Chọn nghiên cứu về Biểu tượng người khổng lồ trong thần thoại một số cư dân nói tiếng Thái ở Việt Nam, chúng tôi mong muốn được gợi ra một hướng nghiên cứu mới trong Nhân học - một kho
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
CHU THỊ VÂN ANH
BIỂU TƯỢNG NGƯỜI KHỔNG LỒ TRONG THẦN THOẠI MỘT SỐ CƯ DÂN NÓI TIẾNG
THÁI Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hµ Néi, 2009
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
CHU THỊ VÂN ANH
BIỂU TƯỢNG NGƯỜI KHỔNG LỒ TRONG THẦN THOẠI MỘT SỐ CƯ DÂN
NÓI TIẾNG THÁI Ở VIỆT NAM
Trang 3MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
2.1 Trên Thế giới: 5
2.2 Trong nước 7
3 Mục đích nghiên cứu 10
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
5 Phương pháp nghiên cứu 12
6 Đóng góp của luận văn 12
7 Bố cục của luận văn 13
CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM CHUNG VỀ BIỂU TƯỢNG 14
1.1 Định nghĩa và nguồn gốc của biểu tượng 14
1.1.1 Khái niệm “biểu tượng” 14
1.1.2 Nguồn gốc của biểu tượng 15
1.2 Tính chất và chức năng cơ bản của biểu tượng 23
1.2.1 Tính chất của biểu tượng 23
1.2.2 Các chức năng cơ bản của biểu tượng 27
1.3 Sự phân loại biểu tượng 31
CHƯƠNG 2: BIỂU TƯỢNG NGƯỜI KHỔNG LỒTRONG KHO TÀNG THẦN THOẠI MỘT SỐ TỘC NGƯỜI NÓI TIẾNG THÁI Ở VIỆT NAM 46
2.1 Khái quát về một số cư dân nói tiếng Thái ở Việt Nam 46
2.1.1 Địa bàn cư trú 46
2.1.2 Lịch sử hình thành các tộc người nói tiếng Thái ở Việt Nam 47
2.1.3 Một số đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội truyền thống 50
2.2 Biểu tượng người khổng lồ trong văn học dân gian cư dân nói tiếng Thái và một số dân tộc anh em 54
2.2.1 Thần thoại và biểu tượng người khổng lồ 54
Trang 42.2.2 Người khổng lồ trong thần thoại các tộc người nói tiếng Thái 57
2.2.3 Hình tượng người khổng lồ trong truyện kể một số tộc người anh em….62 2.3 Ý nghĩa của biểu tượng người khổng lồ 73
2.3.1 Thể hiện khát vọng chinh phục và sống hoà đồng với tự nhiên của con người trong buổi đầu của lịch sử 73
2.3.2 Đề cao vai trò của lao động sáng tạo 76
2.3.3 Khẳng định sức mạnh của cư dân trồng lúa nước 79
CHƯƠNG 3: NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA BIỂU TƯỢNG NGƯỜI KHỔNG LỒ TRONG KHO TÀNG THẦN THOẠI MỘT SỐ TỘC NGƯỜINÓI TIẾNG THÁI Ở VIỆT NAM 85
3.1 Giá trị lịch sử của biểu tượng người khổng lồ trong thần thoại 85
3.1.1 Thần thoại - một nguồn sử liệu về lịch sử phát triển của tộc người 85
3.1.2 Phản ánh sự phát triển tư duy của tộc người 92
3.1.3 Khẳng định vai trò của con người trong quá trình tiến hoá của mình… 95
3.2 Giá trị văn hoá của biểu tượng người khổng lồ 99
3.2.1.Thông qua hình ảnh những vị thần khổng lồ phản ánh quan niệm sơ khai về vũ trụ và nhân sinh của tộc người 99
3.2.2 Biểu tượng người khổng lồ phản ánh tín ngưỡng của tộc người 105
3.2.3 Phản ánh khiếu tư duy thẩm mỹ của tộc người 108
3.2.4 Thần thoại – nơi ẩn chứa khát vọng của loài người 110
3.3 Phát huy những giá trị biểu tượng trong sự phát triển văn hoá tộc người 113
3.3.1 Biểu tượng người khổng lồ - niềm tự hào của tộc người 113
3.3.2 Đề cao vai trò sáng tạo của tộc người……… 117
3.3.3 Tạo ra sự hoà đồng giữa con người với tự nhiên 121
KẾT LUẬN ………125
THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 130
PHẦN PHỤ LỤC 138
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong nghiên cứu về văn hoá tộc người, văn học dân gian giữ vai trò là nguồn sử liệu quan trọng Bởi nó không chỉ phản ánh tư duy, nhận thức của con người thời nguyên thuỷ, mà còn là bức tranh phản chiếu xã hội của cư dân trong giai đoạn sớm nhất của lịch sử loài người, khi mà sử liệu thành văn chưa xuất hiện
Do là một bộ phận của tự nhiên và hơn thế nữa, người nguyên thuỷ sống dựa hoàn toàn vào tự nhiên với nền kinh tế chiếm đoạt giữ vai trò chủ đạo, nên tư tưởng sùng bái tự nhiên, khuất phục trước tự nhiên luôn thường trực Nhưng bên cạnh đó, lao động xuất hiện và ngày càng đóng vai trò quan trọng, đảm bảo cuộc sống ổn định cho các cộng đồng người nguyên thuỷ Chính vì vậy, ý thức về vai trò của bản thân, cụ thể ở đây là của lao động, trong thế giới tự nhiên đã được người nguyên thuỷ nhận thức rõ nét Với lòng
tự hào về khả năng lao động, người xưa đã mạnh dạn đặt khả năng lao động của con người sánh ngang với sự sáng tạo của tự nhiên
Lúc này, trong tư duy của người nguyên thuỷ, tự nhiên không còn là một lực lượng quá xa lạ đối với họ Tuy vẫn còn e sợ trước sức mạnh vô song của tự nhiên nhưng người xưa cũng phần nào gắn kết những sức mạnh ấy với sức lao động, với khả năng sáng tạo của con người Từ đó họ đi đến sự thần thánh hoá khả năng lao động của con người, coi đó là cội nguồn sáng tạo nên
tự nhiên Họ mong muốn tác động đến tự nhiên theo hướng có lợi cho cuộc sống của mình, thông qua vai trò của những vị thần khổng lồ trong thần thoại
- một loại hình văn học dân gian ra đời vào giai đoạn sớm của lịch sử nhân loại, khi con người đứng trước sự tan rã của chế ‘độ công xã nguyên thuỷ và manh nha hình thành xã hội có giai cấp
Trang 6Biểu tượng người khổng lồ và nhiều biểu tượng khác liên quan đến sức mạnh của con người đã được thần thánh hoá và sinh ra từ những quan niệm
đó Đồng thời, biểu tượng người khổng lồ cũng là ước mơ, mong muốn của con người có thể sống chan hoà với thế giới tự nhiên đầy trắc trở Chỉ có sức mạnh người khổng lồ mới mong đạt được những ước muốn đó Những biểu tượng đó đã trở thành nơi hội tụ ước mơ, hy vọng và niềm tin của con người trước các lực lượng tự nhiên hùng vĩ Vì vậy, tìm hiểu, nghiên cứu về các biểu tượng chính là tìm hiểu, nghiên cứu về những ước mơ, hy vọng đó của con người trong một thời kỳ lịch sử nhất định
Nghiên cứu về thần thoại của các dân tộc ở Việt Nam cũng như trên Thế giới là một đề tài khá phổ biến, đặc biệt trong văn học và văn hoá Tuy nhiên, dưới góc độ Nhân học, nghiên cứu về một biểu tượng phổ biến trong thần thoại, biểu trưng cho sức mạnh sáng tạo và khả năng lao động của người xưa như biểu tượng người khổng lồ lại là một đề tài mới mẻ Tuy vấn đề này cũng đã được đề cập một các khái quát ở đâu đó nhưng để thành một nghiên cứu cụ thể thì hầu như chưa được đề cập tới
Chọn nghiên cứu về Biểu tượng người khổng lồ trong thần thoại một số
cư dân nói tiếng Thái ở Việt Nam, chúng tôi mong muốn được gợi ra một
hướng nghiên cứu mới trong Nhân học - một khoa học mới mẻ ở nước ta trước một đối tượng nghiên cứu vô cùng phong phú của các tộc người
Vì đây là một loại đề tài mới, một hướng tiếp cận mới trong Nhân học, chúng tôi chưa thể tránh khỏi nhiều điều bỡ ngỡ về cả mặt lý thuyết lẫn thực tiễn của loại đề tài này Chân thành mong muốn nhận được sự chỉ bảo, góp ý của các thầy cô và bạn bè đồng nghiệp
Trân trọng cảm ơn!
