Tôi hy vọn g nghiên cứu của chúng tôi sẽ góp một phần vào sự hiểu biết về gia đình người Việt nói chung và đặc biệt, về văn hoá ứng xử trong gia đình xoay quanh m ối quan hệ rất nhạy cảm
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 33 1 2 V ai trò c ủ a g ia đìn h trong xã hội h ó a c m gái
3 1 3 V ai trò c ộ n g đ ổ n g trong quá trình xã hội h ó a e m gái
3 1 4 H ệ ih ố n g xã h ộ i h ó a n g o à i g ia đình
3 2 Q U A N N I Ệ M V À T H Ụ C H À N H X Ã H Ộ I H Ó A E M G Á I
T R O N G G IA Đ Ì N H V À C Ộ N G Đ ồ N G
3 2 1 Đ ạ o đức của người c o n gái
3 2 2 C ô n g v iệ c của c o n gái
Trang 43 3 Q U A N N I Ệ M V Ề N G U Ồ I vợ L Ý T Ư Ở N G
3 3 1 Q u an n iệ m c ủ a n a m thanh n iê n
3 3 2 Q u an n iệ m c ủ a n ữ thanh n iê n
Trang 5CHUƠNG 1 VẤN ĐỀ NÀNG DÂU - MẸ CHồNG TRONG NGHIÊN CỨU GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI
1.1 GIỚI T H IỆ U
1 1 1 N h ữ n g v ấ n đ c c h u n g
H ô n nhân, g ia đình và d òn y h ọ vốn được x c m là m ộ t chủ đồ n g h iên cứu khá k in h đ iển trong dân tộc h ọ c và thường được n h iề u sin h viên , n gh iên cứu
s in h và c á c nhà khoa h ọ c c h ọ n làm đề tài n g h iê n cứu C h o đến n ay dã c ó
n h iề u c ô n g trình k h o a h ọ c về g ia đình ngư ời V iệ t đ ư ợ c c ô n g bố T h ế nhưng trong s ố c á c n g h iê n cứu v ề gia đình V iệ t N a m , c h ú n g ta th ấy hầu như c ò n rất
ít c á c n g h iê n cứu x e m xốt những gì d iễn ra trong n ộ i b ộ g ia đình, phân tích và
m ổ x ẻ c á c q u a n h ệ bên trong của g ia đình Chính vì thế, nh ữ n g th ôn g tin liên
q u a n đ ế n q u an h ệ giữ a c á c thành v iê n trong g ia đ ìn h , đ ế n thân phận và tiếng
n ó i củ a ngư ời phụ nữ, vấn đề phán phối q u y ề n lực và kin h t ế trong nội bộ g ia đìn h ít đ ư ợ c quan tâm Thời gia n gần đây, vấn đồ g i a đình đ a n g trở thành m ối
qu a n tâm h à n g đầu của xã hội d o vị trí quan trọng và nh ữ n g thách thức về sự
tổ n tại, b iế n đổi c ủ a n ó trong quá trình c ô n g n g h iệ p h ó a , h iện đại hóa G ia
đ ìn h là trung tâm văn hóa, là nơi những giá trị tinh thần và truyền th ống của
m ỗ i g ia đìn h, d ò n g h ọ và c ộ n g đ ồ n g được g iữ g ìn , phát triển và truyền từ th ế
hệ n ày sa n g th ố h ệ k h á c T u y nh iên , n g h iên cứu v ề g ia đình ở V iệ t N a m trong
nh ữ n g n ă m qua tập trung chủ y ế u v à o c á c vấn đề n h ư cấ u trúc, ch ứ c năn g, quy
m ô và hiến đ ổ i c ủ a g ia đình N g o ạ i trừ vấn đề đ ịa vị và vai trò củ a người phụ
nữ trong g ia đ ìn h gần đày đã thu hút sự chú ý của c á c nhà n g h iê n cứu, rõ ràng
qu an h ệ giữ a c á c thành v iên trong g ia đình, trong đ ó , m ố i quan hệ đặc biệt và
n h ậ y c ả m g iữ a m ẹ c h ồ n g và c o n dâu trong cá c g i a đ ìn h người V iệ t c ò n chưa nhận đ ư ợ c sự quan tâm thích đ án g của c á c nhà n g h iê n cứu Chính vì vậy, luận
1
Trang 6văn này là m ột c ố gắng để góp phần bổ khuyết vào các nghiên cứu về gia dinh
và phụ nữ V iệt N am
N gh iên cứu của chúng tỏi chủ yếu dựa trên các quan sát và phân tích dân tộc học đê tìm hiểu các cung cách ứng xử giữa nàng dâu và mẹ chồng cũng như với các thành viên khác trong nhà chồng Các quan sát và phân tích của chúng tỏi được tập trung vào bối cảnh lịch sử và vãn hóa cụ thể của một làng c ổ truyền khá nổi tiếng ở Hà Tây, làng La Cả và c ố gắng cấu trúc lại các
m ối quan hệ giữa nàng dâu và m ẹ ch ồn g, những căn n g u y ên của sự xung đột
và sự thay đổi của m ối quan hệ này trong mấy thập kỷ qua.
Có thể nói m ố i quan hệ gia đình phản ánh nhiều mặt đời sống kinh tế,
xã hội, văn hóa, tâm lý, tôn g iáo và tín ngưỡng của tộc người và địa phương Trong đó, quan hệ nàng dâu - m ẹ ch ồ n g đã quy tụ và phản ánh nhiều đặc điểm
về m ối quan hệ củ a gia đình người V iệt ở đồn g bằng sô n g H ổng Chính vì th ế nghiên cứu m ố i quan hệ nàng dâu - m ẹ ch ồn g sẽ góp phần hiểu rõ hơn một khía cạnh trong văn hóa ứng xử của đời sống gia đình người V iệt để nhận ra những mâu thuẫn, xu n g đột, căn ngu yên , cả những nét hay, nét đẹp và cách giải quyết x u n g đột để chung sống Nhiều quy tấc ứng x ử đã trở thành thói quen, tạo nên phản xạ tự nhiên trong quan hệ gia đình sẽ được quan sát và phân tích đ ể hiểu v ề quan hệ nàng dâu - mẹ chổng.
Tuy n h iên , quan hệ nàng dâu - m ẹ ch ổ n g và với nhà ch ồn g là một mối quan hệ d ặ c b iệt. Các thành viên trong gia đình được xây dựng trên c ơ sở huyết thống, bén vững và không thay đổi Trong khi đó, người con dâu với tư cách là m ột thành viên trong gia đình nhà chổng lại có được trên cơ sở của hổn nhân, và do đó, sự xuất hiện của nhAn vật này trong không gian văn hoá của gia đình nhà c h ổ n g thường tạo nên nhiều vấn đề phải quan tâm, đặc biệt là
cá c hành vi ứng x ử của các thành viên trong gia đình Trong lịch sử và cho đến tận hiện tại, quan hệ nàng dâu - m ẹ ch ồn g đã trở thành m ột chủ đề nhạy cảm
Trang 7(lược phản ánh trong kho tàng cổ tích, thành ngữ, tục ngữ, ca dao và cả trong vãn học Các c u ộ c bàn thảo để xây dựng gia đình văn hóa mới cũng thường chú ý đến m ối quan hệ tế nhị này Tôi hy vọn g nghiên cứu của chúng tôi sẽ góp một phần vào sự hiểu biết về gia đình người Việt nói chung và đặc biệt, về văn hoá ứng xử trong gia đình xoay quanh m ối quan hệ rất nhạy cảm giữa nàng dâu và mẹ ch ổ n g , một vấn đề m à như chúng tôi đã nói ở phần trên, còn rất ít được nghiên cứu.
1.1.2 Lịch s ử vấn để, nội dung và các giả thiết ỉỉghiên cứu
Trong s ố những học giả sớm để ý phân tích thân phân người phụ nữ trong gia đình V iệt nam và các m ối quan hệ trong gia đình, chúng ta phải kể đến Đ à o Duy Anil Trong một nghiên cứu từ khá sớm của ông, V iệt nam V ăn ìioá Sử cương ( 1} , Đ à o D uy Anh đã dành một chương quan trọng để phân tích
về gia tộc, gia đình, và đặc biệt là “địa vị của đàn bà” trong hệ thống cấu trúc phức tạp của huyết thống và xã hội người Việt Tuy nhiên, trong bối cảnh của
xã hội V iệt N am hồi nửa đầu thế kỷ 2 0, chúng ta thấy Đ à o D uy Anh chủ yếu nhấn mạnh đến thân phận lệ thuộc của phụ nữ trong các gia đình như một truyền thống và lẻ giáo phổ biến đã ăn sâu bén rễ vào xã hội Việt Nam, không
dễ gì thay đổi được Những phân tích dù ngắn ngủi của Đ à o D uy Anh trong nghiên cứu nói trên và ở một vài tài liệu khác, vẫn thường được nhiều nhà nghiên cứu sau này về gia đình trích dẫn và tham khảo Có thể nói Đ ào D u y Anh đã góp phần đặt những cơ sở ban đầu cho các nghiên cứu về gia đình sau này, đặc biệt là vấn đề thân phận lịch sử của phụ nữ trong gia đình người Việt Tuy nhiên, các phân tích của ô n g lúc đó chủ yếu dựa trên cơ sở các quy định của hệ thống pháp luật trong lịch sử và lý tưởng nho g iáo về gia đình trong khi
cò n thiếu những quan sát thực tế và thông tin thu thập được từ nghiên cứu thực địa Thực tế nghiên cứu ở Việt N am đã ch o thấy c ó m ột khoảng cách nhất định giữa quy định của pháp luật nhà nước phong kiến, của lý tưởng nho g iá o
3
Trang 8vốn chỉ phổ biến trong các tầng lớp trcn của xã hội và các thực hành của phong tục và truyền thống ở cấp cơ sở làng xã.
Trong một thời gian vài thập kỷ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc,
cu ộc cách mạng văn hoá tư tưởng - một trong ba c u ộ c cách mạng chủ chốt thời bấy giờ, được phát đ ộn g rộng rãi, chúng ta thấy nhà nước xã hội chủ nghĩa đặc biệt quan tám đến việc đưa một lối sốn g mới vào gia đình và xã hội Việt Nam Từ đó, phong trào xây dựng nếp sốn g mới và gia đình văn hoá mới được phát động Đ iều đáng chú ý là trong những thập kỷ này, người la chưa quan tâm đúng mức đến v iệc cần thiết phải có những nghiên cứu căn bản và thấu đáo về cấu trúc gia đình và các mối quan hệ trong gia đình làm cơ sở cho các chính sách Những quy định về gia đình văn hoá mới trong thời kỳ đó còn nặng về áp đặt theo suy ngh ĩ chủ quan của người làm chính sách.
