Quá trình biến đổi kinh tế - xã hội từ xã ngoại thành trở thành phường nội thành là một quá trình đa dạng, bao gồm: sự chuyển đổi nghề nghiệp, cơ cấu lao động việc làm của dân cư, từ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÙI THỊ KIM PHƯƠNG
TỪ LÀNG ĐẾN PHỐ:
ĐÔ THỊ HOÁ VÀ QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI LỐI
SỐNG Ở MỘT LÀNG VEN ĐÔ HÀ NỘI (TRƯỜNG HỢP PHƯỜNG NHÂN CHÍNH, QUẬN THANH XUÂN,
HÀ NỘI)
Chuyên ngành: Dân tô ̣c ho ̣c
Mã số: 60 22 70
LUẬN VĂN THẠC SĨ LI ̣CH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN VĂN CHÍNH
Hà Nội – 2010
Trang 3BẢNG BIỂU
Trang Bảng 1: Thống kê dân số phườ ng Nhân Chính, tháng 4/2009 47
Bảng 3: Nghề nghiê ̣p của nhóm dân chuyển đến (KT2, KT3) 51
Bảng 4: Loại hình nhà ở phường Nhân Chính năm 2009 61 Bảng 5: Biến động diện tích đất theo mục đích sử dụng ở phường Nhân Chính
(2005 - 2010)
89
Bảng 6: Phương tiện sinh hoạt của hộ gia đình ở Nhân Chính năm 2009 (%) 100
Bảng 14: Người thực hiện các nghi lễ trong đám tang 125
Trang 4CÁC SƠ ĐỒ MẶT BẰNG KIẾN TRÚC NHÀ
Ở PHƯỜNG NHÂN CHÍNH
Trang
Sơ đồ cấu trúc mặt bằng một nhà biệt thự
(Nhà ông Thư, số 7, ngõ 26, cụm Kiến Thiết, Nhân Hoà)
62
Sơ đồ cấu trúc mặt bằng một nhà hai tầng của một gia đình dân gốc
(Nhà bác Thuận, Quan Nhân)
65
Sơ đồ cấu trúc mặt bằng một nhà ống 3 tầng của một gia đình dân mới
chuyển đến (Nhà bác Tâm, số 5, ngõ 60, Nhân Hoà)
66
Sơ đồ cấu trúc mặt bằng một nhà ống kết hợp với kinh doanh buôn bán (Nhà bác Kiều, cụm Kiến Thiết, Nhân Hoà)
68
Sơ đồ cấu trúc mặt bằng một nhà mái bằng
(Mô hình nhà cô Liên (cụm Kiến Thiết, Nhân Hoà)
Sơ đồ cấu trúc mặt bằng một căn hộ chung cư
tại khu đô thị Trung Hoà - Nhân Chính
72
Trang 5Sơ đồ cấu trúc mặt bằng một “chung cư mini” 73
Sơ đồ cấu trúc mặt bằng một nhà trọ bình dân 74
Sơ đồ cấu trúc mặt bằng một ngôi nhà biệt thự của dân sở tại
(Mô hình nhà bác Nghĩa, ngõ 90, Chính Kinh)
81
Sơ đồ một mô hình nhà có ngõ xộc thẳng vào cửa nhà
(Mô hình nhà chị Ngân, ngõ 60, Nhân Hoà)
82
Trang 6MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 1
1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 9
2 Lịch sử vấn đề 5
3 Chính sách đô thị hoá ở Việt Nam và vấn đề đô thị hoá ở Hà Nội 16
3.1 Chính sách đô thị hoá ở Việt Nam và những thay đổi của nó……….16
3.2 Vấn đề ĐTH ở Hà Nội 20
4 Các khái niệm 30
4.1 Đô thị 30
4.2 Đô thị hóa 31
4.3 Lối sống 32
4.4 Lối sống đô thị 33
5 Phương pháp nghiên cứu 34
6 Lựa chọn địa bàn nghiên cứu 35
7 Bố cục luận văn 36
CHƯƠNG 2: NHÂN CHÍNH: TỪ LÀNG LÊN PHỐ 38 6 2.1 Nhân Chính thời kỳ trước năm 1954 38
2.2 Nhân Chính dưới thời kỳ bao cấp (1954-1986) 42
2.3 Nhân Chính thời kỳ đổi mới kinh tế (1986 – 1996) 43
2.4 Nhân Chính thời kỳ bùng nổ đô thị hóa (từ 1997 đến nay) 46
2.4.1 Quản lý hành chính 46
2.4.2 Diện ma ̣o không gian, kiến trúc 49
2.4.3 Đặc điểm dân số học 66
2.5 Tiểu kết 56
CHƯƠNG 3: KHÔNG GIAN CƯ TRÚ VÀ KIẾN TRÚC 57 3.1 Biến đổi về không gian cư trú và kiến trúc nhà ở dưới tác động của đô thị hoá 57
Trang 73.1.1 Biến đổi không gian cư trú 57
3.1.2 Kiến trúc nhà ở 63
3.3 Niềm tin tôn giáo liên quan đến ngôi nhà 82
3.4 Tiểu kết 87
CHƯƠNG 4: BIẾN ĐỔI CƠ CẤU KINH TẾ VÀ QUAN HỆ CƯ DÂN 89
4.1 Diễn biến sử dụng đất đai 89
4.2 Biến đổi cấu trúc kinh tế 93
4.3 Quan hệ xã hội 103
4.4 Tiểu kết 108
CHƯƠNG 5: VĂN HOÁ VÀ LỐI SỐNG 111
5.1 Quan hệ gia đình 111
5.2 Hôn nhân 117
5.3 Tang lễ 122
5.4 Các hình thức thờ cúng trong gia đình 127
5.5 Dòng họ 131
5.6 Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng 137
5.7 Tiểu kết 147
KẾT LUẬN 150
TÀI LIỆU THAM KHẢO 191
PHỤ LỤC….………201
Trang 8CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU
1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
Đô thị hoá (ĐTH) là một hiện tượng phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới, đó là quy luật tất yếu của quá trình phát triển công nghiệp, một quy luật mang tính khách quan và có tính toàn cầu với sự chuyển đổi mạnh mẽ, sâu sắc và toàn diện
Ở nước ta hiện nay, quá trình ĐTH đang diễn ra một cách mạnh mẽ và đa dạng là xu thế chung và phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước và tiến trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới
Quá trình đô thị hoá ở các thành phố lớn nước ta, như thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh… trong thập niên qua không hoàn toàn chỉ do công nghiệp hoá, hiện đại hóa, mà còn do việc điều chỉnh lại địa giới hành chính, biến các vùng nông thôn ven đô trở thành nội thành do yêu cầu mở rộng không gian đô thị Các làng ven
đô này đang chuyển đổi cơ cấu chức năng và không gian mạnh mẽ Hà Nội có hàng trăm làng xã được lên đời thành phường, người làng thành người phố Cuộc sống của người dân khu vực này đã có sự thay đổi
Quá trình biến đổi kinh tế - xã hội từ xã ngoại thành trở thành phường nội thành là một quá trình đa dạng, bao gồm: sự chuyển đổi nghề nghiệp, cơ cấu lao động việc làm của dân cư, từ đa số làm nông nghiệp sang phi nông nghiệp; sự chuyển đổi đời sống xã hội, văn hoá tinh thần, lối sống từ nông thôn sang lối sống đô thị; chuyển đổi mục đích sử dụng đất, biến đổi cơ sở hạ tầng để đáp ứng nhu cầu lao động, sinh hoạt, đời sống ở đô thị; thay đổi bộ máy quản lý, hành chính từ nông thôn (làng, xã) sang đô thị (phường)
Cùng với quá trình ĐTH mạnh mẽ, Hà Nội trở thành nơi thu hút dân cư từ các tỉnh đổ về Do đó, bên cạnh những biến đổi về các mặt vật chất và tổ chức xã hội của đô thị, còn có sự thay đổi hết sức quan trọng về lối sống của các nhóm dân
cư khác nhau: dân sinh sống lâu đời ở Hà Nội và dân mới chuyển đến Đấy là những vấn đề mà các nhà nghiên cứu cũng như các nhà quản lý ở các cấp khác nhau đều quan tâm
Trang 9Bên cạnh đó, cùng với quá trình ĐTH, hiện nay Hà Nội đang phải đương đầu với nhiều vấn đề nan giải Trước hết là vấn đề quá tải và xu ống cấp của cơ sở hạ tầng, ô nhiễm môi trường và sự chắp vá không gian Đó là sự quá tải, mất cân bằng rất lớn giữa số lượng, chiều rộng của hệ thống đường bộ, cầu vượt với số lượng người và phương tiện tham gia giao thông tăng lên nhanh chóng Từ đó gây
ra tình trạng ùn tắc và tai nạn giao thông Đó là sự mất cân đối lớn giữa dân số đô thị tăng nhanh với mặt bằng không gian có thể phát triển đô thị và kết cấu hạ tầng
đô thị rất hạn chế, non kém Trâ ̣n lu ̣t li ̣ch sử nhấn chìm cả Hà Nô ̣i trong biển nước năm 2008 là một biểu hiện cho sự quá tải và xuống cấp cơ sở hạ tầng của thành phố Cũng vậy, hiê ̣n tượng những con sông vốn là đă ̣c trưng của kinh thành Thăng Long như sông Tô Li ̣ch , sông Kim Ngưu giờ trở thành sông chết là tiếng kêu cứu thảm thiết về mức độ ô nhiễm của Hà Nội Bên cạnh đó là sự tồn tại của các không gian kiến trúc tự phát , thiếu quy hoa ̣ch , chắp vá và nhếch nhác trong lòng thành phố, tình trạng nghèo đói cũng không ngừng mở rộng cùng với sự mở rộng các khu xóm liều Quan tro ̣ng hơn nữa là sự biến da ̣ng và lê ̣ch la ̣c của lối sống đô thi ̣ hiê ̣n nay Cái cốt cách thanh lịch của người Tr àng An trong lối sống , giao tiếp và ứng xử đang bị lấn lưới bởi những ứng xử thiếu văn hóa , thiếu đạo đức diễn ra hàng ngày trên đường phố , trong cung cách tham gia giao thông của mỗi người, hay trong mỗi gia đình hiê ̣n nay Tất cả những yếu tố này đã phản ánh các chiều cạnh của bức tranh đô thị hóa ở Hà Nội hiện nay
Trong bối cảnh đô thi ̣ hóa như v ậy, luận văn được phát triển trên cơ sở nghiên cứu về quá trình chuyển đổi lối sống của một làng ven đô thành phường nội thị trên địa bàn Hà Nội Phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân đã được lựa chọn làm địa bàn nghiên cứu Nghiên cứu này hy v ọng sẽ mang lại hiểu biết mới về những thay đổi trong lối sống củ a người dân vùng ven đô v ốn là nông dân sống trong các làng cổ truyền nay thành những thị dân bắt đầu cuộc sống mới với đổi thay trong sinh kế, cách ứng xử, và đời sống tâm linh
2 Lịch sử vấn đề
Ở Việt Nam, vấn đề ĐTH và tác động của nó đối với xã hội, môi trường, gia đình… đã được nhiều nhà khoa học với giới quản lý đô thị quan tâm Chỉ trong mấy năm gần đây đã có nhiều hội thảo về ĐTH, đã có nhiều công trình nghiên cứu
về các khía cạnh khác nhau của quá trình này
Những người nghiên cứu về đô thị Hà Nội chủ yếu từ những năm 60 trở về đây như Trần Quốc Vượng, Hoàng Đạo Thúy, Trần Huy Liệu, Trần Huy Bá, Vũ
Trang 10Tuấn Sán, Đào Duy Anh, Nguyễn Thừa Hỷ, v.v… đã bắt đầu nói đến đô thị hóa ở
Hà Nội
Trần Quốc Vượng cho rằng cấu trúc đô thị cổ Hà Nội gồm có phần thành và phần thị Thành là trung tâm về chính trị, quân sự, của những người lãnh đạo; vòng ngoài là La thành, sau đến Phượng thành hay Hoàng thành, rồi đến Tử Cấm thành
Ở Hà Nội, bên cạnh thành có thị, đó là các phố chợ Hà Nội còn có các làng nông nghiệp chen giữa phố và chợ, còn được gọi là khu Thập Tam Trại Trần Quốc
Vượng trong cuốn “Hà Nội ngàn năm văn vật” đã bàn về các thành cổ Việt Nam
và các đô thị cổ ở Việt Nam Một số bài nghiên cứu của ông đã đề cập khá nhiều
khía cạnh khác nhau về Hà Nội: Vị thế địa lý và lịch sử Hà Nội (1984), Qua di tích
đoán nhận phố phường Hà Nội cổ (1986), Thăng Long - Đông Đô - Kẻ Chợ (quy hoạch chung và mảng chợ búa nói riêng) (1987), Giải ảo hiện thực về xứ Đống Đa
và gò Đống Đa (1989), Tìm về bản sắc văn hóa dân tộc của văn hóa Hà Nội
(1993), Hà Nội nghìn xưa những nghịch lý của phát triển (1994)
Hoàng Đạo Thúy có nhiều công trình viết về lịch sử Hà Nội như Thăng
Long - Đông Đô - Hà Nội (1971), Phố phường Hà Nội xưa (1974) Đáng chú ý
nhất trong thời kỳ này là Lịch sử thủ đô Hà Nội do Trần Huy Liệu chủ biên (1960)
Đây là công trình có tính chất tổng hợp, toàn diện đầu tiên về Hà Nội
Luận án tiến sĩ nghiên cứu về Hà Nội Thăng Long - Hà Nội thế kỷ 17 - 19
