TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ------ PHAN THỊ HOÀN CÁC HÌNH THỨC KHAI THÁC VÀ CHẾ BIẾN HẢI SẢN TRONG CỘNG ĐỒNG NGƯ DÂN VEN BIỂN CỬA LÒ, NG
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
PHAN THỊ HOÀN
CÁC HÌNH THỨC KHAI THÁC VÀ CHẾ BIẾN HẢI SẢN TRONG
CỘNG ĐỒNG NGƯ DÂN VEN BIỂN CỬA LÒ, NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Hà Nội 2008
Trang 2
MỤC LỤC TRANG
MỤC LỤC 2
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ 5
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do và mục đích chọn đề tài 6
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 11
3.1 Phạm vi 11
3.2 Đối tượng 13
4 Phương pháp nghiên cứu 13
5 Một số khái niệm như là công cụ nghiên cứu 14
6 Bố cục luận văn 16
CHƯƠNG I CỬA LÕ – THIÊN NHIÊN VÀ CON NGƯỜI 17
1 Về điều kiện tự nhiên và nguồn lợi biển 17
1.1 Điều kiện địa hình, khí hậu 17
1.2 Nguồn lợi biển 19
1.3 Địa lý hành chính 20
2 Dân cư 21
2.1 Lịch sử hình thành và phát triển 21
2.2 Về văn hóa 28
2.2.1 Đời sống vật chất 28
2.2.2 Tín ngưỡng, lễ hội 29
3 Về tình hình kinh tế - xã hội 34
Tiểu kết 37
CHƯƠNG II CÁC HÌNH THỨC KHAI THÁC NGUỒN LỢI HẢI SẢN CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯ DÂN VEN BIỂN CỬA LÕ 38
1 Nhận thức của ngư dân về môi trường tự nhiên và nguồn lợi hải sản 38
1.2 Về chế độ thuỷ triều và sơ đồ nước mặt - nước đáy 39
1.3 Về mùa cá và làn nước của các loại hải sản 41
1.4 Những thay đổi trong nhận thức của ngư dân về môi trường tự nhiên và nguồn lợi 42
Trang 32 Các hình thức khai thác và hệ thống ngư cụ 43
2.1 Lưới rút 47
2.2 Câu 50
2.3 Dạ 52
2.3.1 Dạ bướm 52
2.3.2 Dạ ván 53
2.3.3 Dạ cào 54
2.3.4 Dạ luồi 54
2.3.5 Dạ va va 54
2.4 Vó ánh sáng, Mành 55
2.5 Te 57
2.6 Bóng ghẹ 57
3 Những thay đổi trong khai thác hải sản qua các thời kỳ 58
4 Các hình thức tổ chức khai thác hải sản 66
4.1 Phân công lao động theo giới 66
4.2 Tổ chức đánh bắt theo thuyền 68
4.3 Tổ chức đánh bắt theo nhóm 70
5 Các loại sản phẩm và mạng lưới phân phối sản phẩm 71
Tiểu kết 76
CHƯƠNG III CÁC HÌNH THỨC CHẾ BIẾN HẢI SẢN CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯ DÂN VEN BIỂN CỬA LÕ 77
1 Tri thức về chế biến hải sản 77
2 Các hình thức chế biến hải sản 79
2.1 Các sản phẩm muối 79
2.1.1 Nước mắm 79
2.1.2 Các loại ruốc 83
2.2 Các sản phẩm chế biến qua lửa 86
2.2.1 Cá nướng 86
2.2.2 Cá luộc và hun khói, tôm luộc 87
2.3 Các sản phẩm chế biến không qua lửa 88
3 Những biến đổi trong nghề chế biến 90
3.1 Về dụng cụ 91
Trang 44 Tổ chức lao động trong chế biến hải sản 94
4.1 Các hình thức tổ chức lao động 94
4.1.1 Tổ chức lao động theo hộ gia đình 95
4.1.2 Tổ chức lao động theo nhóm 95
4.2 Vai trò của nữ giới trong nghề chế biến 98
5 Mạng lưới phân phối sản phẩm 103
6 Mối quan hệ giữa khai thác và chế biến hải sản 106
Tiểu kết 108
KẾT LUẬN 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
PHỤ LỤC 115
I Một số định nghĩa về khai thác, chế biến hải sản và sản phẩm hải sản 115
II Một số thông tin về hiện trạng khai thác hải sản ở Việt Nam 118
III Đề án phát triển kinh tế thủy sản thị xã Cửa Lò giai đoạn 2007 - 2010 có tính đến năm 2015 128
IV Hình ảnh 140
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ
Bảng 6 (Mục II.3): Sản lượng khai thác hải sản từ năm 2001 đến năm 2006
Lò Tr66
Bảng 7 (Mục III 4.1.1): Thống kê số lượng cơ sở chế biến và lao động chuyên chế biến hải sản trên địa bàn thị xã Cửa Lò năm 2005 và 200 Tr94
Sơ đồ 3 (Mục III 2.1.1): Quy trình sản xuất nước mắm vẩy cổ truyền Tr83
Sơ đồ 4 (Mục III.5): Mạng lưới thông tin sản phẩm từ chế biến tới
dùng Tr106
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do và mục đích chọn đề tài
Quản lý nguồn lợi hải sản để phát triển ngư nghiệp bền vững đang là vấn đề bức thiết được đặt ra khi nguồn lợi này đang bị khai thác một cách quá mức và có chiều hướng suy giảm nghiêm trọng1 Đây không chỉ là vấn đề cấp bách của nước ta mà còn là của nhiều quốc gia có nguồn lợi biển trên thế giới
Để quản lý một cách hiệu quả, điều quan trọng không phải là chỉ tìm hiểu bản thân nguồn lợi, mà quan trọng là phải hiểu được chủ thể tiến hành các hoạt động khai thác nguồn lợi đó – đó chính là ngư dân Chính vì vậy, nghiên cứu văn hoá của cộng đồng ngư dân đóng một vai trò quan trọng đối với nhận thức chung của xã hội, đặc biệt là đối với những nhà quản lý – người đưa ra và triển khai các chính sách và chiến lược phát triển
Tuy cùng lấy biển làm đối tượng khai thác chính nhưng không phải ngư dân nơi nào cũng có cách ứng biến giống nhau trước môi trường đó Ngoài những mẫu số chung, sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh lịch sử, kinh tế, xã hội,… tạo nên cách ứng xử khác nhau trước môi trường lớn là biển
cả Cho nên, bức tranh về văn hoá của các cộng đồng ngư dân là vô cùng phong phú và đa dạng, mang màu sắc địa phương, vùng miền
Để thích ứng với điều kiện tự nhiên, con người phải tạo ra những cách thức khác nhau trong những môi trường sinh thái khác nhau Nhưng liệu những cách thức đó có vừa đảm bảo điều kiện sống, vừa đảm bảo không tác động xấu tới môi trường tự nhiên, đảm bảo cho sự phát triển bền vững? Đó là một câu hỏi đáng được quan tâm và cần trả lời
Chính vì vậy, nghiên cứu về các hình thức khai thác và chế biến hải sản trong cộng đồng ngư dân cũng là nghiên cứu về cách ứng phó của cư dân đó trước môi trường tự nhiên biển cả, góp phần vào tìm hiểu văn hoá của ngư dân Đồng thời, tìm hiểu các thói quen về đánh bắt và chế biến để thấy được những
ưu điểm và hạn chế của các hình thức đó đối với đời sống dân cư cũng như đối với sự phát triển bền vững nguồn lợi hải sản
Cửa Lò nằm trong vùng biển tiếp nối giữa vịnh Bắc Bộ với các vùng biển phía nam, ẩn chứa nhiều thành tố văn hóa tiếp xúc giữa hai khu vực: từ bắc vào và từ nam lên, điều này đã được một số nhà nghiên cứu quan tâm và
đã đặt ra một câu hỏi, phải chăng nơi đây đã từng có sự tiếp xúc với văn hóa
Trang 7Malayo-pôlynêdiêng? Đây cũng là một điểm lý thú khi tìm hiểu và khám phá văn hóa của vùng đất ven biển này
Ngư dân Cửa Lò, cũng như ngư dân ven biển nhiều nơi khác ở Việt Nam, mặc dù không có xuất xứ từ dân biển, nhưng do nhiều hoàn cảnh đã cùng nhau dựng làng, qua bao đời sinh sống ở môi trường ven biển, họ đã biết tận dụng môi trường tự nhiên đó và tạo ra các cách thích ứng, đảm bảo cho lẽ sinh tồn Cho nên, việc tìm hiểu các phương thức khai thác và chế biến, bảo quản hải sản của ngư dân ven biển Cửa Lò cũng là tìm hiểu khả năng thích ứng trước điều kiện tự nhiên của ngư dân nơi đây, và quá trình đó đã tạo nên những nét văn hoá của ngư dân vùng biển này, góp phần tạo nên bức tranh văn hoá đa dạng trong tiểu vùng văn hoá xứ Nghệ
Ngoài ra, Cửa Lò đang dần trở thành một đô thị du lịch biển, với nhiều đổi thay về kinh tế, xã hội Điều đó đã, đang và sẽ có những tác động không nhỏ đối với đời sống của cư dân vùng này nói chung, đối với ngư dân nói riêng Sự phát triển đó đã và sẽ có những tác động gì tới sinh kế truyền thống của ngư dân vùng này vốn là khai thác, buôn bán và chế biến, bảo quản hải sản, nhằm phát huy tính tích cực và hạn chế những tiêu cực trước những tác động của quá trình đô thị hoá đối với đời sống ngư dân – đây cũng là vấn đề
mà luận văn cố gắng tìm hiểu bước đầu
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nhìn chung, các nghiên cứu về ngư dân ở Việt Nam chưa nhiều, nội dung chủ yếu được hướng đến là văn hóa dân gian, đặc biệt là tín ngưỡng, lễ hội Trong đó, phần nhiều là những công trình mang tính sưu tầm, hệ thống hóa nguồn tư liệu dân gian, mà chưa có nhiều nghiên cứu sâu mang tính dân tộc học Các hình thức khai thác và chế biến, bảo quản hải sản cũng đã được điểm qua ở một số công trình, tuy nhiên cũng chưa được khảo cứu kỹ lưỡng
Với “Biển và người Việt cổ” [Trần Quốc Vượng, Cao Xuân Phổ; 1996], hai tác giả đã dựa trên những cứ liệu của ngành khảo cổ học, những dấu tích của người Việt cổ ở vùng ven biển trong các thời kỳ văn hóa từ tiền sơ sử, chứng minh sự gắn bó của con người với biển cả ngay từ thời xa xưa Tuy nhiên, trong thuở nguyên sơ ấy, con người chỉ mới tiến tới vùng biển sát bờ với các hình thức khai thác đơn giản và những sinh vật ven biển là một trong những nguồn thức ăn quan trọng cho con người thời đó
“Văn hóa dân gian làng ven biển” [Viện nghiên cứu văn hóa dân gian; 2000] được xuất bản vào năm 2000, là kết quả của đề tài “sưu tầm, nghiên cứu
Trang 8văn hóa dân gian các làng ven biển ở Việt Nam” Theo các tác giả, cộng đồng người Việt không có nguồn gốc biển, mà cơ bản họ là cư dân sống ở vùng trước núi tràn xuống khai thác đồng bằng lầy trũng rồi lấn biển và khai thác biển Cùng với quá trình phát triển cư dân và nam tiến, chất biển trong văn hóa của người Việt ngày càng tăng lên Trong phần giới thiệu ban đầu, công trình này cũng giới thiệu về các dụng cụ đánh bắt và hình thức chế biến hải sản Tuy nhiên, đó chỉ là những khái lược chung chung ban đầu
Tác giả Nguyễn Duy Thiệu với công trình “Cộng đồng ngư dân Việt Nam” [Nguyễn Duy Thiệu; 2002] đã cho chúng ta một cái nhìn khái quát về sự hình thành, cơ cấu tổ chức xã hội và tổ chức đời sống tín ngưỡng trong cộng đồng ngư dân ở Việt Nam Ngoài ra, với những tư liệu điền dã, tác giả đã tái dựng nên thiết chế xã hội truyền thống của một số cộng đồng ngư dân ở vùng Trung và Nam bộ Tác giả cũng giới thiệu một số hình thức khai thác hải sản của ngư dân ven cửa sông, cửa biển, nhưng, đây chỉ là một nội dung nhỏ được tác giả đề cập tới trong cộng đồng ngư dân ở Cửa Sót (Hà Tĩnh) Tuy nhiên, đây là một công trình mang tính khái quát, chủ yếu có đi sâu hơn vào những địa bàn phía Bắc, vùng Nam trung bộ cũng có được đề cập qua, còn vùng Nam
bộ chưa được viết tới
“Văn hóa tàu thuyền trong đời sống cư dân ở Việt Nam” [Đỗ Thị Thanh Thủy; 2005] là đề tài cấp Viện năm 2005 của Viện Văn hóa – Thông tin Dựa trên những tài liệu lịch sử, những tư liệu khảo sát điền dã, báo cáo cho ta cái nhìn tổng quát và khá chi tiết về các loại tàu thuyền của cư dân khai thác thủy hải sải cũng như sự gắn bó giữa nước – tàu thuyền – phong tục, tập quán trong văn hóa của cộng đồng dân cư Trong tài liệu này, các phương tiện khai thác hải sản, các hoạt động liên quan tới buôn bán hải sản cũng được tác giả đề cập tới với cái nhìn chung chung, mang tính chất điểm qua mà không phải là nội dung chính của đề tài
