1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Gia đình người Sán Dìu ở xã Ninh Lai huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang truyền thống và biến đổi tt.PDF

26 594 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 837,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Gia đình là nơi bảo lưu một phần đáng kể các yếu tố văn hóa truyền thống, là nơi biểu hiện các chân giá trị về chuẩn mực đạo đức, thẩm mỹ, tâm lý, mối quan hệ giữa con người với con ngườ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 3

4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT,

PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

1.1.1 Nghiên cứu của các tác giả ngoài nước về gia đình 7

1.1.2 Nghiên cứu của các tác giả trong nước về gia đình 9

Trang 4

5

2.5 Mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình 56

3.2.1 Quan niệm về hôn nhân và cưới xin của người Sán Dìu 67

3.3.1 Quan niệm của người Sán Dìu về thế giới tâm linh 83

Chương 4: NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA GIA ĐÌNH NGƯỜI SÁN DÌU

4.1 Những biến đổi về cấu trúc, quy mô, chức năng, mối quan hệ, phong

tục và nghi lễ gia đình

101

4.1.1 Biến đổi về cấu trúc và quy mô của gia đình 101

4.1.3 Biến đổi về mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình 113

4.2.1 Tác động của điều kiện kinh tế, văn hóa và xã hội 124 4.2.2 Tác động từ các chính sách của Đảng và của Nhà nước 129

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, dân tộc Sán Dìu có 126.565 người

- đứng thứ 17 trong bảng thống kê dân số ở Việt Nam [10, tr.46] Người Sán

Dìu cư trú tập trung ở vùng trung du các tỉnh Phú Thọ, Bắc Giang, Quảng Ninh,

Bắc Cạn, Thái Nguyên và Tuyên Quang Trong nhiều thập kỉ qua, đã có không

ít các công trình nghiên cứu về dân tộc này Tuy nhiên, chưa có một chuyên khảo dân tộc học nào về truyền thống và biến đổi của gia đình dân tộc Sán Dìu ở một địa phương cụ thể

Người Sán Dìu với phong tục tập quán phong phú chứa đựng các giá trị nhân văn sâu sắc được hình thành và phát triển trong tiến trình lịch sử đã trở thành những đặc trưng văn hóa cần được lưu giữ Gia đình là nơi bảo lưu một phần đáng kể các yếu tố văn hóa truyền thống, là nơi biểu hiện các chân giá trị về chuẩn mực đạo đức, thẩm mỹ, tâm lý, mối quan hệ giữa con người với con người và con người với xã hội Do đó cần có nghiên cứu về gia đình, tìm hiểu và luận giải một phần cụ thể về bản sắc của tộc người Sán Dìu

Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Các yếu tố văn hóa nảy sinh trong điều kiện xã hội mới đã tác động nhiều chiều đến đời sống của người Sán Dìu Vì vậy, nghiên cứu về gia đình được đặt ra như một nhiệm vụ cấp thiết, có ý nghĩa cả về khoa học và thực tiễn bởi gia đình là một trong những thiết chế xã hội quan trọng, liên quan đến hoạt động của mỗi cá nhân cũng như cộng đồng Theo quan điểm hệ thống, mỗi thiết chế xã hội biến đổi sẽ dẫn đến cả hệ thống những thiết chế xã hội như kinh tế, pháp luật, văn hoá… biến đổi theo Chính vì vậy, gia đình và đặc biệt là gia đình các dân tộc thiểu số, phải đối mặt với rất nhiều thách thức trong giai đoạn toàn cầu hoá hiện nay

Xuất phát từ tình hình thực tế trên, tôi lựa chọn đề tài: "Gia đình của người

Sán Dìu ở xã Ninh Lai, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang - truyền thống

và biến đổi" làm đề tài luận văn thạc sĩ Qua nghiên cứu này, sẽ góp thêm tư liệu

về gia đình người Sán Dìu ở Việt Nam nói chung và người Sán Dìu ở Tuyên Quang nói riêng Trên cơ sở nghiên cứu, luận văn chỉ ra những yếu tố tích cực và những mặt hạn chế của gia đình truyền thống, góp phần bảo lưu những tinh hoa văn hoá của gia đình người Sán Dìu ở Việt Nam