Trang 72 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Biểu tượng là những thành tố văn hoá có từ thời nguyên thuỷ Có thể
nói “loài người sống trong một thế giới biểu tượng, một thế giới biểu tượng
hệ thống các biểu tượng đó Đặc biệt, khi những biểu tượng đó gắn với thế giới tôn giáo tín ngưỡng thì chúng trở nên vô cùng phong phú, phức tạp và trở thành những sức mạnh to lớn đối với đời sống tinh thần của con người
Tuy nhiên, sự ước lệ và ý nghĩa các biểu tượng được thể hiện và hiểu một cách rất khác nhau ở các dân tộc, các châu lục cũng như ở phương Đông
và phương Tây
Nghiên cứu biểu tượng như là một khoa học được sinh ra từ thập kỷ 60 – 70 của thế kỷ XX Đây là sự ra đời từ một phân ngành Nhân học qua một quá trình tiếp thu có chọn lọc các lý thuyết Nhân học Thế giới, như Nhân học
xã hội của E.Durkheim, T.Parsons; Nhân học văn hoá của F.Boas, Mead…và đặc biệt Cấu trúc luận của Leví Strauss Họ nghiên cứu Biểu tượng trong sự gắn kết chặt chẽ với sự phát triển tư duy, nhận thức xã hội và thế giới quan, là nghiên cứu nền tảng tinh thần của các dân tộc Mỗi lý thuyết đều có cách tiếp cận riêng, nhưng đều có xu hướng coi biểu tượng là những yếu tố văn hoá gắn liền với thần thoại, các truyền thuyết tôn giáo và các nghi lễ truyền thống
Một số tác phẩm tiêu biểu nghiên cứu về Biểu tượng trên Thế giới và Việt Nam như sau:
Trang 8sumbolum cũng là gốc của các từ symbole (tiếng Pháp), symbol (tiếng Anh) hay symbol (tiếng Đức) Đây là đối tượng được nhiều ngành khoa học quan
tâm theo cách riêng của mình Như vậy, có thể nói, nghĩa đầu tiên của biểu
tượng được xác định bằng chính lý do ra đời của nó: “biểu tượng là dấu hiệu
Với tư cách là đối tượng nghiên cứu của Triết học, phải kể đến tác
phẩm “Triết học các hình thái biểu tượng” [4] của nhà triết học Đức Ernst
Cassirer Trong mỹ học, tác phẩm “Mỹ học” [30] của Heghen được coi là tiêu biểu, trong đó biểu tượng được coi là một trong những thành tố quan trọng tạo nên những giá trị thẩm mỹ của các xã hội tiền giai cấp
Biểu tượng còn được tập hợp lại để xây dựng thành từ điển, tiêu biểu là công
trình “Từ điển biểu tượng văn hoá Thế giới” [5] của hai tác giả Jean Chevalier và Alain Gheerbrant đã nêu những nét khái quát về thuật ngữ “biểu tượng”, cũng như nguyên nhân ra đời, nội dung và những đặc trưng của biểu tượng
Cùng với đó còn có tác phẩm “Dấu hiệu, biểu trưng và thần thoại” của
Lue Benoist[1] như một bản tóm tắt về những vấn đề của biểu tượng và bước đầu có sự phân biệt giữa khái niệm “biểu tượng” với những khái niệm khác như khái niệm “biểu trưng”, “dấu hiệu”…
Gần gũi hơn với nội dung luận văn của chúng tôi phải kể đến một số công trình nghiên cứu biểu tượng theo phương pháp tiếp cận của các ngành
dân tộc học, nhân học văn hoá, xã hội học, tiêu biểu là cuốn sách “Kinh nghiệm thần bí và biểu tượng ở người nguyên thuỷ” của nhà triết học, xã hội
học người Pháp Lucien Lévy – Bruhl [52]. Cuốn sách đã tập hợp được một khối lượng tư liệu dân tộc học phong phú liên quan đến biểu tượng Tác giả
đã tập trung phân tích nguồn gốc của biểu tượng, gắn với những đặc điểm tư duy của người nguyên thuỷ mà tác giả gọi là “tư duy tiền logic”
Trang 9Tìm hiểu cội nguồn của biểu tượng, gắn với tín ngưỡng và tư duy nguyên
thuỷ còn phải đề cập đến một số tác phẩm như: “Các hình thái tôn giáo sơ khai
và sự phát triển của chúng” của X.A.Tocarev [80] và “Văn hoá nguyên thuỷ”
của E.B.Taylor [71]. Tuy các tài liệu này không trực tiếp nghiên cứu về biểu tượng, nhưng chúng cũng là những tài liệu tham khảo quý cho luận văn
2.2 Trong nước
Vấn đề nghiên cứu và giải mã biểu tượng ở nước ta còn nhiều hạn chế Nghiên cứu biểu tượng thường được lồng trong các công trình nghiên cứu văn hoá dân gian, nhất là về lễ hội, trong mỹ thuật cổ, về tín ngưỡng và tâm thức dân gian
Dưới góc độ tiếp cận về lý thuyết, có công trình nghiên cứu của Đoàn
Văn Chúc (“Văn hoá học” [8]), Phạm Đức Dương (“Từ văn hoá đến văn hoá học” [12]) và Bùi Quang Thắng (“30 thuật ngữ nghiên cứu văn hoá” [73]) đã bắt đầu có sự tiếp cận trực tiếp với khái niệm “biểu tượng” Trong công trình của mình, các tác giả đã dành hẳn ra những chương mục cụ thể trình bày nghiên cứu khái quát về “biểu tượng”, trong đó chủ yếu tập trung giải thích một cách hệ thống về mặt thuật ngữ cũng như nguồn gốc, những đặc trưng cơ bản của biểu tượng Luận án của chúng tôi cũng đã kế thừa những kết quả nghiên cứu trong 3 công trình trên
Về vấn đề xác định lý thuyết biểu tượng, phải kể đến luận án tiến sỹ của Nguyễn Văn Hậu [27] và Bùi Thị Thanh Mai [57] Hai luận án trên bên cạnh việc đưa ra những nét khái quát nhất trong lý thuyết về biểu tượng còn
áp dụng vào thực tiễn nhằm giải mã một hiện tượng biểu tượng cụ thể Trong
đó, cơ bản nhất là luận án của Nguyễn Văn Hậu Dưới góc độ triết học và văn hoá học, tác giả đã đưa ra những kiến giải khá đầy đủ về lý thuyết biểu tượng Điều này rất có ích cho nghiên cứu của chúng tôi do đặc thù đối tượng nghiên cứu khá gần nhau Do vậy, trong luận văn này, chúng tôi cũng đã trích dẫn một số quan điểm cũng như kết quả nghiên cứu của tác giả
Trang 10Nếu như các công trình trên chủ yếu tập trung giải thích biểu tượng ở mặt lý thuyết thì những tác phẩm sau lại nhằm “giải mã” những biểu tượng cụ
thể Như công trình “Nguồn gốc và sự phát triển của biểu tượng, kiến trúc và
rõ khung lý thuyết của biểu tượng mà còn áp dụng nó vào một đối tượng cụ thể Tuy khía cạnh tiếp cận cũng như phương pháp giải mã biểu tượng có khác nhau nhưng đây được coi là những công trình đầu tiên nghiên cứu toàn diện về một “biểu tượng” cụ thể trong văn hoá cũng như trong kiến trúc truyền thống của Việt Nam
Ngoài ra, trên các tạp chí chuyên ngành cũng xuất hiện nhiều bài viết
về biểu tượng như của tác giả Phan Đăng Nhật [59], Nguyễn Khắc Xương [108], Tạ Đức [18], Nguyễn Văn Hậu [26], Mai Văn Hai [24], Trang Thanh Hiền [28], Nguyễn Ngọc Mai [58], Vũ Trường Giang [21], Bùi Thị Hoa [31], Bùi Xuân Tiệp [79], Nguyễn Kim Hoa [32], Huỳnh Ngọc Trảng [81],Hoàng Lương[55]…Các tác giả đã tập trung nghiên cứu những biểu tượng cụ thể trong văn hoá các tộc người nhằm bước đầu giải mã chúng Tuy chưa phải là những chuyên luận sâu, tiếp cận đầy đủ những khía cạnh của biểu tượng nhưng những bài báo trên cũng góp phần làm rõ hơn những lý thuyết về nghiên cứu biểu tượng đối với những đối tượng cụ thể trong văn hoá tộc người
Không tập trung nghiên cứu về một loại hình biểu tượng cụ thể hay nhằm đưa ra những nét khái quát về thuật ngữ này, nhưng đâu đó trong các công trình nghiên cứu văn hoá cũng đã phần nào đề cập đến vấn đề này Chủ yếu các tác giả tập trung giải mã những biểu tượng quen thuộc trong văn hoá
truyền thống Việt Nam, như tác phẩm “Thần, người và đất Việt” của Tạ Chí
Đại Trường [87], “Về nguồn văn hoá cổ truyền Việt Nam” của Đông Phong
[66], “Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam” của Trần Ngọc Thêm [76], “Văn hoá
Trang 11Việt Nam đa tộc người” của GS.Đặng Nghiêm Vạn [101], “Văn hoá Việt Nam
đưa ra giải mã là hình ảnh “con rồng cháu tiên” thể hiện sự thống nhất trong
lịch sử cũng như văn hoá của dân tộc Bên cạnh đó là những biểu tượng liên quan đến các thành tố cơ bản của văn hoá như ăn, mặc, ở, đi lại…mang tính phổ biến của các tộc người
Bên cạnh những tài liệu mang tính chất tham khảo, định hướng về lý thuyết, còn có những công trình phục vụ trực tiếp cho luận văn Do đối tượng khảo cứu của luận văn là thần thoại các tộc người về một đề tài cụ thể nên trong những nghiên cứu về văn học dân gian cũng đã phần nào đề cập đến Đó
là công trình của GS.Nguyễn Đổng Chi [6], GS.Đinh Gia Khánh [44], tác giả Phúc Khánh [45], tác giả Ngô Văn Lệ [53], tác giả Hoàng Lương [54], tác giả
Lê Ngọc Thắng [74], các công trình về cư dân Tày – Thái của nhà Thái học Cầm Trọng [82] [83] [84] [85] [86], các công trình của GS Đặng Nghiêm Vạn [90] [91] [92] [93] [94] [95] [96]… Trong các công trình này đã đề cập đến vai trò cũng như ý nghĩa của biểu tượng người khổng lồ trong thần thoại của các tộc người như là một đề tài phổ biến trong thần thoại giai đoạn đầu, khi con người vừa thoát thai khỏi động vật
Tuy nhiên, những nhận định này còn tản mát, không được cấu thành những chương mục cụ thể Trong luận văn này, trên cơ sở kế thừa những nhận định của các tác giả kể trên, chúng tôi cố gắng tập trung, khái quát hoá nhằm bước đầu tiếp cận và giải mã biểu tượng người khổng lồ một cách có hệ thống trên cơ sở đối chiếu, so sánh với thần thoại của các tộc người khác về một đề tài chung Do vậy mà những tài liệu về văn học cổ các tộc người là nguồn khảo cứu chính để chúng tôi thực hiện đề tài này
Trang 12Với ý nghĩa là một nguồn tài liệu quan trọng về xã hội con người thời
