Trong luận văn này, mục đích chính của tác giả là tìm hiểu các về việc thực hiện các dự án phát triển và quá trình đô thị hóa ở một địa bàn cụ thể, đó là xã Nghĩa Đô, huyện Bảo Yên, tỉnh
Trang 1***********
TRƯƠNG VĂN CƯỜNG
CÁC DỰ ÁN PHÁT TRIỂN VÀ ĐÔ THỊ HÓA
Ở MỘT XÃ MIỀN NÖI PHÍA BẮC VIỆT NAM
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Dân tộc học
Mã số: 60 22 70
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Sửu
Trang 2Là tác giả của luận văn có tựa đề Các dự án phát triển
và đô thị hóa ở một xã miền núi phía Bắc Việt Nam: Nghiên
cứu trường hợp xã Nghĩa Đô, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai Tôi
xin cam đoan đây là kết quả của một quá trình làm việc nghiêm túc của tôi trong khuôn khổ chương trình đào tạo thạc sỹ chuyên ngành Dân tộc học ở Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Hà Nội Ngày 20 tháng 12 năm 2011
Ký tên
Trương Văn Cường
Trang 3Trang
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VỀ
CÁC DỰ ÁN PHÁT TRIỂN VÀ ĐÔ THỊ HÓA Ở KHU
VỰC MIỀN NÚI
7
1.1 Khái niệm và một số vấn đề về đô thị hóa 7
1.2 Khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam 18
1.3 Phát triển ở khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam 22
1.3.1 Chính sách phát triển của Nhà nước 22
1.3.2 Các chương trình và dự án phát triển 24
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ XÃ NGHĨA ĐÔ , HUYỆN
BẢO YÊN, TỈNH LÀO CAI
2.1.2 Người Tày ở huyện Bảo Yên và ở tỉnh Lào Cai 37
2.1.4 Vài nét về truyền thống văn hóa Tày ở xã Nghĩa Đô 44
2.2 Vùng đất Nghĩa Đô, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai 45
Trang 43.1.1.1 Xây dựng hệ thống cầu 55
3.1.1.3 Xây dựng và nâng cấp hệ thống thuỷ lợi 67
CHƯƠNG 4: QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA Ở XÃ NGHĨA
ĐÔ, HUYỆN BẢO YÊN, TỈNH LÀO CAI
78
4.1 Mục tiêu xây dựng và phát triển khu trung tâm 78
4.2 Quá trình xây dựng khu trung tâm xã Nghĩa Đô 80 4.2.1 Sự phát triển của hệ thống cơ sở hạ tầng 80
4.3 Sự hình thành một thị tứ ở khu vực miền núi vùng cao 86 4.3.1 Một trung tâm hành chính, văn hóa và giáo dục 86 4.3.2 Một trung tâm kinh tế, thương mại và dịch vụ 87
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Mục đích nghiên cứu
Kể từ khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước đã thực hiện hàng loạt các chủ trương, chính sách nhằm phát triển khu vực nông thôn nói chung, khu vực nông thôn miền núi phía Bắc nói riêng nhằm phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội Các chính sách phát triển này liên quan đến nhiều lĩnh vực, ở nhiều cấp độ và dưới nhiều hình thức khác nhau Trong luận văn này, mục đích chính của tác giả là tìm hiểu các về việc thực hiện các dự
án phát triển và quá trình đô thị hóa ở một địa bàn cụ thể, đó là xã Nghĩa Đô, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai trong hơn một thập kỷ vừa qua Thông qua nghiên cứu trường hợp này, tôi hy vọng kết quả của luận văn góp phần nhỏ bé vào việc làm rõ hơn về việc thực hiện các dự án phát triển và mối quan hệ giữa phát triển với đô thị hóa ở khu vực nông thôn miền núi
2 Câu hỏi nghiên cứu
Với mục tiêu đó, nghiên cứu này đặt ra một loạt các câu hỏi nghiên cứu
cụ thể
Thứ nhất là về những đặc điểm cơ bản về xã Nghĩa Đô:
- Xã Nghĩa Đô được hình thành từ khi nào? Quá trình phát triển dân số
ở đây diễn ra như thế nào? Có bao nhiêu dân tộc cư trú ở địa bàn này, trong
đó dân tộc nào chiếm đa số, dân tộc nào là thiểu số?
- Hoạt động kinh tế chủ yếu của các tộc người dựa là gì, dựa vào các nguồn lực nào, trong đó trồng trọt, chăn nuôi, rừng có vị trí như thế nào?
- Hoạt động kinh tế tại xã Nghĩa Đô có khác hay giống với các xã xung
Trang 6- Ngoài hoạt động nông nghiệp, người dân có đi làm các nơi khác không? Nếu đi làm thuê thì chủ yếu đi những nơi đâu và làm những nghề gì là chủ yếu?
- Các dự án này có tác động như thế nào đến Nghĩa Đô dưới các khía cạnh khác nhau, chẳng hạn người dân được vay tiền, đầu tư làm ăn như thế nào? Các dự án trồng keo, quế, chè, dê, nuôi trồng thủy sản, v.v có giúp cho các hộ gia đình nâng cao mức sống không?
Thứ ba là về quá trình đô thị hóa ở Nghĩa Đô:
- Ở Nghĩa Đô đã thực sự có một quá trình đô thị hóa chưa?
- Tính đô thị hóa được thể hiện qua những đặc điểm gì?
- Những nhân tố nào đã tác động tới quá trình hình thành đô thị ở đây?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là việc thực hiện các dự án phát triển và sự hình thành tính đô thị, hay nói cách khác là mối quan hệ giữa các
dự án phát triển và quá trình đô thị hóa ở một xã miền núi vùng cao trong hơn
10 năm qua, nơi là địa bàn sinh sống của 5 dân tộc: Tày, Hmông, Dao, Kinh
và Nùng Trên cơ sở nghiên cứu một xã, luận văn này tập trung chủ yếu vào trung tâm xã Nghĩa Đô, địa bàn nằm trong vùng quy hoạch thị tứ gồm có bản
Nà Đình, một phần bản Nà Khương và một số hộ bản Rịa
4 Phương pháp nghiên cứu và cách tiếp cận
Trang 74.1 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, tôi đã tiến hành 03 chuyến nghiên cứu điền
dã dân tộc học tại xã Nghĩa Đô và khảo sát tài liệu thành văn ở huyện Bảo Yên trong năm 2010 Để thu thập được các tài liệu dân tộc học trên thực địa, tác giả đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu thông thường của nghiên cứu Nhân học và Dân tộc học, như quan sát tham gia, phỏng vấn sâu, thống
kê và khai thác các báo cáo, văn bản về lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh, huyện, của xã, thôn (bản) được nghiên cứu Trong thời gian ở Nghĩa Đô, tôi tập trung quan sát và phỏng vấn những người dân và cán bộ thôn, xã biết nhiều và liên quan đến hoặc trực tiếp tham gia vào các dự án phát triển và quá trình đô thị hóa ở địa bàn này Với sự thâm nhập và hiểu rõ hơn các dự án phát triển ở địa bàn nghiên cứu, tôi cố gắng lắng nghe những gì người dân, cán bộ nói và giải thích và tập trung quan sát cuộc sống và hoạt động sống ở khu trung tâm xã, nơi đã và đang hình thành một „trung tâm đô thị‟ hay thị tứ của khu vực này Đồng thời, qua đó, tôi cố gắng đưa tiếng nói của những người trong và ngoài cuộc để chứng minh một vấn đề có nhiều cách, những quan điểm diễn giải khác nhau
4.2 Cách tiếp cận
Một vấn đề quan trọng ở đây là cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu Khi các dự án phát triển đầu tư vào những vùng khó khăn, đã làm thay đổi các cộng đồng tộc người và địa bàn được thụ hưởng dự án Đối với quá trình đô thị hóa ở một xã vùng cao dưới tác động của các dự án phát triển, cách giúp chúng ta phân tích và lý giải những biến đổi đó dưới góc độ không gian và cấu trúc Nói cách khác, trong luận văn này , tôi sử dụng cách tiếp cận không gian kết hợp với cách tiếp cận cấu trúc để phân tích những nhân tố tác động
Trang 8đô thị hóa ở Nghĩa Đô Ở đây, tôi muốn chứng minh sự thay đổi không gian sống ở khu trung tâm của xã Nghĩa Đô Trong đó, sự thay đổi không sống, hay hẹp hơn là không gian cư trú được quan tâm nghiên cứu dưới nhiều chiều, nhiều góc độ khác nhau