V ào khoảng cuối thập kỷ 80, sau khi đường lối “đổi m ớ i” kinh tế xã hội được chấp nhận, chún g ta thấy xuất hiện nhiều nghiên cứu chuyên sâu hơn về chủ đề gia đình Trong thời gian này, một trong những chương trình nghiên cứu quy m ô về gia đình V iệt N a m đã được V iệ n Xã hội học chủ trì với sự tham gia của nhiều nhà ngh iên cứu từ các chuyên ngành khác nhau như Sử học, Dân tộc học và X ã hội học Các phòng và trung tâm nghiên cứu về gia đình, phụ nữ và giới cũ n g được lập ra, tạo điều kiện cho nhiều đé tài nghiên cứu chuyên sâu về chủ đề này Có thể nói sau khi cu ố n sách “Những nghiên cứu xã hội học về gia đình V iệt N a m ”, kết quả của chương trình nghiên cứu hợp tác giữa V iện xã hội học và Đ ại học Gothenburg, Thuỵ Đ iển, (do Rita Liljestrom và Tương Lai (chủ biên)) {2 4 }, các nghiên cứu về gia đình Việt
N am đã tăng lên một cách đáng kể N hiều chuycn khảo về gia đình Việt N a m (Mai Huy Bích {4 }; Pham Van Bich {6 & 7 Ị; Lê N g ọ c Văn {4 6 }; Mai Q uỳnh Nam (chủ biên) Ị 30}; Phạm Côn Sơn { 3 6 } ) và các luận văn nghiên cứu về gia đình dăng tải trên các tạp ch í ch u yên ngành cũng được c ô n g bố Các nghiên
Trang 9cứu này đã góp phấn iàm sáng tỏ thêm nhiều vấn đề về gia dinh người Việt,
dặc biệt nó đã cung cấp những khảo sát thực địa về gia đình thay vì chí tiếp
cận từ nguồn tài liệu lưu trữ có trên các vãn bản Gia đình như một cấu trúc xã
hội đã được tìm hiểu từ những khía cạnh khác nhau, do đó làm phong phú
thêm hiểu biết của chúng ta vé lịch sử, tổ chức, quan hệ và những thay đổi
trong gia đình người Việt Có thể thấy các nghiên cứu về gia đình người Việt
trong thời gian qua tập trung chủ yếu vào 3 nhóm vấn đề: 1) Phân tích m ô
hình và cấu trúc của gia đình người V iệt và những ảnh hường của hệ tư tưởng
nho g iá o lên tổ chức và vận hành của gia đình; 2 ) Phân tích các chức năng của
gia đình, và tác đ ộn g của đổi thay kinh tế - xã hội lên các quan hệ trong hôn
nhân và gia đình, trong đó các khía cạnh giới của quan hệ gia dinh đã được
xem xét; 3) Tiếp cận gia đình từ truyền thống, tìm hiểu những giá trị tốt đẹp
của văn hoá ứng xử gia đình, và tập trung vào 3 vấn đề cốt lõi là gia p hong,
gia lễ và gia huấn, để từ đó tìm cách k ế thừa và phát huy giá trị gia đình trong
xã hội hôm nay.
Trong khi s ố lượng các nghiên cứu về gia đình người Việt đang tăng lên
nhanh c h ó n g thì những nghiên cứu theo hướng chuyên sâu tập trung vào các
m ối quan hệ bên trong gia đình và văn hoá ứng xử trong gia đình hầu như vẫn
còn là một lãnh địa ít được quan tâm Trong luận văn này, thay vì mô tả m ột
cách ch u n g chung tổ chức gia đình người V iệt vùng đ ổn g bằng sông H ồng,
chúng tôi chỉ giới hạn quan tâm của mình vào một vấn đề hẹp, được dư luận
xã hội và dân gian phản ánh nhiều nhimg chưa được giới khoa học xã hội về
gia đình nghiên cứu hệ thống, đó là m ối quan hệ giữa nàng dâu và mẹ chồng
Vấn đề được đặt ra cho nghiên cứu này là:
1 Quá trình xã hội hoá trẻ em, đặc biệt trẻ em gái, trong các gia đình, cộng đổn g làng xã và nhà trường có vai trò thế nào góp vào việc hình thành nhân
cách “con gái” và chuẩn bị cho họ vai trò làm một người con dâu tương lai?
Trang 102 Mối quan hệ nàng dâu - m ẹ chổng và với nhà chổng trong gia đình
và xã hội người Việt thực chất dã diễn ra như thế nào?
3 Tại sao m ối quan hệ giữa con dâu và m ẹ ch ồ n g lại thường dược xem
là luồn tiềm tàng các nguy cơ xung đột? Cội rỗ của vấn đề xung đột trong quan hệ nàng dâu - m ẹ chồng, nếu có, được bắt nguồn từ đâu?
Đ ể trả lời các câu hỏi đặt ra cho nghiên cứu này, chúng tôi đã c ố gáng nêu lên một vài giả thiết khoa học và kiểm tra lại trên thực địa để hiểu đirợc cội nguồn của vấn đề.
Trước hết, c ó thể giả thiết rằng xung đột nàng dâu m ẹ chồng bắt nguồn
từ trong quá trình hôn nhân, là hệ quả của những cu ộc hôn nhân mà xã hội đương thời x em là “không thích hợp” , chẳng hạn như hôn nhân không “m ôn đăng, hộ đ ố i” , sự xuất thân từ gia đình ngh èo hèn của nàng dâu hoặc từ tính chất “không chính thức” hoặc không được thừa nhận của cu ộc hôn nhân.
Thứ hai, có thể nghĩ rằng sự “ lệch pha” của quá trình xã hội hoá của người con gái so với m ôi trường vãn hoá gia đình của nhà chồng, nơi người con dâu gia nhập vào và chung sống, làm cho khoảng cách giữa nàng dâu, m ẹ
ch ồn g và các thành viên thuộc nhà ch ồn g rộng hom và nàng dâu mới khó thích nghi với những “gia phong” và “gia lễ” của nhà chổng.
Thứ ba, cũ n g có thể giả thiết rằng vấn đề nàng dâu - m ẹ chồng trong gia đình nảy sinh do sự xung đột về quyền lực và vai trò “sở hữu” của người
m ẹ trong gia đình nhà ch ồn g với nàng dâu Giả thiết này xuất phát từ một thực
tế là người phụ nữ - m ẹ chồng, có hai thứ “vũ khí” để khẳng định và nâng cao
vị thế của mình trong con mắt nhà chổng Một là bà ta là sở hữu chủ của con trai bà, đồn g thời là người thừa k ế và nối dõi gia tộc nhà chổng Vị thế của bà được vững chắc trong gia đình nhà chồng vì bà đã sinh được con trai cho nhà chồng Hai là, với tư cách là một người con dâu, bà đã phải làm việc và c ố
Trang 11gắng hết sức đổ thích ứng và trở thành chủ nhân có quyền lực trong gia đình nhà ch ồ n g “Q uyền lực” của hà c ó được chủ yếu được xây dựng băng sự hy sinh vun vcn, chăm sóc cho chồng, con và góp phần gây dựng cơ nghiệp nhà chổng Khi người con dâu mới xuất hiện với tư cách là thành viên của gia dinh, c ô ta chỉ có được thông qua một cu ộc hôn nhân, và bỗng nhiên giành lấy quyền “sở hữu” người con trai của bà, và rồi còn giành lấy phần nhiều cô n g việc vốn làm nên “quyền lực” của bà với gia dinh nhà chồng, trong đó có quyền quản lý gia đình Có thể xem đây là cội rễ sâu xa và tiềm ẩn của vấn đề
mà ít khi được nói ra inột cách rõ ràng.
Cuối cùng, cũng có thể giả thiết rằng các quan hệ cư trú và kinh tế, ví
dụ như cặp vợ c h ổ n g trẻ cư trú dưới cùng m ột mái nhà hoặc khác nhà với b ố
m ẹ và các thành viên khác trong gia đình nhà ch ồn g, hoặc quan hệ ăn chung, chia sẻ các nguồn sản xuất và sở hữu với nhà ch ổn g, cũng là những tác nhân tác đ ộn g trực tiếp đến quan hệ nàng dâu - m ẹ chổng.
N g h iê n cíai của chúng tôi, thông qua v iệc thu thập tài liệu trên thực địa
ở m ột làng thuộc châu thổ sông H ổng, m uốn làm rõ các giả thiết trên, qua đó hiểu rõ hơn về văn hoá ứng xử trong gia đình, và quá trình trao truyền, thích ứng văn hoá trong gia đình người Việt N gh iên cứu này không chỉ có ích tham góp vào việc làm tăng thêm hiểu biết về gia đình V iệt N a m mà cũng góp phần thiết thực làm cơ sở ch o các nhà hoạt động thực tiễn xây dựng chính sách về gia đình, làm ch o các giá trị của gia đình - “tế bào căn bản của xã h ộ i” trường tồn và phát huy trong cu ộc sốn g hôm nay.
1.1.3 Phương pháp nghiên cứu
a) Lựa chọn địa bàn nghiên cứu.
V iệ c lựa ch ọn làng La Cả ở Hà Tày làm địa bàn khảo sát thực địa đầu tiên xuất phát từ sự quen biết cá nhân của tôi trong nhiều năm qua với làng
7
Trang 12này Tuy nhiên, sự lựa chọn địa bàn làng La Cả chủ yếu được dựa trên một sô
c ơ sở khoa học Trước hết, đây là một làng có bề dẩy lịch sử, có truyền thống lâu đời và m ặc dù trước cơn lốc của quá trình đô thị hoá, các giá trị cổ truyền
c ó vỏ như vẫn đang được trân trọng và bảo tồn v ề mặt kinh tế, đây là một làng nông n gh iệp kết hợp với thủ cô n g nghiệp và buôn bán nhỏ Đ ặc điểm cấu trúc kinh tế này làm nên tính chất mở của không gian văn hoá làng và có thể các yếu tố văn hoá gia đình lưu giữ ở làng này phần nào phản ánh đặc điểm
ch u n g của vùng châu thổ sông Hồng Tất nhiên, chúng tôi không thể coi làng
La Cả là m ột làng tiêu biểu cho văn hoá vùng sôn g H ồn g Cuối cùng, đây là
m ột làng vốn được xem như một làng khoa bảng, có truyền thống về học vấn với nhiều người đỗ đạt Đ iều này có nghĩa rằng các tàn dư tư tưởng N ho giáo chắc hẳn đã du nhập và bén rễ ở làng này và c ó thể đã ảnh hưởng lên các thực hành văn hoá g iá o dục trong gia đình, trong đó có vấn đề ứng xử nàng dâu -
m ẹ ch ồn g Mặt khác, làng La Cả hiện nay đang trong quá trình đô thị hoá nhanh ch ó n g Sự đổi thay và mất đi các giá trị truyền thống và du nhập các quan hệ m ới vào đời sốn g gia đình cũng c ó thể quan sát được Chính các yếu tô' này đã giúp chún g tôi đi đến quyết định ch ọn làng La Cả để làm địa bàn nghiên cứu thực địa.
b) K hảo cứu tài liệu
Trong quá trình xây dựng các giả thiết khoa học, chúng tôi đã tập trung phân tích các tài liệu nghiên cứu về gia đình người V iệt hiện c ó để từ đó tìm hướng đi ch o luận vãn V iệ c khảo cứu tài liệu hiện có về gia đình đã tỏ ra rất hữu ích N ó kh ông chỉ giúp tìm ra các câu hỏi nghiên cứu chưa được giải đáp
để bổ khuyết mà còn gợi những phương pháp tiếp cận để khắc phục sự thiếu sót của người đi trước Các vấn đề nêu ra trong luận văn này chủ yếu có được
từ việc khảo cứu tài liệu như vậy.
