the comparative" trong tiếng Anh và tương đương trong tiếng Việt 144 Bảng 3.11 Mô hình cấu trúc so sánh kép trong tiếng Anh và tương đương trong tiếng Việt 146 Bảng 4.1 Mô hình cấu trúc
Trang 1-oOo -
LƯU QUÝ KHƯƠNG
CÁC PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN Ý NGHĨA
SO SÁNH TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
(So sánh thang độ)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Hà Nội, 2003
Trang 2-oOo -
LƯU QUÝ KHƯƠNG
CÁC PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN Ý NGHĨA
SO SÁNH TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
(So sánh thang độ)
Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
GS TS HOÀNG TRỌNG PHIẾN
Hà Nội, 2003
Trang 3BẢNG VIẾT TẮT, KÝ HIỆU VÀ QUI ƢỚC TRÍCH DẪN
B Qui định cách ghi nguồn trích dẫn và xuất xứ các ví dụ
Trong phần “Tài liệu tham khảo và Tư liệu để dẫn chứng và thống kê tần số” từ trang 198 đến trang 216, chúng tôi đánh số liên tục từ phần A (Tài liệu tham khảo) đến phần B (Tư liệu để dẫn chứng và thống kê tần số) gồm từ
số thứ tự (1) đến (245) Trong quá trình trích dẫn tài liệu tham khảo và các ví
Trang 4dụ, chúng tôi báo cáo nguồn bằng những số thứ tự sau đó trong ngoặc vuông Một số ví dụ chúng tôi tự thiết kế nên phía sau không được ghi chú nguồn xuất xứ và một số ví dụ chúng tôi ghi chú nguồn trực tiếp phía sau vì xuất xứ của chúng không có trong danh mục “Tài liệu tham khảo và Tư liệu để dẫn chứng và thống kê tần số”
Trang 5DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ BẢNG
Trang
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Hệ thống hai bậc lưỡng phân các quan hệ so sánh 18
Sơ đồ 1.2 Các mối quan hệ so sánh giữa hai thực thể X và Y 20
Sơ đồ 1.5 Quá trình xảy ra so sánh bậc ngang bằng và hơn / kém 36
Sơ đồ 1.7 Phân loại cấu trúc so sánh trong tiếng Anh và tiếng
Bảng 2.3 Mô hình cấu trúc của so sánh ngang bằng với “as as"
và tương đương trong tiếng Việt
59
Bảng 2.4 Mô hình cấu trúc của so sánh ngang bằng với “as if”;
“as though” và tương đương trong tiếng Việt
72
Bảng 2.5 Mô hình hoá cấu trúc so sánh ngang bằng thang độ với
“as as if/ though” trong tiếng Anh và cấu trúc tương
đương trong tiếng Việt
75
Bảng 2.6 Mô hình cấu trúc với cụm từ “like” biểu đạt sự giống 79
Trang 6nhau về vị ngữ và tương đương trong tiếng Việt
Trang 7Bảng 2.7 Mô hình hoá cấu trúc với "like + cụm danh từ" làm vị
ngữ trong câu so sánh và tương đương trong tiếng Việt
81
Bảng 2.8 Mô hình cấu trúc với "cụm từ like" làm bổ ngữ sau cho
một danh từ khác trong câu và tương đương trong tiếng
Việt
83
Bảng 2.9 Mô hình cấu trúc so sánh với "Like + mệnh đề" và tương
đương trong tiếng Việt
84
Bảng 2.10 Mô hình cấu trúc so sánh với "the same as" và tương
đương trong tiếng Việt
89
Bảng 3.1 Mô hình cấu trúc so sánh hơn với "more than" và
tương đương trong tiếng Việt
107
Bảng 3.2 Mô hình cấu trúc so sánh với "more than" và tương
đương trong tiếng Việt
111
Bảng 3.3 Cấu trúc so sánh đối lập trong tiếng Anh và tương đương
trong tiếng Việt
113
Bảng 3.4 Mô hình hoá cấu trúc so sánh hơn "-er than " khi không
có yếu tố chêm xen trong tiếng Anh và cấu trúc tương
đương trong tiếng Việt
118
Bảng 3.5 Mô hình cấu trúc so sánh hơn với "prefer" và cấu trúc
tương đương trong tiếng Việt
121
Bảng 3.6 Mô hình hoá cấu trúc so sánh hơn với "would rather"
trong tiếng Anh và tương đương trong tiếng Việt
125
Bảng 3.7 Mô hình cấu trúc so sánh với "rather than" và tương
đương trong tiếng Việt
127
Bảng 3.8 Mô hình cấu trúc so sánh kém "less than " và tương
đương trong tiếng Việt
130
Bảng 3.9 Mô hình cấu trúc với "less than " và tương đương trong 131
Trang 8tiếng Việt
Bảng 3.10 Mô hình cấu trúc so sánh tương liên "the comparative
the comparative" trong tiếng Anh và tương đương
trong tiếng Việt
144
Bảng 3.11 Mô hình cấu trúc so sánh kép trong tiếng Anh và tương
đương trong tiếng Việt
146
Bảng 4.1 Mô hình cấu trúc so sánh nhất với "Most" và tương
đương trong tiếng Việt
159
Bảng 4.2 Mô hình cụm từ với "most" biểu thị số lượng và tương
đương trong tiếng Việt
162
Bảng 4.3 Mô hình cấu trúc so sánh hơn nhất với "-est" và tương
đương trong tiếng Việt
167
Bảng 4.4 Mô hình cấu trúc so sánh kém nhất với "least" và tương
đương trong tiếng Việt
169
Bảng 4.5 Mô hình cấu trúc so sánh khác biệt với "different" và
tương đương trong tiếng Việt
183
Bảng 4.6 Mô hình cấu trúc biểu hiện ý nghĩa khác biệt với "else"
và tương đương trong tiếng Việt
190
Trang 91.1.2.1 So sánh theo quan niệm của các nhà ngôn ngữ học trên
thế giới
12
1.2 Phương thức ngữ pháp biểu hiện ý nghĩa so sánh 20
Trang 101.2.2.2 Phương thức thay chính tố (supletion) 22
1.3 Lý thuyết thang độ và cấu trúc so sánh 22
1.3.2.2 Tính cam kết (committedness) trong cấu trúc so sánh của
cặp từ trái nghĩa có thang độ
27
CHƯƠNG 2: CÁC PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN Ý NGHĨA SO
SÁNH NGANG BẰNG TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
40
2.1 Tổng quan về cấu trúc so sánh ngang bằng 40
2.1.2 Các phương thức biểu hiện ý nghĩa so sánh ngang bằng
trong tiếng Anh và tiếng Việt
41
2.1.2.1 Các phương thức biểu hiện ý nghĩa so sánh ngang bằng
trong tiếng Anh
41