Dưới góc độ cấu trúc, nếu chúng ta nhìn nhận quá trình đô thị hóa ở đây dưới góc độ này thì trong cấu trúc ấy có nhiều yếu tố cấu thành để tạo nên quá trình đô thị hóa Nếu ta nhìn toàn bộ dân cư ở Nghĩa Đô như một cấu trúc tổng thể, cấu trúc dân cư được phân bố theo cấu trúc tập trung, trong đó tập trung chủ yếu từ các bản di chuyển về khu trung tâm Đó là sự sắp xếp, phân loại dân cư thành những bộ phận cấu trúc theo giới tính, lứa tuổi, thành phần xã hội, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, dân tộc, tôn giáo, dân thành thị, nông thôn, khu vực sản xuất (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ) Bên cạnh cấu trúc dân
cư, cấu trúc kinh tế của các hộ gia đình chuyển về khu trung tâm đã có nhiều thay đổi, dần chuyển sang các hoạt động phi nông nghiệp, tính phi nông nghiệp tăng lên, hoạt động nông nghiệp giảm dần xuống Bên cạnh sự biến đổi về cấu trúc dân cư và cấu trúc kinh tế Sự biến đổi cấu trúc văn hóa – xã hội cũng biến đổi Trong đó phân tích tính đa dạng về thành phân tộc người,
sự năng động của nhóm cư dân này đã thay đổi ra sao khi tiếp nhận những điều kiện tốt hơn, lối sống khác, thông tin cập nhật từ người Kinh, nhất là những giáo viên, tiểu thương đã và đang sinh sống ở trung tâm xã Nghĩa Đô
5 Nguồn tài liệu
Trong nghiên cứu này, tôi sử dụng 3 nguồn tài liệu chính
- Tài liệu nghiên cứu dưới dạng các báo cáo, bài và sách nghiên cứu đã được công bố hoặc các luận văn, luận án
- Tư liệu điền dã thu được trong quá trình điền dã ở Nghĩa Đô
Trang 9- Những tài liệu thành văn dưới dạng các bảng tổng kết, báo cáo, chỉ thị, văn bản, v.v của các cơ quan chức năng cấp xã, huyện, tỉnh, trung ương
và sổ nghi chép của các bí thư bản, trưởng bản
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm
có 4 chương Cụ thể, Chương 1 tổng quan tài liệu nghiên cứu về các dự án phát triển và đô thị hóa Chương 2 giới thiệu về địa bàn và cộng đồng được nghiên cứu, về đặc điểm của người Tày ở Việt Nam và ở Nghĩa Đô, về quá trình hình thành vùng đất Nghĩa Đô
Chương 3 mô tả và phân tích về các dự án phát triển ở địa bàn nghiên cứu Chương này đi sâu vào tìm hiểu các chương trình, các dự án phát triển đã được thực hiện ở Nghĩa Đô trong suốt những năm qua, trong đó các hạng mục đầu tư như điện, đường, trường, trạm, nước sạch, vay vốn làm ăn, v.v cùng với đó là khóa đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cho cán bộ và nhân dân Sự đầu
tư này đã làm thay đổi căn bản hệ thống cơ sở hạ tầng và đời sống kinh tế người dân nơi đây
Chương 4 trình bày về quá trình đô thị hóa ở địa bàn nghiên cứu Chương này tập trung vào những tác động của các dự án phát triển điển sự hình thành hệ thống cơ sở hạ tầng và chính sách quy hoạch của chính quyền địa phương nơi đây là nguyên nhân dẫn đến quá trình đô thị hóa ở đây bắt đầu diễn ra, dù còn ở mức ban đầu Trung tâm xã Nghĩa Đô trở thành nơi thu hút dân cư ở các bản trong xã và khắp nơi đến đây định cư và sinh sống Sự tập trung này dẫn đến quá trình hình thành một trung tâm thương mại và dịch vụ
ở đây ngày càng phát triển Sự tập trung dân cư, hình thành khu thương mại dịch vụ đã ít nhiều tác động đến sự biến đổi cầu trúc nhà cửa, lối sống của
Trang 10Bản đồ 1: Khu vƣ̣c miền Bắc
Trang 11CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VỀ CÁC DỰ ÁN PHÁT TRIỂN VÀ ĐÔ THỊ HÓA Ở KHU VỰC MIỀN NÖI
1.1 Khái niệm và một số vấn đề về đô thị hóa
1.1.1 Khái niệm
Đô thị hóa: Đô thị hóa được xem là một quá trình tất yếu trong phát
triển kinh tế - xã hội ở nhiều quốc gia trên thế giới Lịch sử loài người cho
đến nay đã chứng kiến ba cuộc cách mạng đô thị Cuộc cách mạng đô thị lần
thứ nhất diễn ra từ 8.000 năm trước Công Nguyên, vào thời kỳ đồ đá mới, khi lần đầu tiên trên thế giới xuất hiện một khu định cư kiểu đô thị Đó là thành phố Jericho, nằm ở phía bắc biển chất thuộc vùng đất Ixaren ngày nay với dân số khoảng 600 người Cuộc cách mạng đô thị lần thứ hai bắt đầu từ giữa thế kỷ XVIII ở Châu Âu và sau đó lan sang Bắc Mỹ, là hệ quả tất yếu của quá trình công nghiệp hóa tư bản chủ nghĩa từ thời kỳ này [35, tr 16] Ngày nay, các nhà khoa học đang nói tới cuộc cách mạng đô thị lần thứ ba đang diễn ra ở các nước thuộc thế giới thứ Ba Cuộc cách mạng đô thị lần thứ
ba dường như là sự lặp lại cuộc cách mạng đô thị lần thứ hai, song với những nét độc đáo bởi các điều kiện không gian và thời gian mới Đặc điểm nổi bật
xuyên suốt ba cuộc cách mạng đô thị hóa này là: các dòng di cư mạnh mẽ từ nông thôn vào đô thị, khiến cho tỷ lệ dân đô thị tăng nhanh, số lượng các đô thị ngày càng nhiều, các đô thị lớn lên, phình to ra, đời sống dân cư mang
tính đô thị nhiều hơn nông thôn, đô thị đang xâm lấn, bành trướng nông thôn [35, tr.16]
Ở một khía cạnh khác, nếu tiếp cận theo nhân khẩu học và địa kinh tế,
thì đô thị có thể được định nghĩa: quá trình đô thị hóa là sự di cư từ nông
thôn ra thành thị, là sự tập trung ngày càng nhiều số lượng dân cư sống
Trang 12nhiên, nếu chỉ tiếp cận theo góc độ nhân khẩu thì không giải thích hết được toàn bộ tầm quan trọng và vai trò của đô thị hóa cũng như các ảnh hưởng của
nó tới sự phát triển của xã hội hiện tại Cho nên, đô thị hóa như cần được hiểu là một quá trình kinh tế - xã hội lịch sử mang tính chất quy luật trên quy
mô toàn cầu Khái quát hơn, đô thị hóa được xem là các quá trình tổ chức lại môi trường cư trú của con người, ở đó bên cạnh dân số, địa lý môi trường
còn có mặt xã hội, một mặt rất quan trọng của vấn đề [35, tr.17] Ở một góc
nhìn khác, đô thị hóa là cái không rộng lớn, trên đó diễn ra những biến đổi
to lớn và sâu rộng trong đời sống xã hội, đời sống của các cộng đồng nông thôn và đô thị [35, tr.16] Như vậy, đô thị hóa không chỉ thay đổi sự phân bố dân cư trong xã hội, mà còn chuyển thể nhiều kiểu mẫu trong khuôn mẫu hành vi, ứng xử vốn là những đặc trưng của người dân đô thị, sự lan truyền lối sống đô thị hay các quan hệ văn hóa đô thị tới các vùng nông thôn và trên
toàn xã hội nói chung [35, tr.17]
Do mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ có những điều kiện lịch sử, điều kiện địa hình, điều kiện kinh tế - xã hội cũng những đặc trưng riêng, hay từ những góc nhìn khác về quá trình đô thị, nên đô thị và các quá trình đô thị hóa cũng có những nét khác nhau ở những thời gian và không gian khác nhau Ở Việt Nam, đô thị hóa đã và đang diễn ra với những quy mô, hình thức
và tốc độ khác nhau ở các địa bàn khác nhau Hiện nay, có khá nhiều khái niệm phản ánh bản chất và biểu hiện cũng như hệ quả cụ thể của đô thị hóa Chúng ta có thể hiểu một cách chung nhất về quá trình đô thị ở Việt Nam như là một quá trình biến đổi về phân bố các lực lượng sản xuất , bố trí dân
cư, những vùng không phải đô thị trở thành đô thị Tiền đề cơ bản của đô thị hóa là sự phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ thu hút nhiều nhân lực từ nông thôn đến sinh sống và làm việc, làm cho tỉ trọng dân cư ở các đô thị tăng nhanh Đô thị xuất hiện làm tăng sự phát triển giao thông với các
Trang 13vùng nông nghiệp xung quanh và các đô thị khác ; phát triển văn hoá và sự phân công lao động theo lãnh thổ , tăng cường thành phần công nhân, tiểu thủ công, trí thức, thương nhân,…Việc đô thị hóa nông thôn có ý nghĩa trực tiếp nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hoá tinh thần của nông dân, thúc đẩy sản xuất nông - lâm nghiệp phát triển theo hướng chuyên môn hoá và hiện đại hoá
