ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRẦN THỊ MỸ CÁC YẾU TỐ TÌNH THÁI NHẬN THỨC TRONG CÂU TIẾNG PHÁP - NHỮNG BIỂU ĐẠT TƯƠNG ỨNG TRONG CÂU TIẾNG VIỆT CHUY
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ MỸ
CÁC YẾU TỐ TÌNH THÁI NHẬN THỨC TRONG CÂU TIẾNG PHÁP
- NHỮNG BIỂU ĐẠT TƯƠNG ỨNG
TRONG CÂU TIẾNG VIỆT
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
HÀ NỘI - 2004
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ MỸ
CÁC YẾU TỐ TÌNH THÁI NHẬN THỨC TRONG CÂU TIẾNG PHÁP
- NHỮNG BIỂU ĐẠT TƯƠNG ỨNG
TRONG CÂU TIẾNG VIỆT
CHUYÊN NGÀNH: LÍ LUẬN NGÔN NGỮ
MÃ SỐ : 5.04.08 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Ng-êi h-íng dÉn khoa häc : GS.TS DIÖP QUANG BAN PGS.TS NGUYÔN THÞ VIÖT THANH
HÀ NỘI - 2004
Trang 3GIẢI THÍCH CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4MỤC LỤC
TRANG
MỞ ĐẦU
1 Mục đích vă yíu cầu của luận ân ……… 1
2 Đối tượng vă phạm vi nghiín cứu của luận ân ……….… 2
3 Phương phâp nghiín cứu ……… 3
4 Bố cục của luận ân ……… 3
5 Câi mới về khoa học của luận ân ……….……… 4
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÍN QUAN ĐẾN ĐỀ TĂI 1.1 Một số câch hiểu về tình thâi trong ngôn ngữ ……… 5
1.1.1 Khâi niệm tình thâi ……… 5
1.1.2 Tình thâi trong lô gích học vă trong ngôn ngữ học ……… 10
1.1.3 Tính lịch sự của một số yếu tố tình thâi nhận thức xĩt trín quan hệ liín nhđn 17
1.2 Tình thâi hoâ cđu ……… 18
1.2.1 Vấn đề tình thâi trong quan hệ kết học, nghĩa học vă dụng học … 21 1.2.2 Câc phương tiện tình thâi trong cđu ……… 26
1.3 Vấn đề phđn loại tình thâi 30
1.3.1 Tình thâi ngôn ngữ - Tình thâi sử dụng ……… 30
1.3.2 Tình thâi của hănh động phât ngôn – Tình thâi của phât ngôn 30 1.3.3 Tình thâi khâch quan – Tình thâi chủ quan ……… 31
1.3.4 Tình thâi nhận thức - tình thâi trâch nhiệm ……… 34
1.4 Tình thâi nhận thức ……… 37
1.4.1 Từ nguyín của thuật ngữ tình thâi nhận thức 37
1.4.2 Khâi niệm tình thâi nhận thức ……… 39
1.4.3 Câc yếu tố ngôn ngữ biểu thị tình thâi nhận thức ……… 41
1.5 Tiểu kết ……… 46
Chương 2 PHƯƠNG TIỆN BIỂU ĐẠT TÌNH THÂI NHẬN THỨC TRONG CĐU TIẾNG PHÂP - NHỮNG BIỂU ĐẠT TƯƠNG ỨNG TRONG CĐU TIẾNG VIỆT 2.1 Phạm trù thời của động từ tiếng Phâp - những biểu đạt tương ứng trong tiếng Việt ……… ……… 50
2.2 Thức trong động từ tiếng Phâp …… ……….……… 52
2.3 Tình thâi trong thời vă thức của động từ tiếng Phâp 54
Trang 52.3.1 Tính tình thái của thức chỉ định ……… 54
2.3.2 Tính tình thái của thức subjonctif 57
2.3.3 Tính tình thái trong thức điều kiện (conditionnel) ……… 59
2.4 Tình thái hoá câu bằng động từ tình thái nhận thức ……… 60
2.4.1 Động từ tình thái chuyên dụng ……… 60
2.4.2 Động từ chỉ tố tình thái nội tại ……… 64
2.5 Tình thái hoá câu bằng biểu thức tình thái nhận thức ……… 70
2.5.1 Miêu tả biểu thức tình thái nhận thức ……… 70
2.5.2 Các biểu thức tình thái nhận thức trong câu ……… 71
2.5.3 Điều kiện kết hợp của các biểu thức TTNT trong câu … … 82
2.6 Các biểu thức TTNT tương ứng trong tiếng Việt ………… …… 90
2.6.1 Phụ ngữ câu chỉ độ tin cậy ……… 92
2.6.2 Phụ ngữ câu chỉ tình thái xét đoán …… ……… 93
2.7 Những tương đồng và khác biệt về phương thức tình thái hoá câu tiếng Pháp và tiếng Việt ……… ……… 94
2.7.1 Tương đồng ……… ……… 94
2.7.2 Khác biệt ……… ……… 97
2.8 Tiểu kết ……… 100
Chương 3 LÍ GIẢI TỪ TÌNH THÁI NHẬN THỨC 3.1 Đặc trưng ngữ nghĩa của một số động từ tình thái nhận thức trong câu tiếng Pháp và tiếng Việt ……… 103
3.1.1 Đặc trưng ngữ nghĩa của lớp động từ tình thái chuyên dụng …… 104
3.1.2 Đặc trưng ngữ nghĩa của lớp động từ chỉ tố tình thái nội tại … … 110
3.2 Quan hệ ngữ nghĩa giữa khung tình thái nhận thức và NDMĐ 128
3.2.1 Quan hệ giữa khung tình thái và nội dung biểu thị sự tri giác, tri nhận ……… 129
3.2.2 Quan hệ giữa khung tình thái và nội dung biểu thị sự nhận định chủ quan …… 130
3.3 Mặt đối lập của tính TTNT trong thức indicatif và thức subjonctif 131
3.4 So sánh đặc trưng ngữ nghĩa của lớp động từ chỉ tố tình thái nội tại trong câu tiếng Pháp và tiếng Việt ……… …… 133
3.4.1 Sự tương đồng ……… 133
3.4.2 Sự khác biệt ……… 134
3.5 Đặc trưng ngữ nghĩa của một số biểu thức TTNT trong câu tiếng Pháp - Những biểu thị tương ứng trong tiếng Việt ……… 135
3.5.1 Đặc trưng ngữ nghĩa của biểu thức tình thái phán xét đánh giá … 138 3.5.2 Đặc trưng ngữ nghĩa của biểu thức tình thái xét đoán ………… 144
3.6 Tiểu kết ……… 153
Trang 6Chương 4 TÌNH THÁI NHẬN THỨC VÀ PHÉP LỊCH SỰ
4.1 Yếu tố tình thái nhận thức và nguyên tắc cộng tác hội thoại ……… 157
4.2 Yếu tố TTNT và phép lịch sự trong tương tác ngôn ngữ … … 159
4.2.1 Quan điểm về phép lịch sự ……… 160
4.2.2 Phép lịch sự được xây dựng trên nhu cầu giữ thể diện trong ứng xử ……… 162
4.2.3 Hành động giữ thể diện bằng các chiến lược lịch sự ………… 163
4.2.4 Giá trị lịch sự của TTNT ……… 166
4.2.5 Chiến lược lịch sự và yếu tố TTNT ……… 171
4.3 Yếu tố tình thái nhận thức và hiệu quả của phép lịch sự trong giao tiếp ……… 173
4.4 So sánh cách biểu hiện phép lịch sự trong câu tiếng Pháp và tiếng Việt .……… 174
4.4.1 Nét tương đồng 174
4.4.2 Nét khác biệt 175
4.5 Tiểu kết
176
KẾT LUẬN ……… 178
Danh mục công trình của tác giả liên quan đến đề tài …… 182
Tài liệu tham khảo và xuất xứ các ví dụ ……… 183
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Mục đích và yêu cầu của luận án
Trong thời gian dài các nhà ngôn ngữ học cấu trúc hậu Saussure (1916) chỉ quan tâm nghiên cứu ngôn ngữ ở trạng thái tĩnh, chú trọng đến khía cạnh
hệ thống cấu trúc của ngôn ngữ Những sự kiện có tính chất cá nhân, lời nói
bị xem nhẹ và không được quan tâm đúng mức Từ những thập niên gần đây, ngữ pháp chức năng và dụng học là hai trào lưu chiếm ưu thế trong nghiên cứu ngôn ngữ Trong hai trào lưu này thì vấn đề tình thái được quan tâm hàng đầu, đặc biệt là tình thái nhận thức
Theo thuyết hành động trong tương tác ngôn ngữ, các câu nói có cấu trúc khác nhau thể hiện những mục đích và ý nghĩa khác nhau Việc sử dụng câu bằng các yếu tố tình thái khác nhau là vấn đề đáng được quan tâm trong giao tiếp Tình thái là một phần ngữ nghĩa không thể thiếu được của câu Đặc trưng của tình thái nhận thức là phản ánh quan điểm của người nói thể hiện thái độ đánh giá, xét đoán, phán xét về nội dung trong câu Quan điểm này đặt trên mối quan hệ giữa người nói và người nghe, với thực tế và hoàn cảnh giao tiếp Tình thái câu đánh dấu những giá trị ngữ nghĩa - ngữ dụng rất đáng lưu ý trong giao tiếp Những đặc trưng cơ bản này của tình thái câu đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước đang bàn đến dựa trên những đặc trưng của nhiều thứ tiếng khác nhau
Tuy nhiên, hiện nay vấn đề dạy và học ngoại ngữ chưa được quan tâm đúng mức đến vấn đề ngữ pháp - ngữ nghĩa của câu Việc dạy ngữ pháp trong nhà trường vẫn còn chú trọng đến ngữ pháp truyền thống và ngữ pháp cấu trúc Trong các giáo trình dạy học tiếng Pháp, việc dạy ngữ pháp vẫn chú trọng đến miêu tả các hình thức biểu đạt như cấu trúc câu, chưa quan tâm đúng mức đến nghiên cứu tình thái câu một cách có hệ thống Vậy việc làm rõ nét các giá trị ngữ nghĩa và giá trị sử dụng của yếu tố biểu thị tình thái câu nói chung và TTNT có mặt trong câu tiếng Pháp và tiếng Việt là cần thiết đối với người học để giao tiếp Bởi vì xét trên bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng, hai giá trị này tác động lẫn nhau trong biểu đạt câu nói Hơn nữa, sự đối chiếu
Trang 8tương đồng và khác biệt về cách biểu đạt tình thái nhận thức trong câu của hai thứ tiếng là điều còn mới mẻ tại Việt Nam Qua việc lý giải phân tích yếu tố TTNT trong câu của hai thứ tiếng, luận án có thể giải quyết được một số vấn
đề còn băn khoăn về mối quan hệ giữa tình thái và nội dung câu tiếng Pháp đối với việc lĩnh hội một ngoại ngữ trong dạy / học Đồng thời đề tài hy vọng đóng góp phần nhỏ vào việc biên soạn sách song ngữ về ngữ pháp - ngữ nghĩa thuộc phạm trù này
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nội dung nghiên cứu chính của đề tài là tình thái hoá với yếu
tố TTNT và lí giải các giá trị ngữ nghĩa có liên quan đến giá trị sử dụng của chúng trong câu Tình thái câu được biểu đạt bằng các phương tiện ngữ âm, phương tiện từ vựng, phương tiện ngữ pháp, và từ vựng - ngữ pháp trong những cấp độ khác nhau Quá trình miêu tả phân tích và lý giải các phương thức biểu đạt tình thái nhận thức ở hai thứ tiếng; luận án chú trọng đề cập đến