Trang 6

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Luận văn trình bày về quy mô, cấu trúc, loại hình gia đình, nghi lễ truyền thống và biến đổi trong gia đình người Sán Dìu ở xã Ninh Lai huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang

- Chỉ rõ những đặc điểm, khuynh hướng phát triển hiện nay của gia đình tộc người Sán Dìu và lý giải nguyên nhân tác động đến những biến đổi đó

3 Đối tượng, phạm vi và địa bàn nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là gia đình của người Sán Dìu, bao gồm những vấn đề cơ bản như: Loại hình, cấu trúc, các mối quan hệ và chức năng của gia đình, các nghi lễ gia đình truyền thống và những biến đổi

- Địa bàn nghiên cứu của luận văn là xã Ninh Lai, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang Đây là nơi có nhiều người Sán Dìu sinh sống nhất và còn bảo lưu nhiều đặc điểm văn hóa tộc người

4 Nguồn tư liệu của luận văn

- Nguồn tư liệu chính của Luận văn được tác giả thu thập trong các đợt điền

dã dân tộc học từ tháng 3-2009 đến tháng 9-2011 Thông qua phân tích, xử lý các

số liệu định lượng và định tính qua các cuộc phỏng vấn sâu, quan sát, điều tra bảng hỏi, với người dân tại địa bàn nghiên cứu, đặc biệt là những người có uy tín và hiểu biết trong cộng đồng tộc người

- Kế thừa những kết quả nghiên cứu đã được công bố về người Sán Dìu có liên quan đến nội dung luận văn

- Nguồn tài liệu thống kê của Bảo tàng tỉnh Tuyên Quang, Ủy ban Nhân dân huyện Sơn Dương, Ủy ban Nhân dân xã Ninh Lai,

5 Đóng góp của luận văn

- Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu về gia đình truyền thống và những biến đổi của gia đình người Sán Dìu ở một địa phương cụ thể

- Trên cơ sở nguồn tư liệu mới về gia đình người Sán Dìu, luận văn chỉ ra những đặc trưng văn hóa, sự tương đồng và khác biệt với người Sán Dìu ở địa phương khác

- Trên cơ sở chỉ rõ những biến đổi của gia đình Sán Dìu truyền thống, luận văn còn phân tích những nguyên nhân dẫn đến những biến đổi

- Luận văn đóng góp thêm cơ sở khoa học giúp các nhà quản lý, hoạch định

chính sách, bảo tồn văn hóa dân tộc Sán Dìu

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm

có 4 chương:

Trang 7

Chương 1 Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lí thuyết, phương pháp và địa bàn nghiên cứu

Chương 2 Phân loại, cấu trúc, quy mô và chức năng của gia đình

Chương 3 Các phong tục và nghi lễ trong chu kì đời người

Chương 4 Những biến đổi của gia đình người Sán Dìu

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT, PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan nghiên cứu

1.1.1 Nghiên cứu của các tác giả ngoài nước về gia đình

Nghiên cứu về gia đình trên thế giới đã có một quá trình lâu dài với sự quan tâm của nhiều học giả nổi tiếng, song nghiên cứu về gia đình dưới góc độ nhân học thực sự phát triển từ thế kỉ XIX

Một nghiên cứu mang ý nghĩa quan trọng trong sự hình thành hệ thống lý thuyết

về gia đình là tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và nhà nước (1884)

của F Engels Đây là tác phẩm có tính hệ thống và vạch ra những mối quan hệ bên trong gia đình đối với cấu trúc bên ngoài và toàn xã hội