Có rất nhiều cách nhìn nhận về đô thị hoá ở Việt Nam , mỗi nhà nghiên cứu lại có một quan điểm riêng khi họ khai thác những khía cạnh khác nh au
Ở đây, tôi muốn đề cập đến nhận định của GS Phan Đại Doãn Ông cho rằng
“Thị tứ là các tụ điểm kinh tế - xã hội, là một điểm tụ cư, có quy mô bao gồm
cả chợ và phố (hoặc cả bến), có mối liên kết với các trung tâm kinh tế - xã hội xung quanh Cấu trúc kinh tế của thị tứ mang tính đa ngành , trong đó thương nghiệp có một vị trí quan trọng Hoạt động buôn bán thương nghiệp này không chỉ được biểu hiện ở chợ , mà còn ở những khu phố cố định hoặc bến sông,… Ở đó trao đổi hàng hoá mang tính thị tr ường, các mặt hàng vừa
có nguồn gốc bản địa, vừa có nguồn gốc bên ngoài Cấu trúc văn hoá xã hội của thị tứ có những nét khác biệt có với các làng hoặc bản Xét về nhiều mặt, thị tứ là một tụ điểm kinh tế - xã hội nhỏ, vừa mang tính nông thôn, vừa mang tính đô thị, chứa đựng những yếu tố kinh tế - xã hội cần thiết của đô thị Sự xuất hen và phát triển của thị tứ được xếp vào phạm trù của quá trình
đô thị hoá” [14, tr.87-113]
Như vậy, chúng ta có thể coi đô thị hóa là một quá trình tập trung dân
cư ngày càng đông vào các đô thị và làm nâng cao vai trò của thành thị đối với sự phát triển của xã hội, sự chuyển dịch từ sản xuất nông nghiệp sang các hoạt động phi nông nghiệp, sự phát triển cơ sở hạ tầng, kỹ thuật, dịch vụ cùng
Trang 14khác nhau, tôi quan niệm đô thị hóa ở Nghĩa Đô, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào
Cai cần được hiểu là một quá trình trong đó tính đô thị được hình thành và phát triển dưới tác động của các dự án phát triển, chính sách quy hoạch của Nhà nước và chính quyền địa phương dẫn đến sự phát triển của hệ thống cơ
sở hạ tầng, thu hút dân cư; xuất hiện trung tâm buôn bán – thương mại và hình thành một trung tâm văn hóa – du lịch, giáo dục, y tế, làm biến đổi
không gian từ không phải đô thị đã bước đầu trở thành đô thị Hiểu về đô thị
hóa theo cách này giúp tôi phân tích và lý giải về quá trình đô thị hóa ở Nghĩa
Đô dưới tác động của các dự án phát triển của Nhà nước ở khu vực này trong những năm vừa qua Đối lập với quá trình đô thị hoá này là một quá trình đô thị hóa khác được khát sát ở làng Đồng Kỵ, nơi tính đô thị phát triển bởi trước hết là do những động năng từ bên trong, nghĩa là sự vận động nội tại từ bên trong cộng đồng làng Bên cạnh đó , chính sách và tác động từ bên ngoài của Nhà nước đã ít nhiều làm cho quá trình đô thị hóa ở làng Đồng Kỵ gia tăng mạnh mẽ, chuyển làng thành phố, nông dân thành thị dân
1.1.2 Một số khuynh hướng đô thị hóa
Đô thị hóa là một xu hướng tất yếu trong quá trình phát triển của nước
ta Năm 1997, cả nước có 569 đô thị với dân số gần 15 triệu người, chiếm trên 20% dân số cả nước Trong đó, có 4 thành phố lớn trực thuộc Trung ương, 73 thành phố, thị xã trực thuộc tỉnh và 495 thị trấn được hình thành gắn liền với các điều kiện tự nhiên, chính trị, kinh tế và xã hội hợp thành một cấu trúc không gian tuyến - điểm, từ Bắc xuống Nam, dọc theo bờ biển Đông
và từ Tây sang Đông, dọc theo lưu vực các dòng sông lớn [12, tr.16] Số liệu thống kê năm 2009 cho thấy, dân số thành thị nước ta có khoảng 25,5/86,1 triệu dân, chiếm 29,6% tổng dân số cả nước
Trang 15Hiện nay, nghiên cứu về các vấn đề đô thị hóa đang được nhiều nhà khoa học quan tâm, xem xét dưới các góc độ, khía cạnh và địa bàn khác nhau Đô thị hóa ở nước ta ngày nay là do kết quả tổng hợp của quá trình phát triển, sự phân công lao động, hợp tác trong các nền kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đô thị hóa thúc đẩy cho nông thôn phát triển thông qua việc tạo ra thị trường tiêu thụ lớn cho nông thôn, thu hút lao động dư thừa trong nông thôn, cung cấp cho nông thôn các sản phẩm và dịch
vụ có giá trị cao
Từ khi đổi mới, quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa cùng với hội nhập quốc tế đã đẩy nhanh quá trình đô thị hóa Trước đây, trong các giai đoạn lịch sử thời kỳ trước đổi mới, các đô thị được hình thành và phát triển chủ yếu nhờ vào chức năng hành chính1, hoặc giao thương và một phần do thủ công nghiệp Vì thế, các yếu tố đô, thành, xã, trấn, tứ, tức các yếu tố hành chính, được thể hiện rõ trong các đô thị, thành thị, thị xã, thị trấn, thị tứ Các
đô thị được hình thành xung quanh trung tâm hành chính Cho nên, hiện nay nhiều đô thị được hình thành dựa trên cơ sở đầu tiên là chức năng hành chính rồi phát triển to và rộng ra xung quanh không gian đó
Sự phát triển kinh tế đất nước từ khi đổi mới đã và đang làm hình thành nhiều đô thị với nhiều cấp độ và quy mô khác nhau, từ các thành phố lớn như
Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, đến các thành phố nhỏ hơn trực thuộc cấp tỉnh, các thị trấn trực thuộc cấp huyện và nhỏ nhất là các thị tứ ở cấp độ địa phương (làng, xã) ở một số địa bàn trên cả nước Từ
đó, chúng ta có thể thấy quá trình đô thị hóa, tính đô thị và đặc trưng của nó không chỉ được biểu hiện ở cấp độ vĩ mô, tức là ở các thành phố hay trung
Trang 16
tâm đô thị lớn, mà còn diễn ra ở cấp độ vi mô (cấp địa phương) với những biểu hiện về tính đô thị ở cấp độ nhỏ, ít đậm nét như các quá trình đô thị hóa
ở các trung tâm đô thị lớn Có thể nói, các quá trình đô thị hóa đã và đang diễn ra theo ba hướng chính dưới đây
Thứ nhất, đô thị hóa theo các tuyến thương mại, dịch vụ, tuyến giao
thông đường bộ, đường thủy, đường hàng không Đây là các tuyến thu hút đầu tư để hình thành các khu công nghiệp và di chuyển hàng hóa, lao động cũng như phát triển các thị tứ nhằm thực hiện nhiều loại hình dịch vụ khác nhau (nhà trọ, nhà hàng, khách sạn, dịch vụ sinh hoạt…) tại các vùng nông thôn ở đồng bằng và miền núi Các tuyến giao thông đường bộ được xây dựng
ở Tây Nguyên, Tây Bắc và đường Hồ Chí Minh đã thúc đẩy sự hình thành các thị tứ, thị trấn mới dọc theo các tuyến đường, tuyến quốc lộ
Ở khu vực miền núi phía Bắc, đô thị hóa do tác động bởi hệ hệ thống giao thông đường bộ và đường sắt hay sự phát triển của trung tâm hành chính
- chính trị đã tạo nên mạng lưới đô thị ở miền núi phía Bắc Thật không khó khi chúng ta thấy sự xuất hiện các đô thị vừa và nhỏ trên các tuyến quốc lộ và tỉnh lộ ở khu vực này Một đoạn quốc lộ 1 từ Hà Nội – Bắc Ninh (thị xã Từ Sơn – thị trấn Lim và thành phố Bắc Ninh); Bắc Giang (thị trấn Vôi huyện Lạng Giang – thành phố Bắc Giang); Lạng Sơn (thị trấn Hữu Lũng - thị trấn Đồng Mỏ huyện Chi Lăng và đến thành phố Lạng Sơn)
Quốc lộ 2 Từ Hà Nội đến Vĩnh Phúc (thị xã Phúc Yên đến thị trấn Hương Canh đến Vĩnh Yên); Phú Thọ (thành phố Việt Trì đến thị trấn Phong Châu và thị trấn Đoan Hùng ); Tuyên Quang (từ thị trấn Yên Sơn đến thành phố Tuyên Quang đến thị trấn Tân Yên huyện Hàm Yên); Hà Giang (thị trấn Việt Quang huyện Bắc Quang - thị trấn Vị Xuyên - thị xã Hà Giang)
Trang 17Quốc lộ 3 Từ Hà Nội (thị trấn Đông Anh, thị trấn Sóc Sơn); Thái Nguyên (thị trấn Ba Hàng - Phổ Yên, thị xã Sông Công - thành phố Thái Nguyên - thị trấn Đu); Bắc Cạn (thị trấn Chợ Mới - thị xã Bắc Cạn - thị trấn Phủ Thông, Bách Thông - thị trấn Ngân Sơn, huyện Ngân Sơn); Cao Bằng (thị xã Cao Bằng - thị trấn Quảng Uyên và thị trấn Tà Lùng huyện Phục Hòa)