ba phương tiện cuối cùng ở cấp độ câu
Nội dung của luận án sẽ đề cập đến vấn đề tình thái nói chung và TTNT nói riêng Sự có mặt của các yếu tố TTNT trong câu sẽ được miêu tả
và phân tích trên ba bình diện : Phương thức tình thái hoá đồng thời phân tích
và lý giải , giá trị ngữ nghĩa và giá trị sử dụng của các yếu tố này trong câu
Luận án sẽ không đặt nặng vấn đề đối chiếu so sánh hai loại hình ngôn ngữ Pháp – Việt, mà chỉ trình bày những biểu đạt tương ứng của các yếu tố TTNT được dựa trên các hình thức kết hợp, giá trị ngữ nghĩa và giá trị sử dụng trong câu tiếng Pháp và dịch tương ứng tiếng Việt Phần nội dung đề cập đến giá trị sử dụng của các yếu tố TTNT, đề tài cũng chỉ nhấn mạnh đến tính lịch sự của các yếu tố này, xét trên mối quan hệ liên nhân
Để thực hiện và giải quyết những vấn đề đặt ra trên đây, luận án triển khai nội dung nghiên cứu bằng cách phân tích, lí giải các yếu tố TTNT trong mối quan hệ với thời và thức của nội dung mệnh đề theo dạng thức
Khung tình thái Nội dung mệnh đề
(Yếu tố TTNT) ( Thức + Thời )
3 Phương pháp nghiên cứu
Trang 9Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở kết hợp các phương pháp chính sau đây:
3.1 Phương pháp diễn dịch
Luận án sẽ thừa kế và vận dụng các thành tựu về mặt lý luận có liên quan đã được công bố để xây dựng cho phần lý luận và giải thích trong nội dung Mặc dù việc miêu tả, phân tích và lý giải các yếu tố TTNT ở cấp độ câu được đặt trên nền tảng mô hình của ký hiệu học tam phân: Kết học - Nghĩa học và Dụng học; nhưng luận án không phủ nhận các thành tựu của trường phái ngôn ngữ học truyền thống Phương pháp nghiên cứu sẽ dẫn từ những nguyên lý chung để đi đến những kết luận riêng
3.2 Các phương pháp khác được sử dụng phối hợp
Phương pháp miêu tả cũng là một trong những phương pháp được sử dụng phối hợp chính trong lĩnh vực miêu tả câu Ngoài ra luận án còn vận dụng các phương pháp sau :
- Phương pháp cải biên
4.1 Chương 1 Một số vấn đề lý luận liên quan đến luận án
Nội dung của chương này trình bày những vấn đề lý luận có liên quan đến luận án Hai khái niệm chính được miêu tả và giải thích trong chương này là:
- Tình thái của câu nói chung
- Tình thái nhận thức và các yếu tố biểu đạt tình thái này trong câu
4.2 Chương 2 Phương tiện biểu đạt tình thái nhận thức trong tiếng Pháp - Những tương ứng trong tiếng Việt
Đây là một trong những chương chính của luận án Nội dung của chương này trình bày về sự tình thái hoá câu bằng phương tiện từ vựng - ngữ pháp - Sự có mặt của các yếu tố này được các nhà nghiên cứu về ngữ pháp -
Trang 10ngữ nghĩa gọi là tình thái hoá câu Tình thái hoá câu là sự kết hợp của các yếu
tố tình thái nhận thức với nội dung mệnh đề (P) Kiểu kết hợp này tạo nên sự tương tác qua lại về mặt cú pháp - ngữ nghĩa giữa hai vế tình thái - nội dung Nội dung chương 2 đặt nền tảng cho việc giải thích, phân tích tính tình thái nhận thức và phép lịch sự trong sử dụng các yếu tố này ở cấp độ câu trong các chương 3 và 4
4.3 Chương 3 Lý giải tính tình thái nhận thức
Nội dung của chương này thể hiện mục đích nghiên cứu của luận án
Sự có mặt của các yếu tố TTNT trong câu về phương diện nghĩa, chúng biểu thị những tình thái nhất định Mối quan hệ giữa tình thái - nội dung đánh dấu những giá trị tình thái và đặc trưng ngữ nghĩa quan trọng trong câu Hai nội dung chính của tình thái nhận thức sẽ được đề cập đến đó là:
- Tình thái phán xét đánh giá ( Jugement évaluatif )
- Tình thái xét đoán : hiện thực / không hiện thực / phản hiện thực
4.4 Chương 4 Tình thái nhận thức và phép lịch sự
Việc trình bày giá trị sử dụng các yếu tố TTNT câu chỉ xét trên mối quan
hệ liên nhân Ba nhân tố quan trọng trong sử dụng các yếu tố TTNT trong giao tiếp đó là : Xuất phát từ giá trị tình thái và đặc trưng ngữ nghĩa, các yếu tố này đáp ứng nguyên tắc cộng tác hội thoại và nguyên lý lịch sự nhằm mục đích giao tiếp được thuận lợi Câu, lời, không chỉ chứa đựng nội dung miêu tả, nội dung thông tin mà xuyên qua tính tình thái và đặc trưng ngữ nghĩa, nó còn chứa đựng nội dung quan hệ liên nhân Giá trị sử dụng của các yếu tố TTNT không những chỉ biểu đạt đặc trưng ngữ nghĩa mà qua tính tình thái này chúng còn thể hiện phép lịch sự, làm cho cuộc giao tiếp thuận lợi
5 Cái mới về khoa học của luận án
Các công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước đã đề cập đến rất nhiều vấn đề tình thái Thành tựu nghiên cứu về lĩnh vực này đã đem lại nhiều kết quả rất đáng được lưu ý Cho đến nay có thể nói rằng, nghiên cứu một cách hệ thống các yếu tố TTNT trên ba bình diện: phương thức kết hợp, đặc trưng ngữ nghĩa và giá trị sử dụng là vấn đề nghiên cứu rộng và đang mở ra nhiều hướng khác nhau
Trang 11Tuy nhiên với đề tài và hướng nghiên cứu này, chúng tôi có thể khẳng định luận án có những đóng góp trong thành tựu nghiên cứu ngôn ngữ với các kết quả sau:
- Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu về vấn đề tình thái hoá câu bằng các yếu tố TTNT có tính hệ thống
- Luận án cũng là công trình đầu tiên phân tích lý giải tính tình thái, các đặc trưng ngữ nghĩa và giá trị sử dụng câu có chứa các yếu tố TTNT một cách
hệ thống
- Xuất phát từ sự so sánh khác biệt giữa phương thức biểu đạt của tiếng Pháp và tiếng Việt, người học cần nắm rõ cấu trúc, ý nghĩa và giá trị sử dụng các yếu tố tình thái nhận thức Bởi vì hình thức biểu đạt TTNT của hai thứ tiếng có những tương đồng và khác biệt đáng lưu ý Đây là những yếu tố quan trọng cần thấu hiểu để người học lĩnh hội những đặc trưng ngữ nghĩa và giá trị sử dụng của chúng trong câu
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể có những đóng góp tích cực trong lĩnh vực dạy / học tiếng Pháp với phương pháp dạy học được đổi mới hiện nay, trong nhà trường với mục đích học để giao tiếp
Trang 12Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Để tổng quan về khái niệm tính thái nói chung và TTNT nói riêng, chương 1 của luận án sẽ đề cập đến những vấn đề sau:
1 Một số cách hiểu về tính thái trong ngôn ngữ
2 Tính thái hoá câu
3 Vấn đề tính thái trong quan hệ với kết học, nghĩa học và dụng học
4 Các phương tiện biểu thị tính thái trong ngôn ngữ
5 Vấn đề phân loại tính thái
6 Tính thái nhận thức và các yếu tố TTNT trong câu
1.1 Một số cách hiểu về tình thái trong ngôn ngữ
1.1.1 Khái niệm tình thái
Tính thái câu nói chung và khái niệm TTNT nói riêng đã được nhiều nhà ngôn ngữ học bàn đến trong lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ và giao tiếp Tuy nhiên, cách hiểu về khái niệm tính thái chưa được nhất quán giữa các nhà nghiên cứu khác nhau
- Ở phương Tây, các nhà ngôn ngữ học đều coi tính thái thuộc phạm trù ngữ nghĩa, khác với phạm trù ngữ pháp Nhưng tính thái không phải là thứ ngữ nghĩa của nghĩa học hiểu theo truyền thống, mà là một phạm trù ý niệm (catégorie conceptuelle) trong sự biểu đạt câu nói Dictionnaire de
linguistique et des sciences du langage định nghĩa “ tình thái xác định thực
trạng của câu : câu xác nhận, câu mệnh lệnh hay câu nghi vấn ( La modalité définit le statut de la phrase : assertion, ordre ou interrogation) “.[107 tr 305]
" Theo Ch.Bally, trong sự phân tích nghĩa của câu, cần phải phân biệt
hai yếu tố khác nhau: " Dictum" và "Modus" Dictum (sự tình thuần tuý) được xem ngoài sự can thiệp của người nói Modus ( tình thái) là một chuổi yếu tố chỉ ra rằng sự tình được xem xét như hiện thực hay phi hiện thực, mong muốn hay không mong muốn, được chấp nhận một cách vui vẻ hay luyến tiếc từ người nói hoặc từ người khác Như vậy toàn câu được làm rõ nét bằng một
Trang 13tình thái hiển ngôn (modalité apparente) hay hàm ẩn (implicite) Các thức (modes) thuộc phạm trù ngữ pháp là một trong những phương tiện được sử dụng để diễn đạt tình thái Tình thái câu cũng có thể là dạng câu chêm xen (une incise) hoặc dạng mệnh đề như “je crois(tôi tin), je crains que ” (tôi sợ rằng) Các trạng từ ( adverbes ) cũng thường đóng chức năng tình thái của câu [107; tr 305,306]
Dựa vào khái niệm tính thái của Ch Bally, như đã trìch dẫn trên đây,
có thể phân tìch tình tính thái của câu như sau:
Vì dụ:
(1) Loan est venue (Loan đã đến rồi.)
(2) Je pense que Loan viendra (Tôi nghĩ rằng Loan sẽ đến.)
(3) Loan ne viendra jamais (Loan sẽ không bao giờ đến.)