Ngoài ra, còn nhiều bài viết trên các báo, tạp chí và một số nghiên cứu
về ngư dân trên các vùng miền trong cả nước, mang lại phông hiểu biết chung
về văn hóa biển trong đời sống cư dân Trong đó, hầu hết các tác giả đều thống nhất với quan điểm, cư dân gốc Việt lấy nông nghiệp làm kinh tế chủ đạo, không có truyền thống khai thác nguồn lợi biển; càng lùi vào phía nam, tính biển trong đời sống văn hóa dân cư càng được thể hiện đậm nét Điều đó được thể hiện rõ trong đời sống tín ngưỡng tâm linh, trong các cách thức khai thác
và sử dụng nguồn lợi tự nhiên Đã có nhiều học giả nghiên cứu về các loại hình tín ngưỡng, lễ hội của ngư dân Tuy nhiên, về sự thích ứng với môi
Trang 9trường ven biển thông qua các hình thức đánh bắt và tổ chức lao động cũng như các hoạt động kinh tế kèm theo nó chưa được chú ý khai thác Đây cũng là một mảng đề tài thú vị để hiểu rõ hơn khả năng thích ứng với môi trường của ngư dân và thấy được tính “biển” đạt tới mức độ nào trong đời sống của cộng đồng đó
Trên thế giới, có một lĩnh vực nghiên cứu được gọi là “nhân học về nghề cá” (anthropology of fishing) nằm trong ngành “nhân học biển” (maritime anthropology) Tiến sĩ James M Acheson2
đã có một bài tổng kết về các công trình nghiên cứu liên quan tới lĩnh vực này, được trình bày dưới tiêu
đề “Anthropology of fishing” Qua tổng lược từ 250 công trình nghiên cứu, tác giả đã đưa ra cái nhìn tổng quan về các vấn đề mà nhân học về nghề cá quan tâm Đóng góp to lớn của các công trình đó là đã tìm hiểu những cách thức mà con người thích ứng trước một môi trường đầy rủi ro để tồn tại Để giảm thiểu rủi ro, con người đã tạo ra các ngư cụ lao động phù hợp và tổ chức lao động nhau theo nhiều cách thức, từ đó nảy sinh thêm nhiều vấn đề nghiên cứu như: mối quan hệ họ hàng giữa thuyền viên, mối quan hệ giữa những người đánh bắt và những người trung gian môi giới, hệ thống phân chia sản phẩm đánh bắt được, Sự tổng kết của học giả nước ngoài mang lại cái nhìn về nghề cá dưới những góc độ khác nhau, gợi ra những hướng nghiên cứu cần tiếp tục quan tâm và tìm hiểu
Lịch sử nghiên cứu vùng biển Cửa Lò
Trong những cuốn địa chí, vùng đất này được biết đến như một phần của huyện Chân Lộc (sau đổi là Nghi Lộc) [Quốc sử quán triều Nguyễn, 1992, tr121-122] Các địa danh như núi Lò, đảo Song Ngư cũng được nhắc đến trong phần núi, sông của vùng “núi Lò ở cách huyện Chân Lộc 11 dặm về phía đông bắc, trên núi có chùa Phổ Am”[Quốc sử quán triều Nguyễn, 1992, tr159], “ở cách huyện Chân Lộc 25 dặm về phía đông, ngoài cửa Hội nổi vọt lên 2 ngọn núi đứng sững đối nhau, trông như hình hai con cá bơi lội giữa sóng nước, cho nên gọi là Song Ngư”[Quốc sử quán triều Nguyễn, 1992, tr165]
Vùng đất này đã trở thành một trong những khu căn cứ quân sự trọng yếu vùng cửa biển khi vào thế kỷ XV Năm 1460, Nguyễn Sư Hồi được vua Lê Thánh Tông cử giữ chức Thái uý Nhập nội quận công, đem thuỷ quân về Cửa
Lò xây dựng căn cứ hải quân Sau đó, Nguyễn Sư Hồi được phong làm Trấn
2 Tiến sĩ tại đại học Rochester năm 1970, hiện là giảng viên khoa Nhân học, trường Đại học Maine,
Orono, Maine, Mỹ Bài viết của ông được đăng trên tạp chí Annual Review of Anthropology
Trang 10thủ Nghệ An, quản lý 12 cửa lạch từ Sầm Sơn (Thanh Hoá) đến Cửa Tùng (Quảng Trị) Và ông đã có công chiêu dân, lập ấp hình thành nên làng Vạn Lộc (Nghi Tân) – hiện tại vẫn có đền thờ ông ở làng Vạn Lộc – nơi diễn ra lễ hội cầu ngư, cầu yên của dân làng hàng năm Sau đó, vua Lê Thánh Tông đã cho lập tân nhất xã với tên là xã Hải Ngung, còn gọi là Hải Giang Hải Giang chính
là dòng sông Cấm Sông Cấm chảy ra biển tạo thành Cửa Xá, còn gọi là Lô tấn, Xá tấn, thuộc tổng Thượng xá, huyện Chân Lộc sau đổi gọi là huyện Nghi Lộc và hiện nay thì thuộc thị xã Cửa Lò Vào các giai đoạn sau, dân cư từ các nơi khác cũng kéo đến đây sinh sống, bám biển làm ăn như dân từ vùng Cửa Sót (Hà Tĩnh), Hưng Nguyên (Nghệ An),
Các công trình nghiên cứu về văn hóa biển Cửa Lò nói chung, về cách thức khai thác và chế biến hải sản của ngư dân ở đây nói riêng hầu như chưa
có, mà chủ yếu là các bài viết ngắn của các tác giả nằm rải rác trong những tạp chí chuyên ngành giới thiệu một vài nét văn hóa của dân cư ven biển Cửa Lò Với yêu cầu của phát triển du lịch, phòng văn hóa và thông tin Cửa Lò từng cho xuất bản cuốn “Du lịch Cửa Lò” vào năm 2007 Chính vì đáp ứng nhu cầu tìm hiểu thông tin du lịch, cuốn sách nhỏ này chỉ mang tính giới thiệu một số nét văn hóa tiêu biểu như về truyền thống hiếu học, về lễ hội, ; về các địa danh du lịch và một số đặc sản của vùng biển này trong đó có nước mắm Cửa
Lò, nước mắm Cửa Hội
Một hội thảo đáng được chú ý đã được tổ chức tại Cửa Lò năm 2006 có chủ đề “Sự hình thành và mục tiêu, giải pháp phát triển bền vững du lịch Cửa Lò” với hai nội dung lớn là lịch sử và định hướng, giải pháp phát triển bền vững du lịch Cửa Lò Trong phần lịch sử, các đại biểu tham gia hội thảo tập trung trình bày về thời điểm hình thành bãi tắm du lịch Cửa Lò dựa trên những tài liệu lưu trữ của người Pháp Và cuối cùng đã đi đến thống nhất, lấy ngày 05 – 06 – 1907 làm ngày ra đời của du lịch biển Cửa Lò – đây là ngày Toàn quyền Đông Dương ký văn bản cho phép sử dụng đất Cửa Lò với mục đích xây dựng nhà nghỉ, trồng rừng phi lao ven biển, Và cũng vào năm này, đã có một khu biệt thự được bắt đầu xây dựng Trong phần hai, các đại biểu tập trung vào bàn bạc các giải pháp cho sự phát triển bền vững du lịch Cửa Lò dưới góc độ văn hóa và môi trường tự nhiên
Hai cuốn “Lịch sử đảng bộ thị xã Cửa Lò” [Đảng bộ Thị xã Cửa Lò, 2004] và “Lịch sử đảng bộ phường Nghi Thủy” [Đảng ủy phường Nghi Thủy, 2006] mang lại cái nhìn khái quát về điều kiện tự nhiên, dân cư và đặc biệt là
về tiến trình lịch sử của vùng đất này gắn với lịch sử đảng bộ của thị xã và của
Trang 11phường Trong hai tài liệu đó, khai thác và chế biến hải sản được xem như hai
bộ phận nhỏ thuộc ngành kinh tế ngư nghiệp, cũng được điểm qua về thành tựu cùng với sự phát triển kinh tế chung của cả thị xã, đặc biệt là từ thời kỳ hợp tác hóa đầu năm 1960 cho tới hiện nay Đây là tài liệu hữu ích để thu thập những số liệu thống kê và phần nào cho thấy sự biến chuyển của nghề nằm trong chính sách phát triển kinh tế chung của thị xã
Ngoài ra, là những bài viết về một số nét văn hóa biển Cửa Lò được đăng rải rác trong các tạp chí chuyên ngành, như “Vài nét văn hóa sông biển Cửa Lò” của tác giả Đào Tam Tỉnh, “Về địa danh Cửa Lò” của Trần Trí Dõi,
Niên giám thống kê hàng năm của Phòng Thống kê, thị xã Cửa Lò và các báo cáo tình hình kinh tế - xã hội hàng năm của Thị xã, của phường cũng mang lại những thông tin bổ ích, đặc biệt là số liệu thống kê về tàu thuyền, các ngành nghề, lực lượng lao động,
Về cơ bản, những tư liệu và nghiên cứu về vùng Cửa Lò mang lại cái nhìn tổng quát về lịch sử, tình hình đời sống, kinh tế, xã hội và văn hóa của dân cư Đồng thời cũng cho thấy những đổi thay của thị xã du lịch biển, kể từ ngày có chính sách đẩy mạnh phát triển du lịch Tuy nhiên, chưa có một công trình nghiên cứu sâu nào về ngư dân vùng ven biển Cửa Lò, nghiên cứu về các hình thức khai thác, chế biến và bảo quản hải sản và đặc biệt là sự tác động của bối cảnh phát triển kinh tế lên những nghề nghiệp đó của ngư dân
3 Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Phạm vi
Cửa Lò là nơi sông Cấm (dân gian còn gọi là Lạch Lò) đổ ra biển, cùng với Cửa Hội là nơi sông Lam ở phía nam đổ ra biển, phù sa của hai con sông này bồi đắp qua năm tháng tạo nên vùng đất thị xã Cửa Lò ngày nay – được người nhiều nơi biết tới với tư cách là một địa chỉ nghỉ mát mùa hè, đồng thời cũng là một vùng đất in đậm những nét riêng của một tiểu vùng văn hóa nằm trong vùng văn hóa chung “xứ Nghệ”
Về địa danh “Cửa Lò”, trước đây mới chỉ là tên riêng của một con sông
đổ ra biển như bao cửa sông khác ở nước ta Cửa sông này là nơi sông Cấm đổ
ra biển Đông với dãy núi xã Nghi Thiết nhấp nhô bên tả ngạn và xã Nghi Thủy ngày nay bên hữu ngạn Từ tháng 4 – 1986, Cửa Lò trở thành tên một thị trấn cảng và du lịch thuộc huyện Nghi Lộc gồm diện tích và dân số hai xã Nghi Tân, Nghi Thủy và một phần đất của hai xã Nghi Thu, Nghi Hợp Sau đó, từ tháng 8 – 1994, địa danh Cửa Lò trở thành tên riêng của thị xã trên cơ sở thị
Trang 12trấn Cửa Lò trước, cộng thêm đất đai của một số xã khác của huyện Nghi Lộc Như vậy, từ tên riêng để chỉ một một cửa sông đổ ra biển, Cửa Lò đã trở thành tên riêng để chỉ một đơn vị hành chính, thuộc tỉnh Nghệ An
Theo cách giải thích của người dân địa phương hiện nay, “Cửa Lò” là do cách nói chệch đi và gọn lại của tên gọi “Cửa Lùa” trước đây Cửa biển này có một bên là dãy núi xã Nghi Thiết (ở phía bắc) và một bên là núi Lô thuộc hai
xã Nghi Tân và Nghi Thủy (phía nam), nên khi gió từ ngoài biển thổi vào cũng như gió từ hướng tây trong đất liền thổi ra tạo thành nơi đây như một cửa gió lùa Từ cửa gió lùa, người ta nói gọn thành cửa lùa rồi thành Cửa Lò như ngày nay Theo dân gian, cũng có một ý nghĩa nữa là do trước đây dân vùng này có nghề đốt lò nấu muối, nên gọi cửa biển là Cửa Lò Nhưng theo nghiên cứu của các nhà khoa học, tên gọi này có nguồn gốc của ngư dân nói ngôn ngữ Malayô- Pôlynêdiêng, có nghĩa là “cửa sông” Trong ngôn ngữ của các cư dân
này, có từ Kuala để gọi tên nơi một con sông đổ ra biển hay nơi một con sông nhỏ chảy ra một con sông lớn Dần dần, danh từ Kuala chuyển thành danh từ riêng Kuala/Kualo và cuối cùng là địa danh hóa thành Cửa Lò [Trần Trí Dõi,
2000; Nguyễn Duy Thiệu, 2004]