Quốc lộ 6 từ Hà Nội - Hòa Bình (thị trấn Lương Sơn - thị trấn Kỳ Sơn thành phố Hòa Bình - thị trấn Cao Phong - thị trấn Mường Khến huyện Tân Lạc - thị trấn Mai Châu); Sơn La (thị trấn Mộc Châu - thị trấn Yên Châu – thị trấn Hát Lót huyện Mai Sơn - thành phố Sơn La - thị trấn Thuận Châu); Điện Biên (thị trấn Tuần Giáo và thị xã Mường Lay2)
Quốc lộ 70 Bắt đầu từ Đoan Hùng Phú Thọ đi qua Yên Bái (thành phố Yên Bái) lên Lào Cai (Phố Ràng - thành phố Lào Cai và đi Bát Xát)
Quốc lộ 279 bắt đầu từ thành phố Hạ Long - thị trấn An Châu (Bắc Giang) đi qua thị trấn Đồng Mỏ , thị trấn Văn Quan và thị trấn Bình Gia tỉnh Lạng Sơn, sau đó đi qua thị trấn Chợ Rã tỉnh Bắc Cạn , tiếp đó đi qua thị trấn
Na Hang của tỉnh Tuyên Quang , rồi đi đến thị trấn Việt Quang và thị Trấn Quang Bình thuộc tỉnh Hà Giang, tiếp tục đi qua thị trấn Phố Ràng và thị trấn Khánh Yên tỉnh Lào Cai, rồi đi qua thị trấn Than Uyên Lai Châu, cuối cùng là
đi qua thị trấn Tuần giáo - thị trấn Mường Ảng - thành phố Điện Biên Phủ rồi
đi qua Lào Ngoài ra, còn rất nhiều tuyến đường khác nhau cấp quốc lộ, tỉnh
lộ đã tạo nên những đô thị nhỏ như thị trấn, thị tứ, cụm dân cư ở khắp các vùng miền núi nước ta, đó là những đô thị vệ tinh của những thành phố, thị
xã
Trang 18Nghiên cứu của TS Trần Hữu Sơn [53, tr.325] và nghiên cứu của Trần Thùy Dương [19, tr.26] về tác động của tuyến đường sắt đã cung cấp một ví
dụ minh họa cho xu hướng đô thị hóa này Các tác giả đã cho thấy vai trò của đường sắt đối với việc hình thành các đô thị dọc theo các tuyến mà con đường chạy qua Trong đó, các tác giả phân tích tác động của đường sắt với việc xây dựng cơ sở hạ tầng, chuyển biến chức năng đô thị và quá trình di dân ở các vùng đến đô thị Trong nghiên cứu này, các tác giả nghiên cứu sự hình thành
đô thị ở vùng Tây Bắc dưới tác động của hệ thống đường sắt, đường bộ và hệ thống sông cũng là nhân tố tạo nên đô thị
Trên Tạp chí Dân tộc học, số 2 (2006) tác giả Mạc Đường cho rằng về
sự hình thành không gian đô thị ở khu vực miền núi nước ta chủ yếu được hình thành trên các tuyến đường quốc lộ huyết mạnh của đất nước, hệ thống đường giao thông đường bộ, mà trong bài viết này tác giả đã nêu lên hàng loạt các đô thị ở các cấp độ khác nhau [22, tr.57,58]
Qua khảo sát của các tác giả Bùi Xuân Đính, Tạ Thị Tâm về vai trò của người Việt đối với đô thị và đô thị hóa ở miền núi vùng Đông Bắc cho thấy vai trò chủ yếu của người Việt với tỷ lệ vượt trội về tỷ lệ dân cư trong các đô thị ở miền núi này Bên cạnh đó, các tác giả đã phân tích quá trình hình thành những đô thị miền núi qua mỗi giai đoạn lịch sử có sự khác biệt nhất định Nếu như thời kỳ trung đại, vai trò trung tâm hành chính, quân sự trong việc hình thành đô thị thì sang giai đoạn cận đại, sự hình thành đô thị là do kết quả trực tiếp của việc phát triển công nghiệp gắn với việc mở rộng khai thác thuộc địa của thực dân Pháp Sau ngày giải phóng, các đô thị hình thành vẫn dựa trên yếu tố hành chính, tuy nhiên ở giai đoạn này, ảnh hưởng của việc phát triển kinh tế - xã hội, quá trình công nghiệp hóa và sự hình thành hệ thống giao thông đã tạo nên một hệ thống đô thị dày hơn, trong đó chủ yếu là trung tâm hành chính của các tỉnh, huyện và xã Sự hình thành các đô thị vùng
Trang 19Đông Bắc chủ yếu dựa vào chức năng hành chính, cùng với đó là kết quả của quá trình phát triển công nghiệp hay quá trình phát triển thương nghiệp [21,
tr.10 - 17]
Một nghiên cứu khác của các tác giả Nguyễn Ngọc Nông, Đỗ Thị Lan,
Tạ Thị Thanh Hương năm 2007 về đô thị hóa, phát triển nông thôn và những tác động đến môi trường khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam đã tập trung vào vấn đề đô thị hóa đã tác động như thế nào đến đời sống của người dân trên nhiều phương diện [38, tr.18-25] Các tác giả Trương Mạnh Hùng và Phan Thị Hương Quế phân tích về vấn đề đô thị hóa tác động đến đời sống của người dân và môi trường như: mất đất, thay đổi nghề nghiệp, thay đổi nhà cửa, thay đổi thu nhập và tác động đến môi trường ở thành phố Lào Cai
Còn TS Vi Văn An xem xét về đô thị hóa qua trường hợp nghiên cứu thị trấn La Bảo, huyện Hưng Hóa, Quảng Trị Trong đó, tác giả đã nhìn nhận quá trình đô thị hóa diễn ra như một hệ quả tất yếu của việc xây dựng tuyến đường hành lang kinh kế với con đường 9 (một phần của tuyến hành lang kinh tế Đông – Tây dài hơn 300km từ Lào đến Đông Hà, tỉnh Quảng Trị) Nói cách khác, nhân tố chính dẫn tới quá trình hình thành đô thị ở nơi đây chính là
sự hình thành và phát triển của tuyến đường 9 [1, tr.270-280]
Trong một nghiên cứu khác, Pichet Saiphan đã tìm hiểu về quá trình đô thị hóa ở Điện Biên, nhấn mạnh đến một số ví dụ về vấn đề đô thị - nông thôn Trong nghiên cứu này, tác giả cho rằng đô thị hóa ở Điện Biên phát triển do những chính sách của Nhà nước được thực hiện ở khu vực này Bắt đầu từ chính sách xây dựng và phát triển nông trường đến các chính sách phát triển kinh tế thị trường sau đổi mới Tác giả kết luận, sự biến đổi sau đổi mới
là nguyên nhân chính dẫn tới quá trình đô thị hóa mạnh ở Điện Biên [40,
Trang 20Tác giả Nguyễn Thị Hoài Phương nghiên cứu về đô thị Hải Phòng đặc biệt là lịch sử hình thành và phát triển của nó cho rằng đô thị Hải Phòng được hình thành từ những điều kiện tự nhiên, những biến đổi trong kinh tế - xã hội cũng như những tác động của chính quyền địa phương đã cho ra đời và lớn mạnh của đô thị thương cảng này [42, tr.9-107] Còn tác giả Tạ Thị Hoàng Vân trong nghiên cứ, xem xét về sự hình thành đô thị Hội An trong lịch sử Trong nghiên cứu này, tác giả nhấn mạnh rằng đô thị Hội An được hình thành
do vị trí có hệ thống sông ngòi dày đặc và sự tác động của chính quyền địa phương lúc đó đã đưa Hội An dần hình thành một đô thị thương cảng [49, tr.12-171] Còn ở Nhật Bản, tác giả Masaya Shiraishi cũng cho thấy một vài nét lịch sử quả quá trình hình thành đô thị Yokoham Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã nghiên cứu về sự hình thành đô thị do ý muốn của chính quyền Edo thông qua chính sách quy hoạch của họ Yokohama được hình thành ban đầu với khoảng 90 hộ dân vào năm 1859 đến nay thành phố có khoảng 3 triệu dân Đây là một thành thị cảng được chính quyền Edo xây dựng bằng việc họ xây dựng bến tàu, nhà thuế quan, các khu nhà trọ dành cho ngoài kiều thuê, xây dựng đường điện, đường sắt,… đã biến Yokoham trở thành một thành phố lớn thứ hai của Nhật Bản và là một trong 5 cảng thương mại quốc tế lớn nhất Nhật Bản từ một làng chài với khoảng 90 hộ dân sinh sống [55, tr.123-152]
Thứ hai là đô thị hóa theo các vòng tròn (hay vành đai) ly tâm tại các
thành phố lớn Đây là quá trình đô thị hóa vùng ven đô các thành phố Tác
nhân là sự phát triển của kết cấu hạ tầng đô thị cũng như lối sống từ trung tâm tỏa ra bốn hướng ven đô, đặc biệt là sự phát triển của các cơ sở công nghiệp, dịch vụ Việc hình thành các vành đai thể hiện xu hướng phát triển đô thị theo những vòng tròn ly tâm song vẫn quy tâm về trung tâm thành phố
Trang 21Thành phố Hà Nội là trung tâm tỏa đi các đô thị hạt nhân thị xã Sơn Tây - Hòa Lạc - Xuân Mai - Sóc Sơn - Xuân Hòa - Phúc Yên