Trong ba câu nói trên đây, nội dung cốt lõi của câu là sự việc được diễn
tả bằng những yếu tố ngôn ngữ, đó là chủ ngữ “Loan” và vị ngữ “đến” Nội dung “Loan đến”, theo Charles Bally, được tách khỏi phần tính thái, tức phần
chỉ thái độ của người nói được lồng trong nội dung này Phần tính thái có mặt
trong ba câu trên làm cho nội dung “Loan đến” mang sắc thái khác nhau
Ở câu (1) tính thái là sự việc đã được thừa nhận và đã xảy ra trên thực
tế Trong tiếng Pháp, tính thái này, thể hiện ở thời quá khứ và thức chỉ định
(mode indicatif) được gắn với động từ “venir” (est venue) Trong tiếng Việt, tính thái của câu (1) thể hiện ở các hư từ “đã”, “rồi” kèm theo với động từ,
biểu đạt sự tính đã được khẳng định đã xảy ra trên thực tế Vậy tính thái của câu (1) là tính thái hiện thực đã xảy ra trong thực tế
Ở câu (2) tính thái là một nhận định được kết hợp trong dạng câu ghép,
bao gồm : Mệnh đề chình “Je pense” được kết hợp bằng động từ cảm nghĩ
“penser” với chủ ngữ “Je”; tạo nên sắc thái chủ quan trong nhận thức Đây là “
kiểu tình thái hoá câu nói bằng phương tiện từ vựng - ngữ pháp ’’ Mệnh đề
chình được ghép với mệnh đề phụ “que Loan viendra” làm cho NDMĐ giảm bớt tình khẳng định Có nghĩa là việc “Loan sẽ đến” chỉ nằm trong tư duy của
người nói và trên thực tế là chưa xảy ra Câu nói biểu thị tính thái nhận định
mang tình chủ quan về khả năng có thể xảy ra đối với nội dung “Loan sẽ đến”
Trang 14Ở câu (3) tính thái của câu được biểu đạt bằng sự kết hợp trạng ngữ phủ
định “ ne jamais” (không bao giờ) đánh dấu tính thái phủ định về sự tính “Loan
đến” Tương ứng với tính thái này, của tiếng Việt, phụ ngữ “không bao giờ” cũng
có tầm tác động vào cấu trúc NDMĐ của câu, biểu thị tính thái phủ định của hành động đến của Loan
Vậy cùng một nội dung là “Loan đến”, ba câu nói biểu đạt ba loại tính thái
khác nhau Câu (1) biểu thị tính thái khẳng định sự việc đã được thừa nhận là
“Loan đến” Câu (2) TTNT biểu đạt sự nhận định về một khả năng xảy ra trong
tương lai mang tình chủ quan Câu (3) tính thái là sự phủ định không có thật trong thực tế
Cách nhín nhận tính thái câu như vậy, Ch Bally cho rằng: ở phát ngôn bất kỳ đều có biểu hiện sự đối lập nội dung cái được nói đến (dictum) với sự đánh giá của cá nhân về sự việc được trính bày trong câu
Các nhà ngôn ngữ học sau Ch Bally về cơ bản chia sẻ quan điểm của ông Trong số những nhà ngôn ngữ học này có Lyons (1977),(76 tr 425), palmer (1986) [77], Benveniste (1974) [84], Halliday (1989) [35], Caron (1989) [87], Charaudeau (1985) [88], Kerbrat.Orecchioni (1999) [112], Vion
(1992) [128], Chomsky [90] v.v Cụ thể Lyons định nghĩa: "Tình thái là thái
độ của người nói đối với nội dung mệnh đề mà câu biểu thị, hay sự tình mà mệnh đề đó miêu tả "[76 tr 425] Trong cuốn "Mood and Modality", khi
nghiên cứu khảo sát về tính thái, Palmer (1986) ghi nhận rằng "cách định
nghĩa tình thái là "ý kiến hoặc thái độ " của người nói của Lyons tỏ ra là có hứa hẹn" [77 tr 2]
Dựa vào cơ sở phân tìch của các câu (1), (2), (3) trên đây, có thể nói rằng tính thái là đặc trưng cơ bản của cấu tạo câu Đặc trưng này được thể hiện qua bốn vấn đề mà Palmer ( 1986) đã lưu ý khi nghiên cứu câu
- Thứ nhất phải xác định một phạm trù tình thái: Phạm trù ở đây là phạm trù ngữ nghĩa bao gồm tính tình thái, thái độ và quan niệm của người nói
- Thứ hai, về vấn đề các phương tiện biểu hiện ý nghĩa tình thái, cần chú ý đến mức độ sử dụng các phương tiện biểu thị tình thái nhiều hay ít hoặc cách biểu hiện như thế nào Chẳng hạn như “thức” trong các ngôn ngữ biến hình là sự
Trang 15đánh dấu tình thái Còn những ngôn ngữ khác có thể sử dụng hệ thống động từ tình thái hay các loại tiểu từ tình thái
- Thứ ba, tính chất qui ước của phương tiện biểu hiện tình thái: Không
có quan hệ một đối một giữa hình thức biểu đạt và ý nghĩa tình thái
- Thứ tư, sự biểu hiện các phạm trù ngữ pháp như thời, số, ngôi và các thức trong các ngôn ngữ không hoàn toàn giống nhau Vì vậy không thể xem xét một cách máy móc về sự biểu hiện tính tình thái trong các ngôn ngữ [
Phỏng theo77 tr 33]
Vậy có thể nói rằng tính thái là phạm trù ngữ pháp - ngữ nghĩa biểu thị quan hệ của người nói với phát ngôn và quan hệ của nội dung phát ngôn với hiện thực khách quan
Trong cuốn “Dẫn luận ngữ pháp chức năng”, khi bàn đến một phán
đoán Halliday cho rằng “Trong một nhận định, tình thái là sự thể hiện quan
điểm của người nói” [35 tr 181] Khi bàn đến tình phân cực, ông viết : “Tình thái liên quan đến khu vực ý nghĩa nằm giữa hai cực có và không - vị trí trung gian giữa cực khẳng định và cực phủ định Cái mà tình thái hàm chỉ một cách
cụ thể hơn sẽ phụ thuộc vào chức năng lời nói cơ bản của cú.” [35 tr 560]
Chẳng hạn trong tiếng Pháp, câu phán đoán về sự tính được phản ánh bằng các yếu tố và phương thức ngữ pháp sau :
(4) Jacques est venu, peut - être ( Có thể là Jaques đã đến.)
Trong (4) yếu tố tính thái “peut - être” (có thể) tác động vào câu có thức
chỉ định tạo nên tính thái khả năng xác suất hoặc có hoặc không, chỉ sự nhận định, thuộc tính thái xét đoán
Tác giả người Nga V N Bondarenko cho rằng "Tình thái là một phạm trù
ngôn ngữ chỉ đặc điểm của các mối quan hệ khách quan được phản ánh trong nội dung của câu và chỉ ra mức độ của tính xác thực về nội dung của chính câu
đó theo quan niệm của người nói ( tình thái chủ quan) " [dẫn theo 70 tr 48]
Trong cuốn The Encyclopida of language and linguistics ( volume 5), Kiefer (1994) giải thìch cách hiểu tình tính thái của Ch Bally như sau : Một cách nhín khác về tính thái, đồng nhất nó với sự đánh giá của người nói đối
Trang 16với sự tính ( ) Vậy "Tình thái là thái độ tri nhận, tình cảm, hay niềm tin đối
với một sự tình, từ góc độ nhìn nhận, đánh giá của người nói." [75 tr 2516 ] (Modality can be defined as the speaker‘s cognitive, emotive, or volitive attitude toward a state of affairs [75 tr 2516]) Còn bản thân Kiefer thí hiểu
tình tính thái như sau : " Thực chất của "tính tình thái" gồm trong việc tạo lập
tính tương đối của hiệu lực các ý nghĩa câu với một tập hợp các thế giới có thể có" ( " The essence of " modality" consists in the relativisation of the validity of sentence meanings to a set of possible worlds ") [75, tr 2515]
- Ở Việt Nam, vấn đề tính thái đang được các nhà ngôn ngữ học quan
tâm và có những khái niệm gần giống nhau giữa các nhà nghiên cứu Hoàng
Tuệ định nghĩa: “Tình thái là một khái niệm trong sự phân tích theo cách nhìn
tìm đến thái độ của người nói trong hoạt động phát ngôn, tức cũng là tìm đến tác động ngữ dụng Tác động mà người nói muốn tạo ra ở người nghe trong thực tế hoạt động ngôn ngữ.” [67]
Những kiểu phát biểu có ý nghĩa tương tự về khái niệm như trên đây đã được các tác giả Lê Quang Thiêm [62], Hoàng Phê [47], Hoàng Trọng Phiến [48], Cao Xuân Hạo [32], Đỗ Hữu Châu [16], Diệp Quang Ban [5], Phạm Hùng Việt [70], Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp [64], Nguyễn Ngọc Trâm [65] trính bày trong các tài liệu
Điểm qua một số định nghĩa và khái niệm về tính thái nêu trên, có thể nói rằng các nhà ngôn ngữ học hiện đại Đông - Tây đều nhận ra rằng tính thái
là một phạm trù ý niệm chỉ thái độ tri nhận của chủ ngôn trong câu nói Cho nên việc nghiên cứu tính thái câu không chỉ nghiên cứu, nhận xét cách nói, cách viết (người ta nói và viết như thế nào) mà cần phải tím hiểu tại sao người
ta không nói kiểu này mà lại nói kiểu khác
Tính thái là một khái niệm mang tình phổ quát trong ngôn ngữ học Tính thái được các nhà ngôn ngữ học xem như là phạm trù ngữ pháp – ngữ nghĩa, biểu thị quan hệ giữa nội dung lời nói và hiện thực bằng các hính thái như: thức của động từ (trong các ngôn ngữ biến hính), tính thái từ, ngữ điệu, các kiểu câu xét theo mục đìch nói Tình tính thái có mặt ở những cấp độ khác nhau trong tổ chức của một ngôn ngữ, đáng kể nhất là ở các bậc câu Trong khi
Trang 17phân tìch về tính thái trong câu nói, nhiều tác giả ở nước ngoài và trong nước
đã có những cách phát biểu khác nhau, nhưng tựu trung tất cả đều đề cập đến phạm trù ngữ nghĩa và giá trị sử dụng chúng trong hoàn cảnh giao tiếp
1.1.2 Tình thái trong lô gích học và ngôn ngữ học
Con người không thể tư duy nếu không dùng đến ngôn ngữ Ngôn ngữ là công cụ tư duy, là công cụ quan trọng nhất trong giao tiếp Trong giao tiếp, con người cũng thông báo, biểu đạt tư tưởng, chứng minh thuyết phục, lập luận, chất vấn, vv Những hoạt động này thể hiện tư duy Do vậy mà ngôn ngữ có những quy luật ngôn từ để biểu hiện, phản ánh tư duy và tiếp nhận thông tin
Để miêu tả và nghiên cứu những hiện tượng khác nhau trong ngôn ngữ
tự nhiên, các nhà nghiên cứu đã vận dụng đến tình lô gìch trong ngôn ngữ học
đó là: lô gìch mệnh đề, lô gìch vị từ, lô gìch tính thái, lô gìch thời gian, lô gìch
đa trị vv Nhờ vào các kiểu lô gìch này mà nhiều hiện tượng ngôn ngữ được miêu tả và phân biệt với nhau, chẳng hạn như lô gìch tính thái là công cụ tốt để miêu tả và khảo sát những hiện tượng ngôn ngữ liên quan đến các yếu tố tính thái
Vì dụ:
(5) Mọi người có thể thấy được vấn đề
(6) Mọi người phải thấy được vấn đề
Hai câu trên đây biểu thị hai nội dung tính thái khác nhau : khả năng
"có thể” hoặc tất yếu “phải” về sự kiện “thấy được vấn đề” Trong mỗi câu