Trang 13Mặt khác, là một làng khoa bảng có tiếng ở gần ngay Hà Nội, La Cả cũng có nhiều tài l i ệ u thành vãn được lưu giữ, giúp hiểu rõ hơn lịch sử làng này Chúng tôi may mán đã tìm được các tài liệu dịch của Viện Hán Nôm liên quan đến La Cả như bi ký, hương ước, gia phả, thán tích của làng Thêm vào đó, cũng
đã có một vài tài liệu nghiên cứu về La Cả như về lễ hội làng La (Nguyễn
Phương Lan Ị25 Ị), nguồn tư liệu Hán Nôm và lịch sử địa phương (Bùi Xuân
Đ ính { 14& 1 5 }) Những nguồn tài liệu này cũng được nghiên cứu kỹ làm cơ sở
cho những hiểu biết chung về làng và các dòng họ lớn trong làng
c) Nghiên cứu thực địa
Tài liệu chính của luận văn này được thu thập từ nghiên cứu thực địa, và các phương pháp thực địa này nảy sinh từ yêu cầu xem xét các giả thiết cụ thể
đã nêu ra từ trước Một vài kỹ thuật thực địa sau đây đã được áp dụng để thu thập tài liệu:
Trước hết, chúng tôi vận dụng phương pháp điều tra theo nhóm xã hội
và tập trung vào các đối tượng chính trong các nhóm sau: 1) Nhóm các gia đình có nhiều thế hệ cùng An chung, ở chung; 2) Nhóm các gia đình có nhiều thế hệ sống chung nhưng ăn riêng hoặc sống riêng nhưng ăn chung; 3) Nhóm các gia đình có điều kiện kinh tế và giáo dục cao và nhóm các gia đình có mức sống và giáo dục bình thường; 4) Nhóm các gia đình đại diện cho tìmg loại nghé nghiệp khác nhau như thuần nông, thủ công, buôn bán hoặc kết hợp nông nghiệp với các nghề trên Mục đích của việc nghiên cứu theo nhóm xã hội này là để tìm hiểu vấn đề liệu có những khác biệt hay tương đồng trong ứng xử gia đình giữa các nhóm trên và trả lời câu hỏi liệu sự khác biệt về lối sống, điều kiện sống và nén tảng giáo dục có tạo ra những khác biệt trong văn hoá ứng xử của gia đình không? Những giá trị chung của vãn hoá ứng xử nàng dâu - mẹ chổng trong các gia đình này là gì?
9
Trang 14Trong khi tập trung phân tích theo nhóm xã hội, chúng tôi cũng sử dụng hai kỹ tluiật chính là điều tra theo phiếu hỏi và phỏng vấn sâu Các phiếu hỏi giúp xây dựng các dữ kiện có tính định lượng trong khi phỏng vấn sâu giúp đạt được cái nhìn sâu hơn dưới dạng định tính Các phụ nữ được hỏi cũng được chia theo nhóm các nàng dâu sống chung với nhà chồng (làm dâu) và các nàng dâu sống khác mái nhà với bố mẹ và các thành viên của gia đình nhà chồng Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến các câu chuyện đời sống của những người phụ nữ đã và đang làm dâu, và cả những suy nghĩ của các cô gái mới lớn và đang trong quá trình chuẩn bị làm dâu Cách nhìn nhận của các vị có trách nhiệm trong cộng đồng, của Hội phụ nữ và nhà trường cũng được tham khảo để hiểu rõ hơn những vấn đề liên quan.
1.1.4 Đóng góp của luận văn
Như đã phân tích, đây là một đề tài nghiên cứu tập trung vào các quan
hệ giữa nàng dâu với mẹ chồng và gia đình nhà chồng Trong khi các nghiên cứu về gia đình người Việt đang tăng lên thì chủ đề này hầu như vẫn còn ít được chú ý Luận văn này hy vọng sẽ góp thèm một tiếng nói bổ khuyết vào các tranh luận vồ gia đình người Việt nói chung, các quan hệ trong gia đình, thân phận của người phụ nữ làm dâu trong gia đình, và văn hóa ứng xử trong gia đình nói riêng
Mặt khác, sự tích lũy các kiến thức về gia đình, đặc biệt về mối quan hệ đặc biệt nàng dâu - mẹ chồng, có một ý nghĩa thiết thực nhất định trong công cuộc xây dựng gia đình văn hóa mới hiện nay Trước sự công phá của nền kinh tế thị trường và thay đổi nhanh chóng của các giá trị gia đình, nghiên cứu này hy vọng sẽ giúp cho các nhà làm chính sách và ngay cả những người đang
và sẽ làm dâu, những người tổn trọne các giá trị của gia đình suy ngẫm về hành vi ứng xử của mình dể từ đó gìn giữ và phát huy các giá trị tích cực của gia dinh, làm cho gia đình thực sự là tổ ấm cho mỗi con người
Trang 151.1.5 Bô cục của luận văn
Ngoài các phần Phụ lục và Thư mục các tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 4 chương:
Chương I Vấn đề nàng dâu và mẹ chồng trong nghiên cứu gia đình và
xã hội
Chương 2 Sơ lược về địa bàn nghiên cứu: làng La Cả
Chương 3 Quá trình Xã hội hóa em gái
Chương 4 Quan hệ nàng dâu - nhà chổng trong đời sống hàng ngày
1.2 VẤN ĐỀ NÀNG DÂU MẸ C H ồN G NHÌN TỪBỐI CẢNH LỊCH
S Ù XÃ HỘI
1.2.1 Lý tưởng Nho giáo vể quan hệ gia đình.
Cho đến nay, các nhà nghiên cứu đều nhận định rằng nói đến gia đình
Việt Nam truyền thống phải nói đến ảnh hưởng của Nho giáo Tư tưởng Nho
giáo bao trùm lên mọi quan hệ, chi phối hành vi ứng xử của các thành viên
Tinh thần Nho giáo qua bao nhiêu thế kỷ đã thấm nhuần trong các tầng lớp xã
hội một cách sâu rộng Dấu vết của Nho giáo đã chi phối nghi lẻ cuộc sống
hàng ngày của gia đình Tư tưởng trọng nam khinh nữ, đề cao phụ quyền, đề
cao người đàn ông trong gia đình và xã hội Quyền hành tối cao thuộc về nam
giới dù phụ nữ giữ vai trò quyết định trong đời sống hàng ngày
Nho giáo chủ trương nam tôn nữ ti, trọng nam khinh nữ “Thuyết tam
tòng, bắt người đàn bà, khi còn nhỏ thì phải theo cha, khi lấy chổng thì phải
theo chồng, khi chồng chết thì phải theo con, suốt đời là kẻ vị thành nhân ”
(1, 117) Đối với người phụ nữ “tam tòng” ràng buộc họ vào cuộc sống gia
11
Trang 16dinh nhà chổng “ Nho giáo đã làm cho sự phụ thuộc của phụ nữ và của con cái vào người gia trưởng Sự phụ thuộc đó được Nho giáo nhấn mạnh vào tinh thần phục tùng và ý thức phục vụ của vợ đối với chồng và con cái đối với bố
mẹ Với nguyên tắc, nam tôn nữ ti và các quy phạm hiếu đỗ, tiết hạnh, tam tòng, tứ đức, Nho giáo đã rèn đúc nên những phong tục tập quán khắt khc và khỏ cứng trong quan hệ gia đình và hôn nhân ” (35, 243)
Hôn nhân theo quan điểm Nho giáo có ý nghĩa rất lớn đối với các quan
hệ khác trong gia đình Nghĩa vụ của người ta đối với gia tộc và tổ tiên là phải truyền giống về sau để vĩnh truyền tông tộc Gia đình càng nhiều con càng nhiều phúc đức Cho nên luân lý cho người vô hậu là phạm điều bất hiếu “bất hiếu giả tam, vô hậu vi đại” (trong ba điều bất hiếu thì không con là lớn nhất) (1, 124) Không có con trai thì huyết thống không có ai truyền, tế tự không ai giữ và như thế có nghĩa là tuyệt tự Mục đích lớn nhất của hôn nhân là mong
có con trai để nối dõi tông đường Chỉ khi người con dâu đẻ được con trai thì mới có vị trí chính thức trong gia đình nhà chổng Vì thế nếu vợ chồng lấy nhau đã lâu mà không có con hoặc chỉ có con gái thì chồng sẽ có vợ bé Một phẩn của tục đa thê vì phát triển dòng dõi
Tư tưởng Nho giáo được sử dụng là lư tưởng chính thống, xuyên suốt trong các bộ luật của Nhà nước phong kiến Việt Nam