Vùng Đông Bắc lấy thành phố Thái Nguyên làm trung tâm thì các đô thị xung quang như thị xã Bắc Cạn - thị xã Cao Bằng - thị xã Lạng Sơn - thị xã Bắc Giang - thị trấn Phổ Yên cùng với đó là hoàng loạt các đô thị nhỏ cấp huyện (thị trấn) đặt tại trung tâm hành chính các huyện
Vùng Lào Cai - Yên Bái - Phú Thọ - Tuyên Quang - Hà Giang thì có thành phố Việt Trì làm trung tâm, các đô thị xung quanh như thị xã Lào Cai - thị
xã Yên Bái - thị xã Hà Giang - thị xã Tuyên Quang và các đô thị cấp huyện (thị trấn)
Vùng Tây Bắc thị xã Hòa Bình là thành phố trung tâm vùng, hai đô thị xung quanh là thị xã Điện Biên Phủ và thị xã Sơn La và các đô thị trung tâm cấp huyện và khu vực
Các nghiên cứu theo hướng này cho thấy các quá trình mở rộng của khu
đô thị sang vùng ven đô Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Sửu cho thấy các tác động của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa làm chuyển đổi không gian sống và các hoạt động sinh kế của người nông dân ở một làng ven đô Hà Nội Trong bài nghiên cứu này, tác giả đã nghiên cứu và phân tích quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa đã tác động đến sự biến đổi một làng ven đô về trên nhiều khía cạnh khác nhau, trong đó nổi bật là vấn đề mất đất dẫn đến người dân chuyển đổi sinh kế từ người nông dân thuần túy sang làm các nghề khác như xe
ôm, đi buôn, mở cửa hàng buôn bán, [51, tr.1-17]
Một nghiên cứu khác của Nguyễn Văn Sửu với Chu Thu Hường cung cấp một ví dụ khác về sự biến đổi không gian ở một làng ven đô ở tỉnh Bắc Ninh Ở nghiên cứu này, các tác giả cho thấy quá trình đô thị không chỉ là sự mở rộng
Trang 22trình đô thị hóa ở nơi đây, từ đó dẫn tới sự biến đổi không gian cư trú, không gian canh tác, không gian thiêng… của một làng ven đô [52, tr.307-323]
Một nghiên cứu khác của Nguyễn Thị Hương về làng Khương Hạ với quá trình đô thị hoá (từ truyền thống đến hiện đại) nhấn mạnh đến quá trình đô thị hóa ở một làng xưa kia trong suốt một thời gian dài về quá trình chuyển đổi từ làng lên phố, phường [26, tr.7-116] Nghiên cứu của Cao Thị Nhàn cũng cho thấy quá trình đô thị hoá ảnh hưởng đến sự chuyển đổi việc làm của các hộ gia đình nông dân ở một làng ven đô, mà tác giả nhấn mạnh tới thực tế những người dân bị mất đất cuối cùng trở nên bị thất nghiệp Một số công trình khác nghiên
cứu về đô thị như Mạc Đường, 2002 Dân tộc học đô thị và vấn đề đô thị hóa Trần Ngọc - Trần Văn Chử (đồng chủ biên), về Đô thị hóa và chính sách phát triển đô thị trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam cũng nhấn mạnh
đến khuynh hướng đô thị hóa này
Thứ ba là khuynh hướng đô thị hóa theo hướng hình thành các đô thị nhỏ
ở dưới hình thức các thị tứ hay các trung tâm buôn bán, công nghiệp và dịch vụ các vùng nông thôn cách xa thành phố lớn dưới tác động của các chính sách của Nhà nước hay trên cơ sở các nhu cầu nội tại của các cộng đồng địa phương Tài liệu nghiên cứu về khuynh hướng đô thị hóa này còn ít, vì thế nghiên cứu của tôi
có thể được coi là một đóng góp không chỉ về tài liệu dân tộc mà còn là một điểm chấm làm rõ hơn những hiểu biết của chúng ta về quá trình đô thị hóa theo hướng này ở khu vực miền núi các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam
2.2 Khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam
Miền núi Bắc Bộ giáp với 3 tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam của Trung Quốc ở phía bắc, phía tây giáp Lào, phía nam giáp Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ, phía đông giáp Vịnh Bắc Bộ Là khu vực có khí hậu đa dạng, địa hình phức tạp nhất nước, với những dãy núi cao , sông dốc, các thung lũng nhỏ Dân số toàn vùng là 11.095.200 người Đây là địa bàn cư trú của 29
Trang 23dân tộc, phân bố trên 15 tỉnh, trong đó có khoảng 7,5 triệu là người dân tộc thiểu
số Những dân tộc có số lượng dân cư đông như Tày, Nùng và H‟mông chủ yếu tập trung ở khu vực Đông Bắc, trong khi người Thái, Mường chủ yếu tập trung ở khu vực Tây Bắc Cùng với đó, ở trung tâm các tỉnh, huyện là nơi tập trung chủ yếu của người Kinh Hiện nay khu vực trung du và miền núi phía Bắc có 15 tỉnh thành, dân số 11095,2 nghìn người (năm 2009), đông nhất là tỉnh Bắc Giang có 1560,2 nghìn người, ít nhất là Bắc Cạn có 295,3 nghìn người Với vị trí địa lí đặc biệt, giáp với Thượng Lào và có thể giao lưu thuận lợi bằng đường sắt và đường
ô tô với các tỉnh phía Nam Trung Quốc qua các cửa khẩu Lạng Sơn , Lào Cai và Móng Cái Phần miền núi phía Bắc Việt Nam gần đến 4/5 diện tích là đồi núi , phần còn lại là các đồng bằng châu thổ và duyên hải do nhiều con sông bồi đắp lên được thể hiện trong nghiên cứu của Lê Bá Thảo đã giới thiệu cho chúng ta có cái nhìn tổng quan về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, dân cư của các vùng miền trên cả nước [56, tr.532]
Bảng 1.1: Sự phân bố dân cư giữa thành thị và nông thôn trên các vùng nước ta
Đơn vị tính: Người
Trung du và miền núi phía Bắc 11.053.590 1.753.711 9.299.879 Đồng bằng sông Hồng 19.584.287 5.739.684 13.844.603 Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền
Trang 24Nguồn: Ban Chỉ đạo và Tổng điều tra Dân số và nhà ở Trung ương: Điều tra Dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009, tr.3
Nhìn vào bảng thống kê ta thấy sự chênh lệch lớn về sự phân bố giữa nông thôn ở nước ta là 29,63% và thành thị 70,37% dân số Trong đó tỷ lệ giữa các vùng miền cũng có sự khác biệt Nếu chỉ tính riêng dân thành thị, thì khu vực Đông Nam Bộ có tỷ lệ dân thành thị cao nhất (chiếm 31,62% dân thành thị cả nước), thấp nhất là khu vực Tây Nguyên (chiếm 5,68% dân thành thị cả nước), sau đó là khu vực miền núi phía Bắc (chiếm 6,89% dân thành thị) và khu vực đồng bằng sông Cửu Long (chiếm 15,43% dân thành thị cả nước)
Nếu tính theo nội bộ thì khu vực Đông Nam Bộ cũng vẫn là nơi có dân thành thị cao nhất là 8.043.806/14.076.361 người (tức dân thành thị chiếm 57,14% dân trong vùng), thấp nhất là khu vực miền núi phía Bắc 1.753.711/11.053.590 người, (chiếm 15,87% dân số toàn vùng)
Xét về mặt dân số học tộc người, các dân tộc chiếm đa số như dân tộc Tày sống chủ yếu ở Đông Bắc 1.626.392 người (năm 2009), dân tộc Nùng: 968.800 người; dân tộc Thái: 1.550.423 người chủ yếu ở Tây Bắc, dân tộc H‟mông: 1.068.189 người ở gần như khắp nơi trên đỉnh núi cao , dân tộc Mường: 1.268.963 người người sống ở khu vực Hòa Bình - Thanh Hóa - Phú Thọ, các dân tộc khác chỉ có mỗi dân tộc vài vạn người, thậm chí vài nghìn hoặc vài trăm người sinh sống ven biên giới Việt - Trung và biên giới Việt Lào hoặc sống xen kẽ với các dân tộc khác Các dân tộc có dân số tương đối lớn đều sông xen kẽ với nhau từ độ cao 700m trở xuống [56, tr.360], còn trên các vùng núi cao là địa bàn cư trú của dân tộc Dao có dân số 751.067 người;
từ trên 1000m là dân tộc H‟mông, người Xinh Mun: 23.278 người; Hà Nhì:
Trang 2521.725 người; Kháng: 13.840; Phù Lá: 10.944 người; La Hủ: 9.651; La Ha: 8.177 người; Cống: 2.029 người và một số dân tộc ít người khác3
Xét về thành phần cư dân ở khu vực này, nhóm Tày, Nùng, Thái, Mường chủ yếu sinh sống ở những thung lũng mầu mỡ, vùng đất bằng phẳng, thì người Dao, H‟mông, Kháng, La Ha, Xinh Mun, Phù Lá, La Hủ, Cống, Si La,… lại chủ yếu sinh sống ở trên những sườn đồi, núi cao Còn tại các trung tâm tỉnh, huyện, các nông trường là sự hiện diện của phần lớn người Việt (duy chỉ có thị xã Sơn La có một bộ phận lớn người Thái) Các cộng đồng dân