2.1.2.2 Các phương thức biểu hiện ý nghĩa so sánh ngang bằng
trong tiếng Việt
Trang 112.1.4 Phân loại cấu trúc biểu hiện ý nghĩa so sánh ngang bằng
trong tiếng Anh và tiếng Việt
49
2.2 Các cấu trúc biểu hiện ý nghĩa so sánh ngang bằng trong
tiếng Anh và tương đương tiếng Việt
55
2.2.1 Cấu trúc biểu hiện ý nghĩa so sánh ngang bằng có thang độ
với cặp từ "as as "
55
2.2.1.1 Cấu trúc so sánh ngang bằng với cặp từ "as as " 55
2.2.1.2 Một số cấu trúc chứa "as as " có tính thành ngữ 60
2.3 Các phương tiện biểu hiện ý nghĩa so sánh ngang bằng
không có thang độ trong tiếng Anh và tương đương trong tiếng
Việt
67
2.3.2 Cấu trúc với "As if/ As though" và tương đương trong tiếng
Việt
71
2.3.3 Cấu trúc so sánh ngang bằng không có thang độ với "like"
và tương đương trong tiếng Việt
76
2.3.4 Cấu trúc so sánh ngang bằng không có thang độ với "same"
và tương đương trong tiếng Việt
87
CHƯƠNG 3: CÁC PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN Ý NGHĨA SO
SÁNH HƠN/ KÉM TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
95
Trang 123.1 Tổng quan về cấu trúc so sánh hơn/ kém (comparative
comparison)
95
3.1.2 Các phương thức biểu hiện ý nghĩa so sánh hơn/ kém trong
tiếng Anh và tiếng Việt
96
3.1.2.1 Các phương thức biểu hiện ý nghĩa so sánh hơn/ kém
trong tiếng Anh
96
3.1.2.2 Các phương thức biểu hiện ý nghĩa so sánh hơn/ kém
trong tiếng Việt
97
3.2 Các phương tiện biểu hiện ý nghĩa so sánh hơn/ kém trong
tiếng Anh và tương đương trong tiếng Việt
98
3.2.1 Các phương tiện biểu hiện ý nghĩa so sánh hơn trong tiếng
Anh và tương đương trong tiếng Việt
98
3.2.1.1 Cấu trúc so sánh hơn với "more than " và tương đương
trong tiếng Việt
98
3.2.1.2 Cấu trúc so sánh hơn với "-er than ." và tương đương
trong tiếng Việt
3.2.2 Cấu trúc biểu hiện ý nghĩa so sánh kém trong tiếng Anh và
tương đương trong tiếng Việt
128
3.2.3.2 Cấu trúc so sánh hơn/ kém với tính từ có nguồn gốc từ
tiếng La tinh
138
Trang 133.2.3.3 Cấu trúc so sánh tương liên (correlative comparative
construction) "the comparative the comparative"
139
3.2.3.4 Cấu trúc so sánh kép (double comparative construction)
"comparative and comparative"
145
CHƯƠNG 4: CÁC PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN Ý NGHĨA SO
SÁNH BẬC NHẤT VÀ SO SÁNH KHÁC BIỆT TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
4.1.2 Các phương thức biểu hiện ý nghĩa so sánh bậc nhất trong
tiếng Anh và tiếng Việt
4.2 Các phương tiện biểu hiện ý nghĩa so sánh bậc nhất trong
tiếng Anh và tương đương trong tiếng Việt
154
4.2.1 Cấu trúc biểu hiện ý nghĩa so sánh hơn nhất trong tiếng Anh
và tương đương trong tiếng Việt
154
4.2.1.1 Cấu trúc so sánh hơn nhất với "most"và tương đương
trong tiếng Việt
154
4.2.1.2 Cấu trúc so sánh hơn nhất với hậu tố "-est"và tương
đương trong tiếng Việt
164
4.2.2 Cấu trúc biểu đạt ý nghĩa so sánh kém nhất trong tiếng Anh
và tiếng Việt
167
Trang 144.2.3 Một số cấu trúc so sánh nhất biến đổi không qui tắc
(irregular superlative comparison)
4.4 Các phương tiện biểu hiện ý nghĩa so sánh khác biệt trong
tiếng Anh và tương đương trong tiếng Việt
180
4.4.1 Cấu trúc so sánh khác biệt với "different" và tương đương
trong tiếng Việt
Trang 15MỞ ĐẦU
1 Tính vấn đề và ý nghĩa của luận án
1.1 Tính vấn đề của luận án
Con người từ khi bắt đầu nhận thức thế giới khách quan đã thực hiện
các thao tác so sánh để hiểu biết về môi trường chung quanh và bản thân để
tồn tại và phát triển Chính vì thế, binh pháp cổ có câu: "Biết người, biết ta,
trăm trận trăm thắng" Là một phạm trù của tư duy, so sánh phản ánh thực tế
khách quan và cách thức tư duy bằng các phương tiện của mình Tuy là một
phạm trù phổ niệm, nhưng cách biểu hiện ý nghĩa so sánh trong các ngôn ngữ
lại không hoàn toàn giống nhau Xét các câu tiếng Anh và câu tương đương
trong tiếng Việt dưới đây:
(1) Johnny is the same age as Pete [184:150]
(Johnny bằng tuổi Pete)
(2) Johnny is as old as Pete [184:150]
(Johnny bằng tuổi Pete)
(1) và (2) mang ý nghĩa so sánh ngang bằng (SSNB) với hai phương
tiện biểu hiện khác nhau: ở (1) là cụm từ "the same as"; ở (2) là cặp tương
liên “as as ” Trong khi đó, yếu tố tương đương trong tiếng Việt của cả câu
hai là từ "bằng " Lại xét tiếp câu sau đây:
(3) He loves the dog more than his wife [177: 332]
(Anh ta yêu con chó hơn vợ anh ta)
(3) là một câu biểu hiện ý nghĩa so sánh hơn nhưng lại mang yếu tố mơ
hồ (ambiguity) vì có thể hiểu theo hai cách thể hiện ở câu (4) và (5) dưới đây
(4) He loves the dog more than his wife loves the dog [177: 332]
Trang 16(Anh ta yêu con chó hơn vợ anh ta yêu nó)
(5) He loves the dog more than he loves his wife [177: 332] (Anh ta yêu con chó hơn yêu vợ mình)
Khi nghe hay đọc câu (3), người ta phải hiểu theo nghĩa (4) hay (5)? Trừ phi
sự mơ hồ được cố ý tạo ra, việc nghiên cứu cách diễn đạt những câu so sánh như (3) cho tường minh hơn sẽ có lợi cho giao tiếp ngôn ngữ
Ngoài ra, có những trường hợp người học khá lúng túng khi tìm cách hiểu và dịch một số câu so sánh tiếng Anh sang tiếng Việt Câu (6) dưới đây
là một ví dụ
(6) He spoke as calmly as he could: " Do you really think so"? [228, 143]
(Anh ta hỏi hết sức bình tĩnh: "Cậu thực sự nghĩ như vậy sao?")