trên đây đều có hai thông tin: Thông tin sự kiện “thấy được vấn đề” và thông tin tính thái thể hiện ở các yếu tố “có thể”, “phải” biểu thị tình có thể hay tình
tất yếu
Các ngôn ngữ cũng đặt ra hàng loạt những vấn đề về tính thái cho lô gìch mà các nhà lô gìch học là những người đầu tiên quan tâm đến vấn đề tính thái trong ngôn ngữ Trong số các nhà nghiên cứu về lô gìch thí Aristote là người đầu tiên đề cập đến tính thái trong lô gìch học khi nghiên cứu về tính thái, các nhà lô gìch học quan tâm xây dựng các khái niệm tính thái như là cái hiện thực, cái tất yếu, cái khả năng, để cố gắng thoát khỏi các thuật ngữ
Trang 18ngôn ngữ học Như vậy, khái niệm tính thái gắn liền với sự phán đóan về tình tất yếu, tình khả năng và xác nhận tình hiện thực
Trái lại, các nhà ngôn ngữ học nhín nhận yếu tố tính thái là những ký hiệu được sử dụng và phải phân tìch các yếu tố ký hiệu này đã được từ ngữ hoá trong ngôn ngữ tự nhiện cụ thể Lớp từ ngữ biểu thị tính thái có tình đa nghĩa Sự có mặt của từ tính thái trong câu có thể biểu đạt những ý nghĩa khác nhau Trên bính diện nghĩa học thí các lớp từ TTNT có chức năng cú pháp - ngữ nghĩa khác với lớp từ tính thái trách nhiệm
Vì dụ :
( 7 ) Ba có thể làm được việc ấy
“ Có thể “ trong câu này có hai cách hiểu :
- Cách thứ nhất là “Ba“ được nhín nhận theo trách nhiệm được cho phép Nói cách khác là “Ba“ được phép làm công việc ấy Câu nói thuộc tính thái trách nhiệm
- Cách thứ hai là câu nói đề cập đến khả năng nội tại của “Ba” do người nói nhận định “Ba” có năng lực làm được công việc ấy Câu nói thuộc vào TTNT
Trong TTNT thí tính thái “có thể” (possibilité) đối lập với tính thái
“xác nhận” (assertion)
Vì dụ:
(8) Phải 100o nước mới sôi
“Phải” chỉ tính thái xác nhận tình tất yếu (nécessité) chỉ hiện tượng tất
yếu không thể bác bỏ được của câu nói
(9) Có thể nó đi rồi
“Có thể” chỉ tính thái nhận định, phỏng đoán sự việc “đi” của nó
Vậy có thể nói rằng mỗi cách biểu đạt tính thái trong câu đều mang sắc thái ngữ nghĩa riêng biệt Mỗi từ tính thái ứng với hoàn cảnh cụ thể của câu nói Trong ngôn ngữ, các TTNT của câu làm thành một bảng màu cực kỳ đa dạng, trong đó phần lớn đều có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến tình hiện thực, tình tất yếu và tình khả năng, nhưng dưới nhiều sắc thái khác nhau và có nhiều cách biểu hiện khác nhau
Trang 191.1.2.1 Tình thái câu và tình thái của nội dung mệnh đề
Nội dung của bất kỳ một lời phát ngôn nào cũng chứa đựng một tính thái Những tính thái có thể coi như có đánh dấu trong câu được phân biệt làm hai loại : Tính thái của câu khác với tính thái của cấu trúc vị ngữ hạt nhân thuộc nội dung mệnh đề
a) Tính thái của câu (modalité de la phrase) phản ánh thái độ tri nhận, tri giác và niềm tin của người nói đối với điều được nói ra Cách người nói đánh giá tình hiện thực hay phi hiện thực, giới hạn của tình hiện thực, mức độ của tình xác thực, của tình tất yếu, tình khả năng hoặc tình phản hiện thực của điều được thông báo hay được bàn đến trong câu
Vì dụ :
(10) Au lieu d ' un tournoi, vous avez une émeute (3 tr 262)
(Đáng lẽ là một trận đấu, các anh lại làm một cuộc khởi loạn
- Yếu tố Au lieu de (Đáng lẽ hoặc thay vì) trong (10) biểu thị tính thái
phản hiện thực của câu
b) Tính thái của cấu trúc vị ngữ hạt nhân phản ánh những dạng thức thể hiện của hành động, quá trính, trạng thái hay tình chất do NDMĐ biểu đạt
Chẳng hạn như trong tiếng Pháp trạng ngữ “ne jamais” đánh dấu tầm tác động phủ định vào một cấu trúc vị ngữ hạt nhân
Vì dụ:
(11) André ne marche jamais (André chẳng bao giờ đi bộ.)
Trong (11), trạng ngữ “ne jamais” tác động vào vị ngữ “marche” đánh dấu tính thái phủ định của cấu trúc vị ngữ hạt nhân
Tính thái của câu có thể biểu thị bằng nhiều phương tiện khác nhau như: vị từ tính thái, trợ từ tính thái, trạng ngữ, quán ngữ Một trong những vấn đề ngữ pháp - ngữ nghĩa liên quan đến tính thái, là tầm tác động của các yếu tố tính thái câu
1.1.2.2 Tính tình thái và Nguyên tắc cộng tác hội thoại
Trong tương tác ngôn ngữ, Grice đã nêu lên các nguyên tắc cộng tác trong hội thoại Ông cho rằng phải có một cơ chế chi phối việc sáng tạo và lĩnh hội lời nói Bởi ví nhận thức của con người phong phú và phức tạp Làm cho người
Trang 20khác hiểu được đầy đủ và chình xác nhận thức của mính không phải là dễ Vấn
đề là phải giải thìch như thế nào để người nghe hiểu được người nói Ví vậy, ông
đã đề xướng “Nguyên tắc cộng tác hội thoại” trong tương tác ngôn ngữ
Nguyên tắc này được phát biểu một cách tổng quát như sau:
Hãy làm cho phần đóng góp của bạn đúng như nó được đòi hỏi, đúng vào giai đoạn mà nó xuất hiện, bởi cái mục đìch và cái phương hướng đã được chấp nhận của lần trao đổi bằng lời mà bạn được tham dự
a Các phương châm
Phương châm về lượng (the maxim of quantity)
- Hãy làm cho phần đóng góp của bạn có chứa đủ thông tin như nó được đòi hỏi (đối với mục đìch hiện hữu của lần trao đổi đó)
- Không làm cho phần đóng góp của bạn chứa nhiều tin hơn đang được đòi hỏi
Phương châm về chất (the maxim of quality)
Cố gắng làm cho sự đóng góp của bạn là chân thực
- Không nói điều bạn tin là không chân thực
- Không nói điều bạn không chứng minh thoả đáng được
Phương châm về quan hệ (the maxim of relation)
(Theo Grice, 1975) [Dẫn theo 72 tr 78]
Trong giao tiếp, hội thoại hàng ngày, việc vi phạm các phương châm hội thoại là có dụng ý của người nói để tạo ra hiệu quả giao tiếp như mong muốn, đôi khi sự cố tính vi phạm các phương châm hội thoại là một chiến lược giao tiếp
Trong sử dụng ngôn ngữ, sự vi phạm chuẩn mực một cách cố ý, gây ra một số hiệu quả nhất định cũng là một loại tính thái sử dụng Những vi phạm
Trang 21về lượng, về chất, về cách thức và về quan hệ là những biểu hiện của những tính thái riêng nhằm gây nên một hiệu quả nào đó
Việc sử dụng các TTNT cũng là một trong chiến lược giao tiếp Thì dụ để phán xét một sự việc, đánh giá một sự kiện hay phát biểu ý kiến về một vấn đề đang được đặt ra, người nói thường lựa chọn cấu trúc câu, lựa chọn ngôn từ để
sử dụng sao cho người nghe không bị xúc phạm Các từ tính thái là những yếu tố được sử dụng trong câu thường tạo nên dấu ấn mang màu sắc cá nhân làm thay đổi sắc thái của thông điệp hoặc làm cho thông điệp có nét riêng Những yếu tố biểu đạt TTNT làm chức năng giới hạn tình chân lý, giới hạn sự xác tìn của nội dung câu trong phạm vi ý kiến, quan điểm nhận thức của người nói
Vì dụ :
(12) Personnellement, je ne crois pas à la culpabilité du lamaneur Mais je
peux me tromper (33 tr 127)
(Theo tôi, nếu tôi không nhầm thì người chỉ đường không có tội.)
Các yếu tố ngôn ngữ được sử dụng trên đây như “personnellement” (theo tôi) “Mais je peux me tromper” (nếu tôi không nhầm) là những yếu tố tính thái được sử dụng để tránh gây một ý nghĩ áp đặt ở người nghe về ý kiến đối với sự tính mà người nói muốn đề cập đến trong nội dung “người dẫn đường không có tội”
Câu nói được sử dụng đồng thời hai yếu tố biểu thị tính thái mang sắc thái cá nhân chủ quan Theo nguyên tắc hội thoại, người nói vi phạm phương châm về cách thức và phương châm về lượng Đây là sự vi phạm cố ý trong chiến lược giao tiếp
b Yếu tố rào đón
Trong khi giải thìch các phương châm nguyên tắc cộng tác hội thoại của Grice, Jule cũng nhận thấy rằng có những kiểu diễn đạt mà người nói sử dụng để ghi nhận rằng họ có nguy cơ là không gắn bó đầy đủ với những nguyên tắc cộng tác hội thoại Những kiểu diễn đạt như thế được thể hiện trong các yếu tố biểu thị tính thái, được ông gọi là lời “rào đón” (“hedges”)
Trang 22Trong thực tế sử dụng ngôn ngữ, những yếu tố tính thái như trong câu (12) là những phương tiện dùng để tác động vào nội dung, vào ý nghĩa của câu theo mục đìch giao tiếp nhất định của người nói
Những yếu tố biểu thị tính thái của câu như đã phân tìch trên đây, xét
về cấu trúc câu, đã được một số tác giả gọi là những “phần biệt lập”, phần
nằm ngoài cấu trúc cú pháp mệnh đề của câu Chúng là những yếu tố ngôn ngữ biểu hiện ý của người nói
Tác giả Diệp Quang Ban trong “Câu đơn tiếng Việt” đã miêu tả các
yếu tố biểu thị tính thái trong câu bằng thuật ngữ “yếu tố rào đón” Chúng không thuộc cấu trúc cú pháp của mệnh đề thông báo Theo ông, những yếu
tố này thường xuất hiện trong tiếng Việt với các chức năng sau:
- “Là những yếu tố ngôn ngữ gắn với sự đánh giá tầm quan trọng đáng được lưu ý của điều được nói đến, có tác dụng định hướng cho người nghe nhận biết được ý nghĩa của thông điệp:” [3]
Vì dụ : Có điều đáng chú ý là , nói thật chứ , thật lòng mà nói v.v
- Là những yếu tố ngôn ngữ dẫn nhập một sự tính như là một kết luận:
Vì dụ : Nói chung là , nói vắn tắt là , tóm lại là , vv
- Là những yếu tố ngôn ngữ làm chức năng giới hạn chân lý của NDMĐ vào phạm vi ý kiến, quan điểm của người phát ngôn, mang tình chất chủ quan:
Vì dụ: Theo tôi thí , tôi nghĩ rằng , nếu tôi không nhầm thí , tôi cho rằng , vv
- Là những yếu tố ngôn ngữ mà qua đó người nói không bảo đảm tình chân thực của điều được nói ra trong nội dung của phát ngôn” [3]
Vì dụ: Tôi không nhớ rõ lắm nhưng , nghe đâu , hính như , có lẽ ,
có thể , vv
Những yếu tố ngôn ngữ trên biểu thị ý của người nói mang những sắc thái riêng trong câu tiếng Pháp cũng như trong câu tiếng Việt
Vì dụ:
(13) Il était malheureusement un peu sourd (26 tr 441)
(Khổ một nỗi, ông ta hơi nặng tai.)
