khảo 107

Trang 6

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng “núi liền núi, sông liền sông”, từ lâu cư dân hai nước đã có quan hệ gắn bó về nhiều mặt Trong bức thư gửi Hoa kiều sau khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà tuyên bố thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát: “Hai dân tộc Trung

- Việt chúng ta, mấy ngàn năm nay, huyết thống tương thông, chung nền văn hoá, trong lịch sử vẫn được gọi là hai nước anh em, hơn nữa, đất nước liền kề, núi sông kế tiếp, càng như môi với răng che chở cho nhau”[4,5] Trong mấy nghìn năm này, quan hệ và giao lưu giữa hai nước diễn ra liên tục, phát triển từ thấp đến cao, cả bề rộng lẫn chiều sâu Từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao cho đến nay, quan hệ hai nước đã trải qua chặng đường dài 55 năm Diễn biến và phát triển của mối quan hệ hai nước trong thời gian này không đơn giản, bằng phẳng mà đã trải qua thăng trầm với những quanh co, khúc khuỷu

Trong thời cận đại khi cả Việt Nam và Trung Quốc đều trở thành nạn nhân của chủ nghĩa đế quốc phương Tây thì nhân dân hai nước càng thêm gắn bó với nhau Trước khi cách mạng Trung Quốc thành công, Đảng Cộng sản và nhân dân Trung Quốc đã hết lòng giúp đỡ các chí sĩ yêu nước và những nhà cách mạng Việt Nam hoạt động trên đất nước mình Về phía Việt Nam, trước cách mạng tháng Tám, Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam đã kiên quyết bày tỏ sự ủng hộ đối với cuộc đấu tranh của nhân dân Trung Quốc chống phát xít Nhật

Sau khi giành được độc lập, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, mặc dù cách mạng Trung Quốc chưa giành được thắng lợi, hai nước còn chưa thiết lập quan hệ ngoại giao, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ

Trang 7

tịch Hồ Chí Minh đã hết sức coi trọng mối quan hệ với Đảng Cộng sản Trung Quốc và nhân dân Trung Quốc Trong khi bản thân còn gặp rất nhiều khó khăn, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những việc làm thiết thực để ủng hộ nhân dân Trung Quốc, ủng hộ Đảng Cộng sản Trung Quốc trong cuộc nội chiến

Ngày 18-1-1950, Việt Nam và Trung Quốc chính thức thiết lập quan

hệ ngoại giao, bắt đầu thời kỳ lịch sử hiện đại trong quan hệ hai nước Từ đây, hai bên có điều kiện tăng cường và mở rộng quan hệ với nhau một cách công khai, trên mọi lĩnh vực với tư cách là hai Nhà nước có chủ quyền

Quan hệ Việt - Trung giai đoạn 1945-1954, tức là từ sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời cho đến khi kháng chiến chống Pháp thành công, là những năm tháng đáng nhớ trong ký ức các tầng lớp nhân dân Việt Nam, đặc biệt là lớp người trưởng thành trong Cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống Pháp Nếu xét giai đoạn này trong cả chặng đường phát triển của quan hệ Việt - Trung thì đây là giai đoạn mở đầu cũng là giai đoạn quan hệ hai nước ở thời kỳ tốt đẹp nhất Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát mối quan hệ trong thời kỳ này là: “Mối tình thắm thiết Việt - Hoa, vừa là đồng chí, vừa là anh em” “Đồng chí” là bởi Việt Nam và Trung Quốc đều do Đảng Cộng sản lãnh đạo, cùng xây dựng và phát triển đất nước theo con đường XHCN, do đó về mặt tính chất, quan hệ Việt - Trung trong thời kỳ lịch sử hiện đại khác hẳn so với quan hệ hai nước trong tất cả các thời kỳ lịch sử trước đây “Anh em” là bởi Đảng Cộng sản và nhân dân Trung Quốc đã dành sự giúp đỡ to lớn cả về vật chất và tinh thần cho cuộc kháng chiến chống Pháp trường kỳ của nhân dân ta trong lúc nước Trung Quốc mới mới thành lập còn khó khăn mọi bề “Anh em, đồng chí” còn bởi giữa lãnh đạo của hai nước thời kỳ này, Chủ tịch Hồ Chí

Trang 8

Minh, Chủ tịch Mao Trạch Đông, Thủ tướng Chu Ân Lai có mối quan hệ gắn bó, thân thiết được xây dựng từ những ngày tháng cùng hoạt động ở nước ngoài và thời kỳ Chủ tịch Hồ Chí Minh hoạt động ở Trung Quốc Quan hệ Việt - Trung đã trải qua những giai đoạn phát triển khác nhau, thay đổi cùng với những thăng trầm, biến đổi của mỗi nước, của thế giới Đến nay, phương châm chỉ đạo quan hệ hai nước đã được lãnh đạo hai

Đảng, hai nước xác định là láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định

lâu dài, hướng tới tương lai và 4 tốt: láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt Lịch sử quan hệ Việt - Trung như một dòng chảy, những gì

đã đi qua không bao giờ trở lại Vì vậy, nhìn lại quan hệ Việt - Trung giai đoạn “vừa là đồng chí, vừa là anh em” trong bối cảnh phát triển láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt hiện nay, chúng ta không chỉ thấy đó

là một tài sản quý báu đáng trân trọng, mà còn thấy những biến đổi, phát triển mới trong quan hệ hai nước Với tư cách là một người nghiên cứu về quan hệ Việt - Trung đồng thời cũng là một thanh niên trẻ tuổi muốn hiểu

về truyền thống quan hệ hai nước, từ truyền thống đó để có nhìn nhận, đánh giá chính xác về hiện tại, tôi quyết định lựa chọn tìm hiểu quan hệ Việt - Trung giai đoạn 1945-1954 làm đề tài luận văn Thạc sỹ của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Qua những tài liệu mà chúng tôi sưu tầm được, có thể khái quát tình hình nghiên cứu về quan hệ Việt - Trung như sau:

2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Hiện nay, ở nước ta chưa có nhiều công trình nghiên cứu về quan hệ Việt - Trung một cách hệ thống, toàn diện, đặc biệt là giai đoạn 1945-1954 Nếu như quan hệ Việt Nam - Trung Quốc từ khi bình thường hoá đến nay được nhiều người quan tâm, chọn làm đề tài nghiên cứu thì quan hệ Việt -

Trang 9

Trung giai đoạn này hầu như chỉ được đề cập rải rác, lẻ tẻ với ý nghĩa là phần giới thiệu hay phần mở đầu Hai cuốn sách nói về đề tài này nhiều

hơn cả là Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc những sự kiện 1945-1954 của Viện Nghiên cứu Trung Quốc và cuốn Sự thật về quan hệ Việt Nam - Trung

Quốc trong 30 năm qua Cuốn Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc những sự kiện 1945-1954 trình bày các sự kiện của quan hệ hai nước trong thời gian

này khá đầy đủ, rõ ràng nhưng đó là một cuốn biên niên lịch sử, vì thế

không có đánh giá, nhận xét Còn cuốn Sự thật về quan hệ Việt Nam -

Trung Quốc trong 30 năm qua của Bộ Ngoại giao, xuất bản năm 1979 khi

quan hệ hai nước ở đỉnh điểm của bất hoà nên một số đánh giá, nhận xét trong cuốn sách không tránh khỏi thiên lệch

Ngoài ra, quan hệ Việt - Trung giai đoạn này cũng được đề cập rải rác, trên từng lĩnh vực trong một số cuốn sách Có thể chia làm mấy lĩnh vực chủ yếu sau:

Về lĩnh vực quan hệ chính trị, ngoại giao: Cuốn Ngoại giao Việt Nam 1945-1954 đề cập đến những sự kiện chính của quan hệ hai nước trong các

hoạt động ngoại giao chung của Việt Nam Cuốn này không có phần riêng viết về quan hệ giữa nước ta với từng nước, trong đó có Trung Quốc

Về lĩnh vực kinh tế, thương mại: Quan hệ kinh tế thương mại giữa hai

nước giai đoạn này được nhắc đến trong một số sách chuyên về kinh tế

Cuốn Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000 của Đặng Phong nêu lên một số

sự kiện về quan hệ kinh tế, thương mại giữa hai nước trong thời kỳ

1945-1954, đồng thời tác giả cũng đưa ra một số nhận xét, đánh giá tuy ngắn

nhưng có giá trị khái quát cao Cuốn Buôn bán qua biên giới Việt - Trung

lịch sử, hiện trạng, triển vọng do Nguyễn Minh Hằng chủ biên đề cập đến

quan hệ thương mại giữa hai nước thời kỳ này tỉ mỉ hơn với hai phần: Quan

Trang 10

hệ thương mại từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 của Việt Nam đến khi nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra đời năm 1949 và giai đoạn 1950-1954

Về lĩnh vực quân sự: Đây là lĩnh vực được đề cập đến nhiều nhất và

kỹ lưỡng nhất vì nó liên quan đến sự giúp đỡ, viện trợ của Trung Quốc

dành cho Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp Lịch sử cuộc

kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954 cũng như Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi và bài học, Tổng kết công tác hậu cần chiến dịch Điện Biên Phủ, Đông Xuân 1953-1954 đã nói rõ những

viện trợ của Trung Quốc dành cho Việt Nam, nêu lên các con số cụ thể về viện trợ của Trung Quốc cho từng chiến dịch, vai trò của đoàn cố vấn quân

sự Trung Quốc Ngoài ra một số cuốn sách do chính Đại tướng Võ Nguyên

Giáp viết như Đường tới Điện Biên Phủ, Chiến đấu trong vòng vây cũng đề

cập nhiều đến đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc, đánh giá đúng vai trò của đoàn cố vấn trong thời gian ở Việt Nam Về sự giúp đỡ quốc tế của Trung Quốc, vai trò của đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc cũng như đóng góp của

Trung Quốc ở Hội nghị Giơnevơ cũng được cuốn 50 năm chiến thắng Điện

Biên Phủ và sự nghiệp đổi mới phát triển đất nước và Điện Biên Phủ từ góc nhìn của các nhà khoa học Việt - Pháp đề cập đến Đây là những tài

liệu rất có giá trị tham khảo đối với bản luận văn này

Có thể nói, thông qua những công trình, bài viết này, chúng ta có thể thấy mối quan hệ Việt - Trung trong từng lĩnh vực nhưng để có một cái nhìn chung, tổng quát thì cần có một công trình viết riêng về quan hệ Việt - Trung trong giai đoạn này trên tất cả các lĩnh vực và được đặt trong bối cảnh chung của từng nước cũng như quốc tế

2.2 Tình hình nghiên cứu ở Trung Quốc và quốc tế

ở Trung Quốc, việc nghiên cứu về quan hệ Việt - Trung, đặc biệt là giai đoạn kháng chiến chống Pháp của nước ta, được chú ý nhiều hơn Vì