sơ sử, thần thoại các tộc người nói tiếng Thái nói riêng và các tộc người khác nói chung luôn là bức tranh phản ánh trung thực về thực tế đời sống con người Trong đó hình ảnh những người khổng lồ - những vị anh hùng thời kỳ dựng nước đã trở thành hình ảnh đại diện cho sức mạnh, trí tuệ của cả cộng đồng Thông qua hình ảnh những vị thần “đầu đội trời, chân đạp đất, san núi, bạt sông”, con người thể hiện ước vọng chinh phục tự nhiên bằng chính sức lao động và tinh thần cố kết cộng đồng trong buổi đầu lịch sử Thần thoại không chỉ là hiện thực xã hội con người thời sơ sử, mà nó còn khẳng định sức mạnh của con người trước tự nhiên Con người không chỉ còn là khách thể thụ động trước những tác động của tự nhiên mà họ đã chủ động tác động trở lại đối với thiên nhiên, buộc thiên nhiên phải phục vụ cho lợi ích của mình Biểu tượng người khổng lồ trong thần thoại các tộc người cũng chính là để chuyển tải những khát vọng đó
3 Mục đích nghiên cứu
Trong nghiên cứu Dân tộc học – Nhân học ở Việt Nam và trên thế giới hiện nay chưa có được một lý thuyết chung về nghiên cứu biểu tượng Các tác giả, tuỳ thuộc theo nội dung cũng như đối tượng nghiên cứu cụ thể mà đưa ra những lý thuyết nghiên cứu riêng của mình
Với đề tài “Biểu tượng người khổng lồ trong thần thoại một số cư dân nói tiếng Thái ở Việt Nam”, mục đích của luận văn là:
Thứ nhất: sưu tầm và hệ thống kho tàng thần thoại của một số dân tộc
nói tiếng Thái về biểu tượng người khổng lồ
Thứ hai: Giới thiệu khái quát về hệ thống các khái niệm biểu tượng ở
Việt Nam và trên thế giới Qua đó trình bày những biểu tượng về người khổng
lồ trong thần thoại một số dân tộc nói tiếng Thái ở Việt Nam trong bối cảnh chung về biểu tượng người khổng lồ trên thế giới
Trang 13Thứ ba: Tìm những ý nghĩa và giá trị của biểu tượng người khổng lồ
trong đời sống một số dân tộc nói tiếng Thái nhằm nêu lên những đặc trưng văn hoá của tộc người
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Để triển khai luận án, chúng tôi cũng dựa trên quan điểm coi biểu tượng như là một phương tiện để tiếp cận con người trong buổi đầu của lịch
sử Thông qua một biểu tượng cụ thể là người khổng lồ để tìm hiểu về tâm tư,
nguyện vọng, ước mơ của con người trong giai đoạn đầu, khi họ mới thoát
thai khỏi thế giới động vật Có thể coi biểu tượng người khổng lồ là sáng tạo văn hóa đầu tiên của con người nhằm thể hiện khát vọng chinh phục tự nhiên cũng như đề cao khả năng lao động, sáng tạo, cải biến thế giới của con người thời tiền sử Với hình ảnh những vị thần khổng lồ - nhân vật trung tâm trong
lớp thần thoại đầu tiên của lịch sử loài người - một lần nữa vai trò quyết định của lao động đối với tiến trình phát triển lịch sử của nhân loại nói chung được khẳng định Qua đó nhằm khẳng định vai trò chủ thể của loài người trong vũ trụ mênh mông này
- Đối tượng nghiên cứu: do không có điều kiện đi điền dã thực tế, luận văn
chủ yếu khai thác thần thoại của các tộc người thông qua các công trình sưu tầm, biên soạn, nghiên cứu văn học dân gian sẵn có Tuy nguồn sử liệu được
sử dụng là nguồn sử liệu gián tiếp, nhưng trong quá trình tiếp cận, tác giả cũng có sự so sánh, đối chiếu giữa các dị bản với nhau để có được thông tin chính xác nhất trong điều kiện có thể
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn không chỉ dừng lại nghiên cứu về thần thoại
của các dân tộc nói tiếng Thái, mà còn mở rộng, so sánh, đối chiếu với thần thoại về người khổng lồ của một số dân tộc khác trong nước và thần thoại các nước khác trên thế giới thông qua các công trình sưu tầm, biên soạn về văn học dân gian của các dân tộc ở Việt Nam cũng như trên thế giới
Trang 145 Phương pháp nghiên cứu
Do chưa có nhiều kinh nghiệm trước một đề tài mới mẻ, nên để giải quyết những yêu cầu của luận văn, chúng tôi sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Tổng hợp và khái quát về lý thuyết biểu tượng của một số tác giả nước ngoài
và Việt Nam Từ đó áp dụng vào giải quyết những vấn đề cụ thể của luận văn
là “Biểu tượng người khổng lồ trong thần thoại một số cư dân nói tiếng Thái
ở Việt Nam”
- Thu thập và tổng hợp về biểu tượng người khổng lồ trong một số cư dân nói tiếng Thái và các tộc người khác ở Việt Nam cũng như trên thế giới thông qua những công trình sưu tầm, biên soạn về văn học dân gian sẵn có
- Do đặc thù của đối tượng nghiên cứu, những tài liệu thu thập được chủ yếu
là những tư liệu gián tiếp nên phải có sự phê phán khách quan, phân tích định tính, đối chiếu, so sánh giữa các dị bản trong khi sử dụng
- Phương pháp đối chiếu, so sánh với biểu tượng người khổng lồ ở các tộc người khác (cả trong nước và thế giới) cũng sẽ được sử dụng một các tích cực
6 Đóng góp của luận văn
- Khai thác một đối tượng nghiên cứu mới dưới góc độ Nhân học của cư dân nói tiếng Thái cũng như loài người về tiến trình phát triển ở thời kỳ sơ sử của nhân loại
- Coi biểu tượng như là một “phương tiện tiếp cận đối với con người trong xã hội nguyên thuỷ” Từ đó có cái nhìn sâu sắc hơn về tiến trình lịch sử của các
tộc người
- Gợi ra một cách tiếp cận mới nhằm giải mã những biểu tượng nói chung, về người khổng lồ nói riêng trong nghiên cứu Dân tộc học và Nhân học ở nước ta
Trang 157 Bố cục của luận văn
Luận văn gồm 138 trang, ngoài phần dẫn luận (11 trang), phần kết luận (5 trang) và phần mục lục và tài liệu tham khảo (11 trang), phần nội dung của luận văn gồm 3 chương sau:
- Chương 1: Khái niệm về biểu tượng (32 trang, từ trang 14 đến trang 45)
- Chương 2: Biểu tượng người khổng lồ trong kho tàng thần thoại một số cư
dân nói tiếng Thái ở Việt Nam (39 trang, từ trang 46 đến trang 85)
- Chương 3: Những giá trị của biểu tượng người khổng lồ trong kho tàng thần
thoại một số tộc người nói tiếng Thái ở Việt Nam (40 trang từ trang 86 đến trang 125)
Ngoài ra, luận văn còn có phần phụ lục bao gồm những câu chuyện thần thoại có nhân vật chính là những vị thần khổng lồ trong buổi khai thiên lập địa cùng những dị bản mà chúng tôi sưu tầm được và là đối tượng khảo sát chính của luận văn
Trang 16CHƯƠNG 1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ BIỂU TƯỢNG 1.1 Định nghĩa và nguồn gốc của biểu tượng
1.1.1 Khái niệm “biểu tượng”
Biểu tượng là một loại “ký hiệu” cổ xưa, ra đời trong buổi bình minh của lịch sử nhân loại Biểu tượng được xem như là “vật thay thế” của tư duy trong tiến trình phát triển nhận thức của con người Hơn nữa, biểu tượng còn
là con đẻ của sự liên tưởng và sự tưởng tượng, nó giúp cho người ta khám phá
và nhận thức ra một thế giới đầy ý nghĩa, phong phú và đa dạng, nhằm truyền đạt những thông tin và khơi dậy những cảm xúc thường có trong “đời sống tâm lý” của con người
Ngày nay, vai trò của biểu tượng trong hoạt động xã hội của con người
đã được quan tâm và nghiên cứu một cách sâu sắc với tinh thần khoa học Trí tưởng tượng không còn bị xem nhẹ như trước đây mà nó đã được xác định lại
vị trí và được coi là “mặt thứ hai của lý trí” Không những vậy, biểu tượng còn
là nguồn cảm hứng cho các tìm tòi khám phá Điều đó đã được khẳng định là
do phần lớn những hư cấu viễn tưởng có giá trị tiên báo mà khoa học đã từng bước xác minh Chính vì vậy, hiện nay biểu tượng đang ngày được quan tâm Vấn đề “giải mã” biểu tượng đang được nhiều ngành hướng tới như tâm lý học,
xã hội học, triết học, văn hoá học, Dân tộc học, Nhân học văn hoá…
Vậy, “biểu tượng” (symbol) là gì?
Thuật ngữ “Biểu tượng” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp: “Sumbolum” là dấu hiệu, có nghĩa tương ứng với các từ: ký hiệu (sign), hoặc tín hiệu (signal)
Cũng có thuyết cho rằng, chữ Symbol bắt nguồn từ động từ Hy Lạp
“Symballo” có nghĩa là: “ném vào vị trí”, “liên kết”, “suy nghĩ về”, “thoả thuận”, “ước hẹn”…
Trang 17Từ điển Petit Larousse định nghĩa: “Biểu tượng là một dấu hiệu hình ảnh, con vật sống động hay đồ vật biểu hiện một điều trừu tượng, nó là hình
“biểu” có nghĩa là “dấu hiệu”, “tỏ rõ”, “bày ra”… để người ta nhận biết về một điều gì đó; “tượng” có nghĩa là “hình trạng”, “hình tượng”…Do vậy, biểu tượng là một hình tượng nào đó được phô bày ra tạo thành một dấu hiệu tượng trưng, nhằm diễn đạt một ý nghĩa nào đó mang tính trừu tượng
Để cụ thể hoá một ý niệm trừu tượng nào đó, con người đã chọn một hình ảnh, một tên gọi để diễn đạt một điều vô hình, vô hạn, bất khả tri Như vậy, biểu tượng là tín hiệu hai mặt, cái biểu thị là dạng thức tồn tại hình tượng hoá hay tên gọi và cái được biểu thị là những giá trị của ý niệm ẩn dấu bên trong nó
Con người sống đồng thời với ba thế giới : thế giới thực tại - tồn tại khách quan, là cái có trước và độc lập với nhận thức của con người ; thế giới
ý niệm – là hình ảnh về thế giới thực tại được con người cảm nhận bằng khả năng tri giác của bản thân ; và thế giới biểu tượng - tức là hình ảnh về thế giới hiện thực được con người cảm nhận qua thế giới ý niệm Qua thế giới biểu tượng, con người có thể tư duy và thông báo cho nhau bức tranh về thế giới ý niệm nằm trong đầu anh ta Do vậy, biểu tượng là vật thay thế, là cầu nối giữa thế giới ý niệm và thế giới thực tại bằng cách đưa cái vô hình, vô hạn, vô khả tri vào cái hữu hình, hữu hạn, khả tri, làm cho con người có thể cảm nhận được cái thế giới ý niệm trong mỗi cá nhân Thế giới ý niệm giúp cho con người ngày càng xích lại gần nhau hơn