Trang 23(14) J ’ai eu l’imprudence de lui faire remarquer qu’il s’agissait d’une maison très fermée (27 tr 206)
(Tôi bất cẩn đã cho nó biết rằng đó là một gia đính rất kìn kẽ.)
(15) Pour tout dire en un mot, ce jeune homme était une image vivante de
l’Antinoüs (27 tr 190)
(Nói vắn tắt, chàng trai ấy là một hính ảnh sống của Antinoüs.)
(16) Après tout, elle était complice (33 tr 239)
(Nói cho cùng thì cô ấy đã tòng phạm.)
(17) À vrai dire, chasser de tels êtres, ce n’est pas possible (26 tr 70)
(Nói thực, xua đuổi những kẻ như thế ấy là không được.)
(18) Je me suis peut - être mal exprimé (26 tr 66)
(Có lẽ là ta diễn đạt chưa rõ)
(19) Elle pleurait, paraît - il (17 tr 447) (Hình như cô ấy khóc.)
Những yếu tố ngôn ngữ biểu thị TTNT xuất hiện trong lời nói rất đa dạng và phong phú Đó là một số trạng ngữ (locutions adverbiales), danh ngữ, ngữ cố định (expression figeé) vv được quen dùng với mục đìch tác động vào ý tưởng, vào NDMĐ của câu theo ý định của người nói
Với tác dụng này, phần tính thái được xem như là một bộ phận cần thiết trong câu Về ý nghĩa sử dụng, phần tính thái được dùng để nêu các ý nghĩa
về quan hệ có liên quan đến người nói, đến nội dung phần câu còn lại và đến người nghe
1.1.3 Tính lịch sự của một số yếu tố TTNT xét trên quan hệ liên nhân
Mục đìch nguyên tắc cộng tác của Grice đưa ra là " tìm kiếm hiệu quả tối
ưu của sự trao đổi thông tin" Ngoài sự trao đổi thông tin, trong hội thoại còn
có quan hệ liên nhân Để xây dựng quan hệ này được tốt đẹp trong giao tiếp các phương châm lịch sự được thể hiện trong các yếu tố TTNT là những chiến lược lịch sự trong giao tiếp
Sự kết hợp yếu tố TTNT trong hệ thống câu tạo nên những giá trị sử dụng nhất định Sự kết hợp này được một số nhà nghiên cứu về ngữ pháp gọi là kiểu "tính thái hoá câu" ("modalisation de la phrase") Các nhà ngữ dụng học coi chiến lược tính thái hoá là thuộc chiến lược lịch sự âm tình Xét trên bính
Trang 24diện sử dụng, một số yếu tố TTNT có mặt trong câu, xuất phát từ tình tính thái của chúng, biểu thị phép lịch sự trong quan hệ liên nhân
- P Charaudeau (1985) nhà nghiên cứu ngữ pháp - ngữ nghĩa cho rằng:
Tình thái hoá được xem là một phạm trù ý niệm (catégorie conceptuelle) liên quan đến những yếu tố được biểu đạt, thể hiện ý định của người nói trong phát ngôn [88 tr 573] Trong lúc đó các nhà Ngữ dụng học như Brown và
Levinson [dẫn theo 110], C Kerbrat Orecchioni [110], Đỗ Hữu Châu [15],
Nguyễn Đức Dân [20] v.v đồng thời xem sự tính thái hoá là chiến lược lịch
sự
Quá trính giải thìch các yếu tố ngôn ngữ biểu thị phép lịch sự trong câu,
C.Kerbrat Orecchioni đã khẳng định " Một số từ tình thái biểu đạt phép lịch sự
là các yếu tố được sử dụng để tình thái hoá câu, với mục đích làm dịu hoá một xác nhận Tình thái hoá thể hiện sự dè dặt của người nói đối với nội dung của phát ngôn, nó biểu thị thái độ thiếu kiên quyết, làm cho câu nói tỏ ra lịch sự hơn" [110 tr 221, 222] (vấn đề này sẽ được xem xét trong chương 4)
Vì dụ :
(20) "Je pense qu'il a tort." [dẫn theo 88 - tr 575]
("Tôi nghĩ rằng nó sai lầm.")
(21) Il semble qu ' il a tort ( Hính như là nó sai lầm )
(22) Peut être qu ' il a tort ( Có thể là nó sai lầm )
Xét trên bính diện sử dụng ngôn ngữ, chiến lược tính thái hóa bằng cách sử dụng yếu tố TTNT như câu (20), (21) và (22) có thể gọi là chiến lược thể hiện
sự tôn trọng, biểu thị tình lịch sự Trong câu (20), yếu tố "je pense" (tôi nghĩ), (21) " il semble"( hính như là), (22) "peut être" (có lẽ là ), xuất phát từ tình tính thái, chúng giảm nhẹ sự khẳng định của câu Các giá trị này liên quan đến chiến lược tôn trọng, người nói không gây áp đặt cho người cùng tham gia cuộc thoại Do vây, việc xác nhận thông tin trong nội dung P là người nghe có quyền lựa chọn, không bị áp đặt từ người nói Đây cũng là chiến lược lịch sự trong sử dụng ngôn từ, thể hiện sự tôn trọng và sự khiêm tốn của người nói đối với người nghe qua phong cách giao tiếp
Trang 25Với những quan niệm của các nhà nghiên cứu về tính thái câu và những giải thìch sự có mặt của các yếu tố TTNT trong các câu trên đây, chúng tôi nhận thấy giá trị sử dụng các yếu tố này thể hiện đồng thời hai mục đìch Một mặt chúng biểu thị tính thái nhận định của câu xét trên bính diện nghĩa Mặt khác trên bính diện sử dụng, chúng có hiệu quả làm giảm nhẹ một khẳng định, tránh gây áp đặt đối với người nghe, biểu thị phép lịch sự trong chiến lược giao tiếp
1.2 Tình thái hoá câu
Theo Robert Vion, khi đề cập đến tính thái của câu, thí trước tiên phải
đề cập đến vấn đề tính thái hoá Ông cho rằng "Thuật ngữ tình thái hoá nêu
đặc trưng của quan điểm trong phát ngôn và dựa trên thái độ của người nói đối với những sản phẩm ngôn từ của họ Chính vì vậy mà điểm nhấn được đặc trên các tình thái, trên các hình thức ngôn ngữ cho phép đưa một phát ngôn vào một thế giới, loại như một thế giới có thể, một thế giới chắc chắn, một thế giới mong ước, một thế giới tất yếu, v.v " [128 tr 237]
("Le terme de modalisation caractérise les approches énonciatives et porte
sur l'attitude que le sujet parlant adopte vis à vis de ses productions verbales Jusque là, l'accent était mis sur les modalités, formes linguistiques permettant d'inscrire un énoncé dans un monde comme celui du probable, du certain, du souhaitable, du nécessaire, etc ") [128 tr 237]
P Charaudeau (1985) cho rằng: Tình thái hoá được xem là một phạm
trù ý niệm (catégorie conceptuelle) có liên quan đến những phương tiện biểu đạt, thể hiện ý định của người nói trong phát ngôn [88 tr 573] Tác giả phát
biểu: " Tình thái hoá không tạo nên toàn bộ phát ngôn mà cái này bao hàm
cái kia" (La modalisation ne constitue pas le tout de l' énonciation Celle - ci englobe celle - là) [88 tr 572]
Nói cách khác, tính thái hoá là kết hợp một số yếu tố ngôn ngữ trong hệ thống câu Sự kết hợp này tạo nên giá trị ngữ nghĩa trong hệ thống ngôn ngữ, thông qua mục đìch biểu đạt ý nghĩa nào đó của người nói
Vì dụ với nội dung "Jean" và hành động "arriver", được kết hợp bằng những phương tiện và yếu tố ngôn ngữ tạo nên những tính thái câu như sau:
Trang 26(23) Jean arrive (Jean đang đến.)
(24) Je suis certain que Jean arrive (Tôi chắc là Jean đang đến.)
(25) il est certain que Jean arrive (Chắc chắn là Jean đang đến.)
Câu (23) biểu thị tính thái khẳng định hiện thực " Jean đến " đang xảy ra
thể hiện ở thời hiện tại và thức indicatif trong động từ "arriver"
Câu (24) Mệnh đề tính thái "Je suis certain" biểu thị một đoan chắc mang tình chủ quan về niềm tin của bản thân người nói vào sự việc "Jean đang đến" Các yếu tố ngôn ngữ này đánh dấu thái độ đoan chắc của người nói liên quan đến phương châm về chất: nói điều mính tin là đúng
Câu (25) Biểu thức tính thái "il est certain" biểu thị sự đoan chắc của người nói, thuộc phương châm về chất nhưng được diễn đạt dưới hính thức khách quan hoá
Nếu xem xét tính thái câu chỉ dựa trên hính thức biểu đạt bằng các yếu tố ngôn ngữ thí sẽ gặp một số vấn đề sau :
a) Một biểu thức tính thái, tuỳ theo tính huống và hoàn cảnh phát ngôn,
có thể diễn đạt những tính thái khác nhau
Chẳng hạn động từ tính thái "devoir" có thể diễn đạt:
- Một sự bắt buộc, một trách nhiệm thuộc về cá nhân, thuộc tính thái trách nhiệm, như trong câu:
(26) Je dois partir à 6 heures (Tôi phải đi vào lúc 6 giờ.)
- Một giả định, căn cứ vào bằng chứng tầm vóc, thuộc TTNT, như trong câu:
(27) Vu sa taille, il doit avoir 10 ans
(Xem dáng dấp, có lẽ nó phải đến 10 tuổi.)
b) Cùng một tính thái có thể sử dụng những hính thức ngôn ngữ khác nhau để diễn đạt Chẳng hạn, để diễn đạt tính thái xác nhận niềm tin khẳng định vào sự việc, trong tiếng Pháp có thể dùng hính thức ngôn ngữ khác nhau:
(28) Certes, il est venu (Hẳn là nó đã đến.)