cư này trải qua một quá trình lịch sử lâu đời đã và đang sinh sống xen kẽ với nhau Chính vì thế, đây là khu vực đã được rất nhiều các nhà khoa học trên các lĩnh vực đã tiến hành nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, trong đó
có thể thấy các vấn đề chủ yếu được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu
Xét về phương diện kinh tế , khu vực này là địa bàn cư trú của nhiều cộng đồng dân tộc có trình độ phát triển kinh tế còn kém, nền kinh tế chủ yếu dựa vào hoạt động nông nghiệp nương rẫy và ruộng nước, nền kinh tế chủ yếu
là tự cung, tự cấp và dựa vào khai thác tư nhiên, hầu như chưa biết nhiều đến kinh tế thị trường (như các dân tộc Cống, La Hủ, Phù Lá, Kháng,…) Một số dân tộc khác như người Tày, Thái, Nùng, Mường,… có nền kinh tế phát triển hơn, song vẫn còn khoảng cách khá xa so với sự phát triển của người Kinh ở khu vực đồng bằng Bên cạnh đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn, thì đời sống văn hóa - xã hội của các cư dân sinh sống trên địa bàn miền núi phía Bắc còn nhiều luật tục lạc hậu, cổ hủ, không phù hợp với nhu cầu phát triển kinh
tế - xã hội chung của đất nước
Trang 26
Đây còn là một vùng đất có vị trí chiến lược của đất nước, điều kiện tự nhiên rất đa dang, là nơi chứa đựng những đặc trưng văn hóa tộc người rất phong phú và đa dạng Nói cách khác, sự đa dạng về địa hình, tộc người và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của khu vực này làm cho bức tranh văn hóa tộc người ở khu vực này rất đa dạng, nhiều hình vẻ Sự đa dạng đó, nhất là về văn hóa có nhiều ý nghĩa và giá trị đối với việc hình thành một nền văn hóa
đa dạng của đất nước, nhưng đồng thời lại là những khó khăn cho việc áp dụng và triển khai một chính sách đồng nhất trên diện rộng đối với tất cả các cộng đồng tộc người và các địa phương khác nhau trong khu vực miền núi phía Bắc
Chính bởi tầm quan trọng đặc biệt về nhiều mặt của nó, khu vực miền núi phía Bắc luôn là một trong những khu vực được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm về nhiều mặt trong quá trình đổi mới và chiến lược phát triển kinh tế và an ninh quốc phòng trong những thập kỷ vừa qua Nổi bật là các chính sách về xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng (đường giao thông, trường, điện, ), phát triển kinh tế nông nghiệp, nhằm không chỉ đạt được mục tiêu phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo công bằng xã hội, đảm bảo an ninh nhằm thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước
1.3 Phát triển ở khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam
1.3.1 Chính sách phát triển của Nhà nước đối với khu vực miền núi phía Bắc
Trước hết tác giả muốn phân tích về nội hàm của khái niệm “phát triển”
có thể được hiểu một cách đơn giản là quá trình biến đổi từ nghèo đến giàu, hoặc được hiểu là các cố gắng cải thiện các điều kiện sống cho con người, chú trọng đến đời sống của người dân như nâng cao mức sống , xây dựng khả năng, khuyến khích sự tham gia của địa phương vào hoạch định và thực hiện
Trang 27chính sách Phát triển luôn hàm ý bao gồm nhiều nhóm và chú trọng đến nhiều cấp độ, bao gồm cả cấp độ địa phương, cộng đồng Phát triển cũng bao
gồm nhiều chiều cạnh khác nhau: nhà ở, vệ sinh, y tế, nước sạch, giáo dục, an
toàn lương thực, bảo tồn, việc làm, tăng quyền dân chủ , xóa đói giảm nghèo, khả năng gây ảnh hưởng đối với hoạch định chính sách và nhiều vấn đề khác
Mục tiêu phát triển ở khu vực miền núi của Đảng và Nhà nước ta “là tạo điều kiện cần thiết để xóa bỏ tận gốc sự chênh lệch về trình độ kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc ít người, đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng cao tiến kịp vùng thấp, làm cho tất cả các dân tộc điều có cuộc sống ấm no, văn minh và hạnh phúc, đều phát triển kinh tế về mọi mặt, đoàn kết và giúp đỡ nhau tiến
bộ4”
“Chính sách phát triển” là những những nỗ lực và định hướng được thể
hiện bằng các hành động của Nhà nước và các tổ chức khác nhằm đạt đến một mục tiêu phát triển cụ thể về kinh tế, xã hội hoặc văn hóa; hay là tổng thể những lĩnh vực trên Các chính sách có thể được áp dụng trong toàn quốc với tất cả các đối tượng, nhưng có thể chỉ giới hạn trong một khu vực địa lý nhất định, hay một nhóm đối tượng cụ thể
Nghiên cứu về khu vực miền núi phía Bắc, về các dân tộc thiểu số sinh sống ở khu vực này là vấn đề được nhiều nhà khoa học trong nước và nước ngoài quan tâm, trong đó các nhà dân tộc học chiếm một số lượng đáng kể Trong số những vấn được khảo sát, chính sách phát triển kinh tế, văn hóa và
xã hội cũng như chính sách dân tộc nói chung và sự tác động của các chương trình, dự án phát triển nói riêng của Đảng và Nhà nước đối với khu vực miền núi phía Bắc đã được đề cập trong một số công trình Ví dụ như nghiên cứu
Trang 28của Nguyễn Đình Tấn (2007), Những chính sách của Đảng và Nhà nước về miền núi, khu vực miền núi phía Bắ ; Phạm Văn Vạn (1999), Chương trình và
dự án phát triển kinh tế xã hội ; Lê Ngọc Thắng, Trần Văn Thuật (2007), Giải pháp cải thiện đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu số ; Judy L Backer – Vũ Hoàng Linh dịch (2002), Đánh giá tác động của các dự án phát triển tới đói nghèo Đây là những nghiên cứu phân tích về việc triển khai và các tác động
của chính sách phát triển của Nhà nước đối với khu vực miền núi Tuy nhiên, còn rất ít nghiên cứu khảo sát ở cấp độ vi mô, phân tích sâu trường hợp một
xã để hiểu xem các chính sách phát triển đã được thực hiện và có tác động tích cực và hạn chế như thế nào
1.3.2 Các chương trình và dự án phát triển ở khu vực miền núi phía Bắc
Chương trình phát triển được hiểu là các hoạt động cụ thể ở cấp độ vĩ
mô (lớn hơn dự án phát triển) được thực hiện nhằm mục đích thay đổi kinh tế,
xã hội, hay văn hóa của một nhóm đối tượng trên một địa bàn cụ thể Trong
khi đó, dự án phát triển là những các hoạt động cụ thể ở cấp độ vi mô (nhỏ
hơn chương trình phát triển) được triển khai nhằm mục đích thay đổi kinh tế,
xã hội, hay văn hóa của một nhóm đối tương ở một địa bàn cụ thể5
Trong những năm vừa qua, đặc biệt là trong thời sau thời kỳ đổi mới năm 1986 đến nay, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách, đầu tư tạo điều kiện nhằm phát triển về nhiều mặt khu vực miền núi dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới Việc phát triển khu vực miền núi là những biểu hiện cụ thể của chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước đối với khu vực này Trên cơ sở các chính sách phát triển, hành loạt các chương trình, dự án ở cấp độ quốc tế (của các tổ chức quốc tế), cấp quốc gia (của trung ương và các
5 Sau đây ở những chỗ không cần thiết phải phân biệt rạch ròi giữa chương trình phát triển với dự
án phát triển thì tôi sử dụng khái niệm dự án phát triển như một khái niệm chung cho chương trình
phát triển với dự án phát triển
Trang 29bộ ngành) và địa phương (của tỉnh, huyện, xã) về kinh tế, văn hóa, xã hội và