1.2.2 Các qui định của luật pháp về quan hệ gia đình.
Trong lịch sử Việt Nam có hai bộ luật đại diện cho sự phát triển đỉnh cao của nhà nước phong kiến là luật Hồng Đức {53}và luật Gia Long {41} Luật Hồng Đức ra đời vào năm 1483 thời Lê Thánh Tông, được ban hành với tên gọi là Quốc triều hình luật Luật Gia Long hay còn gọi là Hoàng Việt luật
lộ ra đời năm 1815 vào thời Gia Long Dựa vào hai bộ luật trên ta biết được những quan niệm của chế độ đương thời được thể chế hóa
Trang 17Quốc triều hình luật (lược đánh giá là một hộ luật có trinh độ phát triển
cao của tư tưởng xã hội lúc bấy giờ ỏ đó nổi lên ý thức bảo vệ quyền lợi của
người phụ nữ Vự có quyền tài sản là điểm tân kỳ nhất trong pháp luật thời Lê,
kê cả khi chung sống, một người chết hay ly hôn Người phụ nữ được pháp
luật thừa nhận quyền sở hữu tài sản và thừa kế, con gái được thừa kế tài sản
của cha mẹ để lại và có quyền thừa kế hương hỏa Dù thừa kế theo di chúc hay
thừa kế theo pháp luật, quyền thừa kế của người phụ nữ cũng được pháp luật
ghi nhận Phần của con gái bằng phần của con trai Đicu tiến bộ ở đâv là mặc
dù bị ràng buộc bởi tư tưởng gia trưởng nhưng người phụ nữ trong gia đình
không bị mất quyền đối với tài sản Trong thực tế, họ thường tham gia vào các
quan hệ giao dịch như mua bán, cầm cố, thuê mướn chứng tỏ quyền sở hữu
tài sản của họ
Nếu như so sánh quan điểm tiến bộ về phụ nữ thì Hoàng Việt luật lệ là
một bước lùi so với Quốc triều hình luật Luật nhà Lê quy định nếu không có
con trai thì con gái cũng được hưởng hương hỏa của gia đình nhưng đến luật
Gia Long chỉ công nhận cho con gái được hưởng thừa kế sau họ hàng thân
thuộc Luật Gia Long còn cho phép người chồng toàn quyền định đoạt tài sản
của gia đình
Luật Gia Long và Luật Hồng Đức đều ra đời trên cơ sở tư tưởng xã hội
Nho giáo, thêm vào đó Luật Gia Long có tính kế thừa của luật Hổng Đức,
chính vì vậy những quan điểm về quan hệ gia đình của hai bộ luật này có
nhiều nét chung, thể hiện ở các điểm sau:
- Đồ cao gia trưởng: nhà nước phong kiến quyền lãnh đạo gia đình của người chồng về cả vật chất và tinh thần Họ là người đại diện trước công
quyền, có quyền và nghĩa vụ với gia đình: nhân thân, tài sản; quyền quyết
định hôn nhân với con cái và quyền rẫy vợ
Trang 18- Nghĩa vụ “tam tòng” cùa người phụ nữ: khi ở cùng với cha mẹ phải
“tại gia tòng phụ”, phải kính thờ và vâng lời cha mẹ, làm theo sự chi hảo của cha mẹ về các hoạt động trong gia đình Đôn tuổi trưởng thành, cha mẹ lựa chọn, sắp đặt việc hôn nhân và họ có nhiệm vụ tuân theo Khi xuất giá, người phụ nữ rời gia đình của mình nhập vào gia đình chồng Họ phải chịu sự dạy bảo của cha mẹ chổng và chổng Bới theo quan niệm của Nho giáo, hôn nhân
là sự chuyển giao người con gái từ quyền của người cha sang quyền của người chồng Khi hôn nhân có hiệu lực thực tế, người phụ nữ về ở gia đình chồng, có bổn phận kính trọng và tuân theo lời dạy bảo của cha mẹ chồng Ngay chỗ ở của hai vợ chổng cũng do cha mẹ chồng lựa chọn (trong khi đó Luật hôn nhân gia đình hiện đại cho phép “nơi cư trú của vợ chồng do vợ chổng lựa chọn” {51, điều 20} Những quy định đối với người vợ thường nhiều và nghiêm khắc hơn so với người chồng Người vợ “phải kính, phải răn, chớ trái lời chồng” Sở dĩ có điều này vì phong tục tập quán Việt Nam thường dành cho người chổng có quyền được dạy bảo vợ
- Quy định về hiếu thuận: hôn nhân làm phát sinh quan hệ giữa người phụ nữ với thân thuộc nhà chổng Người phụ nữ không chỉ biết ơn, kính trọng cha mẹ chồng mà phải sống thuận hòa với anh em, họ tộc nhà chồng, tạo nên
sự đoàn kết gắn bó trong đại gia đình Quan hộ hiếu nghĩa được pháp luật coi trọng, nếu người con dâu xúc phạm đến gia tộc nhà chổng sẽ bị pháp luật trừng trị “lăng mạ ông bà cha mẹ chổng thì bị xử tội lưu ” {51, điều 4 7 6 Ị
- Nghĩa vụ để tang: ngoài nghĩa vụ đổ tang chồng và cha mẹ chồng, người phụ nữ còn phải để tang thân thuộc nhà chồng Đối với chồng và cha mẹ chồng người phụ nữ phải để tang ba năm Để tang là biểu hiện cao nhất của hiếu, nghĩa theo tư tưởng Nho giáo Sau khi đoạn tang, pháp luật vẫn khuyến khích ngưừi đàn bà góa tiếp tục ờ vậy bằng cách cho họ được thừa kế tài sản của chồng
Trang 19Trong Đại Nam nhất thông chí (49), ngoài phần viết về diên cách, thổ sản mỗi tinh có một phần dành tuyên dương con hiếu và liệt nữ, tiết phụ.
- Nghĩa vụ chung thủy: chế độ đa (hê được xã hội thừa nhận nhưng về phía người phụ nữ họ có bổn phận tuyệt đối chung thủy với chồng Đây là vấn
đổ mang ý nghĩa truyền thống, ảnh hưởng của Nho giáo đã thừa nhận nghĩa vụ này của người phụ nữ, làm tiêu chí đánh giá đức hạnh của họ Đây cũng là một trong những nội đung “tòng phu” mà bất kỳ người phụ nữ nào cũng phải íhực hiện Nếu người phụ nữ có hành vi xâm phạm đến sự chung thủy họ sẽ không được hưởng được quyền tài sản của gia đình và của hai vợ chồng làm
ra, đồng thời cũng là duyên cớ “thất xuất” Đây cung là một trong những biểu hiện của sự khống phục tùng chồng không tuân theo trật tự trên dưới của gia đình
- Quy định về “thất xuất” : cả hai bộ luật đều bắt buộc người chồng phải
ly hôn trong trường hợp người vợ phạm vào “thất xuất” “Thất xuất” là: không con, ác tật, ghen tuông, dâm đãng, lắm lời, trộm cắp, không thờ cha mẹ chồng Trong các tội bất hiếu, tội không có con trai để nối dõi tông đường là lớn hơn
cả Như vậy, ngoài ý muốn chủ quan của hai bôn, quyền lợi của gia đình được đặt lôn trên hết Luật Gia Long quy định nếu người vợ phạm vào thất xuất mà người chồng không đuổi vợ đi thì sẽ bị phạt 80 trượng
Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ đặt ra các nghĩa vụ đối với người vợ chủ yếu ràng buộc nàng dãu vào mối quan hệ với gia đình nhà chổng Người vợ phải chịu sự dạy bảo của cha mẹ chồng và chổng; có bổn phận chung thủy tuyệt đối với chồng “gái chính chuyên chỉ lấy một chồng” Nếu người vợ vi phạm thì họ không được hưởng quyền đối với tài sản của gia đình nhà chổng cũng như tài sản do vợ chổng làm ra
15
Trang 20Sử dĩ trong các bộ luật cùa Nhà nước phong kiên không trực tiếp đề cập đến ván đề quan hệ mẹ chồng, con dâu vì theo quan điểm Nho giáo, trọng tâm của các mối quan hệ xã hội là: vua tối, cha con, anh em, vợ chồng, bạn bè, luật Nhà nước nhằm diều chính mối quan hệ ấy Khi về nhà chồng, đạo “tòng phu" làm phát sinh quan hệ gắn bó giữa người phụ nữ với cha mẹ chồng và thân thuộc nhà chồng Cơ sở nguyên tác “trên ra lệnh, dưới phục tùng” giữa cha mẹ và con cái trong đó có quan hệ mẹ chồng với con dâu là dạo hiếu
Những quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm của người phụ nữ đã đặt con dâu vào vị trí thấp kém Cùng ở vị trí phụ thuộc vào những người đàn ông trong gia đình nhưng mẹ chổng có ưu thế cao hơn Con dâu không chỉ phục tùng chồng mà còn phải hiếu kính cha mẹ chồng nữa Sự khác nhau giữa địa vị của
con dâu và mẹ chồng trong gia đình là từ chữ hiếu mà ra.
Ngoài bộ luật chính thức có hiệu lực trên cả nước thì mỗi làng có lệ tục, hương ước riêng được nhà nước thừa nhận Thậm chí nhiều lúc hương ước còn lấn át cả luật pháp “phép vua thua lệ làng” Trên thực tế hương ước tồn tại song song với luật pháp của Nhà nước, bổ sung cho những điểm luật pháp không với tay được đến đặc điểm của từng làng Làng La Cả với truyền thống Nho học cũng đã xây dựng cho mình bản hương ước riêng vào năm 1752 Những quy định trong hương ước cổ làng La cho ta thấy rõ tính chất làng Nho học rất coi trọng những người có học thức, đổng thời nghề dệt của làng đã phát triển có giao lưu buôn bán ở bên ngoài, tuy nhiên người dân vẫn coi trọng nghề nông “vi bản”
Đến hương ước cải lương hương chính, chế độ khuyến khích học hành không còn được nhắc đến do chế độ khoa cử và chữ Nho không còn được khuyến khích Những quy định bảo vệ cho bộ máy cầm quyền chặt chẽ hơn
Cả hai vãn bản hương ước cổ và hương ước cải lương của làng La đều không
đề cập đến quan hệ nàng dâu, nhà chồng Như vậy hương ước cũng là một loại
Trang 21vãn bản luật, ra dừi đổ bảo vệ giai cấp cầm quyền “là cương lĩnh tinh thần, sợi dây cố kết các tổ chức và thành viên trong làng, góp phần vào việc vận hành của cơ chế làng xã” 116,4}.