(29) À la vérité, il est venu (Sự thật là nó đã đến)
(30) Au vrai, il est venu (Đúng là nó đã đến)
(31) Vraiment, il est venu (Thực ra, nó đã đến)
Trang 27c) Tính thái hoá câu có thể không được biểu đạt bằng ngôn từ mà được thể hiện trong toàn bộ tổ chức của phát ngôn, có liên quan đến một số yếu tố ngôn ngữ hoặc những yếu tố ngoài ngôn ngữ (ngữ điệu, thái độ, ánh mắt, dấu chấm câu) Hơn nữa những đặc điểm hoàn cảnh phát ngôn sẽ ghi nhận tính thái đặc thù của câu, chẳng hạn :
(32) Je reviendrai demain (Ngày mai tôi sẽ trở lại )
Trong (32) tính thái câu nói có thể là một sự "hứa hẹn", một sự "đe dọa" hoặc một sự "báo trước" hay một sự "chấp nhận", tuỳ thuộc vào tính huống phát ngôn
Như vậy, tình tính thái hàm ẩn trong câu nói Những tình chất được nêu trên đây cho thấy tính thái không chỉ là phạm trù ngữ pháp mà còn thuộc về ý niệm và ý định sử dụng ngôn ngữ
1.2.1 Vấn đề tình thái trong quan hệ kết học, nghĩa học và dụng học
Ngữ pháp truyền thống chưa phân tìch được các yếu tố tính thái khác nhau trong câu Xét về quan hệ hính thức cấu tạo và nội dung ngữ nghĩa, nếu phân tìch câu theo ngữ pháp truyền thống thí khó phân định đâu là thực từ, đâu là hư từ, đâu là phụ từ và cũng khó xác định đâu là vị ngữ Hơn nữa trong tiếng Việt có những phát ngôn, trong đó hư từ có vị trì quan trọng đối với cấu trúc ngữ nghĩa của câu nói, và khó phân định một cách rạch ròi các phương tiện biểu đạt tính thái của tiếng Việt
Trong tiếng Pháp, nếu phân tìch câu theo ngữ pháp truyền thống cũng sẽ gặp nhiều khó khăn, trong việc giải thìch tính thái của câu
Thì dụ trong các câu nói sau đây, nếu phân tìch ngữ pháp theo lối truyền thống thí chúng ta không thể lý giải được đâu là thực từ, đâu là hư từ, đâu là chủ ngữ, đâu là vị ngữ của câu
(33) Quelle chance! (22 tr 98) (May mắn làm sao!)
(34) Quelle amertume! (22 tr 100) (Cay đắng thay!)
(35) Quelle effronterie! (26 tr 198) (Trâng tráo nào bằng!)
(36) Quelle nuit! (3 tr 170) (Một đêm thật lạ lùng!)
Tất cả các yếu tố trong các câu đều đóng vai trò quan trọng đối với việc biểu đạt nghĩa của câu nói, kể cả ngữ điệu được ghi bằng dấu than (!) Các
Trang 28yếu tố trong câu tương tác lẫn nhau, biểu thị tính thái phán xét, tính thái đánh giá, mang tình chủ quan cá nhân về sự việc trong tính huống cụ thể nào đó được đặt ra giữa người nói và người nghe
Vậy có thể nói rằng nếu chỉ dừng lại với ngữ pháp truyền thống thí sẽ khó lòng lý giải được chức năng ngữ nghĩa của tính thái câu Cho nên đứng trên bính diện kết học hiểu theo nghĩa hẹp như truyền thống để phân tìch chức năng ngữ nghĩa của câu thí các nhà ngôn ngữ học gặp một số trở ngại nhất định Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ trường phái chức năng quan niệm rằng Cấu trúc của ngôn ngữ gắn chặt với các loại cấu trúc khác chung quanh nó Ngôn ngữ là một công cụ có nhiều chức năng nên nghiên cứu câu phải dựa vào các góc độ chức năng khác nhau của nó Đó là bản chất, cơ chế và quy luật hoạt động của câu Nói cách khác, nghiên cứu nghĩa của câu phải xem xét
ở ba góc độ: Cấu trúc hính thức (ngữ pháp), cấu trúc ngữ nghĩa và giá trị sử dụng trong giao tiếp Khi nghiên cứu ngữ pháp của một ngôn ngữ cụ thể, dù nhín theo gốc độ nào đi nữa thí trước hết phải xác định mục đìch là trên cơ sở các quan hệ ngữ pháp, xác định các yếu tố của nó, phân tìch các đặc điểm: giá trị, chức năng, sự hành chức của những yếu tố đó với tình chất là những đơn
vị tìn hiệu trên hai mặt cơ bản Đó là hính thức ngữ pháp và ngữ nghĩa Bởi ví đứng trên bính diện nghĩa học thí ngôn ngữ là công cụ có chức năng truyền đạt một nội dung nhất định, cho nên phải đề cập đến nghĩa và sự chuyển tải nghĩa Trên bính diện kết học, việc xem xét quan hệ nội tại của các yếu tố thuộc hệ thống hính thức biểu đạt thuần tuý thí phải đồng thời xem xét sự kết cấu và mối quan hệ giữa chúng với mặt nội dung, tức là quan tâm đến chức năng biểu đạt nghĩa
Trong nghiên cứu, tuỳ theo cấu tạo bản chất đặc thù của đối tượng mà chúng ta có thể vận dụng nhiều phương pháp phân tìch như phương pháp phân bố, đối lập, phân tìch các yếu tố, phân tìch tính huống - văn cảnh Tuy nhiên, ngữ pháp chức năng không thể bỏ qua thành tựu của ngữ pháp cấu trúc
mà đương nhiên phải dựa vào bính diện hệ thống - cấu trúc Bởi ví không có thông điệp nào mà không mang dấu vết của kết học, nghĩa học và dụng học
Ba bính diện này (kết học - nghĩa học - dụng học) không độc lập với nhau,
Trang 29cũng không phải kết học là phương diện chủ yếu, các phương diện còn lại phụ thuộc nó mà thực sự chúng quy định lẫn nhau, tác động lẫn nhau, cùng nhau quyết định thông điệp cả về hính thức lẫn nội dung
1.2.1.1 Kết học
Kết học là bộ môn nghiên cứu những mối quan hệ giữa các ký hiệu ngôn ngữ trong chuỗi lời nói Trong ngôn ngữ, các ký hiệu đó trước hết là các từ Kết học trong phạm vi nghiên cứu câu được gọi là cú pháp, và gồm có cú pháp câu và cú pháp cụm từ
Bính diện kết học được đề cập trong luận án này là phần mô tả phương thức kết hợp giữa các từ tính thái nhận thức, các biểu thức tính thái nhận thức, hoặc đôi khi là mệnh đề biểu đạt tính thái nhận thức với NDMĐ của câu Công việc này được thể hiện ở chương 2 Cách nghiên cứu tiêu biểu về mặt kết học trong luận án là sử dụng những phương pháp miêu tả, phương pháp thống kê - phân loại, phương pháp thay thế Cấu trúc hính thức của câu có chứa các yếu tố TTNT là phạm trù được đề cập trong chương 2, với ba phạm vi khảo sát sau:
- Phương thức kết hợp của động từ tính thái chuyên dụng "pouvoir"(có thể), "devoir"(có lẽ, phải) và "falloir"(phải) trong câu
- Phương thức kết hợp của một số vị từ (động từ) tính thái nội tại (hoặc động từ chỉ tố tính thái nội hàm) bao gồm: tính thái cảm nghĩ, tính thái ý kiến, nhận định trong câu
- Phương thức kết hợp của các biểu thức bao gồm một số ngữ (locutions)
và ngữ cố định (expressions figeés) thuộc tính thái nhận thức trong câu
Trong câu, các yếu tố thuộc cấu trúc cú pháp của mệnh đề và các yếu tố không thuộc cấu trúc cú pháp của mệnh đề là hai loại yếu tố cần được phân biệt bởi ví chúng khác nhau về phương thức kết hợp về vai trò, ngữ nghĩa và chức năng sử dụng
1.2.1.2 Nghĩa học
Nghĩa học là bộ môn nghiên cứu về ý nghĩa Ý nghĩa của câu bao gồm nghĩa biểu hiện và tính thái câu Khi đi vào phân tìch ý nghĩa câu, các nhà nghiên cứu về ngữ pháp - ngữ nghĩa đồng thời chú ý đến sự kết hợp chặt chẽ giữa các yếu tố : cấu trúc - cú pháp, từ vựng và tính thái sử dụng câu Theo
Trang 30Saussure, giá trị của một yếu tố ngôn ngữ nằm trong hệ thống ngôn ngữ
được xem xét theo kiểu:"Giá trị của yếu tố này chỉ là kết quả của sự tồn tại
đồng thời của những yếu tố khác" [53 tr 200] Với ý tưởng này, nghĩa của câu
có thể xem xét ở hai phương diện :
- Nghĩa biểu hiện của câu : Kiểu nghĩa phản ánh vật, việc, hiện tượng được nói đến trong câu
- Tính thái của câu : Phần chỉ ý định thực hiện hành động nói của người nói, được gọi là tính thái của hành động nói Phần thể hiện sự đánh giá, thái
độ của người nói đối với điều được nói đến trong câu và thái độ của người nói đối với người nghe, được gọi là tính thái của phát ngôn
D.Wunderlich gọi tính thái của câu là các kiểu lập trường (position
types) Theo ông, "kiểu lập trường" của câu thể hiện những phương diện sau:
- Nhận định của người nói về giá trị chân nguỵ của điều được truyền đạt trong câu (khẳng định, phủ nhận, ngờ vực, nêu rõ giới hạn và điều kiện của tính chân lý)
- Tính khả năng hay tính tất yếu của điều được nói trong câu (có thể hay không có thể có, tất nhiên hay không tất nhiên, mức độ cao hay thấp của tính khả năng hay tính tất yếu)
- Cách đánh giá của người nói đối với sự tình được truyền đạt (đáng mừng hay đáng tiếc, đáng hy vọng hay đáng e ngại, nên có hay không nên có, vv )
- Sự giới thiệu của người nói về tính chất của câu nói (tính thành thật, tính đơn giản, tính áng chừng hay tính chính xác)
- Mối liên hệ giữa câu nói với tình huống đối thoại hay với ngôn cảnh và nhiều nội dung khác thuộc các lĩnh vực của lô gích hoặc siêu ngôn ngữ, v.v
[dẫn theo 31 tr 175]
Những nội dung này trong tiếng Pháp và tiếng Việt có thể được diễn đạt bằng nhiều cách, bằng những yếu tố có cương vị ngôn ngữ học khác nhau, đảm đương những chức năng khác nhau và có thể được đặt ở những vị trì khác nhau Chẳng hạn, để bày tỏ rằng người nói tin chắc vào tình tất yếu của
Trang 31nội dung được truyền đạt trong câu Vì dụ như với nội dung "Jean arrivera" (Jean sẽ đến), có thể dùng các yếu tố tính thái khác nhau để diễn đạt:
(37) Certes, Jean arrivera (Quả thực là Jean sẽ đến.)
(38) Évidemment, Jean arrivera (Tất nhiên là Jean sẽ đến.)
(39) Il est s ûr que Jean arrivera (Chắc hẳn là Jean sẽ đến.)
(40) Certainement, Jean arrivera.) (Chắc chắn là Jean sẽ đến.)
