ĐẠI HỌC QUÔC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN NGỌC TRÌU GIÁO DỤC TIỂU HỌC MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP XÃ PÚNG LUÔNG, HUYỆN MÙ CANG CHẢ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN NGỌC TRÌU
GIÁO DỤC TIỂU HỌC MIỀN NÚI PHÍA BẮC
VIỆT NAM (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP XÃ PÚNG LUÔNG, HUYỆN MÙ CANG CHẢI,
TỈNH YÊN BÁI)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUÔC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN NGỌC TRÌU
GIÁO DỤC TIỂU HỌC MIỀN NÚI PHÍA BẮC
VIỆT NAM (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP XÃ PÚNG LUÔNG, HUYỆN MÙ CANG CHẢI,
TỈNH YÊN BÁI)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Chuyên ngành Dân tộc học
Mã số: 60 22 70
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS NGUYỄN VĂN CHÍNH
HÀ NỘI - 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Nguyễn Ngọc Trìu, tác giả luận văn “Giáo dục tiểu học miền núi phía bắc Việt Nam (nghiên cứu trường hợp xã Púng Luông, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái)” Tôi cam đoan đây là kết quả quá trình làm việc nghiêm túc
của tôi, và tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về những thông tin đƣa ra trong luận văn
Hà Nội, ngày 30 tháng 12 năm 2013
Nguyễn Ngọc Trìu
Trang 4xã hội và Nhân văn đã tận tình dạy tôi những kiến thức căn bản từ bậc đại học cho tới nay
Tôi rất cảm ơn tập thể cán bộ, giáo viên trường Tiểu học Púng Luông, Phòng GD&ĐT huyện Mù Cang Chải đã giúp đỡ, cung cấp thông tin cho tôi trong suốt quá trình điền dã tại đây
Xin cảm ơn gia đình tôi, những người bạn, người em là nguồn động viên tôi hoàn thành Luận văn này với quyết tâm cao nhất!
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 5Children Project (Dự án giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn)
Trang 64 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu 20
Chương 1:
1.1 Điều kiện tự nhiên của xã Púng Luông 25 1.2 Một số đặc điểm kinh tế xã hội của xã Púng Luông 29
2.4.2 Thành quả của dự án PEDC tại Yên Bái 59
2.4.3 Đánh giá ưu và hạn chế của dự án PEDC 60
3.2.1 Chất lượng học môn Tiếng Việt 69
Trang 73.8 Sự mất cân đối về chất lượng giáo dục giữa các 88
điểm trường
Chương 4:
4.1 Trình độ chuyên môn và năng lực giáo viên 96
4.1.1 Trình độ đào tạo và chuyên môn của GV TH 98 4.1.2 Phương pháp dạy học, tiếp cận các chương trình, 100
nội dung mới
4.2.3 Những lý do GV gắn bó với giáo dục vùng DTTS 106 4.3 Những khó khăn đối với GV TH miền núi 108 4.4 Luân chuyển và điều động GV miền núi 112 4.5 Tương tác giữa giáo viên với gia đình học sinh 114
và chính quyền
4.5.1 Vai trò của gia đình trong việc đưa trẻ tới trường 114
4.5.2 Tương tác giữa GV và phụ huynh HS 116
4.5.3 Mối quan hệ giữa GV và chính quyền địa phương 118
Trang 8Bảng 2.9: Tình trạng sử dụng và nhu cầu thiết bị dạy học của huyện Mù
Cang Chải qua 3 năm học
53 Bảng 3.1: Số lượng trẻ vào lớp 1 của trường TH Púng Luông 65 Bảng 3.2: Chất lượng môn Tiếng Việt trường TH Púng Luông qua 3
Trang 9Púng Luông
79
Bảng 3.10: Học sinh thuộc diện hòa nhập tại trường TH Púng Luông và
Bảng 3.11: Thống kê số HS bỏ học tại các tỉnh miền núi phía Bắc 82 Bảng 3.13: Nguyên nhân bỏ học tại trường TH Púng Luông 85 Bảng 3.14: Chất lượng giáo dục tiểu học môn Toán tại các điểm trường
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu
Giáo dục luôn là một trong những vấn đề được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm và coi đó là “nhân tố chìa khóa” để phát triển đất nước Đầu tư cho giáo dục luôn thu hút sự đánh giá của cộng đồng, các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý giáo dục Giáo dục chính là nhân tố hàng đầu để tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao cho phát triển kinh tế - xã hội Và nó cần được vun đắp ngay từ các bậc học đầu tiên, nhất là đối với vùng đặc biệt khó khăn, nơi mà nguồn nhân lực vốn được đánh giá là nguồn lực cơ bản để giảm nghèo bền vững cho tương lai1
Trong hệ thống giáo dục hiện nay, giáo dục TH là bậc học thứ hai (sau giáo dục mầm non) đóng vai trò tối quan trọng trong quá trình phát triển tư duy của người học bởi những kiến thức căn bản đầu đời tác động lên sự hình thành nhân cách của HS Giáo dục TH có nhiệm vụ giúp HS hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về trí tuệ, đạo đức, thể chất, thẩm
mỹ và các kỹ năng cơ bản để HS tiếp tục theo học ở cấp THCS2 Chiến lược phát triển giáo dục Quốc gia 2001 – 2010 cũng xác định rõ mục tiêu của bậc học TH:
“ Phát triển những đặc tính tự nhiên tốt đẹp của trẻ em, hình thành ở HS lòng ham hiểu biết và những đức tính, kỹ năng cơ bản đầu tiên để tạo hứng thú học tập và học tập tốt, củng cố và nâng cao thành quả phổ cập giáo dục TH trong cả nước” Riêng giáo dục TH ở vùng dân tộc thiểu số, để đảm bảo đặc thù ngôn ngữ, văn hóa tộc người, chiến lược giáo dục chủ trương: “Các dân tộc thiểu số
1 Tô Duy Hợp, Phạm Đức Nghiêm, Đổi mới chính sách về Giáo dục, nâng cao dân trí và phát triển nguồn
nhân lực vùng đặc biệt khó khăn để giảm nghèo bền vững, Tạp chí Cộng sản, số 198, ngày 7/2/2011
2 Luật Giáo dục, Nxb Chính trị Quốc gia, H.1998, tr 8
Trang 11được tạo điều kiện để học tập và nắm vững tiếng phổ thông, đồng thời tổ chức học chữ viết riêng của dân tộc”3
Trong nhiều năm qua, tồn tại sự phát triển không đồng đều, khoảng cách rất lớn về giáo dục giữa đồng bằng và miền núi, đô thị và nông thôn, giữa dân tộc đa số và thiểu số Trước thực trạng đó, Nhà nước đã có những chủ trương, chính sách riêng nhằm ưu tiên cho đồng bào vùng sâu, vùng xa trong quá trình thoát nghèo và phát triển Trong số các chính sách đó, những chủ trương và đầu
tư cho giáo dục được coi là một yếu tố quan trọng hàng đầu để phát triển kinh tế
- xã hội cho đồng bào, giảm nghèo bền vững
Nghiên cứu mới đây của GS.Tô Duy Hợp và cộng sự tại 3 vùng: Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ năm 2009 chỉ ra nhiều rào cản hạn chế khả năng tiếp cận cơ hội học tập cho trẻ em gia đình nghèo Nghiên cứu cho thấy nhóm gia đình có mức sống khá giả nhất chi cho giáo dục nhiều gấp gần 11 lần so với nhóm nghèo nhất Đối với những hộ càng nghèo, thì việc chi cho giáo dục của con em họ càng là gánh nặng đối với ngân sách gia đình4 Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, ở Việt Nam, hằng năm, có khoảng 3,6% số HS trong độ tuổi không được đến trường Tỉ lệ HS ở các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nạn bỏ học cao hơn so với các vùng kinh tế trọng điểm và các khu đô thị (ở đồng bằng sông Hồng, tỉ lệ HS bỏ học là 2,96%; khu vực Tây Bắc 6,91%; Tây Nguyên l7,16% và đồng bằng sông Cửu Long 12,64%) Ở các vùng núi cao, số trẻ em gái không biết chữ ở nhóm 10 tuổi là 13,69%, 11 - 14 tuổi là 7,98%, 15 - 17 tuổi là 9,08% Nếu tính theo nhóm dân tộc thì số trẻ em gái mù chữ người Hmông là 90%, Hà Nhì 89%, Gia Rai 83%, Ba Na 82%5
Đối với học sinh nghèo miền núi vùng sâu vùng xa, mô hình trường bán trú được coi là giải pháp hữu hiệu nhằm cải thiện tình trạng sinh hoạt, nhưng có
3 Quyết định số 201/2001/QĐ-TTg ngày 28/12/2001 Ban hành theo Chiến lược giáo dục 2001 - 2010
4 Tô Duy Hợp, Phạm Đức Nghiệm, Đổi mới chính sách về Giáo dục, nâng cao dân trí và phát triển nguồn
nhân lực vùng đặc biệt khó khăn để giảm nghèo bền vững, Tạp chí Cộng sản, số 198, ngày 7/2/2011