Không thể dịch (6) ra tiếng Việt theo cách dịch từng từ (word - by- word translation) là “Anh ta hỏi bằng bình tĩnh như anh có thể”
mà phải là “Anh ta hỏi hết sức bình tĩnh” “Hết sức” nói đến một mức độ rất cao Như vậy, về hình thức, “as calmly as he could” là một cụm từ so sánh
ngang bằng nhưng nội dung thông tin lại không biểu đạt ý nghĩa so sánh
ngang bằng Cấu trúc này mang tính thành ngữ, nếu không nắm được đặc trưng này, việc hiểu sai là điều khó tránh vì như Baker [70, 8] nhận xét:
“Những câu so sánh là rất phức tạp về cả cú pháp lẫn ngữ nghĩa”
Những điều nêu trên cho thấy nghiên cứu các phương thức biểu hiện ý
nghĩa so sánh trong tiếng Anh và tiếng Việt là một việc làm cần thiết đối với
thực tiễn dạy- học tiếng Anh và tiếng Việt ở Việt Nam hiện nay Một công
trình như thế, một mặt giúp người học hiểu đúng, dùng đúng và dịch đúng các
câu so sánh trong hai ngôn ngữ; mặt khác, sẽ cung cấp thêm cho người học
một số phương tiện sử dụng ngôn từ tinh tế “làm cho lời nói có xương, có
thịt” [48, 132]
Trang 171.2 Ý nghĩa của luận án
1.2.1 Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu các phương thức biểu hiện các ý nghĩa so sánh cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa tư duy và ngôn ngữ So sánh là một thao tác của tư duy và đã được hiện thực hoá thành lời nói bằng các cấu trúc đặc trưng của
nó: cấu trúc so sánh Sự nghiên cứu còn làm sáng rõ thêm một số nguyên lý
của lý thuyết hội thoại
Hơn nữa, đối chiếu các cấu trúc diễn đạt ý nghĩa so sánh trong tiếng Anh và tiếng Việt sẽ phát hiện ra những thông tin mới về đặc trưng loại hình của hai ngôn ngữ gắn với hai nền văn hoá riêng với hai tập quán sử dụng ngôn ngữ riêng
Ngoài ra, qua nghiên cứu, luận án phát hiện và đề xuất thêm một số loại cấu trúc so sánh trước nay chưa từng được đề cập đến trong các công trình ngữ pháp tiếng Anh cũng như tiếng Việt
1.2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trong xu thế mở cửa và hội nhập của Việt Nam vào cộng đồng thế giới,
ngôn ngữ là một công cụ hữu hiệu giúp hiện thực hoá tư tưởng “Việt Nam
muốn làm bạn với tất cả các nước” Luận án cung cấp những hiểu biết cần
yếu về cách kiến tạo câu so sánh, nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ tinh tế cho người học Điều đó giúp quá trình hội nhập quốc tế của chúng ta được thuận lợi hơn
Sự đối chiếu thực hiện trên tiếng Anh và Việt sẽ chỉ ra những điểm tương đồng, dị biệt giữa hai ngôn ngữ về cách biểu hiện nghĩa so sánh giúp người Việt Nam học tiếng Anh lẫn người nước ngoài học tiếng Việt vượt qua được những trở ngại và những chuyển di tiêu cực khi dịch câu so sánh từ Anh sang Việt hoặc ngược lại, góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học tiếng Anh ở nước ta và dạy tiếng Việt cho người nước ngoài
Trang 182 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Cho đến nay, hầu hết các sách ngữ pháp tiếng Anh đều có trình bày
khái quát các cấu trúc so sánh với ba hình thức cơ bản là bằng nhau, hơn/ kém
và nhất Trong lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu, bắt đầu từ Jespersen [133]
đến Quirk [176], Givón [111] cho đến Huddleston [127] có thể thấy cấu trúc
so sánh tiếng Anh được tiếp cận từ hai hướng: hướng từ góc độ cú pháp và hướng theo quan điểm của ngữ nghĩa học
Theo hướng thứ nhất, dựa vào ngữ pháp cải biến (transformational
grammar), Lees [147] cố gắng đưa ra một số quy tắc mà dựa vào đó người ta
có thể tạo ra các câu so sánh chứa các giới từ “as” và “than” Pilch [170] phân tích câu so sánh ra các thành tố trực tiếp (immediate constituent analysis) để
khảo sát Huddleston [125], [126] tiếp tục hướng nghiên cứu của Pilch nhưng tập trung vào thành phần được gọi là phần mở rộng của cấu trúc so sánh (comparative expansion) Tuy nhiên, ba tác giả trên chỉ đề cập đến một số cấu
trúc so sánh hơn kém và ngang bằng Bresnan [81], [82] phân tích cấu trúc
sâu của câu so sánh trên cơ sở các qui tắc chuyển đổi và cắt giảm (deletion)
cùng sự phân bổ của more, as, much, many, trong các cụm từ chỉ lượng
(QP) và cụm tính từ (AP) Chẳng hạn, theo Bresnan, câu:
(7) John is taller than Bill ( John cao hơn Bill) có cấu trúc sâu như sau:
[s John is [AP [QP x - much tall] [comp than [s Bill is [AP [QP @ much
Các nghiên cứu về cấu trúc so sánh trên quan điểm ngữ nghĩa xuất hiện vào những năm 80 và 90 của thế kỷ XX Đáng chú ý là Rusiecki [184] với
công trình “Adjectives and Comparison in English” trong đó tác giả tập trung
nghiên cứu tính từ và các cấu trúc so sánh có tính từ làm vị ngữ Ryan [186]
với “A Grammar of the English Comparative” cố gắng tạo ra một hệ thống ngữ pháp của cấu trúc so sánh xoay quanh các cấu trúc so sánh hơn/ kém với
Trang 19"-er” và “more”; Stassen [194] khảo sát những cấu trúc so sánh không bằng
nhau với hai đối tượng so sánh là hai cụm danh từ trong khuôn khổ của ngữ
pháp phổ quát loại hình (typological universal grammar); Mitchell [160] với
quan niệm số lượng (quantity) cũng là mức độ (degree) xác định mối quan hệ
giữa cú pháp và ngữ nghĩa trong cấu trúc so sánh chỉ mức độ Collins [88] và
Huddleston [127] phân chia cấu trúc so sánh tiếng Anh dựa trên sự giao nhau
của hai khái niệm ngang bằng (equality)và thang độ (scalarity) vạch ra một
hướng tiếp cận vấn đề mới và đây cũng là cơ sở để phân loại trong luận án này
Trong tiếng Việt, Nguyễn Đăng Liêm [151] có lẽ là người đầu tiên đối chiếu cấu trúc so sánh tiếng Anh và tiếng Việt, nhưng tác giả chỉ mới đưa ra được các công thức so sánh tính từ tiếng Anh đối sánh với so sánh tính từ
tiếng Việt ở cấp độ hơn, bằng và ít hơn và so sánh với danh từ chỉ lượng số ít
và số nhiều Nguyễn Kim Thản [49] xác nhận sự tồn tại của câu so sánh trong
tiếng Việt nhưng chưa phân tích cụ thể Nguyễn Đức Dân và Nguyễn Thị Yên [7] và Nguyễn Đức Dân [8], [9] nêu lên khái niệm thang độ trong so sánh và hiện tượng từ vựng hoá những từ ngữ để so sánh trên thang độ Hoàng Trọng Phiến [40] đề nghị sáu nhóm mô hình câu so sánh trong tiếng Việt, chủ yếu là câu so sánh ngang bằng Đào Thản [48], Đinh Trọng Lạc [30], Nguyễn Thái
Hoà [22], Nguyễn Thế Lịch [36] khảo sát các câu so sánh ngang bằng tu từ
học Hữu Đạt [11] đề nghị một số mô hình của cấu trúc so sánh “ngang bằng”, “hơn kém” và “nhất” Tuy nhiên, tác giả không phân tích sâu cơ chế
hoạt động của các thành tố tạo nên câu so sánh Tăng Kim Uyên [199] đối
chiếu cấu trúc so sánh hơn kém tiếng Anh và tiếng Việt và rút ra được một số
nét tương đồng và dị biệt Bùi Phụng và Nguyễn Chí Hoà [44] bước đầu