Trang 11

thế, các công trình nghiên cứu về quan hệ Việt - Trung nói chung cũng như

về giai đoạn này khá nhiều, đặc biệt là về vấn đề viện trợ, giúp đỡ Việt Nam kháng chiến chống Pháp Một cuốn sách đầu tiên mà hầu hết các công

trình của học giả Trung Quốc đều có tham khảo đó là Diễn biến 40 năm

quan hệ Trung - Việt của tác giả Quách Minh Có thể nói, đây là cuốn sách

viết về quan hệ Trung - Việt đầy đủ, tỉ mỉ nhất của Trung Quốc hiện có Tác giả viết về quan hệ hai nước từ năm 1950 đến năm 1975, từ năm 1975 đến năm 1978, từ sau khi Việt Nam đưa quân vào Campuchia, và đến giai đoạn bình thường hoá Trong phần viết về quan hệ Trung - Việt thời kỳ kháng chiến chống Pháp, tác giả đã nêu lên ý nghĩa của việc hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao và một số vấn đề của quan hệ Trung - Việt trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp như chiến dịch Biên giới, chiến dịch Điện Biên Phủ và quan hệ Trung - Việt, ý nghĩa của việc ký kết hiệp định Giơnevơ năm 1954 và quan hệ Trung - Việt Ngoài ra, tác giả đã khái quát những đặc điểm của quan hệ hai nước trong thời kỳ này Bên cạnh cuốn

sách này, cuốn Biên tuyển tư liệu về quan hệ Trung - Việt hiện đại tập hợp

tất cả những văn kiện, bài báo viết về quan hệ hai nước kể từ sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao cũng có giá trị lớn về mặt tư liệu

Những tài liệu viết về quan hệ Trung - Việt trong giai đoạn từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao đến năm 1954 cũng khá nhiều Tất cả các cuốn sách

viết về ngoại giao của Trung Quốc được xuất bản trong các năm như Lịch

sử ngoại giao nước CHND Trung Hoa 1949-1956 của Bùi Kiên Chương, Lịch sử ngoại giao Trung Quốc của Ngô Đông Chi, Lịch sử ngoại giao Trung Quốc mới của Hoàng An Dư đều có mục riêng về quan hệ Trung

Quốc - Việt Nam, nêu lên khái quát những sự kiện chính trong quan hệ hai

nước Ngoài ra cuốn Quan hệ Trung Quốc với các nước xung quanh của

Đường Hi Trung cũng đề cập nhiều đến quan hệ Trung Quốc với Việt Nam

Trang 12

Ngoài ra, một vấn đề được Trung Quốc đặc biệt quan tâm đó là viện trợ của Trung Quốc dành cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của Việt Nam Vì thế, có một số lượng đáng kể công trình chuyên viết về vấn

đề này như Cuộc chiến tranh đầu tiên sau ngày thành lập nước - Những bí

mật trong cuộc viện trợ Việt Nam chống Pháp, quyết thắng Điện Biên Phủ

của Trần Chí Bân, Thực lục chiến tranh Việt Nam của Giải Lực Phu, Sự

thực lịch sử về đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam kháng chiến chống Pháp xuất bản năm 1990, Cuộc chinh chiến bí mật - Ghi chép thực về đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc giúp Việt Nam chống Pháp xuất

bản năm 1999, Ghi chép thực về đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc giúp

Việt Nam chống Pháp xuất bản năm 2002 Hầu như tất cả các tài này trong

đó đều khẳng định những quyết định khiến các chiến dịch trong cuộc kháng chiến chống Pháp giành được thắng lợi đều là của đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc Tất cả mọi quyết định đưa đến thắng lợi từ chiến dịch Biên giới năm 1950 cho đến việc chọn chiến trường chính trong chiến cuộc Đông xuân năm 1953-1954, đặc biệt chiến dịch Điện Biên Phủ đều là của đoàn cố vấn Trung Quốc Các tài liệu trên đều khẳng định một số vấn đề:

Thứ nhất, khẳng định Trần Canh, người vừa đến Việt Nam đã thay đổi

mục tiêu tấn công từ Cao Bằng sang Đông Khê trong chiến dịch Biên giới năm 1950 Do sự thay đổi này mà chiến dịch Biên giới đã thu được thắng lợi hơn cả mong đợi

Thứ hai, chủ trương mở chiến dịch Tây Bắc và Thượng Lào do Trung

Quốc kiến nghị

Thứ ba, quyết định thay đổi từ chủ trương “đánh nhanh, thắng nhanh”

sang “đánh chắc, tiến chắc” trong chiến dịch Điện Biên Phủ là của trưởng đoàn cố vấn quân sự Vi Quốc Thanh

Trang 13

Có thể nói, tư liệu của Trung Quốc viết về những giúp đỡ của đoàn cố vấn Trung Quốc trong cuộc kháng chiến chống Pháp có sự sai lệch đáng kể Đây là điều cần lưu tâm trong quá trình nghiên cứu về quan hệ Việt - Trung

Quan hệ Trung - Việt cũng được tái hiện khá đầy đủ qua cuốn sách Hồ

Chí Minh với Trung Quốc của Hoàng Tranh Tác giả cho người đọc thấy

mối quan hệ gắn bó, tình cảm giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh với các vị thuộc thế hệ lãnh đạo thứ nhất của Trung Quốc, với nhân dân Trung Quốc

Một đề tài liên quan đến quan hệ Trung - Việt được các học giả Trung Quốc quan tâm đó là Hội nghị Giơnevơ và vai trò của Trung Quốc trong hội nghị này Việc nghiên cứu vấn đề này đã đạt đến trình độ sâu sắc nhất

định Bài Mao Trạch Đông và chiến tranh Đông Dương của Dương Khuê Tùng và bài Sự khác biệt về sách lược của Trung Quốc và Việt Nam trong

chiến tranh Đông Dương của Khúc Tinh trong cuốn Trung Quốc và chiến

tranh Đông Dương nhiều lần đề cập đến chính sách Đông Dương của Trung Quốc trước và sau Hội nghị Giơnevơ cũng như việc giải quyết vấn

đề hoà bình ở Đông Dương Tác phẩm 50 năm ngoại giao Trung Quốc của Khúc Tinh hay Diễn biến 40 năm quan hệ Trung - Việt của Quách Minh

cũng trình bày và phân tích khá kỹ về đóng góp của Trung Quốc trong việc

ký kết Hiệp định đình chiến ở Đông Dương

Có thể nói, các học giả Trung Quốc đã dành sự quan tâm nhất định đối với quan hệ Trung - Việt trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp Tuy nhiên những tài liệu này vẫn còn những chỗ phản ánh không đúng sự thực lịch

sử, thông qua đó chúng ta có thể thấy đánh giá, nhìn nhận của các học giả Trung Quốc đối với vấn đề này

Các học giả nước ngoài cũng khá quan tâm đến quan hệ Việt Nam - Trung Quốc thời kỳ từ sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời cho đến khi ký kết Hiệp định đình chiến ở Đông Dương Có thể kể ra đây hai

Trang 14

tác phẩm tiêu biểu, được hầu hết các học giả phương Tây tham khảo khi

nghiên cứu về quan hệ Việt - Trung đó là Trung Quốc với việc giải quyết

cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất của Francois Joyaux và Việt Nam và Trung Quốc của King C Chen Tác phẩm của Francois Joyaux đã

nghiên cứu tỉ mỉ, có những nhận định sắc bén, cung cấp cho người đọc Việt Nam cái nhìn khách quan của một học giả nước ngoài về việc Trung Quốc giải quyết cuộc chiến tranh ở Đông Dương thông qua Hội nghị Giơnevơ Còn cuốn Việt Nam và Trung Quốc thì đề cập đến những nét nổi bật trong quan hệ Việt - Trung từ năm 1938 đến năm 1954

Từ việc điểm qua tình hình nghiên cứu về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc giai đoạn 1945-1954 có thể thấy việc nghiên cứu tập trung vào mấy vấn đề:

- Giúp đỡ, viện trợ của Trung Quốc cho cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam

- Vai trò của Trung Quốc trong Hội nghị Giơnevơ

- Vài nét về quan hệ kinh tế thương mại hai nước trong thời kỳ này

Có thể thấy, các công trình nghiên cứu về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc từ sau khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra đời cho đến khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi không nhiều, đặc biệt là công trình nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ của Việt Nam Vì vậy, theo chúng tôi, việc có một công trình nghiên cứu khá đầy đủ về quan hệ hai nước trong giai đoạn này là điều cần thiết

3 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu về những điểm nổi bật của quan hệ Việt - Trung trong giai đoạn 1945-1954 như sự giúp đỡ, ủng hộ lẫn nhau trong cuộc đấu tranh của mỗi nước, các lĩnh vực chính trị, kinh tế thương mại, văn hoá, giao thông vận tải trong bối cảnh chung của mỗi nước và thế giới

Trang 15

4 Đóng góp của luận văn

Luận văn cho người đọc thấy những nét nổi bật của quan hệ Việt Nam

- Trung Quốc trong giai đoạn 1945-1954, đặc biệt mối quan hệ này được đặt trong bối cảnh chung của từng nước cũng như quốc tế Một bức tranh toàn cảnh về quan hệ Việt - Trung trong giai đoạn này cũng như đánh giá

về ảnh hưởng, vai trò của quan hệ Việt - Trung đối với Việt Nam là đóng góp nổi bật của luận văn

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tư liệu

Luận văn đã sử dụng một nguồn tư liệu tương đối đa dạng bao gồm các ấn phẩm sách, báo, tạp chí bằng tiếng Việt và tiếng Trung xuất bản trong và ngoài nước, các tập kỷ yếu hội thảo…

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành luận văn này, chúng tôi đã sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp phân tích tổng hợp, đối chiếu so sánh và biên niên sự kiện

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn chia làm

3 chương:

Chương 1: Khái quát quan hệ Việt - Trung trước năm 1945

Chương 2: Quan hệ Việt - Trung từ năm 1945 đến năm 1949

Chương 3: Quan hệ Việt - Trung từ năm 1950 đến năm 1954

Trang 16

Chương 1 Khái quát lịch sử quan hệ việt - trung trước năm 1945

1.1 quan hệ việt nam - Trung Quốc trước thời pháp thuộc

1.1.1 Thời kỳ 1000 năm Bắc thuộc

Ngay từ rất sớm trên vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng đã có con người sinh sống Trải qua văn hoá Phùng Nguyên, văn hoá Đồng Đậu, văn hoá Gò Mun đến văn hoá Đông Sơn với chặng đường gần 2000 năm, con người Việt Nam đã chuyển từ nền kinh tế nguyên thuỷ với công cụ sản xuất bằng đá là phổ biến sang một nền kinh tế bao gồm nhiều ngành nghề Đến thời kỳ văn hoá Đông Sơn toàn bộ vùng đồng bằng rộng lớn của sông Hồng, sông Mã, sông Cả đã được khai phá căn bản với những làng xóm đông đúc, hệ thống giao thông, thủy lợi khá phát triển Cùng với tình trạng phân hóa xã hội do sức sản xuất phát triển và nhu cầu trị thuỷ, nhu cầu tự

vệ chống ngoại xâm, vào thiên niên kỷ thứ I trước công nguyên, nhà nước Văn Lang, nhà nước đầu tiên trong lịch sử Việt Nam đã ra đời