của Nguyễn Thừa Hỷ, bảo vệ năm 1985, xuất bản năm 1993, đã mô tả quá trình đô thị hóa của Hà Nội trong thời phong kiến, diện mạo kinh tế, xã hội của một thành thị trung đại Việt Nam
Nguyễn Vinh Phúc - thường được gọi là nhà Hà Nội học - là người chuyên phân tích lịch sử của Hà Nội và ngợi ca lối sống thanh lịch của đô thị, đối lập lối sống của thị dân và nông dân Ông đề cao lối sống đô thị, cho rằng lối sống đô thị
là lối sống cao Có thể kể đến một số công trình như: Hà Nội phố làng biên niên sử của Nguyễn Bắc và Nguyễn Vinh Phúc (1999), Các khu phố cổ Hà Nội, Sự phát
triển của Hà Nội nhìn qua các di tích lịch sử văn hóa (Nguyễn Vinh Phúc, 1994)
Mới đây là cuốn Hà Nội thành phố nghìn năm (2009) Các tác phẩm này đã cung
cấp những thông tin mới trong nghiên cứu về Hà Nội
Nguyễn Quang Ngọc - Nguyễn Văn Chính (1985) với nghiên cứu “Khu
Thập Tam Trại: Nguồn gốc dân cư, tín ngưỡng thành hoàng và đặc điểm kinh tế”
đã đem đến cho giới nghiên cứu quan điểm về cấu trúc thành cổ Hà Nội và quá trình đô thị hoá của một thành phố thời tiền thực dân
Trang 11Trong số những công trình này, chúng ta không thể không nhắc đến công
trình khảo sát thực địa tương đối quy mô Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX của Nguyễn
Văn Uẩn Bộ sách gồm 3 tập, xuất bản năm 1995 và tái bản năm 2000 Đây là bộ sách viết về lịch sử Hà Nội trong 50 năm đầu của thế kỷ XX, trong đó nghiên cứu khá cụ thể về lịch sử làng Nhân Chính cổ truyền Trong nghiên cứu này, ông tập trung mô tả về nguồn gốc, lịch sử hình thành và phát triển của các làng Mọc ở thế
kỷ 17 - 18 (cuối Hậu Lê - đầu Nguyễn), trong đó có các làng Mọc thuộc xã Nhân Mục Môn (sau này là xã Nhân Chính)
Nói về quá trình đô thị hóa của thời kỳ thực dân, Trịnh Duy Luân và Hans
Schenk trong cuốn Nơi ở và cuộc sống của cư dân Hà Nội đã mô tả về quá trình
hình thành, thay đổi và cuộc sống của cư dân khu phố Tây - khu phố thời Pháp, các biệt thự, dinh thự, công sở, khu tập thể XHCN Trong đó, các tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của thực dân trong thời kỳ phố Tây Chính công cuộc khai thác thuộc địa của người Pháp ở Đông Dương đã làm nảy sinh nhu cầu phát triển
Hà Nội thành một đô thị kiểu châu Âu với những đường phố rộng, các khuôn viên
và các khu biệt thự kiểu pha trộn kiến trúc châu Âu và bản địa mà ngày nay chúng
ta vẫn còn quan sát được
Di sản kiến trúc Pháp ở Đông Dương, đặc biệt là Hà Nội cũng được nghiên cứu nhằm tìm hiểu những ảnh hưởng của kiến trúc, mô típ trang trí, cách thức tổ chức không gian làm việc, sinh hoạt, công cộng tới diện mạo kiến trúc Hà Nội
trong thế kỷ XX Đáng chú ý là công trình Hà Nội - chu kỳ của những đổi thay,
hình thái kiến trúc và đô thị là tập hợp các bài nghiên cứu của các kiến trúc sư
người Pháp và Việt Nam đã bổ khuyết lĩnh vực này của Hà Nội
Thành phố Hà Nội thời kỳ thực dân cũng được phản ánh đậm nét qua văn chương hiện thực phê phán Phần lớn các tác phẩm thời kỳ 1932 -1945 tập trung miêu tả thực trạng đen tối của xã hội đương thời Đọc các thiên phóng sự của Vũ Trọng Phụng, Tam Lang, Trọng Lang… sẽ thấy các ông nhập vai vào đủ hạng người, hoá thân vào mỗi kiếp sống, chui rúc vào khắp các xó xỉnh, ngóc ngách tối tăm, nhớp nhúa của đô thị - thế giới của những tay anh chị, ma cô, đĩ điếm, cờ bạc
và những hạng người dưới đáy xã hội Các nhà văn hiện thực phê phán đã mô tả đậm nét sự tương phản giữa tầng lớp ăn chơi ở Hà Nội và những người nghèo, dưới đáy của xã hội Người ta thấy tình trạng cùng quẫn của những tầng lớp tiểu tư sản và dân nghèo thành thị dưới chế độ thực dân nửa phong kiến, đó là những người thị dân, công chức, giáo viên thị dân, với niềm tin vào tài trí của mình họ quyết xây dựng cho cá nhân mình một sự nghiệp, một danh vọng để sự tồn tại của
Trang 12mình thực sự có ý nghĩa trên đời, nhưng dưới ách thực dân, thân phận anh trí thức
nô lệ đã bị vùi dập tàn nhẫn (Sống mòn, Nam Cao), và ta cũng thấy lưu manh hoá
dường như là con đường tất yếu của người dân nghèo thành thị bị đẩy đến bước
đường cùng trong xã hội cũ (Tiêu biểu có các tác phẩm: Không một tiếng vang,
Cạm bẫy người, Kỹ nghệ lấy Tây, Cơm thầy cơm cô, Làm đĩ, Lục sì của Vũ Trọng
Phụng; Tôi kéo xe của Tam Lang; Hà Nội lầm than của Trọng Lang) Một xã hội
đầy biến động và bát nháo được mô tả với đầy đủ các số phận, hạng người, tạo nên cảnh lên voi xuống chó, gái lành thành gái điếm, công tử thành cờ bạc bịp, ông lý thành phu xe, kẻ vô học thành đại trí thức, thằng lưu manh thành “anh hùng cứu quốc”, mụ me Tây được “tiết hạnh khả phong”, thằng đại bất nhân đọc diễn văn về lòng nhân đạo, rồi đang thù hoá bạn, đang bạn hoá ra thù, kẻ bị khinh bỉ bỗng được
trọng vọng, người bị dầy xéo trở nên đầy quyền thế (Giông Tố, Số đỏ, Trúng số
độc đắc của Vũ Trọng Phụng) Đặc biệt, đọc “Số đỏ” người ta thấy cả một Hà Nội
hiện ra trước mắt Tất cả là lối sống của cái xã hội thành thị thời thực dân nửa phong kiến đã được tiểu thuyết hóa
Dưới thời kỳ XHCN với nền kinh tế kế hoạch tập trung, đô thị hầu như không phát triển Các nhà quản lý đã cho ra đời nhiều chính sách để ngăn dòng di dân về đô thị Vì vậy, ở giai đoạn này, vấn đề đô thị hóa được rất ít người nghiên cứu
Bước sang thời kỳ đổi mới, với chính sách phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, đô thị hoá được coi trọng hơn, nhà nước đã bắt đầu có những chính sách khuyến khích phát triển đô thị Từ đó người ta bắt đầu nghiên cứu về vấn đề đói nghèo ở đô thị, quy hoạch ở đô thị và chính sách đô thị
Cuốn Đô thị hoá và cấu trúc đô thị Việt Nam trước và sau đổi mới 1979 -
1999 (2008) của Lê Thanh Sang đã đem đến cái nhìn tổng quan về đô thị hoá và
các lý thuyết đô thị hóa, đô thị hoá ở Việt Nam: Quá khứ và hiện tại, tăng trưởng
đô thị ở Việt Nam trước và sau đổi mới… Nghiên cứu này trình bày một phân tích toàn diện về tăng trưởng đô thị, di cư đến đô thị, và chức năng đô thị Việt Nam Cụ thể hơn, tác giả phân tích các thành tố (tăng tự nhiên, di dân thuần, và thay đổi địa giới) của tăng trưởng đô thị giữa hai thời kỳ Tổng điều tra dân số 1979-1989 và 1989-1999; các khuôn mẫu vĩ mô và nhân tố quyết định của di cư đến đô thị trong những thập niên 1980, 1990; và các chức năng được chuyên môn hoá của đô thị Việt Nam trong thập niên 1990 Giai đoạn 1979-1989 phản ánh các tính chất của một nền kinh tế kế hoạch tập trung Trong khi đó, giai đoạn 1989-1999 phản ánh
sự chuyển đổi từ mô hình kinh tế cũ sang nền kinh tế thị trường Các phát hiện
Trang 13chính cho thấy rằng, trên cấp độ toàn quốc, đô thị hoá ở Việt Nam bị ngưng trệ trong thời kỳ 1979-1989 như là kết quả của các chính sách kìm hãm Tăng tự nhiên dân số là thành tố quan trọng nhất đóng góp cho tăng trưởng đô thị trong cả hai thời kỳ trên, nhưng sự đóng góp của di dân đã tăng lên một cách ấn tượng trong
giai đoạn sau Đổi mới
Đô thị Việt Nam trong thời kỳ quá độ (2006) của nhóm tác giả Nguyễn Thị
Thiềng, Phạm Thuý Hương, Patrick Gubry, Franck Castiglioni, Jean-Michel Cusset, tập hợp những kết quả chính của nhóm nghiên cứu Pháp - Việt trong chương trình Nghiên cứu đô thị vì sự phát triển (PRUD) do Bộ Ngoại giao Pháp tài trợ Thông qua các công trình này, chúng ta có thể hiểu thêm những thách thức của quá trình phát triển đô thị ở Việt Nam dưới hai áp lực kinh tế và dân số, một mặt
do sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường toàn cầu hoá và mặt khác do dân số đô thị tăng nhanh Hội nhập quốc tế và đô thị hoá nhanh, phát triển kinh tế như vũ bão, phân quyền/phân cấp quản lý đô thị, hiện đại hoá hình thức xây dựng nhưng chưa kiểm soát tốt việc đô thị hoá vùng ven đô, biến đổi trong quản lý dịch vụ đô thị v.v là những quá trình đòi hỏi chính quyền địa phương phải tăng cường kỹ năng quản lý công trình đô thị
Cùng với đó, cuốn Thăng Long - Hà Nội mười thế kỷ đô thị hoá của Trần
Hùng, Nguyễn Quốc Thông (2004), nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của đô thị Thăng Long - Hà Nội nhằm phác hoạ nên diện mạo của Thăng Long -
Hà Nội qua từng thời kỳ lịch sử; các giai đoạn đô thị hóa, triển vọng phát triển đô thị trong tương lai Một số biến động về diện tích, dân số
Trịnh Duy Luân với cuốn Tác động kinh tế, xã hội của đổi mới trong lĩnh
vực nhà ở đô thị (1998) đã đi vào nghiên cứu tác động kinh tế - xã hội của đổi mới
trên địa bàn đô thị và vấn đề nhà ở; động thái của quá trình sản xuất nhà ở đô thị trong thời kỳ đổi mới; phát triển và hoàn thiện lĩnh vực nhà ở đô thị
Riêng về vấn đề đô thị hóa, văn hóa đô thị, và lối sống đô thị cho đến nay cũng đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu:
Báo cáo kết quả khảo sát xã hội học Những biến đổi kinh tế - xã hội ở Dịch
Vọng trong quá trình đô thị hoá từ Làng, Xã thành Phường thuộc đề tài “Nghiên cứu, điều tra quá trình đô thị hoá từ Làng, Xã thành Phường của Hà Nội, các tồn tại và giải pháp khắc phục” do Trịnh Duy Luân làm chủ nhiệm thực hiện năm
1999, đã đi vào phân tích những biến đổi về kinh tế - xã hội tại Dịch Vọng Kết quả nghiên cứu cho thấy quá trình đô thị hoá ở Dịch Vọng đã dẫn tới sự gia tăng đột biến về dân số và sự chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp nhanh chóng Sự gia tăng
Trang 14về dân số là do “sự trở về quê quán của tầng lớp cán bộ, bộ đội và nhất là dòng người nhập cư đông đảo: sinh viên và người lao động tự do” [Viện xã hội học, 1999: 45] Còn sự chuyển đổi nghề nghiệp từ sản xuất nông nghiệp sang phi nông nghiệp là do “việc mất đất canh tác, chuyển đổi chức năng sử dụng đất, từ đất canh tác sang đất xây dựng cơ sở hạ tầng, dịch vụ đô thị” Kết quả điều tra của đề tài cho thấy đời sống kinh tế của người dân Dịch Vọng khá hơn so với trước khi trở thành phường Tuy nhiên, đời sống khá lên là do người dân nơi đây nhận tiền “đền