nghiên cứu ý nghĩa so sánh đối chiếu động chủ yếu là việc xác lập một số mô hình cấu trúc so sánh tương liên (correlative comparative) kết hợp với các
Trang 20động từ chỉ sự phát triển như trở thành, trở nên Nguyễn Thị Ngân Hoa [21]
nghiên cứu ảnh hưởng của sự thay đổi chuẩn so sánh đến giá trị biểu hiện của một số cấu trúc so sánh trong thơ Xuân Diệu
Bức tranh chung về tình hình nghiên cứu các phương thức biểu hiện ý
nghĩa so sánh trong tiếng Anh và tiếng Việt cho thấy đây là một lĩnh vực "có
vấn đề ” còn nhiều điều có thể nghiên cứu và đặc biệt có một mảng trong lĩnh
vực này hoàn toàn chưa đuợc đề cập tới là câu so sánh khác biệt Như vậy,
một công trình nghiên cứu đầy đủ về các phương thức thể hiện ý nghĩa so sánh thang độ theo cái nhìn đối chiếu vẫn có ít nhiều đóng góp về mặt lý luận lẫn thực tiễn cho ngôn ngữ học nói chung và cho việc dạy - học tiếng Anh như một ngoại ngữ nói riêng ở Việt Nam
3 Mục đích của luận án
Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề sau đây:
1 Xác lập khái niệm so sánh và các quan hệ so sánh trong cấu trúc so sánh tiếng Anh và tiếng Việt
2 Khảo sát, miêu tả, phân loại, mô hình hoá, thống kê tần số xuất hiện của các cấu trúc biểu hiện ý nghĩa so sánh trong tiếng Anh và tiếng Việt
3 Tìm ra những tương đồng, dị biệt giữa các phương thức biểu hiện ý nghĩa so sánh trong tiếng Anh và tiếng Việt, rút ra những nhận xét khái quát
và lý giải nguyên nhân dẫn đến những điểm dị đồng giữa hai ngôn ngữ về cách biểu hiện ý nghĩa so sánh
4 Đưa ra kiến nghị về ứng dụng kết quả nghiên cứu của luận án vào giảng dạy, dịch thuật và biên soạn sách giáo khoa liên quan đến cấu trúc so sánh tiếng Anh và tiếng Việt
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận án nghiên cứu các phương thức, phương tiện biểu hiện ý nghĩa so sánh có thang độ trong tiếng Anh đối chiếu với tiếng Việt, cụ thể là các kết
Trang 21cấu ngữ pháp để biểu đạt các ý nghĩa bằng, hơn/ kém, nhất và khác biệt Các
phương tiện đó có thể là:
a) Một kết cấu ngữ pháp trong đó thành tố so sánh (comparative element) là một từ
(8) So now Della's beautiful hair fell about her rippling and shining like a
cascade of brown waters [226, 70]
(Lúc này Đê-lơ buông làn tóc rủ quanh người nàng Làn tóc gợn sóng óng
ánh như một thác nước màu nâu)
(9) “Holy water ?" she said, "I think I prefer whisky” [228, 123] (“Nước thánh à ?” Cô ta nói, ” Tôi nghĩ tôi thích rượu uýtxki hơn”)
b) Một kết cấu ngữ pháp trong đó thành tố so sánh là một cụm từ
(10) There was silence as deep and mysterious as the flat sandy country that
extended mile after mile in every direction [226, 98]
(Không gian lặng lẽ sâu thẳm và huyền bí như nền đất cát bằng phẳng trải
rộng hàng bao nhiêu dặm về mọi hướng)
(11) They consider it the most perfect work of art the world has any
(12) The more Teddy pondered his plan, the more convinced he became that
(Càng cân nhắc về kế hoạch của mình, Teddy càng tin rằng Ngài Aaron Like
sẽ thắng cử)
Trang 22Sự mơ hồ nghĩa (ambiguity) trong các câu so sánh cũng sẽ được phân
tích và đề xuất cách khắc phục tùy từng trường hợp để việc sử dụng các câu
so sánh trong giao tiếp được thuận lợi hơn
Ngôn điệu (prosody) và láy (reduplication) cũng có thể biểu hiện ý
nghĩa so sánh nhưng chúng tôi không khảo sát trong luận án vì những vấn đề này đòi hỏi một công trình nghiên cứu đầy đủ khác
Thành ngữ so sánh cũng sẽ được đề cập đến với tư cách là một cấu trúc
so sánh
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Luận án này nghiên cứu các phương thức biểu hiện ý nghĩa so sánh trong tiếng Anh và tiếng Việt Nội dung so sánh được xem như phạm trù ngữ nghĩa chung cho hai ngôn ngữ, cái khác nhau là ở cách thức biểu hiện Vấn đề nghiên cứu vừa thuộc về lĩnh vực cú pháp vừa chịu tác động của ngữ nghĩa học Do đó, mọi lý giải, biện luận đều xuất phát từ mối quan hệ cú pháp
- ngữ nghĩa của cấu trúc so sánh trong thực tiễn giao tiếp Để thuận tiện cho việc phân tích, chúng tôi xuất phát từ tiếng Anh, dựa nhiều vào tiếng Anh Tuy nhiên, trong những trường hợp cần thiết, chúng tôi cũng thực hiện việc đối sánh Việt - Anh để đưa ra những bàn luận làm sáng tỏ sự tương đồng, dị biệt giữa hai ngôn ngữ từ góc độ biểu hiện ý nghĩa so sánh
5.2 Trong quá trình thực hiện luận án, các thủ pháp thống kê, miêu tả,
phân tích, mô hình hoá và so sánh đối chiếu sẽ được sử dụng Khi phân tích
và so sánh, luận án còn sử dụng thêm các thao tác vẫn thường được dùng
trong nghiên cứu ngôn ngữ học như phép lược, phép thế, phép cải biến bộ
phận, và phép chêm xen
5.3 Ngữ liệu để minh hoạ, dẫn chứng sẽ được trích từ các nguồn sau đây:
Trang 23+ Các tác phẩm văn học song ngữ Anh -Việt , Việt -Anh đã được xuất bản
+ Các cuộc phỏng vấn trên mạng Internet do Đài BBC thực hiện từ tháng 12.1997 đến tháng 2.2001
+ Khối liệu hội thoại tiếng Anh (A Corpus of English Conversation) do
J Starvik và R Quirk thu thập, Longman xuất bản năm 1984
+ Các tác phẩm văn học Anh, Mỹ do chúng tôi tự dịch sang tiếng Việt + Từ điển tiếng Anh, Từ điển tiếng Việt, Từ điển Anh- Việt đã được xuất bản tại Việt Nam và nước ngoài
+ Sách ngữ pháp tiếng Anh và tiếng Việt do người bản ngữ viết
+ Các bài nghiên cứu về cấu trúc so sánh tiếng Anh và tiếng Việt đăng trên các tạp chí ngôn ngữ học trong và ngoài nước
5.4 Dữ liệu sẽ được phân tích về cả định lượng lẫn định tính Các mẫu câu sẽ được tách ra các thành tố để miêu tả theo phương pháp quy nạp, sau đó đưa vào mô hình và thống kê tần số xuất hiện
5.5 Về đối chiếu, luận án sẽ bắt đầu từ tiếng Anh, xem tiếng Anh là ngôn ngữ gốc, ngôn ngữ xuất phát, và tiếng Việt là ngôn ngữ đích, ngôn ngữ
để đối chiếu Đôi khi chúng tôi đối chiếu ngược từ các bản gốc tiếng Việt dịch sang tiếng Anh để tìm thêm các biến thể tương đương bổ sung
5.6 Những đề xuất và kiến nghị về dạy, biên soạn sách giáo khoa và những vấn đề về dịch thuật các cấu trúc so sánh tiếng Anh và tiếng Việt, chúng tôi không tách ra thành một chương riêng mà lồng ghép vào các chương ngay sau phần trình bày vấn đề đó
6 Cái mới của luận án
6.1 Đây là luận án đầu tiên khảo sát đối chiếu cấu trúc so sánh trong
tiếng Anh và tiếng Việt trên tất cả các thang độ bằng, hơn/ kém, nhất
Trang 246.2 Lần đầu tiên, các câu mang nghĩa so sánh khác biệt được xem xét
và phân loại với tư cách là một tiểu loại cấu trúc so sánh trong ngôn ngữ