Từ rất sớm, vua Hùng đã có quan hệ với phương Bắc Đại Việt sử ký toàn thư chép về mối quan hệ này như sau: “Thời Thành Vương nhà Chu (1063-1026 TCN) nước Việt ta lần đầu sang thăm nhà Chu (không rõ vào đời Hùng Vương thứ mấy) xưng là Việt Thường thị, hiến chim trĩ trắng Chu Công nói: “Chính lệnh không ban đến thì người quân tử không coi người ta là bề tôi của mình” rồi sai làm xe chỉ nam đưa sứ giả về nước” [20,134] Theo sử sách Trung Quốc thì sự kiện này diễn ra vào năm 1110 TCN, vua Chu đáp lại bằng việc tặng sứ giả 5 cỗ xe có kim chỉ nam để về nước khỏi lạc hướng

Vào cuối đời vua Hùng, nạn ngoại xâm từ phương Bắc đã trở thành mối đe doạ Sau khi làm bá chủ miền duyên hải từ Sơn Đông đến Quảng

Trang 17

Đông năm 473 TCN, Việt Vương Câu Tiễn đã sai sứ xuống dụ vua Hùng thần phục nhưng bị cự tuyệt Nước Tần sau khi thành lập đã mở rộng những cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn ra cả hai phía Bắc, Nam Nhà Tần sai 50 vạn quân dưới sự chỉ huy của Thái uý Đồ Thư tiến xuống phía nam Hàng vạn quân Tần vượt biên giới vào lãnh thổ phía bắc và đông bắc nước ta lúc đó nhưng cuối cùng người Việt đã chiến thắng, giết chết chủ tướng Đồ Thư, buộc nhà Tần phải bãi binh Sau khi nhà Tần suy yếu và sụp

đổ, Triệu Đà đã đánh chiếm quận Nam Hải và Quế Lâm, dấy binh xâm lược Âu Lạc Tuy không thắng được bằng quân sự nhưng bằng mưu mô, cuối cùng Triệu Đà đã đánh thắng An Dương Vương, chiếm được phía Bắc lãnh thổ nước ta Cuộc kháng chiến chống Triệu Đà thất bại, đất nước ta rơi vào thảm hoạ của hơn 1000 năm Bắc thuộc Từ đây, nước ta không còn tên nước, bị sáp nhập vào lãnh thổ Trung Quốc và hoàn toàn bị phụ thuộc Quan hệ giữa nước ta với phong kiến phương Bắc lúc này là quan hệ thống trị - lệ thuộc, đồng hoá và bị đồng hoá

Các triều đại phong kiến Trung Quốc từ Tần, Hán đến Tuỳ, Đường tuy biện pháp cai trị có khác nhau nhưng mục đích chung là muốn xoá bỏ hoàn toàn dấu vết của đất nước Âu Lạc xưa, đồng hoá và sáp nhập hẳn vào lãnh thổ Trung Quốc Qua các đời, chính sách đô hộ, đồng hoá ngày càng thâm độc và tinh vi hơn

Khi chính sách đô hộ, bóc lột của kẻ thống trị càng nặng nề thì phong trào khởi nghĩa đấu tranh chống ách đô hộ càng mạnh mẽ, liên tiếp nổ ra

Đó không chỉ là sự phản kháng bình thường mà là biểu hiện của lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, chống đồng hoá Những cuộc khởi nghĩa lúc ngấm ngầm, lúc công khai, lúc thành công, lúc thất bại nhưng diễn ra liên tục, thu hút đông đảo nhân dân tham gia Từ cuộc khởi nghĩa của hai Bà Trưng, các tầng lớp nhân dân ta ở khắp nơi đều không ngừng nổi dậy đấu tranh đánh đuổi quân xâm lược, hết giặc Ngô, giặc Tấn, giặc Tống, giặc Lương cho

Trang 18

đến Tuỳ, Đường Cuối cùng, cuộc khởi nghĩa của Ngô Quyền đã đánh tan cuộc tiến công xâm lược của quân Nam Hán Chiến thắng lừng lẫy trên sông Bạch Đằng là một mốc son trong lịch sử, chấm dứt vĩnh viễn nền đô

hộ trên 10 thế kỷ của phong kiến phương Bắc

Trong giai đoạn lịch sử này, không chỉ nổi bật quan hệ Bắc thuộc và chống Bắc thuộc mà còn có một dòng chảy khác, tuy âm thầm nhưng bền

bỉ và cũng có vai trò không nhỏ trong việc duy trì, giữ gìn và phát huy sức sống của dân tộc: đó là chống đồng hoá Cuộc chiến này tuy âm thầm nhưng cũng không kém phần quyết liệt so với chống giặc ngoại xâm

Cùng với việc huỷ hoại nền văn hoá bản địa, phong kiến phương Bắc từng bước, qua từng triều đại thực hiện truyền bá lối sống, văn hoá Hán vào nước ta Sự truyền bá đó diễn ra theo hai con đường: con đường chính thống từ triều đình và nho sĩ và con đường dân gian Hai con đường này một là truyền bá cưỡng bức qua bọn quan lại đô hộ hành chính và một là sự truyền bá ôn hoà qua giao lưu kinh tế văn hoá của cư dân Trung Quốc sang sinh sống trên đất Việt Con đường triều đình, Nho sĩ là con đường chuyển tải có hệ thống và có chủ trương nhưng thường vấp phải sự phản kháng của nhân dân ta, ngược lại con đường dân gian đi từ di dân, cộng cư rồi đến hội nhập diễn ra âm thầm

Trước âm mưu đồng hoá, nhân dân ta không hề bài ngoại mù quáng, cũng không bắt chước để bị lệ thuộc mà hấp thu có chọn lọc những yếu tố văn hoá ngoại lai và biến thành của mình, làm phong phú thêm văn hoá dân tộc Điều này được thể hiện qua nhiều lĩnh vực như tập quán giã gạo bằng chày tay đã chuyển sang bằng cối đạp, từ tập tục ở nhà sàn dần dần chuyển sang ở nhà nền đất Trong lĩnh vực ngôn ngữ, bên cạnh những âm tiết thuần Việt đã xuất hiện trong kho tàng tiếng Việt ngày một nhiều âm tiết Hán Việt Trong thời kỳ này, Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo từ Trung Quốc

Trang 19

du nhập vào nước ta Như Francois Joyaux đã nhận xét: “Về văn hoá, sự hấp dẫn đối với một nền văn minh đã ngự trị và thấm sâu vào toàn bộ lịch

sử của dân tộc Việt Nam, nhưng ngược lại một ý chí mạnh mẽ và kiên trì, muốn trút bỏ ảnh hưởng của nền văn minh đó để khẳng định hơn nữa cá tính sâu sắc của Việt Nam”[17,26] Chính ý chí mạnh mẽ này khiến cho dân tộc ta sau hơn 1000 năm Bắc thuộc vẫn không bị diệt vong, không bị đồng hoá mà còn trưởng thành về mọi mặt để có đủ sức mạnh vật chất và tinh thần chống lại chủ nghĩa đại Hán, giành lại chủ quyền, xây dựng nước phong kiến độc lập tự chủ Đây là điều đáng tự hào của dân tộc ta, cũng là nét nổi bật của giai đoạn lịch sử này

1.1.2 Từ năm 938 đến năm 1858

1.1.2.1 Quan hệ giữa hai nhà nước phong kiến

Chiến thắng Bạch Đằng cuối năm 938 do Ngô Quyền lãnh đạo đã kết thúc hoạ mất nước trên 10 thế kỷ của dân tộc ta, kết thúc giai đoạn Bắc thuộc, mở ra một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập và phát triển Cũng từ đây, quan hệ giữa nước ta với phong kiến phương Bắc cũng bước sang một trang mới: quan hệ giữa hai nhà nước có chủ quyền, độc lập "Đây là lúc Việt Nam không còn chấp nhận tư cách quận huyện trong đế chế Trung Hoa nữa và Trung Hoa cũng phải chấp nhận cho Việt Nam nằm ngoài cương vực của mình" [3,3] King C Chen nhận xét về đặc điểm của quan

hệ Việt - Trung trong giai đoạn này là: "Trước khi Pháp chiếm Đông Dương, sự giao thiệp giữa Trung Quốc và Việt Nam đã độc lập trên bình diện sau: Hễ Trung Quốc mạnh và hùng cường thì Việt Nam thần phục và hoà với lân bang phương Bắc, hễ Trung Quốc xâm lược thì Việt Nam chống lại" [3,7] Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn này chính là bên cạnh những cuộc xâm lược quy mô lớn của phong kiến phương Bắc là mối quan

hệ giao hảo giữa Việt Nam với các triều đại phong kiến Trung Quốc

Trang 20

Từ khi giành được độc lập, trải qua các đời Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Nguyễn nước ta từng bước phát triển chế độ phong kiến, đất nước có lúc thịnh lúc suy, lúc trị lúc loạn Hơn 1000 năm chịu ách đô hộ của phong kiến phương Bắc, đến lúc giành được độc lập, khẳng định chủ quyền đất nước, đời vua nào cũng ý thức được mối đe doạ thường trực từ nước phong kiến khổng lồ ở phương Bắc, đồng thời cũng hiểu rõ tương quan lực lượng giữa một nước nhỏ mới giành độc lập, đang từng bước xây dựng nhà nước phong kiến với một đế chế phong kiến có lịch sử phát triển lâu hơn hàng ngàn năm Vì thế, các triều đại phong kiến Việt Nam luôn biết giữ mình, khôn khéo, mềm dẻo trong quan hệ với Trung Quốc, nhất là khi đất nước ở trong tình trạng bất ổn hoặc vừa mới xây dựng triều đại mới Còn các đế chế Trung Hoa, mặc dù nước ta đã có tên riêng, có độc lập chủ quyền nhưng trong tư tưởng của họ Việt Nam vẫn là một nước phụ thuộc, bởi theo họ thì nước nhỏ phải phụ thuộc nước lớn Khi các triều đại của nước ta mạnh thì phải thần phục triều cống nhưng khi có nội loạn, triều đình lục đục thì phong kiến phương Bắc liền đem quân sang xâm lược

