Trong việc tiếp cận với nghi lễ lên đồng của ng-ời Việt thì đầu tiên tôi làm quen với ông thầy đồng ở ven đô Hà Nội.. Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Tổng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
SILAPAKIT TEEKANTIKUN
NGHI LỄ LÊN ĐỒNG CỦA NGƯỜI VIỆT Ở MIỀN BẮC
VIỆT NAM VÀ CỦA NGƯỜI LÀO Ở ĐÔNG BẮC THÁI LAN
Trang 2Mở Đầu
1 Lý do chọn đề tài
Về mặt lịch sử, nghi lễ lên đồng của ng-ời Việt cũng nh- của ng-ời Lào ở
Đông Bắc Thái Lan ch-a có tài liệu nào có thể khẳng định chính xác đ-ợc nguồn gốc xuất hiện trong xã hội của chúng Tuy nhiên, trong quá trình phát triển xã hội chúng luôn luôn tồn tại và phát triển cho đến nay
Có thể nói nghiên cứu về đề tài này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, đó là:
Lên đồng của ng-ời Việt cũng nh- lên đồng của ng-ời Lào ở Đông Bắc Thái Lan là một tín ng-ỡng cổ nh-ng còn tồn tại, thậm chí vẫn duy trì đến hôm nay Tuy nhiên, sự tồn tại và duy trì của chúng ít nhiều phải phụ thuộc vào yếu
tố xã hội, có nơi với điều kiện xã hội thuận lợi tạo cho chúng phát triển trở thành một tín ng-ỡng hay tôn giáo của một dân tộc, nh-ng có nơi chúng chỉ tồn tại nh- là sinh hoạt tín ng-ỡng của cá nhân hay nhóm ng-ời
Trên thực tế, lên đồng không chỉ tồn tại riêng biệt mà còn tác động đến
đời sống xã hội của con ng-ời, nhất là chữa bệnh, thỏa mãn nhu cầu tài, lộc
Điều này thể hiện rõ tầm quan trọng và cần thiết của lên đồng đối với con ng-ời Tuy nhiên, có nơi lên đồng chỉ tác động đến yếu tố chữa bệnh rồi dừng lại ở đó,
có nơi ngoài yếu tố chữa bệnh nó còn tác động đến nhiều yếu tố khác nữa nh-: thoà mãn nhu cầu tài, lộc v.v
Hơn nữa, lên đồng là thể hiện văn hóa dân tộc, bản sắc dân tộc Điều này
có thể thấy mỗi dân tộc có đặc tr-ng lên đồng riêng Nh- lên đồng trong Đạo Mẫu Tứ Phủ của ng-ời Việt nhập hồn nhiều lần và mỗi lần có thay lễ phục theo các vị thần linh, còn lên đồng của ng-ời Lào ở Đông Bắc Thái Lan nhập hồn một lần và không thay lễ phục, nh-ng có cái chung là đều nhập hồn Có thể nói lên đồng là một thành tố văn hóa của một dân tộc và nó góp phần tạo nên một
Trang 3Nghiên cứu nghi lễ lên đồng của ng-ời Việt ở miền Bắc Việt Nam và của ng-ời Lào ở Đông Bắc Thái Lan có thể giúp thêm t- liệu cho các cơ quan chức năng của hai phía định h-ớng hoạt động này sao cho lành mạnh, phù hợp với bản sắc, truyền thống văn hóa của các c- dân Đồng thời công trình cũng hy vọng góp phần định h-ớng các hoạt động này, chống các hành vi lợi dụng lên
đồng để tuyên truyền mê tín dị đoan và tục lệ bất chính
2 Mục đích nghiên cứu
1 Để hiểu về nghi lễ lên đồng của ng-ời Việt ở miền Bắc Việt Nam Đây
là địa bàn "khai nguyên" , là cái nôi văn hóa của ng-ời Việt, vẫn bảo l-u nhiều hiện t-ợng của các hình thái tôn giáo sơ khai, thông qua tìm hiểu lên đồng để hiểu thêm khía cạnh này
2 Để hiểu về nghi lễ lên đồng của ng-ời Lào ở Đông Bắc Thái Lan Ng-ời Lào (hay ng-ời Isản) ở Đông Bắc Thái Lan vẫn đ-ợc coi là bộ phận c- dân giữ tục lên đồng tiêu biểu nhất của Thái Lan Tìm hiểu tục lên đồng của họ cũng hàm chứa ý muốn tìm hiểu về một phần văn hóa tinh thần độc đáo của bộ phận c- dân này
3 Để so sánh một số điểm t-ơng đồng và khác biệt giữa hai đối t-ợng này Nghiên cứu sẽ l-u ý so sánh về đối t-ợng hành nghề, căn nguyên của tục lên đồng, các nghi thức và ảnh h-ởng của nó trong đời sống cộng đồng
3 Phạm vi và địa bàn nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là nghi lễ lên đồng của ng-ời Việt ở miền Bắc Việt Nam và của ng-ời Lào ở Đông Bắc Thái Lan Về địa bàn chính để nghiên cứu, luận án giới hạn hẹp hơn là phạm vi Hà Nội (chủ yếu là nội thành) và tỉnh Nakhonratchasima, miền Đông Bắc Thái Lan, cụ thể là ở 3 huyện: Sung Nơn, Sí Khiu, Pặcthôngchai
Trang 4Sở dĩ chúng tôi lựa chọn nghi lễ lên đồng của ng-ời Việt làm đối t-ợng nghiên cứu vì tr-ớc hết, ng-ời Việt là c- dân "chủ thể" của đồng bằng Bắc Bộ và cũng đ-ợc coi là bộ phận vẫn giữ đ-ợc các giá đồng bài bản nhất Và chăng, đây cũng là địa bàn quen biết và chúng tôi đã giành thời gian tìm hiểu trong nhiều năm (gần 10 năm)
Với ng-ời Lào ở Đông Bắc Thái Lan tình hình cũng t-ơng tự ở Thái Lan vùng này đ-ợc coi là khu vực của "văn hóa lên đồng" Tôi đang làm công việc giảng dạy ở khu vực này và cũng đã giành nhiều thời gian nghiên cứu vấn đề này nên có điều kiện hiểu biết tốt hơn
4 Ph-ơng pháp nghiên cứu
Để có thể thâm nhập vào thế giới tâm linh của các ông/bà đồng và có
đ-ợc dữ liệu cần thiết về nghi lễ thì b-ớc đầu phải tiếp cận đ-ợc những đối t-ợng chính Hay nói một cách khác là phải có đ-ợc những ng-ời cung cấp thông tin chính cho ng-ời nghiên cứu Trong việc tiếp cận với nghi lễ lên đồng của ng-ời Việt thì đầu tiên tôi làm quen với ông thầy đồng ở ven đô Hà Nội Với sự nhiệt tình giúp đỡ của ông, tôi đã đ-ợc tham dự nghi lễ lên đồng rất nhiều lần do chính ông và các con nhang của ông tổ chức Và sau đó, tôi đ-ợc quen biết với một ông thầy cúng do ng-ời quen giới thiệu Ông đã mời tôi đến
dự nghi lễ lên đồng rất nhiều lần ở một đền và một số điện t- ven đô Hà Nội Sau này, tôi đ-ợc quen với một bà đồng do họ hàng của bà giới thiệu Bà đã mời tôi tham dự nghi lễ lên đồng do bà tổ chức Và khi bạn bè cùng giới lên đồng của bà tổ chức nghi lễ lên đồng, họ cũng mời tôi tham dự Có rất nhiều lần tôi đi theo họ đến các đền phủ chính thờ thần thánh trong hệ thống tâm linh của họ
Đối với nghi lễ lên đồng của ng-ời Lào ở Đông Bắc Thái Lan thì đầu tiên tôi làm quen với một nhạc công/mo khen Vì nhạc công là những ng-ời hay có lịch
Trang 5một thời gian tôi đã quen biết thêm một ông thầy đồng Tôi đã theo ông đi dự buổi lễ của con nhang của ông nhiều lần
Ph-ơng pháp quan sát tham gia Tôi sử dụng ph-ơng pháp này khi có dịp tham dự nghi lễ lên đồng của cả ng-ời Việt và ng-ời Lào Tôi cố gắng quan sát mọi hành động đ-ợc diễn ra trong buổi lễ và ghi chép trực tiếp những gì tôi đ-ợc chứng kiến
Ph-ơng pháp phỏng vấn Tôi sử dụng ph-ơng pháp này để có đ-ợc thông tin cá nhân của các ông đồng bà đồng Những cuộc phỏng vấn đó đa số đ-ợc thực hiện trong buổi tổ chức nghi lễ vào thời gian rành rỗi của họ Và có một số tr-ờng hợp tôi đ-ợc phỏng vấn tại nhà riêng của họ
Ph-ơng pháp mô tả dân tộc học Tôi sử dụng ph-ơng pháp này trong quá trình viết luận án để mô tả tiến trình nghi lễ, các yếu tố trong nghi lễ v.v
5 Kết quả nghiên cứu
-Hiểu đ-ợc thực chất nghi lễ lên đồng của ng-ời Việt ở miền Bắc Việt Nam
-Hiểu đ-ợc thực chất nghi lễ lên đồng của ng-ời Lào ở Đông Bắc Thái Lan, đặc biệt ở tỉnh Nakhonratchasima
-Khẳng định đ-ợc điểm t-ơng đồng và khác biệt giữa hai đối t-ợng này
6 Cấu trúc luận án
Nội dung trong luận án này đ-ợc kết cấu thành 5 ch-ơng bao gồm:
Ch-ơng 1, Tổng quan về tình hình nghiên cứu Đề cập đến vấn đề lý do chọn đề tài, lịch sử vấn đề, cơ sở lý thuyết và ph-ơng pháp nghiên cứu, phạm vì
và địa bàn nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu v.v
Ch-ơng 2, Nghi lễ lên đồng của ng-ời Việt ở miền Bắc Việt Nam Nội dung của ch-ơng này nói đến nghi lễ lên đồng của ng-ời Việt ở miền Bắc Việt
Trang 6Sơn Ngoài việc miêu tả còn có phần phân tích, đặc biệt về vấn đề sự cầu mong
“lộc trần” của các ông/b¯ đồng Ngo¯i ra, cũng đề cập đến việc trở thành ông/bà
đồng của ng-ời Việt ở miền Bắc Việt Nam
Ch-ơng 3, Nghi lễ lên đồng của ng-ời Lào ở Đông Bắc Thái Lan Đề cập
đến việc miêu t° nghi lễ “khuồng phi phon” của người L¯o ở tỉnh Nakhonratchasima tr-ờng hợp của hội bà đồng Noi Việc tiến hành nghi lễ của
lễ lên đồng của hai đối t-ợng này
Ch-ơng 5, Nghi lễ lên đồng và xã hội đ-ơng đại Nội dung của ch-ơng này đề cập đến sự thăng trầm của nghi lễ lên đồng trong xã hội đ-ơng đại Trong thời buổi kinh tế thị tr-ờng nh- hiện nay, nghi lễ lên đồng càng phát triển mạnh Nhưng nghi lễ “khuồng phi phon” của người L¯o đang trong tình trạng giảm sút