6.3 Luận án đã phát hiện ra những tương đồng, dị biệt giữa cách biểu hiện ý nghĩa so sánh của tiếng Anh với cách của tiếng Việt và cố gắng lý giải nguyên nhân của những điểm dị đồng đó
7 Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận án gồm có bốn chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận của luận án
Chương 2: Các phương thức biểu hiện ý nghĩa so sánh ngang bằng
trong tiếng Anh và tiếng Việt
Chương 3: Các phương thức biểu hiện ý nghĩa so sánh hơn/ kém trong
tiếng Anh và tiếng Việt
Chương 4: Các phương thức biểu hiện ý nghĩa so sánh bậc nhất và so
sánh khác biệt trong tiếng Anh và tiếng Việt
Trang 25CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN ÁN
1.1 Nhận thức về so sánh
Bàn về tính phổ biến của phép so sánh, Macdonald [155,285] viết “So
sánh và đối lập là một phần quá quen thuộc của đời sống hàng ngày đến nỗi chúng ta thường không ý thức được là ta đang dùng chúng” Do tính phổ quát
này mà so sánh đã được đề cập đến nhiều trong triết học và ngôn ngữ học
1.1.1 So sánh theo quan niệm của triết học
Các nhà triết học Liên Xô (trước đây) [57, 506] cho rằng: “So sánh là
đối chiếu các đối tượng nhằm phát hiện ra những nét giống nhau hay những nét khác nhau giữa chúng (hoặc cả hai cái cùng một lúc)” Theo đó, phép so
sánh đã được thực hiện trong các câu dưới đây:
(1) “His eyes were always sad”, Wallis said about Edward “And sometimes
he looked like a child - so young, so quiet and so weak” [239,
82]
(Đôi mắt Thái tử lúc nào trông cũng buồn” Wallis nói về Edward “và đôi khi
trông chàng giống như một đứa trẻ - quá trẻ, quá thầm lặng, quá yếu đuối)
(2) In the old days princes were cold and bored But Edward is different He
gets out of his car and walks down the street Every two or three minutes he stops and speaks with the crowd [239, 74]
(Ngày xưa, các ông hoàng thường tỏ ra lạnh nhạt Riêng Edward lại khác
Ông ra khỏi xe, đi bộ xuống đường phố, cứ vài phút thì dừng lại nói chuyện với đám đông)
Trong câu (1), hai đối tượng X (Thái tử Edward) và Y (đứa trẻ) được
đem so sánh Sự giống nhau là trạng thái trẻ, yếu đuối và thầm lặng Trong
Trang 26câu (2), đối tượng được đem so sánh là các ông hoàng ngày xưa (X) và
Edward cũng là một ông hoàng (Y) Kết quả so sánh, đối chiếu cho thấy sự khác nhau trong cung cách hành xử của hai loại ông hoàng: một bên lạnh
lùng xa cách, một bên nồng nhiệt, gần gũi với nhân dân Nhờ so sánh, đối chiếu, người ta thấy rõ được các thuộc tính bản chất của sự vật cần phản ánh
Vì vậy, các nhà triết học Liên Xô (trước đây) [57, 506] đã đánh giá: “So sánh
là tiền đề quan trọng nhất của khái quát hoá”
1.1.2 So sánh theo quan niệm của ngôn ngữ học
1.1.2.1 So sánh theo quan niệm của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới
Hiện nay có hai khuynh hướng quan niệm về so sánh (comparison)
trong giới Anh ngữ học Một khuynh hướng tách so sánh (comparison) ra
khỏi đối chiếu (contrast) với các đại diện như Oshima, Hogue [168], Jordan
[134], A Macdonald [155] Reid [178, 33] cho rằng “Mục đích của so sánh
là chỉ ra sự giống nhau trong chừng mực nào đó giữa những người, sự vật hay nơi chốn thường được xem là khác nhau” Ví dụ:
(3)“Raising houseplants involves nearly as much care and knowledge as
raising children” [178, 34]
(Trồng cây trong nhà hầu như đòi hỏi nhiều sự chăm sóc và kiến thức như
nuôi trẻ em.)
Hai sự kiện “trồng cây trong nhà” và “nuôi trẻ em” thuộc về hai lĩnh
vực rất khác nhau và dường như không có quan hệ gì nhưng lại giống nhau ở
những yêu cầu phải có để có thể làm tốt được: nhiều sự chăm sóc và kiến
thức
Đối chiếu (contrast), cũng theo Reid [178, 34], là chỉ ra chỗ khác nhau
giữa những người, sự vật hay nơi chốn thường được cho là giống nhau
Ví dụ:
Trang 27(4) Unlike the United States farmers, who harvest rice by using machines, Indonesian farmers use human power [178, 34] (Không như nông dân Hoa Kỳ gặt lúa bằng máy móc, nông dân In đô nê xi a dùng sức người)
Hai sự tình được đem ra đối chiếu là việc thu hoạch lúa của nông dân
Hoa Kỳ và nông dân In đô nê xi a Về mục đích hai công việc này là giống
nhau, nhưng lại rất không giống nhau ở công cụ lao động
Khuynh hướng thứ hai không tách đối chiếu khỏi so sánh: Trong so sánh đã bao hàm đối chiếu Từ điển “BBC English Dictionary” [190,217] ghi
“Khi thực hiện việc so sánh, bạn sẽ xem xét hai sự vật hoặc nhiều hơn và phát
hiện ra sự giống nhau và khác nhau giữa chúng” Tương tự, Từ điển
“Webster‟s New World College Dictionary” [163,283] cũng có ý kiến: “So
sánh là ước lượng về sự giống nhau và khác nhau” Như vậy, hai câu (5) và
(6) sau đây đều chứa đựng sự so sánh:
(5) “Oh, I don't mean you”, she added hastily "You've always been so much
more attractive than me, more poised, slimmer ” [238, 15]
(“Tớ không có ý nói cậu” - Cô vội vàng nói - “Cậu luôn luôn hấp dẫn hơn tớ,
tự tin hơn, thanh tú hơn ”)
(6) Scotch whisky to a Scotchman is as innocent as milk is to the rest of the
human race [243, 46]
(R ượu uýtxki Xcốt đối với người Xcốt len thì vô hại cũng như sữa đối với người dân các nước khác )
Trong câu (5), sự so sánh được thực hiện giữa người nói và bạn gái của
chị ta Kết quả so sánh chỉ ra sự chênh lệch ở một số đặc trưng về vóc dáng và
tính cách Trong câu (6), rượu uýtxki Xcốt đối với người Xcốt len được so
sánh với sữa đối với con người Sự giống nhau là cả hai thứ đều cần thiết
1.1.2.2 So sánh theo quan niệm của các nhà Việt ngữ học
Trang 28Theo Đào Thản [48,132], “So sánh là lối nói đối chiếu hai sự vật hoặc
hai hiện tượng có một hay nhiều dấu hiệu giống nhau về hình thức bên ngoài hay tính chất bên trong” Cùng tuyến quan niệm với Đào Thản, Đinh Trọng
Lạc [32,154] viết: “So sánh (còn gọi là so sánh hình ảnh, so sánh tu từ) là
một biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó người ta đối chiếu hai đối tượng khác loại của thực tế khách quan không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ
có một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giác mới mẻ về đối tượng” Có thể thấy theo các tác giả cho dù mục đích của so
sánh là gì đi nữa thì kết quả so sánh cũng cho ra sự giống nhau hay tương
đương về phương diện nào đó Ví dụ:
(7)“Nỗi buồn chiến tranh trong lòng người lính có cái gì tựa như nỗi buồn
của tình yêu, như nỗi nhớ nhung quê nhà, như biển sầu lúc chiều buông trên bến sông bát ngát" [215,
98]
Trong (7), “nỗi buồn chiến tranh trong lòng người lính” được so với
nhiều nỗi buồn khác, sự giống nhau tri nhận được là “buồn, nhớ và niềm đau
êm dịu"
Hữu Đạt [11, 335] khi khảo sát các biện pháp tu từ ngữ nghĩa trong