Trong luận văn này, Cửa Lò được sử dụng theo đúng với tên gọi hành chính của thị xã biển này Không gian nghiên cứu chính của luận văn là tiểu vùng văn hóa Cửa Lò với những nét văn hóa của cư dân vùng biển, đặt trong bối cảnh văn hóa chung của xứ Nghệ Tuy nhiên, do điều kiện khách quan và chủ quan, luận văn chỉ lấy điểm nghiên cứu là phường Nghi Thủy – dân hai làng Mai Bảng, Yên Lương quanh năm gắn bó với nghề, qua bao thay đổi của thời cuộc, hầu hết ngư dân nơi đây vẫn chỉ bám biển để sinh sống và hiện tại còn lưu giữ được nhiều nét khai thác và chế biến thủ công truyền thống Không như các phường khác như Nghi Tân, Nghi Hải, đã từng có thời nhiều ngư dân bỏ nghề chuyển sang làm nghề khác như bán hàng điện tử, đi xuất khẩu lao động, đi thuyền viễn dương và hiện tại nhiều ngư dân đã quay trở về với nghề nhưng đã mang nhiều sắc thái mới với sự trợ giúp của công nghệ Những nét chung và khác biệt liên quan tới cách thức đánh bắt và chế biến hải sản của ngư dân cũng như sự thay đổi qua thời gian của các nghề đó ở những địa phương này cũng sẽ được lý giải trong luận văn Như vậy, không gian trọng tâm để thực hiện đề tài là phường Nghi Thủy, bên cạnh đó, có sự so sánh với các phường Nghi Tân và Nghi Hải, và trên tổng thể là đặt trong bối cảnh chung của thị xã Cửa Lò
Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, việc phân chia theo tên gọi địa lý hành
Trang 13chính như trên chỉ mang tính chất tương đối để có thể dễ dàng hình dung về địa bàn nghiên cứu, bởi vì nội dung của đề tài là tập trung tìm hiểu những tri thức của ngư dân và cách thức họ vận dụng, phát triển tri thức đó vào thực tiễn như thế nào, và những tri thức thì không bị hạn chế bởi giới hạn hành chính, và
là tài sản chung của một cộng đồng có cùng môi trường sinh sống
3.2 Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tính “biển” trong đời sống của cộng đồng ngư dân ven biển Cửa Lò, thể hiện qua khả năng thích ứng trước điều kiện tự nhiên và môi trường sinh thái biển cả thông qua các hình thức khai thác và chế biến hải sản Với thời gian, các hình thức này chịu những tác động gì và có biến đổi như thế nào? Khai thác và chế biến hải sản gắn với sự phân công lao động theo giới trong cộng đồng ngư dân, tương ứng là lao động nam và nữ Mối quan hệ giữa hai loại hình công việc đó sẽ dẫn tới mối quan hệ tương ứng giữa nam và nữ trong gia đình và trong cộng đồng ngư dân
Dựa trên tổng thể đó, luận văn đi vào tìm hiểu hai nội dung chính là các hình thức khai thác và chế biến hải sản
Về nội dung hình thức khai thác, luận văn đi sâu tìm hiểu ngư dân đã sử dụng cách thức đánh bắt phù hợp với đối tượng nào và tạo ra mối liên kết gì để tăng hiệu quả lao động và giảm thiểu rủi ro trong môi trường biển Và qua nhiều đời gắn bó với nghề đánh bắt trên biển, ngư dân đã rút ra được những tri thức về môi trường tự nhiên và nguồn lợi hải sản
Tương tự, nội dung chế biến hải sản cũng sẽ được tìm hiểu dưới các góc
độ như: cách thức chế biến và những đổi thay của nghề qua thời gian, tổ chức phân công lao động và vai trò của lao động nữ trong nghề chế biến Luận văn cũng đưa ra một vài so sánh nhỏ trong cách thức chế biến nước mắm của ngư dân nơi đây với cách thức của ngư dân vùng khác, cụ thể là ở Phan Thiết (Bình Thuận) để thấy được sự khác biệt trong điều kiện tự nhiên, văn hóa của các vùng miền
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp phương pháp lịch sử và các phương pháp của dân tộc học để vừa thấy được tiến trình phát triển của đối tượng nghiên cứu, vừa có cái nhìn so sánh trong hiện tại
Phương pháp nghiên cứu định lượng: xây dựng bộ câu hỏi mở theo cấu trúc nội dung nhằm xây dựng hệ thống tư liệu về quy trình và cách thức tiến
Trang 14hành các phương thức khai thác cũng như chế biến hải sản Bên cạnh đó, còn
có bảng thông tin kinh tế xã hội của phường, thị xã để thu thập các số liệu thống kê về thực trạng khai thác và chế biến hải sản của cộng đồng ngư dân trên địa bàn nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu định tính: các thông tin định tính được thu thập thông qua các hình thức khai thác thông tin:
- Các chủ đề phỏng vấn nhóm đối tượng: nhằm tìm hiểu thông tin ở mức
độ sâu, vừa có cái nhìn tổng quát vừa có cái nhìn cụ thể, chi tiết Phỏng vấn sâu những người giữ vai trò quan trọng trong quản lý nghề, đặc biệt từ thời kỳ hợp tác xã cho tới hiện tại (cán bộ phụ trách hội ngư dân) kết hợp với phương pháp hồi cố để thấy được tiến trình phát triển, sự thay đổi cũng như thực trạng
và định hướng phát triển của nghề Bên cạnh đó là phỏng vấn các nhóm đối tượng chuyên làm các nghề khác nhau để hiểu rõ hơn những khó khăn thuận lợi của nghề mà họ tham gia
- Phương pháp quan sát: quan sát cách thức và quy trình tiến hành các phương thức khai thác và chế biến, quan sát các loại hình công việc gắn với các nhóm đối tượng trong cộng đồng
- Ảnh chụp: hỗ trợ việc mô tả những hoạt động diễn ra trong cộng đồng
5 Một số khái niệm nhƣ là công cụ nghiên cứu
Điều kiện tự nhiên và môi trường sinh thái được coi là tác nhân cực kỳ quan trọng đến sáng tạo văn hoá của con người Sự tác động qua lại giữa tự
nhiên và con người là nhân tố chính tạo nên đặc trưng văn hoá
Con người trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên: để thích nghi tồn
tại, con người vừa tận dụng, vừa tìm cách ứng phó với điều kiện tự nhiên nhằm bảo đảm cho cái “lẽ sinh tồn” của mình Cách thức ứng xử trong những môi trường tự nhiên khác nhau tạo nên những đặc trưng của cộng đồng người sinh sống trong môi trường đó
Một trong những đặc trưng của cộng đồng ngư dân là chỉ khai thác tự nhiên, nhưng không làm ra tự nhiên, họ không có kiến thức về tái sản xuất nguồn tài nguyên, khác với những người làm nông nghiệp và chăn nuôi gia súc
có thể tái sản xuất lại nguồn tài nguyên thiên nhiên của mình Những người sống trên đất liền thì có nhiều cách để cải tạo môi trường như việc tưới nước, làm vườn, bón phân, còn người đi biển thì không thể thay đổi địa hình và không thể kiểm soát được biển cả, họ chỉ có thể căn cứ vào điều kiện môi trường đó để tạo ra những công cụ phù hợp khai thác tự nhiên, nhằm mục đích
Trang 15cho công cuộc mưu sinh
Cư dân biển có thể đánh bắt cá liên tục trong năm với nhiều loại cá khác nhau, trừ thời gian biển động, sóng to gió bão Điều này cũng khác với nông nghiệp vì làm nông nghiệp thì chỉ thu hoạch vào thời gian nhất định trong năm Cũng chính vì thế, việc bảo quản hải sản sau khi đánh bắt được là một vấn đề quan trọng trong đời sống ngư dân, vì những thứ họ đánh bắt được đều tươi sống, và cũng không thể sử dụng hết ngay một lúc, muốn giữ được lâu dài
để làm thức ăn dự trữ hoặc để bán phải biết cách bảo quản, chế biến thích hợp Lâu dần, việc chế biến, bảo quản trở thành bí quyết, tạo thành một nghề trong cộng đồng ngư dân để giúp họ ổn định thu nhập cho đời sống gia đình, cân bằng lại tính thất thường trong nghề khai thác Khai thác và chế biến, bảo quản hải sản là những vấn đề quan trọng trong đời sống của cộng đồng ngư dân, đó
là hai sinh kế thích ứng trước môi trường tự nhiên biển cả
Thủy sản là những sản vật sinh sống ở dưới nước nói chung, còn hải sản
là chỉ những sản vật sinh sống ở biển, đại dương
Khai thác hải sản là hoạt động thu lấy những sản vật sinh sống ở biển,
đại dương Do đặc điểm sinh học của đối tượng khai thác đó là vô cùng phong phú và đa dạng, nên con người cũng đã tạo ra những dụng cụ đánh bắt thích hợp từ đó tạo ra những hình thức khai thác khác nhau
Chế biến hải sản là cách thức xử lí nguyên liệu từ khai thác hải sản
thành các mặt hàng thực phẩm hay sản phẩm khác (thức ăn chăn nuôi, dược phẩm, mĩ phẩm) dưới các dạng đông lạnh, làm khô, hun khói, ướp muối và đồ hộp để phục vụ cho nhu cầu của con người
Và gắn với môi trường lao động trên biển và tiến hành các sinh kế trên,
không thể không nói tới chủ thể của nó, đó là những ngư dân
Căn cứ vào tập quán cư trú, nguồn lợi mà các nhóm hướng vào để khai thác, kỹ thuật và công cụ để đánh bắt thủy hải sản, quan hệ xã hội, đời sống tôn giáo và tín ngưỡng, của mỗi nhóm để có thể phân loại cộng đồng ngư dân thành các nhóm khác nhau Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, ngư dân được hiểu theo nghĩa là những người lấy hoạt động ngư nghiệp làm nguồn sống duy nhất hoặc chủ yếu cho gia đình mình Họ chuyên hoạt động khai thác thủy sản bằng các phương tiện tàu thuyền, nhưng cư trú trên đất liền ven biển, hình thành nên những làng chài ven biển Đối tượng mà luận văn nghiên cứu là cộng đồng ngư dân bãi ngang ven biển Cửa Lò (cụ thể là tại địa bàn phường Nghi Thủy)
Ngư dân bãi ngang là những ngư dân sống trên bờ biển dọc theo ven
Trang 16biển và không ở vùng cửa sông Mẫu số chung của ngư dân vùng bãi ngang là
họ không có nơi để giấu thuyền khi có bão hoặc mùa biển động, cho nên bộ phận này chỉ đóng thuyền bé để khai thác hải sản trong vùng biển lộng
Ngư dân bãi dọc là bộ phận ngư dân sống ở cửa biển Mẫu số chung của
các nhóm ngư dân được xếp là ngư dân bãi dọc là họ có cửa sông để đưa thuyền vào sâu trong đất liền, giấu thuyền tránh bão và khi biển động
Ngư cụ là toàn bộ những dụng cụ mà ngư dân sử dụng để lao động trong
môi trường biển Tuy nhiên, luận văn chỉ giới hạn tìm hiểu về các dụng cụ và cách thức sử dụng chúng để đánh bắt hải sản, chứ không đi vào tìm hiểu các phương tiện đi lại để lao động trong môi trường này như thuyền – nôốc, mủng, bè,
6 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, và kết luận, luận văn được chia làm ba chương chính:
Chương I: Cửa Lò – thiên nhiên và con người (13 – 32 21 trang)
Chương II: Các hình thức khai thác nguồn lợi hải sản của cộng đồng ngư dân ven biển Cửa Lò (33 - 40 trang)
Chương III: Các hình thức chế biến hải sản của cộng đồng ngư dân ven biển Cửa Lò (33 trang)
Ngoài ra, luận văn còn có phần phụ lục gồm một số thuật ngữ liên quan tới nghề khai thác và chế biến hải sản, về tình hình khai thác và hiện trạng khai thác nguồn lợi hải sản ở Việt Nam, đề án phát triển thủy sản của thị xã Cửa Lò
và ảnh chụp hoạt động của ngư dân
Trang 17CHƯƠNG I CỬA LÕ – THIÊN NHIÊN VÀ CON NGƯỜI
Vùng biển Cửa Lò là vùng biển ăn sâu vào đất liền, là eo lõm sâu trên bản đồ đất nước cong cong hình chữ S, đây cũng là vùng chuyển tiếp giữa biển Bắc Bộ và biển Trung Bộ, vùng đất được thiên nhiên ban cho nhiều ưu đãi nhưng cũng không kém phần khắc nghiệt Gắn bó với mảnh đất này là những con người có gốc gác từ những nơi khác nhau với truyền thống hàng trăm năm gây dựng xóm làng, đã tạo nên những nét văn hóa của cộng đồng ngư dân ven biển