Trang 7Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Nghi lễ lên đồng của người Việt 1
Thực ra nghi lễ lên đồng trong tín ngưỡng Tứ Phủ của người Việt đã được nhiều nhà nghiên cứu trong cũng như ngoài nước tiến hành nghiên cứu từ lâu với cách nhìn nhận khác nhau và đến nay với sự huyền bí ấy vẫn có không ít nhà nghiên cứu, già lẫn trẻ trong đó có tôi, cứ theo đuổi nghiên cứu đề tài này
Tài liệu đầu tiên tôi tìm được dựa theo năm xuất bản từ xưa đến nay2 là
của ông Phan Kế Bính Trong cuốn sách Việt Nam phong tục (3) của ông, xuất
bản đầu tiên năm 1915, có phần viết đến lên đồng trong tín ngưỡng Tứ Phủ Theo ông những người lên đồng đó gọi là Đồng Cốt, thờ về Chư vị Những người thờ bà Liễu Hạnh công chúa, Thượng Ngàn công chúa gọi là đồng Đức
mẹ, thờ các vị Hoàng Tử gọi là đồng Đức ông, thờ các vị Cậu gọi là đồng Cậu quận, thờ các Cô gọi là đồng Cô Người nào Chư vị bắt đồng phải ngồi đồng hầu bóng thánh Ngoài cung cấp thông tin tác giả còn có lời phê phán rằng những người tin vào Đồng Cốt là những người có lòng mê tín
Cuốn sách Việt Nam văn hóa sử cương của Đào Duy Anh (1) cũng có
phần nói đến lên đồng Đó là, những người thờ Chư vị gọi là đồng cốt hay bà đồng Đàn bà con gái xem bói hay nằm mộng thấy có số thờ phải đến làm lễ đội bát hương ở tĩnh hay phủ để xin làm con công đệ tử Người bị các bà công chúa (con Ngọc Hoàng) bắt làm con đồng gọi là đồng Đức mẹ, con đồng các ông Hoàng tử gọi là đồng Đức ông, còn đồng Cậu quận và đồng Cô là con đồng của những vong hồn các con trai con gái nhỏ chết nhằm giờ thiêng Trong hàng
Trang 8Chư vị được nhân dân sùng bái hơn cả là thánh Liễu Hạnh Mỗi năm cứ mùng
8 tháng 3 âm lịch là ngày vía Mẫu thời các bà đồng họp lại ở hội Phủ Dầy để lễ bái và lên đồng, tục gọi là hội Bà Cốt Ở hội ấy các bà đồng lại thi nhau và gieo
âm dương xin thánh cử người trúng tuyển làm bà Đồng quan Ông kết luận rằng chỉ là một mớ mê tín nhảm nhí
Cuốn sách Văn minh Việt Nam của Nguyễn Văn Huyên (11) có phần nói
đến lên đồng như là một sinh hoạt đạo Lão dân gian Việt Nam, đó là việc thờ Chư vị Chư vị là những thần linh nữ nam ở ba thế giới, Tam phủ: Thiên phủ, Địa phủ và Thủy phủ Những người làm bà đồng là do Chư vị chọn , qua nằm mộng hay đột nhiên cảm thấy thần kinh bải hoải, chán công việc nội trợ và gầy
đi Thường thường, người ta trước hết làm thoả lòng Chư vị bằng cách đội bát hương, với sự giúp đỡ của người coi đền và một người cung văn Bà ta ngồi thụp trước bàn thờ, trên đầu đặt một cái mâm hay một cái hộp sơn đựng những bát hương đầy tro, trong đó cắm những nén hương Nếu việc đội bát hương không làm cho người ốm qua khỏi, buộc phải để người đó làm bà đồng Khi đã trở thành bà đồng thì phải đến bàn thờ lên đồng hầu Chư vị đều đặn, nhiều bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu nếu muốn được khoẻ mạnh và phát tài
Cuốn sách Nếp cũ tín ngưỡng Việt Nam của Toan Ánh (2) trong phần
biến thể của đạo Lão cũng có nói đến Đồng Cốt Đồng Cốt là những người có căn thờ về Chư vị như Liễu Hạnh công chúa, Cửu Thiên Huyền nữ, Thượng ngàn công chúa hoặc các vị Hoàng tử, các cậu các cô Đồng Cốt chia ra đồng Đức mẹ, đồng Đức ông, đồng cậu, đồng cô tùy theo người có căn thờ theo vị nào Có người có căn số thờ một vị, có người theo căn số phải thờ nhiều vị Những người có căn số phải thờ là những bà cô hay đau yếu, nằm mơ thấy bay lên không lội dưới nước Khi đi xem bói là được bảo có số thờ, thánh bắt đồng Những người có số thờ phải đội bát phù hương xin làm con công đệ tử ở một
Trang 9thì phải ngồi bóng thánh Những ngày rằm, mồng một, tuần tiết, hoặc khi có người nào đau yếu đến điện kêu cầu, đều có ngồi đồng hầu bóng
Cuốn sách Mê tín dị đoan-một tệ nạn xã hội cần xóa bỏ do Trương Thìn
chủ biên (30) có nói đến lên đồng, là một hình thức biểu hiện tính chất cuồng tín, nhảm nhí nhất của mê tín dị đoan Bọn làm nghề đồng bóng thường đánh vào tâm lý những người phụ nữ lạc hậu, kém hiểu biết, nhất là đánh vào tâm lý những người hay đau ốm hoặc con cái khó nuôi, hiếm muộn cho là mình cao số nặng, có số thờ, nên phải sắm lễ vật để đội bát nhang, ngồi đồng để được ngồi nghe thánh dạy hoặc để xin tàn nhang nước thải , bùa bèn giải vận hạn, trừ ma, trị bệnh v.v Đồng bóng đi liền với ăn uống, hút sách, với trưng diện khăn chầu áo ngự, với đàn ngọt hát hay của cung văn nên cũng là một hình thức khá hẫp dẫn đối với bọn ăn không ngồi rồi kiểu nhàn cư
Dùng âm nhạc, hát và múa vào đồng cốt chính là một thủ đoạn nhằm kích thích thần kinh, gây thêm không khí huyền ảo và tạo nên sự hấp dẫn để thu hút người mê tín, kể cả những người vốn trước đó còn chưa tin vào thần thánh Trong một đám ngồi đồng có cung văn vừa đàn vừa hát, làn điệu và lời hát như vừa nịnh nọt vừa dỗ dành vừa nhún nhảy Trong khi đó người ngồi đồng tự cảm thấy có thánh nhập vào cộng thêm mùi hương trầm quyện với mùi hoa thơm, đôi khi còn ngụm một chén rượu Đầu bỗng thấy nằng nặng Rồi mê đi, những lời nói vu vơ như vừa ở thế giới vô hình nào hiện về Thế là người xung quanh cho là thánh đã nhập vào người ngồi đồng Lời nào cũng là lời thánh truyền, Mẫu dạy được những người mê tín vừa run sợ vừa tôn kính và nghe theo Thủ thuật duy nhất của tệ đồng bóng là triệt để tận dụng lòng mê tín của mọi người, dẫn họ đến cuồng tín Những người có bệnh và gia đình họ một khi đã phải nhờ đến quyền uy của thần thánh thì trong lòng họ phải có một sự tôn kính thành tâm nhất định Thế mà thánh truyền uống nước tàn hương nước thải, xoa quết
Trang 10trầu vào chỗ đau, dù bẩn thỉu thế nào họ cũng làm theo Chính vì sự cuồng tín này mà không ít trường hợp đã dẫn đến hậu quả tai hại tiền mất tật mang
Cuốn sách Hát Văn do GS.TS Ngô Đức Thịnh chủ biên (37), dù tên sách
mang nặng về âm nhạc nhưng trong đó phần nói về lên đồng lại đi song song với hát văn Tác giả cho biết, nghi lễ lên đồng thường diễn ra nhiều dịp trong năm Trước khi lên đồng, người lên đồng phải chọn ngày lành, báo trước chủ đồng đền, mời bạn bè, mời hai người hầu dâng, mời cung văn Ngoài ra phải chuẩn bị các lễ vật dâng cúng, phải sắm trang phục theo nguyên tắc là mỗi giá đồng phải có một trang phục riêng Các bước tiến hành trong lên đồng là Thánh giáng và thánh thăng, thay lễ phục, thắp hương làm phép, múa đồng, ban lộc và nghe chầu văn, thánh thăng Những vị thánh giáng đồng gồm các giá: thánh Mẫu, Quan, Chầu, Ông Hoàng, Cô, Cậu Tác giả kết luận rằng từ góc độ Folklore, lên đồng là một hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể và là một hình thức sinh hoạt tín ngưỡng–văn hóa cộng đồng
Cuốn sách Đạo Mẫu ở Việt Nam do GS TS Ngô Đức Thịnh chủ biên
(36) Về nội dung nghi lễ lên đồng trong cuốn sách này không khác nhau lắm với nội dung trong cuốn sách Hát Văn trước đây Tuy nhiên, tác giả đã bổ sung thêm về sự phân tích khác nữa đó là, lên đồng là một hình thức diễn xướng dân gian và một loại hình sân khấu tâm linh Vì trong buổi hầu đồng còn có hình thức múa gọi là múa đồng Múa có rất nhiều điệu múa và nhiều đồng tác khác nhau Các điệu múa đó đã thể hiện sự tái sinh của các thần thánh Cho nên với
sự kết hợp giữa âm nhạc lời hát và điệu múa nó đã tạo nên một sân khấu tâm linh riêng trong văn hóa tín ngưỡng Việt Nam
Cuốn sách Tín ngưỡng thờ mẫu ở miền Trung Việt Nam do Nguyễn Hữu
Thông chủ biên (38) cũng có phần nói về hiện tượng đồng bóng Tác giả cho rằng, với sự khắt khe đối với phụ nữ của xã hội phong kiến xưa đã tạo cho hiện