Trang 12đến 82,81% số trường chưa có giường nằm; 92,19% số trường chưa có nhà vệ sinh, nhà tắm; 84,38% số trường chưa có nguồn nước sạch Khảo sát thực trạng giáo dục 9 dân tộc rất ít người6 sinh sống ở các vùng đặc biệt khó khăn của Vụ Giáo dục - Dân tộc, Bộ Giáo dục và Đào tạo (từ tháng 3 đến tháng 6/2009), cho thấy: trình độ văn hóa chung của con em đồng bào nhóm dân tộc rất ít người này
số người mù chữ, tái mù chữ, thất học chiếm tỉ lệ cao như: dân tộc Cống chiếm 70,3%, Si La 73% , tỉ lệ người biết tiếng phổ thông chỉ khoảng 15% Tính đến năm 2007, mới chỉ có 29 HS thuộc các dân tộc rất ít người được cử tuyển vào các trường đại học, cao đẳng Dân tộc Brâu chưa có người nào đạt trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên
Tuy vậy, giáo dục TH vùng núi phía Bắc Việt Nam tại các vùng có đông đồng bào DTTS sinh sống còn rất nhiều vấn đề khó khăn Không chỉ có các thực hành chính sách chưa đầy đủ, thiếu phù hợp với điều kiện địa lý, không gian văn hóa xã hội đặc thù, mà ngoài ra, các yếu tố văn hóa như giới, nhu cầu lao động… vẫn đang tạo ra những rào cản không nhỏ đối với giáo dục TH miền núi Tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân đó sẽ góp phần đưa ra khuyến nghị giúp các nhà quản lý giáo dục, những nhà nghiên cứu chính sách cụ thể hơn nữa những biện pháp cần thiết và phù hợp cho giáo dục TH vùng dân tộc thiểu số nói riêng
Nghiên cứu “Giáo dục tiểu học vùng núi phía Bắc Việt Nam: Trường hợp xã Púng Luông, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái” cho thấy phần nào thực trạng
giáo dục TH tại vùng cao và hiệu quả của những chính sách đầu tư cho giáo dục khu vực này trong nhiều năm trở lại đây Những chính sách, chủ trương đối với giáo dục và giáo dục TH đã tác động tới sự phát triển giáo dục của vùng cao, vùng khó khăn nơi đây như thế nào
2 Mục tiêu, ý nghĩa khoa học và đóng góp thực tiễn của đề tài
6 9 dân tộc ít người gồm: Ơ Đu, Pu Péo, Si La, Rơ Măm, Cống, Brâu, Bố Y, Mảng và Cờ Lao, tất cả còn khoảng 5.000 người Các dân tộc này phân bố chủ yếu ở các tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Điện Biên, Lai Châu, Nghệ An và Kon Tum
Trang 13Giáo dục tiểu học miền núi phía Bắc Việt Nam, nghiên cứu trường hợp xã Púng Luông, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái là đề tài khoa học tìm hiểu về thực trạng, những tồn tại và đưa ra những giải pháp khắc phục đối với giáo dục tiểu học miền núi Nghiên cứu này bổ sung, làm rõ thêm những vấn đề đang tồn tại đối với cấp học tiểu học tại một số vùng khó khăn, vùng đồng bào thiểu số ở phía Bắc Việt Nam Nghiên cứu hướng đến một bức tranh chân thực, rõ ràng về giáo dục tiểu học miền núi Cùng với các đề tài khoa học nghiên cứu về giáo dục tiểu học, chúng tôi tin rằng những luận điểm trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu của mình sẽ được các nhà quản lý giáo dục quan tâm, xem xét
Ở góc độ khác, xuất phát từ thực tế giáo dục tiểu học vùng núi, vùng khó khăn vẫn còn nhiều thiếu thốn, bất cập trong cách dạy và học, cơ sở vật chất còn chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn đặt ra Trong nghiên cứu của mình, chúng tôi mô tả và chỉ ra các vấn đề một cách kỹ lưỡng và cụ thể Từ đó, có đóng góp ý nghĩa thực tiễn trong công tác nhìn nhận hiệu quả của chương trình
và thực hành giáo dục tại vùng cao Những “nổi cộm” của ngành giáo dục như hiện tượng bỏ học, sử dụng tiếng Việt và chế độ đãi ngộ với giáo viên ra sao? Như thế nào? Bên cạnh đó là hàng loạt các vấn đề khác tác động tới việc tới trường của HS vùng cao, những khó khăn mà các em gặp phải trong quá trình học tập là gì? Chúng tôi cũng hi vọng rằng với việc mô tả kĩ lưỡng, sẽ có thể giải
Trang 14mức sống cho người dân Khi đồng bào không còn lo “cơm từng bữa”, việc tới trường của các em HS chắc chắn được đảm bảo
Hiện nay, lý thuyết giáo dục và phát triển cho thấy đầu tư vào giáo dục chính quy và đào tạo lực lượng lao động đóng một vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế Bằng chứng thực nghiệm có năm hình thức chính:
+ Nghiên cứu ước tính đóng góp cho tăng trưởng kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định của đầu tư trong việc giáo dục của lực lượng lao động
+ Nghiên cứu năng suất, trong đó ước tính sự đóng góp của giáo dục bổ sung cho năng suất vật lý của công nhân và nông dân
+ Nghiên cứu lợi ích - chi phí, trong đó đánh giá sự đóng góp kinh tế của sự suy đoán chính thức và đào tạo về chi phí của tư nhân (thu nhập bỏ qua và các chi phí khác phát sinh của sinh viên trong khi ở trường) và chi phí công cộng Cuối cùng, cộng thêm thu nhập kiếm được của những người được giáo dục và đào tạo
+ Các nghiên cứu ước tính hiệu quả của phụ nữ trong nền giáo dục về phát triển kinh tế dài hạn và chất lượng cuộc sống
+ Các nghiên cứu ước tính vai trò của giáo dục trong xóa đói, giảm nghèo Kết quả của những nghiên cứu của nhiều học giả trên thế giới đều cho rằng, trong cả nước phát triển và đang phát triển, đầu tư giáo dục là một trong những yếu tố quan trọng nhất góp phần vào tăng trưởng kinh tế Đó là chi phí về giáo dục đóng góp tích cực đến năng suất lao động; rằng tăng trưởng kinh tế để chi tiêu cho giáo dục Ở góc độ khác, trong báo cáo của Ngân hàng thế giới năm
1990, chi tiêu cho giáo dục góp phần cải thiện đời sống của một bộ phận lớn phụ
nữ, giúp cải thiện sức khỏe của trẻ em và giảm cả việc kết hôn sớm (tảo hôn) ở nhiều tộc người trên thế giới (Education and Development, Wadi D.Haddad, Martin Carnoy, R Rinaldi and Omporn Regel, 1990, 11 – 17)
Trang 15Một số nghiên cứu sớm nhất về mối quan hệ giữa giáo dục và phát triển kinh tế tập trung vào sự đóng góp của giáo dục đối với tăng trưởng kinh tế ( Schultz, 1961; Denison, 1962, 1967 ) Những nghiên cứu này đã giải thích cho
sự tăng trưởng khi chỉ thay đổi trong lao động (giờ làm việc mỗi năm) và vốn vật chất được đưa vào chức năng sản xuất (Solow , 1957) Denison thấy rằng giữa năm 1930 và năm 1960, 23% của sự gia tăng sản lượng của Hoa Kỳ là do sự đầu
tư vào giáo dục đội ngũ lao động đem lại.Ước tính kế toán tăng trưởng hơn nữa đối với Hoa Kỳ và Châu Âu trong 1950-1962 cho thấy một sự khác biệt lớn cho những đóng góp của giáo dục, từ 2% thấp ở Đức lên mức cao của 12% ở Vương quốc Anh, 14% ở Bỉ, 15% ở Hoa Kỳ, và 25% ở Canada Ước tính tương tự cho các nước đang phát triển cũng cho thấy một sự khác biệt lớn đóng góp giáo dục,
từ mức thấp 1-3% ở Mexico, Brazil, và Venezuela đến 16% ở Argentina Các ước tính khác cho Ghana, Kenya, Nigeria, Malaysia và Hàn Quốc, dựa trên phương pháp của Schultz, cho thấy sự đóng góp giáo dục trong phạm vi 12-23% (Psacharopoulos và Woodhall, 1985)
Tăng trưởng tài chính không là một tiêu chuẩn cho chính sách đầu tư vào giáo dục, vì nó chỉ cho thấy rằng tăng trưởng kinh tế nên diễn ra đồng thời với sự đầu tư đáng kể vào giáo dục, đầu tư vào giáo dục sẽ chiếm một tỷ lệ đáng kể của
sự tăng trưởng đó Nhưng những nghiên cứu này chỉ ra, một số quốc gia đã đạt được tăng trưởng kinh tế cao khi đầu tư nhiều vào giáo dục Hơn nữa, các nghiên cứu khác, thảo luận cũng đưa ra kết luận rằng đối với các vùng “thấp” về kinh tế cũng là những vùng có sự đầu tư cho giáo dục không cao và không hiệu quả (Education and Development, Wadi D.Haddad, Martin Carnoy, R Rinaldi and Omporn Regel, 1990, 18 – 22)
Cũng tại nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới thực hiện tại Hàn Quốc, Malaysia và Thái Lan (Jamison và Lau , 1982), và gần đây hơn ở Nepal và một lần nữa trong Thái Lan (Jamison và Mook , 1984) Các nghiên cứu khác (ví dụ Sack, Camoy, và Lecaros , 1980)đều đưa ra các kết luận chung rằng giáo dục