Nước ta triều cống theo định kỳ, vua mới lên phải cầu phong như Đinh Tiên Hoàng, sau khi lên ngôi, đặt niên hiệu Thái Bình đã cử sứ bộ sang giao hảo với nhà Tống Năm 1175, nhà Tống chính thức công nhận chủ quyền quốc gia của Đại Việt khi đổi danh hiệu sắc phong từ Giao Chỉ quận vương thành Sơn Nam quốc vương Đối với nhà Minh, sau khi giải phóng đất nước, Lê Thái Tổ lập tức cử sứ bộ sang cầu phong và đặt quan

hệ hoà hảo Sau khi đánh bại triều Tây Sơn, Nguyễn ánh cho người sang hỏi Tổng đốc Lưỡng Quảng về cách bang giao, tiếp đó cử sứ đoàn do Lê Quang Định dẫn đầu sang nhà Thanh xin cầu phong, quốc ấn và quốc hiệu Ngoài cầu sắc phong, Việt Nam còn phải triều cống Các triều đại phong kiến Việt Nam thường mang những đặc sản, sản vật quý hiếm sang cống cho Trung Quốc và Trung Quốc cũng cử sứ giả sang thăm Nhà Lê cứ

Trang 21

3 năm một lần, theo lệ sang cống nhà Minh và tiếp đón các sứ bộ của nhà Minh sang thăm Nhà Nguyễn thì 4 năm một lần cử sứ bộ sang nộp hai lần

lễ cống Theo thống kê của Trung Quốc, vào đời Tống, trong hơn 220 năm

từ đời Tống Thái Tổ (năm 968) đến đời Tống Quang Tông (năm 1190), vương triều phong kiến Việt Nam cử hơn 40 lần sứ thần sang Trung Quốc, bình quân hơn 5 năm một lần, sứ giả Việt Nam đến Trung Quốc là hơn 50 lần, bình quân chưa đầy 2 năm một lần Vào đời Nguyên, trong hơn 70 năm

từ đời Nguyên Thế Tổ (năm 1261) đến Nguyên Văn Tông (năm 1331), sứ giả Việt Nam đến Trung Quốc hơn 50 lần, bình quân chưa đến 2 năm một lần Trong hơn 270 năm ở đời Minh, sứ giả Việt Nam đến Trung Quốc không dưới 100 lần, bình quân hơn 2 năm một lần [43,2] Đồng thời, vương triều Trung Quốc cũng cử sứ giả sang Việt Nam, sắc phong vương hiệu, tặng lễ vật như sứ giả nhà Tống là Lý Giác đến Đại Cồ Việt năm 987 Mặc dù quan hệ hai nước tồn tại tục sắc phong, triều cống nhưng thực chất là quan hệ bình đẳng Học giả Vũ Hồng Lâm nhận xét: "Việt Nam thực hiện một chính sách hai mặt Một mặt vẫn thực hiện đủ lễ với Trung Hoa, nghĩa là về hình thức công nhận trật tự thế giới của Trung Quốc Mặt khác cứ thực hiện trật tự thế giới riêng của mình" [19,3] Quách Minh trong

Diễn biến 40 năm quan hệ Trung - Việt cũng nhận xét "quan hệ phiên thuộc

triều cống ở một mức độ nào đó là một kiểu qua lại mang tính nghi lễ",

"các vương triều phong kiến Trung Quốc rất ít can thiệp vào công việc nội

bộ của vương triều phong kiến Việt Nam"

Trong giai đoạn này, nước ta một mặt có chính sách đối ngoại mềm dẻo như triều cống, tỏ ra thần phục phong kiến Trung Quốc để tránh xảy ra chiến tranh nhưng mặt khác lại luôn khẳng định vị trí độc lập của mình, không chịu khuất phục đầu hàng trước những cuộc xâm lược của phong kiến phương Bắc Với tư tưởng đại Hán, coi mình là trung tâm của thiên

hạ, gánh vác nhiệm vụ "bình thiên hạ" cho nên phong kiến phương Bắc

Trang 22

luôn có ý đồ xâm lược, thôn tính Đại Việt, đưa Đại Việt trở lại là quận, huyện của Trung Quốc như trước đây Mặc dù sau khi lên ngôi, vua của nước ta đều sai sứ sang Trung Quốc đặt quan hệ giao hảo, xin sắc phong và triều cống đều đặn nhưng điều đó vẫn không đảm bảo được sẽ không xảy ra chiến tranh, không ngăn chặn được nguy cơ bị xâm lược, mất nước Trước thế lực phong kiến phương Bắc hùng mạnh, nhân dân ta với truyền thống yêu nước đã không chịu lùi bước, không chịu khuất phục Hai lần chiến thắng quân Tống, ba lần chiến thắng quân Nguyên - Mông, chiến thắng quân Minh sau bao năm "nếm mật nằm gai" của Lê Lợi, chiến thắng quân Thanh của Quang Trung đã viết tiếp trang sử hào hùng của dân tộc Nhưng sau mỗi lần buộc phải kháng chiến chống ngoại xâm thì nhân dân ta lại vượt lên đau thương, khoan dung mềm mỏng khôi phục bang giao với mong muốn để chiến tranh không xảy ra Điều này đã trở thành nét đẹp truyền thống khiêm nhường, bao dung và yêu chuộng hoà bình của dân tộc

ta

1.2.2.2 Quan hệ trao đổi buôn bán giữa hai nước

Trong thời gian này, ngoài triều cống, sắc phong, quan hệ trao đổi buôn bán giữa hai nước cũng được thiết lập và từng bước phát triển Quá trình buôn bán, trao đổi này thay đổi theo sự phát triển, hưng thịnh của nền kinh tế phong kiến hai nước

Quan hệ buôn bán giữa nhà Lý và nhà Tống khá phát triển Năm 1012,

Lý Công Uẩn xin vua Tống cho thuyền tới Ung Châu buôn bán nhưng vua Tống Chân Tông chỉ bằng lòng cho tới buôn bán ở Quảng Châu và trại Như Hồng (Khâm Châu) theo lệ cũ như thời Lê Thương nhân Trung Quốc đến Đại Việt buôn bán và thương nhân Đại Việt cũng sang buôn bán ở Trung Quốc Ngoài cảng Vân Đồn, các địa điểm buôn bán ở biên giới Việt - Trung cũng phát triển, các điểm này gọi là "Bạc dịch trường" Lúc này, có hai Bạc

Trang 23

dịch trường lớn là trại Hoành Sơn chuyên mua bán ngựa, các lâm sản, thuốc chữa bệnh của dân tộc thiểu số và trại Vĩnh Bình Hàng hoá bán ra của ta thường là lâm thổ sản và hàng nhập là các sản phẩm như giấy bút, tơ, vải, gấm vóc

Dưới thời Trần (1226-1400) buôn bán với Trung Quốc tiếp tục phát triển, cảng Vân Đồn càng phát đạt hơn Lúc này, đô thành Thăng Long nhộn nhịp, bên cạnh thương nhân của các phường Thăng Long còn có thương nhân nước ngoài mà chủ yếu là người Tống Năm 1276, 30 thuyền buôn người Tống xin cư trú, được vua Trần cho ở phường Nhai Tuân, lập phố họp chợ

Từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XV, do chính sách cấm vận của nhà Minh, thuyền buôn Trung Quốc bị hạn chế ra nước ngoài nên việc buôn bán với phương Nam gần như ngưng trệ Đầu thế kỷ XVI, khi Minh Thục Tông bãi

bỏ lệnh cấm, hoạt động của các thương nhân Trung Quốc trở lại nhộn nhịp

Từ thế kỷ XVI-XVIII, nếu như ở trong nước là giai đoạn bùng phát của hệ thống các chợ thì buôn bán với thương nhân nước ngoài cũng phát triển rầm rộ Việc buôn bán càng phát triển hơn khi nhà Thanh tạm thời đóng cửa các cảng khẩu Trung Quốc ở Đàng Ngoài, thuyền buôn Trung Quốc thường cập cảng Vân Đồn rồi vào phố Hiến hoặc đến Vị Hoàng (Nam Định) ở Đàng Trong, họ thường đến buôn tại các cảng Hội An (Quảng Nam), nước mặn (Bình Định), Bến Nghé (Gia Định) Lúc này các thuyền buôn của Trung Quốc không chỉ buôn bán với Việt Nam mà còn là cầu nối giữa các cảng ở vùng Đông á và Đông Nam á "Trong khoảng thời gian từ năm 1651 đến năm 1724 số chuyến các tàu buôn lớn (các loại tàu có trọng tải từ 150 - 200 tấn) của Trung Quốc chở hàng từ các cảng của Đại Việt đến cảng Nagadaki của Nhật Bản là 251 chuyến, trong đó có 52 chuyến từ các cảng Đàng Ngoài và 199 chuyến từ các cảng Đàng Trong” [30, 374] Cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, nhiều người Hoa đã ở hẳn các cảng thị của Đại Việt Theo thương nhân P.Poavrơ, thế kỷ XVIII "ở Hội An có đến

Trang 24

6000 Hoa kiều mà phần lớn là lái buôn giàu có, vừa mua bán hàng hoá, vừa làm môi giới cho khách phương Tây, giữ các chức vụ trong các tàu ti" [30, 374] ở phố Hiến, thương nhân người Hoa đã xây dựng ở đây một khu phố lớn có tên là Bắc Hoà với ba phần thượng, trung, hạ Cuối thế kỷ XVIII, khi các thương nhân ngoại quốc khác rút đi thì thương nhân Trung Quốc hầu như làm chủ thị trường Đại Việt Hàng hoá do thương nhân Trung Quốc mang đến là gấm vóc, đoạn, giấy, các loại đồ đồng, gốm sứ, bạc, kẽm, diêm sinh, khí giới và mua đi hồ tiêu, đường, gỗ quý, các loại hương liệu, yến sào, sừng tê, ngà voi, tơ tằm

Thế kỷ XIX, quan hệ kinh tế thương mại Việt - Trung không còn nhộn nhịp như trước đây bởi một mặt nhà Nguyễn chủ trương đóng cửa, không buôn bán với các nước phương Tây, khách thương còn lại chủ yếu là người Hoa, Xiêm, Mã Lai Mặt khác, khác với các triều đại trước, nhà Nguyễn độc quyền ngoại thương khá chặt và tổ chức các chuyến buôn và công cán

ở nước ngoài Vì thế thời gian 1831-1832, việc cử thuyền buôn đi buôn bán sang các nước Đông Nam á và Trung Quốc ngày càng nhiều Nhân hoạt động này, một số thương nhân giàu có cũng lén lút chở gạo, lâm thổ sản quý sang Quảng Đông buôn bán Hàng đem bán là gạo, đường, lâm thổ sản quý, hàng mua về là len, dạ, vũ khí, đạn dược