Trang 11cho nên việc tham gia của họ là để chuyện bức phá khỏi thế giới thực đã nhốt kín họ trong cuộc sống thường ngày Mặc dù ban đầu tác giả lý giải hiện tượng đồng bóng với mặt tích cực của nó Tuy nhiên cũng có phần nói đến mặt tiêu cực đó là một số người lợi dụng thế lực của thần linh qua mối giao hòa bí ẩn giữa chủ đền-giá đồng-thần linh do họ dựng nên tạo ra những biểu hiện vi phạm pháp luật và ảnh hưởng đến nhiều mặt của cuộc sống người khác như: việc lạm dụng đồ mã nhang đèn không đúng nơi quy định; hình thức chữa bệnh bằng các loại bùa chú, tàn nhang, nước thải; phải bỏ một số tiền quá lớn ngoài khả năng chi trả để mua sắm lễ vật tiến cúng
Cuốn luận án The Religion of The Four Palaces: Mediumship and Therapy in Viet Culture của Hien Thi Nguyen (88) là một tác phẩm nói đến tín
ngưỡng Tứ Phủ và nghi lễ lên đồng rất đầy đủ và có hệ thống Nội dung luận án
đã đề cập đến hệ thống thần linh của tín ngưỡng Tứ Phủ, nghi lễ lên đồng, sự trở thành ông đồng bà đồng, đồ cúng lễ v.v Tác giả đã kết luận rằng lên đồng là hình thức diễn xướng văn hóa và diễn xướng chữa bệnh trong văn hóa truyền thống người Việt
Cuốn sách Bước đầu học Phật-Mê tín chánh tín của Hòa Thượng Thích
Thanh Từ (29) cũng có phần nói đến lên đồng với tên gọi là đồng cốt Tác giả cho rằng đồng cốt là hiện tượng mê hoặc khủng khiếp Những kẻ làm ông đồng, bà cốt đều là người sống trong trạng thái bất bình thường Bản thân họ đã mất hết khả năng tự chủ, họ bị sai sử bởi một ma lực huyền bí nào đó Những
ma lực tựa vào đồng cốt đều là sức của quỷ thần Vì sợ người đời không tin nên chúng mạo xưng những danh hiệu cho to để gây uy tín
Bài Lên đồng-kho tàng sống của di sản văn hóa Việt Nam của TS Frank
Proschan (34), phân tích rằng lên đồng là bảo tàng sống của văn hóa và lịch sử Việt Nam Nó là một nguồn văn hóa, một kho tàng của nhiều loại nghệ thuật
Trang 12trong khi biểu diễn Ông lấy thí dụ như trang phục và các sản phẩm dệt trong buổi trình diễn Ông cho rằng những trang phục ấy hiếm khi còn được nhìn thấy trong cuộc sống hàng ngày, ngoài các cuộc lên đồng Những trang phục đó được người thợ thủ công tiếp tục sáng tạo và được các ông/ bà đồng sử dụng trong buổi lên đồng Mặc dù nó hoàn toàn không giống như trang phục của các quan lại xưa, nhưng được sự lựa chọn gần giống để thay thế Ông còn đề cập đến những nhân vật huyền thoại và lịch sử đã được các ông/ bà đồng làm sống lại bằng việc diễn tả những hành động và điệu bộ đặc trưng của các nhân vật đó
Và là một cuộc „biểu diễn văn hóa‟ có tính chất khuôn mẫu về giới và tộc người Vì trong buổi lên đồng có các vị nam và nữ thần đã được ông/ bà đồng lựa chọn để trình diễn và các thần linh có nguồn gốc dân tộc thiểu số cũng được xuất hiện trong buổi lên đồng
Bài Lên đồng ở Việt Nam-một sinh hoạt văn hóa tâm linh mang tính trị liệu của TS Nguyễn Kim Hiền (34), nhìn nhận lên đồng như là một sinh hoạt
văn hóa tâm linh mang tính trị liệu Tác giả cho rằng lên đồng được sử dụng như là một biện pháp trị liệu thực sự có hiệu quả Vì nó có tác dụng điều chỉnh những bất ổn tinh thần của một số người Hiệu quả trị liệu nổi bật của lên đồng dựa trên sự kết hợp gắn bó của các phương tiện trị liệu mang tính tâm thể (âm nhạc trong cơ cấu nghi lễ là một nhân tố đặc biệt quan trọng) với các phương tiện trị liệu mang tính tâm lý xã hội (trong đó hệ thống giải thích bệnh trong cơ chế biểu tượng đóng vai trò cơ bản) làm nên tác dụng trị liệu tổng hợp của hiện tượng lên đồng Tác giả cũng nhấn mạnh rằng lên đồng không phải là một trị liệu hướng đến sự hoàn thiện tuyệt đối, nhưng nó là một cách nhận thức lại về một tọa độ lịch sử xã hội và văn hóa của một cá nhân và cộng đồng để có điều kiện xác định được vai trò xã hội của mình, làm thức tỉnh và cảm nghiệm thấy ở mình một năng lực sống mới mạnh mẽ và có ý nghĩa hơn trước trong một cộng
Trang 13Bài Tín ngưỡng lên đồng từ cái nhìn của người trong cuộc của PGS TS
Lê Hồng Lý (34), nhìn nhận lên đồng từ khía cạnh của người trong cuộc Tức là cho một bà đồng tự kể chuyện về bản thần họ theo phương pháp tiểu sử bản thân (life story) Chuyện kể (Narrative story) của một nhân vật đó đã bắt đầu từ lúc bé và lớn lên Rồi nhân vật đó đã tiếp cận sinh hoạt đồng bóng như thế nào
Và cuối cùng nghi lễ lên đồng đã đem lại những gì cho bản thân họ Tác giả còn có vài nhận xét rằng, mục đính của lên đồng là để thoả mãn những nhu cầu tâm linh và mặt khác thoả mãn cả nhu cầu tôn giáo lẫn văn hóa của một tầng lớp khá giả, giàu có Và với sự bấp bênh của nền kinh tế thị trường chưa ổn như hiện nay làm cho họ phải dựa vào thần thánh để cầu mong trông cậy
Bài Spirit Performance and the Ritual Construction of Personal Identity
in Modern Vietnam của Kirsten W Endres (59) cũng là bài nghiên cứu về lên
đồng nhưng đối tượng chính là các ông đồng bà đồng Tác giả cho rằng nghi lễ lên đồng đã giúp cho ông đồng bà đồng có lời giải thích về bản thân của họ thông qua cái gọi là “căn số” Như người hay nóng tính là vì có căn thần linh hay nóng tính, người thất bại trong buôn bán vì không tin vào “căn số” phải thờ thần thánh cho nên bị thánh phạt, người có tính cách ái nam ái nữ vì có căn
“cô”
Cuốn sách Lên đồng: hành trình của thần linh và thân phận của GS TS
Ngô Đức Thịnh (31) cũng là một cuốn sách được nâng cao từ cuốn sách Hát Văn và Đạo Mẫu ở Việt Nam đã được công bố trước đây Nếu nội dung của cuốn sách trước nhấn mạnh nhiều về tính hệ thống và khía cạnh văn hóa thì nội dung trong cuốn sách mới này là bổ sung thêm về khía cạnh con người, là những người trong cuộc Các câu chuyện cá nhân của ông đồng, bà đồng được
bổ sung thêm rất phong phú và sinh động, ngoài ra hiện tượng tín ngưỡng-văn hóa này cũng được ông phân tích thêm với nhiều góc nhìn mới khác nhau như:
Trang 14sinh lý, ông cho rằng nghi lễ lên đồng giúp các ông đồng bà đồng, là những người đã bị cơ đầy, bị điên, bị ốm v.v tái hòa nhập với cộng đồng như người bình thường sau khi làm lễ mở phủ hay trở thành con nhang của tín ngưỡng này
Về khía cạnh giới, tác giả cho rằng lên đồng là hệ thống văn hóa gắn liền với giới tính nữ, phụ nữ là những người chiếm số đông trong việc tham gia nghi lễ
Về khía cạnh shaman giáo, tác giả cho rằng lên đồng là dạng thức nhập hồn nhiều lần của người Việt Trên là những cố gắng của tác giả cho việc giải thích hiện tượng tín ngưỡng văn hóa này một cách toàn diện
Các tài liệu trên cho thấy, lên đồng trong tín ngưỡng Tứ Phủ của người Việt đã được các học giả nhìn nhận với thái độ hay khía cạnh khác nhau Nhiều học giả đã nhìn nhận hiện tượng tín ngưỡng này như là một sinh hoạt mê tín dị đoan (Phan Kế Bính, Đào Duy Anh, Toan Ánh, Trương Thìn, Hòa Thượng Thích Thanh Từ) Nhiều học giả lại khẳng định là bản sắc văn hóa dân tộc (Ngô Đức Thịnh, Frank Proschan) Nhiều học giả thì cố gắng khai thác chức năng của nó như là một nghi thức chữa trị bệnh tật (Hien Thi Nguyen, Nguyễn Kim Hiền) Nhiều học giả lại cố gắng khai thác từ khía cạnh cá nhân ông đồng
bà đồng (Lê Hồng Lý, Kristen Endres)
1.1.2 Nghi lễ lên đồng của người Lào ở Đông Bắc Thái Lan
Người Lào ở Đông Bắc Thái Lan có nghi thức lên đồng duy nhất đó là
“người hát ma trời”/mo lăm phi phả Cũng như thế giới lên đồng trong tín
ngưỡng Tứ Phủ của người Việt, thế giới lên đồng của người Lào cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu khám phá với cách nhìn nhận khác nhau Dưới đây là các công trình nghiên cứu về lên đồng của người Lào sẽ được tôi trình bày theo thứ
tự thời gian
Cuốn luận văn của Kittaya Savengjareon (99) Nghiên cứu đối tượng
Trang 15chữa trị dân gian thông qua lễ nghi “Mo lăm phi phả” chữa trị bằng mời ma trời/phi then để giúp tìm ra nguyên nhân và cách chữa trị Thông thường người
ốm sẽ làm lễ cúng cho ma/phi hài lòng là sẽ khỏi bệnh
Bài Phi phả: việc chữa trị bằng tín ngưỡng dân gian (104) là bài phỏng
vấn một người phụ nữ làm “mo lăm phi phả” ở một làng ở Đông Bắc Bà “mo lăm phi phả” kể rằng những người có thể chữa bệnh cho người khác phải là người đã nhận bát nhang/ Khai từ người thầy “mo lăm phi phả” trước Người là