Vào những thập niên 20 và 30 của thế kỷ XX, đại diện cho xu hướng nghiên cứu mối quan hệ giữa các cá nhân và văn hóa là Margaret Mead (1901-1978), với

nghiên cứu Tuổi dậy thì ở Samoa (Coming of Age), khẳng định vai trò từ phía gia

đình và mô hình văn hóa của gia đình tác động đến tâm lý trẻ vị thành niên ở Mỹ nhiều hơn là các yếu tố sinh học, quan điểm này còn có giá trị phổ biến đến ngày nay Đóng góp quan trọng về phương pháp luận nghiên cứu gia đình trên thế giới

nói chung và ở Liên Xô cũ nói riêng là M.O.Koxven với cuốn Sơ yếu lịch sử văn hóa nguyên thủy xuất bản năm 1953 Nghiên cứu đã đánh dấu cho xu hướng nghiên

cứu so sánh về gia đình giữa các nước, các lục địa, các tộc người và các nền văn hóa khác nhau thể hiện được tiến trình phát triển và lí giải nguồn gốc phát sinh một số vấn đề trong nghiên cứu gia đình

Tiếp đó có thể kể đến O.A.Sukhaneva, với các nghiên cứu: Phong tục tập quán trong hôn nhân và đám cưới tại làng Tadzhiks ở Shakhristan, Gia đình Hồi giáo Uzbekistane (1960), Gia đình và gia đình các dân tộc Trung Á, Nghi lễ kết hôn truyền thống của các dân tộc Trung Á (1978)…

Nghiên cứu về gia đình hiện nay có thể kể đến tác giả Clark W.Soransen bài viết

in trong cuốn Asia’s Cultural Mosaic - An Anthropological Introduction (Bức khảm văn hoá Châu Á - Tiếp cận nhân học) (1993), đề cập đến gia đình các cư dân châu Á

Trang 8

trong đó có Việt Nam, đặc biệt tác giả đã chú ý phân tích mô hình làng xã và cơ cấu của gia đình truyền thống

Bên cạnh đó là Emily A Schultz và Robert H.Lavanda trong Nhân học - một quan điểm về tình trạng nhân sinh (2001), đưa ra những vấn đề cơ bản của nghiên

cứu nhân học, trong đó có những vấn đề về nghiên cứu gia đình và cách phân loại gia đình

1.1.2 Nghiên cứu của các tác giả trong nước về gia đình

- Các nghiên cứu chung về gia đình

Nghiên cứu về gia đình dưới góc độ dân tộc học/nhân học được các nhà nghiên cứu trong nước quan tâm đến từ sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, nhất là cuối những năm 60 của thế kỉ XX, có nhiều công trình được công bố như:

Nghiên cứu chuyên sâu về gia đình dưới góc độ nhân học, tác giả Phạm

Quang Hoan và Nguyễn Ngọc Thanh với nghiên cứu Gia đình và hôn nhân, trong: Các dân tộc Tày, Nùng ở Việt Nam (1992) đã thể hiện những quan điểm khoa học

từ thực địa đến khai quát hóa lý thuyết thành những cơ sở có giá trị trong nghiên cứu cơ bản về vấn đề gia đình

Tác giả Đỗ Thúy Bình tập trung giới thiệu về lối sống, phong tục, tập quán

trong gia đình, thể hiện trong sách: Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng và Thái ở Việt Nam (1994)

Trong nghiên cứu Dân tộc học/nhân học, về phương diện lí thuyết gia đình và

hôn nhân phải kể đến Phan Hữu Dật với cuốn Một số vấn đề về dân tộc học Việt Nam

(1998), đây là công trình gồm các bài nghiên cứu khoa học, đề cập nhiều lĩnh vực của

dân tộc học Việt Nam như: đường lối, chính sách, các nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc của Ðảng và Nhà nước ta, quá trình tộc người và quan hệ dân tộc ở nước

ta, văn hóa các dân tộc nước ta, một số vấn đề về hôn nhân gia đình và xã hội nguyên thủy ở nước ta