an ninh quốc phòng đối với vùng dân tộc thiểu số đã được ban hành và thực hiện Trong đó nổi bật hơn cả là các Chương trình 327, Chương trình 661, Chương trình 135 I và II, Chương trình 134, Quyết định số 168, 186, 173 và nhiều dự án khác đã được triển khai trên nhiều địa bàn cụ thể
Trong đó, Chương trình 135 là một trong những chương trình phát triển nổi bật, được chia làm 2 giai đoạn Chương trình 135 giai đoạn I (1999-2005) trên địa bàn miền núi phía Bắc đã đạt được các mục tiêu quan trọng về phát triển kinh tế xã hội, bộ mặt nông thôn miền núi đã thay đổi căn bản, đặc biệt là hệ thống cơ sở hạ tầng đã được cải thiện rõ rệt, bước đầu đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất và đời sống, thúc đẩy nền kinh tế nhiều thành phần từng bước phát triển, khoảng cách đói nghèo đã được thu hẹp giữa các vùng; trình độ dân trí đã được nâng lên Theo báo cáo của Chính phủ, Chương trình 135 giai đoạn II6 (2006-2010) đã làm thay đổi cơ bản diện mạo nông thôn vùng dân tộc, miền núi đặc biệt khó khăn: Đời sống đồng bào dân tộc thiểu số từng bước được cải thiện, tỷ lệ đói nghèo giảm nhanh; trình độ dân trí được nâng lên; đội ngũ cán bộ cơ sở được bồi dưỡng7
Ngoài ra, việc thực hiện lồng ghép một số chương trình, dự án trên địa bàn các xã đặc biệt khó khăn cũng được thực hiện và mang lại kết quả, như việc kết hợp triển khai các Quyết định 168/2001/QĐ - TTg, Quyết định 137/2001/QĐ - TTg, Quyết định 186/2001/QĐ - TTg về định hướng kế hoạch phát triển các vùng Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long và 6 tỉnh đặc biệt khó khăn ở miền núi phía Bắc; Chương trình gồm 5 triệu ha rừng, các chương
6 Chương trình 135 giai đoạn II được thực hiện trên địa bàn 50 tỉnh, 354/567 huyện với tổng số 1.946 xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu và 3.274 thôn bản đặc biệt khó khăn của 1.140 xã khu vực II (khu vực II là khu vực vùng đệm giữa các khu đô thị và vùng sâu, hẻo lánh, vùng cao hiện nay chiếm 14,8% diện
Trang 30trình mục tiêu quốc gia về giáo dục, y tế, nước sạch…; Các chính sách như trợ giá, trợ cước, cấp miễn phí báo và tạp chí, hỗ trợ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn; Các dự án bằng nguồn vốn ODA8 của WB9, ADB10, IFAD… đã tác động mạnh, làm thay đổi nhiều mặt về đời sống của người dân về kinh tế -
xã hội
Các chương trình và dự án phát triển như trên ở khu vực này được tổ chức thực hiện từ trung ương đến địa phương dưới sự quản lý và điều hành của các Ban chỉ đạo hay Ban điều hành hoặc đặt trực tiếp dưới sự sự quản lý
và điều hành của chính quyền các cấp [64, tr.41] Chẳng hạn, ở cấp Trung ương, Ban chỉ đạo Chương trình 135 do một đồng chí Phó Thủ tướng Chính phủ làm trưởng ban, thành viên ban chỉ đạo là các bộ, ngành liên quan, Uỷ ban Dân tộc là cơ quan thường trực của Chương trình Ở cấp địa phương được thụ hưởng có Ban chỉ đạo do một lãnh đạo của ủy ban nhân dân làm trưởng ban chỉ đạo chương trình và có các cơ quan chức năng giúp tổ chức thực hiện chương trình Việc hình thành hệ thống chỉ đạo chương trình thống nhất từ Trung ương đến địa phương và theo cơ chế phối hợp giữa các bộ, ban, ngành
đã tạo ra mối liên hệ chặt chẽ, đảm bảo sự thống nhất trong điều hành Chương trình
Sau hơn 10 năm thực hiện, Chương trình 135 I và II đã góp phần quan trọng làm thay đổi diện mạo nông thôn, miền núi Chương trình đã xây dựng được trên 25.000 công trình hạ tầng và 498 trung tâm cụm xã: đã đưa vào sử
8 Hỗ trợ phát triển chính thức (hay ODA, viết tắt của cụm từ Official Development Assistance), là
một hình thức đầu tư nước ngoài Gọi là Hỗ trợ bởi vì các khoản đầu tư này thường là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp với thời gian vay dài Đôi khi còn gọi là viện trợ Gọi là
Phát triển vì mục tiêu danh nghĩa của các khoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở nước được đầu tư Gọi là Chính thức, vì nó thường là cho Nhà nước vay
9 Nhóm Ngân hàng Thế giới ( tiếng Anh: World Bank Group, viết tắt WBG) là một tổ chức tài chính
đa phương có mục đích trung tâm là thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội ở các nước đang phát triển bằng cách nâng cao năng suất lao động ở các nước này
10 Ngân hàng phát triển Châu Á
Trang 31dụng trên 20.000 công trình thiết yếu các loại và trên 200 trung tâm cụm xã Hiện nay đã có trên 70% số xã đã xây dựng được 5 hạng mục công trình thiết yếu: Đường giao thông, hệ thống điện, trường học, thủy lợi nhỏ và trạm y tế; 56% số xã đã đầu tưu xây dựng đủ 8 hạng mục công trình thiết yếu Trên địa bàn các xã thuộc chương trình 135, 68% xã có trường tiểu học, 73% xã có trường trung học cơ sở kiên cố, 96% xã có trạm y tế đảm bảo phục vụ khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân, 74% xã có trạm bưu điện văn hóa, 61% xã có trạm truyền thanh, 44% xã có chợ Đã có thêm 500
xã có đường ô tô đến trung tâm xã, 28 tỉnh trong chương trình đã đạt 100% xã
có đường ô tô đến trung tâm, tỷ lệ đường giao thông cơ giới và dân sinh đến trung tâm xã đạt 97,42%, tăng 62,42% so với năm 1998 [64, tr.42]
Chương trình 135 I và II đã xây dựng được hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn quan trọng, đây là lực lượng vật chất to lớn làm thay đổi bộ mặt các xã đặc biệt khó khăn, góp phần cải thiện đời sống, nâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghèo và tạo tiền đề cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa vùng dân tộc miền núi; đóng góp quan trọng vào giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn Nhờ đầu tư cho công tác thủy lợi, khai hoang tăng diện tích canh tác, đưa nhanh giống cây trồng, vật nuôi năng suất – chất lượng cao dần thay thế cho những tập quán sản xuất lạc hậu, phụ thuộc vào thiên nhiên đã giúp cho các xã đặc biệt khó khăn ổn định lương thực và nâng mức bình quân lương thực sản xuất từ 286kg/người/năm của năm 1998 lên 320kg/người/năm vào năm 2004, nhiều địa phương đạt 500kg/người/năm [64, tr.42]
Do phát phát triển sản xuất, đã hình thành một số vùng kinh tế hàng hóa, ngày càng có nhiều hộ làm ăn giỏi, xuất hiện nhiều mô hình sản xuất kinh doanh có hiệu quả trên địa bàn Trên các địa bàn hoạt động của Chương
Trang 32khi có Chương trình gần 60% đến năm 2005 chỉ còn 20%, một số địa phương
Quá trình thực hiện chương trình đã nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ
cơ sở về trình độ quản lý Nhà nước, quản lý xã hội và xóa đói giảm nghèo Chương trình có ý nghĩa to lớn về kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh quốc phòng, với tính nhân văn sâu sắc, góp phần phát triển kinh tế xã hội đất nước một cách bền vững Chương trình thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước đối với vùng đồng bào dân tộc miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng
xa, vùng căn cứ cách mạng
Trang 33Chương trình đã được các tổ chức quốc tế quan tâm và đánh giá cao Nhiều tổ chức quốc tế đã nghiên cứu, đánh giá cao về hiệu quả Chương trình
135 Về cơ bản, Chương trình 135 được đánh giá là Chương trình xóa đói, giảm nghèo thành công nhất của Việt Nam Chương trình có cách tiếp cận toàn diện, phương pháp xác định đối tượng khá rõ ràng, trúng địa chỉ; thực hiện dân chủ công khai; việc quản lý và phân bổ vốn đầu tư minh bạch, phân cấp mạnh và đơn giản hóa thủ tục đầu tư Do đánh giá cao về Chương trình