“mo lăm phi phả” có cả nam lẫn nữ giới, đàn ông thì có ma trời nữ nhập còn đàn bà thì có ma trời nam nhập và tin rằng họ là đôi cặp của nhau Chính vì vậy, khi chữa bệnh họ sẽ cầu xin cặp của mình ở trên trời giúp tìm ra ma/phi nào làm cho người ốm đau với tiếng khèn đệm của “mo khèn” Khi đến ngày rằm tháng 3 và tháng 6 mỗi năm họ sẽ tổ chức lễ “lông khuồng” ở nhà “mo lăm phi phả”
Bài Tục Lông Khuồng lăm phi phả của Kovit Kaiyasit (94) Nghiên cứu
đối tượng này ở làng Bungpha xã Latkhao huyện Chokchai tỉnh Nakhonratchasima Tác giả cho rằng nghi lễ “Lông khuồng lăm phi phả” xuất phát từ quan niệm dân gian về ma tổ tiên, đồng thời là nguyên nhân khiến con cháu ốm đau Việc “lăm phi phả” là để thờ cúng ma tổ tiên đã phù hộ và giúp
đỡ cho con cháu khỏi bệnh Mỗi năm người đã khỏi bệnh sẽ cùng nhau tổ chức
lễ “lông khuồng lăm phi phả” đầu tiên ở nhà đồng thầy/Khu Ba Nhài và sau đó
sẽ đến lần lượt ở nhà của các con nhang Nhạc cụ sử dụng trong buổi lễ chỉ có trống và khèn
Báo cáo nghiên cứu khoa học Vai trò của thầy lang trong xã hội nông thôn I-sán của Phicha Uitakul (93) cũng có phần nói về “mo lăm phi phả” Tác
giả đã nghiên cứu trường hợp một người phụ nữ “mo lăm phi phả” ở làng Nongtakai xã Nonsaat huyện Khonsavan tỉnh Chaiyaphum Tác giả cho rằng
Trang 16ma trời/phi phả hay ma Ông Từ nhập để báo những nguyên nhân gì khiến người
ốm và nên chữa trị như thế nào Mỗi năm sẽ tổ chức nghi lễ “Lông Khuồng” ở nhà “Khu Ba” để tạ ơn ma trời cùng sự tham gia của những người đã chữa khỏi bệnh, gọi là “Lục Nỏng”
Cuốn luận văn của Chaiyon Paopan (100) Nghiên cứu “mo lăm phi phả”
ở huyện Borabu tỉnh Mahasarakham và cho rằng “mo lăm phi phả” là một hình thức chữa trị dân gian Ngoài ra, “mo lăm phi phả” còn có vai trò động viên cho người ốm chống bệnh tật và có sự đoàn kết trong cộng đồng bản làng
Bài Phi Phả Phạ Nha Then của Bunyong Ketthet (92) đề cập đến tục thờ
Phi Phả Phạ Nha Then/ma trời của người Lào ở Đông Bắc Thái Lan Tác giả cho rằng Phi Phả Phạ Nha Then là một loại ma tối cao nhất trên các loại ma khác được dân tôn thờ Ma tối cao này sẽ giúp đỡ dân khi gặp những khó khăn hay tai hại, vì vậy có nghi lễ liên quan đến ma tối cao này Như là nghi lễ hát
ma trời/lăm phi phả để chữa bệnh, ngoài ra còn có nghi lễ xuống sân/lông khuồng phi phả được coi là lễ tạ ơn ma trời Phi Phả Phạ Nha Then còn là biểu tượng giữa con người với thiên nhiên, con người với siêu nhiên Những hành động được thể hiện trong lễ xuống sân/lông khuồng như trêu đùa hay nói về chuyện trai gái đã giúp cho những người tham gia thoải mái tinh thân và tạo sự đoàn kết trong cộng đồng Ngoài ra còn giúp người ốm đau có tinh thần chống đối với bệnh tật
Bài phóng sự tín ngưỡng thờ cúng Phi Phả-Viêng Chăn của Sompong
Chaosuon (103) Đề cập đến việc thờ cúng Phi Phả-Viêng Chăn của người dân làng Popan xã Tung Alun huyện Chokchai tỉnh Nakhonratchasima Nghi lễ này
có người phụ nữ 52 tuổi đứng ra tổ chức vào ngày mụng 3 tháng 6 (tháng 5 dương) hàng năm Những người tham gia đa số là người phụ nữ và sẽ cùng nhau múa để cúng Phi Phả và Phi Viêng Chăn với tiếng khèn đệm của nhạc
Trang 17công/mo khen Sau buổi lễ họ cùng nhau nấu nướng và ăn trong không khí vui mừng
Cuốn luận văn Phương pháp điều trị dân gian: Nghiên cứu trường hợp
Mo Lăm Phi Phả ở làng Nong Yai, huyện Venh Noi, tỉnh Khon Ken của Mariko
Kato (101), cho rằng “mo lăm phi phả” là một hình thức điều trị bệnh tật do sự hành động của ma/phi, nói một cách khác là do ma/phi làm Nghi lễ thường được tổ chức ở nhà người ốm đau và sau đó người ốm phải dâng lễ “khương cảo” để trở thành con nhang/ “lục sịt” của phi phả “Mo lăm phi phả” có ảnh hưởng rất nhiều với cá nhân người ốm cũng như cộng đồng ở thôn quê Vì vai trò của mo lăm phi phả ngoài giải thích bệnh tật và động viên cho cá nhân người
ốm còn có vai trò quản lý hành vi của thành viên trong cộng đồng và nhóm con nhang
Trong cuốn sách Di sản văn hóa tôn giáo: Quyền năng sáng tạo trong cộng đồng nông thôn của Kanchana Keothep (89) cũng có một phần nói về hình
thức lên đồng ma trời/phi phả, một dạng thức lên đồng rất phổ biến ở miền Đông Bắc Thái Lan Tác giả cho rằng nghi lễ chữa bệnh bằng cách nhập ma trời/phi phả là một dạng thức chữa bệnh dân gian Những người hành nghề được gọi là “nàng thiêm” Những nguyên tắc chọn người làm “nàng thiêm” kế tiếp phải là người không tham lam, thật thà thẳng thắn, không hành nghề để kiếm tiền và phải có đạo đức Còn nguyên tắc hành nghề là không được đòi tiền
“nhốc khu” quá 5 bạt 3 sạlứng (khoảng 2 nghìn 5 trăm đồng) Nếu ai đòi hơn sẽ trở thành “pòp phi phả”3 Và nếu có người mời đi chữa bệnh thì không thể từ chối Theo dân gian, những người hành nghề này họ đã có cặp ma trời/phi phả giúp đỡ cho việc chữa bệnh bằng giúp tìm ra nguyên nhân của bệnh Nhưng các
Trang 18
bệnh đó phải do ma/phi làm Vậy, theo dân gian thì ngoài bệnh tật theo khoa học còn có bệnh do ma/phi làm
Cuốn luận văn Nghi lễ và Hệ thống tín ngưỡng mo lăm phi phả ở I-sán
của Yutthapan Tachakeu (102), nghiên cứu đối tượng “mo lăm phi phả” ở bản Bua, huyện Kụt Bạc, tỉnh Sacônnakhon “Mo lăm phi phả” ở đây gọi là “me mo” hoặc “me khu” Về nghi lễ của “me khu” được đề cập đến hai nghi lễ: (1)
là nghi lễ chữa bệnh và (2) là nghi lễ múa ma/lông khuồng Trường hợp ở bản Bua, nghi lễ múa ma được tổ chức 3 năm một lần Tác giả nhìn nhận đối tượng này như là một kiến thức bản địa và cho rằng “me khu” áp dụng quyền lực của
ma trời để lập lại quan hệ trong gia đình và dòng họ của các con nhang Ngoài
ra, “me khu” còn có vai trò dạy đạo đức cho các con nhang nữa
Có thể nói các học giả nghiên cứu đối tượng này đa số đều có sự nhìn nhận giống nhau, đó là “mo lăm phi phả” là một hình thức chữa bệnh dân gian của người Lào ở Đông Bắc Thái Lan Tuy nhiên, cũng có một số học giả đã lý giải thêm về khía cạnh di sản văn hóa cộng đồng nông thôn (Kanchana Keothep , 1997) và khía cạnh kiến thức bản địa (Yutthapan Tachakeu, 1997)
1.2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
1.2.1 Cơ sở lý thuyết
Các khái niệm được tôi áp dụng trong luận án này bao gồm khái niệm về biểu tượng chính; khái niệm về niềm tin; khái niệm về giới; khái niệm về dân tộc học so sánh Tôi đề cập đến các khái niệm này, vì ít được giới nghiên cứu quan tâm đến một cách toàn diện, đặc biệt trong việc nghiên cứu nghi lễ lên đồng của người Việt cũng như người Lào ở Đông Bắc Thái Lan
-Khái niệm về biểu tượng chính (Dominent symbol)
Khái niệm về biểu tượng chính ở đây là của ông Victor Turner, nhà nhân
Trang 19sau: (1) có tính nổi bật và rõ ràng, (2) có tính đoàn kết, (3) ý nghĩa của chúng được phân chia thành 2 điểm, một điểm về tư tưởng và một điểm về cảm xúc
Tôi áp dụng khái niệm này với hy vọng tìm xem trong nghi lễ lên đồng của người Việt cũng như của người Lào ở Đông Bắc Thái Lan có những biểu tượng chính gì? Và biểu tượng chính đó, có thể giúp chúng ta hiểu được thực chất của chúng
-Khái niệm về niềm tin
Nghi lễ lên đồng cũng như các hình thức chữa trị dân gian khác thường phải đối mặt với nhiều thách thức từ phía y học hiện đại Vì cách giải thích vấn
đề ốm đau dựa trên quyền lực hay sự linh thiêng của các thần linh thông qua nghi lễ là đối lập với phương pháp của y học hiện đại
Byron Good nhà nhân học y khoa (medical anthropologist) trường đại học Harvard cho rằng những nghi ngờ của y học hiện đại đối với các hình thức chữa trị dân gian như sử dụng ma thuật hay lên đồng là những “vấn đề của niềm tin” (problem of belief) Vấn đề này bắt nguồn từ hai tư duy đối lập nhau, (1) tư duy khoa học, (2) tư duy dân gian mà tin tưởng vào các thần linh Vậy làm thế nào chúng ta có thể hiểu được những tư duy của các văn hóa khác nhau trên thế giới mà không thể tìm hiểu được thông qua tư duy khoa học?