Tác giả Nguyễn Ngọc Thanh với nghiên cứu Gia đình và hôn nhân của dân tộc Mường ở tỉnh Phú Thọ (2005) là nghiên cứu dân tộc học có giá trị sâu sắc, không

chỉ phác họa chi tiết những đặc điểm gia đình và hôn nhân của người Mường ở Phú Thọ mà còn chỉ ra mô hình kết cấu, chức năng gia đình và những nguyên nhân ảnh hưởng tới việc duy trì các yếu tố ảnh hưởng đến bản sắc tộc người

Bên cạnh các công trình nghiên cứu chuyên sâu có thể kể đến một số lý thuyết được tác giả Phạm Quang Hoan đề cập trong nghiên cứu nhân học về gia

đình như: Vài suy nghĩ về phương pháp phân loại gia đình, Tạp chí Dân tộc học số 2/1985; Gia đình, bản chất, cấu trúc, loại hình Tạp chí Dân tộc học số 1-2/1988; Vài suy nghĩ về hôn nhân và gia đình của các dân tộc ở nước ta hiện nay, Tạp chí Dân tộc học, số 2/1993

Trang 9

Liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu về gia đình dưới góc độ dân tộc học/nhân học

có thể kể đến Luận án tiến sĩ của Phạm Thị Kim Oanh với đề tài Hôn nhân và gia đình của người Thái ở huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La (2009)

- Các nghiên cứu về gia đình người Sán Dìu

Từ đầu thập niên 70 của thế kỷ XX, tác giả Ma Khánh Bằng với cuốn Người Sán Dìu ở Việt Nam (1983) đã miêu tả khá chi tiết những đặc trưng văn hóa của

dân tộc Sán Dìu trong đó khái quát về mối quan hệ gia đình và các nghi lễ gia đình trong một số trang viết

Năm 1978, Viện Dân tộc học xuất bản cuốn Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc) Đây là công trình của tập thể các nhà dân tộc học Đặng Nghiêm

Vạn, Bế Viết Đẳng, Cầm Trọng đề cập đến 36 tộc người cư trú ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam

Những năm gần đây có nhiều công trình nghiên cứu về văn hoá Sán Dìu ở

các địa phương đã được xuất bản, như: Dân tộc Sán Dìu ở Bắc Giang (2003) của Ngô Văn Trụ và Nguyễn Xuân Cần; Văn hoá truyền thống các dân tộc Tày, Dao, Sán Dìu ở Tuyên Quang (2003) Hai công trình đã đề cập đến nghi lễ trong

cưới hỏi, tang ma và một số lời răn dạy về đạo hiếu của con cái trong các lời ca soọng cô

Tác giả Diệp Trung Bình với công trình Phong tục và nghi lễ chu đời người của người Sán Dìu ở Việt Nam (2005) Công trình này phân tích khá kỹ lưỡng về

nghi lễ đời người truyền thống của dân tộc Sán Dìu

Mới đây nhất, cuốn Văn hóa truyền thống dân tộc Sán Dìu ở Tuyên Quang do

Nguyễn Ngọc Thanh chủ biên (tháng 6 - 2011) Đây là công trình chuyên khảo miêu tả cụ thể các khía cạnh văn hóa người Sán Dìu ở Tuyên Quang với những cơ sở tài liệu, dẫn chứng, ví dụ minh họa sinh động, có nhiều giá trị khoa học

Trên bình diện chung hiện nay, chưa có một nghiên cứu chuyên sâu nào đề cập riêng về gia đình của người Sán Dìu Vì vậy, yêu cầu bổ sung tư liệu về vấn đề gia đình của người Sán Dìu, góp phần làm phong phú thêm bức tranh văn hóa tộc người Sán Dìu ở Việt Nam là một việc làm cấp thiết và có ý nghĩa khoa học

1.2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

1.2.1 Cơ sở lý thuyết

Luận văn nghiên cứu về gia đình người Sán Dìu với việc đi sâu vào các văn hóa đặc trưng của gia đình, cấu trúc, chức năng và xu hướng biến đổi của gia đình, vì vậy hướng tiếp cận chủ yếu là về nhân học văn hóa với lý thuyết biến