1.2.3 L uật hôn nhân và gia đình hiện đại
Luật hôn nhân và gia đình là một văn bản pháp luật do Quốc hội ban hành nhằm điều chỉnh quan hệ hôn nhân và quan hệ gia đình Ị 17, 7 Ị Năm
1959 sau khi miền Bắc nước ta đã hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, ngày 29/12/59 kỳ họp Quốc hội khóa I của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã thông qua luật hôn nhân và £Ìa đình Cho đến năm 2003, Nhà nước ta
đã hai lần ban hành luật mới thay thế luật hôn nhân và gia đình cũ:
- Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 được Quốc hội khóa VII nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/12/1986
- Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 được Quốc hội khóa X nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 09/06/2000
Luật hôn nhân và gia đình mới ra đời trên cơ sở kế thừa Luật hôn nhân
và gia đình cũ và bổ xung những quy định mới phù hợp với điều kiện kinh tế,
xã hội chính trị hiện tại Luật hôn nhân và gia đình được xây cỉựng trên nguyên tắc:
- Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng
- Bảo vệ quyền lợi của cha mẹ và con cái
- Bảo vệ bà mẹ và trẻ em Ị 17, 11}
Việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình đã góp phần “xóa bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình'’ và “đề cao vai trò của
17
Trang 22gia dinh trong đời sống xã hội, giữ gìn và phát huy truyền thống và những phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam” {51, 7 Ị Thông qua Luật hôn nhân và gia đình những thành viên có thê biết được nghĩa vụ và quyền lợi của mình trcn cương vị là vợ, chồng, cha, mẹ và con Qua đó để đảm bảo quyền lợi và thực hiện đúng nghĩa vụ của mình Để giúp cho việc thi hành luật
có hiệu quả, bên cạnh đó còn có các vãn bản: nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình; Chí thị về việc giải quyết vấn
đề nhà, đảm bảo chỗ ở cho các đương sự sau khi ly hôn và giải thích các quy định trong luật dưới dạng câu hỏi và trả lời trong cuốn “Trả lời 110 câu hỏi về luật hôn nhân và gia đình” Ị 17}
Ngay từ khi ra đời, Luật hôn nhân và gia đình đã thể hiện được tính tiến
bộ đối với phụ nữ như: quyền thừa kế của con trai, con gái đối với tài sản của cha mẹ như nhau; vợ chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau; hôn nhân tự nguyện; cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn Những điểm này vẫn được duy trì sau hai lần sửa đổi
So với Luật Hồng Đức và Luật Gia Long thì Luật hôn nhân và gia đình
là bước tiến bộ vượt bậc về quyền lợi của người phụ nữ trong hôn nhân, đặc biệt trong mối quan hệ nàng dâu và gia đình nhà chồng Thông qua một số quy định để bảo vệ quyền lợi cho con dâu: chỗ ở của vợ chồng do vợ chồng lựa chọn, không bị ràng buộc bởi phong tục tập quán Khi ly hôn người vợ được chia một nửa tài sản trong số tài sản chung của vợ chồng; Trong trường hợp con dâu ở chung với nhà bố mẹ chồng mà tài sản của vợ chổng không xác định thì họ sẽ được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình, căn
cứ vào công sức đóng góp vào việc duy trì và phát triển khối tài sản chung Người vợ có thể nuôi con nếu đảm bảo được quyền lợi mọi mặt cho đứa trẻ, nhưng nếu con đang bú phải được giao cho người mẹ nuôi dưỡng
Trang 23Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ ra đời trong hoàn cảnh tư tưởng Nhà nước chịu ảnh hưởng của Nho giáo sâu sắc vì thế nên những qui định trong xã hội cũng bị chi phối bởi tư tưởng này Chẳng hạn như cùng điều khoản cấm kết hôn trong Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ đa phần liên quan đến đạo đức Nho giáo: “là anh, ỉà em là học trò mà lấy vợ của em, của anh, của thầy học đã chết đều bị xử tội lưu; người đàn bà bị xử giảm một bậc; đều phải li dị” Ị 50, } Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ qui định không dược kết hôn với những người thân thích “người vô loại lấy cô, dì chị, em gái, kế nữ (con gái riêng của vợ) người thân thích đều phỏng theo luật gian dâm mà trị tội” ị 50, 319} Luật hôn nhân và gia đình hiện đại kế thừa điều khoản cấm kết hôn “giữa những người cùng dòng máu vế trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời” (51, khoản 4, điều 10) Đồng thời
để bảo vệ chế độ hôn nhãn tiến bộ một vợ một chổng Luật hôn nhân và gia đình cấm “người đang có vợ hoặc có chổng” kết hôn với nhau {51, khoản 1 điều 10 Ị
Luật hôn nhân và gia đình qui định “vợ chồng bình đẳng với nhau, có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình” {51, điều 19) Luật hôn nhân và gia đình không qui định chế độ để tang và không tước quyền thừa
kế của người phụ nữ trong trường hơp họ tái hôn
So với Luật hôn nhãn và gia đình lý tưởng Nho giáo có nhiều tàn dư của hôn nhân phong kiến cần phải được xóa bỏ “Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con, giữa con trai và con gái”, tảo hôn, cường ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ; người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có vợ, có
ch ồ n g Tuy nhiên tư tưởng Nho giáo cũng có những qui định phù hợp với xu thế xã hội và được Luật hôn nhân và gia đình kế thừa “con có nghĩa vụ kính trọng chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ; cháu có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc,
19
Trang 24phụng dưỡng ông bà, các thành viên trong gia dinh có nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau (51, khoản 4 điều 2 & điều 4 1.
Cùng với xu thế phát triển kinh tế, văn hóa hiện nay, quan điểm hôn nhân và gia đình nhấn mạnh vào quan hệ vợ chồng và con cái nhưng vẫn không quên xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa các Ihành viên: “Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành công dãn có ích cho xã hội; COI1 có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ; cháu có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông bà; các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau” {51, 7 Ị và “Con cái được tạo điều kiện tết để học tập, rèn luvện đạo đức, đáp ứng nhu cầu của xã hội Mọi thành viên của gia đình đều có ý thức xây dựng, bảo vệ gia đình bền vững ”
1.2.4 Quan điểm dân gian về quan hệ gia đình
Do đặc điểm về lịch sử, tự nhiên, văn hóa, xã hội lâu đời, trong dãn gian
đã hình thành những quan niệm riêng của mình về mối quan hệ gia đình, về vị trí của người phụ nữ Tấm gương phản ánh toàn diện nhất quan niệm của nhân dân là ca dao, tục ngữ Nó được đúc kết nên và lưu truyền, kiểm nghiệm trong dân gian Quan niệm truyền thống của nhân dân về các mối quan hệ gia đình, chuẩn mực đạo đức, thang giá trị được xây dựng Những ảnh hưởng của chế
độ, văn hóa, tôn giáo cũng thể hiện rõ nét trong hình thức văn học dân gian này
Lối sống của người Việt chú trọng đến cộng đồng, vì vậy các thành viên phải có mối quan hệ chặt chẽ trên cơ sở trách nhiệm, lòng vị tha đối với nhau Người con gái nghĩ đến hạnh phúc lứa đôi cũng đồng thời với ntỊhĩa vụ đối với nhà chồng Trái với quan niệm Nho giáo, dân gian xây dựng nghĩa vụ đó trên
1 Ban văn dộng nếp sống mới Trung irơng quy dịnh ngày 18 tháng 01 năm 1992.
Trang 25cơ sở có trách nhiệm cả hai phía với nhau Quan niệm truyền thông của người Việt mang tính tiến bộ hơn, nó dựa trên nền tảng dân chủ, bình đẳng và nhân vãn sâu sắc Cha mẹ quý con dâu, con rê như con mình Ngược lại con dâu, con rể plìải tự xem mình có trách nhiệm như con đẻ thì sẽ chiếm dược cảm tình tốt của nhau “dâu hiền như con gái, rể thảo như con trai”
Tuy nhicn, quan hệ mẹ chồng, con dâu luôn có mối bất hòa lự nhiên
Có thể nói đó là vấn đề khó khăn trong quan hệ gia đình Mối bất hoà dường như lúc nào cũng có sẩn- “dâu vô nhà, mụ gia ra ngõ” hay
“Thật thà cũng thể lái trâu
Yêu nhau cũng thể nàng dâu, mẹ chồng”
Người phụ nữ vốn yên phận, khi đi lấy chồng coi như đã trao thân gửi phận cho nhà chồng, chính vì thế họ chỉ mong chọn được nơi “cha mẹ thảo hiền” để trao thân gửi phận nhưng đó là điều không tưởng Dẫu nàng dâu có hết lòng thờ kính cha mẹ chồng thì vẫn là “bồ chịu chửi”, thậm chí còn phải chịu đòn roi của họ Đối với con dâu, nỗi lo sợ gặp mẹ chồng ác nghiệt trở thành nỗi ám ảnh:
Đói thì ăn khế ăn sung
Trông thấy mẹ chổng thì nuốt chẳng trôi
Đến lúc không thể chịu đựng được, người con dâu đã phản kháng lại Tuy vậy, với địa vị thấp kém họ chỉ có thể phản kháng tiêu cực:
Mẹ chổng ác nghiệt đã ghê
Tôi chảng ở được tôi về nhà tôi
Tuy vậy với tính nhân hậu, vị tha dân gian luôn mong muôn tính cảm
mẹ chổng, con dâu được tốt đẹp Trong gia đình không phân biệt con dâu, con gái Trên thực tế cũng có người con dâu hiếu thảo được ca ngợi:
21
Trang 26Con they tay ẩm tay bổng
Tay dắt mẹ chồng đầu bạc như bống
Mói quan hệ gia đình mang sắc thái đa dạng và phức tạp Dân gian luôn giải quyết những quan hệ đó trên cơ sở tính nhân vãn và tình cảm giữa người với người Dẫu là con dâu hay con rê đều yêu quý như con đẻ Ngược lại con dâu cũng phải hiếu kính cha mẹ chổng Điểm tiến bộ trong quan niệm dân gian không chỉ dòi hỏi quan hệ tốt đẹp từ hai phía mà còn lên án thái độ không đúng mực của cha mẹ đối với con (nhất là con dâu)
Nhiều luật gia phương Tây dựa vào “tam tòng” đã ỉầm tưởng rằng người phụ nữ Việt Nam bị đạo đức và tục lệ kiềm tỏa không có nãng lực và quyền lợi Chính vì thế khiến họ coi người đàn bà có chổng như mất hết khả năng dân sự, làm việc gì cũng phải được phép của chồng mới hữu hiệu Tuy nhiên trong quan hệ vợ chồng thực tế, người phụ nữ không hoàn toàn lệ thuộc vào chồng mà mất hết quyền lợi Tục lệ cổ truyền của làng La Cả luôn hướng đến
sự thuận hòa bình đẳng trong gia đình Người phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong thực tế đời sống gia đình Tục ngữ có câu “dâu con rể khách” để chỉ quan hệ gắn bó giữa con dâu và gia đình nhà chổng Dĩ nhiên người gia trưởng được dành cho mọi trách nhiệm và các nguồn lợi nhưng vai trò của người phụ
nữ rất quan trọng, họ có quan hệ đến sự thịnh suy của gia đình nhà chồng Người phụ nữ có thể có tiếng nói quyết định, hoặc ít ra cũng có tiếng nói tham mưu trong hàng loạt công việc của gia đình, làng xã Trong xã hội cũ, người ta không cần những phụ nữ tham gia chính sự, giỏi giang về kinh tế Tuy nhiên, thực tế làng nghề đã mang lại cho phụ nữ làng La Cả một vai trò quan trọng về kinh tế và từ đó, tạo cho họ một vị thế nhất định trong việc quản
lý gia đình
Trang 27Mỗ (huyện Từ Liêm, Hà Nội); Phía Nam giáp làng La Tinh (xã Đông La); Phía Đông giáp làng La Khê (phường Văn Khê, thị xã Hà Đồng); Phía Tây giáp các làng La Phù (xã La Phù) và La Dương (xã Dương Nội).