1.1.2 Nguồn gốc của biểu tượng
Theo quan điểm mác - xít thì “ngôn ngữ là hiện thực của ý thức”
(K.Marx) Chính lao động và ngôn ngữ đã góp phần biến đổi người vượn trở thành người Nhờ vào hoạt động trí tuệ mà sức mạnh của tập đoàn người và sức mạnh của mỗi cá nhân sống trong tập đoàn đó được nâng lên gấp bội
Trang 18Trong buổi bình minh của lịch sử đó, những cuộc cách mạng về trí năng, về
sự sáng tạo ra các công cụ sản xuất cũng lần lượt xuất hiện cùng với sự ra đời của ngôn ngữ Điều đó đã thúc đẩy nhanh chóng quá trình sống kiểu quần thể bầy bàn - vượn người lên đời sống xã hội của loài người Con người đã vượt lên bản chất động vật của chính mình để trở thành “con người xã hội”
Nhờ có hoạt động ngôn ngữ, loài người có thể giao tiếp với nhau và truyền thông cho nhau những kinh nghiệm đã được đúc kết trong lao động, trong chiến đấu cũng như trong hoạt động trí tuệ Trong xã hội nguyên thuỷ, chính nhờ vào hoạt động trí tuệ này mà sức mạnh của nhóm, của cộng đồng
và từng cá nhân sống trong cộng đồng đó ngày càng tăng lên gấp bội Đó là
cơ sở đảm bảo cho sự thắng lợi của con người trong đấu tranh sinh tồn và trong lao động chinh phục tự nhiên
Tuy nhiên, ở thưở bình minh lịch sử ấy, trước khi có chữ viết ra đời, hoạt động lời nói của con người còn bị hạn chế và bị bó hẹp trong không gian và thời gian hữu hạn Do vậy, ngoài lời nói ra, họ còn dùng những phương tiện ngoài ngôn ngữ, đó là những “ngôn ngữ không lời” bao gồm: hình vẽ, tranh khắc, điệu
bộ, cử chỉ, dấu hiệu và các ký hiệu đơn giản hoặc phức tạp khác
Ngay từ thời nguyên thuỷ, khi mà tiếng nói còn rất nghèo nàn thì điệu
bộ, cử chỉ, nét mặt của con người đã có vai trò rất lớn trong quá trình giao tiếp giữa con người với nhau, nhất là trong hoàn cảnh khi mà tiếng nói chưa định hình đầy đủ và ở trong điều kiện có sự khác biệt về ngôn ngữ Chúng là những dạng thức nguyên mẫu được sao chép từ trong cuộc sống thực tế, đã được “cách điệu hoá” cao, gần như là những “ký hiệu nghệ thuật”, để sử dụng trong mọi sinh hoạt của người nguyên thuỷ với mục đích tạo ra những “tín hiệu thông tin” trong hoạt động giao tiếp của họ
Có thể đọc ra một số “danh từ” của thứ “ngôn ngữ đặc biệt” nằm trong trang từ điển những “ký hiệu hình ảnh” của người tiền sử:
Trang 19-“Cái cung”: một tay ra hiệu cầm cái cung vô hình, tay kia ra hiệu cầm
dây cung bằng sự tưởng tượng
- “Túp lều”: giơ hai tay chắp chéo, hình dung ra mái nhà nhọn hình chữ A
- “Chó sói”: một bàn tay giơ hai ngón ra biểu thị hai cái tai của con sói
- “Cá”: bàn ta để dứng theo chiều dọc, quẫy đi quẫy lại
- “Mây đen”: hai nắm tay để trên đầu, mô tả mây đang treo lơ lửng trên đầu
- “Tuyết”: hai nắm tay giơ cao trên đầu, rồi từ từ mở ra và hạ xuống
theo đường ngoằn ngoèo như bông tuyết rơi
- “Ngôi sao”: hai ngón tay, khi thì chụm lại, khi thì xoè ra lơ lửng ở
trên đầu biểu thị ngôi sao lấp lánh. [27, tr29]
Như vậy mỗi “tiếng” chính là một hình ảnh vẽ bằng tay trên không khí Cũng như những chữ viết cổ xưa là những hình vẽ (chữ tượng hình Trung Quốc và Ai Cập), thì có lẽ, những điệu bộ nguyên thuỷ cũng chính là một thứ ngôn ngữ mang tính “tượng trưng” đầu tiên của loài người – loại hình “ngôn ngữ điệu bộ”
Những điệu bộ tự nhiên đó đều là những “ký hiệu”, hoạt động theo những quy ước đã định sẵn mà ý nghĩa của nó có thể thay đổi tuỳ theo từng cộng đồng người Thứ “ngôn ngữ câm” đó vẫn tồn tại theo thời gian và đời sống của con người Bởi lẽ, trong từng hoạt động nhất định của đời sống con người (như trong ứng xử, giao tiếp, trong trao đổi và dự báo thông tin, hoặc trong các lễ thức tín ngưỡng…), ký hiệu đã đem lại hiệu quả đáng kể và có những điều thuận lợi Đôi khi chỉ cần một vài động tác cũng có thể thông báo một tin tức quan trọng
Ngoài ngôn ngữ điệu bộ và lời nói là ngôn ngữ chủ yếu giúp cho người nguyên thuỷ nhận thức và giao tiếp, họ còn dùng những “vật thay thế” để đưa tin từ nơi này đến nơi khác Đó là các “thẻ truyền tin” bằng gỗ, trên có những
Trang 20nét khắc vạch tạo thành “mã ký hiệu” để người đưa tin sẽ dựa vào đấy mà truyền đạt thông tin Đây là một hình thức “ký hiệu” của người nguyên thuỷ
Việc thông tin trực tiếp tại chỗ như muốn thông báo: chỗ này là khu vực nguy hiểm, chỗ kia là nơi có thú dữ, chỗ khác là bãi săn thú tốt, có thể săn bắn được Thay vì phải thông báo chỉ dẫn trực tiếp thì họ dùng vật thực để làm “vật thay thế” cho ngôn từ, như: hình ảnh một chiếc đầu lâu treo trên bìa rừng, xác một con rắn đặt trên tảng đá ven đường hoặc một cái sừng hươu gác bên bờ suối nào đó sẽ có giá trị như là một “ký hiệu” khuyến cáo, nhắc nhở mọi người trong cộng đồng biết được nơi nào có nhiều thú dữ, rắn độc nên tránh xa, hoặc nơi kia có nhiều hươu nai, là bãi săn lý tưởng…
Theo nhận định của Giáo sư Đặng Đức Siêu, thì “điều này vốn bắt nguồn từ tính cụ thể trong lối tư duy của người cổ xưa mà chứng tích còn tìm thấy trong hoạt động ngôn ngữ của họ” [27, tr31]
Theo các tư liệu Khảo cổ học và Dân tộc học, hình vẽ và dấu hiệu – ngôn ngữ không lời, cũng đã xuất hiện ngay trong thời tiền sử, ở giai đoạn hậu kỳ đồ đá cũ (40.000 đến 9000 năm TCN) với những tranh khắc vẽ trên vách động Phần lớn các nhà nghiên cứu cho đó là “ký hiệu ma thuật săn thú”, nhưng dù sao cũng có thể gọi những người sáng tạo ra các bức bích hoạ đó là những “nghệ sỹ”, không chỉ vì họ biết minh hoạ những con vật trong tự nhiên,
mà vì sự tinh tế và hoàn mỹ đến mức kinh ngạc của những “tác phẩm” của họ
Bên cạnh những bức hoạ có mục đích thông báo tin tức và mang tính chất lễ thức “ma thuật”, còn có sự xuất hiện trên các vách hang động, trên đá, mảnh xương…nhiều nét vạch rất lạ lùng, bí ẩn Những nét khắc vạch đó có lẽ không phải là ngẫu nhiên bởi chúng được thể hiện khá tỉ mỉ và được lặp lại với độ chính xác cao trong số hàng trăm hình ảnh khác nhau, theo phong cách ước lệ hay trừu tượng mang “tính biểu tượng”
Trang 21Như vậy là, tất cả những điệu bộ, cử chỉ, nét mặt, vật thực, hình vẽ, vật tượng trưng và ngôn ngữ nói, nếu nhìn dưới góc độ “thông tin” thì chúng đều
là những “ký hiệu” ra đời từ rất xa xưa, cùng với sự hình thành nên “ý thức” của loài người Các hệ thống “ký hiệu” đó đã tồn tại và phát triển ngày càng phức tạp và hoàn thiện hơn cùng với quá trình phát triển về mặt nhận thức của người nguyên thuỷ
Tuy nhiên, với cách nhìn và đánh giá theo khoa học hiện đại, người ta thường cho rằng lối tư duy của người nguyên thuỷ là lối “tư duy huyền thoại” theo kiểu tư duy liên tưởng trong thế giới tưởng tượng, hết sức mơ hồ, mang tính võ đoán và khó giải thích Đó là vấn đề cần đặt ra một cách nghiêm túc trong nghiên cứu về loại hình “ký hiệu”, cũng như tìm hiểu về “quá trình tâm lý” của người tiền sử trên bước đường nhận thức và sáng tạo của họ để tạo ra các hệ thống “biểu tượng sơ khai” (tiền biểu tượng - biểu tượng cấp I)
Quan niệm của người nguyên thuỷ cho rằng, con người sinh ra trên đời không những phải săn bắn, kiếm sống cho no đủ, mà họ còn phải dõi theo thế giới chung quanh và chịu chi phối bởi thế giới đó với vô vàn những biến động, trắc trở Con người cổ đại luôn đặt ra những câu hỏi và mong muốn có thể giải đáp được những gì thuộc về bản chất của sự tồn tại hay huỷ diệt của chính bản thân mình và của đồng loại
Trên con đường vươn tới sự nhận thức về thế giới khách quan, do tư duy còn non kém, họ luôn cho rằng tự nhiên chính là một thế lực bí hiểm, huyền bí, thường xuyên tác động trực tiếp và quyết định số phận của họ Nỗi
lo âu, sợ hãi và niềm khát vọng mong chờ vẫn là những điều khắc khoải trong đời sống tâm lý người nguyên thuỷ, một khi con người còn chưa tách ra khỏi thế giới tự nhiên một cách đầy đủ, cái tự nhiên mà chính bản thân họ - một sinh vật, vừa bước vào thế giới của con người
Trang 22Trong thời đại ngày nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học hiện đại, con người hiện nay không còn bối rối trước những hiện tượng tự nhiên mà người nguyên thuỷ trước đây hay lo âu, sợ hãi và tốn nhiều tâm sức
để giải thích Những câu hỏi thường trực như: tại sao mặt trời mọc lại lặn, tại sao có hiện tượng ngày đêm, tại sao có thuỷ triều, tại sao lại có gió, có mưa,
có bão…? Tất cả những điều đó đã được khoa học hiện đại giải thích cặn kẽ, đúng với quy luật tự nhiên và trở thành quen thuộc đối với chúng ta Nhưng đối với người nguyên thuỷ thì hoàn toàn ngược lại Họ tin vào sự tồn tại của cái “siêu tự nhiên” theo lối “tư duy nguyên thuỷ” (huyền thoại) bằng những lý
lẽ riêng của họ Người nguyên thuỷ đã hình dung như sau:
Theo thần thoại Hy Lạp, “vũ trụ được sinh ra từ một vực thẳm bao la, trống rỗng và không hình thù, một vùng hỗn độn miên man và tối tăm Đó là cõi Hỗn mang (Chaos), nguồn gốc của vạn vật Từ nơi này sinh ra tất cả mọi dạng thể của vũ trụ cổ đại: thần linh, quái vật, mặt đất và con người” [88, tr 18].