Trang 16góp phần tích cực vào sản xuất nông nghiệp, cải thiện đời sống của người nông dân, góp phần thay đổi nhận thức đối với việc học hành của chính con em họ ((Education and Development, Wadi D.Haddad, Martin Carnoy, R Rinaldi and Omporn Regel, 1990, 23)
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về giáo dục dân tộc thiểu số nói chung và giáo dục TH ở miền núi nói riêng đã nhận được sự quan tâm của rất nhiều nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, quản lý giáo dục trong và ngoài nước quan tâm, dành nhiều thời gian tìm hiểu Những đề tài nghiên cứu và tìm hiểu từ trước đến nay góp phần không nhỏ vào việc tìm những giải pháp thích hợp nâng cao, cải thiện nhằm đưa giáo dục miền núi có chất lượng ngày càng tốt và kịp với miền xuôi Xa hơn là cải thiện và nâng cao toàn bộ nền giáo dục Việt Nam Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào đánh giá chính sách giáo dục vùng dân tộc thiểu số, trong đó có giáo dục TH Trong đó, riêng giáo dục TH, các nghiên cứu tập trung vào đánh giá kết quả của phổ cập giáo dục TH
Cách đây hơn hai thập kỷ, đã có những thống kê rất cụ thể, chi tiết chỉ rõ khoảng cách chênh lệch rất lớn giữa số lượng HS được đào tạo và công nhận với chất lượng trên thực tế Nghiên cứu của La Công Ý trong cuốn: “Vài nét về sự phát triển văn hóa giáo dục ở các tỉnh miền núi phía Bắc” (1985) được khảo sát tại hai tỉnh Lai Châu và Lạng Sơn cho thấy số lượng HS đến trường ngày càng tăng nhưng tỉ lệ nghịch với chất lượng đào tạo do cơ sở vật chất còn gặp quá nhiều khó khăn Ngoài ra, tác giả còn chỉ ra số lượng HS theo học các lớp trên ở vùng dân tộc thiểu số thấp hơn nhiều so với các dân tộc có quy mô dân số lớn
Để góp phần giải quyết thực trạng đó, tác giả đưa ra giải pháp “Thầy tìm trò, trường gần dân” để đưa con em đồng bào đến trường Song song với đó là đào tạo cán bộ người dân tộc thiểu số để từng bước giải quyết khó khăn về chất lượng giáo dục
Trang 17Tác giả Khổng Diễn và các đồng sự cũng đưa ra những tổng kết, đánh giá tình hình giáo dục tại khu vực này dựa trên những khảo sát nhiều năm cho công
trình Những đặc điểm kinh tế xã hội các dân tộc miền núi phía Bắc Ông cùng
các cộng sự đưa ra nhận định: giáo dục khu vực miền núi phía bắc đã có nhiều tiến bộ nhưng vài chục năm trở lại đây đã xuống cấp nghiêm trọng, số lượng người bỏ học, mù chữ, tái mù chữ ngày càng gia tăng Đưa ra dẫn chứng tại xã Mường So, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, nhóm tác giả thống kê số lượng HS cuối cấp bỏ học năm có thời điểm 134/825 em Bên cạnh đó,hiện tượng HS đến
độ tuổi đi học nhưng không đến trường chiếm tỉ lệ đáng kể Số HS này chủ yếu rơi vào HS mẫu giáo đủ tuổi đến lớp 1 và HS lớp 5 sau khi tốt nghiệp TH Tình trạng trẻ mù chữ, chậm độ tuổi đến trường thuộc các dân tộc thiểu số như Hmông, Dao, Mảng…ở vùng cao có chiều hướng gia tăng Tình trạng xuống cấp của cơ sở vật chất cùng rào cản ngôn ngữ tiếp tục được đánh giá là những nguyên nhân khách quan khiến giáo dục vùng núi gặp nhiều thử thách, khó khăn trong nhiều năm trời, kéo dài tới tận bây giờ
Cùng quan điểm cho rằng yếu tố cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực có vai trò tiên quyết đối với giáo dục miền núi, Nguyễn Ngọc Thanh và cộng sự đã khảo sát tại các tỉnh Lai Châu, Hà Giang và Kon Tum và chỉ ra cơ sở vật chất đối với giáo dục chưa được quan tâm đúng mức Lớp học phải mượn nhà dân bản, phương tiện dạy học, đồ dùng cho HS còn thiếu thốn trầm trọng Thiếu lớp, thiếu giáo viên dẫn tới mô hình lớp ghép phổ biến ở bậc TH ở các vùng xa, vùng sâu Đời sống và điều kiện sinh hoạt của GV các cấp vẫn còn rất khó khăn Để góp phần cải thiện điều kiện học tập của học sinh ở miền núi, Nguyễn Ngọc Thanh cho rằng một số mô hình bán trú dân nuôi rất phù hợp với các địa phương vùng cao, tạo điều kiện cho các em đến trường và giảm tỉ lệ bỏ học Năm 2010, Nguyễn Ngọc Thanh cùng các đồng sự tiếp tục đánh giá lại toàn bộ các chính sách đối với giáo dục vùng cao ở mọi góc độ, từ chính sách đối với HS, GV và
cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học
Trang 18Song song với những đánh giá chính sách giáo dục hiện nay, một số nhà nghiên cứu có khuynh hướng đặt giáo dục miền núi trong bối cảnh điều kiện kinh tế, văn hóa tộc người Từ cách nhìn này, các nhu cầu thiết yếu về lao động trẻ em, kinh tế hộ gia đình, vấn đề giới, hôn nhân truyền thống được đặt ra như
là những trở lực ngăn cản trẻ em tới trường Vương Xuân Tình và Bùi Thế Cường đưa ra khái niệm “bản trắng” về giáo dục và cho rằng cư dân miền núi phía Bắc Việt Nam là một trong những nhóm người nghèo nhất ở nước ta nên nhu cầu lao động, bao gồm cả trẻ em khi các em đủ tuổi đến trường hoặc đang đi học là rất bức thiết Vì vậy, tác giả đưa ra kiến nghị: nâng cao chất lượng giáo dục miền núi phải song song với các giải pháp mang tính đồng bộ nhằm cải thiện được tình trạng nghèo đói kinh niên
Cùng khuynh hướng phân tích các nền tảng văn hóa, xã hội của tộc người nhằm tìm ra mối liên hệ với tình trạng giáo dục miền núi Lê Thị Thủy trong
nghiên cứu: Học tập và lao động của trẻ em gái dân tộc nhìn từ kết quả nghiên cứu đã khẳng định: Đối với vùng núi, mức sống gia đình có liên quan trực tiếp
đến việc học tập của trẻ em Nhiều hộ thiếu ăn từ 4-5 tháng/năm, làm không đủ
ăn nên nhiều phụ huynh cho con em mình nghỉ học, ở nhà phụ giúp gia đình Ngoài ra, bản thân bố mẹ các em cũng chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc đi học
Ngoài hệ thống các nghiên cứu đánh giá chính sách, mối tương quan giữa mức sống và giáo dục ở trên, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam (thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo) có nhiều công trình nghiên cứu đánh giá chương trình học, sách giáo khoa và các hình thức tổ chức lớp học của HS miền núi
Trước hết, một số nhà nghiên cứu cho rằng sự chuẩn bị cho trẻ trước khi vào lớp 1 chưa đầy đủ, điều này sẽ dẫn tới tình trạng kém tiếp thu ở bậc tiểu học
Các bằng chứng trong Nghiên cứu chất lượng học tập của HS lớp 1,2,3 vùng dân tộc thiểu số theo chương trình TH của tác giả Nguyễn Thanh Thủy và cộng sự
cho thấy sự chuẩn bị của trẻ mẫu giáo trước khi ra lớp 1 của vùng dân tộc miền
Trang 19núi chưa được đầu tư và chú ý đứng mức Trong các địa bàn nghiên cứu ở Yên Bái, Hòa Bình và Cao Bằng, tình trạng này ở Yên Bái phổ biến hơn cả Qua phân tích chất lượng học tập các môn chủ đạo Toán, Tiếng Việt, nghiên cứu chỉ
ra những điểm yếu trong tiếp nhận tri thức của HS miền núi như chậm, học mang tính thuộc lòng và thậm chí chưa thể đánh vần thành thạo dù đã HS lớp 3 (tốc độ đánh vần 40 từ/phút) đối với môn Tiếng Việt và chưa thể tính toán thành thạo đối với môn Toán
Đối với GV, tác giả chỉ rõ những khoảng cách khó san lấp về trình độ giảng dạy của GV vùng dân tộc thiểu số đối với vùng đồng bằng Thậm chí, khoảng cách này cũng tồn tại giữa GV dân tộc thiểu số và GV người Kinh công tác vùng miền Sự khác nhau chủ yếu ở các khía cạnh ngôn ngữ, tâm lý giao tiếp
và nghiệp vụ sư phạm Trong khi GV người dân tộc thiểu số có khả năng truyền đạt kiến thức cho HS bản địa nhưng lại ít sử dụng tiếng Việt trong giảng dạy và chất lượng các lớp học do các GV này đứng lớp thường không cao Ngược lại,
GV miền xuôi phải rất cố gắng, nỗ lực học tiếng địa phương hơn là tập trung nâng cao trình độ chuyên môn để giúp HS hiểu được bài học
Những hạn chế trong việc chuẩn bị tiếng phổ thông trước khi ra lớp đã ảnh hưởng lớn đến việc trẻ đọc thông viết thạo, dẫn đến chất lượng học tập của