Để tìm được câu trả lời, ông đã tham khảo tác phẩm của Edward E Evans-Pritchard và Jeanne Favret-Saada Evans-Pritchard cho rằng, (1) niềm tin đó phải có ích hay vai trò trong xã hội; (2) niềm tin đó phải phản ánh được
tư duy của con người trong xã hội Ông đề cập đến trường hợp dân tộc Asanda được ông nghiên cứu ở Sudan rằng họ không nghĩ đến nguyên nhân của sự ốm đau Thay vào đó họ nghĩ tại sao là họ mà không phải người khác phải gặp những rủi ro hay không may mắn đó Với cách suy nghĩ như vậy khiến họ phải tìm đến ma thuật
Trang 20Còn tác phẩm, nghiên cứu về ma thuật của người nông dân Pháp, của Favret-Saada có sự phân tích khác nhau với Evans-Pritchard trong vấn đề này vì ông không tập trung về vấn đề “có thật hay không có thật” hay “mê tín hay không”, cái ông quan tâm là những trải nghiệm thông qua ngôn ngữ của người trong cuộc Ông cho rằng đối với người nông dân Pháp ma thuật không phải để chứng minh sự “có thật hay không có thật”, “khoa học hay không khoa học” chính cái quan tâm của họ là sự đề phòng và thoát được những rủi ro hay các
ma thuật khác
Các công trình nghiên cứu trên cho thấy vấn đề khoa học hay không khoa học là những vấn đề chung, đặc biệt về vấn đề sức khoẻ Việt Nam cũng như Thái Lan đều có ảnh hưởng lớn từ tư duy khoa học Chính vì vậy, những hiện tượng văn hóa mà không thể chứng minh được bằng khoa học luôn luôn bị dư luận xã hội lên án phản đối Đây chỉ là quan niệm xã hội nhưng đối với một số người thì không đồng ý như vậy Cho nên dân gian mới có câu “có thờ có thiêng, có kiêng có lành” trong tiếng Việt, hay “mai chưa nha lộp lủ”/không tin đừng xúc phạm trong tiếng Thái Lan Điều này chứng tỏ vẫn còn có những người có quan niệm đối lập với tư duy khoa học
Tôi nghĩ rằng con người đều có lý do và luôn luôn tìm đến cái thích hợp hay tốt nhất dành cho bản thân Hơn nữa nghi lễ lên đồng hay hình thức chữa bệnh dân gian khác chỉ là một sự lựa chọn trong nhiều phương pháp khác nhau
để thoả mãn cho bản thân họ Chính vì vậy, chúng ta nên lắng nghe câu chuyện của họ để hiểu họ nhiều hơn nữa
-Khái niệm về giới (Gender)
Khái niệm giới ở đây với định nghĩa là một hệ thống văn hóa tương thích với giới tính, lên đồng được nhìn nhận như là hệ thống văn hóa gắn liền với tính
nữ (Ngô Đức Thịnh, 33: 183) Lên đồng trong đạo Mẫu Tứ Phủ cũng như lên
Trang 21Điều này có thể nhìn nhận lên đồng là một không gian nghi lễ (ritual space) dành nhiều cho người phụ nữ Điều mà tôi không tìm thấy trong lên đồng của người Lào ở Đông Bắc Thái Lan mà có trong lên đồng của Đạo Mẫu Tứ Phủ là người có tính “ái nam ái nữ”, đồng cô
-Khái niệm về dân tộc học so sánh
Về khái niệm so sánh thì đã được các học giả áp dụng ở nhiều ngành khoa học khác nhau, trong đó có ngành dân tộc học Ngành dân tộc học sử dụng khái niệm so sánh là để tìm ra những sự tương đồng và khác biệt của các dân tộc trên thế giới Và để khai thác được cái gọi là tính chung của con người (human universal) Nhưng ở đây tôi chỉ sử dụng khái niệm so sánh để tìm ra sự tương đồng và khác biệt giữa hai dân tộc Việt và Lào ở Đông Bắc Thái Lan trong bối cảnh nghi lễ lên đồng mà thôi
1.2.2 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài các phương pháp đã nói ở trên chúng tôi muốn nhấn mạnh phương pháp đặc thù của dân tộc học là phương pháp điền dã bằng cách trình bày cụ thể các cuộc điền dã tìm hiểu nghi lễ lên đồng của người Việt (Hà Nội) và người Lào (Đông Bắc Thái Lan)
1.2.2.1 Cuộc điền dã nghi lễ lên đồng của người Việt
Năm 2003, tôi thực sự bước vào thế giới lên đồng của người Việt qua sự giúp đỡ của nhiều người Đầu tiên phải kể đến là người chủ nhà cho tôi thuê ở khu Bách Khoa, Hà Nội Vì ông là người dẫn tôi đi gặp người bạn của ông ở Ngã Tư Sở đúng là hôm bà vợ của bạn ông làm lễ lên đồng Bản thân ông không tin vào lĩnh vực tâm linh này cho nên ông xin phép về nhà trước Nghi lễ được tổ chức ở phòng có điện thờ trên tầng ba của căn nhà Vì mới gặp lần đầu tiên tôi không dám hỏi nhiều mà chỉ xin họ chụp ảnh mà thôi Trong bữa cơm
Trang 22thầy cúng và đồng thời là cung văn Với sự giúp đỡ của anh ấy, tôi có cơ hội được xem nhiều người tổ chức nghi lễ lên đồng ở một đền và chùa ở phường Định Công quận Hoàng Mai, Hà Nội
Một hôm em Hằng4 ở đường Lĩnh Nam gọi điện báo: “Bố em sẽ hầu ở điện trên nhà, anh có đến không?” Tôi mới biết bố em Hằng là một thầy cúng đồng thời cũng là đồng thầy có nhiều con nhang đệ từ Với sự giúp đỡ của gia đình em Hằng tôi có rất nhiều cơ hội được ngồi xem nhiều người tổ chức lên đồng ở điện trên nhà em Hằng và các điện đền do bố em Hằng đi dự lễ Ngoài
ra, có nhiều lần tôi được đi theo gia đình em Hằng đi tổ chức lễ lên đồng ở các đền ở các tỉnh miền Bắc như Hòa Bình, Lào Cai
Từ hai nhóm người đã kể trên, tôi còn quen biết hội ông đồng bà đồng khác nữa do người thân giới thiệu Người đồng thầy tên là Vân có nhà ở dốc Vĩnh Tuy, Hà Nội Trên nhà đồng thầy Vân có thờ điện tương đối rộng Nhiều lần tôi có cơ hội đến xem chính bà đồng Vân hầu đồng và một số các con nhang khác của bà Ngoài ra, tôi cũng có cơ hội tham gia cuộc hành hương do bà tổ chức đi một số đền ở Thanh Hóa
Từ hội bà đồng Vân, tôi cũng quen biết một ông đồng thầy ở phố Trần Xuân Soạn, Hà Nội do bà chủ quán nước gần nhà ông giới thiệu Một lần ông mời tôi đến xem lễ mở phủ của một bà con nhang của ông ở chùa làng ở Thanh Trì và một lần chính ông tổ chức ở điện trên nhà ông
Cuối cùng tôi quen biết một bà đồng thầy ở thị trấn Yên Viên, Gia Lâm,
Hà Nội Mặc dù tôi không được xem bà tổ chức nghi lễ lên đồng lần nào vì bà mới mất chồng phải kiêng Nhưng bà đã dẫn tôi đi xem buổi lên đồng của người khác, một lần là ở trong chùa gần nhà bà và một lần là ở điện tư ở trung
Trang 23tâm thị trấn Yên Viên Có lần bà tổ chức hành hương đi một số đền ở Lạng Sơn, tôi cũng được mời đi cùng
Các cuộc điền dã đã được thực hiện
Ngày/Tháng/Năm Địa điểm/Người tổ chức nghi lễ
8/2/2003 Điện tư, Ngã Tư Sở, người phụ nữ 50 tuổi
(chủ điện) 9/2/2003 Đền Mẫu phường Định Công quận Hoàng
Mai, Hà Nội, người phụ nữ 52 tuổi (đồng thầy)
10/2/2003 Đền Mẫu phường Định Công quận Hoàng
Mai, Hà Nội, người phụ nữ 50 tuổi (đồng thầy từ trên phố về hầu đồng)
17/2/2003 Điện tư, Lĩnh Nam, Hà Nội, người đàn ông
khoảng 50 tuổi (chủ điện) 19/2/2003 Đền Mẫu ở bờ sông Kim Ngưu, Mai Động,
Hà Nội, người phụ nữ hơn 50 tuổi 20/2/2003 Đền Mẫu, Minh Khai, Hà Nội, người phụ nữ
hơn 40 tuổi 22/2/2003 Đền Mẫu phường Định Công quận Hoàng
Mai, Hà Nội, người phụ nữ 42 tuổi 23/2/2003 Chùa Làng phường Định Công quận Hoàng
Mai, Hà Nội, người phụ nữ hơn 60 tuổi 24/2/2003 Điện tư, phường Định Công quận Hoàng
Mai, Hà Nội, người đàn ông hơn 40 tuổi 25/2/2003 Chùa Làng phường Định Công quận Hoàng
Trang 2426/2/2003 Đền Mẫu phường Định Công quận Hoàng
Mai, Hà Nội, người phụ nữ hơn 50 tuổi 11/3/2003 Đền Mẫu đường Minh Khai, Hà Nội, người
phụ nữ 40 tuổi
Nội, người phụ nữ 40 tuổi 18/3/2003 Chùa Làng phường Định Công quận Hoàng
Mai, Hà Nội, người phụ nữ khoảng 40 tuổi 24/3/2003 Điện tư, khu xí nghiệp Giáp Bát, Hà Nội,
người phụ nữ khoảng 25 tuổi 25/3/2003 Chùa Làng phường Định Công quận Hoàng
Mai, Hà Nội, người phụ nữ hơn 60 tuổi 30/3/2003 Chùa Làng phường Định Công quận Hoàng
Mai, Hà Nội, người phụ nữ hơn 70 tuổi 3/4/2003 Điện tư, đường Minh Khai, Hà Nội, người
phụ nữ gần 60 tuổi 5/4/2003 Đền xã Mộc Nam, Duy Tiên, Hà Nam, hai
người phụ nữ 25 và 60 tuổi
người phụ nữ hơn 60 tuổi 11/4/2003 Đền Mẫu đường Minh Khai, Hà Nội, người
phụ nữ hơn 40 tuổi 3/11/2003 Điện tư, đường Lĩnh Nam, Hà Nội, người
phụ nữ gần 60 tuổi 11/11/2003 Đền Mẫu phường Định Công quận Hoàng
Trang 2514/11/2003 Đền Mẫu phường Định Công quận Hoàng
Mai, Hà Nội, người đàn ông hơn 40 tuổi 16/11/2003 Điện tư, phường Bạch Đằng, Hà Nội, người
phụ nữ hơn 60 tuổi 28/7/2004 Đền Mẫu đường Minh Khai, Hà Nội, người
phụ nữ hơn 70 tuổi (thủ nhang) 29-30/7/2004 Đền Bảo Hà, Lào Cai, ba người phụ nữ 25 ,
gần 60 và hơn 50 tuổi 9/8/ 2004 Điện tư, dốc Vĩnh Tuy, Hà Nội, người phụ
nữ gần 60 tuổi (chủ điện) 6-7/11/2004 Chùa xã Liên Ninh, Thường Tín, Hà Tây,
người phụ nữ hơn 40 tuổi 15/11/2004 Phủ Giầy, Nam Định, người phụ nữ hơn 50
tuổi 20/11/2004 Điện tư, Trần Xuân Soạn, Hà Nội, người đàn
ông hơn 50 tuổi 21/11/2004 Điện tư, dốc Vĩnh Tuy, Hà Nội, người phụ
nữ gần 60 tuổi 27-28/11/2004 Đền Chúa Thác Bờ, Kỳ Sơn, Hòa Bình, hai
người phụ nữ 25 và gần 60 tuổi 1/1/2005 Hành hương đi Thánh Hóa với Hội bà đồng
Vân, chủ điện ở dốc Vĩnh Tuy 11/3/2005 Đền Mẫu phường Thanh Trì, quận Hoàng
Mai, Hà Nội, người phụ nữ hơn 50 tuổi 23/10/2005 Đền Đồng Bằng, Thái Bình, người phụ nữ
Trang 266/3/2006 Đền Mẫu phường Thanh Trì, quận Hoàng
Mai, Hà Nội, người phụ nữ hơn 50 tuổi 6/4/2006 Chùa và điện tư, thị trấn Yên Viên, Gia Lâm,