Trong những câu trên đây, nghĩa khái quát của chúng không hoàn toàn giống nhau, câu gồm có hai phần: Phần mệnh đề gồm có chủ ngữ là "Jean" và hành động "arriver" (đến) làm thành phần nghĩa chỉ sự việc trong câu Phần còn lại là yếu tố ngôn ngữ biểu thị sự xác nhận trong (37), (38), hoặc sự đoan chắc trong (39), (40) của người nói về tình tất yếu trong nội dung sự việc
"Jean arrivera" (Jean sẽ đến) Phần còn lại là phần TTNT của câu
Luận án sẽ đề cập phần nghĩa học trong nội dung TTNT với các phạm trù ngữ nghĩa của câu ở chương 3
1.2.1.3 Dụng học - vai trò của dụng học về việc nghiên cứu tình thái
Morris định nghĩa Dụng học như sau: " Dụng học nghiên cứu quan hệ
giữa tín hiệu với người lý giải chúng " [Dẫn theo 37]
Ngữ dụng học liên quan đến việc nghiên cứu về ý nghĩa với tư cách là cái được thông báo bởi người nói (hay người viết) và được hiểu bởi người nghe (hay người đọc) thông qua ngữ cảnh cụ thể mà câu nói hàm chứa ý nghĩa nào đó Kết quả là ngữ dụng học làm việc nhiều với sự phân tìch cái
mà người ta muốn nói qua các phát ngôn, hơn là với cái mà bản thân các từ hay các cụm từ trong phát ngôn đó có thể nói lên G Yule định nghĩa thuật ngữ Dụng học với ba khái niệm sau :
- “Ngữ dụng học là sự nghiên cứu phần ý nghĩa thuộc về người nói ”
- “Ngữ dụng học là sự nghiên cứu ý nghĩa của ngữ cảnh.”
- “Ngữ dụng học là sự nghiên cứu những cách giúp thông báo được nhiều
hơn những gì nói ra.” [72 tr 20, 21]
Dụng học là bộ môn nghiên cứu việc sử dụng ngôn ngữ trong mối quan
hệ với ngữ cảnh xã hội, đặc biệt là những ý nghĩa của câu xuất hiện trong các ngữ cảnh của tính huống Đối tượng nghiên cứu của Dụng học rất rộngvà
Trang 32phức tạp: Đó là những gí còn lại sau khi đã nghiên cứu cấu trúc của ngôn ngữ và một phần từ vựng của từ ngữ, tức là phần nghĩa chỉ sự việc của câu nói
Trên mô hính 3 bính diện về lý thuyết ký hiệu học trong ngôn ngữ học hiện đại của Ch Morris: "Cú pháp học (Syntactics), Ngữ nghĩa học (Semantics) và Dụng học (Pragmatics) Ba bính diện này có mối quan hệ chặt chẽ, tương tác lẫn nhau, mà "Dụng học là phương pháp sử dụng ký hiệu tuỳ thuộc vào các nhiệm vụ này hay nhiệm vụ kia của người sử dụng nó"[72] Đây là bính diện của việc sử dụng ngôn từ trong những tính huống, trong những văn cảnh cụ thể, vào những mục đìch cụ thể, ví thế nó tác động đến tổ chức ngữ pháp và ngữ nghĩa của phát ngôn trong giao tiếp Ví vậy, ngữ dụng học đã được các nhà ngôn ngữ học quan tâm trong những vấn đề như lý thuyết hội thoại, lý thuyết hành vi ngôn ngữ, vấn đề ngữ cảnh tiền giả định v.v Những vấn đề ngữ nghĩa, ngữ pháp vốn rất trừu tượng, khó nhận diện đều lần lượt được giải quyết trên cơ sở gắn ngôn ngữ với vai trò chủ thể của người nói trong các hoàn cảnh phát ngôn khác nhau
Lý thuyết hành động ngôn từ (actes de parole) điều chỉnh lại mối quan
hệ giữa ngôn ngữ và lời nói Ranh giới giữa ngôn ngữ và lời nói, giữa câu và phát ngôn không còn nằm trong thế đối lập, chia cắt Bởi ví thực tế nói cũng
là hành động Hoạt động nói là một phần, một dạng trong toàn bộ các hoạt động sống của con người Nói cách khác, hoạt động ngôn từ là những điều mà người ta làm thông qua ngôn ngữ Chẳng hạn : xin lỗi, than phiền, tán thành, cảnh báo, đoan chắc hoặc xác nhận một hiện thực v.v
Chúng ta chỉ có thể nhận dạng ra hành động ngôn từ do một phát ngôn nào đó thực hiện, khi chúng ta biết được ngữ cảnh mà phát ngôn diễn ra Về chức năng, hành động ngôn từ chình là ý định của mỗi phát ngôn
Trên quan điểm nghiên cứu ngôn ngữ ở trạng thái động, ngành nghiên cứu nội dung của ngôn từ trong sự tương tác của nó với những người tham gia giao tiếp trong tính huống, ngữ cảnh cụ thể là Dụng học Nói cách khác, Dụng học nghiên cứu hành vi của ký hiệu ngôn ngữ trong qúa trính giao tiếp
Trang 33Nghiên cứu tình tính thái trong nguyên tắc cộng tác hội thoại là đi sâu vào nghiên cứu sử dụng ngôn ngữ Sự vi phạm chuẩn mực một cách cố ý các phuơng châm hội thoại nhằm gây nên một hiệu quả nào đó là chiến lược nói năng Việc sử dụng các tính thái trong câu cũng là một chiến lược giao tiếp Nội dung này sẽ được đề cập ở chương 4
1.2.2 Các phương tiện tình thái hoá câu
Có bốn phương tiện chình biểu thị tính thái thường gặp trong các ngôn ngữ: Phương tiện ngữ âm, phương tiện từ vựng, phương tiện ngữ pháp và phương tiện từ vựng - ngữ pháp Tuy nhiên mỗi ngôn ngữ có nhiều phương thức và sắc thái diễn đạt riêng khi đi vào câu nói cụ thể Trong quá trính miêu
tả, phân tìch lý giải vấn đề có liên quan đến tính thái hoá và ngữ pháp hoá câu Luận án chỉ đề cập đến ba phương tiện sau :
a Phương tiện ngữ pháp
Các phương tiện ngữ pháp biểu thị tính thái trong câu tiếng Pháp rõ ràng
nhất là thời, thức của động từ được kết hợp các yếu tố tính thái Khi động từ được ngữ pháp hoá theo ngôi, thời và thức thí chúng có những dạng khác nhau
Vì dụ động từ venir được chia ở ngôi thứ ba số ìt của thức chỉ định (mode
indicatif), ở thời quá khứ il est venu, thời hiện tại il vient, thời tương lai il
viendra Hoặc thức điều kiện (mode conditionnel) ở thời hiện tại là il viendrait;
thức subjonctif (thức giả định hoặc thức cầu khiến) il vienne
Sự biến dạng của động từ thể hiện mối quan hệ giữa câu và thực tại, là một kiểu tính thái hoá câu
Thời và thức có khả năng diễn đạt những tính thái khác nhau: Tính thái khẳng định, tính thái hiện thực, trong thức indicatif; tính thái có thể xảy ra trong thức điều kiện (conditionnel); tính thái có khả năng xảy ra, tính thái lưỡng khả (có thể xảy ra hoặc không thể xảy ra) trong thức subjonctif, vv
Trang 34- Thời hiện tại của thức chỉ định chỉ tính thái hiện thực đang xảy ra
Vì dụ:
(42) Jean vient (Jean đang đến.)
- Thời tương lai của thức chỉ định chỉ tính thái hiện thực sẽ xảy ra
Vì dụ:
(43) Jean viendra (Jean sẽ đến.)
- Thời hiện tại, thức điều kiện (mode conditionnel) đánh dấu tính thái
có thể xảy ra
Vì dụ:
(44) Jean viendrait (Jean có thể đến.)
- Thời hiện tại của thức Subjonctif kết hợp với một số biểu thức TTNT phi hiện thực chỉ tính thái lưỡng khả dao động
Vì dụ:
(45) Il se peut que Jean vienne (Có thể là Jean đến.)
-Thời quá khứ của thức điều kiện đánh dấu tính thái phản hiện thực
Việt, sự biểu đạt tính thái tương ứng được thể hiện ở tính thái ngữ "Đáng lẽ
phải" trong câu
Vấn đề tính thái hoá và ngữ pháp hoá trong thời và thức của động từ tiếng Pháp sẽ được đề cập ở chương hai, phần trính bày "các yếu tố TTNT trong câu."
b Phương tiện từ vựng
- Phương tiện từ vựng được gắn liền với vị ngữ
Trang 35Trong tiếng Việt, ngôn ngữ đơn lập, những phụ từ thường quần tụ chung quanh yếu tố chình của vị ngữ, tạo nên tính thái của câu nói Phương tiện từ vựng thường được sử dụng để tính thái hoá câu tiếng Việt
Vì dụ:
(47) Nó sẽ đến đấy! (Il viendra!)
(48) Hẳn là nó đến đấy mà! (Certes, il viendra !.)
Xét hai câu nói trên đây, trợ từ "sẽ" đứng trước vị ngữ "đến" biểu thị thời tương lai Các yếu tố "đấy", "đấy mà" được đặt cuối câu, cạnh vị ngữ, là
những trợ từ tạo cho sắc thái câu nói vừa khẳng định vừa có ý nhấn mạnh một
xác nhận nào đó về sự việc mà người nói đề cập trong câu Sự việc "nó đến"
là trong tương lai và là sự việc được xác nhận khẳng định của người nói
Liên hệ đến các ngôn ngữ biến hính như trong tiếng Pháp, cũng có thể thấy được tính thái của câu nói được biểu hiện bằng phương tiện này Đó là những phương tiện ngữ pháp gắn liền với vị ngữ, gắn kết trong động từ có chức năng ngữ pháp biểu thị thời cũng vừa biểu thị tính thái
Vì dụ: Thời tương lai thức chỉ định:
Trong tiếng Pháp và tiếng Việt có vài điểm tương đồng về mặt sử dụng các phương tiện từ vựng - ngữ pháp để biểu đạt TTNT trong câu, như sử dụng
các động từ tính thái: savoir (biết), penser (nghĩ), croire (tin tưởng), trouver
(thấy), douter (nghi), vv kết hợp với chủ ngữ "Je" (tôi) tạo thành mệnh đề tính
thái Đây là kiểu câu thường được gọi là câu ghép; mà mệnh đề chình (thành phần chình ) ở kiểu câu này biểu thị tính thái, còn mệnh đề phụ (thành phần phụ) biểu thị nội dung cốt lõi của câu
Trang 36Vì dụ:
(51) Je pense qu'il viendra (Tôi nghĩ rằng nó sẽ đến.)