HS miền núi rất thấp Đó còn chưa kể các em ngại giao tiếp, sử dụng tiếng mẹ đẻ làm ngôn ngữ hằng ngày, kể cả trên lớp đã gây ra nhiều trở ngại trong việc tiếp thu kiến thức từ trường học
Ngoài ra, giải pháp “lớp ghép” nhằm giải quyết tức thời tình trạng thiếu giáo viên, thiếu trường lớp tại các điểm trường cũng được một số tác giả đánh giá có thể ảnh hưởng tới khả năng tiếp thu của trẻ.Tại Tạp chí giáo dục số
83/2004, Lớp ghép tại giáo dục TH miền núi được Nguyễn Thanh Thủy đề cập
như là một bất cập lớn của giáo dục TH miền núi vẫn tồn tại dai dẳng trong khi chưa có một biện pháp khả thi nào có thể “xóa bỏ”
Trang 20Dưới góc độ truyền thông, báo chí Trong một vài năm trở lại đây, nhiều kênh thông tin đại chúng đã đăng tải hàng trăm bài viết phản ánh những tồn tại, thực trạng về giáo dục TH miền núi Gần đây nhất, tháng 4/2013, Đài truyền
hình Việt Nam đã phát phóng sự dài kỳ Gian nan gieo chữ ở vùng cao đã phản
ánh những tồn tại đang có như chế độ đối với GV, việc luân chuyển cán bộ, cơ
sở vật chất cho giáo dục TH miền núi… phần nào đã nói lên những bất cập đang tồn tại
Còn không ít các công trình, các đề tài khoa học và nghiên cứu khoa học
đề cập tới nội dung hoặc một phần nội dung mà chúng tôi nghiên cứu Chưa thể
hệ thống được toàn bộ do điều kiện hạn chế nên chúng tôi tập trung khai thác tối
đa những tư liệu mà mình đọc, sưu tầm và có được Những nghiên cứu trên là những chỉ dẫn và định hướng rất hữu ích đối với chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài của mình
Trong quá trình thực hiện đề tài, nguồn tư liệu được chúng tôi sử dụng gồm ba loại:
- Tài liệu của các nghiên cứu đi trước là tiền đề, định hướng cho nghiên cứu của chúng tôi tìm hiểu về vấn đề cần quan tâm
- Nguồn tài liệu thực địa: Gồm toàn bộ các báo cáo tổng kết 3 năm học từ
2010 đến 2012 của trường TH Púng Luông; Báo cáo tổng kết 3 năm học cấp TH
từ năm 2010 đến 2012 của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Mù Cang Chải Thống kê các bảng hỏi, hệ thống tài liệu thông qua băng ghi âm, phỏng vấn và thảo luận nhóm trong quá trình điền dã
- Nguồn tài liệu tham khảo trên internet: Bao gồm các tư liệu liên quan đến chính sách giáo dục, chính sách hỗ trợ GV và HS của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các Vụ, Phòng ban liên quan đến đối tượng nghiên cứu Ngoài ra, nghiên cứu còn sử dụng các thông tin trên cổng thông tin điện tử của tỉnh Yên Bái, huyện Mù Cang Chải và các báo điện tử: Dantri.com.vn, baoyenbai…
Trang 214 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu
Chúng tôi chọn nghiên cứu tại xã Púng Luông, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái Đây là một tỉnh nhiều dân tộc thiểu số sinh sống, có địa hình chủ yếu là đồi núi gây khó khăn cho giao thông hạ tầng phát triển, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt với nhiều thiên tai, như sương muối, lũ quét, lở đất gây khó khăn cho phát triển kinh tế Đồng bào ở đây chủ yếu canh tác nông, lâm nghiệp Trong đó lúa nước và nương rẫy là những phương thức chủ yếu trong cơ cấu nông nghiệp trong khi nguồn lợi từ lâm nghiệp không còn nhiều như trước Yên Bái cũng là tỉnh có tỉ lệ hộ nghèo cao của cả nước, 26,5% so với tỉ lệ nghèo của cả nước là 14,2% Trong các huyện của tỉnh Yên Bái, Mù Cang Chải, Trạm Tấu, Nghĩa Lộ
là những huyện nghèo nhất của cả nước7 Việc phát triển và đầu tư cho giáo dục trong nhiều năm qua đã có nhiều tiến bộ nhưng chất lượng giáo dục tại các huyện nghèo vẫn còn không ít khó khăn do điều kiện kinh tế chưa được cải thiện
Xã Púng Luông là xã miền núi đặc biệt khó khăn (theo phân loại của Nhà nước trong Chương trình Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa 135 năm 1998) Xã có 574 hộ gia đình, cư dân chủ yếu làm nông nghiệp với 90,7% hộ canh tác nông lâm nghiệp, 8,2% hộ chỉ làm lâm nghiệp Đây là khu vực sinh sống chủ yếu của các tộc người Hmông với khoảng 98% dân số Một số ít là người Tày và Thái Cộng đồng người Kinh là những người làm ăn buôn bán, dạy học và công nhân một số công trình thủy điện gần đó chiếm tỉ lệ rất ít Điều kiện kinh tế xã hội của đồng bào Hmông ở đây còn
ở mức thấp, nhiều hộ thường xuyên thiếu đói
Phương pháp thu thập tài liệu ở thực địa
Để thực hiện nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng nhiều phương pháp khác
nhau: quan sát tham gia; phỏng vấn sâu; bảng hỏi cấu trúc; thảo luận nhóm; thu
Trang 22
thập tài liệu báo cáo ở địa phương Trong đó quan sát tham gia vẫn là phương pháp trọng tâm vì những ưu điểm của nó trong mô tả dân tộc học
Chúng tôi có 2 đợt điền dã chính:
Đợt 1: từ ngày 5 đến ngày 23/8/2011: Chuyến đi đầu tiên đến địa bàn nghiên cứu của chúng tôi là làm quen với thực địa, thu thập các số liệu, báo cáo tại trường TH Púng Luông và Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Mù Cang Chải Cũng trong chuyến đi này, chúng tôi có dịp đến tất cả các điểm trường, kể cả điểm cắm bản của trường TH Púng Luông Các tài liệu ghi chép và số liệu báo cáo đều được chúng tôi xử lý ban đầu để chuẩn bị cho chuyến đi tiếp theo
Đợt 2: Từ ngày 5 đến ngày 25/12/2012: Thực hiện bảng hỏi, phỏng vấn sâu, quan sát tham gia
Khảo sát bằng bảng hỏi: Nội dung chính tập trung:
- Đối với toàn bộ GV của trường TH Púng Luông 32 GV
- Hoàn cảnh kinh tế và nhân khẩu học của các gia đình 20 gia đình ở ba bản khác nhau Chúng tôi thực hiện ở 3 bản tập trung 100% là đồng bào Hmông gồm: Mí Háng Tủa Chử, Mí Háng Tâu và Nả Háng A
Đối với bảng hỏi các hộ dân, trình độ chủ yếu của người trả lời bảng hỏi là phổ cập TH hoặc biết chữ
- Phỏng vấn sâu: Trong quá trình nghiên cứu và khảo sát tại thực địa, chúng tôi đã tiến hành nhiều cuộc phỏng vấn với các đối tượng liên quan gồm: cán bộ quản lý giáo dục, lãnh đạo nhà trường, các GV lâu năm hoặc mới lên công tác, chính quyền địa phương và các hộ dân Các cuộc phỏng vấn, nói chuyện đều được chúng tôi ghi âm và đánh mã số kí hiệu, thuận lợi cho quá trình tìm kiếm
và thao tác hệ thống lại tư liệu Ví dụ PL1.2011.Co Dung.amr: Trong đó, PL1 là
kí hiệu tài liệu thực hiện tại Púng Luông số 1, thực hiện năm 2011 và phỏng vấn
cô giáo Dung
- Thảo luận nhóm: Chúng tôi tiến hành các cuộc thảo luận nhóm tập trung vào các GV với các vấn đề liên quan đến đề tài.Ở đây, chúng tôi có những cuộc
Trang 23thảo luận nhóm là các GV chỉ làm công tác giảng dạy và các GV làm công tác quản lý giáo dục
- Các nghiên cứu đi trước: Thu thập tài liệu của các nhà nghiên cứu đi trước
về giáo dục miền núi, giáo dục TH miền núi trong các thư viện, viện nghiên cứu
và cả hệ thống tài liệu thông qua mạng internet
Phương pháp phân tích
- Với các nghiên cứu đi trước: phân tích, so sánh các nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau để khái quát lên được xu hướng nghiên cứu, thành quả họ đã làm được là gì Các nghiên cứu về giáo dục rất rộng nhưng cần hệ thống và tìm các dữ liệu liên quan đến giáo dục TH, đặc biệt đối với miền núi Các đề tài đã đưa ra những tồn tại gì và đề xuất giải pháp ra sao
+ Với các nguồn tài liệu về giáo dục và kinh tế xã hội tại địa phương
Sử dụng các tài liệu về kinh tế xã hội địa phương, công tác khuyến học để
sử dụng làm tư liệu liên quan đến các vấn đề phát triển giáo dục tại địa bàn nghiên cứu từ trước đến nay Các văn bản của Phòng Giáo dục và Đào tạo, UBND huyện Mù Cang Chải và chính quyền địa phương để thấy chủ trương phát triển giáo dục tại đây ra sao
+ Với các nguồn dữ liệu định tính và định lượng
- Do các mẫu không lớn và phần lớn câu hỏi trong bảng hỏi đơn giản, không nhiều nên chúng tôi tự tổng hợp và so sánh trên Exel