Hà Nội, người phụ nữ hơn 40 tuổi (ở chùa), người đàn ông 50 tuổi và thanh niên nam 17 tuổi (điện tư)
15/4/2006 Hành hương cùng hội bà đồng ở Yên Viên,
Gia Lâm đi các đền ở Lạng Sơn
Đối với nghiên cứu sinh người nước ngoài như tôi, để thực sự hiểu được đối tượng này không phải là chuyện đơn giản Trong thời gian ngồi xem nghi lễ tôi cố gắng ghi chép những quá trình diễn ra trong buổi lễ đó Nhưng khi đến giai đoạn quan trọng là lúc thần linh nhập vào người lên đồng thì cũng là lúc khó khăn nhất đối với tôi Vì tôi không thể phân biệt được thần nào là thần nào, đặc biệt là đến giá các Chầu và các Cô Người thì bảo tôi hãy nghe cung văn, khi tôi hỏi giá này là thần linh gì Nói chung tôi mất khá nhiều thời gian để quen và thuộc với các giá của thần linh Việc mà tôi làm được trong khi ngồi xem nghi lễ là cố gắng ghi chép cho đầy đủ các trình tự của một buổi lễ lên đồng Điều chắc chắn là trong buổi lễ lên đồng tôi không thể nào hỏi chuyện các người lên đồng được thậm chí cả người tham dự Vì trong buổi lễ lên đồng nào ai cũng tập trung vào người đang lên đồng, người thì dâng đĩa tiền xin lộc Đến lúc người lên đồng phát tiền phát lộc thì người tham dự chẳng có ai ngồi
im, có người giơ tay bắt tiền đang bay trên không, có người đứng hẳn lên để tranh chấp cho được tờ tiền đó Trong ít phút rành rỗi nào đó tôi mới có cơ hội hỏi được một ít về thông tin cá nhân của người lên đồng qua người tham dự Mặc dù tôi được ngồi xem nhiều người lên đồng nhưng không phải ai tôi cũng
Trang 27ông đồng hay bà đồng, thậm chí có người giấu chồng để tổ chức nghi lễ lên đồng Hay bảo người nhà đi lễ chỗ nọ chỗ kia rồi tiện thể tổ chức nghi lễ luôn ở
đó Vì vậy, nhiều trường hợp những câu chuyện của họ được tôi xây dựng lên
từ việc hỏi han người thân hay bạn bẻ trong nhiều thời điểm mà tôi có thể như lúc ngồi trên xe trên đường đi hành hương Đối với tôi rất khó khăn mới biết được chuyện cá nhân của một ông đồng hay bà đồng Chính vì vậy, mặc dù đã được ngồi xem nhiều buổi lễ với địa điểm khác nhau nhưng chỉ có một số ông đồng bà đồng tôi có được dữ liệu cá nhân của họ mà thôi
1.2.2.2 Cuộc điền dã nghi lễ lên đồng của người Lào
Các cuộc điền dã của tôi về nghi lễ lên đồng của người Lào ở Đông Bắc Thái Lan đã diễn ra từ năm 1997 Nghi lễ lên đồng của người Lào ở đây là nghi
lễ khuồng phi phỏn/sân chơi ma múa của người Lào ở ba huyện: Pặcthôngchai,
Sungnơn, Síkiu tỉnh Nakhonratchasima Tôi đã biết đến đối tượng này trong khi đang tham gia công trình nghiên cứu về đề tài sự biến đổi kinh tế xã hội của các bản làng chung quanh Trường đại học Công Nghệ Suranaree thông qua một ông trưởng bản người Thái Khô Rạt5 Ông bảo nếu quan tâm nghiên cứu về người Lào hãy đến bản Na Kang xã Sungnơn huyện Sungnơn, người Lào ở đây họ có nhiều nghi lễ hay lắm Từ thông tin ngắn ngủi của ông trưởng bản người Thái Khô Rạt đó, tôi đã đến làng mà ông ta giới thiệu May thay, tôi đã đến làng đó đúng lúc nghi lễ lên đồng của người Lào nơi đây đang bắt đầu vào “mùa” Tôi dùng từ “mùa” là để nhấn mạnh thời gian nhất định của việc tổ chức nghi lễ lên đồng của người Lào nơi đây Theo tài liệu trên, nếu người Lào ở các tỉnh khác
5
Tôi xin nói thêm đôi chút để hiểu rõ hơn Ở Thái Lan khác với Việt Nam, trong chứng minh thư không ghi người thuộc dân tộc nào như Kinh hay Thái mà đều ghi là dân tộc Thái Lan hết Nhưng về văn hóa hay ngôn ngữ là khẳnh định rõ ràng sự khác biệt đó Ở vùng Đông Bắc Thái Lan, mặc dù những người nói tiếng Lào
Trang 28thường tổ chức nghi lễ lên đồng/lông khuồng vào một ngày nào đó trong tháng
3 (tháng 2 dương) hay tháng 6 (tháng 5 dương) hàng năm thì thời gian tổ chức nghi lễ lên đồng của người Lào ở tỉnh Nakhonratchasima lại kéo dài từ ngày Tết
truyền thống/văn sông kan khoảng giữa tháng 4 dương cho đến cuối tháng 7 hay đầu tháng 8 dương, nghĩa là phải kết thúc trước ngày vào mùa an cư/văn khẩu phăn sá của các nhà sư Vì họ tin rằng các ma/phi sẽ đến chơi khuồng từ
ngày Tết và phải về mường ma trước ngày vào mùa an cư của nhà sư Tuy nhiên, không có nghĩa là một hội ông đồng, bà đồng sẽ tiến hành nghi lễ trong xuất 3-4 tháng đó Trên thực tế người Lào ở đây có rất nhiều hội, chính vì vậy hội nào bắt đầu sơm thường kết thúc sớm cũng như hội nào bắt đầu muộn là kết thúc muộn
Nghi lễ lên đồng của người Lào đầu tiên tôi đã được xem chính là ở làng
Na Kang xã Na Kang huyện Sungnơn Ở làng này có người phụ nữ hơn 50 tuổi
làm đồng thầy/chầu cộc và chính nghi lễ tôi được xem là do bà tổ chức Theo
tục lệ của họ là người đồng thầy phải tổ chức nghi lễ trước rồi mới đến lượt của các con nhang người thờ điện Tôi rất may mắn với buổi lễ đầu tiên được tiếp xúc với các ông đồng bà đồng ở đây Vì ngoài việc được ngồi xem nghi lễ tôi còn thu thập được thông tin về mạng lưỡi trong hội của họ, đặc biệt là về quan
hệ giữa hội của bà đồng thầy ở làng Na Kang, Sungnơn và hội của ông đồng thầy ở làng Khộcsila, Pặcthôngchai Chính hôm đó tôi đã làm quen với hội ông đồng thầy từ Pặcthôngchai và tôi đã đến nhà ông sau buổi lễ ở làng Na Kang, Sungnơn vài tuần sau đó Vì ông có nhiều con nhang ở các làng khác nhau
trong huyện Pặcthôngchai và ông thường đi mở lễ/khuồng cho họ trong “mùa”
lễ khuồng phi phỏn ở nơi đây Có thể nói, đây đã là một cơ hội tốt cho tôi được thâm nhập vào thế giới lên đồng của họ một cách thực tế hơn
Ngoài ông, bà đồng thầy đã nêu trên, một nhân vật quan trọng không thể
Trang 29vào thế giới lên đồng của người Lào ở nơi này một cách toàn diện Vì họ là những người cầm lịch tổ chức nghi lễ ở trong tay Phải nói là hiện tại với sự khan hiếm của nhạc công, ông bà đồng thầy muốn chọn ngày tốt tháng lành nào
là phải hỏi han người nhạc công Chính vì vậy, có lúc nhạc công là người quyết định ngày tháng tổ chức nghi lễ thay thế ông bà đồng thầy như tục lệ trước đây
Nhóm nhạc công tôi đã quen biết đầu tiên là ở làng Na Kang, Sungnơn
Họ không phải là người ở làng này mà đến từ các làng khác nhau trong huyện
Chính điều này đã tạo cơ hội cho tôi được ngồi xem nghi lễ khuồng phi phỏn ở
các làng khác nhau sau này Và chính nhạc công là người giới thiệu cho tôi về nơi được coi là trung tâm của nghi lễ này, đó là ở làng Ken Thảo xã Xế Ma huyện Sung Nơn Tôi đến làng này hơi sớm vì họ chưa tổ chức nghi lễ Sau hỏi han một số người cao tuổi ở trong làng thì mới biết Làng này thường tổ chức
nghi lễ khuồng phi phỏn sau khi đã làm xong lễ cúng ma làng/liêng ta pu
khoảng đầu tháng 6 (tháng 5 dương) hàng năm, vì chính ma làng này là ma tối cao trong nghi lễ Với sự giúp đỡ của các người đã nói trên, tôi có cơ hội được ngồi xem nghi lễ hơn 30 buổi của cả ba huyện
Trang 30Tiểu kết
Nghi lễ lên đồng trong tín ngưỡng Tứ Phủ của người Việt đã được các học giả phân tích với các khía cạnh khác nhau như là một sinh hoạt mê tín dị đoan, bản sắc văn hóa dân tộc, một nghi thức chữa trị bệnh tật Còn nghi lễ lên đồng của người Lào ở Đông Bắc Thái Lan cũng được các học giả phân tích với các khía cạnh khác nhau như là một hình thức chữa bệnh dân gian, di sản văn hóa cộng đồng nông thôn, kiến thức bản địa
Để có sự nhìn nhận khác biệt với các học giả đã đi trước trong lĩnh vực này, tôi lựa chọn một số khái niệm để áp dụng phấn tích trong luận án bao gồm: khái niệm biểu tượng chính, khái niệm về niềm tin, khái niệm về giới, khái niệm dân tộc học so sánh
Ngoài các phương pháp quan sát tham gia, phương pháp phỏng vấn, phương pháp mô tả dân tộc học, chúng tôi còn sử dụng phương pháp đặc thù của dân tộc học là phương pháp điền dã
Trang 31Chương 2 NGHI LỄ LÊN ĐỒNG CỦA NGƯỜI VIỆT Ở MIỀN BẮC
VIỆT NAM
Những nội dung trong chương này được chia thành 3 tiêu đề Trước khi đi đến với nghi lễ lên đồng, tôi xin đề cập đến tiêu đề đầu tiên là những chuyện kể về các ông/bà đồng, với mục đích là để giới thiệu cho người đọc hiểu về những người trở thành ông/bà đồng vì không phải ai cũng có thể trở thành ông/bà đồng được Khi đã trở thành ông/bà đồng rồi mới có đủ thẩm quyền để tổ chức nghi lễ lên đồng Nghi lễ lên đồng được tôi giới thiệu trong chương này là của một ông đồng tên là Nguyễn Trường Sơn Tôi lựa chọn giới thiệu, vì về mặt nghi thức có thể nói là giống như tất cả nghi lễ lên đồng của các ông/bà đồng khác ở miền Bắc Việt Nam, đặc biệt ở Hà Nội Còn tiêu
đề cuối cùng tôi xin đề cập đến vấn đề mục tiêu tổ chức nghi lễ của các ông/bà đồng thông qua những biểu tượng chính trong nghi lễ, đó là biểu tượng “lộc” và “phát lộc”
Chuyện kể về bà đồng Hằng
Trang 32Bà đồng Hằng sinh năm 1979, là con gái cả của một ông thầy cúng, đồng thời cũng là ông đồng thầy ở đường Lĩnh Nam, Hà Nội Vì thi không đỗ đại học như các bạn, nên bà đồng Hằng phải ở nhà giúp việc gia đình Mặc dù không được học đại học hệ chính quy, nhưng bà đồng Hằng cố gắng đi học tiếng Trung qua hệ tại chức để được làm hướng dẫn viên du lịch Hy vọng của