bù đất, bán đất và có nhà cho thuê, chứ không phải do chuyển đổi nghề nghiệp hay phát triển sản xuất, kinh doanh” [Viện xã hội học, 1999: 19] Mặt khác “thanh niên bước vào tuổi lao động chưa được trang bị vốn văn hoá, kiến thức, tay nghề để thích ứng với đòi hỏi lao động công nghiệp và các ngành nghề khác” [Viện xã hội học, 1999: 20] Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp và xuất hiện các tệ nạn xã hội như trộm cắp, nghiện hút… Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng chỉ ra rằng “nếu nông dân chỉ trông chờ vào số tiền tương đối lớn do được đền bù hay bán đất canh tác, đất thổ cư để cải thiện đời sống vật chất trước mắt mà không đầu tư được vào sản xuất, mở mang ngành nghề, tạo điều kiện làm ăn lâu dài… thì con đường đó không đảm bảo cho bản thân các
hộ gia đình và cộng đồng sự phát triển bền vững” [Viện xã hội học, 1999: 46] Các tác giả đề tài cũng chỉ ra có sự thay đổi ít nhiều nhưng những mối quan hệ họ hàng, làng mạc truyền thống vẫn được gìn giữ bảo tồn
Cùng nghiên cứu biến đổi kinh tế - xã hội trong quá trình đô thị hoá, đề tài
cấp Viện do Nguyễn Hữu Minh làm chủ nhiệm đi vào nghiên cứu “Biến đổi kinh
tế - xã hội ở vùng ven đô Hà Nội trong quá trình đô thị hóa” Các tác giả đã chỉ ra
rằng: Sự chuyển biến quá đột ngột về hành chính có thể làm cho một bộ phận dân
cư chưa kịp chuẩn bị với những đòi hỏi của cuộc sống đô thị, dẫn đến những hẫng hụt Nhịp sống, cơ cấu xã hội và các mối quan hệ xã hội ở nông thôn có thể thay đổi một cách cơ bản Bên cạnh sự thay đổi các chuẩn mực văn hóa cộng đồng là sự thay đổi thái độ, hành vi và ứng xử của mỗi cư dân khu vực ven đô trong đời sống
gia đình và xã hội Cùng với nhận định cả đề tài “Những biến đổi kinh tế - xã hội ở
Dịch Vọng trong quá trình đô thị hóa từ Làng, Xã thành Phường”, các tác giả
cũng chỉ ra những khó khăn chủ yếu trong việc chuyển đổi việc làm của người dân vùng đô thị hóa là trình độ học vấn, tay nghề thấp và thiếu vốn Tại những vùng ven đô các ngành nghề phi nông nghiệp tăng dần tỉ trọng và theo các tác giả đề tài những yếu tố tác động chủ yếu đến sự thay đổi nghề nghiệp của các địa phương trong quá trình đô thị hóa là: sự thay đổi chính sách vĩ mô của nhà nước, sự hình thành các khu công nghiệp, mạng lưới giao thông phát triển, sự thay đổi quyền sử
Trang 15dụng đất của dân cư, sự tồn tại các ngành nghề truyền thống của địa phương, thị trường tiêu thụ, sự phát triển của khoa học và công nghệ Do có sự thay đổi trong
cơ cấu nghề nghiệp nên cơ cấu nguồn thu và mức sống của người dân vùng ven đô cũng thay đổi Đi cùng với những biến đổi về nghề nghiệp, cơ cấu nguồn thu và mức sống là những biến đổi về kiến trúc nhà ở, cơ sở hạ tầng và môi trường Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng cho thấy vùng ven đô đang diễn ra những biến đổi trong đời sống xã hội như biến đổi trong khuôn mẫu hôn nhân, đời sống tinh thần, quan hệ ứng xử và sử dụng thời gian rỗi Theo các tác giả, khi thu nhập tăng lên, đời sống được cải thiện, người dân vùng ven đô đã chú trọng nhiều hơn đến đời sống tinh thần cũng như nâng cao trình độ học vấn Tính chất cộng đồng làng xã ở vùng ven đô vẫn được duy trì Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra việc sang hàng xóm chơi vào những lúc nhàn rỗi không được thường xuyên như trước đây
Sự giao lưu cởi mở gần gũi với phong cách ứng xử xuề xòa, thân mật đã dần mất
đi Thay vào đó là lối giao tiếp theo kiểu khép kín, tôn trọng cuộc sống cá nhân
Dưới góc độ lối sống đô thị, Lê Như Hoa đã cho công bố một loạt công
trình về vấn đề này, trong đó bao gồm: Lối sống trong đời sống đô thị hiện nay (1993); Lối sống đô thị miền Trung mấy vấn đề lý luận và thực tiễn (1996); và Bản
sắc dân tộc trong lối sống hiện đại (2003) Các công trình này đã tập trung vào
phân tích lối sống đô thị và đưa ra những nhận xét về lối sống đô thị nước ta hiện nay
Trong cuốn Bản sắc dân tộc trong lối sống hiện đại, Lê Như Hoa cho rằng
việc hình thành lối sống đô thị hiện nay bị chi phối bởi một số nhân tố kinh tế - xã hội - văn hóa đó là: Sự biến đổi cơ cấu xã hội - nghề nghiệp của dân cư đô thị; sự chuyển đổi định hướng giá trị của các nhóm xã hội; sự thay đổi chức năng, vai trò của các bộ phận trong guồng máy điều hành quản lý đô thị; điều kiện hiện thực (mức sống)
Bàn về lối sống đô thị Việt Nam, Trịnh Duy Luân, với công trình Xã hội
học đô thị đã tập trung bàn về các phương diện xã hội của đô thị; trong đó đáng
lưu ý những kiến giải về mối quan hệ giữa quá trình ĐTH với phát triển kinh tế và biến đổi lối sống đô thị, các chuẩn mực cũng như mô hình ứng xử của cư dân đô thị Đây là công trình tiếp cận từ góc độ xã hội học nên đã có tầm nhìn mang tính khái quát về các vấn đề xã hội của tiến trình ĐTH ở nước ta Tác giả cho rằng, trong bối cảnh đổi mới ở nước ta, nền kinh tế thị trường có sức thẩm thấu đặc biệt nhanh chóng ở các đô thị lớn Tác động của nó được thấy ngay trong đời sống, cảnh quan phố phường ngày hôm nay, sự phong phú của hàng hóa, phương tiện
Trang 16sinh hoạt Sâu xa hơn là những biến đổi trong kết cấu nghề nghiệp - xã hội của dân
cư, mức sống vật chất và tinh thần, lối sống và khuôn mẫu hành vi ứng xử của các nhóm xã hội, trên cả hai mặt tích cực và tiêu cực Những thay đổi trong cấu trúc xã hội và điều kiện sống của cư dân đô thị tất yếu sẽ dẫn đến những khuôn mẫu hành
vi và lối sống của họ Với quan điểm này thì rõ ràng khi quá trình đô thị hóa diễn
ra làm biến đổi cấu trúc xã hội sẽ tất yếu dẫn đến những thay đổi trong mô hình ứng xử, các quan niệm và định hướng giá trị… để thích ứng với môi trường xã hội mới Nói đến nhân tố tác động đến lối sống đô thị nước ta hiện nay tác giả cho rằng, với nhiều yếu tố tác động khác nhau, đang hình thành một lối sống đô thị
“quá độ”, pha tạp với sự pha trộn trong việc tiếp thu và phổ biến các chuẩn mực khác nhau trong đời sống văn hóa - xã hội đô thị Sự phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo cũng đang hình thành và phân cách rõ rệt lối sống của lớp người giàu
có, trong sự tương phản với lối sống của nhóm người nghèo Ngoài ra tác giả còn đưa ra hàng loạt các yếu tố khác tác động đến lối sống đô thị như: hệ thống quản
lý, ý thức pháp luật, văn hóa pháp luật của người dân, tính chất phức tạp về nguồn gốc xã hội của dân cư đô thị, cũng như điều kiện sống còn khó khăn của họ
Ngoài ra, còn phải kể đến tác phẩm: Biến đổi của văn hóa đô thị Hà Nội -
Thực trạng và giải pháp (2010) của Phan Đăng Long, Biến đổi văn hóa đô thị Việt Nam hiện nay (2006) của Nguyễn Thanh Tuấn, Những biến đổi về giá trị văn hoá truyền thống ở các làng ven đô Hà Nội trong thời kỳ đổi mới (Ngô Văn Giá, 2007),
Đô thị hóa - một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam của Hà Huy Thành
trong sách Phát triển đô thị bền vững (2002)…
Có thể nói những công trình kể trên đã có những đóng góp về thực tiễn cũng như lý luận trong quá trình phát triển ở nước ta hiện nay Đây là các công trình nghiên cứu một cách tổng thể quá trình ĐTH ở nước ta hiện nay, là cơ sở quan trọng cho việc tiếp tục nghiên cứu sâu các vấn đề về đời sống tinh thần, về văn hóa và lối sống đô thị Các nghiên cứu này tuy nhiên thường nặng về định hướng chính sách trong khi còn rất ít các khảo cứu dân tộc học mô tả quá trình chuyển đổi lối sống của người dân từ các làng cổ truyền thành các phường đô thị
Luâ ̣n văn này nghiên c ứu một trường hợp cụ thể của mô hình chuyển đổi từ làng đến phố Địa bàn nghiên cứu chính là Phường Nhân Chính – vốn gốc gác từ một làng cổ kính ven đô thành một phường mới thành lập vào đầu năm 1997 Có thể xem đây là một địa bàn lý tưởng để khảo sát về quá trình chuyển đổi lối sống
từ làng đến phố
Trang 17Nghiên cứu này được chờ đợi góp thêm một góc nhìn sâu hơn về lối sống
đô thị ở Hà Nội hiện nay, đồng thời cung cấp thông tin về một loại hình đô thị hóa còn ít được chú ý ở các vùng ven
Quá trình từ làng đến phố là một quá trình vừa có tính cưỡng bức vừa có tính tự phát Quá trình chuyển đổi từ làng đến phố chưa được nghiên cứu nhiều, đặc biệt là nghiên cứu sâu ở tầm cơ sở như một phường, một làng để có cái nhìn cận cảnh về sự thay đổi lối sống và cấu trúc kinh tế - xã hội chưa được quan tâm nhiều
Trên cơ sở kế thừa những thành quả của các công trình đi trước, chúng tôi
đi vào nghiên cứu biến đổi lối sống của một làng ven đô đã chuyển thành phường trong bối cảnh đô thị hóa ở Hà Nội với mong muốn đem lại một mô tả dân tộc học
về góc độ văn hóa không gian, lối sống và ứng xử của người dân trong đời sống
thường ngày của họ dưới tác động của ĐTH Mối quan hệ giữa người dân sở tại -
người nhập cư, tác động của mối quan hệ đó đến tính cố kết của cộng đồng làng như thế nào? Sự thích ứng của người dân với quá trình chuyển đổi? Vai trò của các thiết chế tôn giáo chung và niềm tin của người dân đối với các tôn giáo đó hiện nay? Trong quá trình chuyển đổi, lối sống cá nhân và gia đình có gì thay đổi, gia đình, dòng họ bền chặt hơn hay trở nên rệu rã? Sự thay đổi của không gian và kiến trúc đô thị, cấu trúc dân số và hoạt động kinh tế của người dân cũng như vai trò của chính quyền, người dân sở tại, người nhập cư trong việc định hình lối sống của khu vực Đó là những câu hỏi mà luận văn cố gắng làm sáng tỏ
3 Chính sách đô thị hoá ở Việt Nam và vấn đề đô thị hoá ở Hà Nội 3.1 Chính sách ĐTH ở Việt Nam và những thay đổi của nó
Trước Đổi mới (1986), chiến lươ ̣c phát triển của Viê ̣t Nam được dựa trên
cơ sở của nền kinh tế quan liêu bao cấp Các nhà hoạch định chính sách những năm 1960-1980 đã cố gắng giảm thiểu sự khác biệt giữa thị dân và nông dân, giữa thành thị và nông thôn bằng chính sách h ạn chế dòng dân số về các thành phố và hướng dòng di dân tới các khu công nghiệp và các làng kinh tế mới ở miền núi và hải đảo Vì vậy quá trình đô thị hoá ở Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng phát triển chậm chạp Tỷ lệ dân đô thị năm 1960 là 15%, đến trước năm 1986, tỷ lệ này mới chỉ đạt 19% [Viện Xã hội học, 2003]