1 Về điều kiện tự nhiên và nguồn lợi biển
1.1 Điều kiện địa hình, khí hậu
Thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An là vùng đất ven biển, nằm ở toạ độ từ
18045’ đến 18050’ vĩ độ bắc và từ 105042’ đến 105045’ độ kinh đông, cách thành phố Vinh 20km về phía đông bắc, phía bắc và phía tây giáp huyện Nghi Lộc, phía nam giáp huyện Nghi Xuân (tỉnh Hà Tĩnh) và phía đông giáp biển Đông
Thị xã được chắn bởi hai con sông ở hai đầu bắc nam đổ ra hai cửa biển lớn Sông Cấm ở phía bắc đổ ra Cửa Lò; sông Lam ở phía nam đổ ra Cửa Hội Hai cửa biển này đều có vị trí chiến lược quan trọng cả về quân sự và kinh tế của quốc gia
Thị xã Cửa Lò có bờ biển dài 10,2km, bãi biển rộng, cát trắng mịn, bằng phẳng, lộng gió; nước biển có độ mặn vừa phải, trung bình 3,4-3,5% Quanh Cửa Lò có nhiều núi đá nhỏ, mỗi hòn núi có dáng vẻ riêng, gắn với những truyền thuyết và chiến công hiển hách đã đi vào lịch sử dân tộc Từ lâu, nhân dân địa phương đã đặt tên cho các hòn núi đó theo hình dáng của chúng như: núi Voi, núi Rồng, núi Gươm, núi Trống, núi Mão, núi Cờ, đảo Lan Châu Cách bờ biển Cửa Lò khoảng 4km có đảo Ngư với độ cao 125m, ở vùng nước sâu 12m, là chỗ dựa cho tàu viễn dương trước khi vào cảng Cửa Lò Cách Cửa Hội khoảng 30km có đảo Mắt (Quỳnh Nhai) nằm gần kinh tuyến đông 1060với độ cao 218m, dài 1,5km, biển sâu 24m, có nguồn nước ngọt, là chỗ dựa cho ngư dân khi gặp sóng to gió lớn Các hòn đảo này có vị trí chiến lược về quốc phòng an ninh và cũng là điểm du lịch rất hấp dẫn
Địa hình Cửa Lò có nhiều cồn cát cao, rộng, cách nhau khoảng 500m và song song với bờ biển (do đất bồi biển lùi); xen giữa các cồn cát là lòng chảo đầm bàu
Trang 18Khí hậu Cửa Lò nằm trong vùng tiểu khí hậu Bắc Trung Bộ Mùa hè từ tháng 4 đến tháng 8 có gió tây nam nóng nực; mùa thu từ tháng 9 đến tháng 11 thường mưa nhiều kéo theo lụt bão; mùa đông và đầu mùa xuân có gió mùa đông bắc rét buốt kéo dài từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau Tuy nhiên, khí hậu nơi đây ấm hơn các huyện phía tây về mùa đông và mát mẻ trong lành hơn về mùa hè, do vị trí nằm sát biển
Thị xã Cửa Lò có diện tích tự nhiên 2812,18ha Trừ diện tích sông suối 260,33ha, quỹ đất còn lại là 2551,85ha Thổ nhưỡng gồm hai loại đất chính: Đất phù sa gồm: cồn cát, đụn cát; đất cát biển; đất phù sa không được bồi, chua, không glây hoặc glây yếu; đất phù sa cũ có nhiều sản phẩm pheralit Đất mặn gồm: đất lầy hoang; đất mặn nhiều; đất mặn trung bình; đất mặn ít; đất chua mặn và mặn chua
Nghi Thủy nằm sát với cảng Cửa Lò, ở khoảng tọa độ từ 18049’10’’ đến
18050’00’’ vĩ độ bắc và từ 102042’45’’ đến 105043’23’’ độ kinh đông, phía bắc giáp xã Nghi Thiết, huyện Nghi Lộc, phía nam giáp phường Thu Thủy (thuộc thị xã Cửa Lò) và xã Nghi Khánh huyện Nghi Lộc, phía đông giáp biển đông, phía tây giáp lạch Lò và phường Nghi Tân
Vùng đất Nghi Thủy được bao bọc bởi sông biển cả 3 phía: bắc, đông và tây Ở phía bắc, sông Cấm đổ ra cửa lạch Lò rồi ra biển Đông, gần cửa lạch Lò
có một nhánh sông chảy dọc phía tây phường Nghi Thủy, chảy lên xã Nghi Khánh (Nghi Lộc) – gọi là sông Cửa Lò Dọc bờ phía đông con sông này có cầu cảng Cửa Lò Dọc bờ phía bắc lạch Lò thuộc xã Nghi Thiết (Nghi Lộc) có dãy núi chạy theo hướng tây – đông, vươn ra biển, điểm cuối gọi là mũi rồng Dãy núi này có chỗ thấp trũng tạo thành eo, ngay gần cảng Cửa Lò, biển ăn lõm và đất liền, tạo nên cảng cá Nghi Thủy, là nơi thuyền đánh bắt đi về neo đậu và vận chuyển cá lên bờ Bến cá hình vòng cung, dài khoảng 0,5km Hiện tại, bến cảng đã được bê tông hóa, có bậc tam cấp để lên xuống sát mép nước
Bờ biển thuộc địa phận phường Nghi Thủy dài 1km từ cửa biển Cửa Lò tới đảo Lan Châu Nước biển có độ mặn thích hợp, trung bình 3,4 – 3,5%, bãi biển rộng Biển rất giàu hải sản với nhiều loại như tôm, mực, cua, ghẹ, ốc hương, cá thu, cá lưỡng, cá song, cá ngừ,
Nghi Thủy có bến cảng nên tàu các nơi có thể ra vào thuận lợi, từ Nghi Thủy có thể đi thuyền theo sông Cấm để lên các xã phía tây huyện Nghi Lộc Nhờ có nhánh sông phía tây và biển phía đông nên vùng này không bao giờ bị úng lụt, chỉ thỉnh thoảng, khi thủy triều dâng cao có thể bị ngập trong vòng nửa giờ
Trang 19Khí hậu nơi đây cũng như khí hậu của thị xã, nhưng do có ba mặt là nước bao bọc nên thường mát hơn các vùng khác về mùa hè và ấm hơn về mùa đông
Tổng diện tích tự nhiên của phường gồm 192ha Đất đai các loại có 189ha (trong đó đất ở 20ha, đất đô thị 20ha, đất nông nghiệp 18ha, vườn tạp 18ha, đất chuyên dùng 44ha, đất chưa sử dụng 107ha)3
Nhìn chung, điều kiện địa hình và khí hậu của nơi đây thuận lợi cho việc phát triển nền kinh tế dựa vào các nguồn lợi từ biển, đặc biệt là khai thác hải sản
1.2 Nguồn lợi biển
Do điều kiện vị trí địa lý và địa hình, yếu tố biển nổi bật lên với tư cách
là một nguồn lợi tự nhiên đặc biệt quan trọng đối với ngư dân ven biển Cửa
Lò Trước tiên, phải nói đến là nguồn lợi hải sản dồi dào và đa dạng ở vùng biển Cửa Lò nói riêng, ở vùng biển Nghệ An nói chung
Theo thống kê của Sở Thủy sản Nghệ An, tài nguyên hải sản nói chung của tỉnh gồm có trên 267 loài cá thuộc 91 họ, trong đó có 62 loài có giá trị kinh
tế cao, có thể chia thành 2 nhóm sau: nhóm gần bờ có 121 loài chiếm 45,32% (trong đó cá nổi có 20 loài bằng 7,5%, cá đáy và gần đáy 101 loài, tương ứng 37,82%); xa bờ 146 loài chiếm 54,68% (trong đó cá nổi 39 loài bằng 14,61%,
cá đáy và gần đáy 107 loài bằng 40,07%) Trữ lượng cá biển trên 80.000 tấn, trong đó cá xa bờ khoảng 50.000 tấn chiếm gần 62%, cho phép khai thác từ 30.000-35.000 tấn, có nhiều loại cá có giá trị kinh tế cao như: cá chim; cá thu;
cá hồng, nục, Có 20 loài tôm thuộc 8 giống và 6 họ trong đó có tôm he, tôm rảo, tôm bộp, tôm vàng, tôm sắt, tôm đất, tôm sú và tôm hùm; trữ lượng 610 -
680 tấn Tôm hùm là loại tôm có giá trị xuất khẩu cao, có trữ lượng từ 20-25 tấn, tập trung tại các vùng rạn đá ven các đảo và các vùng có đá ngầm trong vùng biển Tài nguyên hải sản ở Nghệ An còn có một số loại hải sản quý khác,
đó là mực Mực phân bố khắp vùng biển và có nhiều loài, nhưng qua thực tế khai thác một số loài có sản lượng cao là mực cơm, mực ống và mực nang Ngoài ra, còn phải kể đến các loại hải sản khác như: khuyết, ghẹ, cua, ngao,
sò, ốc,
Sự phong phú về hải sản với các hệ nổi, hệ đáy ở gần bờ và xa bờ trong vùng biển này đã giúp cho ngư dân bám biển sản xuất, tìm kế mưu sinh từ hàng trăm năm trước Họ đã biết khai thác nguồn lợi hải sản để phục vụ cho
Trang 20cuộc sống của mình và tạo ra những phương thức khai thác phù hợp với đặc trưng sinh sống của các loại hải sản để đạt hiệu quả tối ưu
Đồng thời, cũng không thể không nói tới lợi thế của một vùng biển nên thơ với nhiều nét đẹp văn hóa, là thuận lợi to lớn để phát triển du lịch
Những năm đầu thế kỷ XX, cùng với việc phát hiện và xây dựng các khu nghỉ dưỡng ở khu vực miền núi phía Bắc, đáp ứng nhu cầu của các nhà tư bản Pháp, thực dân Pháp đã bắt đầu đầu tư xây dựng những nhà nghỉ ở khu vực ven biển Cửa Lò cho các nhà tư bản Pháp ở thành phố Vinh Tuy nhiên, yếu tố biển được khai thác trên góc độ du lịch chỉ thực sự được chú ý và tập trung đầu tư phát triển là kể từ khi thị xã Cửa Lò chính thức thành lập, tách khỏi huyện Nghi Lộc vào năm 1995 Từ đó đến nay, du lịch biển là một trong những thế mạnh phát triển kinh tế thị xã
Nguồn lợi thứ ba từ biển và vị trí địa lý mang lại đó chính là hệ thống cửa sông và cảng biển Thị xã Cửa Lò được giới hạn ở hai phía nam bắc bởi hai cửa sông Lam và sông Cấm Đó là những con đường thủy từ biển vào sâu trong đất liền trong lịch sử Cảng Hội Thống từ xưa đã là nơi ra vào của nhiều con thuyền trong nam ngoài bắc Cho đến khi đất nước hoàn toàn thống nhất, ngày 05/12/1979 Thủ tướng chính phủ cho phép xây dựng Cảng Cửa Lò (Cảng quốc tế) Sau 5 năm xây dựng (1979-1984) cảng quốc tế Cửa Lò được hình thành với kết cấu hạ tầng bao gồm 2 bến dài 320 m, diện tích bãi cảng rộng
36000 m2, 3 kho có diện tích 22.000 m2, độ sâu luồng -5.0 m đảm bảo cho tàu
<10.000 tấn ra vào thuận lợi Thị xã Cửa Lò là cửa ngõ ra biể n Đông, không chỉ củ a Nghệ An mà còn củ a vùng kinh tế bắ c miề n Trung qua hai cả ng biể n Cửa Lò và Cửa Hộ i
Ngoài ra, vùng biển Cửa Lò còn có đảo Ngư, đảo Lan Châu và đảo Mắt Riêng đảo Ngư cách bờ biển 4 Km có diện tích trên 100 ha, mớm nước quanh đảo có độ sâu 8-12 m, có điều kiện xây dựng thành cảng nước sâu trong tương lai, rất thuận lợi cho việc giao lưu hàng hoá giữa nước ta và các nước trong khu vực
Vớ i những đ iề u kiệ n thuậ n lợ i củ a yế u tố biể n như thế , Cửa Lò
có đ ầ y đ ủ tiề m nă ng đ ể phát triể n kinh tế hà ng hả i, du lị ch, dị ch vụ , khai thác và chế biế n hả i sả n…
1.3 Địa lý hành chính
Huyện Nghi Lộc thời xưa có 5 tổng (tổng là cấp trung gian giữa huyện
và xã) Vùng thị xã Cửa Lò hiện nay nằm trong tổng Thượng Xá với các làng
Trang 21Tân Lộc, Vạn Lộc (Nghi Tân), Yên Lương, Mai Bảng, Mai Lĩnh, Yên Trạch (Nghi Thuỷ), Thu Lũng (Nghi Thu), Văn Trung, Đồng Quan, Kim Ổ, Thiêm Lộc (Nghi Hương) và một phần tổng Đặng Xá (làng Song Lộc, nay là Nghi Hải, Nghi Hoà)
Sau Cách mạng tháng Tám – 1945, Chính phủ ra quyết định bãi bỏ cấp
tổng, các đơn vị hành chính là cấp phủ được đổi thành huyện Từ tháng 2 –
1946, vùng thị xã Cửa Lò ngày nay nằm trong các xã Long Châu, Hiểu Hạp, Thuận Hợp, Ngư Phong Từ tháng 4 – 1947, vùng đất này nằm trong hai xã Hợp Châu, Ngư Hải Tháng 4 năm 1954, xã Hợp Châu được chia thành 5 xã: Nghi Tân, Nghi Thu, Nghi Hương, Nghi Khánh, Nghi Thạch Xã Ngư Hải được chia thành 4 xã: Nghi Hải, Nghi Hoà, Nghi Phong, Nghi Xuân Đến tháng 9 – 1955, xã Nghi Thuỷ được thành lập (gồm hai thôn Yên Lương, Mai Bảng của xã Nghi Tân được tách ra và hai thôn Yên Trạch, Mai Lĩnh của xã Nghi Thu được tách ra)
Ngày 4 – 4 – 1986, Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định số 37 HĐBT thành lập thị trấn Cửa Lò (thị trấn cảng và du lịch), trên cơ sở diện tích, dân số của hai xã Nghi Tân và Nghi Thuỷ cùng 82ha diện tích tự nhiên của xã Nghi Thu và 15ha diện tích tự nhiên của xã Nghi Hợp
Ngày 29 – 8 – 1994, Chính phủ ra Nghị định số 113 – CP thành lậo thị