Quan hệ Việt - Trung trong thời kỳ từ đầu đến năm 1857 đã có một bước chuyển biến lớn, từ quan hệ giữa nước đô hộ và nước lệ thuộc chuyển sang quan hệ giữa hai nhà nước có chủ quyền, từ một nền kinh tế tự cung

tự cấp, phụ thuộc hoàn toàn vào nền kinh tế của nước đô hộ đã chuyển sang buôn bán, trao đổi hàng hoá bình đẳng với nhau Bước chuyển này đã đặt nền móng để xây dựng mối quan hệ Việt - Trung gắn bó, đoàn kết trong cuộc đấu tranh chống đế quốc, thực dân trong giai đoạn sau

1.2 Quan hệ việt nam - Trung Quốc thời kỳ pháp thuộc

Trang 25

1.2.1 Từ năm 1858 đến những năm 20 của thế kỷ XX

1.2.1.1 ảnh hưởng và giúp đỡ của những nhà cách mạng Trung Quốc đối với Việt Nam

Cuộc chiến tranh nha phiến năm 1840 bắt đầu thời kỳ lịch sử cận đại Trung Quốc Đất nước Trung Hoa rộng lớn bắt đầu bị đế quốc xâu xé, nô dịch Triều đình Mãn Thanh yếu hèn từ hiệp ước Nam Kinh năm 1842 đến hiệp ước Mã Quan 1895 từng bước bán rẻ Trung Quốc cho đế quốc Về hình thức, Trung Quốc vẫn là một nước có chủ quyền do triều đình Mãn Thanh đứng đầu, nhưng thực chất thì không còn là một nước hoàn toàn độc lập mà luôn chịu sức ép, phụ thuộc vào các nước phương Tây Còn Việt Nam, tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp ở bán đảo Sơn Trà ngày 1-9-

1858 đã mở đầu thời kỳ đen tối của đất nước Triều đình nhà Nguyễn cũng từng bước đầu hàng, cắt đất cho thực dân, còn thực dân Pháp thì ngày càng lấn tới và cuối cùng đã biến nước ta thành nước thuộc địa Những điểm tương đồng này đã làm cho hai nước có mối đồng cảm sâu sắc, gắn bó với nhau trong cuộc đấu tranh chống thực dân đế quốc

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong điều kiện chiến tranh và sự xâm nhập ngày càng mạnh mẽ của văn minh phương Tây, các chí sĩ yêu nước tiến bộ của Việt Nam khao khát tiếp cận với những tư tưởng mới, tìm tòi con đường đánh Pháp, giành độc lập dân tộc Trong giai đoạn đầu, khi ảnh hưởng tư tưởng dân chủ tư sản Pháp còn hạn chế và gián tiếp thì các sĩ phu Việt Nam hướng đến tư tưởng mới chủ yếu qua làn sóng cải lương ở Trung Quốc

Những trước tác của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu như Đại đồng

thư, ẩm băng thất văn tập có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng, tình cảm của sĩ

phu yêu nước Việt Nam Báo Thần chung tháng 11 - 1929 viết: "Tập ẩm

băng thất của Lương tiên sinh với sĩ phu ta chẳng khác chi thuốc hay với

Trang 26

người mang bệnh trầm kha Còn Trung Quốc hồn của Lương là tập sách vài

mươi trang mà thay đổi lòng người như chớp, một tập sách nói chuyện nước Tàu mà 20 triệu dân Nam ta phấn khởi"

Trong hoạt động thực tế, các chí sĩ yêu nước Việt Nam cũng nhận được sự gợi mở, giúp đỡ nhiệt tình của những nhà cách mạng Trung Quốc Khi Phan Bội Châu mới đặt chân đến Nhật Bản chưa có mối liên hệ nào thì Lương Khải Siêu là người giới thiệu ông với các chính khách Nhật Bản, đưa đến gặp những người có uy tín như Bá tước Đại Ôi, Tử tước Khuyển

Dưỡng Nghị Lương Khải Siêu còn đọc, đề tựa cuốn Việt Nam vong quốc

sử và in giúp cuốn này và cuốn Khuyến quốc tư trợ du học văn Cuộc gặp

gỡ của ông với Lương Khải Siêu, Tôn Trung Sơn trên đất Nhật có ảnh hưởng lớn đến những chuyển biến về tư tưởng, đường lối của ông sau này Lương Khải Siêu khuyên Phan Bội Châu nên viết nhiều bài văn nói lên thảm trạng của đất nước, mưu độc cướp nước diệt chủng của giặc để dư luận thế giới biết và bênh vực mình Mặt khác nên cổ động cho nhiều thanh niên xuất dương du học để chấn hưng dân khí, mở mang dân trí, chờ thời

cơ Phan tâm sự: "Nghe Lương nói, óc tôi mở rộng, mắt tôi sáng ra, nghĩ lại những tư tưởng cũng như hoạt động của tôi trước kia thật là lông bông, không có điều gì khả thủ" [10, 58] Sau này, chính Phan Bội Châu đã thừa nhận, do trao đổi ý kiến với nhiều đảng viên đảng cách mạng Trung Quốc nên ngày càng thấm nhuần tư tưởng dân chủ, tuy chưa mạnh dạn phát biểu nhưng trong lòng đã bắt đầu có ý muốn thay đổi Cách mạng Tân Hợi năm

1911 thắng lợi, Phan Bội Châu yên tâm từ bỏ tư tưởng quân chủ lập hiến, kêu gọi nhân dân gương cao ngọn cờ dân chủ cộng hoà

Sau khi bị chính phủ Nhật Bản trục xuất, hoạt động của những nhà yêu nước Việt Nam gặp muôn vàn khó khăn Lúc này, Quảng Châu có sức hút mạnh mẽ với thanh niên yêu nước Việt Nam Hơn 100 anh em từ trong nước, hoặc từ Thái Lan, hoặc từ các nơi khác ở Trung Quốc đã kéo đến

Trang 27

Quảng Đông chia nhau ở nhà bà Chu Bá Linh và nhà Lưu Vĩnh Phúc Tại nhà Lưu Vĩnh Phúc, Phan Bội Châu đã mở hội nghị toàn thể tuyên bố giải tán Duy Tân hội, thành lập Việt Nam Quang phục hội với tôn chỉ: đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục nước Việt Nam, thành lập nước cộng hoà dân quốc Việt Nam

Trong cuộc chiến đấu của nhân dân ta chống âm mưu thôn tính toàn

bộ nước ta của thực dân Pháp, quân Cờ đen của tướng Lưu Vĩnh Phúc đã góp phần không nhỏ vào việc ngăn chặn và làm chậm bước tiến xâm lược của thực dân Pháp Ngày 21-12-1873, quân Cờ đen đã phối hợp cùng với nhân dân Bắc Kỳ tiêu diệt đội quân của Gácniê và giết chết tên tướng này Sau đó, năm 1883 đội quân của ông lại cùng nhân dân ta tiêu diệt gần 100 tên Pháp trong đó có tướng Henri Riviere Trong Niên biểu, Phan Bội Châu

đã viết về Lưu Vĩnh Phúc: "Lúc giặc Pháp hai lần tấn công Hà Nội, nếu không có đám quân ông thì ta không có một giọt máu nào để rửa cổ giặc, xét ra ông cũng là một anh hùng"

1.2.1.2 Tình hữu nghị của nhân dân ta dành cho cuộc đấu tranh của nhân dân Trung Quốc

Trước tình cảnh bị các liệt cường xâu xé, tranh giành quyền lợi, khai thác tài nguyên của Trung Quốc, nhân dân ta cũng có mối đồng cảm sâu sắc Trong cuộc đấu tranh của nhân dân Trung Quốc, nhân dân Việt Nam từ các chí sĩ yêu nước cho đến những người dân bình thường đều ủng hộ, làm nhiều việc để giúp đỡ, cổ vũ

"Việt Nam thay vì dùng Trung Quốc như một căn cứ địa cho cuộc cách mạng, lại trở thành căn cứ địa cho cuộc cách mạng Trung Quốc vào những năm 1907, 1908" [3, 27] Từ năm 1900 đến năm 1908, Tôn Trung Sơn đã 5 lần đến Việt Nam tiến hành hoạt động và ở nước ta trong khoảng năm Trong thời gian này, Tôn Trung Sơn đã đến nhiều nơi, tiếp xúc rộng

Trang 28

rãi với Hoa kiều, tuyên truyền cách mạng, khơi dậy lòng yêu nước của Hoa kiều Năm 1907, ông đã quyết định đặt cơ quan Tổng bộ Đồng Minh hội tại

Hà Nội để trực tiếp chỉ huy kế hoạch quân sự của ba tỉnh Việt - Quế - Điền (tức Quảng Đông - Quảng Tây - Vân Nam) vì lúc bấy giờ Đồng Minh hội chủ trương phải tấn công vũ trang cướp chính quyền ở ba tỉnh này

Các cán bộ và hội viên Đồng Minh hội ở Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn

đã ủng hộ quân cách mạng bằng đủ mọi cách "Có người đã mở quán hàng bán đậu phụ, rau để lấy tiền ủng hộ mặt trận, có thương nhân rút tiền cổ phần trong "Đông Dương ngân hàng" để ủng hộ, có người thì đi quyên góp trong bà con Hoa kiều và cả trong nhân dân Việt Nam để ủng hộ quân cách mạng" [9, 231] Cùng với Hoa kiều, nhân dân ta cũng nhiệt tình hưởng ứng, coi việc quyên góp cho cách mạng là một việc nghĩa

Tôn Trung Sơn đã lấy Việt Nam làm cơ sở để phát động và chỉ huy mấy cuộc khởi nghĩa vũ trang Trận đánh Trấn Nam Quan tháng 10-1907 thất bại, quân cách mạng phải rút về địa phận Việt Nam, đóng quân ở dãy núi Con én chờ thời cơ hành động Lúc này, lương thực trở thành vấn đề lớn, nhân dân ta đã tìm mọi cách để giúp đỡ khiến đội quân này qua một thời gian nghỉ ngơi, 5 tháng sau lại xuất quân đánh Hà Khẩu

Bên cạnh những đóng góp của nhân dân ta thì phong trào cách mạng Việt Nam cũng có những đóng góp tích cực trong việc ủng hộ cách mạng Trung Quốc

Trong thời gian hoạt động ở Nhật Bản, ngoài hoạt động cho Duy Tân hội, Phan Bội Châu còn là uỷ viên biên tập phụ trách mục xã thuyết của

Vân Nam tạp chí, tờ báo của lưu học sinh Vân Nam ở Đông Kinh (tức Tôkyô) Những bài viết của Phan Bội Châu như Những dòng chép sau khi

đọc lời nói đầu, Chính sách thôn tính Trung Quốc của Nhật Bản được các

chí sĩ Trung Quốc đánh giá rất cao và cũng có tác dụng nhất định trong

Trang 29

việc thức tỉnh nhân dân Trung Quốc về cái hoạ mất nước, bày tỏ đồng cảm với tình cảnh của nhân dân Trung Quốc Ngoài ra, tác phẩm văn thơ của các chí sĩ Việt Nam khác như Nguyễn Thượng Hiền cũng đã góp phần tuyên truyền tư tưởng yêu nước, căm thù giặc, tư tưởng dân tộc, dân quyền, dân sinh của Trung Quốc