Cho đến nay chưa có đủ tư liệu để biết được niên đại hình thành chính xác của làng Nhưng những chứng cứ lịch sử - văn hóa hiện còn lưu giữ được cho thấy La Cả là một làng Việt cổ truyền có lịch sử lâu đời Căn cứ vào tấm
bia Hoa N g h iê m tự b ỉ 2 lập năm Sùng Khang thứ 10 (1575), trước kia La Cả là
một làng lớn Đến cuối thời Lê sơ (thế kỷ XV) La Cả được chia thành hai làng, cũng là 2 xã có tên gọi là La Nội và Ỷ La Do yếu tố đặc biệt đã đề cập ở chương I, luân văn chọn nghiên cứu hai làng với tên gọi chung là làng La Cả
Xã La Nội gồm các thôn là Thượng Thanh, Hoa Lạc, Đông Tỉnh, Đổng Đại;
xã Ỷ La gồm các thôn: Trung Thôn, Thượng Nguyên và Nguyên Thôn
Theo sách “Tên làng x ã Việt Nam đầu th ế kỷ XIX’ làng La Cả lúc đó
thuộc tổng La Nội, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây Cải cách hành chính nãm 1831 của Minh Mạng, làng La Cả thuộc huyện Từ Liêm
2 Bia H o a N ghiêm tự bihiỌn còn lưu tại chùa Hoa Nghiổm của làng La Cả, bản dịch viết tay của TS Bùi Xuân Đính, Viện Dân tộc học.
Trang 28được cắt về phủ Hoài Đức, tính Hà Nội Năm 1889 đến 1904 làng La Cả thuộc tỉnh Cầu Đơ Năm 1948, làng La Cả nằm trong xã Đại La thuộc huyện Liên Bắc, tỉnh Hà Đông Đến năm 1956, làng La Cả được chia vé xã Dương Nội, huyện Hoài Đức tỉnh Hà Đỏng Năm 1965, hai tỉnh Hà Đông và Sơn Tây nhập thành tỉnh Hà Tây Từ năm 1991 làng La Cả thuộc xã Dương Nội, huyện Hoài Đức, tinh Hà Tây.
Bảng 1: Sô hộ và sô nhân khẩu tại làng La Cả
Nguồn: Theo số liệu thống kê tại xã Dương Nội tháng 12/2000
2.1.2 Cơ sở kinh té cổ truyền
2.1.2.1 N ông nghiệp.
Trong lịch sử làng La Cả nổi tiếng về nghề dệt Mặc dù phần lớn nguồn thu nhập của các hộ gia đình là từ nghề dệt nhimg dân làng vẫn coi nông nghiệp là gốc Cuộc sống của dân làng dựa trên nguyên lý tự túc trong đó lối sống vẫn gắn với nông nghiệp ruộng nước Thực ra, cấu trúc kinh tế cổ truyền của cư dân làng La Cả được dựa trên sự kết hợp chặt chẽ giữa nông nghiộp với thủ công nghiệp (nghề dệt) và buôn bán nhỏ, tạo ra một cơ sở kinh tế tương đối ổn định Do nằm ở vị trí cao trong khu vực nên đổng ruộng ở đây chủ yếu
là đồng mùa Tuy nhiên, từ lâu người làng La đã biết trồng các loại hoa màu xen lẫn với các vụ lúa Gần đây cùng với sự tiến bộ của kỹ thuật nông nghiệp, đổng ruộng được cải tạo, các giống lúa mới có năng suất cao được đưa vào trồng đã giúp cho nguồn thu từ nông nghiệp của làng ổn định hơn trước
Trang 29Với sự phát triển của tư hữu, sở hữu ruộng đất của các làng trong xã biến đổi theo chiều hướng ruộng cống của Nhà nước ngày càng bị thu hẹp, ruộng tư chiếm tỉ lệ cao Tuy nhiên, sở hữu tư nhân trước kia tập trung vào địa chủ Do làng La Cả có nghề dệt phát đạt hơn vị trí nông nghiệp bị suy giảm, nhiều gia đình có khung dệt thường cho thuê ruộng đất hoặc mướn người về làm theo vụ Các gia đình ít chú trọng tích tụ đất nông nghiệp làm cho sở hữu
tư nhân về ruộng đất manh mún Trong quá trình phát triển, tình hình ruộng đất của làng cũng có nhiều thay đổi Bên cạnh việc tập trung ruộng vào một số người thì cũng xuất hiện hiện tượng ruộng tư biến thành ruộng công dưới các dạng đặt hậu (hậu Phật, hậu họ, hậu xóm, hậu giáp) Mặc dù vậy sở hfru ruộng đất tư nhân ở làng vẫn chiếm tỉ lệ tuyệt đối Chẳng hạn ở Ỷ La năm 1805 có
822 mẫu ruộng đất các loại thì chỉ có 3 mẫu 3 sào ruộng tam bảo, 9 mẫu 9 sào ruộng hậu {13, 20}
Trang 30Ngoài nguồn sống chính từ làm ruộng, dân làng còn biết dệt the lụa
Theo bản Ngọc phả thánh Sú" nghề dệt sao lại vào năm Duy Tân thứ 3 (1909)3
thì hai người truyền nghề dệt the lụa cho dân làng La Cả là Lý Đat Kính dạy làng La Nội và Lý Phúc Trường dạy cho dân làng Ỷ La Nghề dệt ở làng La
Cả xưa nít phát triển với sàn phẩm the “the La, lụa Vạn, vải Canh” hay “the
La, lĩnh Bưởi, chồi Phùng” The làng La Cả nổi tiếng với sản phẩm hoa trơn, khổ hẹp rất bển và đẹp so với công nghệ Vu các sản phẩm thời bấy giờ The lụa làng La Cả từ lâu đã trở thành hàng hoá được nhiều nơi biết đến Phần lớn the lụa được các lái buôn gom vào các phiên ngày 5 và 10 tại nhicu điểm dọc đường làng mang ra kinh thành Thăng Long hay các hiệu buôn ở thị xã Hà Đông để bán Chỉ còn rất ít the lụa lẻ được bán tại phiên chợ tơ ngày 3 và ngày
8 ở chợ La Trước kia kỹ thuật dệt thô sơ, những người làm nghề dệt rất vất vả Ngày nay, nghề dệt của các làng vẫn được duy trì và cải tiến về kỹ thuật, máy móc đã thay thế dần sức lao động, năng xuất cao hơn, tạo ra nhiều sản phẩm chiếm lĩnh được thị trường Nó vượt ra khỏi tính chất gia đình Nhân công được thuê mướn ngày càng nhiều hơn Lớp thợ thủ công chuyên nghiệp cũng hình thành Nhờ vậy mà cả 3 làng được cấp danh hiệu là làng nghề thủ công truyền thống
2.1.2.3 Thương nghiệp
Hầu hết các hộ gia đình trong làng làm kinh tế hỗn hợp (nông nghiệp và phi nông nghiệp) Mặc dù lấy nông nghiệp làm gốc nhung thu nhập từ nghề dột cao hơn Cũng do có nghề phụ nên làng đã hòa nhập vào cơ chế thị trường,
có mức sống khá giả, có sản xuất hàng hóa VỊ trí cận đô thị giúp nghề thủ công, buôn hán được mở rộng
1 Do ỏng Dương Minh Doanh thôn Ỷ La giữ, TS Bùi Xuân Đính dịch (bản viết tay).
2.1.2.2 Thủ công nghiệp.
Trang 31Sự phục hổi một số ngành nghề buôn bán, thủ công nghiệp truyền thống
trong chừng mực nhất định là sự phục hổi cơ chế tự chủ ở nông thôn Sản xuất
hàng hóa di kèm với lưu thông nên buôn bán phát triển tương ứng Làng La Cả
có truyền thống sản xuất và lưu thông hàng hóa nên có điều kiện phát triển
nhanh với kinh tế thị trường Chức năng cũ của làng như điều hành sản xuất,
xã hội, hành chính đã mất dần đi
2.1.3 Văn hóa tâm linh
Làng được xem là đơn vị cộng cảm về văn hoá, là nơi thờ cúng tôn giáo
tín ngưỡng cộng đồng Làng thờ thành hoàng, mỗi dòng họ có nhà thờ tổ, mỗi
ngành nghé có thờ tổ phụ, có ngày giỗ tổ sư, mỗi gia đình có bàn thờ tổ tiên,
ông bà và những người đã khuất Trong làng hiện còn lưu giữ nhiều di tích
lịch sử có giá trị
Hệ thống di tích của làng rất đa dạng: đình, quán, chùa Hoa Nghiêm
(dược công nhận là Di tích Lịch sử văn hoá theo Quyết định số 78 do Bộ
trưởng Bộ Văn hoá ký ngày 21 tháng 01 năm 2001) Các di tích trên đều có bề
dày lịch sử gắn với làng nhưng đặc biệt nhất phải kể đến là đình làng Đình
nhìn theo hướng Tây, có kết cấu chữ "Nhị", gồm nhà tiền tế và đại bái Hai
làng đựng chung gian giữa, các gian còn lại của đình mỗi làng dựng một nửa
(La Nội dựng nửa bên phải; Ỷ La dựng nửa bên trái) Nửa La Nội khánh thành
vào năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), trong khi nửa của Ỷ La năm Minh Mệnh thứ
9 (1828) đã xong Từ đó, mỗi làng phải lo tu sửa phần đình bcn mình Mỗi khi
hội họp, quan viên của từng làng cũng ngồi theo phẩn đình làng mình
- Chùa : làng La Cả có chùa lớn chung cho cả La Nội và Ỷ La, tên chữ
là Hoa Nghiêm tự, dân làng thường gọi là chùa Cả Chùa nằm hướng Nam, kết
cấu kiểu “ Nội cổng ngoại quốc” Ngoài hệ thống bia, còn có các di vật quý là
27
Trang 32quả chuông "Hoa Ngliiêm lự cluing" được khánh thành vào ngày 16 tháng 3
năm Minh Mệnh thứ 20 (1839) Đày là quả chuồng lớn đường kính miệng đến 1,2 mét nặng 1200 cân, do quan viên hương lão và các Phật tử góp tiền đúc; thứ hai là chiếc khánh đúc xong ngày 18 t h á n g giêng năm Cảnh Thịnh thứ 7 -
1793; thứ ba là quả chuông “Bạch Lễ tự chung" đúc năm Tự Đức thứ 4(1851).