xã Cửa Lò trên cơ sở thị trấn Cửa Lò và các xã Nghi Thu, Nghi Hương, Nghi Hoà, Nghi Hải; 50ha diện tích tự nhiên, 1.991 nhân khẩu của xã Nghi Quang huyện Nghi Lộc
Thời Pháp thuộc, vùng đất Nghi Thủy hiện nay là các làng Yên Lương, Mai Bảng thuộc tổng Thượng Xá, huyện Nghi Lộc Từ tháng 2 – 1946, làng Mai Bảng nằm trong xã Long Châu, làng Yên Lương nằm trong xã Hiểu Hạp Đến tháng 4 – 1947, cả hai làng thuộc xã Hợp Châu Tháng 4 – 1954, xã Hợp Châu được chia thành 5 xã là Nghi Tân, Nghi Hương, Nghi Thu, Nghi Khánh
và Nghi Thạch Đến tháng 9 – 1955, xã Nghi Thủy được thành lập (bao gồm làng Yên Lương, Mai Bảng của xã Nghi Tân được tách ra và 2 làng Yên Trạch, Mai Lĩnh của xã Nghi Thu được tách ra) Đến tháng 4 – 1986, xã Nghi Thủy cùng với xã Nghi Tân, một phần xã Nghi Thu và Nghi Hợp trở thành Thị trấn Cửa Lò, đến tháng 8 – 1994, thuộc thị xã Cửa Lò
2 Dân cƣ
2.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Theo ý kiến của các nhà khảo cổ học và lịch sử, vùng đất Cửa Lò hiện
Trang 22tại được tạo nên bởi hiện tượng biển lùi nên đây không phải là vùng đất cổ từ thời khai thiên lập địa Các làng xóm trên vùng cát bồi đều được xây dựng song song với nhau trên các giồng cát chạy dài trên bờ biển, các cồn cát này đều được phân cách nhau bởi các vùng ao trũng kéo dài, có một dòng nước rất trong chảy vào, và chỉ tại các nơi này mới có ruộng đồng chuyên trồng các loại cây trên cạn Căn cứ vào các hoá thạch tìm được tại các đồi cát này, có thể khẳng định rằng mỗi giồng cát đánh dấu một giai đoạn quá trình biển lùi, quá trình này bắt đầu từ cuối Đệ tứ kỷ Sự cổ kính, tính xa xưa của các làng trong vùng cứ bớt dần độ cao khi đi từ quốc lộ 1 ngày nay ra phía bờ biển Còn sự bồi đắp vào thời kỳ sau này (từ thời kỳ cận đại) thì có thể căn cứ vào gia phả các dòng họ lớn trong vùng như họ Nguyễn ở Thượng Xá (Cửa Lò) hay họ Nguyễn ở Tiên Điền (Nghi Xuân – Hà Tĩnh) để biết được rằng vào hồi thế kỷ XIV, bờ biển còn ở lùi sâu vào phía trong, cách bờ biển hiện nay 2km về phía tây - một hiện tượng biển lùi, kết quả của quá trình bồi đắp phù sa của các con sông Lam, sông Cấm
Theo ý kiến của một học giả người Pháp là Le Breton4, tại khu vực Bắc Trung kỳ, sau những lớp người của thời tiền sử, có lẽ những cư dân đầu tiên trên đất này thuộc dòng giống người Chăm “Những người tù binh Champa, từ thế kỷ XI đến đầu thế kỷ VV, và những tù binh Trung Quốc, đầu thế kỷ XV đã được đưa đến lập nghiệp ở vùng An – Tĩnh Song những làng mới mà họ lập
ra, đều đã được xây dựng trên những mảnh đất bồi của biển mới nổi lên hay trên những đất phù sa do sông Lam mới bồi đắp Thành ra, lịch sử của những
cư dân ấy đều gắn liền với lịch sử của sự hình thành địa chất mới đây của một vài miền trong xứ An – Tĩnh” [Le Breton, 2005, tr12]
4 Le Breton là một nhà giáo nhiều năm dạy ở trường Quốc học Vinh hồi đầu thế kỷ XX, có tình cảm
gắn bó với vùng đất An – Tĩnh, ông đã biên soạn cuốn địa chí của vùng này với tên gọi Le vieux An
– Tĩnh, đã được nhà xuất bản Nghệ An và Trung tâm văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây dịch ra tiếng Việt
với tiêu đề An – Tĩnh cổ lục Cuốn địa chí ra đời trên cơ sở tìm hiểu kỹ lưỡng của tác giả dựa trên sự
kết hợp các tri thức của nhiều bộ môn khoa học như khảo cổ học, địa chất học, lịch sử và đặc biệt là văn hóa dân gian của chính vùng đất này Cuốn sách mang lại nhiều thông tin bổ ích về sự hình thành địa chất và lịch sử của một số vùng trong xứ An Tĩnh Một điểm đáng lưu ý là ông đã đặc biệt chú trọng đến các gia phả, rồi các sự tích, các di chỉ, các tác phẩm của dòng họ, vùng miền để dựng lên một diện mạo sinh động của xứ Nghệ Cũng trong công trình này, ông có nhắc tới một tập san có nhan đề “Sự hình thành của những đồng bằng duyên hải An – Tĩnh” sẽ được trình bày trước “Hội đồng nghiên cứu khoa học Đông Dương”, lấy tên là “Khái luận về việc nghiên cứu những bờ biển thuộc thời kỳ thứ tư ở xứ Nghệ và ba xứ Quảng miền bắc Đông Dương” – Đây chắc chắn sẽ là một tài liệu vô cùng bổ ích và thú vị để tìm hiểu rõ hơn về lịch sử vùng đất ven biển Cửa Lò nói riêng, vùng đất ven biển xứ Nghệ nói chung Tuy nhiên, do nhiều lý do, tác giả luận văn chưa thể tìm hiểu
rõ hơn về sự tồn tại và nội dung của cuốn tập san này Chắc chắn khi có điều kiện, tác giả sẽ không
bỏ qua việc tìm hiểu cuốn tập san trên để nghiên cứu kỹ hơn về lịch sử hình thành của cộng đồng ngư dân vùng biển xứ Nghệ.
Trang 23Cũng theo khảo cứu của tác giả này thì “Vào đầu thế kỷ XV, Cửa Lò chưa có, ngọn núi nằm từ đường cái quan đến Cửa Lò hồi đó là một hòn đảo
mà hai dòng chảy của sông Cấm lượn quanh bắt đầu từ làng Đò Cấm ngày nay (gần ga Đò Cấm) Nhánh bắc của sông vẫn giữ nguyên cho đến ngày nay Nhánh nam hình thành Cửa xá, ngày nay hầu như đã bị cát bồi lấp hoàn toàn Ngay từ hồi đó, ở Cửa Xá đã có những đầm phá do Lê Lợi ban cho Nguyễn Hội và trên các vùng này, Nguyễn Hội lập làng Thái xá, ngày nay là Thượng
Xá Trên đất đai của mình, Nguyễn Hội lập nhiều nại muối và trở nên giàu có Các nại muối, ngày nay không còn nữa, do đất phù sa bồi lấp dần vào, cho nên nại muối nay lại cách hai cây số về phía đông Nguyễn Xí được cấp lãnh địa cả miền duyên hải nằm giữa Cửa Lò và Cửa Hội (Hội Thống) ngày nay Trong số các đầm phá này có Bàu Ó, cái bàu mà theo các sách Dư địa chí thì gọi là Hồ Nước Biển Dọc theo bờ Bàu Ó, Nguyễn Xí lập nên làng Bàu Ó mà đất đai thì
do một đám tù binh người Tàu mà Nguyễn Xí bắt được trong các cuộc chiến tranh ở An – Tĩnh (1418 – 1428) khai khẩn Trên những đầm phá khác, Nguyễn Xí lập ra rất nhiều làng Đất đai mới nổi lên đều do những người Champa khai khẩn Những người này do Nguyễn Xí bắt được trong cuộc đánh nhau với nước Champa năm Thái Hòa thứ 3, đời Nhân Tông, tức là năm Ất Sửu (1445) Các thủ lĩnh Champa bị bắt làm tù binh là Chế Hiệp, Chế Lâu và Chế Đa Nguyễn Xí bèn cử họ làm thủ chỉ “Hội đồng kỳ hào” của những làng mới lập Con trai của Nguyễn Xí là Nguyễn Sư Hồi được ban cấp đầm phá Cây Bằng, trên miền đất đai mới bồi đắp này, các làng Vạn Lộc và Tân Lộc được hình thành Theo chiếu chỉ của nhà vua, tất cả các làng được thiết lập vào thế
kỷ XV bởi họ Nguyễn Thượng Xá đều được miễn thuế và mọi đảm phụ hành chính hoặc quân sự (phu phen, tạp dịch, ) Những người thuộc họ Nguyễn này đều là lãnh chúa tuyệt đối trên thái ấp của họ Việc nghiên cứu gia phả của họ Nguyễn Thượng Xá và các sự tích của những làng xã ven biển của Nghi Lộc cho chúng ta biết rằng đường bờ biển ngày nay cách đường bờ biển
ở thế kỷ XV gần hai cây số về phía đông”[Le Braton, 2005, tr98,99,102]
Hiện nay, chưa có một công trình khoa học nào sưu tầm, nghiên cứu về
sự hình thành các dòng họ, các thôn làng ở vùng đất này Tuy nhiên, qua một
số tư liệu đã có như trên, chúng ta biết được ít nhiều về lai lịch một số làng xã
và một số dòng họ Chẳng hạn, làng Vạn Lộc được hình thành vào năm 1493 với cái tên đầu tiên là xã Hải Ngung Người có công lớn trong việc khai phá đất đai, lập nên xã mới là Thái uý Nguyễn Sư Hồi (con trai cả của Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí) Tại làng Vạn Lộc (Nghi Tân) hiện nay vẫn còn
Trang 24đền thờ Nguyễn Sư Hồi (khánh thành năm 1508, đã được Bộ Văn hoá – Thông tin ra Quyết định số 1057 – QĐ ngày 14 – 6 – 1991, công nhận là di tích lịch
sử văn hoá quốc gia) Và lớp cư dân khi vùng đất này mới hình thành có nguồn gốc từ người Champa, người Trung Quốc
Cũng như các phường, xã ven biển khác trong thị xã, do đặc điểm địa lý, vùng đất Nghi Thủy hiện nay được tạo nên bởi hiện tượng biển lùi Do đó, dân
cư sống trên địa bàn này là từ các nơi khác chuyển đến, cùng nhau xây làng và định cư lại nơi này Trên cái gốc ban đầu các làng do Nguyễn Xí lập ra, dần dần dân cư từ các nơi chuyển tới sinh sống ở vùng ven biển này Chẳng hạn, làng Mai Bảng (thuộc phường Nghi Thuỷ), cách đây khoảng 230 năm (cuối thời Trịnh Nguyễn phân tranh) tại Cồn Mui có 6 gia đình từ vùng Cửa Sót (Thạch Hà, Hà Tĩnh) ra cư trú và phát triển thành làng Sáu gia đình đó gồm
các họ Võ, Trần, Nguyễn, Lê, Hoàng, Đặng Cái tên Mai Bảng có xuất xứ từ làng Mai Lâm ở huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh – quê hương của 6 gia đình ngụ cư
đầu tiên ở Mai Bảng Hiện nay, làng Mai Bảng vẫn có ngôi đền thờ vọng Lê Khôi5 Làng Yên Lương lúc đầu có tên là làng Hoa Duệ, rồi đổi thành Yên Ngoại Những họ đầu tiên đến cư trú trên đất làng Hoa Duệ gồm có họ Vũ, họ Phùng, họ Hoàng, họ Trịnh, họ Dương, họ Nguyễn Đền làng này có từ năm
1630 thờ Mẫu Đại Càn Tứ vị Thánh nương, rước từ cửa Cờn (Quỳnh Lưu) về đây thờ vọng Theo thống kê sơ bộ, Nghi Thủy có 45 dòng họ, có họ đông nhân khẩu như họ Nguyễn Cảnh, họ Phùng; có họ ít người như họ Phạm
Một đặc điểm của cư dân thị xã Cửa Lò là tỷ lệ giáo dân khá cao 3/7 phường xã có giáo dân với 1.001 hộ, 4.976 tín đồ Thiên chúa giáo, chiếm 11% tổng số dân toàn thị xã6
Về nghề nghiệp, ngoài nghề đánh cá là chính, dân ở đây còn làm ruộng,
từ xưa, tại vùng Cửa Lò còn có nghề nấu muối (đốt lò đun nước biển cho đến khô để thành muối) Tuy nhiên, từ khi diêm dân biết làm nại muối thì nghề nấu muối cũng không còn nữa Tại làng Thu Lũng (Nghi Thu) có nghề thợ mộc, chuyên làm nhà và đình chùa Nhiều thợ giỏi từng đi khắp nơi để hành nghề Tại làng Vạn Lộc có nghề thủ công đóng thuyền rất nổi tiếng Nghề này có từ
5
Lê Khôi người làng Lam Sơn (nay thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa Ông tham gia khởi nghĩa Lam Sơn từ đầu và lập được rất nhiều công lao Năm 1443, ông được làm Nhập Nội Thiếu Úy, trấn thủ Nghệ An Năm 1446 phụng mệnh vua Nhân Tông, cầm quân đi đánh Chiêm Thành, trên đường trở về ông bị bệnh nặng, đoàn chiến thuyền đến Cửa Sót ( Hà Tĩnh) dưới chân núi Nam Giới thì ông mất Triều đình làm quốc tang thi hài ông an táng tại chóp núi Long Ngâm và cho lập đền thờ tại đó hàng năm quốc tế truy phong Năm 1487 được vua Lê Thánh Tông tặng phong “ Chiêu Trưng đại vương”