- Lập các hồ sơ phỏng vấn, hồ sơ thực hiện bảng hỏi với từng cá nhân
5 Cấu trúc của Luận văn
Dẫn luận
Chương 1: Địa bàn nghiên cứu
Trong chương đầu tiên, chúng tôi giới thiệu về địa bàn nghiên cứu gồm những đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội và văn hóa Trong phần này, chúng tôi cũng giới thiệu qua về hệ thống giáo dục tại huyện miền núi đặc biệt khó khăn
Mù Cang Chải từ trước đến nay
Trang 24Chương 2: Nhà trường
Chương 2 tập trung phân tích hệ thống cơ sở vật chất còn quá nhiều khó khăn Những thiếu thốn trong việc phân phối SGK, thiết bị dạy học Ngoài ra, việc thí điểm mô hình bán trú tự quản là biện pháp khả dĩ giúp nâng cao chất lượng học tập và giữ HS ở lại với lớp, hạn chế phần nào tình trạng bỏ học từ sau năm 2011 Ngoài ra, chúng tôi còn tập trung phân tích hiệu quả của một số dự án đầu tư cho giáo dục được triển khai tại huyện Mù Cang Chải
Chương 3: Chương trình và thực hành giáo dục
Trong chương tiếp theo này, chúng tôi hệ thống toàn bộ những nghiên cứu chủ yếu của mình để phản ánh về chất lượng giáo dục TH miền núi với việc lấy
HS làm trung tâm nghiên cứu Những vấn đề về chất lượng học tập một số môn học chính Thực trạng bỏ học, tình trạng chuẩn bị vào lớp 1 và những bước chuẩn bị đầu tiên của các em HS miền núi được phân tích kỹ lưỡng Ngoài ra, việc sử dụng tiếng Việt trong dạy và học, những so sánh giữa các trường TH trong cùng huyện Từ những nguyên nhân của thực trạng đang tồn tại, chúng tôi
lý giải chúng thông qua nghiên cứu của mình
Chương 4: Giáo viên và học sinh
Những năm qua, chính sách đãi ngộ với GV miền núi đã phần nào được cải thiện và nâng cao bằng hàng loạt biện pháp hỗ trợ của Đảng và Nhà nước, ngành giáo dục nhưng đối với họ, ngoài biện pháp nghiệp vụ chuyên môn, nếu không yêu nghề, yêu trẻ em miền núi, có lẽ không trụ lại được với công việc Những tồn tại về chế độ luân chuyển cán bộ, chất lượng đội ngũ những người đứng lớp và tâm tư nguyện vọng của họ sẽ được đề cập đến trong phần này
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Trang 25CHƯƠNG 1 ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.1 Điều kiện tự nhiên của xã Púng Luông
Trang 26
tâm huyện Mù Cang Chải khoảng 25km (35 phút đi xe máy) Phía Nam giáp xã Nậm Khắt, phía Đông giáp xã Cao Phạ, phía Bắc giáp xã La Pán Tẩn, phía Tây Bắc giáp xã Dế Xu Phình, phía Tây giáp xã Chế Tạo
Địa hình:
Huyện Mù Cang Chải có địa hình chủ yếu là núi chia cắt mạnh Toàn bộ
xã Púng Luông cũng bị chia cắt bởi các dãy núi, nằm lọt thỏm giữa các khe hoặc lưng chừng đồi là các bản làng của đồng bào Hmông UBND xã Púng Luông nằm gần điểm trường trung tâm của trường TH Púng Luông với bốn bế xung quanh là núi Từ đây, quan sát ra xung quanh hoặc muốn nhìn thấy các bản khác trong xã không có cách nào khác phải đi đường vòng qua núi, thậm chí trong quá trình nghiên cứu, không ít lần chúng tôi phải leo núi cùng với GV bản địa để vào sâu trong bản Nả Háng A, Nả Háng B Chính điều kiện tự nhiên như vậy khiến các bản nằm cách xa nhau, không phân bố tập trung Điều này ảnh hưởng đến việc các em HS TH lớp 4, lớp 5 phải di chuyển khá xa mới về đến điểm trường trung tâm Các lớp 1, 2, 3 học tại các điểm trường gần bản nhưng điểm gần với trung tâm trường nhất cũng là 3,5km
Bản thuận lợi nhất và cũng nằm trên trục đường giao thông quốc lộ từ Hà Nội đi Lai Châu là bản Ngã Ba Kim Đường được rải nhựa nên điều kiện đi lại tương đối thuận lợi Vào mùa mưa, hiện tượng đá lở hoặc cầu bị hư hỏng khiến điều kiện giao thông lại vô cùng khó khăn vì phải đợi các đội cầu đường thi công lại
Các bản Mí Háng Tâu và Nả Háng Tâu tuy nằm xa trung tâm xã nhưng có đường liên thôn đã được bê tông hóa nối với trục đường quốc lộ nên tương đối thuận lợi trong di chuyển Bản xa nhất tính từ trung tâm xã Púng Luông là Mí Háng Tủa Chử, nằm trên đỉnh núi, phải mất hơn 1 giờ đi bằng xe máy hoặc nhiều giờ đi bộ mới tới nơi Bản Mí Háng Tủa Chử và Háng Cơ Bua chưa có đường giao thông được kiên cố hóa bằng, chỉ có đường mòn người dân tự khai phá nên rất quanh co, khúc khuỷu, đặc biệt khó đi vào mùa mưa Trong điều kiện
Trang 27mưa to, chỉ có duy nhất cách đi bộ vào các bản này, không thể đi lại được bằng
xe máy bởi đường đất đỏ lầy lội và trơn trượt Con đường duy nhất vào bản nhiều năm qua đã được lên kế hoạch đổ bê tông nhưng vẫn chỉ là trên dự án vì chưa có nguồn vốn đầu tư Điểm trường Mí Háng Tủa Chử là điểm trường khó khăn nhất của trường TH Púng Luông trong đợt chúng tôi nghiên cứu và khảo sát tại đây
Điều kiện khí hậu
Khí hậu Yên Bái chia thành 2 tiểu vùng phía đông và phía tây9, với ranh giới phân chia là dãy Hoàng Liên Sơn Mù Cang Chải thuộc tiểu vùng khí hậu phía Tây có độ cao địa hình trên 700 m Cùng với các huyện Trạm Tấu, Văn Chấn và thị xã Nghĩa Lộ, tiểu vùng này ít chịu tác động của gió mùa Đông Bắc nhưng lại có gió Tây Nam nóng và khô Vì thế, đặc điểm khí hậu vùng này là nắng nhiều, mưa tương đối ít và khí hậu có tính chất cận nhiệt
Xã Púng Luông ngoài yếu tố thuộc tiểu vùng khí hậu phía Tây, vùng còn chịu ảnh hưởng bởi gió mùa Tây Nam, lượng mưa trong năm tương đối ít, chỉ từ
800 đến 1300mm/ năm Trong năm có hai mùa rõ rệt là khô hanh và mùa mưa Mùa đông tương ứng với mùa khô hanh, kéo dài từ tháng 11 đến hết tháng
4 năm sau Đây là nơi chịu nhiều ảnh hưởng của các đợt rét đậm, rét hại dài ngày, tác động tới sức khỏe và sản xuất của người dân cũng như gây khó khăn cho HS tới điểm trường trung tâm hoặc điểm cắm bản
Mùa hạ từ tháng 4 đến tháng 10 tương ứng với mùa mưa Thời kỳ này, Mù Cang Chải có mưa nhiều, thường kèm lũ quét gây sạt lở, cuốn trôi nhà cửa, hoa màu, thậm chí gây tai nạn thương tích… ảnh hưởng tới sản xuất và người dân Điển hình là năm 2012 gây sạt lở tại xã La Pán Tẩn làm 18 người lao động chết, trong đó có hai người dân xã Púng Luông
9 Tiểu vùng phía Đông có độ cao trung bình, gồm các huyện còn lại nhưng chịu ảnh hưởng bởi gió mùa Đông
Trang 28Tại xã Púng Luông cũng xuất hiện hiện tượng khí hậu cực đoan trong những năm gần đây là rét đậm, rét hại kéo dài vào các tháng 3, tháng 4, tháng 5, lượng mưa và lượng dòng chảy thường thấp hơn trung bình nhiều năm Khó khăn của thời tiết khiến việc sản xuất của đồng bào bị ảnh hưởng nghiêm trong Thiếu cái ăn, lo cho đời sống hằng ngày khiến bà con thường không quan tâm đến việc con cái đến trường Nhiều em HS chấp nhận bỏ học để theo bố mẹ đi làm phụ giúp gia đình là một trong những nguyên nhân của tình trạng bỏ học trong nhiều năm qua Hiện tượng thời tiết cực đoan hay mưa kéo dài khiến nhiều hôm tình trạng đến lớp của các em không được duy trì thường xuyên, đến muộn hoặc không đến học được
Sông, suối
Xã Púng Luông có nhiều suối thuộc hệ thống chảy của sông Đà và sông Hồng nằm xen kẽ giữa các dãy núi Hầu như bản nào của xã cũng có suối Những khe suối được người dân ở đây đặt tên theo bản mà họ sinh sống, theo tiếng Hmông có nghĩa là “mí háng” Mí Háng Tủa Chử chính là bản có dòng suối dài nhất, gần 7km chảy quanh bản Mí Háng Tâu cũng là bản có khe suối rộng và dài
Người dân xã Púng Luông dẫn nước trực tiếp về sinh hoạt bằng hệ thống bơm đối với những bản có điều kiện sử dụng máy móc, phương tiện kỹ thuật nhưng phần lớn người dân tự ra suối xách nước bằng can, bằng ống hoặc thùng
to Từ năm 2008, dự án triển khai nước sạch về bản của UBND huyện Mù Cang Chải đã hỗ trợ các gia đình khó khăn sử dụng vòi nước dài dẫn nước trực tiếp từ suối về các gia đình Thường hai hoặc ba hộ chung nhau một vòi nước, khi cần thì vặn vòi để nước chảy hứng ra rồi mang về