Những giải thích theo lối “tư duy nguyên thuỷ” ấy cho dù hỗn độn và bất thuần lý đến đâu đi chăng nữa, cũng biểu hiện kiểu nắm bắt thế giới của người nguyên thuỷ bằng lối tư duy thuần phác, chân thật và nguyên sơ theo dạng thức sơ khai của loại hình “biểu tượng sơ khai”
Qua nhận định trên, ta có thể nhận ra sự khác nhau giữa hai hình thức
tư duy Nếu như hình thức “tư duy khoa học” mang tính nhân quả, tính kinh nghiệm, chủ yếu tạo nên mối liên hệ đơn nghĩa giữa một số “nguyên nhân” với một số “kết quả”, thì “tư duy nguyên thuỷ” lại có sự lựa chọn hoàn toàn tự
do về nguyên nhân Với cách tư duy này, mọi cái có thể sinh thành từ tất cả, đồng thời cũng có thể có những liên hệ với tất cả, trong mọi chiều không gian
và thời gian Như vậy, nếu như tư duy khoa học chú trọng đến các “quy tắc” một cách logic, thì tư duy nguyên thuỷ chỉ đề cập đến sự biến hình đơn giản,
Trang 23mang tính đột biến, ngẫu nhiên của một sự vật cụ thể, cá biệt để trở thành một
sự vật khác mà không theo một quy tắc nào cả
Nhà dân tộc học người Pháp Lucien Lévy Bruhl trong tác phẩm “Kinh nghiệm thần bí và các biểu tượng ở người nguyên thuỷ” cũng cho rằng, thực
tiễn mà người nguyên thuỷ sống và hoạt động có hai mặt Một mặt bao gồm những sự vật hiện tượng có trong thế giới hiện thực có thể trông thấy, nắm bắt
và nhận thức được (thế giới hữu hình) Còn một mặt khác lại không nhìn thấy
và nắm bắt được Họ quan tâm nhiều ở mặt thứ hai, bởi mặt này luôn bí ẩn, khó hiểu và khó có thể tiên đoán được các thế lực “siêu nhiên” đó sẽ làm gì, vì nó thường hay xuất hiện bất thần Hai thực tiễn này không tạo thành hai lĩnh vực riêng lẻ, tách rời nhau, mà chúng trộn lẫn vào nhau trong tâm thức của họ
Theo tác giả, cái thực tiễn không trông thấy là do các “kinh nghiệm thần bí” đã mang lại cho người nguyên thuỷ Thực chất, đó là sự phát hiện luôn mang yếu tố tâm lý, nó mang tính chất “thần khải” của lối tư duy “huyền thoại”
mà không phải bằng tri thức logic Đó là tình cảm trực tiếp bằng sự cảm nhận
về một thế giới vô hình đầy bí ẩn mà theo họ thì không thể phủ nhận được
Đối với “tư duy nguyên thuỷ”, không hề có sự xác lập mối “liên hệ nhân quả” mà chỉ bằng sự cảm nhận mang yếu tố “huyền thoại” Người nguyên thuỷ luôn đứng về thế giới vô hình để tìm cách nắm bắt và khám phá
nó Đứng trước cái thực tiễn vừa được phát hiện như là một “tồn tại” lại vừa như là một “ẩn dấu” của cái “thế giới bí ẩn” đã khơi gợi trí tò mò trong đầu óc người nguyên thuỷ, khiến họ phải tìm cách nắm bắt, giải thích nó Đó là một trong các lý do dẫn đến sự ra đời và tồn tại của những “biểu tượng sơ khai”
Lévy – Bruhl có một câu hỏi với cách tư duy nguyên thuỷ như sau:
“Người dân đảo Igorote (ở các hòn đảo Philippine) nói rằng, mọi cá nhân đều có cuộc sống vô hình cũng như một cuộc sống hữu hình Như vậy,
Trang 24liệu có nên nói rằng, con vật hay cái cây hữu hình là biểu tượng của con vật
và cái cây vô hình?”. [52,tr215]
Ông tự trả lời: không thể Bởi theo tư duy của người Igorote, hai sinh linh “vô hình” và “hữu hình” đó chỉ là một Tính hai mặt của sự vật ở đây tuy
là có thật nhưng không đối lập với tính đơn nhất, bởi “con vật hữu hình” trước mắt họ không phải là tượng trưng cho “con vật vô hình” nào cả, mà nó chính
là bản thân con vật đó Như vậy, cùng là một sinh linh duy nhất, nó vừa tồn tại ở nơi này, đồng thời lại hiện hữu ở nơi khác Đó là điều khó chấp nhận đối với tư duy khoa học, nhưng đối với người Igorote lại là lẽ hiển nhiên và nó phải là như vậy Ông cũng giải thích thêm là, hình như đối với họ, chỉ có sự
“cảm nhận” hơn là hình dung ra chúng theo nhận thức lý tính Ở đây có sự tham dự hết sức thân thiết giữa hai yếu tố với nhau, bởi nếu cái gì tác động đến cái này thì nó cũng tác động đến cái kia theo cùng một cách thức Họ cho như thế là phù hợp, bởi hai thực thể đó có sự “đồng chất” với nhau
Qua phân tích trên đây, có thể nói rằng, những “biểu tượng sơ khai” đã
ra đời từ thời công xã thị tộc – thửơ cội nguồn của lịch sử loài người Nó không dựa trên mối quan hệ, nắm bắt được hoặc xác lập bởi trí óc, giữa “biểu tượng” và cái mà nó biểu hiện, mà dựa trên sự “tham gia” và thường dẫn đến
sự “đồng chất” giữa các yếu tố Các biểu tượng ở thời kỳ này được người nguyên thuỷ cảm nhận theo một cách hết sức đặc biệt – “ma thuật giao cảm tính” (Magic sympathique) với mọi sự biểu hiện của các đối tượng ở đây đều
có thật, nghĩa là làm cho nó như là “hiện đang có mặt” Từ cách tư duy nguyên thuỷ như vậy đã dẫn đến những hành động “cảm ứng ma thuật” tác động lên các “biểu tượng sơ khai” Người tiền sử tin rằng, nếu tác động lên biểu tượng của một người hay một vật cũng có nghĩa là tác động lên chính bản thân người hay vật đó Do dựa vào niềm tin vững chắc này, mà đã có
Trang 25nhiều hình thức phù thuỷ - “ma thuật” ra đời và phổ biến rộng rãi trong đời sống của các thị tộc nguyên thuỷ lúc bấy giờ
Tóm lại, quan niệm về biểu tượng đối với người nguyên thuỷ có ý nghĩa khác hẳn đối với chúng ta Một cách khái quát nhất, theo quan niệm hiện đại, biểu tượng trước hết bao hàm mối quan hệ nắm bắt được hay xác lập bởi trí tuệ Ở người nguyên thuỷ, biểu tượng tham gia thực sự vào một đối tượng cụ thể Nó không biểu hiện mối tương quan, ít nhất là ngay từ thưở cội nguồn, khi nó vừa mới xuất hiện và thường luôn dẫn đến sự “đồng chất”
Vấn đề chủ yếu chính là, hệ thống các “biểu tượng sơ khai” đã thực hiện được vai trò của nó là một loại công cụ tinh thần của tư duy, nhằm giúp cho nhận thức của người nguyên thuỷ ngày một phát triển ở trình độ cao hơn Chính quá trình này đã tách con người ra khỏi đời sống động vật để trở thành NGƯỜI với đầy đủ ý nghĩa của nó - người có năng lực “biểu trưng hoá”, một năng lực mà bất cứ một loài sinh vật nào cũng không thể có được – “năng lực bản chất người” – năng lực sáng tạo ra “thế giới biểu tượng”
1.2 Tính chất và chức năng cơ bản của biểu tượng
1.2.1 Tính chất của biểu tượng
* Tính chất mơ hồ của biểu tượng
Biểu tượng có tính chất mơ hồ bởi mỗi biểu tượng có một hình thức biểu thị nhưng lại có nhiều nội dung hàm nghĩa Ngược lại, biểu tượng trở nên
đa nghĩa đối với hình thức biểu thị, lại rất đa dạng trong sự biểu hiện đối với một nội dung nào đó Tính chất đa nghĩa và đa dạng trong sự biểu thị của biểu tượng là một đặc điểm chỉ có ở loại hình “ký hiệu hàm nghĩa” Sự đa nghĩa và
đa dạng thức biểu hiện đã tạo nên “tính mơ hồ” của biểu tượng
Nhìn chung, biểu tượng diễn đạt một cách gián tiếp mang tính ẩn dụ, khó nhận ra một cách trực tiếp về một vấn đề nào đó như niềm ham muốn, lòng say mê hay sự sung đột Biểu tượng là vật môi giới - mối liên kết thống
Trang 26nhất về mặt nội dung của một hành vi, một lời nói, một tư tưởng với những hàm nghĩa tiềm ẩn của chúng Một khi nhận ra một điều gì đó thì ít nhất là có hai phần ý nghĩa Chúng thay thế cho nhau bằng cách vừa che lấp lại vừa bộc
lộ mà ta có thể gọi mối quan hệ đó là quan hệ có “tính biểu tượng” Đặc trưng mối quan hệ này thường có một sự ổn định nhất định giữa các yếu tố bộc lộ
và tiềm ẩn của biểu tượng Theo nhiều nhà phân tâm học, cái được biểu trưng
bao giờ cũng là vô thức C.G.Jung đã nhận định: “Biểu tượng không phải là một phúng dụ, cũng chẳng phải là một dấu hiệu đơn giản, mà đúng ra là một hình ảnh thích hợp để chỉ ra đúng hơn cả cái bản chất ta mơ hồ nghi hoặc của tâm linh” [5,trXXIV]
* Tính chất thiêng liêng của biểu tượng
Đại bộ phận biểu tượng ngày hôm nay vẫn còn lưu dấu ấn của thời đại
cổ xưa mà người ta có thể nhận ra, và quy chiếu chúng vào tư duy nguyên thuỷ với hệ thống “biểu tượng sơ khai” Những dạng thức đó được xem là những “khuôn mẫu hành vi” Chính những dạng thức này đã được khắc sâu vào trong “vô thức” của cộng đồng Đồng thời nó cũng được sắp xếp theo trình tự của một “văn bản” Chúng biểu hiện ra như những “cấu trúc tâm lý” mang tính phổ biến, có tính chất như là một hạt nhân “di truyền xã hội” và trở thành “ý thức cộng đồng” Những hệ thống khuôn mẫu đó có vai trò như là những động lực cấu kết toàn cộng đồng lại với nhau
Theo nhận định của F.Hegel, các biểu tượng vẫn tồn tại bên trong nó những yếu tố “thiêng liêng” mà cả cộng đồng vẫn một lòng giữ gìn và tôn kính Tính chất thiêng liêng đó chính là do các biểu tượng đã có tác dụng nối liền các tâm hồn lại với nhau, đó chính là mục đích, là nơi hội tụ mọi ước mơ, khát vọng của cả một cộng đồng người
Qua đó ta thấy, bên trong các biểu tượng luôn hàm chứa những “giá trị truyền thống” Những giá trị này được đúc kết, tích luỹ hàng nghìn thế hệ
Trang 27trong quá trình hoạt động - lịch sử Chúng chi phối và qui định toàn bộ thế ứng xử và giao tiếp của con người Tất cả những điều đó đã khiến cho con người liên kết gần lại với nhau và biểu tượng trở thành “cái thiêng liêng” trong nội bộ cộng đồng xã hội Ở đây, cái thiêng liêng không biểu hiện ở ý nghĩa “thần linh hoá” mà là một niềm tin được “thiêng hoá” để trở thành sức mạnh, thành niềm tự hào của cả cộng đồng dân tộc Đó chính là “cái cao cả”,
“cái trác tuyệt” có trong mỗi biểu tượng
* Tính khó xác định và sinh động của biểu tượng
Lịch sử ngôn ngữ cho biết, từ “biểu tượng” bắt nguồn từ một tập quán
xã hội Hy Lạp cổ đại, nói về một phiến đá bị đập vỡ, được chia thành nhiều mảnh và chia đều cho mỗi thành viên trong một bộ tộc nào đó, trước sự phân
ly của họ Sau này, khi các thành viên được tập hợp lại, họ đem những mảnh
vỡ đó ghép lại (Sumballein), nhằm xác nhận sự hiện diện trở lại của toàn nhóm Tương tự như vậy, một vật nào đó như mảnh sứ, vỏ ốc hay kim loại được cắt làm đôi giao cho mỗi bên giữ một nửa trước khi chia tay Sau này khi gặp lại, ráp hai mảnh cắt vào nhau thì hai người sẽ nhận ra nhau Về sau, khi nhận thức của con người được nâng cao, biểu tượng mới trở thành một loại “siêu ký hiệu” với tính đa dạng, đa nghĩa của nó
Bản chất khó xác định và sống động của biểu tượng chính là sự chia ra
và ghép lại với nhau Nó hàm chứa hai ý tưởng phân ly và kết hợp Mọi biểu tượng đều chứa đựng dấu hiệu bị đập vỡ, ý nghĩa của biểu tượng luôn biến ảo
Nó bộc lộ ra trong cái vừa gẫy vỡ, vừa nối kết, vừa xuất hiện, lại vừa mất đi, khiến cho tư duy luôn phải truy tìm, liên tưởng và muốn nắm bắt lấy vô vàn những ý nghĩa còn tiềm ẩn ngay trong lòng của nó
Trong cuốn từ điển nổi tiếng của mình, các tác giả J.Chevalier và
A.Gheerbrant cho rằng: “Tự bản chất của nó (biểu tượng), nó phá vỡ các khuôn khổ định sẵn và tập hợp các thái cực lại trong cùng một ý niệm Nó
Trang 28giống như mũi tên bay mà không bay, đứng im mà biến ảo, hiển nhiên mà lại không nắm bắt được Ta sẽ cần phải dùng các từ để gợi ra một hay nhiều ý nghĩa của một biểu tượng” [5, tr XIV].