Trang 25thời Lê, khi Thái uý Nguyễn Sư Hồi tuyển thợ đóng thuyền giỏi ở ngoài bắc vào đóng mới và sửa chữa tàu thuyền để phục vụ cho quốc phòng an ninh và phát triển kinh tế Ngoài ra, nhiều nơi còn có nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt lụa, nghề làm nón, nghề chế biến nước mắm, nghề bện đay, đan lưới và đan lát đồ dùng bằng tre Ngày nay, tỷ lệ số dân làm các nghề tiểu thủ công nghiệp, dịch
vụ - thương mại ngày càng tăng lên
Ở Nghi Thuỷ, ngư dân làng Mai Bảng thường đánh cá bằng câu te, dạ, lưới rút, câu vàng, câu mực, đan lồng đánh mực, vào lộng ra khơi Dân làng Yên Lương thường đánh cá bãi ngang, rùng, lưới rợ, lưới chân; xóm Nại có nghề làm muối Khoảng thời gian từ 1945 đến 1958, có thêm một số ngư dân
từ Cửa Sót (Hà Tĩnh), từ huyện Hưng Nguyên và một số nơi khác đến đánh cá
ở Cửa Lò rồi định cư trên đất Nghi Thuỷ (số đông ở Mai Giang - Hợp tác xã Phương Đông – Nghi Thuỷ và Vạn Giang – Nghi Tân)
Từ xa xưa, ngư dân ở đây có nghề làm muối và nghề đan lưới, đánh cá, chế biến (thô chế) hải sản, làm nước mắm, ruốc, phơi cá khô Khoảng từ năm
1960 trở đi có thêm nghề làm chiếu, đan đồ mỹ nghệ, nghề nề, mộc Lao động nam có 80% làm nghề đánh cá, số còn lại làm nghề thủ công và dịch vụ Lao động nữ phần đông làm nghề buôn bán dịch vụ, chủ yếu là buôn bán hải sản
Những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã có tác động không nhỏ đối với xã hội Việt Nam, làm thay đổi kết cấu cộng đồng cư dân ở một số vùng, trong đó có vùng Bắc miền Trung Người Pháp vốn có truyền thống và kinh nghiệm phát hiện lựa chọn và xây dựng các khu du lịch, điểm du lịch Với đất nước có khi hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa như Việt Nam, nhu cầu nghỉ mát, nghỉ dưỡng được người Pháp đặt ra khá bức thiết Vì vậy, ngay sau khi cuộc xâm lược kết thúc và chính sách khai thác thuộc địa lần 1 đang dần ổn định và thu được kết quả bước đầu, cuộc tìm kiếm và tiến hành xây dựng các khu du lịch đã diễn ra ở nhiều nơi trên đất nước Việt Nam Vào đầu thế kỷ XX, một loạt địa điểm được người Pháp lựa chọn bắt đầu việc xây dựng hệ thống khách sạn, nhà nghỉ và xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng như đường giao thông, điện, nước, trung thâm thương mại, kèm theo Cũng từ đó các điểm du lịch đã ra đời, như Sapa (1903), Tam Đảo (1904), Mẫu Sơn (1906), Ba Vì (1906), Sầm Sơn (1097), và người Pháp cũng bắt đầu cho khảo sát và xây dựng khu du lịch biển Cửa Lò vào năm 1907
Toàn quyền Paul Dume cho xây dựng thêm đường Vinh đi Cửa Hội, Cửa Lò Đường Quán Bánh (tiếp giáp đường 1) đi Cửa Lò Họ còn lập đồn binh: đồn thương chánh thượng xá ở Cửa Lò, đồn trấn thủ ở Cửa Hội (cạnh
Trang 26trạm Xy Nhan), kho Hải Đạo (chỉ huy đường biển) do một quan võ làm nhiệm
vụ kiểm soát thu thuế tàu thuyền ra vào lạch Ngoài ra còn có đồn lính khố xanh (của chính phủ Nam triều) Người Pháp còn trồng rừng phi lao từ Cửa Lò đến Cửa Hội, do Sở kiểm lâm Pháp đưa giống về bắt dân trồng và họ quản lý thu lợi
Cùng với việc hoàn chỉnh hệ thống giao thông vận tải là việc công nghiệp hoá thành phố Vinh - Bến Thuỷ với việc xây dựng nhiều nhà máy (rượu, điện, diêm, ) Mỗi chủ nhà máy đều xây dựng một khách sạn ở Vinh
và một khách sạn ở Cửa Lò để nghỉ ngơi vào mùa hè Khách sạn của người Pháp xây dựng thuộc phường Nghi Thuỷ hiện tại, từ bãi biển Lan Châu tiến lên phía bắc 1km, tại đây có khoảng hơn 10 nhà nghỉ, khách sạn Khu vực Cửa
Lò những năm 1925 – 1927 còn có trạm điện ở vùng đảo Lan Châu – cung cấp điện cho các khách sạn của người Pháp
Như vậy, với khởi điểm là những nhà nghỉ của thực dân Pháp, sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, việc phát triển du lịch ở bãi biển Cửa Lò ngày càng được mở rộng Điều đó đồng nghĩa với những biến chuyển trong cơ cấu nghề nghiệp của cộng đồng ngư dân trong những làng chài nhỏ bé ven biển ban đầu
Hiện tại, Nghi Thủy là một trong 5 phường thuần ngư của thị xã Cửa
Lò, trong đó, lao động ngư nghiệp chiếm đa phần
Bảng1: Thống kê về lao động việc làm của UBND phường Nghi Thủy (tính đến 6 tháng đầu năm năm 2008)
II Nhân khẩu trong độ tuổi lao
động (nữ 15 – 54; nam 15 – 59)
4.486 2.298 2.188
1 Lao động có khả năng phân bổ
a Lao động có việc làm thường
xuyên
3.397 1.727 1.660
Trang 27b Lao động có việc làm không
thường xuyên
c Lao động chưa có việc làm 319 162 157
2 Lao động có việc làm (a+b)
đƣợc chia ra
Trang 28Bảng2: Thống kê chi tiết về các ngành nghề năm 2007 của phường Nghi Thủy
hộ
Tổng nhân khẩu
Lao động tron
g độ tuổi
Lao động
có việc làm
Lao động có việc làm chia ra
Kha
i thác hải sản
Buô
n bán hải sản
Chế biế
n hải sản
í
Má
y đá
Làm bánh , bún
Ma
y mặc
Chụ
p ảnh
Xe lai
Bò lố
p
Bán hàn
Trang 29(Nguồn: Phòng Thống kê UNBD phường Nghi Thủy)
Trang 30Qua hai bảng thống kê trên, ta có thể thấy tỷ lệ giữa lao động nam và lao động nữ ở phường Nghi Thủy là tương đương Trong đó, hoàn toàn không
có lao động nông nghiệp, lao động ngư nghiệp chiếm 54,3%, lao động trong ngành du lịch – dịch vụ chiếm 34,3% và lao động trong ngành công nghiệp, xây dựng chỉ chiếm 11,6% trong tổng số lao động có việc làm Như vậy, ngư nghiệp chiếm tới trên một nửa tỷ trọng lao động trong tổng số lao động của cộng đồng dân cư ở đây
Gắn với ba nhóm ngành là các nhóm dân cư làm các nghề thuộc các lĩnh vực khác nhau, trong đó trọng tâm là ngư nghiệp Chính vì thuần ngư, cuộc sống bấp bênh phụ thuộc vào biển cả, nên ngư dân ở đây còn làm thêm rất nhiều nghề khác nhau Đặc biệt, kể từ năm 1995, cùng với sự ra đời của thị
xã và sự phát triển của du lịch biển, nhiều người chuyển sang làm nghề dịch
Ở phía đông sát với biển, các ngôi nhà chỉ là nhà một tầng, nhỏ bé, nằm chen chúc nhau, chỉ có một khoảng đất nhỏ làm sân, không có vườn Nơi đây hầu hết tập trung những gia đình chuyên làm nghề khai thác hải sản Lùi dần
về phía tây, các ngôi nhà đã có diện tích thoáng hơn, có thêm khoảng đất vườn Nơi đây tập trung nhiều hộ làm nghề chế biến sản xuất nước mắm bởi
có không gian rộng hơn để đặt các thùng và bể chứa
Dọc con đường liên thị, là ranh giới giữa phường Nghi Thủy và Thu Thủy, cạnh chợ Hôm, có nhiều nhà hai và ba tầng kiên cố Những nhà này ở
Trang 31vị trí khuất gió, không trực tiếp hứng gió từ biển, đồng thời cũng là nhà của những hộ gia đình kinh doanh buôn bán các mặt hàng điện tử, điện lạnh, xe đạp, và một số dịch vụ phục vụ khách du lịch
Nhìn chung, nhà cửa của ngư dân nơi đây đa phần là nhà mái ngói một tầng kiên cố Mặc dù diện tích nhỏ hẹp nhưng nhà thoáng, mát Những con đường trong phường, liên khối xóm đều là đường lát gạch hoặc đã được bêtông hóa, sạch sẽ
Ăn, mặc
Bữa ăn của những ngư dân đơn sơ, đạm bạc Chất đạm thường xuyên vẫn là đồ biển (các loại cá, tôm, mực trong đó chủ yếu là các loại cá: ve, nục, lượng, ) Do diện tích cư trú chật hẹp và không canh tác nông nghiệp, nên toàn bộ lượng thực, rau xanh và thịt các loại đều do trao đổi với cư dân xung quanh Người dân ở đây bán cá, và các loại sản phẩm chế biến để lấy tiền, mua các lương thực, thực phẩm như: gạo, rau xanh các loại, thịt gia cầm gia súc,
Trước đây, cư dân có lò đốt muối, nên không phải mua muối, nhưng nghề này đã bị bỏ từ lâu, đa phần muối ăn và muối để dùng trong chế biến hải sản, đều mua của dân làm muối ở Diễn Châu Mắm ăn các loại thì không phải
đi mua ở đâu xa mà mua ngay tại địa bàn hoặc do nhà chế biến sẵn có
Các phương tiện đi lại, vận chuyển
Do vị trí ba mặt là nước, cư dân sống bằng nghề chính là đánh bắt hải sản, chế biến và buôn bán hải sản nên các phương tiện đi lại phụ thuộc vào điều kiện sống và đặc trưng nghề nghiệp
Đối với ngư dân đi biển, phương tiện đi lại chủ yếu là thuyền, mà ngư dân nơi đây thường gọi là nôốc, các loại thuyền công suất vừa và nhỏ, chủ yếu dùng để khai thác gần bờ Thuyền này do dân làng Trung Kiên (xã Nghi Thiết, huyện Nghi Lộc) đóng Đây là một làng có truyền thống đóng thuyền
từ hơn 600 năm Ngoài ra còn có rất nhiều thuyền mủng (thuyền thúng)
Đối với những người chế biến và buôn bán hải sản, những người ở gần bến cá thường đi bộ và quang gánh ra mua hải sản về chế biến, còn những người chuyên đi buôn bán gần xa, làm hàng đông lạnh thì dùng xe máy, xe ôtô tải nhỏ để vận chuyển Trước đây, sản phẩm của nghề chế biến thường được chuyên chở trên những con thuyền đi khắp mọi nơi trong nam, ngoài bắc Thuyền buôn nước mắm Cửa Lò, Cửa Hội đã từng dong buồm vào nam
ra bắc, nổi tiếng trong lịch sử
Trang 322.2.2 Tín ngưỡng, lễ hội
Tôn giáo tín ngưỡng là hình thức xã hội ra đời và phát triển cùng với xã hội loài người Nó là nhu cầu của con người, của xã hội, là niềm an ủi, sự nâng đỡ về tinh thần và tâm lý, cho con người để đối mặt với những thử thách trong cuộc sống Con người trong những điều kiện tự nhiên, điều kiện
xã hội, hoàn cảnh lịch sử khác nhau sẽ làm nảy sinh ra những tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau Trong cộng đồng ngư dân ven biển Cửa Lò, đời sống tín ngưỡng tôn giáo cũng là một phần không thể thiếu Sinh sống ở môi trường sinh thái ven biển, sinh kế chính phụ thuộc và biển cả, ngoài thờ cúng tổ tiên như là một phần tất yếu trong truyền thống đời sống tâm linh của người Việt, ngư dân nơi đây còn có các hình thức tín ngưỡng khác đặc trưng của vùng sông biển đó là thờ cúng các vị thần biển, được quan niệm là phù hộ cho những người đi biển gặp sóng yên biển lặng, đánh bắt được nhiều, mùa màng bội thu Ngoài ra, tại vùng Cửa Lò, còn có nhiều dân cư đi theo đạo Phật, đạo Thiên chúa Tuy nhiên, ở Nghi Thủy, không có gia đình nào theo đạo Thiên chúa, mà chủ yếu thờ cúng tổ tiên và các vị thần liên quan tới tín ngưỡng của người dân chuyên đi biển cùng các vị tiên hiền khai sáng làng mạc
Thờ cúng tổ tiên
Thờ cúng tổ tiên là một trong những truyền thống, đạo làm người của người Việt “cây có cội, nước có nguồn” Điều này thể hiện mối liên kết của cộng đồng về mặt huyết thống “Tổ tiên được coi như thần bản mệnh của dòng họ, tông tộc, gia đình Với quan niệm ông bà tổ tiên can thiệp đến vận mệnh con cháu, nên con cháu vừa chịu ơn sinh dưỡng, vừa sợ bị quở phạt Do
đó, tổ tiên được con cháu còn sống tưởng niệm, tôn thờ, có trách nhiệm lo lắng, chăm sóc theo tục lệ để được yên vui bên kia thế giới, được về quây quần sum họp, “ăn uống” cùng con cháu và che chở cho con cháu được nên người, nhằm bảo vệ và duy trì danh dự của dòng họ và gia đình”[Đặng Nghiêm Vạn, Tr313]