Tuy nhiên, hai bản Mí Háng Tủa Chử và Nả Háng A là hai bản mà người dân vẫn phải sử dụng phương pháp thủ công xách nước hàng ngày Trẻ em cũng được huy động để làm công việc trên dù các em chỉ là những HS TH nhưng có
Trang 29ngày các em phải xách đầy cả một thùng nước mới được coi là giúp đỡ gia đình việc nhà
Tại các suối, hai bản nói trên đặt nhiều hệ thống máy phát điện loại nhỏ Điện chỉ đủ thắp sáng vào chập tối dùng cho việc sinh hoạt ăn uống chứ không
đủ duy trì lâu Do các suối ở đây có độ dốc cao, có giá trị thủy điện ở dạng vừa nên nhiều hệ thống máy phát điện của các công trình công cộng như y tế, trường học đều dùng điện qua đây chứ chưa có hệ thống điện lưới về các bản xa trung tâm
Vào mùa mưa, nước suối dâng cao, đục ngầu không còn là hệ thống nước sinh hoạt cho người dân được nữa Nước suối dâng cao nhanh, kèm theo lũ quét còn gây ra thiệt hại về người và của cho đồng bào
1.2 Một số đặc điểm kinh tế xã hội của xã Púng Luông
Nhân khẩu học
Toàn xã Púng Luông có 574 hộ gia đình, với 3.320 nhân khẩu, trong đó đồng bào Hmông chiếm khoảng 95% Còn lại là người Kinh, người Tày và người Thái chiếm tỉ lệ rất ít với lần lượt là 3%, 1,5% và 0,5%
Nguồn: Báo cáo kinh tế - xã hội xã Púng Luông năm 2011
Theo cán bộ văn hóa – xã hội xã Púng Luông, hầu hết các gia đình tại xã
là hộ gia đình hạt nhân gồm bố mẹ và con cái tập trung phần nhiều vào hộ gia đình người Kinh (100%) Tương tự, người Tày và Thái, đa phần là những hộ dân
di cư lên đây làm ăn, buôn bán, 100% là các gia đình hạt nhân Đối với đồng bào Hmông, phần nhiều gồm ba thế hệ cùng sinh sống: ông bà, cha mẹ và con cái
Trang 30Kinh tế:
Cơ sở hạ tầng xã Púng Luông
+ Hệ thống giao thông, đi lại:
Xã Púng Luông có quốc lộ 6 đi ngang qua nên giao thông các bản gần trục đường quốc lộ rất thuận tiện Riêng bản Ngã Ba Kim lại là nơi dừng đỗ của nhiều phương tiện đi lại, rẽ ngang vào xã La Pán Tẩn hoặc đi thẳng lên trung tâm huyện Mù Cang Chải nên đây được coi là ngã ba giao thông quan trọng Đối với các bản Púng Luông, Nả Háng A và Nả Háng B có đường liên xã được bê tông hóa năm 2009 và đang được hoàn thiện Vào mùa mưa, nhiều tuyến đường liên
xã hoặc chưa được bê tông hóa trở nên lầy lội do phần bề mặt là đất đỏ nên gây
ra trở ngại lớn Vào năm 2010, tất cả các tuyến đường liên xã được đưa vào kế hoạch bê tông hóa nhưng đến nay, 50% các tuyến đường này vẫn là đường đất, người dân phải tự tu sửa mỗi khi có sụt lún hay lở đất mà chưa biết khi nào có điều kiện hoàn thiện để thuận tiện cho đi lại
Tuyến đường từ bản Ngã Ba Kim vào trung tâm xã được làm mới với việc
xẻ núi, giúp cho tuyến đường ngắn lại 3km nếu đi đường vòng Trước kia, việc
đi lại vào trung tâm xã phải qua một dãy núi với nhiều đoạn đường khó đi, gập ghềnh và độ dốc cao Nay việc đi lại được rút ngắn đã tạo điều kiện cho bà con
dễ dàng đem hàng hóa ra trung tâm hoặc gần đường quốc lộ trao đổi, buôn bán
Dự kiến, đến hết năm 2016, toàn bộ các tuyến đường liên xã của xã Púng Luông
sẽ được bê tông hóa Riêng bản Mí Háng Tủa Chử, việc làm đường mới sẽ giúp học sinh đi học đỡ vất vả, khắc phục tình trạng các em phải đi học trên con đường mòn dốc thẳng đứng, trơn trượt như hiện nay
+ Điện
Xã Púng Luông sử dụng điện lưới sớm hơn các xã khác do có đường quốc
lộ và đường điện lưới đi ngang qua Tuy nhiên, chỉ có hai bản trung tâm là Ngã
Trang 31Ba Kim và Púng Luông thụ hưởng thuận lợi này trong khi tất cả các bản còn lại đều dùng điện sinh hoạt từ các máy phát điện loại nhỏ và vừa chạy từ suối Nhiều năm qua, chương trình điện lưới quốc gia đem điện về các bản đã có chuyển biến tích cực Đến năm 2010, xã Púng Luông về cơ bản đã dùng hệ thống điện lưới nhưng thói quen dùng điện từ suối vẫn được đồng bào sử dụng thường xuyên Bản Mí Háng Tủa Chử là bản duy nhất chưa có điện lưới quốc gia Vào buổi tối, đồng bào thường dùng mỡ trâu bò để lâu thắp sáng chứ ít khi dùng dầu hỏa vì không đủ điều kiện kinh tế mua dầu Đây cũng là khó khăn lớn nhất của bản xa trung tâm xã Trong thời gian nghiên cứu điền dã tại đây, chúng tôi có dịp chứng kiến ánh điện màu vàng không đủ nhìn rõ để đọc chữ Đến tầm
7 giờ tối, rất ít gia đình có ánh sáng đèn Một điều lạ là đồng bào vẫn có thể sinh hoạt được dù không có ánh sáng nhưng lại theo thói quen hằng ngày
+ Chợ
Toàn huyện Mù Cang Chải có hai chợ tạm kiên cố là chợ trung tâm huyện
và chợ Ngã Ba Kim thuộc xã Púng Luông Chợ Ngã Ba Kim là nơi không chỉ người dân trong xã đem hàng hóa đến trao đổi mua bán mà còn thu hút người dân các xã lân cận đem hàng hóa đến Chợ Ngã ba Kim có hai khu, khu ngoài dành cho các gian hàng bán nông cụ và các sản phẩm nông nghiệp phục vụ đồng bào như rau, măng, thịt thú rừng, phân bón, cày, cuốc, liềm…Ở phía trong là các gian hàng bán đồ dùng sinh hoạt, nhu yếu phẩm cho cuộc sống thường ngày của
bà con
Chợ Ngã Ba Kim họp tất cả các ngày trong tuần, từ sáng sớm cho tới tối mịt vẫn còn nhiều gian hàng mở cửa Do cạnh tuyến đường giao thông huyết mạch nên gần như liên tục có các chuyến hàng dừng lại mua bán Theo kinh nghiệm của người dân địa phương, muốn mua hàng hóa của đồng bào Hmông như rau củ quả sạch và an toàn, nên đi chợ từ rất sớm nếu không sẽ bị các lái buôn thu mua hết để đem bán cho vùng khác Ngay cả thực phẩm cá suối, thịt lợn đen nếu không đặt trước rất khó mua được Giống như nhiều vùng nông thôn
Trang 32khác, nhiều mặt hàng kém chất lượng, hàng hóa không rõ xuất xứ và nhất là hàng thực phẩm không có nguồn gốc rõ ràng vẫn được bày bán tràn lan ở chợ Ngã Ba Kim Một điểm nhấn của chợ Ngã Ba Kim là vào các ngày 1,10,20 và ngày cuối cùng của tháng, phụ nữ Hmông thường đem các sản phẩm thêu như váy, thổ cẩm thêu sẵn theo mẫu trao đổi mua bán trong buổi sáng Họ đem bán các sản phẩm mới thêu được để mua sắm các vật dụng gia đình, nhu yếu phẩm
và không quên mua thêm chỉ thêu về tiếp tục công việc Thu nhập từ việc bán thổ cẩm tạo ra động lực đối với các chị em trong các gia đình đồng bào Hmông theo đuổi việc may vá những lúc nhàn rỗi
ưu tiên hơn hẳn các bản khác về thuốc men, điều kiện chăm sóc y tế do đường xá
đi lại khó khăn và 100% các hộ gia đình đều là hộ nghèo Tại các bản của xã đều
có y tá thôn bản Mỗi khi có đợt cấp phát thuốc hay tiêm chủng, khám chữa bệnh miễn phí, y tá thôn bản phải đến từng nhà thông báo để đồng bào tập trung tại một địa điểm tiện cho việc khám chữa bệnh Dù đã có một số thay đổi trong thực hành chăm sóc sức khỏe, nhưng người dân tộc thiểu số ở đây vẫn giữ gìn nhiều phương thức chăm sóc sức khỏe truyền thống Ví dụ điển hình trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sinh sản, mặc dù đã được tuyên truyền phổ biến sâu rộng về
kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc bà mẹ và trẻ em nhưng hầu hết các gia đình người Hmông vẫn dựa theo kinh nghiệm và thói quen nhiều năm qua là sinh đẻ tại nhà, sử dụng các phương thuốc dân gian cho sản phụ Cả năm 2010, trạm y tế
xã Púng Luông đỡ đẻ cho 38 trường hợp, một con số quá ít so với 134 trường hợp sinh nở năm 2010 được thống kê
Trang 33Ở góc độ khác, các gia đình có điều kiện làm ăn buôn bán (đa phần các hộ gia đình người Kinh) lại ít khi đến trạm khám chữa bệnh Do chỉ cách trung tâm huyện 20km nên hầu hết chọn lựa lên thẳng Bệnh viện Đa khoa huyện Mù Cang Chải Điều này lý giải việc lựa chọn cơ sở y tế phụ thuộc vào khả năng và điều kiện tài chính tại địa phương của người dân
+ Cơ cấu kinh tế:
Người dân xã Púng Luông sống chủ yếu dựa vào nông – lâm nghiệp Tuy nhiên, lý giải cuộc sống nơi đây còn nhiều khó khăn bởi diện tích canh tác đất nông nghiệp quá ít, chỉ khoảng 191 ha Riêng diện tích cấy lúa hai vụ chỉ tập trung tại bản Púng Luông và Nả Háng B do nằm lọt thỏm giữa hai dãy núi, có một phần diện tích có nước quanh năm nên chỉ rơi vào khoảng 20ha Diện tích lúa nương cũng không nhiều, chỉ rơi vào khoảng 20ha trong khi diện tích ngô nương là 60ha Cây ngô cũng là một trong những lương thực chủ yếu của đồng bào người Hmông Bình quân lương thực đầu người khoảng 390kg/người/năm Mức này thấp hơn hẳn so với các xã lân cận (Như La Pán Tẩn khoảng 520kg/người, Dế Xu Phình 480kg/người…)
Diện tích đất nông nghiệp ít trong khi rừng nhiều nên người dân thường khai thác nguồn lợi lâm sản đem bán lấy tiền Ngô và lúa nương thu được qua các mùa vụ chỉ tạm đủ cho cuộc sống thường ngày Thậm chí, hàng năm, chính quyền xã vẫn phải cứu đói với vài trăm hộ gia đình Năm 2011, xã tiếp nhận 27.615 kg gạo cứu đói cho khoảng 315 hộ dân không đủ ăn và cũng là hộ nghèo với khoảng 1.641 nhân khẩu Một số loại cây trồng khác góp phần đem lại thu nhập cho người dân nhưng không đáng kể Thảo quả được đồng bào Hmông bán tại chợ vào cuối tháng nhưng giá thường không cao, chỉ khoảng 40.000 đồng/kg
so với giá bán ra của thương lái là 120.000 đồng/kg
Ngoài trồng trọt, người dân ở đây cũng nuôi gia cầm, gia súc lớn để lấy sức kéo với tập quán thả rông và chăn nuôi nhỏ lẻ được duy trì qua nhiều năm qua Nguồn sức kéo này chịu ảnh hưởng lớn của thời tiết giá rét, năm nào cũng
Trang 34có hiện tượng đàn trâu bò bị chết do rét đậm, rét hại Tổng đàn gia súc năm 2011 của xã Púng Luông khoảng hơn 800 con nhưng đến đầu năm 2012, số này chỉ còn hơn 700 bởi có tới 87 nghé, bê hoặc gia súc to bị chết rét Do địa hình đồi núi, nhiều hộ gia đình người Tày hoặc Thái cũng thử mô hình nuôi dê và đem lại được giá trị kinh tế cao Với đàn dê vào khoảng 151 con, tập trung chủ yếu tại bản Púng Luông và Ngã Ba Kim Riêng gia cầm được nuôi nhiều hơn cả, chủ yếu là gà và vịt với khoảng gần 6.000 con Đây được coi là nguồn thực phẩm tại chỗ và là dự trữ cho các dịp nhà có công việc, lễ Tết cuối năm
Đồng bào người Kinh và Tày, Thái tuy chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ nhưng là công chức, công nhân hoặc người buôn bán lại có đời sống kinh tế cao Số này tập trung sống ven đường quốc lộ và bản Ngã Ba Kim Một số hộ gia đình từ miền xuôi lên làm ăn kinh tế còn sử dụng diện tích đất rộng để xây dựng các khu nhà trọ cho HS cấp 1, cấp 2 và cả người trong bản thuê ở
Thu nhập bình quân đầu người ở Púng Luông rơi vào khoảng 7,3 triệu đồng/người/năm Con số này thấp nếu tách riêng các hộ gia đình buôn bán hoặc công chức tại bản Ngã Ba Kim Toàn xã có tới 482 hộ nghèo với nhiều thôn đặc biệt khó khăn như Mí Háng Tủa Chử, Háng Cơ Bua, Nả Háng A, Nả Háng B, Mí Háng Tâu, Nả Háng Tâu 482 hộ nghèo kể trên, 100% là các hộ gia đình đồng bào Hmông Trong quá trình nghiên cứu, khảo sát của chúng tôi tại địa phương, trong tổng số 22 hộ gia đình được hỏi trả lời phỏng vấn về vấn đề con em tới trường, 18 hộ gia đình thuộc diện hộ nghèo của xã trong khi 4 hộ dân còn lại thuộc diện đủ ăn, một gia đình thuộc hộ khá do có người làm cán bộ xã, lương hàng tháng gần bằng một gia đình khó khăn của đồng bào Hmông làm việc nửa năm
Về tài sản hiện có, theo báo cáo của chính quyền xã Púng Luông, tính đến năm 2011, mặc dù hệ thống thông tin liên lạc đã được rộng khắp với nhiều trạm phát sóng được lắp nhưng hầu hết đồng bào còn chưa biết sử dụng điện thoại và phương tiện liên lạc công cộng tại điểm văn hóa thôn Bản Mí Háng Tủa Chử
Trang 35với dân số 72 hộ gia đình với hơn 300 người nhưng chỉ có duy nhất một gia đình
có điện thoại để bàn của Viettel (homephone) Cả thôn dùng chung một chiếc điện thoại, khi nào có việc cần gọi thì tính tiền theo phút (3.000 đồng/phút) Các bản khó khăn khác của xã cũng ít có phương tiện liên lạc điện thoại cầm tay Ti
vi hay các vật dụng gia đình như tủ lạnh có thể đếm được trên đầu ngón tay, có bản chỉ có duy nhất một chiếc tivi xem chung Tỉ lệ hộ dân có xe máy là 36%, trong khi có ngựa là 60% Đồng bào dùng ngựa di chuyển từ các bản trên núi trong khi các bản gần trục đường quốc lộ chủ yếu là xe máy
Điều kiện y tế
Đến cuối năm 2012 khi chúng tôi kết thúc chuyến khảo sát, thực tế tại địa phương, bản Mí Háng Tủa Chử là bản cuối cùng chưa có hệ thống nước sạch về đến bản Bản khó khăn này do vị trí địa lý nên người dân vẫn sử dụng nước mưa hay nước suối làm nước sinh hoạt hằng ngày nên đây cũng là bản thường xuyên
có người bị ngộ độc thực phẩm hay đau bụng do sử dụng nguồn nước Theo thống kê năm 2012, trong tổng số 37 trường hợp ngộ độc thì 17 trường hợp là do uống nước lã của người dân bản này, số còn lại là uống rượu hoặc ăn măng, rau rừng nấu không đúng cách
Phong tục của người Hmông uống nhiều rượu, hầu như nhà nào cũng có rượu và thường tự nấu để có rượu sẵn ngay cần dùng đến Đàn ông có thể uống rượu cả ngày trong khi phụ nữ cũng có thể uống nhiều nhưng không say Tuy nhiên, việc chăm sóc sức khỏe và hạn chế uống rượu để dẫn đến ngộ độc thì năm nào Púng Luông cũng có trên 10 trường hợp
Trong sinh hoạt và đời sống hằng ngày, người Hmông nuôi nhốt gia cầm, gia súc ngay cạnh nơi có nguồn nước, thậm chí cả vật và người cùng dùng chung một nguồn nước đã gây ra không ít bệnh truyền nhiễm Năm 2011, tỉ lệ người dân bản Háng Cơ Bua bị bướu cổ là 26% Một tỉ lệ khá cao dù chương trình toàn dân dùng muối I ốt đã phổ biến đến hầu hết các bản làng Một điều chúng tôi dễ quan sát thấy, đó là phần lớn các hộ gia đình có chuồng trại nhốt động vật ở
Trang 36riêng vẫn chưa đủ xa nhà, và chưa sử dụng cách xử lý phân động vật đúng quy cách bằng cách ủ phân trong các hố
1.3 Cộng đồng dân cư tại xã Púng Luông
Lịch sử cư trú
Dân tộc Hmông ở Yên Bái có khoảng 55.000 người, chiếm 8,1% dân số toàn tỉnh, cư trú tập trung tại 40 xã vùng cao, đặc biệt khó khăn thuộc 5 huyện:
Mù Cang Chải, Trạm Tấu, Văn Chấn, Văn Yên, Trấn Yên, Lục Yên Tại huyện
Mù Cang Chải, đồng bào cư trú ở 13/13 xã, chiếm 95% dân số toàn huyện; tại huyện Trạm Tấu, 10/11 xã (trừ xã Hát Lừu) có đồng bào Hmông sinh sống, chiếm 70% dân số toàn huyện Tỉnh Yên Bái có 22/40 xã hoàn toàn là người
Hmông Các xã còn lại đồng bào sống xen kẽ với các dân tộc anh em khác
Dân tộc Hmông ở Yên Bái chủ yếu gồm 4 nhóm chính là: Hmông Hoa (Hmông Lềnh); Hmông Đen (Hmông Đu) và Hmông Trắng (Hmông Đơ) và Hmông Si (Hmông Đỏ) Trong đó người Hmông Hoa và Hmông Si chiếm số lượng đông hơn cả Một bộ phận người Hmông Hoa di cư từ huyện Bắc Hà tỉnh Lào Cai xuống định cư tại huyện Văn Yên mang nhiều đặc trưng văn hoá của cư dân vùng biên viễn Tiếng nói của người Hmông thuộc nhóm ngôn ngữ Mông –
Dao (dòng ngôn ngữ Nam Á)
Những nhóm Hmông đầu tiên di cư đến Việt Nam cách đây trên 300 năm, trong đó, có một số đồng bào Hmông đã chọn huyện Mù Cang Chải làm điểm
dừng chân, lập kế sinh nhai, lấy tên là “Xáo Hmông”; sau đó mở rộng địa bàn
sinh sống sang các huyện Trạm Tấu, Văn Chấn Gần đây có một phần đồng bào Hmông di chuyển từ Lào Cai, Hà Giang, Sơn La sang
Địa hình là vùng núi cao, vùng đầu nguồn, khí hậu khắc nghiệt, thiếu nước sản xuất và sinh hoạt đã quyết định hình thái sản xuất của người Hmông Nông nghiệp trồng trọt là nguồn sống chính của đồng bào Do vùng đồng bào Hmông sinh sống về mùa đông khô hạn và giá lạnh giá kéo dài, có sương muối, đồng bào Hmông ở Mù Cang Chải còn bị ảnh hưởng bởi gió tây khô nóng nên
Trang 37mùa vụ trồng trọt và năng suất cây trồng của người Hmông chịu nhiều ảnh hưởng của thiên nhiên Trước đây người Hmông ở Yên Bái chỉ trồng một vụ lúa