bà đồng Hằng không đạt vì phải giúp mẹ làm đồ vàng mã cho khách hàng Hiện nay bà đồng Hằng đã lập gia đình và có hai đứa con
Lúc ban đầu bà đồng Hằng thể hiện vai trò của một người cung văn hơn
là một bà đồng Vì có nhiều lần tôi có dịp đi cùng khi bà đồng Hằng đến hát văn trong buổi lễ lên đồng của các ông/bà đồng khác Nhưng về sau, bà đồng Hằng đã tiết lộ một vai trò nữa của mình là một bà đồng Có một hôm bà đồng Hằng mời tôi đến dự buổi lễ lên đồng của bà, chính ở điện thờ Mẫu ngay trên nhà bà đồng Hằng Sau đó, tôi đã có rất nhiều dịp đi dự buổi lễ lên đồng của bà đồng Hằng kể cả ở Hà Nội cũng như ở các tỉnh lân cận khác Có rất nhiều dịp tôi không bao giờ quên, đặc biệt là chuyến đi đền Chúa Thác Bờ tỉnh Hoà Bình Hồi đó đúng vào dịp cuối năm 2004, trên đường đi từ Hà Nội đến tỉnh Hoà Bình trời rất đẹp nhưng khi đoàn đến bến thuyền hồ Hoà Bình lại có mưa rất to Đoàn phải chờ hàng tiếng đồng hồ mới tạnh mưa Đến lúc phải bê các đồ cúng lễ xuống thuyền rất bất tiện vì đường rất trơn Nhưng may thay lúc đang trên thuyền đến đền Chúa Thác Bờ thì mưa ổn gió hoà Sau khi làm xong lễ cả đoàn ngủ luôn trong đền ở cung ngoài Nhà đền cũng cho thuê chiếu và chăn nhưng đêm hôm đó trời rất lạnh Sau khi về tôi bị ốm vì cảm lạnh, còn các người cùng đoàn vẫn khoẻ mạnh
Bà đồng Hằng kể với tôi rằng, bà đến với nghi lễ lên đồng là do bị ốp đồng Hồi đó đang là học sinh mới lên cấp ba, có một hôm sau đi học về bà đã
Trang 33ghé vào xem một bà người hàng xóm làm lễ lên đồng ở đền gần nhà Đến lúc
bà ấy lên đồng đến giá Cậu Bé thì bà không kiểm soát được mình, bà bật khóc
và tự đứng lên múa theo động tác của bà hàng xóm người đang lên đồng Sau giá Cậu Bé bà tỉnh trở lại, bà hàng xóm bảo là bà có căn nên bị thần thánh ốp đồng Sau này phải làm lễ mở phủ xin làm ghế của thần thánh, nếu không tuân theo cuộc sống sau này của bà sẽ bất ổn Sau về đến nhà, bà kể chuyện
đã bị thần thánh ốp đồng khi đến xem bà hàng xóm làm lễ lên đồng cho bố
mẹ biết Bố mẹ bà không ai phản đối gì vì biết là nếu đã bị thần thánh lựa chọn rồi tốt nhất là phải tuân theo Nhưng vì thấy bà đang tuổi học hành bố
mẹ không muốn trình đồng sớm, sợ ảnh hưởng đến việc học hành của bà Cho nên bố của bà phải làm lễ cầu xin thần thánh vài năm nữa sẽ cho bà làm lễ trình đồng phục vụ các thần thánh
Khi biết mình đã có căn đồng, bà quan tâm nhiều hơn đến việc thờ cúng thần thánh Bà thường xuyên giúp bố lau dọn điện thờ Tam Tòa Thánh Mẫu ở trên nhà Thỉnh thoảng bà cũng cùng bố mình đi cúng lễ thần thánh ở các đền phủ và không bao giờ bỏ lỡ cơ hội đến xem người ta làm lễ lên đồng khi biết
Sau khi biết là bà không đỗ đại học và phải ở nhà giúp việc gia đình thì
bố mẹ đã bàn việc làm lễ trình đồng cho bà Việc chuẩn bị cho lễ mở phủ của
bà không khó khăn lắm vì bố mẹ đã lo cho tất cả, mẹ lo việc đồ cúng lễ còn
bố lo việc nghi lễ Nghi lễ mở phủ của bà được tổ chức ở điện trên nhà bà và chính bố của bà là người đồng thầy mở phủ cho bà
Qua lễ mở phủ đó bà đã thực sự trở thành bà đồng Tuy nhiên, trong thời gian 3 năm đầu bà chỉ tổ chức nghi lễ lên đồng ở điện trên nhà mình Sau này khi có điều kiện bà hay đi làm lễ lên đồng tận cửa đền của các thần thánh
Trang 34Lần đầu tiên tôi có cơ hội đi cùng bà là ở đền Lãnh Giang thờ Quan Đệ Tam ở tỉnh Hà Nam Lần thứ hai bà mời tôi đi cùng đoàn đi làm lễ lên đồng ở đền Ông Hoàng Bảy ở Bảo Hà, tỉnh Lào Cai Lần cuối cùng tôi được đi cùng bà là
ở đền Chúa Thác Bờ ở tỉnh Hoà Bình
Mỗi lần làm lễ lên đồng phải tiêu khá nhiều tiền cho nên tôi rất thắc mắc Khi có dịp tôi đã hỏi bà đến chuyện này, bà thẳng thắn nói với tôi rằng: tiền để dành cho việc làm lễ lên đồng là thu gom từ việc làm đồ vàng mã và đi hát văn Theo quan điểm của bà, đó là lộc của thần thánh ban tặng cho nên những số tiền đó không thể dùng để tiêu hết cho cuộc sống đời thường Vì thần thánh đã cho lộc đó để con người có tiền lo việc cúng lễ lại cho thần thánh
Bà đồng Hằng bảo: mỗi năm bà chỉ cố gắng làm lễ lên đồng cho được hai vấn/lần Không như một số ông/bà đồng có điều kiện kinh tế khác, vì có khi mỗi năm họ làm lễ lên đồng đến bốn vấn/lần Đối với bà, làm lễ lên đồng đầu năm là để xin lộc và sự phù hộ của thần thánh còn lên đồng cuối năm là
để tạ ơn sự giúp đỡ đó của thần thánh
Khi đã quen biết nhau bà đồng Hằng và tôi không chỉ gặp nhau lúc có nghi lễ lên đồng, khi nào nhà bà có việc gì thường gọi điện cho tôi đến Có lần bà phải dọn dẹp điện thờ để đón năm mới bà cũng gọi điện cho tôi đến Tôi nghĩ hay là bà muốn dạy tôi về việc thờ cúng thần thánh qua thực tế, dù sao chăng nữa nó là một trải nghiệm quý giá dành cho tôi Đến khi bà đồng Hằng lấy chồng tôi cũng đã được tham gia nghi lễ hôn nhân của bà từ lễ ăn hỏi, lễ cưới cho đến đưa dâu về nhà chồng Cho đến nay, tôi vẫn thường xuyên đến thăm gia đình bà đồng Hằng mặc dù không còn trong thời gian thu thập dữ liệu nữa
Trang 35Chuyện kể về ông đồng Tứ
Tôi gặp ông đồng Tứ lần đầu tiên là hôm ông làm lễ lên đồng ở điện trên nhà ở đường Lĩnh Nam, Hà Nội Bà đồng Hằng con gái của ông là người giới thiệu cho tôi đến gặp ông Hôm đó nghi lễ lên đồng của ông đồng Tứ có
số người tham dự khoảng 20 người Tôi được bà đồng Hằng cho ngồi xem nghi lễ ở vòng ngoài và thỉnh thoảng đứng lên chụp ảnh làm tài liệu Sau buổi
lễ ông đồng Tứ mời tôi cùng thụ lộc ăn cơm chiều cùng gia đình, còn đa số người tham dự đã xin phép về nhà
Từ hôm đó tôi cố gắng đến gặp ông ở nhà để xin phỏng vấn nhưng lúc nào ông cũng bận rộn Ngoài việc cúng lễ, ông còn có cửa hàng sửa chữa công tơ điện Ông nói với tôi cần gì hỏi về nghi lễ lên đồng hãy hỏi qua bà đồng Hằng, nếu bà không trả lời được lúc đó ông sẽ trả lời Rốt cuộc, ít khi tôi
có thể trực tiếp hỏi được ông Tuy nhiên, khi ông được mời dự nghi lễ lên đồng ông thường cho tôi đi cùng Mặc dù đi cùng ông nhưng cũng không thể hỏi ông được, vì khi đến đó ông thường đóng vai thầy cúng và tiếp đó là người hầu dâng Cho nên những câu chuyện về sự trở thành ông đồng của ông đều thông qua lời kể của bà đồng Hằng là chính
Sự trở thành ông đồng của ông đồng Tứ xuất phát từ việc thờ điện của
mẹ ông, tức là bà nội của bà đồng Hằng Ban đầu việc thờ điện của bà chẳng liên quan và có ảnh hưởng gì đến ông đồng Tứ Nhưng trước khi bà mất vài năm, bà đã họp con cháu và bàn đến việc tìm người nối tiếp thờ điện thay bà Đầu tiên con cháu phản đối việc này nhưng cuối cùng cũng phải làm theo bà
Việc tìm người thờ điện được tổ chức trước điện thờ Mẫu Anh chị em của ông đồng Tứ đều có mặt đầy đủ Mẹ ông làm lễ nhập thần thánh và người
Trang 36được lựa chọn là ông Mặc dù ông đã được thần thánh lựa chọn nhưng ban đầu ông chưa sẵn sàng làm việc này Cho đến khi mẹ mất ông mới tổ chức làm lễ mở phủ, là thực sự trở thành ông đồng để thờ điện
Vì lúc mẹ ông còn sống ông chưa đồng ý cho mẹ ông mở phủ cho ông cho nên khi mẹ mất ông phải tìm đến một đồng thầy khác để làm lễ mở phủ cho ông Thông qua sự giới thiệu của người thân ông đã quyết định đến với bà
cụ Phương, bà đồng thầy ở phố Minh Khai, Hà Nội Sau này khi nào làm lễ lên đồng ông thường xuyên mời bà cụ Phương đến dự Vài năm gần đây ông
đã làm lễ mở phủ cho một số người, cho đến nay số con nhang của ông tăng thêm đáng kể
Chuyện kể về bà đồng Hoa
Tôi gặp bà đồng Hoa lần đầu tiên là ở nhà ông đồng Tứ, hôm ông tổ chức nghi lễ lên đồng Ban đầu bà đồng Hằng chỉ giới thiệu với tôi là bác gái ruột Thỉnh thoảng bà đồng Hằng rù tôi đi chơi nhà bà đồng Hoa, nhà 3 tầng ở trong một ngõ ở phố Minh Khai, Hà Nội Lần đầu tiên đến nhà bà đồng Hoa, tôi thấy bà đang ngồi bán nước chè ở trước cửa nhà Bà đồng Hằng bảo, bác bán nước chè và các thứ linh tinh khác để kiếm thêm ít tiền vì chỉ dựa vào tiền lương hưu thì không đủ sống trong thời điểm hiện nay
Tôi đã tham dự nghi lễ lên đồng của bà đồng Hoa lần đầu tiên ở trên điện nhà ông đồng Tứ Sau này là ở trên điện nhà bà đồng thầy Phương ở trong ngõ thuộc phố Minh Khai, Hà Nội, cách nhà bà đồng Hoa khoảng 500 mét Ngoài ra, đã có nhiều lần đi dự lễ lên đồng của bà ở các đền như: đền Bảo Hà tỉnh Lào Cai, đền Chúa Thác Bờ tỉnh Hoà Bình
Trang 37Câu chuyện về sự trở thành bà đồng của bà đồng Hoa xuất phát từ sự bất ổn trong gia đình Người con trai cả lấy vợ về nhà không lâu thì vợ bỏ nhà
đi với người khác để lại một đứa cháu trai Con gái đứa thứ hai thì lấy phải chồng bị nghiện ngập Hai đứa con trai còn lại thì không chịu học hành trong khi kinh tế gia đình cũng gặp nhiều khó khăn trong giai đoạn đầu của việc xóa
bỏ chế độ bao cấp của nhà nước Bà đồng Hoa luôn luôn tự hỏi mình, tại sao cuộc sống gia đình của bà bất hạnh đến thế?