Sau khi sang Nhật, biết rõ không thể dựa vào Nhật nên Phan Bội Châu

đã chuyển hướng sang Trung Quốc và các dân tộc bị áp bức trên thế giới Phan Bội Châu cùng một số người Nhật, Trung Quốc, Triều Tiên… thành lập Hội Đông á đồng minh vào tháng 11-1908 Đồng thời, ông liên lạc với lưu học sinh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam lập Hội liên minh Điền - Quế - Việt Mặc dù Hội Đông á đồng minh chỉ tồn tại trong 5 tháng và Hội liên minh Điền - Quế - Việt chỉ tồn tại trong 3 tháng nhưng nó đã thể hiện ý thức đoàn kết với Trung Quốc để cùng đấu tranh chống kẻ thù chung của Phan Bội Châu

Phan Bội Châu cũng có đóng góp thiết thực cho cách mạng Trung Quốc, đó là việc ông đã tặng 500 khẩu súng mua bằng số tiền 2500 đồng từ trong nước gửi ra cho quân cách mạng Trung Quốc khi chuẩn bị tập kích hạ thành Quảng Đông Ngoài ra, một số hội viên Duy Tân hội sau khi phong trào Đông Du bị giải tán đã tiếp tục hoạt động và học tập ở Trung Quốc, nhiều người tham gia quân đội cách mạng của phái cách mạng, tiêu biểu là Nguyễn Quỳnh Lâm

Kể từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta cho đến những năm 20 của thế kỷ XX, cùng với những cuộc khởi nghĩa chống Pháp liên tiếp nổ ra thì hoạt động của các chí sĩ yêu nước cũng hết sức sôi nổi Trong giai đoạn này, tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước càng phát triển, các nhà cách mạng của hai dân tộc đã gắn bó, sát cánh bên nhau Họ đã nhận thức được mục tiêu đấu tranh chung là thực dân, đế quốc, nhận thức được tầm quan trọng và sức mạnh của đoàn kết giữa các dân tộc bị áp bức Vì thế, hoạt

Trang 30

động của họ không chỉ nhằm mục đích đấu tranh cho dân tộc mình mà còn luôn nghĩ đến nước láng giềng đồng cảnh Từ thập kỷ 20 đến năm 1945 của thế kỷ XX, sau khi ĐCS Trung Quốc ra đời và những nhà cách mạng tiếp thu chủ nghĩa Mác của Việt Nam, sau này là ĐCS Việt Nam đã nắm lấy sứ mệnh lịch sử thì quan hệ giữa hai nước, cách mạng hai nước càng gắn bó hơn Tình hữu nghị Việt - Trung vì thế cũng sâu sắc và lan toả hơn

1.2.2 Từ những năm 20 đến năm 1945 của thế kỷ XX

1.2.2.1 Hoạt động của những nhà cách mạng Việt Nam ở Trung Quốc

Nổi bật trong quan hệ Việt - Trung thời kỳ này là tình hữu nghị giữa những nhà cách mạng Việt Nam đi theo chủ nghĩa Mác và sau này là ĐCS Việt Nam với Đảng Cộng sản Trung Quốc

Quảng Châu là "đất thánh" của những người yêu nước Việt Nam Năm 1923, tổ chức đầu tiên lấy chủ nghĩa Mác làm tư tưởng chỉ đạo của Việt Nam, Tâm Tâm xã, đã ra đời ở đây Đầu tháng 11-1924, Nguyễn ái Quốc đến Quảng Châu Tại đây, Người mở lớp huấn luyện chính trị đặc biệt, trong thời gian 1925-1927 đã đào tạo được 3 khoá với tổng số gần 100 học viên Các đồng chí Chu Ân Lai, Trương Thái Lôi, Trần Diên Niên, Lý Phú Xuân, Bành Bái và một số đồng chí trong Ban lãnh đạo cuộc tổng bãi

công Hương Cảng - Quảng Châu cũng giảng bài cho lớp huấn luyện Tờ

Thanh niên, cơ quan ngôn luận của hội ra đời tại đây và các số báo được bí

mật đưa về Việt Nam nhờ sự giúp đỡ của Công đoàn thuỷ thủ do ĐCS Trung Quốc lãnh đạo, góp phần tích cực vào việc tuyên truyền chủ nghĩa Mác và động viên nhân dân ta đấu tranh chống Pháp

Trong thời gian hoạt động ở Trung Quốc từ năm 1924 đến năm 1941, Nguyễn ái Quốc đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các đảng viên ĐCS Trung Quốc cũng như những người dân lao động bình thường Khi tới Hồng Kông để tiến hành hợp nhất ba tổ chức cộng sản, Nguyễn ái Quốc được các đồng chí của ĐCS Trung Quốc giúp thuê nhà thuận lợi Ngày 2-3-

Trang 31

1930, Hội nghị thành lập ĐCS Việt Nam đã tổ chức thành công ở Cửu Long Hương Cảng Trong những chuyến đi từ Hồng Kông đến Thượng Hải chỉ đạo hoạt động của đảng ta trong Hoa kiều ở Thượng Hải, Người cũng được giúp đỡ rất nhiều Trong chuyến đi Thượng Hải năm 1933, nhờ Tống Khánh Linh đưa thư mà Người đã liên lạc được với tổ chức và các đồng chí của mình Sau này, Người đã nhắc lại chuyện này và nói: "Lúc đó, tiền lương trong túi sắp hết, nếu không có bà Tống Khánh Linh giúp đỡ thì thật không biết làm thế nào" [36, 42]

Quảng Châu và vùng biên giới Trung - Việt đã trở thành nơi che chở, đùm bọc các đồng chí Việt Nam Đầu những năm 40, nhà của Từ Vĩ Tam ở

Ba Mông cũng như nhà bố con Trương Đình Duy, Trương Kỳ Siêu ở Long Lâm, nhà Nông Hữu Phong ở Cừ Dương, nhà Trương Quốc Thuỵ ở Mạch

Ma, nhà bố con Lâm Bích Phong, Lâm Đại Phàm ở Vinh Lao là nơi trú chân tin cậy của những người cách mạng Việt Nam Giữa những người cách mạng Việt Nam và những người dân này có mối quan hệ thân thiết, có những người đã kết nghĩa anh em với người của ta như Từ Vĩ Tam, Vương Tích Cơ Nhiều lần vượt biên giới trở lại Tĩnh Tây năm 1941, Hồ Chí Minh thường ở nhà bố con Trương Đình Duy Trong chuyến đi Trung Quốc năm

1942, Người ở nhà Từ Vĩ Tam Chính trong cuộc gặp gỡ này, Dương Đào, một thanh niên chưa đầy 20 tuổi, đã nhận nhiệm vụ dẫn đường cho Hồ Chí Minh từ Tĩnh Tây đi Bình Mã, thủ phủ huyện Điền Đông - Quảng Tây Biết tin Hồ Chí Minh bị bắt, Vương Tích Cơ đến thăm và đưa cơm Qua Vương Tích Cơ, người gửi được một lá thư bằng tiếng Việt để báo tin cho Lê Quảng

Ba

Có thể nói, trong những ngày hoạt động của cách mạng Việt Nam ở Trung Quốc, những người dân vùng biên giới Việt - Trung đã có một vai trò hết sức quan trọng Những căn nhà của họ không chỉ là nơi trú ngụ mà còn là nơi liên lạc của những người cách mạng Việt Nam Họ không chỉ là

Trang 32

người che chở, đùm bọc mà còn là người bảo vệ, liên lạc của cách mạng Việt Nam Hoạt động của cách mạng Việt Nam ở Trung Quốc vì thế an toàn hơn, hiệu quả hơn

1.2.2.2 Tinh thần quốc tế vô sản của những người cộng sản Việt Nam

Nếu như trước đây, thế hệ cách mạng của Phan Bội Châu và Lương Khải Siêu, Tôn Trung Sơn đoàn kết giúp đỡ nhau vì thấy cùng cảnh ngộ thì sau này giữa Hồ Chí Minh với các đồng chí cách mạng Trung Quốc, giữa Đảng Cộng sản Trung Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam tình đoàn kết này

đã phát triển và nâng lên thành tinh thần quốc tế vô sản cao cả Với tinh thần này, trong suốt quá trình hoạt động của mình, bên cạnh những hoạt động cho cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn gắn kết và làm nhiều việc để ủng hộ cách mạng Trung Quốc Đảng Cộng sản Việt Nam sau khi

ra đời cũng nêu cao tinh thần đoàn kết quốc tế

Ngay từ năm 1922 khi còn hoạt động ở Pháp, Nguyễn ái Quốc đã nói với một đồng chí Trung Quốc về chuyện nên gia nhập Đảng cộng sản Pháp

và sau đó đã giới thiệu 5 đồng chí của Đảng Cộng sản Trung Quốc gia nhập Đảng Cộng sản Pháp Cũng trong thời gian này, Người đã có mối tình thắm thiết với các đồng chí Trung Quốc như Chu Ân Lai Sau này, khi thăm Việt Nam, Thủ tướng Chu Ân Lai đã nói: "Hồ Chủ tịch là người dẫn đường cho tôi Hồi đó, Hồ Chủ tịch đã là một người mác xít thực thụ, còn tôi lúc đó mới bắt đầu tham gia Đảng Cộng sản, Hồ Chủ tịch là anh cả của tôi" [33,23] Trong quá trình hoạt động cách mạng, bên cạnh việc gây dựng, chỉ đạo phong trào cách mạng Việt Nam, Nguyễn ái Quốc vừa chú trọng đến việc tuyên truyền, ủng hộ cách mạng Trung Quốc, vừa trực tiếp tham gia vào cuộc chiến tranh chống Nhật của nhân dân Trung Quốc Những bài báo

của Người như Trung Quốc và thanh niên Trung Quốc, Chính sách thực

dân Anh, Tình cảnh của nông dân Trung Quốc… có tác dụng rất lớn trong

Trang 33

việc đả kích bọn đế quốc mở rộng âm mưu xâm lược Trung Quốc, cổ vũ nhân dân Trung Quốc trong cuộc đấu tranh chống thực dân Tháng 7-1925, Người cùng với một số đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc thành lập Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức, một tổ chức có tính chất quốc tế bao gồm Trung Quốc, ấn Độ, Triều Tiên, Việt Nam Khi hội này thành lập cũng

là lúc cuộc Tổng bãi công Hương Cảng - Quảng Châu bùng nổ, Hồ Chí Minh lại dấn thân vào dòng thác cách mạng Trung Quốc Được tin Uỷ ban bãi công tuyển đội viên tuyên truyền, Hồ Chí Minh đã trực tiếp đến yêu cầu tham gia với tư cách là hội viên Hội liên hiệp và đăng ký bài diễn thuyết

với nhan đề: Mối quan hệ giữa công nhân Trung Quốc với các dân tộc bị

áp bức, cùng sự liên hợp tất yếu để đánh đổ bọn đế quốc Có thể thấy, mặc

dù bận nhiều công việc nhưng Hồ Chí Minh luôn kề vai sát cánh với các đồng chí Trung Quốc, cống hiến sức mình cho đại cách mạng Trung Quốc, ủng hộ cách mạng Trung Quốc bằng hành động cụ thể Đó chính là thể hiện sinh động của tinh thần quốc tế vô sản