- Quán : theo lưu truyền được dựng từ lâu, song mới được trùng tu năm
Ât Hợi đời Bảo Đại (1935) Quán gồm nhà tiền tế và hậu cung có kết cấu chữ
‘'Đinh” Trong quán có tượng của Đức Đương Cảnh cồng và hai vị phu nhân Ngoái ra còn có 10 dôi câu đối ca ngợi công đức thành hoàng và truyền thống văn hiến của làng
Văn chỉ La Nội: dựng năm Vĩnh Thịnh 6 (1710), gồm bia "Tiên liiển toạ", 2 bia có niên hiệu Minh Mệnh 4 (1823) và Khải Định 3 1918) ghi tên,
học vị, năm đỗ của các Tiến sĩ : Nguyễn Tử Mỹ, Bùi Hưng Vận, Đặng Công Mậu, Phó bảng Dương Công Bình; 2 bia ghi danh những người đỗ tam trường,
tứ trường thi Hương
Văn chỉ làng Ỷ La: ở cạnh trường Tiểu học của thôn, lập năm Vĩnh
Thịnh 7 (1711) gồm bia "Tiên hiền toạ" và các bia lập năm Tự Đức 15 (1862), Kiến Phúc nguyên niên (1884) ghi danh những người đỗ tam trường thi Hương của làng
- Nhà thờ các dòng họ: làng hiện còn 3 ngôi nhà thờ họ có giá trị : + Nhủ thờ họ Đặng: nhà thờ ở xóm Hạ, dựng vào ngày tốt tháng 4 năm
Minh Mệnh 18 (1837) Nhà thờ có kết cấu chữ “Nhị” gồm bái đường 3 gian, hậu cung 5 gian Họ Đặng này vốn là một nhánh của họ Đặng làng Lương Xá (huyện Chương Mỹ), gốc gác xa xưa từ họ Trần Tức Mạc (Nam Định) phân thành nhiều chi phái Chi họ Đặng La Nội sinh ra Tiến sĩ Đặng Công Mậu
Trang 33Nhà thờ Hiện trong nhà thờ còn lưu giữ 2 tấm bia, 4 hoành phi, 7 đôi câu đối
ca ngợi gia the d ò n g họ, 14 đạo sác phone, chức tước cho Đ ặng Có ne Mâu,
Đặng Liên và bố mẹ, vợ Đá ne Công Mậu; bản gia phả dòng họ, trong đỏ có ghi hơn 30 bài thơ đi sứ của Đặng Công Mậu
+ Nhà thờ họ Dương : ở xóm Đằng Giếng (La Nội), mới được dựng lại Tại đây có tấm bia " Từ đường biệt tự bi kỷ" lập ngày tốt tháng 2 năm Tự Đức
21 (1868) Bài vãn bia do Phó bảng khoa Mậu Tuất, Phương đình Nguyền Vãn Siêu, người làng Kim Lũ (xã Đ;u Kim, huyện Thanh Trì, Hà Nội) - bạn học của Dương Cống Bình soạn, nói về cuộc đời của Dương Công Bình; đạo sắc ngày 12 tháng 5 năm Cảnh Hưng 14 (1753) phong cho Dương Công Hổng- ông nội của Dương Công Bình làm Phấn lực tướng quân vì có công dẹp yên giặc giã
+ Nhà thờ họ Nguyễn Xuân ở Ỷ La : vừa là nơi thờ tổ, vừa là nơi thờ
Nguyễn Khoa Đệ - người có công mở lại đường khoa cử cho làng La Cả
Tại các điểm di tích kể trên, hàng năm đều diễn ra các lễ nghi tôn giáo Người chủ tế phải thay mặt dân làng cầu xin thành hoàng phù hộ cho dân làng
được nhân khang vật thịnli, phong đăng hoà cốc Những vị thần này có nguồn
gốc khác nhau nhung là người có công lập làng, là tổ sư của nghề dệt của làng Thành hoàng với chức năng bảo hộ và phát triển cộng đồng được thờ trong đình là mối dây liên kết mang tính thiêng liêng giữa các thành viên còn sống cũng như đã khuất trong làng Đáng kể nhất là hội làng La Cả (La Nội và
Ý La) Hội lệ bình thường chỉ diễn ra trong ngày 7 tháng giêng với lễ thức đơn giản Vào những năm phong đăng hoà cốc, làng mở đại đám từ mồng 7 đến hết 14 tháng giêng Đêm 14, hội diễn lại tích đánh hổ (còn gọi là “đánh biệt”) của thành hoàng Những hành vi tôn giáo tín ngưỡng này có sức mạnh liên kết
29
Trang 34cộng đồng mạnh mẽ trong một thời gian dài Nó đề cao tinh thần cộng đổng sâu sắc, tạo nên sự đồng tâm, nhất trí cao trong việc làm ăn chung ở xóm làng.
2.2 LÀNG LA CẢ, MỘT CỘNG Đ ồ N G VÃN HÓA - XÃ HỘI
2.2.1 Đát học và gánh nặng của truyền thống
Làng La Cả từ xưa đến nay có nhiều thuận lợi vi ở gán kinh thành Thăng Long, thêm vào đó kinh tế ổn định đã giúp cho nhiều thế hệ con em trong làng có diều kiện học hànlì Song quan trọng ỉ lơn đỏ clìính là mỗi ngưòi làng La đều ý thức được về đất học của mình Từ xưa làng đã nổi tiếng về
truyền thống hiếu học và khoa bảng Theo Lịch sử cách mạng xã Dương Nội
thì làng có 7 người đỗ đại khoa qua các kỳ thi của nhà nước phong kiến 4 Ngoài ra làng còn có 44 người đỗ hương cống, cử nhân Nguyễn Khoa Đệ người làng Ỷ La có công trong việc mở đường khoa cử Dân làng La Cả tôn ông là Khai khoa và lập bia thờ, tấm bia lập ngày 2 tháng 5 năm Cảnh Hưng thứ 45 (1784) hiện nay vẫn còn ở làng và mới được dòng họ Nguyễn Xuân tôn tạo lại Hàng năm các làng đều đến nhà bia lễ tạ ông vào ngày xuân tế Nối gót ông, nhiều người tổng La đi thi và đỗ đạt
Bên cạnh đó làng còn có một chế độ khuyến khích đối với người đi học
và đỗ đạt Trong điều 7 hương ước làng ghi: “ Kẻ sĩ chăm chỉ học hành thì được miễn lực dịch binh phần, học đến 26 tuổi mà chưa có giấy gọi vào trường thi thì không được dự lệ này nữa Ai nuôi được 2 - 3 người con chăm chỉ học hành thông về văn ký thì được cùng ngôi thứ với trưởng thôn; nếu có con đỗ
4 Danh sách cá c những người đỏ đại khoa ờ phán phu lục
Trang 35tiến sĩ thì được vào hội tư vãn” \ Đối với người dỗ đạt, điều 2 của hương ước quy định “ai đỗ tiến sĩ (văn), tạo sĩ (võ) làng mừng 3 quan tiền cổ, thưởng một mẫu ruộng, nếu dự vào các ban thì thưởng 5 sào; ai đỗ sĩ trọng thi hội, võ trùng bác cử thì thưởng 3 sào, đỗ tứ trường cũng thưởng như vậy” Đối với người làm quan, điều 2 hương ước ghi “Quan tam phẩm trong triều về hưu, hai
xã mừng thịt trâu, xôi rượu trị giá 6 quan Quan từ tứ phẩm trở xuống mừng thịt trâu, xối rượu giá 5 quan Sau khi mổ trâu xong, quan viên tư văn, cựu xã thôn trưởng, hương lão hai xã đến chúc mừng ở bản dinh” 6 Sự thành đạt trong học hành của người làng La Cả không chỉ là do ý chí của cá nhân mà còn nhờ vào sự khích lệ của toàn dân làng Chế độ khuyến học là nhân tố quan trọng khích lệ con cm gắng công học hành thành đạt, làm cho các làng thời nào cũng có người đỗ đạt, góp phần tạo nên truyền thống hiếu học và khoa bảng của làng
Truyền thống khoa bảng kéo theo luật tục nặng nề, lễ nghi phức tạp Những quan hệ gia đình phản ánh sự ảnh hưởng của Nho giáo sâu sắc nhất Trong các gia đình và sự yên ấm, hạnh phúc là mục tiêu hàng đầu, mọi thành viên phải hy sinh cá nhân để sống vì cộng đồng Quan hệ cộng đồng gia đình, dòng họ được đề cao hơn quan hệ cá nhân Thời phong kiến, những gia đình tam, tứ đại đổng đường được xem là mẫu mực vì thế cả làng vị nể, noi gương
họ Các gia đình này có đặc quyền, đặc lợi do địa vị cá nhân và dòng họ mang
Đối với người phụ nữ truyền thống, gia đình là xã hội thu nhỏ Và người con gái khi đã được cha mẹ gả bán phần lớn đều coi gia đình như toàn bộ đời sống của họ Đạo đức cổ truyền đòi hỏi người phụ nữ phải hy sinh cho gia
' Theo Hưcmg lệ hơi x ã L a N ộ i và Ỷ L a - Lập năm Cành Hưng 13 (1752), bản dịch, Viên Nghiên cứu Hán
Nỏm, D 53 (xem phu lục I).
* Theo Hương lệ hai x â L 7 N ộ i và Ý ỈM - (1(1.