Ở miền Bắc được dẫn dắt bởi học thuyết xã hội chủ nghĩa, chính phủ đã áp dụng chiến lược công nghiệp hoá dựa trên công nghiệp nặng (với sự trợ giúp chủ yếu của Liên Xô và Trung Quốc) và ĐTH bị giới hạn ở mức thấp thông qua các
Trang 18chính sách kinh tế và quản lý nhân hộ khẩu1 Và, để hạn chế thiệt hại do chiến tranh phá hoại gây ra, các công trình công nghiệp quan trọng và một phần dân cư ở thành phố được chuyển về nông thôn tạo ra một quá trình “giải ĐTH” (de urbanization) tạm thời Tỷ lệ dân số sống ở các đô thị2 miền Bắc chỉ tăng từ 7% năm 1954 lên 11% năm 1975 [Lê Thanh Sang, 2008]
Trong khi đó, từ 1954 đến 1975, miền Nam Việt Nam áp dụng một mô hình chính trị và kinh tế khác hẳn Một nền kinh tế thị trường tương đối phát triển trong điều kiện chiến tranh ác liệt ở nhiều vùng nông thôn Từ 1954 đến 1975, mức độ ĐTH đã gia tăng nhanh ở miền Nam Kết quả là tỷ lệ dân số đô thị ở miền Nam đã
tăng từ 27% năm 1955 lên đến 40% năm 1974, thường được biết đến như là “quá
trình ĐTH cưỡng bức”[Lê Thanh Sang, 2008]
Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, chính phủ Việt Nam áp dụng trên phạm vi toàn quốc các chính sách công nghiệp hoá và ĐTH đã được tiến hành ở miền Bắc trước đây Trong khi kiểm soát di cư từ nông thôn đến đô thị, một số đông dân cư đô thị của các thành phố phía Nam được khuyến khích trở về quê gốc hoặc đi xây dựng các khu kinh tế mới, trong khi một bộ phận dân cư đô thị phía Bắc được điều chuyển đến các đô thị phía Nam để đảm trách các công việc quản lý nhà nước và sản xuất Quá trình ĐTH dần lấy lại nhịp độ bình thường trong điều kiện hoà bình Nhiều thành phố mới ra đời, nhiều điểm dân cư nông thôn trước đây, các thị trấn, thị tứ trở thành các điểm dân cư đô thị Mạng lưới đô thị của cả nước hình thành bao gồm hơn 500 thành phố, thị xã, thị trấn đủ các cỡ, trong đó có hai thành phố trên 1 triệu dân (Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh) [Trịnh Duy Luân, 1996: 23]
Các chính sách đổi mới3 kinh tế bắt đầu chính thức từ năm 1986 và sự giảm
dần những hạn chế về đăng ký tạm trú, tạm vắng trong giai đoạn sau Đổi mới đã
kích thích tăng trưởng kinh tế, khuyến khích các dòng di dân từ nông thôn đến đô thị, và quá trình tăng tốc ĐTH trong thập niên 1990 và những năm sau đó Kết quả
1 Hệ thống đăng ký hộ khẩu yêu cầu mỗi cá nhân phải đăng ký hộ khẩu thường trú ở một địa phương nhất định (hoặc là phường, thị trấn và các cơ quan, xí nghiệp đối với đô thị, hoặc là làng xã và nông trường đối với nông thôn) và sự di chuyển đến nơi khác phải được sự cho phép của cấp có thẩm quyền Hộ khẩu cũng đồng thời xác định tình trạng nghề nghiệp của một cá nhân là nông nghiệp hoặc phi nông nghiệp Trong thời kỳ bao cấp, hộ khẩu thường trú còn liên quan đến sự cung cấp của chính phủ về việc làm, nhà ở, lương thực, thực phẩm, giáo dục, chăm sóc y tế và các lợi ích khác
Trang 19là, mức độ ĐTH trong toàn quốc đã tăng lên nhanh chóng trong giai đoạn sau Đổi
mới Mặc dù chính phủ không trực tiếp khuyến khích nhập cư đô thị, nhất là các đô
thị lớn, nền kinh tế thị trường đang vận hành trong hai thập niên qua đã là nhân tố
cơ bản đứng sau quá trình tăng tốc ĐTH trên
Nhìn chung, trong nhiều thập kỷ dưới chế độ bao cấp, và ngay cả gần đây, khi nền kinh tế đã chuyển sang định hướng thị trường, Việt Nam vẫn chưa có một chính sách rõ ràng về đô thị Đã có thời kỳ người ta xem đô thị như là một khu vực
ăn bám, bóc lột, và đầy rẫy những tệ nạn xấu xa cần dẹp bỏ Vì thế phát triển đô thị không phải là một ưu tiên trong các kế hoạch dài hạn của chính phủ, ngược lại, xoá bỏ sự khác biệt giữa nông thôn và đô thị, và di chuyển dân từ những vùng đông đúc đến các khu kinh tế mới ở nông thôn và miền núi đã trở thành một chiến lược phát triển của thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá Tuy nhiên, chính sách mở cửa và cải cách kinh tế hồi cuối thập kỷ 80 đã làm thay đổi xã hội Việt Nam, và sự bùng
nổ đô thị hoá đang trở thành một khuynh hướng tất yếu
3.2 Vấn đề ĐTH ở Hà Nội
Trong khoảng hơn một thập kỷ qua, Hà Nội đã mở rộng cả về ranh giới hành chính lẫn quy mô số dân thành thị, cho thấy Hà Nội đã bắt đầu một thời kỳ ĐTH nhanh và mạnh Từ năm 1986 đến nay, với việc chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt từ khi đất nước bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ giữa thập niên 1990, ở Hà Nội cũng như các tỉnh, thành khác, quá trình đô thị hóa đã diễn ra với tốc độ, quy mô ngày một lớn hơn
Dân số Hà Nội tăng từ 2 triệu người (1990) lên hơn 2,7 triệu người, trong
đó dân số ở khu vực đô thị tăng từ 1 triệu (1990) lên xấp xỉ 1,6 triệu người (2000) [Nguyễn Văn Chính, 2008] Sự gia tăng dân số ở khu vực đô thị Hà Nội là kết quả của quá trình mở rộng về không gian đô thị bằng cách bao gồm các làng nông nghiệp xung quanh vào khu vực đô thị, và một phần là hậu quả của sự gia tăng dòng nhập cư vào thành phố Sự phát triển đó phù hợp với xu thế tăng tốc của đô thị, song cũng đặt ra không ít những thách thức về sự phát triển bền vững và
“trong lành” Nhất là sự chênh lệch giữ nội thành và ngoại thành, giữa đô thị và nông thôn
Cùng với quá trình tăng trưởng đô thị, thủ đô ngày càng được mở rộng về diện tích, chất lượng sống của người dân cũng được nâng cao hơn so với trước đây Đó là quá trình mở rộng theo cả bề rộng và chiều sâu Cấu trúc của toàn bộ thành phố cho phép chúng ta nhận dạng các khu phố, các bước phát triển và mô
Trang 20hình đô thị tương ứng với từng khu Tuy nhiên, quá trình đô thi ̣ hóa ở Hà Nội thời hiện đại không diễn ra đồng đều Ngược lại, quá trình này đang diễn ra dưới những hình thức, mức độ và quy mô khác nhau Có thể khái quát các hình thức đô thị hóa
ở Hà Nội theo năm mô hình chính: (1) Mô hình khu phố cũ; (2) Mô hình ĐTH trong thời kỳ kinh tế bao cấp bao gồm các khu tập thể xã hội chủ nghĩa; (3) Mô hình ĐTH sau thời kỳ bao cấp bao gồm: sự hình thành của các khu công nghiệp ở các vùng ngoại vi, sự phát triển các khu đô thị mới theo quy hoạch; (4) Sự xuất hiện và tồn tại của các xóm liều, xóm ma, xóm nhảy dù, gọi chung là các khu cư trú bất hợp pháp của dân di cư nghèo từ vùng nông thôn của các tỉnh lân cận đổ về
Hà Nội; (5) Mô hình từ làng đến phố hay cụ thể hơn đó là quá trình mở rộng thành phố lên các làng cổ truyền và sự bao gồm các làng ven đô vào khu vực nội thị Mỗi
mô hình đô thị hóa có những đặc điểm riêng về dân số học, kiến trúc, cơ sở hạ tầng, mức sống, văn hóa tiêu dùng, cách ứng xử và lối sống khác nhau
3.2.1 Mô hình khu phố cũ
Như đã nói, Hà Nội, thủ đô ngàn năm văn hiến, được hình thành từ cách
đây 10 thế kỷ, như cách gọi trong tiếng Việt là thành thị hay đô thị, được tạo thành
từ hai yếu tố khởi nguồn chủ yếu Yếu tố thứ nhất là thành hoặc đô chỉ một toà
thành, có nghĩa là nơi tập trung quyền lực, hệ thống chính trị vương triều, luôn
khép kín trong bốn bức tường thành kiên cố Yếu tố thứ hai là thị có nghĩa là chợ
Đây là yếu tố cơ bản để phát triển khu phố buôn bán bên ngoài những bức tường thành Đó chính là trung tâm kinh tế của đô thị với các hoạt động thương mại, thủ công nghiệp và cư trú của dân
Các nghiên cứu về Hà Nội cho biết dưới thời Pháp thuộc, giữa lòng kinh đô
cổ kính vẫn tồn tại các làng nông nghiệp chen giữa phố và chợ [Nguyễn Văn Chính 1985, Nguyễn Quang Ngọc - Nguyễn Văn Chính 1986] Một bộ phận quan trọng tạo nên dáng dấp của Hà Nội cũ là những phố nhỏ của thợ thủ công và tiểu thương đến từ các làng thuộc đồng bằng sông Hồng mà trong đó mỗi phố nhỏ thường chuyên về buôn bán và sản xuất một mặt hàng nào đó và chủ nhân của những con phố nhỏ hẹp này thường cũng là những người làm nghề cùng làng Đây
là khu vực buôn bán và sinh sống đúng theo kiểu đời sống đô thị của người dân Việt Nam thuộc mọi tầng lớp, và sôi động bởi hoạt động của rất nhiều xưởng thủ công, cửa hàng, quán ăn và dịch vụ
Chính công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp ở Đông Dương đã làm nảy sinh nhu cầu phát triển Hà Nội thành một đô thị kiểu châu Âu
Trang 21Việc du nhập phương thức quy hoạch đô thị kiểu phương Tây cùng với chính sách đô hộ đã dẫn đến sự hình thành một khu phố của người Pháp bên cạnh thành phố hiện có Trong những năm cai trị ở Việt Nam, người Pháp đã làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt của thành phố Hà Nội truyền thống Khu phố của người Pháp thời kỳ thực dân đáp ứng hoàn toàn các tiêu chuẩn của một đô thị phương Tây [Nguyễn Thị Thiềng, 2006]
Các khu phố Tây với những đường phố rộng, các công viên, và các khu biệt thự pha trộn kiến trúc châu Âu và bản địa đã được xây dựng, tạo nên một di sản văn hoá riêng biệt của thời thực dân mà ngày nay chúng ta vẫn còn quan sát được
Bên cạnh khu phố Tây là các xóm - phố của những người bán hàng rong, phu xe, công nhân, những người làm nghề phục dịch trong các gia đình thuộc tầng lớp trên, sinh viên nghèo, và những công chức hạng thấp Phần lớn trong số này là những người di cư đến từ các làng quê trong vùng đồng bằng sông Hồng
Có thể nói cấu trúc dân cư, hoạt động kinh tế và sự hình thành các phường
đô thị mới ở Hà Nội dưới thời thực dân là một sự pha tạp giữa các phố cũ của thợ thủ công và tiểu thương, các phố mới gồm những biệt thự và công sở kiểu châu
Âu, và các làng đô thị hoá dành cho người di cư, công chức hạng thấp và dân nghèo Người nông dân từ các làng quê nghèo ra thành phố kiếm sống, và mối liên
hệ thường xuyên giữa khu vực đô thị và thị dân với các làng nông nghiệp và nông dân đã là một đặc điểm nổi bật của Hà Nội từ dưới thời thực dân [Nguyễn Văn Chính, 2008]