Những nhà cách mạng Việt Nam hoạt động trên đất Trung Quốc cũng luôn nêu cao tinh thần quốc tế vô sản Khi cuộc khởi nghĩa Quảng Châu bùng nổ tháng 12-1927, hơn 30 thanh niên Việt Nam đang theo học ở trường sĩ quan Hoàng Phố đã hăng hái tham gia chiến đấu chống bọn phản động Quốc Dân đảng Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng tham gia trung đoàn giáo dục do Diệp Kiếm Anh lãnh đạo 8 thiếu niên Việt Nam đang theo học

ở trường trung học thuộc trường Đại học Trung Sơn cũng hăng hái tham gia công tác tuyên truyền, hô khẩu hiệu, dán biểu ngữ, truyền đơn

Trong cuộc kháng chiến chống Nhật của nhân dân Trung Quốc, Đảng

Cộng sản Việt Nam cũng làm nhiều việc thiết thực Mục Đông Dương và

Trung Quốc trong Báo cáo gửi Ban chấp hành Quốc tế cộng sản vào cuối

tháng 7-1939 của Đảng ta đã nêu lên những việc làm cụ thể như đầu năm

Trang 34

1939 đã tổ chức một hội chợ lớn để giúp đỡ các nạn nhân chiến tranh của Trung Quốc Những người cộng sản đưa ra khẩu hiệu "giúp đỡ Trung Quốc" bằng cách quyên tiền, gửi thư động viên Cũng để ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân Trung Quốc, những người cộng sản nước ta còn

đưa ra khẩu hiệu tẩy chay hàng Nhật, đặt ra bài hát Giúp Trung Quốc tức là

giúp mình Nhiều nơi đã tổ chức các buổi biểu diễn ban đêm để ủng hộ

Vào tháng 3-1935, khi thực dân Pháp điều động quân đội để đàn áp cuộc khởi nghĩa ở Tĩnh Tây, Đảng ta đã phát truyền đơn, kêu gọi quần chúng đứng dậy đấu tranh chống can thiệp vũ trang và bảo vệ các Xô - viết Tàu Trong cuộc đấu tranh chống thực dân đế quốc, hai Đảng Cộng sản luôn đoàn kết chặt chẽ, ủng hộ lẫn nhau Đây cũng là một trong những đặc điểm nổi bật của quan hệ Việt - Trung giai đoạn này Đảng ta luôn đặt cuộc đấu tranh của mình trong mối liên hệ chung với cách mạng Trung Quốc, luôn khẳng định sự ảnh hưởng lẫn nhau của cách mạng hai nước, coi việc đấu tranh và ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Trung Quốc là một trong những nhiệm vụ cần thiết của mình

Có thể rút ra một số nhận xét về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc thời kỳ này:

Nước ta bị phong kiến phương Bắc đô hộ 10 thế kỷ Trong 10 thế kỷ này, quan hệ hai nước là đô hộ và lệ thuộc Phong kiến phương Bắc đã áp dụng những biện pháp cai trị hà khắc về chính trị và tiến hành đồng hoá về văn hoá, phong tục tập quán Các phong trào khởi nghĩa cũng như chống đồng hoá của dân tộc ta luôn diễn ra mạnh mẽ, quyết liệt và cuối cùng đã giành được độc lập chủ quyền

Sau khi giành được độc lập, quan hệ giữa hai nước là quan hệ giữa một nước lớn và một nước nhỏ Các triều đại phong kiến Việt Nam triều cống, xin sắc phong, luôn cố gắng giữ gìn để không xảy ra chiến tranh Sau

Trang 35

mỗi cuộc chiến tranh chống xâm lược của phong kiến phương Bắc, nước ta lại tiếp tục đặt quan hệ giao hảo bình thường

Bước vào thời cận đại, cùng với sự xâm lược của chủ nghĩa đế quốc, nhân dân hai nước cùng chung cảnh ngộ, cùng giúp đỡ, ủng hộ lẫn nhau Quan hệ hai nước đã chuyển từ quan hệ đô hộ - bị trị đến giai đoạn triều cống giữa một nước nhỏ với nước lớn, rồi đến những năm tháng cùng cảnh ngộ bị đô hộ lệ thuộc và cuối cùng là cùng chung lý tưởng, cùng chung mục đích, sát cánh nhau trong cuộc đấu tranh chống đế quốc, thực dân, giành độc lập dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Theo dòng chảy này, nhân dân ta đã đi qua những năm tháng đô hộ đầy khổ cực, đi qua những cuộc chiến tranh hao người tốn của chống xâm lược của phong kiến phương Bắc và đã gặp nhân dân Trung Quốc trong cùng một cảnh ngộ vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, để từ đó xây dựng mối quan hệ đồng cam cộng khổ, cùng chia sẻ ủng hộ lẫn nhau Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đã qua từ lâu, nhưng đến nay nói về cuộc đấu tranh của nhân dân ta trong buổi đầu chống Pháp, người ta không thể không nhắc đến sự anh dũng của tướng Lưu Vĩnh Phúc cùng đội quân Cờ đen Người ta không thể không nhắc đến mối quan hệ gắn bó của thế hệ cách mạng đầu tiên nước ta với các nhà cách mạng Trung Quốc Sự phát triển của phong trào cách mạng Việt Nam gắn liền với mảnh đất Quảng Châu, với vùng biên giới Việt - Trung và nhiều nơi khác trên lãnh thổ Trung Quốc Trung Quốc không chỉ che chở, đùm bọc những thế hệ cách mạng của Việt Nam mà còn là nơi ra đời của tổ chức lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm đường lối chỉ đạo đầu tiên của Việt Nam là Tâm Tâm xã và Việt Nam Quang phục hội, đánh dấu bước phát triển trong tư tưởng của Phan Bội Châu, của Việt Nam Quốc Dân đảng, của Đảng Cộng sản Việt Nam Trung Quốc cũng là nơi chúng ta đã tổ chức các lớp đào tạo những cán bộ cách mạng theo chủ nghĩa cộng sản đầu tiên, để từ đó họ toả về nước xây dựng

Trang 36

cơ sở, lãnh đạo phong trào đấu tranh trong nước, cũng là nơi nương náu của những người làm cách mạng nước ta trong lúc bị đàn áp, khủng bố Trong những năm tháng bôn ba ở nước ngoài, Hồ Chí Minh đã lưu lại ở Trung Quốc lâu nhất, góp phần chỉ đạo sát sao phong trào cách mạng trong nước Còn nhiều nơi trên đất nước ta từ Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn cũng in đậm dấu chân của Tôn Trung Sơn, cũng là nơi đặt Tổng bộ của Đồng Minh hội để từ đó chỉ đạo những cuộc đấu tranh vũ trang của Quốc Dân đảng ở vùng biên giới Việt - Trung Những người dân Việt Nam cùng với Hoa kiều đã che chở để hoạt động của Tôn Trung Sơn được thuận lợi trong điều kiện bị thực dân Pháp giám sát nghiêm ngặt và chịu sự theo dõi của Mãn Thanh Cuộc khởi nghĩa Quảng Châu cũng có nhiều chiến sĩ cách mạng Việt Nam đã tham gia Hồ Chí Minh, một người mang trong mình tinh thần quốc tế vô sản cao cả đóng góp nhiều cho cuộc đất tranh chống Nhật của nhân dân Trung Quốc Sau này, sự gắn bó giữa hai Đảng Cộng sản càng làm mối quan hệ này thêm khăng khít Tình hữu nghị giữa nhân dân, giữa những người hoạt động cách mạng của hai nước đã đặt nền móng để quan

hệ hai nước phát triển trong giai đoạn sau

Chương 2 Quan hệ Việt - Trung từ năm 1945 đến năm 1949

2.1 Tình hình Việt Nam, Trung Quốc và thế giới

2.1.1 Tình hình Việt Nam

Ngày 2-9-1945, tại quảng trường Ba Đình, Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, tuyên bố với thế giới “nước Việt Nam có quyền hưởng

tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do độc lập” Từ một nước thuộc địa, nước ta trở thành một nước độc lập với chính thể dân chủ cộng hoà, nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã vươn dậy, trở thành người tự

Trang 37

do Kỷ nguyên độc lập, tự do bắt đầu trên đất nước ta Tuy nhiên, ngay từ khi vừa ra đời, nước ta đã ở trong tình trạng hết sức nguy ngập, khó khăn chồng chất, thù trong chống phá, giặc ngoài xâm lược, đe doạ

ở miền Bắc, ngày 28.8.1945, với danh nghĩa đồng minh giải giáp quân Nhật, những toán quân đầu tiên của tướng Lư Hán đã vượt biên giới Việt - Trung và đầu tháng 9 tới Hà Nội 20 vạn quân Tưởng vào đóng từ bắc vĩ tuyến 16 đến biên giới Việt - Trung với mục đích tiêu diệt Đảng ta, phá tan Việt Minh và giúp bọn phản động Việt Nam đánh đổ chính quyền nhân dân

để lập một chính phủ phản động làm tay sai cho chúng Chính vì vậy, đội quân ô hợp này đã ra sức cướp bóc, nhũng nhiễu, đe doạ nghiêm trọng cả kinh tế lẫn chủ quyền nước ta Quân Tưởng tìm mọi cách lật đổ chính quyền cách mạng, tạo điều kiện cho lực lượng tay sai lên nắm quyền Bộ chỉ huy quân đội Quốc Dân đảng Trung Hoa đã áp đặt cho Việt Nam chế

độ trưng thu lương thực để phục vụ cho quân đội của họ Trong khi nhân dân ta đang đứng trước nạn đói, tướng Lư Hán yêu cầu mỗi tháng Chính phủ Việt Nam phải cung cấp cho quân đội Tưởng 1 vạn tấn gạo Tướng này còn buộc Việt Nam phải chấp nhận cho quân đội Trung Hoa được sử dụng những đồng tiền đã hoàn toàn mất giá trị của họ Đây thực sự là mối hoạ lớn,