tiếng Việt đã phát biểu “So sánh là đặt hai hay nhiều sự vật, hiện tượng vào
các mối quan hệ nhất định nhằm tìm ra sự giống nhau và khác biệt giữa chúng” Từ điển tiếng Việt [58] cũng có quan điểm giống với Hữu Đạt nhưng
cụ thể hơn, chỉ rõ ra những khác biệt là “khác nhau”, hoặc “sự hơn/ kém”
1.1.2.3 Quan niệm của luận án về so sánh
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án đòi hỏi chúng tôi phải xác định một định nghĩa làm việc về so sánh đủ khái quát, cho phép xử lý tốt các mối quan
hệ so sánh đa dạng của ngôn ngữ tự nhiên đồng thời kế thừa được những quan điểm triết học duy vật biện chứng và của các nhà ngôn ngữ học vừa trình bày
Trang 29Dựa vào ngữ pháp khái niệm (notional grammar) của Keith Mitchell [160], ngữ nghĩa học cấu trúc của Lyons [154] và quan điểm về so sánh của
tập thể các nhà ngôn ngữ học biên soạn Từ điển tiếng Việt [58], chúng tôi đề
xuất định nghĩa về so sánh như sau:
“So sánh là nhìn vào thực thể (entity) này mà xem xét thực thể kia để
thấy sự giống nhau, khác nhau hoặc sự hơn kém” Theo định nghĩa này, có
hai điểm cần lưu ý như sau:
a Thực thể được hiểu theo Lyons [154, 442] bao gồm 3 lớp
+ Lớp thực thể thứ nhất (first order entities) là các vật thể vật lý
(physical objects) Xét các câu so sánh tiếng Anh và tiếng Việt sau đây:
(8) Two minnows were no longer than his little finger [226, 24] (Hai con cá tuế không dài hơn ngón tay út của anh ta)
(9) My enemies are stronger than I am [239, 92] (Kẻ thù của tôi mạnh hơn tôi)
(10) Điền nhớ đến câu thơ của một thi sỹ Tây phương ví khoảng trời sao như một cánh đồng [211, 216] (11) Một hôm Phong dẫn về một người đàn bà hơn Phong đến chục tuổi
[217, 190]
Những câu này đều có hai thực thể so sánh: “hai con cá tuế” và “ngón
tay út của anh ta” (câu 8); “kẻ thù của tôi” và “tôi” (câu 9); “khoảng trời sao”
và “cánh đồng” (câu 10); “người đàn bà” và “Phong” (câu 11) Như vậy, các vật thể vật lý thuộc lớp thực thể thứ nhất có thể là động vật (animate) (câu 8,
9, 11) và bất động vật (inanimate) (câu 10) Trong đó, Lyons [154, 442] cho rằng “con người” có vị trí hàng đầu
+ Lớp thực thể thứ hai (second-order entities) bao gồm các "sự kiện"
(events), “quá trình” (processes), “tình trạng” (states-of-affairs) Mitchell [160, 54] gọi chung là các “tình huống” (situations) Các thực thể này, theo
Trang 30Lyons [154, 443], "được định vị trong thời gian và xảy ra chứ không hiện hữu
vốn có" Ví dụ:
(12) Just a few years ago we had huge budget deficits, and Congress spent money faster than it could be printed [233, 25] (Chỉ một vài năm trước đây thôi, chúng ta đã có những khoảng thâm hụt ngân sách khổng lồ và Quốc hội đã tiêu tiền nhanh hơn in tiền) (Tốc độ tiêu tiền
của Quốc hội lớn hơn tốc độ tiền được in)
(13) Cô Phượng ngồi, tay bó gối, trông vừa bé nhỏ, vừa buồn, lại đẹp nữa Trong tôi trào lên cảm giác xót thương, tựa như thương xót chính em gái mình
[217, 138]
Hai thực thể so sánh trong (12) là “tốc độ tiêu tiền của Quốc hội” và
"tốc độ in tiền ra”: đây là hai sự kiện cũng là hai hành động Ở (13), hai thực thể so sánh là “cảm giác xót thương" của người nói dành cho cô Phượng và
“cảm giác xót thương" của người nói dành cho em gái: hai tình trạng Cả (12)
và (13) đều là các quá trình chỉ xảy ra trong những thời điểm xác định chứ không phải là các thuộc tính vốn có
+ Lớp thực thể thứ ba (third order entities) gồm các thực thể trừu
tượng như các mệnh đề (propositions) và “nằm ngoài không gian và thời gian” [154, 443] Ví dụ:
(14) Nigel is more lazy than stupid [160, 54] (Nigel biếng nhác hơn là đần độn)
Hai thực thể so sánh là hai mệnh đề “Nigel is lazy” và “Nigel is stupid”
(15) The airport is located more to the east than to the north [186, 98] (Sân bay nằm về phía Đông chứ không phải phía Bắc)
Hai thực thể so sánh trong (15) biểu thị bằng hai mệnh đề “The airport
is located to the east” và “The airport is located to the north”
Trang 31(16) Bị một con đàn bà gọi đến nhà mà bóp chân ! Hắn thấy nhục hơn là thích [211, 410] (To be called by a woman to massage her legs ! He felt more ashamed than delighted)
Ở (16), hai thực thể so sánh thứ nhất là mệnh đề “Hắn thấy nhục” và thực thể so sánh thứ hai là “Hắn thấy thích”
Quan sát các ví dụ từ (8) đến (16) có thể kết luận rằng, các thực thể so sánh trong câu so sánh tiếng Anh và tiếng Việt rất giống nhau về chủng loại Tuy nhiên, việc dịch các câu so sánh có thực thể so sánh thuộc lớp thực thể thứ ba từ tiếng Anh sang tiếng Việt gây không ít lúng túng cho người học nếu không xuất phát từ cơ cấu ngữ nghĩa của câu Luận án sẽ trở lại vấn đề này ở
cuối phần 3.2.1.1, phần bàn về cấu trúc với “more than”
b Mục đích của so sánh
b.1 Tìm ra sự giống nhau:
(17) Katrina was eighteen years of age, and she had the same fresh, healthy beauty as the fruit on her father's apple trees [240, 46] (Katrina đã tròn 18 tuổi, cô có một vẻ đẹp khoẻ mạnh, tươi mát giống như quả táo trên cây của người cha)
Trang 32(Năm vừa rồi chính phủ liên bang có một khoản thặng dư rất lớn, tuy nhiên
chính phủ đã chi cho quốc phòng ít hơn chúng ta đã làm 15 năm qua)
Như vậy, với các kết cấu ngữ pháp “the same as” (giống như),
“different from ” (khác với), “less than” (ít hơn) những câu trên đã thể
hiện các nhiệm vụ của so sánh nêu trong định nghĩa của luận án
1.1.3 Những mối quan hệ so sánh (comparative relations)
Khi so sánh hai thực thể X và Y về một đặc tính nào đó (phẩm chất, mức độ, số lượng, kích cỡ ), Jespersen và nhiều nhà ngôn ngữ học khác thường sử dụng các quan hệ về số lượng trong toán học để biểu đạt các mối
quan hệ Theo đó, có ba quan hệ so sánh: ngang bằng (equality), hơn (superiority) và kém (inferiority) Ba mối quan hệ này tạo ra một hệ thống hai
bậc lưỡng phân (two hierarchically ordered binary choices), (Mitchell, [160]) hoạt động như sau: nếu so sánh một số lượng X với một số lượng Y, trước hết người ta phải xem hai số lượng này có bằng nhau không Nếu không bằng nhau, người ta lại tiếp tục xác định là X lớn hơn hay nhỏ hơn Y Có thể hình dung các mối quan hệ so sánh này ở sơ đồ (1.1) dưới đây:
Sơ đồ 1.1 Hệ thống hai bậc lưỡng phân các quan hệ so sánh
Những mối quan hệ có được từ bên phải cùng của các nhánh sơ đồ tạo nên hệ thống các quan hệ so sánh [133, 224] Tuy nhiên, điều này chỉ đúng với điều kiện người ta chỉ xét các mối quan hệ đơn giản và với các trường hợp khẳng định (assertion) Thực tế, người ta còn phải tính đến vấn đề là cả các