Tại Nghi Thủy, trong mỗi gia đình đều có bàn thờ gia tiên ở gian chính của ngôi nhà Vào ngày giỗ của những người đã mất, gia đình làm mâm cơm, hoa quả, rượu bánh dâng cúng, sau đó con cháu trong gia đình quây quần tụ họp hưởng lộc Ngoài ra, vào những ngày rằm và mồng một hàng tháng, các gia đình đều làm lễ thắp hương, hoa quả Còn vào các dịp lễ lớn hơn như Tết nguyên đán, rằm nguyên tiêu, tết Đoan ngọ, và các dịp lễ cầu ngư, bàn thờ
Trang 33gia tiên đều được soạn sửa chu tất với nhiều đồ lễ và hương khói Trong những ngày giỗ họ, cả dòng họ tập trung tại nhà tộc trưởng, cùng làm lễ cúng gia tiên So với trước kia, đời sống ngày càng no đủ hơn, cho nên các dòng họ đều tôn tạo hoặc xây dựng lại nhà thờ họ cho thêm phần khang trang, bày tỏ niềm biết ơn với tổ tiên dòng tộc, đồng thời cũng là cầu mong tổ tiên phù hộ cho cuộc sống gặp nhiều may mắn và thuận lợi
Do diện tích đất hẹp, chỉ để vừa đủ ở và bao quanh ba mặt là nước, nên thị xã quy hoạch cho Nghi Thủy chôn cất và tập kết mồ mả của những người trong họ theo từng địa điểm riêng của họ mình tại nghĩa trang ven đồi dọc con đường sang Nghi Tân
Thờ cúng thần biển, thành hoàng làng và các vị tiên hiền
Do điều kiện sống, lao động của ngư dân trong môi trường biển cả mênh mông đầy những hiểm nguy nên tôn giáo tín ngưỡng tạo cho họ niềm tin trước sự bao la hùng vĩ của thiên nhiên Trong tín ngưỡng dân gian, phổ biến nhất là việc thờ cúng các vị tiên hiền, những người có công trong việc tìm đất, định cư khai phá đất đai, mở mang nghề nghiệp, bên cạnh đó là việc thờ các nhân vật lịch sử
Tục thờ Tứ vị Thánh Nương khá phổ biến ở nhiều làng Việt, nhất là vùng ven biển Bắc Trung Bộ, thậm chí một số làng ven sông lớn nằm sâu trong đồng bằng cũng có tục thờ này Tuy nhiên, trung tâm thờ Tứ vị Thánh Nương là ở Đền Cờn
Tại vùng ven biển Cửa Lò, ngư dân nơi đây đã gắn bó với biển qua bao đời, với môi trường lao động phụ thuộc vào thời tiết thất thường và gặp nhiều rủi ro về tính mạng Đứng trước thiên nhiên rộng lớn và khó nắm bắt, con người tìm tới niềm tin an ủi về tinh thần để người đi biển vững vàng hơn trước sóng gió, cầu mong mùa đánh bắt bội thu, còn người ở nhà thì phần nào yên tâm về những người thân của mình đang còn lênh đênh trên sóng nước Chính vì vậy, cũng như nhiều vùng ven biển khác trên đất nước, hàng năm, lễ hội cầu ngư được tổ chức trọng thể và thu hút nhân dân trong vùng tham dự
Lễ hội lớn nhất, tiêu biểu nhất và có bề dày lịch sử nhất của khu vực Cửa Lò, tập trung được nhiều người tham gia là lễ hội đền Vạn Lộc
Đền Vạn Lộc được nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử Quốc gia vào năm 1991, là nơi thờ Thái uý Quận công Nguyễn Sư Hồi, người có công chiêu dân, lập ấp nên làng Vạn Lộc cách đây hơn 500 năm và thờ một số vị thần, các nho sinh, khoa bảng của làng Đền hiện tại thuộc địa phận phường
Trang 34Nghi Tân Đền Vạn Lộc nằm giữa một quần thể núi non, sông nước hùng vĩ, hữu tình: trước mặt là núi Bảng Nhãn, bên phải là núi Rồng, trái là Tượng Sơn, sau lưng có núi Lò (Lô Sơn), phía Đông và Nam có đảo Lan Châu, Song Ngư, đảo Mắt Cảnh đẹp của vùng Vạn Lộc đã được nhiều văn nhân, thi sĩ phóng bút đề vịnh Năm 1506 Nguyễn Sư Hồi mất, triều đình ban cho làng lập đền thờ Đền thờ Nguyễn Sư Hồi được hoàn thành vào năm 1508 và được sắc phong là Thượng đẳng phúc thần Trong lịch sử khoa bảng, Vạn Lộc nổi tiếng ở xứ Nghệ với 66 tú tài, 12 hương cống, cử nhân, 1 phó bảng, 1 tiến sĩ
Về võ và y học, mảnh đất này cũng khá nhiều người tài nên được người xưa đúc kết "Văn dành đỉnh bút/ Võ chiếm đề đao/ Nền y học chưa nơi nào sánh kịp" Vì vậy, bên cạnh thờ Nguyễn Sư Hồi, nhân dân còn thờ một số vị thần và nho sinh khoa bảng ở Đền Vạn Lộc
Mỗi độ Tết đến xuân về, thường 3 năm một lần, nhân dân vùng sông nước Cửa Lò lại long trọng tổ chức lễ hội đền Vạn Lộc để tưởng nhớ công ơn Thái uý Quận công Nguyễn Sư Hồi cùng các vị thần được thờ trong đền và cầu cho sóng yên, biển lặng, mùa màng bội thu Nhằm ôn lại không khí hào hùng một thuở, đồng thời là nhịp cầu gắn kết quá khứ với hiện tại và tương lai, lễ hội Đền Vạn Lộc diễn ra nhiều hoạt động sôi nổi, cùng với việc tế thần, nhân dân làng Vạn Lộc còn tổ chức mở hội rước sắc và tổ chức đua thuyền truyền thống, giao lưu văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao Bên cạnh việc đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng tâm linh của nhân dân vùng biển Cửa Lò và du khách thập phương, góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc còn
là dịp để thị xã Cửa Lò tuyên truyền, quảng bá tiềm năng du lịch của mình
Bắt đầu từ ngày 29/4 đến 02/5 dương lịch hàng năm, tại khu du lịch biển Cửa Lò, thị xã Cửa Lò diễn ra lễ hội sông nước Lễ hội này bắt nguồn từ
lễ hội đền Vạn Lộc, nhưng cùng với sự phát triển của du lịch biển, chương trình lễ hội này được thị xã đứng ra tổ chức và nâng cấp thành lễ hội của toàn thị xã vào đầu mùa hè hàng năm, vừa làm lễ cầu yên cho ngư dân, vừa khởi động cho một mùa du lịch mới ở biển Đây là lễ hội thu hút được đông đảo nhân dân địa phương tham gia cũng như khách du lịch các nơi tham dự, đặc biệt lễ hội năm 2008 vừa rồi, thu hút tới 6.000 khách du lịch tới đến dự
Đầu tiên, đoàn rước dâng hương và làm lễ tại đền Vạn Lộc và diễu hành tổ chức rước đuốc từ đền Vạn Lộc về khán đài tổ chức lễ hội ở quảng trường Bình Minh Tại đó, chủ tịch UBND Thị xã đọc lời khai mạc mùa du lịch biển Các ngày tiếp theo, sẽ diễn ra các chương trình vui chơi, biểu diễn
Trang 35như: liên hoan văn hóa nghệ thuật; đua thuyền truyền thống; thi đấu bóng chuyền bãi biển; thi nghiệp vụ du lịch: nấu ăn giỏi, lễ tân, trang phục du lịch,
Bên cạnh đó, ở Nghi Thủy, dân trong các làng chài cũng có những ngày
lễ cầu ngư riêng, theo ngày cúng giỗ thần Thành hoàng làng, nổi bật nhất có
lễ hội cầu ngư của dân làng Yên Lương và Mai Bảng – hai làng có lịch sử gắn liền với lịch sử khai phá vùng đất này và có truyền thống đánh bắt hải sản lâu đời
Theo Ban quản lý đền làng Yên Lương cho biết, đền được xây dựng vào năm 1630 Có người tên là Vũ Thế Triều là người đầu tiên lập nên ngôi đền cùng nhân dân lúc đó để thờ phụng vị Thành hoàng làng có hiệu là “Càn môn duệ tiền phụng sự hữu dịch nhất vị thánh hoàng y bản xã Cao Sơn Thần Vị” Dân làng lúc đó mới ít người, họ thành lập một giáp gọi là Bầu Tráo, một
số làm nghề đánh cá xung quanh đảo Lan Châu, một số làm ruộng, cùng lập nghiệp sinh sống Sau dân số đông dần lên, từ một giáp lập thành một thôn gọi là Hoa Duệ Đền được xây dựng từ lâu, nhưng do nhiều biến động lịch sử
xã hội, đền bị phá hủy nhiều, tháng 2 – 2007 mới tiến hành đại trùng tu và làm mới toàn bộ công trình mà trước đây đã xuống cấp nặng Hiện tại, làng Yên Lương thờ vọng Tứ vị thánh Nương (đền thờ chính thờ tại đền Cờn, Quỳnh Lưu) làm thành hoàng làng Ngoài ra, bên trong ban thờ của đền làng còn thờ một đốt sống lưng của cá voi
Tháng 1, 2, 4, 5, 6, 7 và tháng 12 trong năm đều có những ngày lễ, trong đó quan trọng nhất là lễ tháng 2 và lễ tháng 6 Ngày rằm tháng hai tổ chức lễ cầu yên, và chọn những ngày tốt trong tháng để làm lễ cầu ngư Còn tháng 6 là tháng tổ chức lễ hội truyền thống của làng Vào ngày 14 tháng này diễn ra lễ Thỉnh các Phật Thánh Sang ngày 15 thì buổi sáng tổ chức lễ rước, buổi chiều lẽ yết Ngày 16 tổ chức lễ tế các vị thần Sau nhiều năm gián đoạn, mãi năm 2008, dân làng mới tổ chức một lễ rước đầy đủ và hoàn chỉnh Lễ hội được tổ chức long trọng vào buổi sáng ngày 15/6 âm lịch Từ đền làng, nhân dân rước kiệu ra biển rồi tổ chức làm lễ, cầu mong một năm mưa thuận gió hoà để ra khơi đánh bắt hải sản gặp nhiều thuận lợi Tham gia lễ rước có trên 80 tàu thuyền đánh cá và đông đảo nhân dân Làng Yên Lương cũng như các địa phương lân cận
Cũng theo ban quản lý di tích đền Mai Bảng, đền làng này có từ cách đây khoảng 200 năm Đền thờ Đại đức Hồng ân Chiêu trưng đại vương thần
Trang 36Lê Khôi (gốc là từ Cửa Sót, Hà Tĩnh, rước về đây thờ vọng), thờ 27 vị tổ làng
và Tam tòa thì thờ Hội đồng Tiên mẫu Các lễ chính trong năm đó là vào ngày 2/5, đây là ngày giỗ Lê Khôi, từ ngày 11 đến ngày 13 tháng 2 diễn ra lễ cầu ngư Chiều ngày 11 làm tễ tế thần thánh, ngày 12 rước bài vị ra biển làm lễ cầu ngư, cầu cho sóng yên biển lặng, dân đi đánh bắt được nhiều cá
Lễ hội cầu ngư ở hai đền này chủ yếu thu hút ngư dân ở hai làng, cùng một vài phường xã lân cận Trong đó trọng tâm là rước thánh ra biển làm lễ
tế, cầu cho trời cầu đất cho ngư dân đi đánh bắt gặp nhiều thuận lợi, tai qua nạn khỏi, mùa màng bội thu
Cùng trên một mảnh đất, ngoài lễ hội lớn thu hút nhân dân nhiều nơi tham dự, thì mỗi làng đều có lễ hội cầu ngư riêng, trong đó lấy ngày cúng thành hoàng làng hoặc ngày tưởng nhớ công ơn của vị tiên hiền khai lập làng
để làm lễ tưởng nhớ và cầu ngư
Thờ Phật
Trong nhiều gia đình ngư dân ở Nghi Thủy, có bàn thờ thờ tượng Phật Ngày rằm và mồng một, nhiều người tới đi lễ ở các chùa xung quanh như chùa Lô Sơn7, cầu cho gia đình bình an, đi biển gặp nhiều thuận lợi và may mắn Một trong những chùa và là nơi trú ẩn quan trọng của ngư dân là chùa Ngư trên đảo Ngư nằm trên phía Đông, đứng trên bờ biển nhìn xa xa có thể thấy hai ngọn núi án ngữ ngoài biển Vào cuối thế kỷ XIII, đầu thế kỷ XIV, chùa được ngư dân nơi đây dựng lên ở phía tây của đảo Ngư để thờ Phật Thích ca Quan âm và Sát Hải đại vương Hoàng Tá Thốn8
– người có công lớn trong công cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông Nguyên vào thế kỷ XIII Chùa thờ Phật linh thiêng, lại nằm trênt uyến đường thủy buôn bán từ bắc – trung – nam và là nơi nối giữa hai cửa biển lớn (Cửa Lò và Cửa Hội),
do vậy, các nhà buôn và ngư dân khi đi qua đầy đều vào chùa dâng hương tế
7
Chùa Lô Sơn (Phổ am tự) được dựng từ thời nhà Lê, thuộc làng Vạn Lộc, huyện Chân Lộc, nay là phường Nghi Tân, thị xã Cửa Lò Hội chùa vào ngày rằm tháng tư và tháng bảy âm lịch hàng năm
– Theo Du lịch Cửa Lò, UBND thị xã Cửa Lò, năm 2007, tr61
8 Sát Hải Đại vương Hoàng Tá Thốn quê làng Vạn Phần, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu (nay