đe doạ chính quyền non trẻ mới thành lập của nước ta

ở miền Nam, cũng theo hiệp ước Postdam, quân Anh vào để tước vũ khí quân đội Nhật Nhưng điều nguy hiểm hơn là họ cho 1500 lính Pháp đi theo, giúp Pháp trở lại xâm lược Việt Nam Được sự ủng hộ của quân đội Anh, ngay trong ngày 2.9.1945, quân Pháp đã nổ súng giết chết hàng chục đồng bào ta đang mít tinh mừng ngày độc lập ở Sài Gòn Ngày 23.9.1945, Pháp tiến công Sài Gòn, mở đầu cuộc xâm lược nước ta lần thứ hai Như vậy là chỉ sau ba tuần tuyên bố độc lập, nước ta lại bước vào một cuộc chiến tranh mới Có thể nói “khó khăn lớn nhất lúc này là các quân đội nước ngoài từ bốn phương cùng dồn dập kéo tới Kẻ ở gần, kẻ ở xa, khác

Trang 38

nhau về màu da tiếng nói nhưng rất giống nhau về một dã tâm muốn thôn tính đất nước chúng ta, muốn đẩy chúng ta trở về cuộc sống nô lệ” [13, 37] Cùng với sự hiện diện và hoạt động của quân Tưởng, Anh, Pháp, Nhật trên đất nước ta, tay sai của chúng như Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Việt cách), Việt Nam Quốc Dân đảng (Việt Quốc) ráo riết hoạt động, âm mưu lật đổ chính quyền, chống phá cách mạng, đòi chia quyền lãnh đạo

Họ đòi Việt Minh phải rút khỏi chính phủ, đòi Hồ Chí Minh phải từ chức, đòi giải tán quân đội Không được đáp ứng như ý, họ tổ chức ám sát và bắt cóc cán bộ Việt Minh, điển hình là vụ Ôn Như Hầu Những hành động chống phá này làm tình hình càng thêm rối ren, thách thức và đe doạ chính quyền Thù trong giặc ngoài đe doạ còn tình hình trong nước cũng hết sức khó khăn Nền kinh tế Việt Nam kiệt quệ, tiêu điều, 2 triệu người đã chết đói bởi hậu quả chính sách cai trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật Tiếp

đó, nạn lụt đã phá hoại 8 tỉnh sản xuất lúa gạo càng làm cho tình hình trầm trọng hơn Những người thoát chết đói nay cũng bị đói Nạn lụt này và hạn hán năm 1945 cùng với sản lượng lúa tháng 5-1945 chỉ bằng 50% sản lượng trung bình hàng năm thì nhân dân ta đứng trước một nạn đói mới Các ngành kinh tế đình trệ, bế tắc, tài chính quốc gia trống rỗng Sau khi cướp chính quyền, chúng ta không cướp được kho bạc Đông Dương, trong kho bạc trung ương của Pháp chỉ còn 1.230.720 đồng bạc Đông Dương, trong đó có tới 586.000 đồng là tiền rách Các loại tiền mất giá của quân đội Tưởng lưu hành trên thị trường càng làm tài chính nước ta khó khăn hơn

Văn hoá xã hội cũng đặt ra những nhiệm vụ cấp bách bởi “chế độ thực dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện Nó đã dùng mọi thủ đoạn hòng hủ hoá dân tộc chúng ta bằng những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham ô và những thói xấu khác”[7, 3] Hậu quả là trường học không phát

Trang 39

triển, mạng lưới thuế thân, chế độ phân bổ rượu ty và thuốc phiện đến mọi ngõ ngách Trên 90% dân mù chữ và tệ nạn xã hội như nạn nghiện rượu, nghiện thuốc phiện tràn lan

Thêm nữa, lúc này nước ta bị phong tỏa bốn bề Tất cả các sân bay, hải cảng và nhiều cửa khẩu dọc biên giới đất liền vẫn do Pháp kiểm soát Chính phủ Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn trong việc giao thông liên lạc với nước ngoài

Về ngoại giao, như Hội nghị toàn quốc của Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 14-15 tháng 5-1945 nhận xét: “Tuy chúng ta đã cố gắng nhiều, nhưng mãi đến giờ, đối với Tàu vẫn chưa có kết quả tốt; đối với các nước Đồng minh khác, tuy việc ngoại giao có tiến, nhưng cách mạng Việt Nam vẫn chưa giành được một địa vị trên trường quốc tế”[6, 427] Một cường quốc đồng minh là Liên Xô thì lúc này còn quá xa và chưa tỏ thái độ gì đối với chính phủ Việt Nam Sau khi nước ta thành lập, Hồ Chí Minh đã hai lần gửi điện thông báo (lần 1 ngày 22-9-1945, lần 2 ngày 21-10-1945) nhưng đều không có hồi âm

Chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng ngày 9-3-1946 nhận định: “Con thuyền cách mạng đang luồn những mỏm đá ghềnh để bước tới” còn trong báo cáo của Pignon (Pinhông) gửi Cao uỷ D’Argenlieu (Đacgiăngliơ) ngày 28-10-1945, viên cố vấn chính trị của Cao uỷ Pháp ở Đông Dương đã nhận xét: Chính quyền cách mạng Việt Nam ra đời “không đồng minh, không tiền, hầu như không có vũ khí” Nhận xét này đã khái quát một cách đầy đủ, chính xác hoàn cảnh của nước ta lúc bấy giờ

Như vậy ngay khi mới ra đời, chính quyền cách mạng mới đã đứng trước những khó khăn và thách thức to lớn Chống giặc đói làm cho dân sống, chống giặc dốt, giáo dục lại nhân dân và chống giặc ngoại xâm là nhiệm vụ nặng nề cùng lúc của chính phủ nước ta Bên cạnh đó, chúng ta

Trang 40

phải tiến hành xây dựng hệ thống chính quyền hợp hiến thông qua tổ chức tổng tuyển cử, phải xây dựng nền kinh tế, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng 16 tháng sau cách mạng kể từ khi tuyên bố thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà cho đến kháng chiến toàn quốc tháng 12-1946 là thời điểm thử thách tài ứng phó của chính phủ mới Chính phủ vừa phải giải quyết những vấn đề cấp bách trong nước, vừa phải mềm dẻo, nhân nhượng với kẻ thù để hoà hoãn, chuẩn bị về mọi mặt kinh tế, chính trị, quân sự để

đủ sức bước vào một cuộc chiến không cân sức Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, nước ta thực hiện hai nhiệm vụ song song đó là kháng chiến và kiến quốc Nhân dân ta bước vào cuộc chiến không cân sức bằng tinh thần

tự lực cánh sinh

2.1.2 Tình hình Trung Quốc

Ngày 15-8-1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng vô điều kiện Ngày

2-9, văn kiện Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện các nước đồng minh đã được

ký kết Cuộc kháng chiến chống Nhật của nhân dân Trung Quốc hơn tám năm, từ 7-7-1937 đã kết thúc thắng lợi Nhân dân Trung Quốc được giải phóng khỏi ách chiếm đóng và thống trị tàn bạo của chủ nghĩa quân phiệt Nhật nhưng một vấn đề trọng đại đặt ra ngay lúc này là đi theo con đường hoà bình, hoà hợp dân tộc và dân chủ tiến bộ hay đi theo con đường nội chiến, chia rẽ, độc tài? Trả lời câu hỏi này như thế nào gắn liền với vận mệnh của dân tộc Trung Hoa Cuộc kháng chiến vừa kết thúc nhưng ở Trung Quốc đã xuất hiện mầm mống của một cuộc chiến mới Đảng Cộng sản Trung Quốc chủ trương vừa cố gắng tranh thủ hoà bình, phản đối nội chiến, vừa chuẩn bị chiến tranh, kiên quyết chiến đấu bảo vệ thành quả đấu tranh của nhân dân Trong khi đó, Quốc Dân đảng có Mỹ làm hậu thuẫn, được ủng hộ và giúp đỡ trong việc giải giáp quân Nhật, viện trợ tài chính Ngay sau khi Nhật Bản đầu hàng, Tưởng Giới Thạch cho gấp rút vận chuyển quân lính đến khu mới giải phóng, ngăn cản Quân giải phóng tiếp

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường tới Điện Biên Phủ
Nhà XB: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân
13. Võ Nguyên Giáp, Những năm tháng không thể nào quên, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, 1970 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những năm tháng không thể nào quên
Nhà XB: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân
14. Nguyễn Minh Hằng chủ biên, Buôn bán qua biên giới Việt - Trung, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Buôn bán qua biên giới Việt - Trung
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
16. Đặng Hoà, Bác Hồ những năm tháng ở nước ngoài, Trung tâm Unesco bảo tồn và phát triển văn hoá dân tộc Việt Nam, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bác Hồ những năm tháng ở nước ngoài
17. Francois Joyaux, Trung Quốc với việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, 1979 (bản đánh máy tại Thư viện Quân đội) 18. Đinh Xuân Lâm chủ biên, Đại cương lịch sử Việt Nam, tập 2, Nhà xuất bản Giáo dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử Việt Nam
Tác giả: Đinh Xuân Lâm
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1998
19. Vũ Hồng Lâm, Lịch sử quan hệ Việt - Trung nhìn từ góc độ đại chiến lược, Tạp chí thời đại mới số 2, 7/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử quan hệ Việt - Trung nhìn từ góc độ đại chiến lượ
26. Archimedes Patti, Tại sao Việt Nam? Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tại sao Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Đà Nẵng
27. Đặng Phong, Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-1954, tập 1, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-1954
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
28. Nguyễn Huy Quý, Lịch sử cận đại Trung Quốc, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử cận đại Trung Quốc
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
29. Nguyễn Huy Quý, Lịch sử hiện đại Trung Quốc, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử hiện đại Trung Quốc
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
30. Trương Hữu Quýnh chủ biên, Đại cương lịch sử Việt Nam tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
31. Tổng cục Hậu cần, Công tác đảm bảo hậu cần trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác đảm bảo hậu cần trong chiến dịch Điện Biên Phủ
Nhà XB: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân
32. Tổng Quân uỷ và Bộ Tư lệnh, Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của trung ương Đảng, tập 1, 1963 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của trung ương Đảng
33. Hoàng Tranh, Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nhà xuất bản Sao mới, 1990 34. Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc, Cách mạng Tân Hợi - 90 năm sau nhìn lại, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh với Trung Quốc", Nhà xuất bản Sao mới, 1990 34. Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc, "Cách mạng Tân Hợi - 90 năm sau nhìn lại
Nhà XB: Nhà xuất bản Sao mới
35. Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc, Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc những sự kiện 1945-1960, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc những sự kiện 1945-1960
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
36. Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
37. Viện Lịch sử quân sự, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954, tập 1, NXB Quân đội nhân dân, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
38. Viện KHXH Việt Nam, 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ và sự nghiệp đổi mới phát triển đất nước, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2004 39. Viện Nghiên cứu Trung Quốc, Tăng cường hợp tác, cùng nhau phát triển, hướng tới tương lai, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2005 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w