3.2.2 Mô hình ĐTH trong thời kỳ kinh tế bao cấp
Thời kỳ từ 1954 đến 1986 là thời kỳ Việt Nam phải trải qua các cuộc chiến tranh, bị cô lập và khẳng định nền kinh tế theo hướng của Liên Xô Từ lúc này, Hà Nội một lần nữa thoát khỏi sự có mặt bất đắc dĩ của người nước ngoài, nỗ lực xây dựng thủ đô của một đất nước mới Lúc này chính phủ không còn hài lòng với những di sản được xây dựng được xây dựng dưới thời Pháp thuộc, bởi họ phải đối diện với sự xuống cấp nặng nề của các ngôi nhà Từ sau năm 1954, sau khi giành được độc lập, Việt Nam đã có những chính sách xã hội nhằm đáp ứng những nhu cầu của các thành phố lớn ở miền Bắc về mặt nhà ở Một loại hình nhà ở mới đáp ứng nhu cầu về mật độ dân cư, được xây dựng ở ngoài phạm vi mạng lưới đô thị
đã tồn tại trước đó, đó là các khu tập thể (KTT) Các khu nhà này được xây dựng theo mô hình nhà ở tập thể của châu Âu, được du nhập vào Việt Nam qua Trung Quốc, Bắc Triều Tiên và Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa có nền kinh tế kế hoạch hoá đã từng thử nghiệm mô hình này Ở Hà Nội, các KTT được xây dựng
Trang 22trước hết tại những khu vực dành cho ĐTH trong phạm vi thành phố, sau đó được tập trung tại khu vành đai gần nhất, rồi được mở rộng ra tới đường đê, tới sát phần ranh giới phía ngoài của thành phố, dọc theo đường giao thông và những yếu tố cấu thành đô thị khác Những dãy nhà thường là ba hoặc bốn tầng hợp thành một khu rộng lớn, được xây dựng, kiểu nhà này phát triển mạnh ở Hà Nội Nhà không cao, được xây dựng xung quanh những khu thiết bị hạ tầng tập thể, gần một làng ven đô, và ngay từ khi ra đời đã chứng tỏ một sự cải thiện về điều kiện sống cho người dân thành phố [Trần Hùng, Nguyễn Quốc Thông, 2004]
Trung Tự, Thanh Xuân, Giảng Võ là ba khu tập thể lớn, tiêu biểu cho chính sách xây dựng nhà tập thể trước năm 1986 Giảng Võ và Thanh Xuân là hai khu vừa có nhà ở vừa có công trình công cộng, có đầu tư nước ngoài Ở hai khu này, người ta đã cố gắng phân chia khu nhà ở, cửa hàng,… và phân cấp đường giao thông Bạch Đằng là kết quả của đợt xây dựng mới đây (1990), là ví dụ tiêu biểu của kiểu nhà tập thể mới, quy mô xây dựng nhỏ hơn, không gian phù hợp với điều kiện khí hậu và văn hoá của người Việt Nam Tất cả các KTT đều có chung đặc điểm là dân cư đông đúc, người dân cơi nới chỗ ở theo ý của mình
Mặc dù không có một chính sách phát triển đô thị rõ ràng từ sau khi tiếp quản thủ đô Hà Nội vào năm 1954, nhưng những gì mà chính quyền mới đã làm là
cố gắng giảm thiểu sự khác biệt giữa thị dân và nông dân, giữa đô thị và nông thôn Những nhà thiết kế các chính sách phát triển của đất nước vẫn ám ảnh bởi quan niệm cho rằng tầng lớp thị dân, tiểu thương và tư sản là hiện thân của lối sống buông thả, bóc lột và ăn bám Trong thời kỳ bao cấp, chính sách của nhà nước là ngăn cản di dân vào khu phố cổ, phần lớn các KTT được xây dựng cho một loại đối tượng nhất định, chủ yếu là công nhân viên chức, hoặc cán bộ quân đội Và, người ta dùng chính sách quản lý về dân cư, hộ khẩu, lương thực để kiểm soát, không phải công chức nhà nước thì không được phân nhà Cùng với việc xây dựng một hệ thống các khu công nghiệp mới tách khỏi khu vực đô thị Hà Nội và phân bố lại dân cư theo hướng hạn chế dòng chảy dân số về các thành phố, chính sách phát triển ở Việt Nam những năm 1960-1980 là hướng dòng di dân tới các khu công nghiệp và các làng kinh tế mới ở miền núi và hải đảo, ngăn cản di dân nông thôn vào đô thị nhằm giảm bớt các chi phí ĐTH đi kèm với quá trình công nghiệp hoá Những người không có hộ khẩu Hà Nội bị loại ra khỏi thân phận cư dân đô thị, không có chính sách, không được hưởng chính sách đô thị hóa
3.2.3 Mô hình ĐTH sau thời kỳ bao cấp: Khu công nghiệp và khu dô thị mới
Trang 23Vào cuối thập kỷ tám mươi, Hà Nội đã khép lại thời kỳ bốn mươi năm quản
lý đô thị theo kiểu bao cấp Trong suốt bốn mươi năm đó, chiến tranh và mô hình phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa đã khiến nhà nước ưu tiên phát triển công nghiệp và giảm đầu tư trong lĩnh vực xây dựng nhà ở Số lượng nhà ở do các doanh nghiệp nhà nước xây dựng luôn không đủ đáp ứng nhu cầu của người dân thành phố Tuy vậy, Hà Nội cũng đã có những cố gắng rất lớn trong việc tạo ra những khu nhà ở cho cán bộ công nhân viên nhà nước từ các tỉnh khác đến Do thiếu kinh phí, nhà nước đã xây dựng nhiều nhà ở, nhưng cơ sở hạ tầng và công trình công cộng thì không đáp ứng kịp với nhu cầu Tình hình càng trở nên bức xúc hơn khi các khu tập thể được xây dựng để giải quyết tình trạng tập trung dân
Trong bối cảnh đó, ngay từ đầu những năm 1990, nhà nước đã có những nỗ lực trong việc quy hoạch các khu dân cư và khu công nghiệp mới tại Hà Nội Các khu công nghiệp được xây dựng trong thời kỳ này (Khu thương mại Nam Thăng Long, khu công nghiệp Sài Đồng, khu công nghiệp Bắc và Nam Thăng Long, khu công nghiệp Thạch Bàn, Gia Thuỵ…) Hiện nay Hà Nội có 11 khu công nghiệp và chế xuất Theo quyết định của thủ tướng chính phủ ký tháng 1/2009, trong tương lai Hà Nội sẽ có 30 khu công nghiệp - chế xuất chủ yếu nằm ở vùng ven đô, ngoại thành Các khu vực này là đã thu hút một bộ phận khá lớn dân cư từ các vùng nông thôn ven Hà Nội và các tỉnh lân cận đến tìm kiếm việc làm, đồng thời hình thành các dịch vụ ăn theo phục vụ cho công nhân (như nhà nghỉ, nhà hàng, ăn uống, giải trí…) Tại đây, cũng hình thành hàng loạt các khu nhà ở, nhà trọ cho công nhân nghèo, mà đi kèm với nó là các dịch vụ tự phát dành cho công nhân
Dân cư sống trong các khu công nghiệp này chủ yếu là trẻ, gồm 2 nhóm chính: công nhân trực tiếp làm việc trong khu công nghiệp và những người làm dịch vụ, hình thành xung quanh các khu công nghiệp - đô thị Về bản chất, quá trình di cư nông thôn - đô thị vào các khu công nghiệp này đã hình thành nên lối sống của công nhân lao động ở các khu công nghiệp và những người làm dịch vụ Việc thu hút dân số này đã tạo nên các đô thị công nghiệp, tạo nên một hình thái khác với trước Mặc dù cơ cấu kinh tế của khu vực này chủ yếu là công nghiệp và dịch vụ nhưng lối sống lại mang nhiều đặc điểm nông thôn bởi cư dân ở đây chủ yếu là những người lao động từ nông thôn Hiện nay nhiều vấn đề đang được đặt
ra ở khu vực này như vấn đề về điều kiện sống, về môi trường, về vệ sinh, và tệ nạn xã hội Đặc biệt nhiều nghiên cứu đang chú ý đến các nguy cơ lạm dụng tình dục các nữ công nhân và vấn đề nhiễm HIV đang gia tăng ở khu vực này
Trang 24Bên cạnh việc xây dựng các khu công nghiệp, Hà Nội sau Đổi mới trở thành trung tâm đầu tư kinh tế của nhà nước cũng như là địa bàn thu hút vốn đầu
tư nước ngoài cao Các doanh nghiệp nhà nước, nhà máy, xí nghiệp cũ đươ ̣c m ở rộng và hàng loạt công ty mới được thành lập đã thu hút một đội ngũ đông đảo lao động trí thức có trình độ học vấn và chuyên môn Nhà ở cho tầng lớp này trở thành vấn đề cấp bách Chính quyền thành phố đưa ra giải pháp xây dựng các khu đô thị mới trên phần đất của các khu tập thể cũ từ thập niên 60 - 70 hoặc trên các khu đất trống, đất ruộng trước đây của thành phố Một số quận đã thực hiện chương trình nhà ở cho người nghèo Riêng Thanh Xuân từ năm 1984 - 1992 đã xây dựng hoàn chỉnh khoảng 1000 căn hộ tại các khu chung cư để phục vụ cho việc sinh hoạt của người dân và nhà ở cho người có thu nhập thấp Kết quả sau 20 năm ĐTH, lần lượt nhiều khu đô thị (KĐT) mới xuất hiện: (Mỹ Đình, Văn Quán, Mễ Trì, Trung Hoà - Nhân Chính, Linh Đàm, Định Công, Siputra, Pháp Vân…) thay thế dần các khu nhà ở tồi tàn lụp xụp Đặc điểm của các khu đô thị mới là chỉ xây khu dân cư
mà không có khu công nghiệp
Các doanh nghiệp nhà nước có quyền tự chủ tham gia những chương trình xây dựng các KĐT này Họ thiết kế một mô hình ở hiện đại khác với các KTT trước đây, đó là các chung cư cao tầng Căn hộ trong những toà nhà cao tầng ở KĐT có diện tích sinh hoạt lớn hơn căn hộ ở KTT hay nhà ở những quận trung tâm đông đúc trong thành phố Những căn hộ này không được cho thuê hay phân cho các cán bộ công nhân viên như các KTT đã làm, mà tất cả được đem bán Cư dân của khu vực này chủ yếu là cán bộ, công nhân viên chức có công việc ổn định với mức thu nhập tương đối so với mặt bằng chung của xã hội Về cơ bản, họ là những người có mức thu nhập trung bình, khá giả cho đến giầu, tức đều thuộc tầng lớp trung lưu trở lên trong xã hội, chính nhóm này có ảnh hưởng lớn trong việc định hướng xu thế văn hoá, tư tưởng và lối sống đô thị
Cùng với việc xây dựng các KĐT, các khu biệt thự và nhà phân lô cũng được xây dựng trên cùng một khuôn viên Quá trình này đã hình thành nên các khu dân cư theo mô hình chung cư và biệt thự Giá cho một căn hộ ở các KĐT là khá cao, đi kèm với đó là các dịch vụ ăn theo để đáp ứng cho việc sinh hoạt mà chỉ những người có điều kiện kinh tế mới có tiền để sống ở đây, tầng lớp dân nghèo không thể có điều kiện ở trong các khu chung cư này Vì vậy, về mặt lối sống mà nói, dân cư ở đây là những người mới nổi, họ là những người có thu nhập khá trở lên, và là những người có trình độ dân trí cao Hà Nội đã và đang hình thành các khu dân cư có lối sống khác nhau trong quá trình này
Trang 253.2.4 Sự hình thành các xóm liều và xóm di cư
Thuật ngữ “xóm liều” xuất hiện gần đây trên các phương tiện thông tin đại chúng thường được dùng để chỉ những khu vực do người di cư và cả những thị dân nghèo lấn chiếm những khu vực bỏ hoang trong thành phố để làm nơi cư trú và làm việc Những người sống ở đây nói chung thường bất chấp những quy định của pháp luật, sống trong những ngôi nhà tồi tàn và tạm bợ trong khi bản thân họ ít có
cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội so với những khu dân cư khác Theo cách hiểu như vậy thì ở Hà Nội có khá nhiều xóm liều Tuy nhiên các xóm này chủ yếu được tìm thấy ở khu vực ven sông Hồng, gầm cầu Long Biên, “bãi rác” Thanh Nhàn, Thành Công, và những xóm khác ở ngoại ô các quận Thanh Xuân, Hoàng Mai và Cầu Giấy, nơi đang diễn ra quá trình ĐTH nhanh.[Nguyễn Văn Chính, 2008]