Biểu tượng bộc lộ rồi lủi trốn, càng phơi bày sáng rõ thì nó càng tự giấu
mình đi Nói như Georges Gurvitchs: “Các biểu tượng tiết lộ mà che giấu và che giấu mà tiết lộ” [5, tr XIV]
Vấn đề được đặt ra ở đây là, vì tính khó xác định và năng động đó của biểu tượng mà ta có thể nhận thức, “giải mã” được biểu tượng hay không?
Câu trả lời là: có Ta có thể nhận thức được biểu tượng ở một góc độ nào đó chứ không thể nhận thức toàn diện được mọi khía cạnh của biểu tượng Đứng trước bất kỳ một biểu tượng nào, ta có thể nhận thức nó ở những khía cạnh rất khác nhau, chứ không thể giải mã hết được biểu tượng Bởi
trXXV] Do vậy, giá trị của biểu tượng được xác định chính trong sự chuyển vượt từ cái đã biết sang cái chưa biết, từ cái đã diễn đạt sang cái khó biểu lộ bằng lời nói Nó luôn là sự thách thức đối với nhận thức của nhân loại trong toàn bộ tồn tại của mình Chính vì thế, tuy đứng trước những biểu tượng được coi là thân quen, gần gũi nhưng nó vẫn luôn mới mẻ, luôn kích thích sự tìm
tòi, khám phá của con người Khi đó biểu tượng mới thực sự “sống” theo
Trang 29không xoá bỏ ký hiệu Ngược lại, nó thêm vào cho thực tại, cấp cho ký hiệu những giá trị, những quan hệ hợp lý theo cách riêng của nó Chúng cùng tồn tại giữa thế giới, vũ trụ, con người và thần thánh Nó thống nhất được các mặt
và đưa con người ta vào thế giới tưởng tượng Điều này đã được J.Chevalier
và A.Gheerbrant nhận thức:
“Biểu tượng vượt ra ngoài giới hạn của lý trí thuần tuý, nhưng không
vì thế mà rơi vào phi lý Nó không phải là trái quả chín muồi của một kết luận logic, do một biện luận chặt chẽ Lối phân tích bằng cách cắt vụn và đập nhỏ
ra không thể nắm bắt được sự phong phú của biểu tượng; trực giác không phải bao giờ cũng đạt được điều đó; phải tổng hợp và đồng cảm hết mực, nghĩa là chia sẻ và cảm nghiệm một cách nhìn nào đó về thế giới…Mỗi biểu tượng là một vũ trụ vi mô, một thế giới toàn vẹn”. [5, tr XXVII].
1.2.2 Các chức năng cơ bản của biểu tượng
Biểu tượng được sáng tạo ra nhờ năng lực “tượng trưng hoá” của con người Với những đặc tính riêng, biểu tượng có những chức năng mà qua đó con người có thể nhận thức sâu sắc về bản thân, về cuộc sống, đồng thời tạo nên những biến đổi to lớn trong sự phát triển toàn diện về nhân cách, trí tuệ của mỗi con người, cũng như của cả cộng đồng – xã hội Bản chất của biểu tượng là một loại ngôn ngữ - ký hiệu nên nó cũng có những chức năng như ngôn ngữ vậy
Những chức năng cơ bản của biểu tượng là:
* Chức năng thông tin:
Nền văn hoá nào cũng có sự truyền đạt thông tin - những giá trị định hướng cho toàn cộng đồng, nhằm thoả mãn những nhu cầu, khát vọng của con người Cũng giống như ngôn ngữ, biểu tượng có chức năng thông tin trong đời sống xã hội
Trang 30Bằng những kinh nghiệm đã trải qua cùng với trình độ nhận thức của mỗi cá nhân và của từng nhóm - cộng đồng, con người có thể rút ra nhiều hơn những thông tin còn tiềm ẩn trong lòng mỗi biểu tượng Bởi lẽ bản thân mỗi biểu tượng đều mang tính đa nghĩa Tuy nhiên, việc tiếp nhận thông tin từ biểu tượng cần tránh thái độ đứng nhìn, mà đòi hỏi thái độ nhập cuộc Thái độ
và sự tiếp nhận thông tin mang tính chủ quan, nhưng đòi hỏi sự nhạy cảm và kinh nghiệm vốn có, chứ không theo lối khái niệm hoá thông tin
Việc hiểu thấu các biểu tượng phụ thuộc vào sự tiếp nhận trực tiếp nào
đó của xúc cảm nhiều hơn là sự nhận thức thuần lý Đương nhiên các nhà nghiên cứu lịch sử, các so sánh liên văn hoá hoặc tiếp cận liên ngành để nghiên cứu và giải thích biểu tượng sẽ góp phần làm cho việc nắm bắt thông tin từ các biểu tượng có cơ sở, đỡ phiêu lưu trong thế giới tinh thần
* Chức năng khám phá
Trong vũ trụ tự nhiên cũng như trong đời sống con người và xã hội được tạo nên bởi những yếu tố mà con người có thể “tri giác” hoặc “không tri giác” được
Biểu tượng sống động nảy sinh từ cõi vô thức của con người và từ trong lòng đời sống thực tại, nó thực hiện chức năng khám phá Biểu tượng đưa con người tiếp cận với những vấn đề mà họ chưa biết, thực hiện chức năng truy tìm và diễn đạt ý nghĩa trong cuộc phiêu lưu tinh thần của con người qua mọi không gian và thời gian Nó cho phép ta nắm bắt được những mối liên hệ (bằng sự liên tưởng và tưởng tượng) mà lý trí khó xác định được
Biểu tượng luôn mở rộng “trường ý thức” vào một lĩnh vực không có
sự đo đếm chính xác, cụ thể theo kiểu tư duy logic, mang tính khoa học Với biểu tượng, nó luôn bao hàm một điều gì đó thật mơ hồ, chưa biết và thường
bị che dấu đối với con người Khi trí óc muốn khám phá hay thăm dò một
Trang 31biểu tượng, thì phải truy tìm những ý tưởng nằm bên ngoài những gì mà lý trí
có thể nắm bắt được
Chính vì có vô số những điều nằm ngoài giới hạn sự hiểu biết của con người như: thượng đế, linh hồn, ma quỷ, địa ngục, thiên đàng… nên con người thường dùng biểu tượng để diễn đạt hoặc giải thích những khái niệm khó xác định, hoặc chưa hiểu được trọn vẹn Đối với tư duy biểu tượng,
không có gì là khó giải thích Có thể nói, biểu tượng là “mũi nhọn thăm dò của trí tuệ” [27,tr 54]
* Chức năng thay thế
Để nắm bắt được những điều khó nắm bắt, như những vấn đề thuộc lĩnh vực tôn giáo và huyền thoại…, con người đã dùng một “vật môi giới” được gọi là “biểu tượng”
Như vậy, biểu tượng đã thực hiện chức năng thay thế nhằm trả lời một câu hỏi, hay giải quyết một vấn đề gì đó đang còn khúc mắc, hoặc nhằm thoả mãn một mong muốn, một ước vọng nào đó đang còn mù mờ trong cõi vô thức Biểu tượng giúp con người nhận thức được những gì mà họ được trải qua bằng kinh nghiệm chứ không nghiêng về nhận thức lý tính thuần tuý Đó cũng là sự thống nhất giữa “ý thức” và “vô thức” nằm trong quá trình nhận thức của con người
* Chức năng giao tiếp xã hội
Với các chức năng nêu trên, con người tự hoàn thiện một bước về mặt nhận thức với sự cảm nhận “mình trong tất cả và tất cả trong mình” Từ đó, con người bớt đi những mặc cảm về cái tôi riêng lẻ và sẽ không còn thái độ tách mình ra khỏi cộng đồng cũng như ra khỏi thời đại mà mình đang sống
Do vậy, mỗi biểu tượng đều có thể trở thành công cụ giao tiếp giữa các cá nhân và toàn thể cộng đồng xã hội
Trang 32Về thực chất, biểu tượng là một loại hình ngôn ngữ - ký hiệu được sử dụng trong giao tiếp Bởi vì mọi người đều có thể hiểu được những hàm nghĩa
có trong nó mà không cần phải qua một ngôn ngữ trung gian nào khác, nếu một khi nó trở thành ngôn ngữ biểu tượng chung của toàn thế giới (Ví dụ như hình tượng “chim bồ câu” tượng trưng cho hoà bình…) Từ các biểu tượng đã phát đi những thông báo, khiến cho con người có thể tiếp nhận nó một cách thuận tiện Phương thức nhận thức biểu tượng chính là phương thức nhận thức thiên về trực giác, cảm tính mang yếu tố thẩm mỹ, chúng có năng lực làm rung động sâu sắc đến tâm hồn mỗi con người Khi biểu tượng trở thành ngôn ngữ giao tiếp quốc tế, nó sẽ vượt qua các rào cản của ngôn ngữ, lịch sử, lãnh thổ quốc gia, văn hoá và tôn giáo…, để giúp cho mọi người trên hành tinh này
có thể hiểu biết nhau hơn
* Chức năng liên kết xã hội
Đây là chức năng mang ý nghĩa xã hội rõ nét Bởi một khi giá trị - ý nghĩa của biểu tượng vẫn còn “dư âm” vang vọng trong tâm hồn của mỗi cá nhân cũng như của cả cộng đồng xã hội, thì nó đủ sức thôi thúc, khiến mọi người trong cộng đồng đó xích lại với nhau, tạo thành “sức mạnh liên kết” của toàn cộng đồng
Ví dụ như: “Cờ búa liềm”, “Cờ tổ quốc”…là những biểu tượng luôn có khả năng tập hợp những người cùng nhóm lại với nhau