do điều kiện canh tác rất khó khăn nhưng những năm gần đây, đồng bào đã ứng dụng khoa học kỹ thuật, cải tạo đất và được sự đầu tư của Nhà nước xây dựng các công trình thuỷ lợi nên số ruộng 2 vụ đã dần dần tăng lên Đồng bào Hmông
có kinh nghiệm làm ruộng bậc thang với trình độ canh tác thông thạo, có những thửa ruộng bậc thang cheo leo trên sườn núi chỉ đủ 1 -2 đường bừa
Người Hmông đến xã Púng Luông từ sớm, bản Mí Háng Tủa Chử là bản đầu tiên của xã Púng Luông được hình thành với 100% dân số là người Hmông Sau này, quá trình di cư và phát triển dân số, cùng với các điều kiện kinh tế xã hội khác tạo nên nhiều bản người Hmông khác cùng sinh sống là phát triển tại
đây Riêng bản Ngã Ba Kim chỉ có khoảng 60% dân số là người Hmông
Đặc điểm gia đình phụ hệ
Hình thái chủ đạo của gia đình dân tộc H”mông là gia đình phụ hệ với loại gia đình nhỏ có hai thế hệ sống chung rất phổ biến Gia đình người Hmông là đơn vị kinh tế với sự phân công lao động rất chặt chẽ theo giới tính, lứa tuổi, đồng thời là một đơn vị văn hóa với môi trường trao truyền tích cực Xã hội Hmông được tổ chức điều hành theo dòng họ khép kín, có luật lệ, quy định, ký hiệu riêng, mang tính quy ước cộng đồng thừa nhận và phải tuân thủ nghiêm ngặt Dòng họ xã hội người Hmông còn khá quan trọng đối với sản xuất và đời sống, duy trì và lưu truyền phong tục tập quán Người Hmông có nhiều họ, mỗi
họ có nhiều dòng, mỗi dòng có nhiều chi khác nhau Các gia đình cùng một dòng
họ thường ở những cụm gần nhau Trong bản người Hmông có vài dòng họ sinh sống nhưng thường có một dòng họ lớn Dòng họ người Hmông có phạm vi cố kết rất rộng: bao gồm tất cả những người cùng họ, không phân biệt cư trú ở đâu Người Hmông ở Yên Bái có thể nhận người cùng họ ở các tỉnh khác làm anh em Người cùng họ khi đã nhận nhau được xem như anh em ruột thịt và không được
Trang 38phép kết hôn với nhau Ở mỗi dòng họ có những kiêng kỵ và nghi lễ cúng bái Ví dụ: họ Giàng kiêng ăn tim, họ Lý kiêng ăn lá lách
Với đặc điểm phụ hệ này, mọi quyết định lớn nhỏ trong gia đình người Hmông chủ yếu được đưa ra bởi người đàn ông Những quyết định chung của cả dòng tộc thường chịu sự sắp đặt của ông trưởng họ Đặc trưng văn hóa này cũng
có tác động tới việc đi học, tiếp tục theo học các bậc học cao hơn của trẻ người Hmông Quyết định liên quan tới học hành của trẻ sẽ chỉ được đưa ra từ phía người đàn ông trong gia đình, dòng họ, phụ nữ hầu như không có tiếng nói Do vậy, những giải pháp vận động, truyền thông cho trẻ đi học sẽ phải chú ý tới đặc thù này Các tộc người thiểu số khác như Tày, Thái có mặt ở Púng Luông (với số lượng không đáng kể) không duy trì chế độ phụ hệ chặt chẽ có tính khắc nghiệt như ở người Hmông, phụ nữ cũng có những tiếng nói nhất định trong việc ra
chính giữa gian nhà chính), thần cột nhà “Bùa đăngz”, thần cửa “Bùa trùngz”,
thần bếp lò, thần bếp nấu ăn, thần bảo hộ thầy thuốc (của giêng các gia đình có nghề bốc thuốc nam), thần bảo hộ cho thầy cúng…Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Hmông đặc biệt quan trọng và khác so với một số dân tộc thiểu số khác, đồng bào không có bàn thờ tổ tiên riêng mà mỗi khi có lễ cúng tổ tiên hay trong các dịp hệ trọng của gia đình người dân lập một bàn thờ cúng tổ tiên tại
chính giữa ngôi nhà trước bàn thờ thần tài “xử cang”, sau lễ cúng bàn thờ tổ tiên
được bỏ đi
Phong tục
Lễ tang của người Hmông nhiều nghi lễ, phong tục tập quán khác nhau, phản ánh các quan niệm về lịch sử, xã hội, cộng đồng Người Hmông quan niệm
Trang 39mỗi con người có 3 vía (Plỳ) và 7 hồn (chua lua) (Cầu chua lua – Pê lỳ), hồn chỉ
tồn tại khi con người còn sống, còn sau khi chết không còn hồn nữa Tuy nhiên vía theo quan niệm của người dân vẫn tồn tại: một vía đi lên công quản (lên trời), một vía đi đầu thai thành người mới ở một nơi xa còn một vía sẽ ở quanh quẩn
bên người chết và thỉnh thoảng về với gia đình khi có việc hệ trọng
Người Hmông có kho tàng nghệ thuật dân gian rất phong phú, vào mùa xuân, các dịp tết Hmông (khoảng từ 30/11 âm lịch) hay trong các lễ cưới truyền thống người Hmông đều hát dân ca và múa khèn Trong các làn điệu dân ca, đặc biệt nhất là loại hát kể chuyện lịch sử dân tộc gọi là hát “Thản chù” Người Hmông có hát “Gầu Phềnh” - trai gái hát trong khi chơi Pa Pao, hát qua sợi chỉ nối với hai ống nứa bịt da ếch cho riêng hai người Trong đám cưới còn có hát đố, hát giải Cùng với hát, người Hmông còn có múa khèn rất đặc sắc Trong hội “Gầu Tào”, múa khèn là nghi lễ mở hội Ngoài khèn bè, người Hmông còn sử dụng đàn môi, khèn lá, kéo nhị, thổi sáo…
1.4 Lịch sử giáo dục huyện Mù Cang Chải
Lịch sử hình thành và phát triển ngành giáo dục huyện vùng cao Mù Cang Chải có thể chia làm nhiều giai đoạn
Từ năm 1959 đến 1975:
Giai đoạn hình thành với lớp học xóa mù chữ đầu tiên
Năm 1959, Ban lãnh đạo thanh toán nạn mù chữ Trung ương quyết định tiến hành điều động GV lên miền núi dạy học Một lớp học đặc biệt cho GV tình nguyện được Bộ Giáo dục triệu tập tại trường bổ túc công nông trung ương đã được mở cấp tốc Trong vòng 1 tháng tập huấn, 14 cán bộ, GV hoàn thành khóa học đã được điều về huyện vùng cao Mù Cang Chải Đến tháng 9/1959, phòng Giáo dục Mù Cang Chải được thành lập thì hai tháng sau, toàn huyện mở được
13 lớp vỡ lòng với 300 HS, 14 lớp bổ túc văn hóa với 350 học viên đủ mọi thành phần, lứa tuổi nhưng đa số là đồng bào dân tộc Hmông Trong số này, trường TH Púng Luông bắt đầu được thành lập với 3 lớp học đầu tiên gồm 1 lớp 1 và hai
Trang 40lớp vỡ lòng Toàn huyện được chia làm 4 khu do một đồng chí GV vừa phụ trách quản lý, vừa đứng lớp Sau một năm nỗ lực, những thành quả đầu tiên đã hình thành Thêm 21 lớp vỡ lòng với 423 HS đến trường trong khi lớp 1 đã có 14 lớp với 365 HS Cuối năm 1960, có thêm 15 GV miền xuôi tình nguyện lên Mù Cang Chải nhận nhiệm vụ công tác
Tháng 10/1964, trường thiếu nhi vùng cao (nay là phổ thông dân tộc nội trú) được thành lập Đến cuối năm 1966, toàn huyện có 76 lớp phổ thông huy động 725 cháu đến lớp Lúc này, số lớp vỡ lòng đã tăng lên 60 lớp với 487 HS Trong khi đó, các lớp bổ túc văn hóa đã thanh toán nạn mù chữ cho 1.287 người
Số lượng HS, GV đã tăng gấp 4 lần so với năm 1959 Đặc biệt ở 4 xã La Pán Tẩn, Púng Luông, Mồ Dề, Chế Cu Nha đã hoàn thành nhiệm vụ xóa mù chữ cho nhân dân trong độ tuổi và là điểm sáng của phong trào giáo dục huyện Mù Cang Chải lúc bấy giờ Năm 1970, trường TH La Pán Tẩn, đơn vị đầu tiên của ngành giáo dục huyện Mù Cang Chải nhận danh hiệu cao quý Huân chương lao động hạng 3
Từ năm 1976 đến năm 1985
Thời kỳ mở rộng mạng lưới trường lớp, nâng cao chất lượng giáo dục
Từ năm 1975 đến năm 1978, giáo dục Mù Cang Chải tăng về số lượng, cải thiện về chất lượng rõ rệt Cuối năm 1978, toàn huyện có 15 trường TH, 126 lớp phổ thông với tổng số 1835 HS Tuy nhiên, đến đầu những năm 1980, cơ cấu kinh tế thay đổi kéo theo đời sống GV và nhiều tầng lớp nhân dân lao động khác gặp không ít khó khăn, giáo dục và đào tạo đứng trước những khó khăn nhất định Giáo dục miền núi đã thiếu ổn định, lại càng rơi vào tình trạng trì trệ vì thiếu GV và HS không muốn đến trường Đầu năm 1981, theo thống kê của Phòng giáo dục và Đào tạo huyện Mù Cang Chải, hàng năm có khoảng 35 – 40%
GV xin làm đơn chuyển vùng công tác Bên cạnh đó xuất hiện tình trạng GV bỏ việc hàng loạt Thời kỳ này, giảm hẳn số lượng GV xin tình nguyện lên vùng cao dạy học Trong khi cơ sở vật chất tạm bợ, xuống cấp, những thiếu thốn khó khăn