đổi văn hóa, và chức năng cơ cấu

Biến đổi văn hóa (Changement culturel) là một quá trình diễn ra trong tất cả

các xã hội và là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng của nhân học Khi nghiên cứu

Trang 10

về biến đổi văn hóa trong đó có tiếp biến văn hóa (Acculturation) dùng để diễn giải

quá trình thay đổi văn hóa diễn ra do sự tiếp xúc của hai hệ thống văn hóa độc lập nhau; sự tiếp xúc đó làm tăng đặc tính của nền văn hóa này trong nền văn hóa kia Một phương pháp tiếp cận biến đổi văn hóa có ảnh hưởng lớn từ những năm

1920 đến 1950 ở Anh đó là Thuyết chức năng đại diện là Radcliffe Brown

(1881-1955) và Malinowski (1884-1942) Thuyết chức năng tiếp cận sự biến đổi một cách bảo thủ vì cho rằng các xã hội và các nền văn hóa hòa nhập tương đối tốt và

ổn định Với quan điểm này, nếu một nền văn hóa thay đổi thì sau đó nó sẽ phải chịu những tác động bên ngoài

Talcott Parsons (1902 - 1979), là người đưa ra những nhận định về lý thuyết biến đổi xã hội, đồng thời lại là người có tầm ảnh hưởng lớn nhất với thuyết chức năng cơ cấu, là bước phát triển đáng kể sau những lý thuyết giá trị của A.Racliff Brown về cấu trúc - chức năng Một trong những tiếp cận mang tính ứng dụng và hiện

đại hơn trong nghiên cứu về gia đình đó là tác phẩm Nhân học - một quan điểm về tình trạng nhân sinh của Emily A Schultz và Robert H.Lavenda Qua đây, có thể định

hướng được các vấn đề nghiên cứu cần tập trung khi triển khai đề tài, đặc biệt nhấn mạnh đến các yếu tố mang tính thời đại trong sự đan xen các vấn đề truyền thống, những mối quan hệ của gia đình đối với cấu trúc bên ngoài và với toàn xã hội, nhấn mạnh nhiều hơn đến hoàn cảnh gia đình trong mối tương quan với cơ cấu giai cấp và

sự khác biệt của các gia đình đó qua các thông số, phân công lao động, vùng dân cư, đặc điểm địa phương, nông thôn, đô thị hóa, thực hiện nếp sống mới…

1.2.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp chủ đạo sử dụng trong luận văn là điền dã dân tộc học với các

kỹ năng: quan sát, quan sát tham sự, phỏng vấn sâu, điều tra theo bảng hỏi và sử lý bằng SPSS

- Nghiên cứu liên ngành dân tộc học với xã hội học, tâm lý học, sử học

- Phân tích các tài liệu thống kê, tài liệu thứ cấp liên quan đến đề tài

1.2.3 Một số khái niệm cơ bản

1.2.3.1 Khái niệm gia đình

Gia đình là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội chuyên

biệt, vì thế việc sử dụng các khái niệm, các lí thuyết khác nhau là điều thường xảy

ra Đối với ngành dân tộc học, gia đình là nơi biểu hiện những sắc thái văn hóa độc đáo của tộc người, vì vậy việc xác định khái niệm gia đình có vai trò vô cùng quan trọng

Ở đây, luận văn sử dụng khái niệm từ gia đình (family) với ý nghĩa như được

đề cập đến trong điều 8 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000: Gia đình là tập

Trang 11

hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan

hệ nuôi dưỡng làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền của họ với nhau [24, tr 61]

Trong tiếng Sán Dìu, gia đình là Ết ca Theo quan niệm của tộc người gia

đình chính là tập hợp những người có cùng quan hệ huyết thống sống chung dưới một

mái nhà Người Sán Dìu còn có từ ốc để chỉ cả nhà và gia đình, nhà là nơi tập hợp và

cư trú của các thành viên, đứng đầu là người cha, người chồng (chủ gia đình)