Như vậy, biểu tượng được xác định bằng lí do ra đời của nó Biểu tượng là dấu hiệu biểu hiện ra bên ngoài để nhận biết tính “sở thuộc cộng đồng” Chính biểu tượng đã tồn tại trong lòng cộng đồng và mỗi thành viên trong cộng đồng đó Nó tạo nên sự cố kết cộng đồng, giúp cho quan hệ của nhóm trong cộng đồng càng thêm bền chặt Nếu một lí do nào đó khiến cho nhóm tan rã cũng sẽ dẫn đến sự “giải thiêng” của biểu tượng vì nó đã bị thoái hoá và sẽ bị mất đi
Trang 33* Chức năng định hướng giá trị
Trong mỗi thời kỳ lịch sử của mỗi cộng đồng – dân tộc, thậm chí mỗi giai cấp, mỗi nhóm cộng đồng đều có hệ biểu tượng riêng của mình Đó là sự biểu hiện cho những giá trị định hướng mỗi cộng đồng Chúng là các giá trị cốt lõi nằm trong hệ giá trị chung của toàn xã hội Các giá trị định hướng được xác định bởi hệ thống biểu tượng, quy định các chuẩn mực cho mọi thành viên trong xã hội thực hiện theo Mỗi thể chế xã hội đều có một hay nhiều hệ thống biểu tượng, quy định thế ứng xử và giao tiếp cho cá nhân và toàn thể cộng đồng Qua đó ta có thể nhận thấy những đặc điểm riêng của một nền văn hoá Tức là có thể nhận diện “bản sắc văn hoá” của mỗi cộng đồng – dân tộc
1.3 Sự phân loại biểu tượng
Thế giới biểu tượng là thế giới của ý nghĩa Nó vô cùng sinh động và phức hợp, vừa phong phú về mặt nội dung, vừa đa dạng về hình thức biểu hiện Sự phức hợp đó của biểu tượng là do một “nội dung” có thể có nhiều
“hình thức” thể hiện Và ngược lại, một “hình thức” lại có thể biểu đạt bằng nhiều “nội dung” khác nhau Mỗi ý nghĩa của biểu tượng lại nói lên một mặt biểu hiện của đời sống xã hội Có bao nhiêu biểu hiện trong đời sống xã hội là
có bấy nhiêu ý nghĩa tương ứng có trong từng biểu tượng Do vậy, việc phân loại biểu tượng là một việc làm hết sức khó khăn và phức tạp nên không thể đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối trong quá trình phân loại này
Trong tác phẩm của mình, hai tác giả J.Chevalier và A.Gheerbrant đã đưa ra nhiều cách phân loại biểu tượng mang tính hệ thống Song, hai ông cho rằng, tất cả các tìm tòi ấy đều có công phác hoạ ra những cái khung tiện cho việc trình bày nhưng chưa đưa ra được một khung phân loại biểu tượng một
cách hoàn chỉnh và mẫu mực Bởi những sự phân loại đó nhằm “tách biểu tượng ra như là những dấu hiệu, những kết cấu, những mẫu giải thích về xã hội hay tôn giáo, những đồ vật để nhận biết; khuynh hướng đó không biết đến
Trang 34gốc rễ chủ quan và tính phức hợp cơ động của biểu tượng; nó bị một thứ bệnh hẹp hòi siêu hình kín đáo” [5, tr XXXVII]
Cụ thể những quan điểm phân loại được trình bày như sau:
Trước hết là A.H.Krappe đưa ra sự phân biệt các biểu tượng thuộc về
“bầu trời”(gồm có: bầu trời, mặt trăng, mặt trời, các vì sao…), và các biểu tượng thuộc về “đất” (như: núi lửa, nước, hang đá…) Cùng chung quan điểm phân loại như vậy, Mircea Eliade cũng phân tích các biểu tượng ở “trên trời”
(người nhà trời, thần giông bão, thờ bái mặt trời, thần bí về mặt trăng, các
hiện thân dưới nước…), và những biểu tượng dưới “địa phủ” (như: đất, đá,
đàn bà, sự phì nhiêu…) Thêm vào đó là sự phân chia các biểu tượng theo không gian và thời gian Trong khi đó, Gaston Bachelard lại phân phối các biểu tượng xung quanh bốn yếu tố truyền thống: đất, nước, lửa, không khí, mà
ông xem là những “hócmon của trí tưởng tượng”
G.Dumézil lại tập hợp các biểu tượng chung quanh ba chức năng chính
mà ông phân biệt ra trong cấu trúc các xã hội Ấn – Âu Đó là ba đẳng cấp: “tu sĩ”, “chiến binh” và “người sản xuất” Piganiol phân biệt thành hai loại:
“những người chăn nuôi” hay du mục với “những người cày ruộng” hay
định cư Mỗi loại đều có chuỗi biểu tượng kèm theo
Riêng Pryzulski đã đặt cơ sở phân loại của mình theo “sự phát triển đi lên của ý thức”: các biểu tượng thoạt tiên quần tụ chung quanh sự sùng bái
“Nữ thần và sự phồn thực”, rồi đến cấp độ “con người”, tiếp theo là “đức
Cũng có người dựa vào các “hình thức biểu hiện” của biểu tượng để
phân loại chúng như bảng phân loại biểu tượng của J.Chevalier và
A.Gheerbrant bao gồm hệ thống các biểu tượng: huyền thoại, chiêm mông, cử chỉ, phong tục, dạng thể, các hình, màu sắc, con số…
Trang 35Khi tìm hiểu về biểu tượng của tín ngưỡng nguyên thủy cổ sơ và tìm cách phân loại chúng, Will Durant đã trình bày quan điểm như sau:
Vì vật nào cũng có linh hồn hoặc có thần linh ẩn nấp bên trong, nên những biểu tượng tín ngưỡng nhiều vô số Có thể phân chúng thành 6 loại
sau: 1/ Vật trên trời (biểu tượng về “tự nhiên”), 2/ Vật dưới nước (biểu tượng
về “tự nhiên”); 3/ Bộ phận sinh dục (biểu tượng về “phồn thực”), 4/ Tôtem (biểu tượng về “vật tổ”), 5/ Hồn ma (biểu tượng về “linh hồn vô danh”), 6/ Tổ tiên (biểu tượng về “nhân thần”)
Nói chung, đã có nhiều hướng phân loại biểu tượng khác nhau, khó có
sự đồng thuận Bởi vì phần lớn các cách phân loại thường theo khuynh hướng thực chứng hoá và hợp lý hoá, tách các “ biểu tượng” ra như là những dấu hiệu, những kết cấu, những mẫu giải thích về xã hội hay tôn giáo hoặc những
sự vật có thể nhận biết được Do vậy, mọi lối phân loại theo hệ thống các biểu tượng ở trên vẫn còn nhiều tranh cãi và đều tỏ ra ít nhiều chưa có sự thống nhất với nhau Chính vì tính “đa trị” và “phức hợp” của biểu tượng đã khiến cho việc phân loại trở nên khó khăn hơn
Tác giả Nguyễn Văn Hậu, trong luận án Tiến sĩ Khoa học Lịch sử đã đưa ra một bảng phân loại biểu tượng theo tiến trình lịch sử trên cơ sở tiếp thu quan điểm của Pryzulski và Will Durant Trong đó tác giả đã chia lịch sử loài
người thành 2 giai đoạn lớn: xã hội nguyên thuỷ (với công cụ lao động chính bằng đá), và xã hội văn minh (bắt đầu khi con người tìm ra và sử dụng kim
loại vào sản xuất và sinh hoạt) Có thể xem đây là cách phân loại gần nhất với đối tượng nghiên cứu của luận văn Do vậy, chúng tôi muốn đi sâu tìm hiểu
về cách thức cũng như nội dung phân loại này
* Giai đoạn xã hội nguyên thuỷ
Đây là giai đoạn đầu tiên của lịch sử nhân loại, kéo dài hàng vạn năm,
từ buổi đầu lịch sử cho đến khi hình thái xã hội này tan rã, mở ra một thời kỳ
Trang 36phát triển: xã hội văn minh Giai đoạn xã hội nguyên thuỷ được chia thành ba giai đoạn nhỏ: thời đại đồ đá cũ, thời đại đồ đá giữa và thời đại đồ đá mới Trong từng thời kỳ có sự khác nhau nhất định về sự ra đời cũng như hình thái,
ý nghĩa của các biểu tượng bởi sự khác nhau về nhận thức của nhân loại
Thời đại đồ đá cũ (-40.000 – 9.000 năm TCN): là thời kỳ của người
khôn ngoan (homo sapiens sapiens) Đó là thời điểm chấm dứt, là giới hạn cuối cùng của bầy người nguyên thủy Quá trình này gắn liền với sự hình thành cơ cấu xã hội đầu tiên - sự ra đời của công xã thị tộc - một hình thái cơ bản của chế độ công xã nguyên thuỷ Con người đã sáng tạo ra nhiều loại công cụ bằng đá, xương, ngà voi… cùng với “nghệ thuật hang động” và “tín ngưỡng nguyên thuỷ” Đến đây văn hoá chính thức ra đời
Con người ở thời kỳ đá cũ đã sáng tạo ra nhiều biểu tượng huyền thoại
về thế giới “tự nhiên” như: mặt trời, mặt trăng, tinh tú, cầu vồng, lửa, nước, núi, sông, đất, đá… Con người thưở ban đầu tỏ ra sợ hãi trước những thế lực
“tự nhiên” và thiêng hoá các đối tượng này mà từ đó ra đời các hình thái biểu tượng về “nhiên thần” Sự sợ hãi trước cái chết luôn thường trực, sự kinh ngạc trước những biến cố ngẫu nhiên xảy ra không sao hiểu nổi, đã khiến cho người nguyên thuỷ hướng tới sự sùng bái “tự nhiên” - một hình thức tín ngưỡng nguyên thuỷ
Thời kỳ đồ đá giữa: là thời kỳ nằm giữa thời đại đồ đá cũ và đồ đá