Khi phân tìch cấu trúc ngữ nghĩa của câu, nếu tách mệnh đề phụ "nó sẽ đến" thành ra câu đơn độc lập thí câu đơn này có tính thái khẳng định Nhưng
khi kết hợp với động từ "nghĩ" trong cấu trúc "tôi nghĩ rằng" + P, cấu trúc ngữ nghĩa mang tình chất chủ quan do nghĩa của động từ "nghĩ", động từ biểu thị
trạng thái tinh thần được kết hợp với chủ ngữ vừa là chủ ngôn, làm cho câu nói
có một tính thái khác Tình chất khẳng định bị giảm bớt do sự kết hợp của yếu tố tính thái này trong câu
Bằng kiểu loại câu ghép này, phương tiện tính thái hoá của hai thứ tiếng
sẽ được chúng tôi chú trọng đề cập trong quá trính phân tìch tình tính thái câu ở các chương sau Chúng tôi cũng sẽ đề cập đến một số biểu thức ( một tập hợp từ ) chỉ tính thái ( một số nhà nghiên cứu gọi là quán ngữ ): như các giới ngữ ( quán ngữ), trạng ngữ, ngữ cố định hay định ngữ v.v và một số trạng từ không thuộc cấu trúc cú pháp của P Chúng là những yếu tố được kết hợp với phương tiện
ngữ pháp trong mệnh đề trong việc biểu thị tính thái câu nói như : peut-être
(có thể), certes (chắc hẳn), en réalité, au fond, au vrai, à la vérité (thực ra), certainement, sûrement, évidemment (chắc là, đương nhiên là), après tout (xét cho cùng), il est certain ( chắc là ), il est possible ( có thể ), il est clair ( rõ ràng ) vv
Vì dụ:
(52) Au vrai, il se sentait isolé, mis de côté (14 tr 136)
(Sự thực là cậu thấy mính cô độc, bị gạt ra ngoài ría.) (53) Sans doute, il y a un voleur (19 tr 92)
(Chắc là có một tên trộm.)
(54) Peut-être ne fais - je que renforcer leurs tendances (14 tr 194)
(Có thể là anh chỉ làm cho khuynh hướng của họ mạnh thêm.)
Yếu tố "Au vrai" (sự thực là) trong (52) kết hợp với thời imparfait và thức indicatif (thức chỉ định) của NDMĐ Phương thức kết hợp này biểu thị tính thái hiện thực
1.3 Vấn đề phân loại tình thái
Trang 37Về việc phân loại tính thái hiện nay, các nhà ngôn ngữ học có những cách phân loại khác nhau và sử dụng những thuật ngữ để đặt tên cho các kiểu tính thái
có phần khác nhau Chung quy các hướng phân chia được cụ thể hoá như sau:
1.3.1 Tình thái ngôn ngữ - Tình thái sử dụng
- Tính thái ngôn ngữ
Bao gồm các phương tiện biểu đạt tính thái: Ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, các kiểu câu, vv Tính thái ngôn ngữ tồn tại khách quan trong ngôn ngữ theo quy ước
1.3.2 Tình thái của hành động phát ngôn - Tình thái của phát ngôn
Đa số các nhà ngôn ngữ học đã đề cập đến hai loại tính thái này trong khi phân tìch một phát ngôn
- Tính thái của hành động phát ngôn
Là ý định của người nói trong việc thực hiện một hành động nào đó khi nói Nói cách khác, thực hiện một hành động nào đó bằng ngôn ngữ Hành động nói rất phong phú cho nên tính thái của hành động nói cũng rất phong phú Như khi nói là biểu hiện hành vi: chào, hỏi, xin lỗi, cảm ơn, giải thìch, sai khiến, biểu lộ tâm trạng, vv
- Tính thái của phát ngôn
Tính thái của phát ngôn chỉ quan hệ, thái độ, cách đánh giá của người nói đối với cái được nói đến trong câu bao gồm nhiều nội dung khác nhau Trong câu các yếu tố tính thái có thể có tầm tác dụng khác nhau: có trường hợp yếu tố tính thái tác động lên toàn câu hay mệnh đề, có trường hợp chỉ tác động lên một từ hay một cụm từ
Trang 38Tác giả Diệp Quang Ban trong khi bàn về vấn đề tính thái câu ông cũng đã phân biệt tính thái thành hai loại: Tính thái của hành động phát ngôn
và tính thái của phát ngôn Theo ông, tình thái của hành động phát ngôn là
chủ định (ý chí, ý muốn, còn gọi là cái đích, mục đích) của người nói trong việc thực hiện một hành động nào đó bằng phương tiện ngôn ngữ [1]
Vì dụ:
(55) Loan sắp đến đấy
Câu nói thực hiện một thông báo
Tính thái của phát ngôn là thái độ, cách đánh giá của người nói đối với cái được nói đến trong câu, tức là sự việc, hiện tượng được diễn đạt ở phần miêu tả của câu
Vì dụ:
(56) Hình như chiếc xe tải đâm vào xe con đấy.( dẫn theo 1)
"Hình như" trong câu là một yếu tố tính thái cho thấy người nói thừa
nhận rằng nhận định của mính về việc xảy ra là chưa chình xác, chưa có bằng chứng cụ thể, là không tất yếu
1.3.3 Tình thái khách quan - Tính thái chủ quan
E.Benveniste, trong công trính ngôn ngữ học đại cương (1966), nhiều lần nhấn mạnh dạng thức của lời nói: tình khách quan và tình chủ quan trong lời nói Sự phân biệt này rất có ý nghĩa khi ta đề cập đến các phát ngôn và hành động phát ngôn Có nghĩa là trong phát ngôn chứa đựng tính thái khách quan đồng thời mang tình chủ quan Bởi ví trong giao tiếp hàng ngày, lời nói
là sản phẩm của hành động nói mang tình chủ quan của người nói nhưng đồng thời lại chứa đựng nhân tố khách quan Lời nói là sản phẩm chủ quan thể hiện
ở âm sắc, giọng nói, ở cách dùng từ, cách chọn câu, ở sự sử dụng ngôn từ trong những tính huống cụ thể Nó mang dấu ấn cá nhân [83]
Sự mơ hồ của tính khách quan và chủ quan trong lời nói
C Kerbrat Orecchioni, trong cuốn “L'énonciation”, khi phân tìch tình chủ quan trong lời nói, tác giả đề cập đến sự mơ hồ của các thuật ngữ "tình khách quan" ("objectivité") và "tình chủ quan” ("subjectivité") của phát ngôn [108 tr 165 - 173]
Trang 39Theo C Kerbrat Orecchioni, sự mơ hồ thứ nhất của thuật ngữ "chủ quan" là do từ các yếu tố có liên quan đến ngữ nghĩa của lời nói trong giao tiếp, đó là:
- Tính huống hoặc ngữ cảnh của phát ngôn
- Lối sử dụng ngôn từ còn tuỳ thuộc vào nền văn hoá, tư tưởng, niềm tin, hy vọng của người nói
Sự mơ hồ thứ hai là tình chủ quan của lời nói có thể được thể hiện bằng hiển ngôn hoặc được thể hiện một cách hàm ẩn trong câu
Theo tác giả, những sự mơ hồ trên đây là vấn đề khó khăn trong việc phân biệt tình chủ quan và tình khách quan trong lời nói
Vì dụ:
(57) Je trouve que c'est beau [dẫn theo 108 tr 168] (Tôi thấy là đẹp đấy.)
(58) C'est beau ! (dẫn theo 108 tr 168) ( Đẹp đấy!)
Trong câu (57), cách đánh giá thẩm mỹ của chủ ngôn, thể hiện tính thái
ý kiến cá nhân người nói Trong lúc đó ở câu (58), sự đánh giá này được tách khỏi chủ ngôn, là sự đánh giá có "hiệu quả khách quan" (effet d'objectivité") Khả năng sử dụng cấu trúc trong câu (58) là được người nói đặt tiền giả định,
xem như người nghe đồng tính về sự vật đang được đặt vấn đề Câu (57) ("Je
trouve que c'est beau") thể hiện sự đánh giá của cá nhân người nói ở cấp độ mà
họ không chắc chắn lắm về hiểu biết chuẩn mực thẩm mỹ của mính nên có
những rào đón Trong "C'est beau !" ("Đẹp đấy !") thí chủ ngôn nói thẳng,
khách quan đánh giá ví họ tự cho mính hiểu biết chuẩn mực thẩm mỹ chung về
cái đẹp Vậy trong "C'est beau" vẫn được ngầm hiểu với dụng ý đánh giá của chủ ngôn mang tình áp đặt hơn câu (57) "Je trouve que c'est beau" ("Tôi thấy
rằng cái ấy đẹp") C Kerbrat Orecchioni cho rằng câu (58) (C'est beau) mang
dấu ấn chủ quan được khách quan hoá Nhưng chình phát ngôn này thể hiện hành động phát ngôn chủ quan
Tóm lại những dấu ấn chủ quan trong các phát ngôn trên có thể được thể hiện trong ba tính thái sau:
- Người nói ngầm đánh giá sự việc là tất yếu một cách thẳng thắn Như trong câu "C'est beau"
Trang 40- Người nói có thể tính thái hoá câu với những yếu tố TTNT để biểu đạt ý kiến cá nhận về một trạng thái, một cách hiển ngôn, được xem như nói
có rào đón
- Người nói có thể sử dụng những yếu tố ngôn ngữ để biểu đạt phán xét, đánh giá của mính xuất phát từ thực chất hoặc khả năng của sự việc, được
tiền giả định bằng những từ vựng trong câu như savoir (biết), trouver (thấy)
.v.v để phát ngôn có một "hiệu quả khách quan" (effet d'objectivité)
Theo tác giả, những hính thức biểu đạt tính thái phát ngôn bằng các động
từ TTNT kết hợp với chủ ngữ "Je" (tôi) như: "je crois" (tôi tin), "je pense" (tôi
nghĩ), "je sais" (tôi biết),vv có liên quan đến sự tri nhận được tiền giả định,
hoặc cảm nghĩ hay tầm nhín tư duy của người nói trong phát ngôn Điều này thể hiện một khoảng cách khách quan trong phát ngôn Về mặt sử dụng, các từ tính thái hiển ngôn có mặt trong câu đồng thời cũng biểu hiện giá trị tình khách quan Tình khách quan này là ở chỗ không gây áp đặt cho người nghe về sự phán xét, sự đánh giá hoặc ý kiến phát biểu của người nói trong sự việc được bàn đến
Tác giả cũng cho rằng trong lời nói người ta càng thể hiện tình chủ quan bao nhiêu thí lời nói càng khách quan bấy nhiêu Tác giả cho câu (57)
"Je trouve que c'est beau" là khách quan hơn câu (58) "C'est beau" Bởi ví từ
những tình mơ hồ trong lối diễn đạt như đã chứng minh trên đây, người ta có
thể cho rằng "C'est beau" phát ngôn mang tình chủ quan ngầm và áp đặt của
cá nhân người nói Trong lúc đó câu "Je trouve que c'est beau" bằng hiển
ngôn người nói biểu hiện sự tri giác của họ đối với vấn đề được đặt ra Mức
độ chân thực của sự đánh giá, phán xét còn tuỳ thuộc vào sự lựa chọn mang tình khách quan về sự vật do người nghe đánh giá và kiểm chứng
Theo C Kerbrat Orecchioni (1999), "thực hữu /phản thực hữu/ không thực hữu: Ba phạm trù này là vấn đề của tính thái hoá."
("Vrai/ faux/ incertain: C'est le problème de la modalisation.”)[108 tr 114]
Quá trính phân tìch tình chủ quan trong phát ngôn, bà không đề cập đến thuật ngữ "tính thái khách quan và tính thái chủ quan" của câu Có thể do bà nhận thấy được tình chất mơ hồ của tình khách quan và tình chủ quan trong