1.2.3.2 Một số khái niệm khác

Phong tục là thói quen đã có từ lâu đời, đã ăn sâu vào đời sống xã hội, được mọi người công nhận và tuân theo [36, tr.1216]

Tập quán là thói quen hình thành từ lâu và đã trở thành nếp trong đời sống xã hội của

một cộng đồng dân cư, được mọi người công nhận và tuân theo [36, tr.1393]

Kiêng kỵ là sự cấm đoán được chấp nhận mang tính lễ nghi để ngăn chặn việc

tiếp xúc với một đồ vật, một người hay một hoạt động

Phong tục, tập quán và kiêng kỵ là những hoạt động sống của con người

hình thành trong quá trình lịch sử, được cộng đồng thừa nhận, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và ai cũng tuân theo ở một địa phương, một cộng đồng dân cư nhất định

Nghi lễ: Nghi lễ là những hành động nghi thức diễn ra trong bối cảnh thờ cúng

tôn giáo, nó mang tính chất biểu tượng chuyển tải các thông điệp về địa vị văn hóa

và xã hội của các cá nhân Từ điển tiếng Việt cho rằng: “nghi lễ là nghi thức và trình

tự tiến hành của một cuộc lễ” [34,tr 866]

Văn hóa tộc người: được hiểu là tổng thể những yếu tố văn hóa vật thể và

phi vật thể giúp cho việc phân biệt tộc người này với tộc người khác, các nhóm khác Văn hóa tộc người là nền tảng nảy sinh và phát triển của ý thức tự giác tộc người [35, tr 356]

1.3 Khái quát địa bàn nghiên cứu

1.3.1 Tên gọi và nguồn gốc tộc người

Dân tộc Sán Dìu Cư trú tập trung ở vùng trung du các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phũc, Bắc

Giang, Quảng Ninh, Hưng Yên, Bắc Cạn, Thái Nguyên và Tuyên Quang

Người Sán Dìu trước đây vẫn tự gọi dân tộc mình là San Dáo Nhín, có nghĩa

là Sơn Dao Nhân (tức người Dao ở trên núi) Các dân tộc lân cận dựa trên đặc điểm cư trú, phương thức canh tác hoặc y phục truyền thống của người Sán Dìu mà

gọi họ bằng các tên khác như: Trại đất (người Trại ở nhà đất) để phân biệt với Trại cao (người Cao Lan ở nhà sàn), Trại ruộng (người Trại làm ruộng), Trại cộc, Mán cộc, Mán quần cộc (trang phục quần cộc), Mán váy xẻ (phụ nữ mặc váy xẻ), Slán Dao…

Trang 12

1.3.2 Điều kiện tự nhiên, môi trường

Xã Ninh Lai nằm ở phía nam huyện Sơn Dương, cách trung tâm thị xã Tuyên Quang 30km về phía đông nam Xã có đặc thù của vùng chuyển tiếp giữa trung du

và miền núi, trong đó yếu tố của địa hình trung du mang những đặc điểm nổi trội Địa hình đồi núi bát úp, có độ dốc thấp, thoai thoải dần Ninh Lai là xã nằm ở vùng thấp và bằng phẳng nhất trong toàn huyện, thuận lợi cho canh tác ruộng nước và nhiều loại cây công nghiệp ngắn ngày

1.3.3 Dân số

Người Sán Dìu sống chủ yếu ở các xã: Thiện Kế, Ninh Lai, Sơn Nam, trong

đó đông nhất là Ninh Lai, địa bàn xã có 1.506 hộ tương đương với 7.262 nhân khẩu thì có đến 1.118 hộ với 5.422 khẩu là người Sán Dìu, chiếm 73,4 % dân số toàn xã

1.3.4 Khái quát về kinh tế, văn hóa, xã hội tộc người

2.1 Những tiêu chí phân loại gia đình

Tiêu chí để phân loại gia đình là dựa vào tính chất của những mối quan hệ thân tộc (bàng hệ hay trực hệ), số thế hệ cùng chung sống, số lượng các cặp hôn nhân và xác định các thành viên trong một gia đình có chung sở hữu, cùng thực hiện các chức năng của gia đình