Có người thân giới thiệu bà đến gặp bà đồng thầy Phương để xem phần
âm có vấn đề gì không? Trước đây bà rất phản đối việc này nhưng nghĩ cho cùng thì đến xem còn tốt hơn là ngồi ở nhà
Đến gặp bà đồng thầy Phương, hồi đó bà khoảng 70 tuổi, mới biết là mình (bà đồng Hoa) đã có căn đồng Bà đồng thầy Phương bảo, không có cách nào khác ngoài việc phải ra trình đồng mà thôi Vì khi đã bị thần thánh bắt đồng rồi thì khó có thể tránh khỏi, nếu không theo có thể bị điên khùng Nghe vậy bà đồng Hoa nửa sợ nửa lo vì trong cương vị của một cán bộ nhà nước làm sao có thể tiến hành việc này được
Để không ảnh hưởng đến uy tín của cán bộ nhà nước bà đã quyết định xin nghỉ hưu sớm Nghi lễ trình đồng của bà đã được tiến hành ở trên điện nhà bà đồng thầy Phương Trong 3 năm đầu, bà làm lễ lên đồng hàng năm ở trên điện nhà bà đồng thầy Phương, như là một luật lệ trong giới lên đồng vì
đã trình đồng ở đâu phải làm lễ lên đồng ở đó trong vòng 3 năm đầu Còn sau này bà thành tâm làm lễ lên đồng ở đâu cũng được
Mặc dù không khắc phục được gia cảnh nhưng bà có nơi dựa mới cho bản thân Năm nào bà đồng Hoa cũng cố gắng cho việc làm lễ lên đồng cho
Trang 38được hai vấn (lần), vào đầu năm một lần và cuối năm một lần là một điều hạnh phúc đối với bà hiện nay
Chuyện kể về bà đồng Hạnh
Tôi gặp bà đồng Hạnh lần đầu tiên là hôm bà cùng với bà đồng Hằng đến hát văn cho bà đồng thầy Tú, thủ nhang đền…đường Minh Khai, Hà Nội Hồi đó tôi chỉ biết bà đồng Hạnh là một người hát văn và đang tập đánh đàn nguyệt Vì nhiều lần tôi gặp bà đồng Hạnh tham gia nghi lễ lên đồng ở trên điện nhà ông đồng Tứ với vai trò của một người hát văn, không phải là một bà đồng
Lần đầu tiên tôi được tham dự nghi lễ lên đồng của bà đồng Hạnh là ở trên điện nhà ông đồng Tứ Chính ông đồng Tứ là người làm lễ trình đồng cho
bà đồng Hạnh và nó vẫn trong thời gian 3 năm đầu cho nên bà đồng Hạnh phải tổ chức lễ lên đồng ở trên điện người đồng thầy
Nhà bà đồng Hạnh là một nhà 3 tầng ở trong ngõ ở đường Tam Trinh,
Hà Nội Trước đây, bà không quen biết gì hết với giới lên đồng Đến tuổi lấy chồng thì bà lấy chồng và đã có một đứa con trai, hiện nay đang học lớp 6 (2004) Bà kiếm sống bằng làm nhân viên bán hàng cho cửa hàng bách hóa ở đường Kim Ngưu, Hà Nội Cho đến khi xảy ra sự bất hạnh trong gia đình bà,
đó là người chồng của bà đi ăn ở với một người đàn bà khác Bà không biết chỉ trách ai ngoài chỉ trách bản thân là không biết giữ chồng Từ vụ việc đó đã khiến bà càng quan tâm và tìm đến những người trong giới lên đồng
Người đầu tiên mà bà đồng Hạnh tìm đến theo lời giới thiệu của người thân là ông đồng Tứ Ông đồng Tứ phán rằng, bà đồng Hạnh đã có căn đồng
và có nợ với kiếp trước Ông đồng Tứ có lời khuyên rằng, bà nên ra trình
Trang 39đồng hầu hạ thần thánh để các ngài phù hộ cho cuộc sống sau này đỡ vất vả
và bình yên hơn
Nghi lễ trình đồng của bà đồng Hạnh được ông đồng Tứ tổ chức cho tại điện thờ Mẫu ở nhà ông Hồi đó bà đồng Hạnh phải mượn luôn bộ lễ phục của ông đồng Tứ vì đang gặp khó khăn về kinh tế chỉ lo được một số đồ cúng lễ
mà thôi Bà đồng Hạnh luôn luôn coi ông đồng Tứ là một người thầy của mình, cho nên khi nào nhà ông đồng Tứ có việc gì thường có mặt bà đồng Hạnh
Từ khi trở thành bà đồng và quen biết người cung văn, bà đồng Hạnh rất say mê tiếng đàn tiếng hát Một ông cung văn khoảng 70 tuổi thường đến làm cung văn ở nhà ông đồng Tứ thấy thương với gia cảnh của bà cho nên ông nhận lời dạy hát văn cho bà đồng Hạnh Khoảng hơn một năm bà đồng Hạnh có thể tham gia hát văn với ông cung văn 70 tuổi được Sau này bà đồng Hạnh quen biết với một ông cung văn gần 60 tuổi vì thỉnh thoảng ông đồng
Tứ mời đến thay cho ông cung văn 70 tuổi đang yếu sức Bà đồng Hạnh lại xin học đàn với ông cung văn gần 60 tuổi Bà luôn luôn nói với tôi, chắc là thần thánh cho ăn lộc Vì chỉ học hơn một năm bà đồng Hạnh bắt đầu đánh đàn được khá và thỉnh thoảng được ông thầy cho đánh cùng vài bài Sau này
bà đồng Hạnh chỉ đi hát văn và đánh đàn kiếm sống và lo việc ăn học của con trai Chính vì thần thánh cho ăn lộc cho nên bà đồng Hạnh luôn dành tiền kiếm được từ hát văn cho việc tổ chức nghi lễ lên đồng hàng năm
Chuyện kể về bà đồng Hồng
Trang 40Tôi quen biết bà đồng Hồng đầu tiên ở đền Mẫu phường Định Công, Hoàng Mai, Hà Nội hồi đến dự lễ lên đồng của bà đồng Nga do một anh thầy cúng đồng thời là cung văn tên là Tùng giới thiệu
Bà đồng Hồng là dân thuộc phường Định Công, năm nay ngoài 65 tuổi (2004) Tôi đã tham dự nghi lễ lên đồng của bà đồng Hồng một lần ở nhà thờ Mẫu trong chùa thuộc phường Định Công Thông thường hội của bà hay tổ chức nghi lễ lên đồng ở đền Mẫu nhưng có lúc có người trên phố xuống làm
lễ lên đồng đông quá Chính vì vậy, một số bà đồng trong hội phải đến nhà thờ Mẫu trong chùa, mới được khôi phục lại, tổ chức nghi lễ
Trong buổi lễ lên đồng của một bà đồng khác trong hội, tôi đã có cơ hội hỏi chuyện bà đồng Hồng Bà kể rằng, hồi đó khoảng 50 tuổi bà có triệu chứng hay đau đầu và mất ngủ Bà đến trạm y tế xã để khám nhưng không tìm thấy nguyên nhân Bà được cô y tá cho thuốc mang về nhà uống Lúc uống thuốc thì nó giảm đau và ngủ ngon nhưng khi hết thuốc nó lại đau như cũ Tình hình này làm cho bà giảm cân và gầy đi rất nhiều Một hôm bà kể chuyện cho người hàng xóm nghe Họ nói tình hình của bà là không bình thường rồi Như thế bà nên đi gặp ông Tòng, một ông thầy bói ở xã bên cạnh
để hỏi xem có vấn đề gì không Bà đã đi gặp ông Tòng theo lời khuyên của người hàng xóm và được ông Tòng phán là bà có căn đồng Những triệu chứng đau đầu và mất ngủ đó là tín hiệu của thần thánh để bắt bà làm ghế cho thần thánh Khi bà đã được thánh lựa chọn thì bà phải làm lễ mở phủ, nó là biện pháp cuối cùng
Mặc dù bà biết là mình đã có căn đồng, nhưng bà không tổ chức lễ mở phủ ngay theo lời khuyên của ông thầy bói Bà quyết định là phải đi dự buổi
lễ lên đồng của người khác để học hỏi kinh nghiệm trước Lúc đó trong thời