Trang 33đẳng thức toán học lẫn ngôn ngữ cho phép người ta biểu đạt sự phủ định hay phân cách trong các mối quan hệ Xét về mặt logích, mỗi tiểu hệ thống trong
hệ thống trên lại bao gồm hai tiểu tập hợp (sub-set) loại trừ nhau (mutually
exclusive) Vì thế, trong tiểu hệ thống thứ nhất (X:Y), bất cứ cặp thực thể nào
đưa ra so sánh sẽ phải hoặc giống nhau hoặc khác biệt Tiểu hệ thống thứ hai
(X Y) chỉ ra rằng, bất cứ cặp thực thể nào được cho là khác nhau thì phải
có quan hệ hoặc là hơn hoặc là kém (X Y hoặc XY) Trong mỗi tiểu hệ thống tồn tại một quan hệ kéo theo song phương (bilateral entailments) là vị ngữ (predication) của một quan hệ trong cặp kéo theo sự phủ định của vị ngữ của thành viên còn lại; đồng thời, phủ định của vị ngữ của một quan hệ trong cặp kéo theo vị ngữ của quan hệ còn lại Để minh hoạ cho ý tưởng này, Lyons
[154, 272] đưa ra ví dụ như sau Mệnh đề “X is female” (X là nữ) hàm ý rằng
“X is not male” (X không phải là nam), ngược lại “X is not female" (X không phải là nữ) ngụ ý “X is not male” (X không phải là nam) Nếu ghép hai tiểu hệ
thống lại thành một hệ thống đơn nhất có đầu ra là ba tiểu tập hợp loại trừ nhau thì vị ngữ của bất cứ quan hệ nào trong ba quan hệ này sẽ kéo theo vị ngữ của sự phân cách phủ định của hai quan hệ còn lại (có nghĩa là nếu một quan hệ là đúng thì không có quan hệ còn lại nào có thể đúng) Trái lại, phủ định của vị ngữ của một trong ba quan hệ sẽ kéo theo vị ngữ của hai quan hệ còn lại (có nghĩa là nếu một quan hệ là không đúng thì một hay cả hai quan hệ còn lại phải đúng) Vì vậy, tổng số các quan hệ so sánh giữa X và Y có thể làm vị ngữ bao gồm:
- Vị ngữ của từng quan hệ trong 3 quan hệ cơ bản
- Vị ngữ của phủ định của mỗi quan hệ cơ bản
- Sự kéo theo của sáu loại vị ngữ trên
Trang 34Tóm lại, người ta có sáu mối quan hệ so sánh làm vị ngữ và các quan
hệ có được từ việc phủ định các quan hệ đó, cụ thể là: “hơn”, “kém”, “bằng
hoặc hơn”, “bằng hoặc kém” ,"giống nhau”, “khác biệt”
Có thể tóm tắt các quan hệ so sánh giữa X và Y trên sơ đồ (1.2) như sau
X = Y X Y
X : Y
X Y X Y
X Y X Y
Sơ đồ 1.2 Các mối quan hệ so sánh giữa hai thực thể X và Y
Những mối quan hệ giữa X và Y ở đây xảy ra theo một chiều ở vị ngữ của biểu thức R (X, Y) Các nhà ngữ nghĩa học chỉ ra rằng có sự tương đương logích giữa vị ngữ của biểu thức R (X, Y) và biểu thức R (Y, X) vì người ta
có thể nói rằng dấu “"là sự đảo ngược của dấu “” và rằng dấu “=” là đối
xứng (vì X=Y=Y=X) Tuy nhiên, theo Mitchell [160,58] “Đối với người dùng
ngôn ngữ ít khi có vấn đề quyết định liệu sẽ so sánh X với Y hay Y với X mà điều này thường được quyết định trước bởi sự hiểu biết được chia sẻ giữa người nói và người nghe” Trong một hoàn cảnh nói năng nhất định, người
nói không chắc sẽ ngập ngừng cân nhắc giữa hai câu “John is taller than Bill” (John cao hơn Bill) hoặc “Bill is shorter than John” (Bill thấp hơn John)
Danh từ nào được chọn đưa ra trước (John hay Bill) làm phần đề (theme) tùy
thuộc vào chiều cao của người mà người nói cho rằng người nghe đã biết và
chưa biết Do đó người nói sẽ phát biểu: “John is taller than Bill” trong tình
huống muốn thông báo với người nghe về chiều cao của John bằng cách liên
hệ với chiều cao của Bill mà người nói cho rằng người nghe đã biết
Trang 351.2 Phương thức ngữ pháp biểu hiện ý nghĩa so sánh
1.2.1 Định nghĩa phương thức ngữ pháp
Trong ngôn ngữ, ý nghĩa luôn luôn được biểu hiện bằng những hình thức nhất định Các hình thức này, theo Đỗ Hữu Châu và Bùi Minh Toán
[3,80], “có tính cụ thể và đa dạng trong từng ngôn ngữ, cũng như trong các
ngôn ngữ khác nhau” Vậy là, các ý nghĩa ngữ pháp sẽ được biểu hiện bằng
Dù các hình thức được dùng để thể hiện các ý nghĩa ngữ pháp có khác nhau, chúng vẫn được cấu tạo theo một số kiểu dạng nhất định Trong các ví
dụ vừa nêu, tiếng Anh và tiếng Tagalog dùng phụ tố để biểu thị ý nghĩa thời quá khứ, còn tiếng Việt dùng hư từ Các kiểu dạng khác nhau đó được gọi là
các “phương thức ngữ pháp” mà theo Nguyễn Minh Thuyết [14,219] thì:
“Phương thức ngữ pháp là những biện pháp hình thức chung nhất thể hiện ý
nghĩa ngữ pháp” Phần sau đây sẽ trình bày vắn tắt những phương thức ngữ
pháp dùng để biểu hiện ý nghĩa cấp so sánh, đối tượng nghiên cứu chính của luận án
1.2.2 Các phương thức ngữ pháp biểu hiện ý nghĩa so sánh
1.2.2.1 Phương thức phụ tố (phụ gia) (affixation)
Phương thức phụ tố là phương thức gắn vào một căn tố hay thân từ một
hoặc vài phụ tố để biểu hiện các ý nghĩa ngữ pháp Chẳng hạn, để biểu thị ý
Trang 36nghĩa so sánh bậc hơn hoặc bậc nhất trong tiếng Anh, người ta gắn phụ tố
“-er” (bậc hơn) và “-est” (bậc nhất) vào đàng sau tính từ hoặc trạng từ ngắn
Ví dụ:
Short (ngắn) shorter (ngắn hơn) (the) shortest (ngắn nhất)
Phương thức phụ tố thường được sử dụng trong các ngôn ngữ có biến hoá hình thái như tiếng Nga, Đức, Anh, Pháp
1.2.2.2 Phương thức thay chính tố (supletion)
Phương thức thay chính tố là quá trình thay thế một hình vị
(morpheme) bằng một hình vị hoàn toàn khác để biểu thị sự đối lập ngữ pháp (O‟Grady, [166, 122]) Phương thức thay chính tố được sử dụng phổ biến để biểu thị cấp so sánh của tính từ trong các ngôn ngữ Ấn - Âu Chẳng hạn:
1.2.2.3 Phương thức hư từ (synsemantic words)
Theo Đỗ Hữu Châu và Bùi Minh Toán [3, 84], “Hư từ biểu hiện các ý
nghĩa ngữ pháp và làm dấu hiệu cho các quan hệ ngữ pháp của các thực từ ở trong câu” Dù rằng có ý nghĩa và chức năng như một phụ tố biến đổi từ, hư
từ không gắn vào thân từ hay căn tố để tạo ra từ mới hoặc hình thái của từ mà
đứng tách ra độc lập với thực từ Chẳng hạn, trong câu tiếng Việt, “Nam giỏi
như Bắc” [13, 197], từ “như” là một hư từ nói lên sự ngang nhau về mức độ
“giỏi” giữa đối tượng được so sánh là „Nam” với đối tượng làm chuẩn so sánh
là “Bắc” Lại xét câu tương đương trong tiếng Anh: “Nam is as good as Bắc”
Từ “as” thứ nhất là một hư từ [45, 67] có vai trò như một chỉ tố so sánh
(comparative marker)
1.3 Lý thuyết thang độ và cấu trúc so sánh
Trang 371.3.1 Khái niệm về thang độ
Tính thang độ là một khái niệm được đề cập đến nhiều trong triết học [202], tâm lý học [159], [167] và ngôn ngữ học Thang độ (grading), theo
là có tính thang độ" Đối với danh từ và động từ thì tính thang độ cũng do tính
từ và trạng từ tương ứng với chúng trong câu tạo ra Xét các ví dụ sau đây về mối quan hệ giữa câu cảm thán và tính thang độ
(20) a What a girl ! (Thật là một cô gái !)
b What a day ! (Thật là một ngày !)
c What a book ! (Thật là một cuốn sách !)