“Xóm liều” không phải là một hiện tượng mới ở các đô thị Việt Nam mà ngay từ thời thực dân đã hình thành các xóm liều, giờ đây cùng với tốc độ ĐTH ngày càng nhanh thì các xóm liều hình thành càng nhiều, tràn ra ở tất cả những nơi
có mức độ ĐTH cao (chẳng hạn như ở các gầm cầu) Điều này đã phản ánh bản chất của quá trình ĐTH Đi đôi với quá trình đô thị hóa là quá trình nghèo khổ hóa
đô thị diễn ra ở một bộ phận dân di cư Các khu nhà ổ chuột xuất hiện xen lẫn với các khu dân cư đô thị đông đúc Những người “nghèo tận cùng” của xã hội sống xen lẫn với những dân cư đô thị có đời sống cao, đã tạo cho bức tranh đô thị ở Hà Nội những gam màu tối sáng xen lẫn nhau Nổi bật hơn cả là gia tăng khoảng cách giàu nghèo ở đô thị ngày càng tăng
Cùng với quá trình ĐTH nhanh ở các thành phố lớn, người ta cũng thấy xuất hiện ngày càng nhiều các xóm liều đô thị như một hiện tượng song hành của
sự bùng nổ dòng chảy lao động tự do từ nông thôn về thành phố kiếm việc làm Xóm liều phản ánh sự đói nghèo của đô thị, phản ánh mặt đối lập của ĐTH
Có thể hình dung xóm liều như một thế giới riêng của những người lao động ngoại tỉnh và dân nghèo đô thị Cư dân sinh sống trong các xóm liều rất đa dạng về nguồn gốc, thành phần xuất thân, nghề nghiệp và thân phận xã hội, nhưng
họ đều có đặc điểm chung là những người nghèo đô thị Phần lớn trong số họ là dân từ các tỉnh trôi dạt về Hà Nội kiếm sống, tiếp đó là những người thất nghiệp, nhặt rác, thu nhập thấp, gái điếm… Xóm liều có đặc điểm văn hoá khác nhau bởi vì cư dân trong xóm liều không phải là đồng nhất Hay nói cách khác, xóm liều là không gian sinh tồn của các nhóm dân cư có nguồn gốc xuất thân, mối quan tâm
và quyền lợi khác nhau Họ không phải là cộng đồng có mối liên hệ chặt chẽ “tắt lửa tối đèn có nhau” như các làng cổ truyền Lối sống của họ được điều khiển bởi
Trang 26những “luật lệ” bất thành văn do các thế lực “ngầm” trong xóm đặt ra theo nguyên tắc “đừng thò mũi vào việc của người khác” Nguyên tắc này được tuân thủ nghiêm ngặt đến nỗi nếu ta định hỏi một chuyện có liên quan đến một “nhân vật cộm cán” nào đó trong xóm thì câu chuyện chắc chắn chỉ đi đến chỗ bế tắc vì câu trả lời luôn sẽ là “tôi không biết, không thấy gì cả” [Nguyễn Văn Chính, 2008]
Xóm liều phản ánh bức tranh của đô thị hóa ở Hà Nội, phản ánh một thế giới ngầm trong lòng thành phố, phản ánh một xã hội có đặc điểm văn hoá và lối sống khác hẳn với các cộng đồng dân cư khác Dòng chảy của người lao động tự
do về Hà Nội tìm việc làm vẫn đang tiếp tục tăng lên, và các xóm liều mới sẽ lại mọc lên nếu thành phố chưa có một chính sách toàn diện ở tầm vĩ mô đối với vấn
đề di chuyển lao động nông thôn - đô thị
3.2.5 Từ làng đến phố
Thập niên gần đây, Hà Nội chứng kiến sự mở rộng nhanh chóng về quy mô diện tích Các làng truyền thống vùng ven bỗng chốc được bao gồm vào khu vực nội thị như làng Phú Mỹ, làng Mễ Trì, làng Vòng, làng Nhân Chính , làng Khương Đình Các làng truyền thống bỗng chốc trở thành phường
Có thể nói, mô hình từ làng đến phố là mô hình đáng được quan tâm nghiên cứu trong các mô hình đô thị hóa ở Việt Nam vì nó phản ánh một quá trình chuyển đối, phản ánh rõ nhất những xung đột từ cái cũ sang cái mới, quá trình thích ứng
và chuyển đổi từ nông dân sang thị dân, từ đời sống nông dân sang đời sống thị dân
Cư dân ở đây vốn không phải là thị dân mà là nông dân và thợ thủ công Trước đây, họ chủ yếu là làm nông nghiệp Khi chính quyền thành phố lấy đất xây dựng các khu công nghiệp hay các khu đô thị mới, họ được hưởng một khoản tiền đền bù lớn nhưng lại không còn đất để sản xuất Một nghịch lý là mặc dù sống trong những ngôi nhà cao tầng giàu có xây từ tiền đền bù đất, nhưng người dân lại không có việc làm Nhu cầu về việc làm chuyển đổi trở thành vấn đề bức xúc
Do chính sách đô thị hóa, mà thực ra chỉ là chụp vào cái áo có gắn mác “đô
thị hóa” (nên còn gọi là quá trình đô thị hóa cưỡng bức - đô thị hóa cưỡng chế),
cho nên từ làng thành phố, từ xã thành phường Làng được đặt cho một cái tên mới hoặc vẫn giữ nguyên tên cũ nhưng gắn thêm đằng trước là phường, là phố, thế là bỗng nhiên sau một đêm đường làng thành đường phố, xã thành phường Việc chuyển đổi “từ làng lên phố” đã kéo theo nhiều biến đổi về lối sống, đặc biệt là nhiều vấn đề về văn hoá, xã hội Quá trình này làm hình thành một loạt các vấn đề:
Trang 27Thứ nhất, về đặc điểm về dân số, cư dân ở đó vẫn căn bản là cư dân nông
nghiệp nhưng do quá trình chuyển đổi đô thị hóa nên hình thành một loạt các
nhóm cư dân mới Vậy liệu, có sự liên kết giữa cư dân nông dân tại chỗ và một
bộ phận cư dân chuyển vào để tạo nên phường mới hay không? Giữa dân cũ và dân mới có mối liên kết gì?
Thứ hai, về mặt kết cấu về mặt vật chất, làng cổ truyền chuyển sang hình
thức tổ chức của một đô thị Đường làng được thiết kế lại hoặc đặt cho một cái tên mới Nhà ở khi còn là làng thì được xây theo hướng hợp với tuổi của chủ nhà, giờ chuyển hướng quay ra đường do mục đích của quá trình đô thị hóa, ở đây là thương mại hóa Các công trình công cộng như đình, chùa, miếu mạo, nhà thờ họ, các khu sinh hoạt của xóm vốn là chung của cộng đồng làng; đến khi chuyển thành phường, cộng đồng cũ có thêm một bộ phận dân cư mới đến, họ mua đất làm nhà,
họ không có hiểu biết về tập tục và tín ngưỡng của làng, từ đó họ cũng không có tình cảm chung với các tín ngưỡng, các thiết chế tôn giáo, các sinh hoạt chung của làng Sự xuất hiện của các cư dân mới, một mặt tạo nên sự thay đổi về cấu trúc vật chất; từ đó, mặt khác tạo ra các sắc thái tình cảm khác nhau của cư dân (người làng và người đến sinh sống ở làng) về các tín ngưỡng, về các thiết chế tôn giáo, về tính
thiêng của các thiết chế tôn giáo của làng… Từ đó, đặt ra một loạt các vấn đề: có
hay không sự khác biệt về quan niệm đối với các tín ngưỡng, các thiết chế tôn giáo giữa hai bộ phận cư dân cũ - mới, nếu có sự khác biệt thì nó có làm rạn nứt mối liên kết giữa hai bộ phận cư dân này hay không? Hay, các tín ngưỡng, tôn giáo chung của làng có làm tăng mối liên kết dân cư hay không? Niềm tin của người dân đối với các tín ngưỡng tôn giáo đó có còn không? Niềm tin đó được thể hiện như thế nào? Niềm tin đó là sự sùng bái thực sự, là tình cảm thực
sự đối với việc tu bổ, tôn tạo di tích đó hay phản ánh sự “thoái hoá” của quan niệm về thần linh? Cách thức tổ chức lễ hội, thành phần tham gia trong lễ hội
có thay đổi không?
Thứ ba, là thay đổi về quản lý (hay nói đơn giản, đó là sự biến đổi về quản
lý) Quản lý của làng dựa trên cở sở lối sống của làng, họ mạc (huyết thống), tôn giáo chung, sinh hoạt chung (đất công, công trình công cộng, tập tục chung) Các
lễ hội, sinh hoạt chung của làng đã tạo nên một tâm lý chung cố kết cộng đồng Văn hóa quần chúng trên có tác dụng liên kết cộng đồng, họ hàng Guồng máy làng xã vận hành trên cơ sở luật tục, trên cơ chế láng giềng
Đến khi đô thị hóa, nghiễm nhiên các nhà quản lý đã chụp lên làng cơ chế gọi là phường, hay nói hoa mỹ là cơ chế quản lý theo kiểu đô thị Làng trở thành
Trang 28phường, đường làng trở thành đường phố, ngõ xóm trở thành khu phố, tổ dân phố, cụm dân cư Tuy nhiên, đó chỉ là sự thay đổi về mặt danh nghĩa, còn về cốt lõi thì
đó chỉ là một con người cũ được thay cho một cái tên mới mà thôi chứ không phải
là tự thân nó thay đổi Thế nhưng, sự thay đổi mang tính cưỡng chế này lại làm thay đổi mạnh mẽ các quan hệ vốn có trước đây trong làng xã
Từ cung cách quản lý của làng xã truyền thống chuyển sang cung cách quản
lý theo cơ chế của phường đã tác động mạnh mẽ đến lối sống cộng đồng Vai trò của huyết thống, tôn giáo chung, sở hữu chung, công trình công cộng, tập tục chung v.v… vốn là những thứ rất quen thuộc cố hữu trong đại bộ phận dân làng
xã, nay bỗng nhiên trở thành cái gì đó xa lạ đối với số dân chuyển đến Liệu rằng, những người xa lạ xuất hiện trong cộng đồng có làm cộng đồng đó rệu rã không,
có hay không hình thành lối sống nửa quê nửa tỉnh? Từ nhịp điệu cuộc sống chậm chạp của thôn quê chuyển sang thời gian gấp gáp của nhịp điệu đô thị, từ nhịp điệu đời sống nông nghiệp chuyển sang nhịp điệu đời sống công nghiệp, từ lối sống làng xã chuyển sang lối sống đô thị, từ nông dân chuyển sang thị dân, từ lịch của thời vụ nông nghiệp chuyển sang “thị” lịch; từ lối sống cộng đồng chuyển sang lối sống cá nhân, lối sống thị dân, v.v Đó là những thay đổi tất yếu mà quá trình ĐTH tạo ra đối với quá trình từ làng đến phố Trong quá trình đó, có những người nông dân nhanh nhậy nắm bắt được thời cuộc đã kịp thích ứng (học nghề, chuyển nghề…) nên không bị tụt hậu, và giàu lên, nhưng có một bộ phận người dân không nắm bắt kịp với hoàn cảnh, đã trở thành tầng lớp nghèo trong xã hội
Thứ tư, từ làng đến phố là quá trình làm thay đổi về mặt lối sống Trước
đây, lối sống trong cộng đồng là phải nhìn nhau, dựa trên hàng loạt các tập tục của làng xã Đến nay, cách ứng xử với nhau, cách ăn uống, ăn mặc, đi lại, nói năng, cách sống đã thay đổi Hay nói chung lại, đó là những thay đổi về lối sống
Thứ năm, về cấu trúc kinh tế Cấu trúc kinh tế truyền thống là nông nghiệp -
thủ công nghiệp, buôn bán nhỏ - công chức Kinh tế nông thôn điển hình ở vùng ven đô được hợp thành bởi 3 yếu tố này Đến khi chuyển sang ĐTH, đất đai trở nên chật hẹp, hoạt động nông nghiệp trở thành thứ yếu, hoặc bị biến mất hoàn toàn cũng làm thay đổi căn bản lối sống của dân làng xã Những thay đổi đó phản ánh
những chuyển đổi trong quá trình đô thị hóa Liệu người dân có thích ứng với
quá trình chuyển đổi đó hay không và quá trình thích ứng đó diễn ra như thế nào?