31
Trang 36đình và chồng con; phải phục tùng các mong muôn của chổng, phụng sự cha rnẹ chổng Họ có trách nhiệm về hạnh phúc eia đình, có bổn phận lớn hơn trong việc giáo dục, nuôi dạy con cái nhưng lại phụ thuộc vào gia đình nhà chổng Người phụ nữ hy sinh, nhẫn nại, thủy chung, dù gian nan đến mấy cũng không được so đo, tính toán Tư tường trọng nam khinh nữ là nguyên nhân dẫn đến bất công đối với phu nữ Lẻ giáo phong kiến không cho phụ nữ quyền định đoạt thân phận mình Họ dược nhìn nhận thấp kém, bị lệ thuộc Trong khuôn khổ gia đình phụ hệ, hôn nhân dành cho người chồng trách
nhiệm và nguồn lợi của người eia trướng Đạo tam tòng dường như trói buộc
người phu nữ trong vòng kiềm tỏa gia đình
2.2.2 Tổ chức làng xã
2.2.2.1 Thành phần xã hội
Sự thành đạt về mặt khoa cử đã tạo ra một hệ thống thiết chế xã hội chặt chẽ thể hiện qua sự phân chia cư dân theo bằng cấp, phẩm hàm, chức tước {11, 30-31} Tám hạng dân có ngôi thứ ở đình là:
- Quan viên: là những người có hàm từ cửu phẩm trở lên, các cai đội;
các lý trưởng, tiên thứ chỉ (về sau là chánh phó hội), trùm văn hội đương thứ
Có quan viên mới được làm chù tố trong đám rước, múa côn trong lễ “đánh biệt” ngày hội
- Tư văn: những người có chút Nho học, văn học trong làng, làm nhiệm
vụ tế lễ, cầm trống cái, cờ vía vàng trong đám rước; cầm cờ đuổi nheo trong
lễ đánh biệt
- Hương lão: những người ở tuổi 50 (đã làm lễ lên lão) trở lên
- Xã aCic những người đã tham gia trong bộ máy hành chính cấp xã.
Trang 37- Ly hươni> (lịch: n hữ n g chức dịch d ư ơ n g thứ.
- Tân binh: n h ữ n g người đi lính cho Nhà nước dang tại ngũ
- Cựu binli: những người đi lính đã xuất ngũ
- Thôn trưởng-, các thôn trưởng dương nhiệm.
Những dinh nam không được xếp vào tám hạng trên thì không đượctham dự các sinh hoạt chính trị, xã hội ở đình Qua đó ta thấy vấn đề ưu đãi những người có chức tước và bằng cấp ở La Cả diễn ra rất rõ nét và nổi bật trong đời sống xã hội của cộng đồng
2.2.2 2 Tổ chức chính trị
Hội đồng kỳ mục được thành lập trên cơ sở 8 hạng dân trên, gồm các tân, cựu chánh, phó tổng và các chức sắc, quan lại về hưu Hai người có phẩm
hàm hoặc chức tước cao nhất được bầu làm tiên chỉ và thứ chỉ Họ có quyền
điều hành các công việc chung của làng Điều đặc biệt như trên đã đề cập, đó
là làng La Cả có hai Hội đổng kỳ mục cho hai làng La Nội và Ỷ La, bên cạnh
đó hai làng có chung đình chùa, hương ước, lẻ hội nên khi bàn đến các vấn
đề này phải có sự thỏa thuận chung của Hội đồng kỳ mục của cả hai làng.Ngoài Hội đồng kỳ mục, mỗi làng còn cổ bộ máy chức dịch, là bộ máy nhà nước phong kiến ở làng Đứng đầu lý trưởng và một hoặc hai phó lý, do dân bầu ra và được Nhà nước công nhận ị 16, 46)
2.2.23 Tổ chức xã hội
Ngoài quan hệ huyết thống, các thành viên tập hợp nhau trong những tổ chức đa dạng: xóm, giáp, phường Cùng với đó là thiết chế để phân công, tổchức thực hiện các công việc của đời sống cộng đổng
Trang 38Ở làng La Cả xưa cỏ lÀínỊị La phường là phường của những người làm
nghề dệt Phường gồm 4 giáp: D ông - Nam - Đ oài - Bắc Mỗi giáp có 9 câu
dương Những người này lại cử ra 4 ỏng trùm để điều hành công việc trong
giáp Mục đích của lăng La phường là động viên giúp đỡ lẫn nhau trong hoạt dộng nghề nghiệp, hàng năm tổ chức lễ hội tưởng nhớ thánh sư nghề dệt từ ngày 8 đến 12 tháng 3
Như đã trình bầy ở trên, làng La Cả xưa có 20 xóm Xóm là nơi cộng cư íhco quan hệ láng giềng của những người nông dân Theo quy định chung, 18 tuổi thì làm lễ vào xóm, lễ gồm trầu cau (số lượng đủ cho mỗi đinh nam đã vào xóm mỗi người một miếng) cùng một khoản tiền Có một số xóm quy định người có vợ mới được vào xóm vì quan niệm, có vợ mới biết lo cho cuộc sống gia đình thì mới có thể đảm đương được các nghĩa vụ của cộng đồng Mỗi xóm có một điếm xóm vừa là nơi tổ chức các sinh hoạt chung, vừa là nơi tuần phiên canh gác
Đứng đầu một xóm là nậu xóm (trưởng xóm), cắt cử lần lượt theo thứ tự
tuổi tác từ 49 tuổi trở xuống, làm nhiệm vụ chỉ đạo, cắt cử các công việc trong xóm như cử người tuần phòng (mỗi xóm mỗi đêm 5 người), dọn vệ sinh, cúng hậu xóm, tổ chức các kỳ cúng lễ trong năm Nhiệm kỳ của nậu xóm là một năm
Giáp là thiết chế của nam giới trong làng La Cả, đảm nhận nhiều công việc trong làng như tổ chức biện lễ, phục vụ tế lễ, rước sách thờ thành hoàng làng, lo tang lễ cho người chết Lúc đầu làng có 21 giáp, sau cứ 3 giáp lâp thành một “thôn”7 Đứng đầu mỗi "thôn" là một "thôn trưởng”, chịu trách nhiệm điều hành các công việc chung trong thôn, đốc thúc các giáp chuẩn bị
đồ cúng tế, cờ quạt, đuốc cho đám rước, khám xét đê điều; cùng lý phó
Trang 39trường, kỳ mục hoà giải các vụ tranh chấp, xir phạt các vụ vi phạm hương ước Nhiệm kỳ của thôn trưởng là 3 năm, hết nhiệm kỳ nếu không mắc lồi có thể được báu lại một lần nữa, nếu không làm tiếp thì được vị thứ trong đình.
Mỗi thành viên nam giới sinh ra ở làng đều phải gánh vác nghĩa vụ với làng thông qua giáp và xóm, trong đó 3 nghĩa vụ nặng né nhất là lềnh làng (trưởng giáp), “nậu xóm” và “trưởng phe” Còn lại người ta gắn kết lợi ích với nhau trong các tổ chức lợi ích tự nguyện như phe hay phường, hội Trong đó hội tư văn gồm những người có hiểu biết Nho học, văn học, giữ một vai trò nổi bật trong đời sống của làng
2.2.2.4 Lôi c ư trú
DÒI1 ọ h ọ được xem như gia đình mở rộng, là tập hợp những người đang sống và những người đã chết có chung một dòng máu Mối liên kết được củng
cố bằng ý thức về một ông tổ, cương lĩnh tinh thần dòng họ (gia phả), nhà thờ
họ Dòng họ chỉ mang ý nghĩa là đơn vị thờ cúng và là chỗ dựa tinh thần cho các thành viên chứ không có ý nghĩa về kinh tế Theo lưu truyền thì xưa kia làng La Cả có tới 63 dòng họx Nhiều dòng họ lớn có vai trò thật sự trong sinh hoạt làng xã như: Dương, Đặng, Nguyễn Trung, Nguyễn Xuân Do yếu tô' đồng canh hỗn cư nên nhiều gia đình, dòng họ sinh sống ở phần thổ cư của La Nội nhưng lại ãn ngôi thứ ở Ỷ La và ngược lại Có gia đình ở cạnh nhau nhưng sinh hoạt ngôi thứ tại hai làng, chịu sự quản lý hành chính của 2 xã khác nhau Trong quá trình phát triển, cư dân biến động, số dòng họ và số giáp cũng có nhiều thay đổi Dòng họ trên thực tế đã giải thể thành gia đình hại nhân Quan
hệ dòng họ chỉ còn đóng vai trò là chỗ dựa tinh thần, gắn kết với nhau mang tính tôn giáo (tục thờ cúng tổ tiên) Tuy nhiên sẽ là thiếu sót nếu nghiên cứu
7 Như vây, “thôn” ờ đay chi là môt cum giáp nằm trong làng, khổng phải là một làng dược ghép vào mội đơn
vi hành chính cấp cơ sờ )xã) với 1 ho Ac 2 làng khác.
* Theo lưu truyén, làng La Cà xưa có 21 giáp, mỗi giáp 3 dòng ho, vẠy cà làng c ó tất cả 63 dòng ho.
Trang 40mối quan hệ gia đình mà bỏ qua dòng họ Làng La Cả vần còn dấu vết cư trú theo dòng họ, điển hình như các dòng họ: Nguyễn, Dương các gia dinh cùng
họ với nhau sống theo chiều dài một con ngõ
Trước kia, chế độ gia đình khuyến khích các gia đình tam tứ đại đổng đường cùng chung sống Trong làng đề cao gia đình có ông bà, cha mẹ sống lâu, khoe mạnh, đông con nhiều cháu, làm ăn Ihuận lợi, cả nhà hòa thuận và rất vị nể họ Tuy nhiên, xu hướng chung của các gia đình là sông theo ba thế
hệ gồm: ông bà vợ chổng con trai trưởng và các con của họ Những người con khác có thể sống chung với bố mẹ trong thời gian ngắn sau đó tách hộ ở riêng Dán làng La Cả cho rằng làng La Tinh là tập hợp những người con trai lập gia đình ra ở riêng tại đó Như vậy việc tách ra sống riêng của những người con trai đã gia đình không phải là xu hướng mới ở làng La Cả
2 2 3 B iế n đ ổ i x ã h ội
2.2.3.1 V é tổ chức chính trị, x ã hội.
Hiện nay làng La Cả vẫn tồn tại hai thôn La Nội và Ỷ La được chia thành mười xóm: Hoàng Hanh, Trung Kiên, Đoàn Kết, Vinh Quang, Quyết Tâm, Thắng Lợi, Thống Nhất, Quang Minh, Hòa Bình, Hoàng Vãn Thụ
Thiết chế xã hội mới ở xã có Hội đổng nhân dân, Ưỷ ban nhân dãn và các tổ chức như: Mặt trận Tổ Quốc, Công an, Hội cựu chiến binh, Hội nông dân, Hội chữ thập đỏ, Y tế, Hội Người cao tuổi, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh có nhiều cố gắng trong việc tập hợp, động viên các hội viên thực hiện các phong trào thi đua của đoàn thể mình, góp phần vào những thành tích chung của xã Các tổ chức hội đã phối hợp chặt chẽ và tạo điều kiện thuận lợi cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy, Hội đổng Nhân dân, ủ y ban Nhân dân xã; động viên các đoàn thể quần chúng thực hiện các phong trào của