135, một số nước, tổ chức quốc tế đã tham gia ủng hộ nguồn lực hoặc tham gia thực hiện chương trình
Có thể nói, Chương trình 135 và các dự án phát triển khác đã tạo nên những cơ sở hạ tầng, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển, đảm bảo an ninh quốc phòng, đồng thời là những yếu tố tác động trực tiếp đến quá trình đô thị hóa ở khu vực miền núi vùng cao phía Bắc nước ta
Trang 34phát triển ở quy mô nhỏ với mức độ ít đậm tính đô thị hơn ở các trung tâm cấp xã, mà trường hợp Nghĩa Đô là một trong những ví dụ đó
Bản đồ 2: Tỉnh Lào Cai
Trang 35Bản đồ 3: Xã Nghĩa Đô
Trang 36CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ XÃ NGHĨA ĐÔ, HUYỆN BẢO YÊN,
TỈNH LÀO CAI 2.1 Người Tày ở xã Nghĩa Đô, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai
2.1.1 Vài nét về người Tày ở Việt Nam và khu vực miền núi phía Bắc
Là một cộng đồng dân tộc có dân số đông nhất trong số các dân tộc thiểu số ở nước ta (1.626.392 người vào năm 2009), không gian sống phủ khắp vùng Đông Bắc và một phần Tây Bắc nước ta, người Tày có nhiều đặc trưng văn hóa truyền thống rất đa dạng Chính vì thế, người Tày trở thành một trong những tộc người ở Việt Nam được nhiều nhà Dân tộc học quan tâm nghiên cứu từ các góc độ kinh tế, văn hóa và xã hội, v.v Trong đó phải kể đến một số các công trình nghiên cứu như Vi Văn An, La Công Ý (2009),
Người Tày ở Việt Nam; Ma Ngọc Dung (2006), Truyền thống và biến đổi trong tập quán ăn uống của người Tày vùng Đông Bắc Việt Nam; Hoàng Quyết,Tuấn Dũng (1995), Phong tục tập quán dân tộc Tày ở Việt Bắc; Trần Văn Hà (1999), Các dân tộc Tày, Nùng với tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp; Đỗ Thúy Bình (1994), Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng
và Thái ở Việt Nam; Triều Ân, Hoàng Quyết (2010), Tục cưới xin của dân tộc Tày; Hoàng Tuấn Nam (1999), Việc tang lễ cổ truyền của người Tày; Lã Văn
Lô và Hà Văn Thư (1984), Văn hoá Tày – Nùng; Hà Đình Thành (2010), Văn hóa dân gian Tày, Nùng ở Việt Nam; Hoàng Quyết (2001), Lễ hội Tà y - Nùng, v.v Những công trình này đã cho chúng ta có cái nhìn tổng quan về
người Tày ở nước ta từ trước đến nay
Bảng 2.1: Sự phân bố người Tày ở các vùng lãnh thổ Việt Nam
Đơn vị tính: Người
Trang 371 Trung du và miền núi phía Bắc 1.400.519
3 Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 12.524
Nguồn: Ban Chỉ đạo và Tổng điều tra Dân số và nhà ở Trung ương: Tổng điều tra Dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009, tr.136
Qua bảng thống kê ta thấy sự phân bố người Tày có mặt ở khắp 6 vùng miền nước ta Tuy nhiên, sự tập trung chủ yếu là ở khu vực miền núi phía Bắc với 1.400.519 người (chiếm 86,11% tổng số người Tày ở Việt Nam) Các vùng còn lại chỉ có 22.5873 người (chiếm 13,88% tổng số người Tày) Trong 5 vùng còn lại thì vùng Tây Nguyên có số người Tày đông hơn cả là 104.798 người và (chiếm 6,44%), ít nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long với 784 người (chiếm
0,48% dân số Tày trên cả nước)
Theo bản danh mục các thành phần dân tộc ở Việt Nam do tổng cụ thống
kê ban hành năm 1979, dân tộc Tày có 4 nhóm địa phương khác nhau là Pa Dí , Thu Lao , Ngạn và Phén Bên cạnh những nét chung mang tính cộng đồng thì mỗi nhóm có thể có một vài đặc trưng riêng Xét về mặt tên gọi, người Tày cư trú ở các địa phương khác nhau ở Việt Nam nhưng đều có tên gọi thống nhất là người Tày hay dân tộc Tày Theo bảng danh mục thành phần các dân tộc Việt Nam thì người Tày là một cộng đồng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái Xét về mặt dân số, kết quả điều tra dân số năm 2009 cho thấy tổng dân số của người Tày ở Việt Nam là 1.626.392 người, đứng thứ hai sau người Kinh Người Tày cư trú chủ yếu ở 19 tỉnh thành có dân số trên 10 nghìn người và nhiều nơi khác
Trang 38Bảng 2.2: Phân bố dân cư của dân tộc Tày
Trang 39Nguồn: Ban Chỉ đạo và Tổng điều tra Dân số và nhà ở Trung ương: Tổng điều tra Dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009
Qua bảng thống kê trên cho thấy người Tày ở nước ta phân bố khắp các tỉnh trên cả nước Tuy nhiên địa bàn tập trung đông nhất vẫn là khu vực Đông Bắc ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái và Thái Nguyên đã là 1.236.541 người, tức chiếm 76,02% người Tày trên cả nước Như vậy trên địa bàn 19 tỉnh đã nêu trên có số người Tày là 1.583.675 người chiếm 97,37% người Tày trên cả nước
Người Tày chủ yếu cư trú trên những cánh đồng mầu mỡ ở các thung lũng, trong đó những cánh đồng lớn như Hòa An, Tràng Định, Lạng Sơn, Phủ Thông, Bắc Quang Người Tày là cư dân đông nhất ở vùng Việt Bắc, họ cư trú suốt một dải miền Trung du và Thượng du Bắc Bộ, từ Hoàng Liên Sơn (cũ) tới Quảng Ninh, trong đó tập trung đông nhất ở Thái Nguyên, Bắc Cạn,
Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn và có quan hệ thân thuộc với dân tộc Nùng, Giáy, Cao Lan, Sán Chỉ ở nước ta [67, tr 178]
Dù không gian sinh sống của người Tày ở nước ta khá đa dạng, họ tập trung cư trú ở các thung lũng lớn, những khu đất khá bằng phẳng ở Đông Bắc nước ta, trong đó không gian cư trú thường ở những cánh đồng, chân núi hay những ven suối Trong không gian cư trú, nhà cửa người Tày trong truyền thống thường gồm ba loại: nhà sàn, nhà đất và nhà phòng thủ11 Trong đó nổi bật là nhà sàn, với hai loại khác nhau, đó là nhà sàn làm bằng gỗ và nhà sàn làm bằng đất [67, tr 178]
11
Trang 40Trong khi người Thái với quan hệ Phìa Tạo, người Mường với thiết chế Lang Cun, thì xã hội người Tày có chế độ Thổ Ty Tính chất phụ quyền ở gia đình người Tày thể hiện đậm nét trong quan hệ giữa các thành viên trong gia đình (vợ phải nghe chồng) Người Tày thường quý con trai hơn Trước kia, người Tày chủ yếu dựng vợ gả chồng trong nội bộ dân tộc mình , nhưng cấm quan hệ hôn nhân trong cùng một dòng họ, trừ họ hàng xa Ngày nay việc hôn nhân đã có nhiều biến đổi , đặc biệt là hôn nhân với các dân tộc khác đã phổ biến
Về kinh tế, tùy vào điều kiện tự nhiên của từng vùng sinh sống mà hoạt
động kinh tế người Tày khác nhau Trong các vùng có người Tày sinh sống đều là những địa bàn có hầu hết các hình thức canh tác nông nghiệp lúa nước
và nương rẫy (hiện nay nhiều nơi không còn loại hình canh tác lúa nương) và một số loại hoa màu khác Kỹ thuật làm đất của người Tày gắn liền với tính năng của những nông cụ khác nhau như: cày, cuốc, bừa, thuổng.v.v…Nông lịch và thời vụ gieo trồng được thực hiện khá chặt chẽ theo lịch âm, nhưng đồng thời cũng dựa vào các hiện tượng tự nhiên, hay kinh nghiệm dân gian để tiến hành các hoạt động canh tác nông nghiệp
Bên cạnh ruộng, ở hầu hết các vùng người Tày nương vẫn chiếm vị trí khá quan trọng trong sản xuất lương thực, thực phẩm Ngoài lúa nước và nương rẫy, việc trồng cây ăn quả, cây công nghiệp đã xuất hiện từ khá sớm và cho đến nay đang là những hoạt động sản xuất đem lại cho nhiều hộ gia đình một nguồn thu không nhỏ Cùng với sản xuất nông nghiệp thì chăn nuôi cũng được chú trọng, nghĩa là chăn nuôi và trồng trọt là hai hoạt động kinh tế quan trọng của nhiều hộ gia đình [65, tr 186] Trước đây, người Tày còn khai thác các nguồn lợi tự nhiên từ rừng và sông suối để phục vụ và cải thiện nhu cầu thực phẩm trong cuộc sống hàng ngày