4 Mục đích nghiên cứu:
Trang 29Luâ ̣n văn này được phát triển trên cơ s ở nghiên cứu về một trường hợp cụ thể của mô hình từ làng đến phố, và người viết đã chọn phường Nhân Chính - một phường mới thành lập vào đầu năm 1997, thuộc quận Thanh Xuân, Hà Nội - làm địa bàn nghiên cứu của mình, với cố gắng là sẽ mang lại một mô tả dân tộc học về quá trình chuyển đổi lối sống đang diễn ra tại một phường có mức độ đô thị hóa cao tại Hà Nội, như một biểu hiện của quá trình ĐTH
Nghiên cứu quá trình chuyển đổi từ làng sang phố nhằm chỉ ra những khác biệt và xung đột giữa các nhóm cư dân mới và cũ, giữa lối sống xô bồ của những người di cư và kiểu cố kết cộng đồng của nhóm cư dân gốc; đồng thời khám phá mối tương quan giữa đô thị hóa và quá trình chuyển đổi lối sống của một cộng đồng làng ven đô Hà Nội
Quan sát các động thái kinh tế xã hội ở một phường đang chuyển đổi này có
ý nghĩa quan trọng trong nhận thức về các quy luật đổi thay của văn hóa – xã hội
và khả năng thích ứng với lối sống mới của các cộng đồng làng quê đang bị cuốn vào cơn lốc đô thị hóa như ở Nhân Chính và nhiều làng quê khác trên đất nước Việt Nam
Tôi hi vo ̣ng với nghiên cứu này, luận văn sẽ mang la ̣i mô ̣t cái nhìn câ ̣n cảnh về vấn đề xã hô ̣i đô thi ̣ còn đang ít được giới dân tô ̣c ho ̣c - nhân học Viê ̣t Nam quan tâm nghiên cứu
5 Các khái niệm
5.1 Đô thị
Cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất hoàn toàn giữa các quốc gia về cách hiểu đô thị Phần lớn các quốc gia dựa trên tiêu chí quy mô dân số, nhưng có bao nhiêu dân cư tập trung sinh sống ở một nơi mới được gọi là đô thị lại tuỳ thuộc vào từng quốc gia Cũng có những quốc gia dựa vào tiêu chí chính trị để xác định các khu đô thị, chẳng hạn như ở Brazil, người ta không dựa vào quy mô dân số mà dựa vào chức năng chính trị
Theo đại từ điển tiếng Việt, đô thị có thể hiểu là nơi đông dân, tập trung
4 Ở Việt Nam, theo Nghị định số 72/2001/NĐ-CP ngày 5/10/2001 của Chính phủ về phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị thì đô thị là khu dân cư tập trung có những đặc điểm sau:
- Về cấp quản lý, đô thị là thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập
- Về trình độ phát triển, đô thị phải đạt được những tiêu chuẩn sau:Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành,
có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ như: vùng liên tỉnh, vùng tỉnh,
Trang 30Trong xã hội công nghiệp, đô thị là cực hút, do đó dân số và hoạt động kinh
tế tập trung thành một tổng thể duy nhất Sự tập trung này là chỉ số chính của đô thị Sự tập trung các yếu tố sản xuất làm cho đô thị trở thành những cực tăng trưởng Sự tăng trưởng này đưa đến sự đa dạng kinh tế và xã hội Làn sóng di dân xuất phát từ nhiều nơi có nền văn hóa khác nhau tràn vào đô thị nên nơi đây lại có thêm sự đa dạng về văn hóa Do đó, đô thị được định nghĩa như là: nơi tập trung đông đúc dân cư, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, sống và làm việc theo phong cách và lối sống khác với lối sống ở nông thôn Lối sống đô thị được đặc trưng bởi những đặc điểm: có nhu cầu về tinh thần cao, tiếp thu nền văn minh nhân loại nhanh chóng, có đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội đầy đủ và thuận tiện [Michel Bassand, Antonio Cunha, Joseph Tarradellas, 2001: 189-191]
5.2 Đô thị hóa
Tùy thuộc vào cách tiếp cận khác nhau, định nghĩa về đô thị hóa cũng có ít nhiều khác nhau
Cách tiếp cận nhân khẩu học và địa lý học thì định nghĩa quá trình đô thị
hóa chính là sự di cư từ nông thôn vào đô thị, sự tập trung ngày càng nhiều dân cư
sống trong những vùng lãnh thổ địa lý hạn chế được gọi là các đô thị [David
Popenoe, 1991: 17]
Theo tiếp cận quản lý đô thị thì: “đô thị hóa là một quá trình mở rộng biên
giới lãnh thổ của các đô thị Nó được thực hiện bằng sự sát nhập của các khu dân
cư sống lân cận hoặc xây dựng các điểm dân cư mới cho dân chúng sống và làm việc theo phong cách và lối sống thành thị do nhu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, thương mại dịch vụ và giao lưu quốc tế Như vậy sự tăng trưởng về không gian đô thị là kết quả của sự kết hợp giữa hai yếu tố: việc phát triển dân số và phát triển sản xuất để tăng trưởng kinh tế, nó kéo theo việc tăng mức sử dụng không gian theo đầu người của dân thành thị” [Tương Lai, 1997: 36]
Các nhà xã hội học cho là đô thị hóa không chỉ thay đổi sự phân bố dân cư
trong xã hội mà còn chuyển thể nhiều kiểu mẫu (patterns) của đời sống xã hội
[Đàm Quang Phường, 1995] và theo Trịnh Duy Luân (1996), “Đó chính là sự phổ
biến và lan truyền những khuôn mẫu hành vi, ứng xử, vốn đặc trưng cho người đô
Trang 31
thị hay các quan hệ văn hóa đô thị tới các vùng nông thôn và trên toàn bộ xã hội nói chung …Đặc trưng đô thị (Urbanism) là các kiểu mẫu của văn hóa và cấu trúc xã hội, đặc trưng cho các thành phố và khác biệt rõ so với văn hóa của cộng đồng nông thôn” [Đàm Quang Phường, 1995: 17-18]
Như vậy, quá trình đô thị hóa gắn liền với sự phát triển của các lực lượng sản xuất, các hình thái về quan hệ xã hội và được cách mạng khoa học kỹ thuật thúc đẩy Vì vậy, đô thị hóa không chỉ là sự phát triển đô thị về quy mô và số lượng dân số mà còn gắn liền với những biến đổi kinh tế - xã hội, văn hóa và lối sống ở đô thị trên cơ sở phát triển công nghiệp; giao thông vận tải; xây dựng; dịch
vụ và tin học
Trong quá trình đô thị hóa diễn ra sự phân bố lại các điểm dân cư; biến đổi
về cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu sản xuất, cơ cấu về không gian kiến trúc và hình thái xây dựng từ nông thôn chuyển sang thành thị Mức độ đô thị hóa của một quốc gia là tỷ lệ phần trăm dân số ở thành thị so với dân số cả nước
5.3 Lối sống
“Lối sống” là khái niệm vẫn đang còn nhiều ý kiến tranh luận khác nhau
Từ lâu, khái niệm này đã được các nhà Triết học, Văn hóa, xã hội học, đề cập Từ
“Lối sống” được dịch từ chữ “Mode de vie” trong tiếng Pháp, Lebensweise trong tiếng Đức, Model of life, Way of life hoặc Life style trong tiếng Anh
Có nhiều quan niệm khác nhau về lối sống, nhưng có lẽ điểm thống nhất và cốt lõi của các quan niệm này là ở chỗ cho rằng lối sống bộc lộ bản chất nhân cách của con người trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể nhất định Con người phản ánh qua lối sống phần nào diện mạo văn hoá của thời đại thông qua năng lực trí tuệ, quan hệ ứng xử và khả năng đồng hoá thẩm mỹ hiện thực của mình trong nhiều phương diện khác nhau như cách tổ chức cuộc sống, sinh hoạt lễ nghi và trang phục v.v… [Đỗ Kim Thịnh, 1993: 180]
Ở Việt Nam, nhận thức tầm quan trọng của vấn đề lối sống, các đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước cũng bắt đầu tập trung nghiên cứu vấn đề này Trong đề
tài cấp Nhà nước KX.06-13 đã nêu trong Báo cáo tổng kết chương trình
KX-06(1991-1995): “Lối sống, trong chừng mực nhất định, là cách đối ứng xử của những con người cụ thể, những điều kiện hoàn cảnh cụ thể của môi trường sống Môi trường là cái khách quan quy định, là điều kiện khác quan trực tiếp tác động
và ảnh hưởng đến lối sống con người, lối sống của các nhóm xã hội và cộng đồng dân cư” Định nghĩa này cho thấy lối sống có quan hệ trực tiếp với môi trường
Trang 32sống và chịu sự quy định của nó, đồng thời tiếp cận lối sống như là một phương thức hoạt động thực tiễn của con người và do vậy, nó có ưu thế là làm sáng tỏ được mối quan hệ biện chứng giữa lối sống với môi trường
Theo đó, lối sống bao gồm cả khía cạnh vật chất, kinh tế và khía cạnh tinh thần
5.4 Lối sống đô thị
Lối sống đô thị là một chủ đề nghiên cứu lớn trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây Luis Wirth, nhà xã hội học đô thị Mỹ thuộc trường phái Chicago từ những
năm 30 của thế kỷ XX đã nêu định nghĩa về lối sống đô thị (urbanism) như là “các
khuôn mẫu (patterns) của văn hoá và cấu trúc xã hội, đặc trưng ở các đô thị và khác căn bản với văn hoá của các cộng đồng nông thôn” [Trịnh Duy Luân,
2004:129] Những đặc trưng của lối sống đô thị hiện đại do Wirth đưa ra cho đến nay vẫn được nhiều nhà xã hội học xem như là những phân tích rất có giá trị
Theo Wirth, những người ở thành phố gặp nhau trong các vai trò đã bị cắt rời, không phải trong những quan hệ có liên quan đến toàn bộ con người Họ có những công việc chuyên môn hoá cao Những biểu tượng, vai trò, công việc và đặc biệt địa vị xã hội của họ là cực kỳ quan trọng Những cơ chế kiểm soát xã hội chính thức là quan trọng hơn những cơ chế không chính thức Các nhóm thân tộc và gia đình giữ vai trò kém quan trọng hơn trong đời sống đô thị, đặc biệt là ở các
đô thị lớn Trong điều kiện như vậy, người dân ở các đô thị có thể rơi vào tình trạng thiếu chuẩn mực, khi mà họ không bằng lòng, không chấp nhận các chuẩn mực chung về một hành vi đúng đắn, thậm chí chế diễu hoặc bỏ qua nó Đời sống
đô thị qua lăng kính của Wirth hiện lên những con người ẩn danh, tách biệt khỏi hàng xóm của họ, và nếu có liên quan đến những người khác thì chủ yếu là tăng tối
đa lợi ích kinh tế cá nhân của họ [David Popenoe, 1991: 83-84]
Bên cạnh những quan điểm lý luận chung, thực tế xã hội tại các đô thị ở mỗi quốc gia, mỗi khu vực, mỗi vùng lại đòi hỏi phải có sự phản ánh cụ thể các quan điểm lý luận chung hoặc các biến thể của chúng Có nghĩa là cần có sự định
vị không gian, thời gian cụ thể cho các quan điểm lý thuyết, tìm ra cái riêng, cái đặc thù trong khái niệm “lối sống đô thị”
Xã hội Việt Nam trong đó có xã hội đô thị đang ở trong giai đoạn quá độ từ nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp, sang nền kinh tế thị trường Về thực chất, lối sống tương ứng cũng sẽ là một lối sống quá độ Trong các đô thị, lối sống như vậy có thể mang đặc tính pha trộn, “xô bồ” do khuôn mẫu hành vi ứng xử cũ vẫn