2.2 Cấu trúc của gia đình

- Gia đình hạt nhân: Là đơn vị gia đình nhỏ nhất, bao gồm một cặp vợ

chồng và con cái chưa kết hôn của họ Trong gia đình bao gồm ít nhất các trục quan hệ cơ bản sau: Quan hệ vợ - chồng, quan hệ cha mẹ - con cái, gia đình có

từ hai con trở lên thì thêm trục quan hệ giữa con cái với nhau, tức là quan hệ anh chị em Gia đình hạt nhân là dạng gia đình đặc biệt quan trọng trong mô

Trang 13

hình xã hội Nó là kiểu gia đình của tương lai và ngày càng phổ biến trong xã hội người Sán Dìu

+ Gia đình hạt nhân đầy đủ: là loại gia có đầy đủ các mối quan hệ: chồng,

vợ, các con; chỉ gồm hai thế hệ cha, mẹ và con cái chưa kết hôn, có cùng đơn vị kinh tế, sản xuất tiêu dùng chung

+ Gia đình hạt nhân không đầy đủ: là loại gia đình trong đó không đầy đủ

các mối quan hệ: chồng, vợ và các con, nghĩa là trong đó chỉ tồn tại quan hệ của chỉ người vợ với người chồng (tức là bố hoặc mẹ với các con chưa kết hôn

- Gia đình hạt nhân mở rộng: Bên cạnh mối quan hệ vợ chồng với các con,

trong gia đình hạt nhân mở rộng còn có thêm mối quan hệ với thành viên khác trong cùng huyết thống (như ông bà, anh chị em họ, cô, dì, chú, bác) cùng chung sống trong một đơn vị kinh tế Các thành viên trong gia đình cũng được xếp đặt trong chế độ gia trưởng với quyền lãnh đạo gia đình là người đàn ông cao tuổi nhất

- Gia đình lớn phụ hệ: thường được coi là gia đình truyền thống liên quan tới

dạng gia đình trong quá khứ Đó là một nhóm người ruột thịt của một vài thế hệ sống chung với nhau dưới một mái nhà, thường từ ba thệ hệ trở lên, tất nhiên trong phạm vi của nó còn có cả những người ruột thịt từ tuyến phụ

2.3 Quy mô gia đình

Một hộ gia đình được xác định là những người cùng sống trong một ngôi nhà hoặc một đơn vị nơi ở, chia sẻ việc chi tiêu và thường ăn chung Các hộ gia đình người Sán Dìu ở Ninh Lai hầu hết là các hộ chủ yếu gồm các thành viên của gia đình (được xác định là những người liên quan bởi họ hàng, quan hệ hôn nhân hoặc quan hệ sinh thành) Một số trường hợp khác có thể kể đến như con nuôi hoặc người làm thuê cho gia đình, nhưng số này rất ít

Quy mô gia đình được thể hiện trước tiên qua số lượng các thành viên trong gia đình Trong xã hội truyền thống người Sán Dìu có quan niệm nhiều con, nhiều của, mỗi con mỗi lộc là phổ biến, con cái là nguồn lao động của gia đình, là nơi nương tựa của cha mẹ lúc tuổi già Với đặc điểm kinh tế nông nghiệp lao động giản đơn dựa vào sức người là chính nên nhu cầu thu hút nhân lực vào hoạt động sản xuất của gia đình đã góp phần làm hạ thấp tuổi kết hôn, tỷ lệ sinh đẻ trong các gia đình luôn cao Mọi gia đình và dòng họ đều muốn có nhiều con cháu, đồng thời do tư tưởng trọng nam khinh nữ, muốn có con trai để nối dõi tông đường, phụng dưỡng cha mẹ và gánh vác các công việc lễ nghi quan trọng của gia đình, nên dân số ngày một tăng cao

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w