là xã Diễn Vạn - Diễn Châu) là người giỏi võ nghệ, có biệt tài về bơi lội Năm 1228, lập nhiều công trạng trong chống Nguyên Mông, được Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn dùng làm nội thư gia,
về sau được phong làm Sát Hải Đại tướng quân trấn giữ các cửa biển từ Hải Phòng đến Nghệ An -
Theo hồ sơ di tích (lưu tại Trung tâm VH Nghi Lộc và Ban Quản lý di tích Nghệ An, do Bảo tàng
Nghệ An lập năm 1995) Trong thời gian làm tướng coi giữ miền biển, ông đã nhiều làn dùng thủy binh đánh tan quân Chămpa đưa thuyền sang quấy nhiễu, đánh diệt cướp biển Nên trước đây ở vùng Cửa Lò và nhiều nơi khác đều có đền thờ ông Đền thờ to nhất là ở Cổ Đan, thuộc xã Nghi
Đàn, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
Trang 37lễ cầu xin cho trời yên biển lặng để thuyền bè thuận buồm xuôi gió, buôn bán gặp nhiều may mắn, đi biển bình an trở về Đặc biệt trong những gió bão, bãi chùa còn là nơi trú ngụ của thuyền bè từ xa tới, và là nơi trú bão của tàu thuyền đánh bắt cá của ngư dân
Theo phủ đồng cầu cúng
Ngoài ra, hầu như các hộ có thành viên đi đánh bắt cá đều đi lễ tại đền thờ của một ông đồng ngay trong làng Mai Bảng Họ đi tới ngôi đền này, sửa soạn lễ vật nhờ thầy cúng cúng tế để cầu cho gia đình gặp nhiều may mắn, thuận lợi, nhất là tránh được rủi ro về tính mạng do nghề nghiệp mang lại Thầy cúng sẽ đặt trên mâm đó những đoạn vải đỏ, mảnh và dài vừa đủ để buộc vào khuỷu tay để làm lễ Sau khi cúng lễ xong, người đi làm lễ sẽ mang những dải dây đó về buộc lên khuỷu tay trái của tất cả các thành viên trong gia đình, kể cả trẻ nhỏ Hàng tháng, các gia đình đều tới ngôi đền này làm lễ một lần Theo ý kiến của nhiều người, sau khi làm lễ xong, họ cảm thấy yên tâm hơn và gia đình gặp nhiều thuận lợi hơn
3 Về tình hình kinh tế - xã hội
Cùng với sự phát triển chung của thị xã, định hướng phát triển kinh tế của Nghi Thủy cũng là đẩy mạnh sự phát triển của ngành dịch vụ du lịch và chế biến hải sản Qua các thời kỳ thực hiện chiến lược phát triển, kinh tế phường cũng đã đạt được một số thành tựu đáng kể
Cơ cấu chuyển dịch đúng hướng, ngành chế biến hải sản, thương mại dịch vụ và xây dựng, tiểu – thủ công nghiệp phát triển nhanh và chiếm tỷ trọng ngày càng cao (đến cuối năm 2003 chiếm 61,5%)
Ngư nghiệp phát triển mạnh về năng lực đánh bắt, nghề dạ kéo xa bờ tiếp tục phát triển, các nghề lộng (mành, te) thu nhập khá Với phương châm
“lấy khai thác hải sản làm trọng tâm, tiếp tục củng cố nghề lộng, đa nghề trên thuyền”, đẩy mạnh phát triển nghề khơi, nghề dạ kéo xa bờ, khai thác sản phẩm có giá trị cao Tổng sản lượng khai thác năm 2002 đạt 3.498 tấn, năm
2003 đạt 3.890 tấn, trị giá 15,18 tỷ đồng Khâu chế biến hải sản phát triển, giải quyết được nhiều việc làm cho số lao động nhàn rỗi, số lượng các hộ chế biến tăng, các tổ hợp đã có sự liên kết với khách hàng, tìm đầu ra cho sản phẩm
Thương mại – dịch vụ ngày càng tăng, nhiều lao động có thu nhập cao (nhất là về mùa hè) Giá trị sản xuất năm 2001 là 4 tỷ đồng, năm 2003 là 5,8
Trang 38tỷ đồng
Tiểu thủ công nghiệp có thêm nghề mới như: cơ khí, gò hàn, gia công cửa rào sắt, may mặc, Giá trị sản xuất năm 2003 đạt 3,9 tỷ đồng
Năm 2007, giá trị sản xuất của ngành thương mại dịch vụ, du lịch đạt
13 tỷ 206 triệu đồng (tăng 36,8% so với năm 2005); ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng đạt 8 tỷ 575 triệu đồng (tăng 12% so với năm 2005); ngành khai thác hải sản đạt 21 tỷ 250 triệu đồng (tăng 5% so với năm 2005); ngành chế biến hải sản, phơi khô, sấy đạt 12 tỷ 840 triệu đồng (tăng 10% so với năm 2005); chăn nuôi đạt 630 triệu đồng (giảm 15% so với năm 2005); xuất khẩu lao động đạt 11 tỷ 160 triệu đồng (tăng gần 22% so với năm 2005)
Trên tổng thể có ba ngành chính là ngư nghiệp, du lịch – dịch vụ và công nghiệp – xây dựng, tuy nhiên, ngành nghề nhỏ trong những ngành chính
đó lại rất đa dạng, phong phú Có thể nói, đây là địa phương có nhiều ngành nghề Đây cũng là một trong những đặc trưng của cộng đồng ngư dân, để duy trì cuộc sống ổn định, người ta đã phát triển thêm những hoạt động kinh tế khác bên cạnh khai thác hải sản và các nghề dịch vụ liên quan tới khai thác Tuy nhiên, biển vẫn là yếu tố nổi bật nhất với các nghề liên quan tới hoạt động ngư nghiệp và các hoạt động dịch vụ phục vụ du lịch biển Trong đó, khai thác, chế biến và buôn bán hải sản là những nghề đã có từ lâu đời, diễn ra quanh năm và gắn liền với sự hình thành và phát triển của cộng đồng ngư dân nơi đây; còn du lịch biển là ngành mới phát triển sau này và chỉ diễn ra trong mùa hè Chính vì thế, các hoạt động kinh tế liên quan tới ngư nghiệp giữ một vai trò chủ chốt trong các hoạt động kinh tế của địa phương, tạo việc làm thường xuyên cho các lao động
Về giáo dục, từng bước đã ổn định được sĩ số học sinh, chất lượng mũi nhọn ở trường THCS có chuyển biến, công tác phổ cập THCS đạt kết quả tốt,
mở được 4 lớp phổ cập giáo dục THCS, có 118 em tham gia thi tốt nghiệp đạt 100% Cơ sở vật chất của cả hai hệ học được đầu tư tốt hơn (đã đầu tư xây dựng và mua sắm trên 1 tỷ đồng) Công tác xã hội hóa giáo dục từng bước đạt được tiến bộ, hội khuyến học đã được thành lập, xây dựng quỹ khuyến học ở các chi hội và phường hội, quan tâm tới các hệ học, học sinh nghèo vượt khó
Công tác y tế, chăm sóc sức khỏe cộng đồng trong những năm đầu thế
kỷ XXI đã có những tiến bộ đáng ghi nhận Đầu năm 2002, phường đã sửa chữa nâng cấp trạm y tế có phòng khám và điều trị với trang thiết bị khá đầy
Trang 39đủ Hiện nay, các khối dân cư đều có cán bộ y tế cơ sở Liên tục trong ba năm
2001 – 2003, trên địa bàn phường không có dịch bệnh xảy ra Đó là kết quả của công tác phòng dịch, vệ sinh môi trường, hoạt động của các tổ thu gom và
xử lý rác thải được duy trì thường xuyên Năm 2003, tỷ lệ sinh 16,8%, tử 5,1% Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 11,7% (cao hơn so với mặt bằng chung trong thị xã là 9,1%) Là một địa bàn thuần ngư nên công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình gặp nhiều khó khăn, tuy nhiên với sự nỗ lực của các cấp ủy, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể quan tâm nên đã đạt được một số kết quả khả quan Tỷ lệ các cặp vợ chồng chấp nhận các biện pháp tránh thai năm 2000 là 78,1% đến năm 2004 là 93,5%; tỷ lệ sinh con thứ 3 năm 2000 là 14,0%, năm
2004 là 11,5% Công tác chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ và trẻ em được quan tâm, tỷ lệ trẻ em và bà mẹ mang thai được tiêm chủng định kỳ đạt 100% Tỷ
lệ suy dinh dưỡng trẻ em năm 2002 giảm từ 20,8% xuống còn 19% Hàng năm đã tổ chức khám bệnh cho trẻ tật nguyền, tổ chức vui tết Trung thu, ngày quốc tế thiếu nhi 1-6 Hội phụ nữ phường đã tích cực tuyên truyền giáo dục cho các bà mẹ về kiến thức nuôi dạy trẻ
Chính sách xóa đói giảm nghèo được quan tâm đúng mức Số hộ ngày
từ 150 hộ năm 2002 đã giảm xuống chỉ còn 80 hộ năm 2003, chiếm 4,9 tỷ số
hộ Số hộ khá và giàu ngày càng tăng lên Đời sống của các tầng lớp nhân dân tiếp tục được cải thiện, nâng cao Thu nhập bình quân đầu người sau 4 năm phát triển đã tăng thêm gấp 2 lần so với năm 2000 Năm 2007, thu nhập bình quân đầu người là 10 triệu đồng/người/năm Mỗi năm tạo thêm việc làm cho hàng trăm lao động Tỷ lệ đói nghèo năm 2000 là 19,3%, đến nay xuống còn 4,5% Phong trào xóa nhà dột nát, tạm bợ đã vận động được hơn 37 triệu đồng
để sửa chữa, làm mới 13 nhà, đã hoàn thành xóa nhà tranh tre dột nát, tạm bợ vào tháng 4/2005
Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được đẩy mạnh Trong phường đã có 4 khối được công nhận “làng văn hóa”, đó là các khối 3, 4, 6 và 10 Riêng khối 3 được công nhận là “Làng văn hóa cấp tỉnh” Hàng năm có khoảng ¾ số hộ đạt danh hiệu “Gia đình văn hóa”9
9Số liệu về kinh tế - xã hội của phường được trích trong “Báo cáo chính trị của Ban chấp hành
Đảng bộ phường Nghi Thủy khóa III, tại Đại hội Đảng bộ phường lần thứ IV (nhiệm kỳ 2005 – 2010)” và “Báo cáo tình hình thực nhiênh nhiệm vụ năm 2007, phương hướng nhiệm vụ năm 2008” cỉa UBND phường Nghi Thủy.
Trang 40Tiểu kết
Cửa Lò là vùng đất được thiên nhiên ban cho nhiều ưu đãi nhưng cũng không ít phần khắc nghiệt Điểm nổi bật nhất trong điều kiện tự nhiên đó là yếu tố biển với các lợi thế đặc thù Sự đa dạng về nguồn lợi hải sản, điều kiện địa hình với eo biển ăn sâu vào đất liền cùng với hai cửa sông lớn và các hòn đảo nhỏ án ngữ bên ngoài tạo thành những nơi trú ngụ an toàn cho tàu thuyền trong điều kiện thời tiết thất thường, đã tạo thuận lợi to lớn cho việc phát triển ngư nghiệp Thời tiết có một mùa nắng nóng kéo dài cũng giúp cho ngư dân trong việc đánh bắt cũng như chế biến, phơi khô và bảo quản hải sản
Tuy nhiên, nằm trong vùng khí hậu chung của bắc trung bộ, khí hậu nơi đây cũng rất khắc nghiệt, có một mùa đông lạnh kéo dài và mùa hè với gió Lào khô hanh Cửa Lò cũng như các địa phương khác ở Nghệ An thường xuyên phải hứng chịu những trận bão Bão tố là mối hiểm họa to lớn và gây ra nhiều thiệt hại, nhất là đối với những cư dân có sinh kế phụ thuộc vào biển cả
Theo những thông tin từ sử liệu, địa chí, ngư dân nơi đây có nguồn gốc xuất xứ kết hợp giữa người Chăm, Việt, Tàu, Và người Việt thì cũng là dân từ nhiều vùng sông nước nơi khác đến lập nghiệp như dân vùng Cửa Sót (Hà Tĩnh), dân đánh cá ven sông Lam ở Hưng Nguyên (Nghệ An) Chính vì thế, văn hóa nơi đây là sự tổng hòa văn hóa của dân cư các nơi Tuy nhiên, việc bóc tách các lớp văn hóa đấy là điều hoàn toàn không dễ
Tuy không phải là một vùng đất cổ, dân cư lại từ nhiều nơi về dựng nhà, lập làng, nhưng với gần 500 bám biển, gắn bó với môi trường ven biển, ngư dân nơi đây đã tạo nên một bề dày văn hóa mang nhiều hơi hướng biển thể hiện qua đời sống sinh hoạt, lao động sản xuất và trong tâm thức, tín ngưỡng
Nhìn chung, với những điều kiện thuận lợi mà tự nhiên ban tặng, ngay
từ thuở ban đầu, cư dân các nơi tới đây lập nghiệp, sinh sống, đã biết tận dụng môi trường biển cả để làm chỗ dựa mưu sinh Cùng với thời gian, họ đã đúc rút ra những tri thức về tự nhiên cũng như sáng tạo và áp dụng các hình thức khai thác, cách thức liên kết để cùng lao động sản xuất, phù hợp với đối tượng khai thác cũng như môi trường lao động