Những câu trên có thể được diễn đạt lại như sau:
(20') a What a (nice/ good looking / ) girl ! (Thật là một cô gái xinh đẹp/
Điều đó có nghĩa là cấu trúc bề mặt của loại câu:
(I) What a Noun
được phái sinh từ cấu trúc sâu:
(II) What an Adjective Noun
Do đó, có thể nói rằng không phải bản thân danh từ có thang độ mà là
một phẩm chất vị ngữ (predicated quality) hay một từ bổ nghĩa mang tính
Trang 38chất tính từ (associated adjectival modifier) nào đó đã tạo ra tính thang độ
Đối với động từ, sự suy luận tương tự cũng có thể được áp dụng Xét các câu sau đây:
(21) a How she danced ! (Ôi cô gái khiêu vũ !)
b How they all admired his work ! (Ôi họ ngưỡng mộ tác phẩm của ông
ta !)
c How he looked at her ! (Ôi anh ta nhìn cô ấy !)
Những câu này có cấu trúc sâu như sau:
(21') a How (well / ) she danced ! (Ôi cô gái khiêu vũ đẹp làm sao !)
b How (greatly / ) they all admired his work ! (Ôi, họ vô cùng ngưỡng
mộ tác phẩm của ông ta !)
c How (provokingly / ) he looked at her ! (Ôi, anh ta nhìn cô ấy mới
khiêu khích thế nào ấy !)
Trong câu (21‟a) và (21‟c) hai trạng từ cách thức (adverb of manner) và trong câu (21‟b) một trạng từ tăng cường (intensifier) được đưa vào để làm cho nghĩa của câu được trọn vẹn Những câu cảm thán (21a), (21b) và (21c) với mô hình:
(III) How Subject Verb
có thể được viết lại thành:
(IV) How Manner Adverb Subject Verb
Intensifier
Cấu trúc cảm thán trong tiếng Anh “How" và “What” có nghĩa là "to
what an extent !” (đến một phạm vi) hoặc “ to what a degree !” (đến một mức
độ), có chức năng nâng cấp độ (upgrading function) nên không thích hợp đuợc với những từ giảm mức độ (downtoner) và những từ tăng cường
(intensifier) như fully (đầy đủ), completely (hoàn toàn), entirely (toàn bộ) vì
Trang 39những từ này về mặt ngữ nghĩa biểu đạt mức độ cao nhất tương đương với các cấu trúc so sánh bậc nhất
1.3.2 Thang độ và cấu trúc so sánh
1.3.2.1 Tính từ có thang độ và tính từ không thang độ
Theo Lyons [154,271], “Thang độ có quan hệ với so sánh Khi so sánh
hai hay hơn hai vật với nhau về một thuộc tính nào đó (trong tiếng Anh thuộc tính này được biểu hiện ở tính từ), người ta xét xem mức độ giống nhau hay khác nhau của thuộc tính này ở các vật đó" Chẳng hạn, người ta có thể hỏi
“Is X as hot as Y?” (X có nóng như Y không ?) Tùy thuộc vào thang độ của
“hot” người ta có thể trả lời là “X is as hot as Y” (X nóng bằng Y) hay “X is
hotter than Y” (X nóng hơn Y) Trái lại, các từ như “female" (nữ) thì không
có tính thang độ (ungradable) Người ta không thể nói “X is as female as Y” (X thì nữ như Y ) hay “X is more female than Y” (X thì nữ hơn Y) Những từ
này tồn tại trong vốn từ vựng của các ngôn ngữ thành các cặp trái nghĩa cùng
với cold (lạnh), và male ( nam) tuy rằng các cặp này có tính chất không giống nhau: “hot” và “cold” là các từ có thang độ, còn “female” và “male” thì không
có thang độ
Các từ trái nghĩa không thang độ khi được dùng như vị ngữ có các tính chất sau:
- Vị tính (predication) của một trong hai từ trong cặp ngầm chỉ đến sự
phủ định vị tính của từ trái nghĩa trong cặp, ví dụ, mệnh đề “X is female”
ngầm chỉ rằng “X is not male”
- Vị tính phủ định của một trong hai từ trong cặp ngầm chỉ đến vị tính
của từ trái nghĩa trong cặp, ví dụ, “X is not female” ngầm chỉ rằng “X is male”
Tuy nhiên, đối với các từ trái nghĩa có thang độ thì có hơi khác Vị tính
của một từ ngầm chỉ đến vị tính, phủ định của từ còn lại trong cặp: câu “X is
Trang 40hot” ngụ ý rằng “X is not cold”, và “X is cold” ngụ ý rằng “X is not hot”
Nhưng “X is not hot” không tất nhiên chỉ ra rằng “X is cold” nghĩa là không
có chiều liên hệ ngược lại như trường hợp của từ trái nghĩa không thang độ
Do đó, có thể tạm gọi các cặp từ trái nghĩa không thang độ là các cặp từ
ngược nghĩa (contradictories) (ví dụ: female - male) còn các cặp từ trái nghĩa
có thang độ là cặp từ trái nghĩa (contraries - CTTN) (ví dụ: hot - cold) Theo Nguyễn Thiện Giáp [14, 205-206], “Từ trái nghĩa bộc lộ các mặt đối lập của
các khái niệm tương liên, gắn liền với một phạm vi sự vật, chẳng hạn, bề sâu (sâu- nông), bề rộng (rộng - hẹp), sức mạnh (mạnh- yếu), trọng lượng (nhẹ- nặng) v.v ”
Bolinger [75] cho rằng trong cặp trái nghĩa, chính là ý nghĩa chứ
không phải bản thân tính từ đã được đưa lên thang độ Ví dụ, có thể dùng
một số từ đồng nghĩa thay cho “cold” trên hệ hình của thang độ “cold-hot”
như trong các kết cấu sau đây
(22) This is hot but that is lower in temperature (Cái này nóng nhưng cái kia nhiệt độ thấp hơn)
(22') This is hot but that is less likely to burn my fingers (Cái này nóng nhưng cái kia ít có khả năng làm bỏng ngón tay của tôi hơn)
Cả (22) và (22‟) đều diễn đạt nghĩa lạnh hơn nhưng không dùng từ
lạnh, việc này vẫn chỉ được thực hiện thông qua các tính từ “lower" và “less likely" chứ không dùng từ thuộc lớp từ khác Ngoài ra, theo Nguyễn Đức Dân
[9, 23] các điểm trên thang độ “lạnh- nóng” còn được từ vựng hoá thành các
từ cụ thể như “buốt- giá- lạnh- mát- ấm- nóng- nực” Điều này khẳng định thêm luận điểm của Bolinger rằng tính thang độ là một đặc trưng ngữ nghĩa
gắn liền với tính từ trong tiếng Anh và khả năng so sánh của tính từ phụ thuộc vào sự kiện nghĩa của nó chiếm một khoảng hay một điểm trên thang độ