mới, có niên đại khoảng 9000 năm TCN - 7000 năm TCN Về kỹ thuật, đây là thời kỳ đặc trưng cho đồ đá nhỏ cùng với sự xuất hiện của dụng cụ nghề chài lưới Tập tục trong nghi lễ tang ma có hai nét: bộ xương được chôn ở tư thế gập mình thường được bôi chu sa (cát đỏ) và sọ xếp thành đống có bôi hoặc không bôi chu sa
Trang 37Tương ứng với thời kỳ này là giai đoạn “mẫu hệ” Trên bình diện tổng thể, chế độ mẫu hệ là giai đoạn tất yếu và phổ biến, tồn tại trong một thời gian dài, suốt thời kỳ đồ đá (hậu kỳ đá cũ đến hết thời kỳ đồ đá mới)
Cùng với quan điểm của E.B.Taylor, các nhà khoa học trong lĩnh vực dân tộc học, nhân học văn hóa, phân tâm học như E.Cassirer, Lévy Bruhl, W.Durant, X.A.Tocarev, S.Freud… khi nghiên cứu về “tư duy nguyên thủy” đều cho rằng: những người tiền sử, khi nhận thức về vũ trụ và con người đều theo quan niệm “linh hồn” Họ đã thổi cho mỗi động vật, cây trồng, đất đai và con người một “linh hồn” bất diệt Theo quan niệm của E.B.Taylor, người nguyên thủy khi trải qua kinh nghiệm của bản thân (giấc mơ, ốm đau, bệnh tật, sự chết chóc của đồng loại…), họ đã đi đến kết luận, sự sống còn của con người luôn bị chi phối bởi cái thế giới “vô hình” - một yếu tố phi vật chất -
“linh hồn” Nó luôn độc lập với thể xác và tồn tại vĩnh hằng sau khi chết
Ý niệm người chết vẫn sống là một trong những ý niệm tôn giáo - ma thuật tồn tại lâu đời và được duy trì trong các tín ngưỡng nguyên thủy Cùng với các loại tín ngưỡng này là niềm tin về ma quỷ như: ma cà rồng hút máu, hồn ma từ thế giới bên kia trở về…Phức tạp hơn là vấn đề nguồn gốc của biểu tượng tôn giáo gắn liền với sự thờ cúng người chết - biểu tượng về “hồn ma” người chết
Theo quan điểm của Tylor thì ý niệm về “hồn ma” người chết là sự phát triển logic của biểu tượng sơ đẳng về “linh hồn” người chết Những học giả khác như X.A.Tocarev khi nghiên cứu về vấn đề này lại cho rằng ý niệm về
“linh hồn người chết” khi ra khỏi xác đã biến thành “hồn ma” hoặc “ma quỷ”
“Ở người Autralia vùng Aranda linh hồn người sống gọi là Curuna (Guruna), còn linh hồn hay hồn ma người chết gọi là Itane (Ultana) Sự khác nhau về tên gọi như thế có cả ở bộ lạc Loritia, ở người Mara và một số bộ lạc khác” [71, tr 223].
Trang 38Theo quan niệm của X.A.Tocarev, ở châu Phi đa số các dân tộc phân biệt rõ rệt hai biểu tượng - biểu tượng về linh hồn người sống và biểu tượng
về “hồn ma” người chết Linh hồn sẽ mất đi khi người ta chết, còn “hồn ma”
sẽ xuất hiện vào chính lúc đó Ông phân tích như sau:
“Một trong những khác biệt cơ bản, một sự khác biệt hầu như có ở mọi nơi, giữa các ý niệm về “linh hồn” và “hồn ma” là ở chỗ, linh hồn thường là một bản chất yếu đuối bị động, hay sợ hãi Trong khi đó thì “hồn ma” là một
Và ông đi tới một nhận định tiếp theo:
“Một hiện tượng đáng chú ý là người Papua, có biểu tượng về
“cughi” Biểu tượng này có tính chất phức tạp, “cughi” có nghĩa là xác người chết, và khi xác được hỏa thiêu nó có sức mạnh ghê gớm và mới thực
sự tồn tại Pauur - người phát hiện ra trường hợp này cho rằng, người Papua không cho “cughi” là linh hồn người ta, linh hồn không được giữ lại sau khi người đã chết, mà sau khi chết, xác được hóa, lúc đó cughi mới thực chất tồn tại ”[71, tr194]
Các biểu tượng “hồn ma” là tín ngưỡng mang yếu tố tôn giáo, một biểu hiện hết sức quan trọng trong thời kỳ “đồ đá giữa” Lễ thức trong tang ma và chôn cất có ý nghĩa với người còn sống Họ ngăn chặn người chết trở về làm hại Và đương nhiên là người nguyên thủy cũng tin vào một đời sống sau khi chết Họ bôi chu sa lên thi hài người chết là thay thế cho máu đỏ, một biểu tượng của sự sống trong huyệt mộ có vật táng theo là dấu hiệu thông báo rằng họ tin vào cuộc sống bên kia với những hoạt động như lúc còn sống Chính vì vậy có thể cho rằng, vào thời kỳ đồ đá giữa đã hình thành nhận thức
về thủy tổ huyền thoại, một ý niệm gắn liền với thần thoại về nguồn gốc của thế giới, của thú săn, của con người và của cái chết (hồn ma)
Trang 39Thời kỳ đồ đá mới: có niên đại khoảng 8000TCN - 2000TCN Đặc
trưng của thời kỳ này là cư dân canh tác nông nghiệp bằng cuốc và sống định
cư thành làng
Tương ứng với thời kỳ này là giai đoạn cực thịnh của chế độ mẫu hệ (từ
sơ kỳ đá mới đến hậu kỳ đá mới) Giai đoạn này con người biết kiến tạo cho mình một cuộc sống mới Cuộc cách mạng nông nghiệp bằng “cuốc” ra đời thay chế cho hình thái kinh tế săn bắn và hái lượm - những hình thái kinh tế “chiếm đoạt”, kinh tế “ăn sẵn” Đó là thời kỳ con người đã có sự nhận thức về bản thân mình, về thế giới xung quanh, biết cải tạo đất đai để phát triển sản xuất
Những biểu tượng trong “thời đại đá mới” hàm chứa những ý nghĩa về cuộc sống, về sự phồn vinh của vạn vật, về mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên Chúng đã ra đời cùng với sự nâng cao về mặt nhận thức của con người Phần lớn các hình thái biểu tượng về “phồn thực” phát sinh từ những cư dân nông nghiệp trồng ngũ cốc và chăn nuôi Gắn liền với những
“biểu tượng” đó là những lễ thức thờ “vật thiêng” và “thần che chở cho gia đình và thị tộc” - một hình thức thờ cúng đặc trưng của thời kỳ thị tộc mẫu hệ
X.A.Tocarev cho rằng: “Vì sức mạnh tình dục và sự mắn sinh của con người, từ lâu trong ý thức của con người đã có mối liên hệ với sự phì nhiêu của đất với năng suất của đồng ruộng, nên những sự nhân cách hóa thần thánh khát vọng yêu đương và hôn nhân của con người thường cũng là sự nhân cách hóa sự phì nhiêu của đất ”[71, tr376]
Tóm lại, trong “xã hội nguyên thủy”, các hình thái “biểu tượng sơ khai”
đã ra đời và tồn tại cùng với chặng đường lịch sử phát triển nhận thức của người nguyên thủy Nó biểu hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao Đầu tiên là những biểu tượng về “nhiên thần” (trời: mây, mưa, sấm, chớp…đất: sông, suối, hang động, đất đá…) Các biểu tượng này ra đời vào “hậu kỳ đá cũ” với sự xuất hiện của Người khôn ngoan
Trang 40Homo sapiens sapiens, khi “công xã thị tộc” hình thành với nghệ thuật hang động và “tín ngưỡng nguyên thủy”
Đến thời kỳ đồ đá giữa thì có dấu hiệu tín ngưỡng mang yếu tố tôn giáo với các hình thái biểu tượng về “hồn ma” (thi hài có bôi chu sa và mộ táng) và những hoạt động tín ngưỡng mang tính “ma thuật” (yểm bùa làm hại và chữa bệnh bằng phù phép) Bước sang “thời kỳ đồ đá mới”, khi có cuộc cách mạng nông nghiệp, con người biết trồng trọt và chăn nuôi thì những hình thái biểu tượng về phồn thực cùng với những lễ thức thờ cúng vật thiêng ra đời khẳng định vai trò của người phụ nữ (chế độ mẫu hệ) Hệ thống các “biểu tượng sơ khai” nói trên đã sinh ra ngày càng nhiều và tạo thành những “khuôn mẫu hành vi” trong mọi cách ứng xử của các cộng đồng - công xã nguyên thủy Đó cũng chính là những “biểu tượng tâm linh” trong đời sống tôn giáo của người nguyên thủy Các hình thái biểu tượng trong thời kỳ nguyên thủy mang yếu tố
“thần bí” và “huyền ảo”
* Thời đại văn minh
Thời đại nông nghiệp đã biết sử dụng các công cụ bằng kim khí (tương ứng với thời đại kim khí đến cuộc cách mạng công nghiệp thế kỷ VII)
Thời đại này được đánh dấu bằng sự chuyển biến trong sản xuất, từ nông nghiệp dùng cuốc sang nông nghiệp dùng cày với việc con người phát hiện ra kim loại và sử dụng nó vào trong sản xuất Về mặt xã hội, đấy là thời
kỳ chuyển từ “chế độ mẫu hệ” sang “chế độ phụ hệ”, đánh dấu “sự thất bại lịch sử có tính chất toàn thế giới của giới nữ” [18, tr95] như Enghen đã từng nói Cũng từ đây xuất hiện sự bất bình đẳng giới ngày càng trở nên sâu sắc trong lịch sử nhân loại
Khi loài người chuyển từ thời đại đồ đá mới sang thời đại kim khí, trong xã hội có sự chuyển biến sâu sắc về lực lượng sản xuất Những thủ lĩnh