Trang 33còn tồn đọng, những khuôn mẫu hành vi ứng xử mới còn chưa ổn định, biến thể và được sàng lọc Mặt khác, do đặc thù của cơ cấu xã hội đô thị là không thuần nhất, rất khó đề cập đến một lối sống cho toàn bộ dân cư đô thị nói chung Lối sống đó phải gắn với nhóm xã hội, với những giai tầng xã hội cụ thể chẳng hạn như giới trí thức, giới công chức, tầng lớp thị dân, nhóm dân nghèo thành thị v.v…
Tuy nhiên, vẫn có thể xem xét từ góc độ chung nhất và chỉ ra được một số nhân tố kinh tế - xã hội - văn hóa đang chi phối việc hình thành những nét đặc
trưng của lối sống đô thị Việt Nam hiện nay đó là: Sự biến đổi cơ cấu xã hội nghề
nghiệp của cư dân đô thị, Sự chuyển đổi các định hướng giá trị của các nhóm xã hội, Sự thay đổi chức năng, vai trò của các bộ phận trong guồng máy điều hành
quản lý đô thị, Điều kiện mức sống thấp
Ngoài ra, lối sống đô thị Việt Nam cũng chịu sự tác động của một số yếu tố chung có tính đặc trưng khắp toàn cầu đó là dân số đông, mật độ cư trú cao, sự hỗn hợp về mặt xã hội, nguồn gốc cư trú và các dòng nhập cư thường xuyên hoặc di cư con lắc từ nông thôn vào các đô thị, nhất là ở các đô thị lớn
Như vậy, có thể nhận thấy rất nhiều nhân tố phổ biến và đặc thù đang qui định diện mạo của một lối sống đô thị Việt Nam hiện nay Có những nhân tố kinh
tế - chính trị - xã hội, có những nhân tố văn hóa truyền thống hoặc đương đại Nghiên cứu lối sống đô thị Việt Nam hiện nay không thể nào bỏ qua việc xem xét các nhân tố này Đặc biệt khi triển khai nghiên cứu trong những nhóm xã hội riêng biệt, lại cần khai thác thêm các nhân tố phụ, đặc trưng cho từng nhóm xã hội riêng
lẻ
Bám sát vào thực tiễn xã hội đô thị ngày nay, luận văn này tập trung vào nghiên cứu về quá trình chuyển đổi lối sống trong bối cảnh của những chuyển đổi
“từ làng lên phố” của phường ở Hà Nội, trường hợp phường Nhân Chính
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu căn bản được sử dụng là điền dã dân tộc học trong
đó nhà nghiên cứu tham dự vào đời sống của cộng đồng địa phương nhằm quan sát, phân tích và mô tả lối sống của người dân trong đời sống thường ngày của họ Những thông tin định tính, những câu chuyện cá nhân của người dân địa phương cũng được thu thập nhằm khám phá mối tương quan giữa đô thị hóa và quá trình chuyển đổi lối sống của một cộng đồng làng ven đô Hà Nội
Tiếp cận liên ngành trong đó sử dụng một số phương pháp hỗ trợ khác đã được vận dụng vào quá trình thu thập và phân tích thông tin, bao gồm
Trang 34- Phương pháp bản đồ học: giúp tìm hiểu không gian đô thị của phường, cũng như có cái nhìn so sánh về sự thay đổi địa giới hành chính của phường trước và sau đô thị hoá
- Phương pháp dân số học: sử dụng các số liệu điều tra dân số của tổng điều tra dân số và nhà ở tháng 4 năm 2009 nhằm phân tích tình hình hộ khẩu và sự năng động dân số của phường Nhân Chính
- Phương pháp điều tra xã hội học: sử dụng bảng câu hỏi xã hội học gồm các câu hỏi đóng và mở để tìm hiểu hiện trạng nghề nghiệp, điều kiện sống và lối sống của cư dân phường Đối tượng hỏi người dân đang sinh sống tại phường Nhân Chính, có tất cả 143 phiếu Nội dung của bảng hỏi bao gồm các câu hỏi về tuổi, giới tính, nghề nghiệp, tổng số người trong gia đình, loại nhà ở, tiện nghi gia đình, các câu hỏi về lễ hội, cưới hỏi, tang ma, các hình thức lễ lạt, thờ cúng trong gia đình, các khoản thu nhập của gia đình trong một tháng vừa qua, các khoản chi tiêu của gia đình trong một tháng vừa qua Bảng hỏi được xử lý bằng phần mềm
SPSS (Statistical Package for the Social Sciences)5
7 Lựa chọn địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu của tôi đặt phường trong bối cảnh chung của một thành phố đang thay đổi cả về cấu trúc vật chất và lối sống, nhưng quan sát sâu hơn vào một địa bàn cụ thể Nghiên cứu lựa chọn địa bàn phường Nhân Chính - Thanh Xuân -
Hà Nội đặt trong bối cảnh ĐTH của thời kỳ đổi mới, chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường Dưới tác động của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và quá trình ĐTH, Nhân Chính đang chuyển đổi mạnh mẽ
từ các khuôn mẫu truyền thống sang các khuôn mẫu hiện đại, từ lối sống nông dân sang lối sống thị dân, hệ thống các quan hệ xã hội kiểu cũ đã và đang biến đổi Bằng việc lựa chọn địa bàn nghiên cứu phường Nhân Chính, tôi muốn có một cái nhìn rộng hơn về vấn đề ĐTH và lối sống đô thị trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng và ở các đô thị Việt Nam nói chung Mặc dù chính quyền thành phố đã
có nhiều nỗ lực trong việc ban hành nhiều chủ trương, chính sách đối với quá trình phát triển ổn định, bền vững ở các vùng ven và đã đạt được một số kết quả nhất định Tuy nhiên, tác động của quá trình ĐTH đến lối sống của người dân là điều không thể tránh khỏi Quá trình này gián tiếp tác động đến môi trường đầu tư của
5
SPSS (Statistical Package for the Social Sciences) là phần mềm xử lý thống kê chuyên nghiệp dùng trong các ngành khoa học xã hội, được phát triển dựa trên phần mềm của Apache Software Foundation Thế hệ đầu tiên của SPSS được đưa ra từ năm 1968 Ở Việt Nam, phần mềm xử lý số liệu này được sử dụng từ những năm 1998 Hiện nay, phiên bản mới nhất (Version 18) được đưa ra từ tháng 8 năm 2008, thân thiện, thích hợp với các hệ điều hành Microsoft Windows, Linux/ UNIX
Trang 35thành phố và nhất là ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của cư dân phường Nhân Chính nói riêng, vùng ven nói chung Hơn thế nữa nếu không theo dõi và quản lý ngay từ bây giờ có thể gây ra nguy cơ về việc phải đầu tư tái chỉnh trang lại khu vực vùng ven khắc phục hậu quả của lối sống hưởng thụ buông thả, sẽ rất khó khăn và tốn kém về sau Từ nghiên cứu này, tôi hi vọng góp thêm một cách nhìn sâu hơn về lối sống đô thị ở Hà Nội hiện nay, từ đó cung cấp thông tin cho các nhà quản lý trong công tác hoạch định, ban hành chính sách một cách đúng đắn và thiết thực đối với quá trình ổn định, bền vững ở các vùng ven
Chỉ còn một thời gian rất ngắn nữa thôi, Hà Nội sẽ bước vào thời điểm
1000 năm Trong 10 thiên niên kỷ đã qua, đã có rất nhiều thăng trầm nhưng Thăng Long - Hà Nội vẫn luôn khẳng định vị thế trung tâm đất nước với tầm nhìn thiên niên kỷ của Lý Thái Tổ Những nghiên cứu về Thăng Long - Hà Nội, vì thế càng cần thiết hơn, nhất là trong thời gian hiện nay
8 Bố cục luận văn
Luận văn gồm 5 chương chính
Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu
Nội dung của chương xác định vấn đề nghiên cứu, lịch sử nghiên cứu, phân tích phương pháp và khung lý thuyết tiếp cận vấn đề
Chương 2: Nhân Chính: Từ làng lên phố
Trong chương này, bằng phương pháp lịch sử và phỏng vấn hồi cố, tôi cố gắng chỉ ra lịch sử hình thành của phường Nhân Chính và quá trình đô thị hoá đã diễn ra ở đây như thế nào Nghiên cứu chỉ ra Nhân Chính là một làng cổ truyền có truyền thống lịch sử, văn hóa lâu đời, trong quá trình đô thị hóa Nhân Chính đã và đang có những đổi thay mạnh mẽ, trong đó có sự thay đổi nhanh về dân số và cấu trúc dân cư
Chương 3: Không gian cư trú và kiến trúc
Chương này đề cập đến các loại hình không gian của phường Nhân Chính
trong quá trình đô thị hoá, đặc biệt nhấn mạnh đến việc sử dụng không gian Đồng thời, trên cơ sở mô tả dân tộc học các loại hình nhà ở của cư dân đô thị phường Nhân Chính chúng tôi mong muốn có cái nhìn sâu hơn về sức ép của đô thị hoá lên đời sống của cư dân đô thị Nghiên cứu cũng làm rõ lối sống và những ứng xử, chiến lược của người dân đô thị trong việc bố trí không gian cư trú trong đó những ứng xử mang tính chất niềm tin tôn giáo có sức chi phối lối sống của người dân
Trang 36Chương 4: Kinh tế và quan hệ xã hội
Chương này đề cập đến quá trình chuyển đổi nghề nghiệp của người dân ở Nhân Chính, đặc biệt nhấn mạnh vào những tác động của kinh tế đến lối sống của con người Nghiên cứu chỉ ra cùng với sự tăng tốc của quá trình đô thị hóa, hoạt động nông nghiệp trở thành thứ yếu, đất đai trở nên chật hẹp và có giá, người dân chuyển đổi nghề nghiệp và theo đó lối sống cũng thay đổi theo Bên cạnh đó, chương 4 cũng đề cập đến những thay đổi trong quan hệ cư dân ở khu vực này, trong bối cảnh ngày càng có nhiều sự pha tạp của các thành phần dân cư mới
Chương 5: Văn hoá và lối sống
Trên cơ sở tìm hiểu về các mối quan hệ xã hội, quan hệ gia đình - họ tộc, các hình thức tang ma, cưới xin, đời sống tâm linh của người dân, tôi muốn có một cái nhìn sâu hơn về đặc điểm văn hóa - xã hội của một phường đang trong quá trình chuyển đổi và thích ứng với điều kiện và bối cảnh kinh tế mới, qua đó, hiểu biết sâu sắc hơn về đời sống của người dân trong những chuyển động của đô thị hóa
Trang 37CHƯƠNG 2 NHÂN CHÍNH: TỪ LÀNG LÊN PHỐ
Nhân Chính hiện nay thuộc quận Thanh Xuân, nằm ở cửa ngõ phía Tây Nam của thành phố Hà Nội Trước đây xã Nhân Chính gồm những làng cổ đã qua gần nghìn năm xây dựng và phát triển Xã gồm có bốn thôn: Giáp Nhất, Quan Nhân, Chính Kinh và Cự Lộc; phía Bắc giáp xã Trung Hòa, phía Nam dọc đường
số 6, phía Tây giáp các xã Trung Văn và Mễ Trì, phía Đông giáp phường Thượng Đình Đầu năm 1997, cộng đồng làng đã chính thức gia nhập vào địa giới khu vực nội thành của thủ đô Quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa đang diễn ra với tốc độ chóng mặt đã làm biến đổi mạnh mẽ diện mạo làng xóm ở nơi đây Vấn đề đặt ra là văn hóa, lối sống làng xã sẽ biến đổi tương ứng như thế nào, đâu là lời giải cho
sự dung hợp giữa cái hiện đại và cái truyền thống, cho mâu thuẫn giữa cái cũ và cái mới, cái lạc hậu và cái tiên tiến Những tư liệu thu thập ở phường Nhân Chính trình bày trong chương này sẽ góp phần làm rõ các vấn đề trên
2.1 Nhân Chính thời kỳ trước năm 1954
Nhân Chính xa xưa gọi là đất Kẻ Mọc (tên Nôm) và tên chữ là Nhân Mục (nghĩa là nhân nghĩa, thuận hòa) đã một thời là tên gọi của xã Nhân Chính ngày nay Xã Nhân Mục thuộc tổng Khương Đình, huyện Thanh Đàm, sau đổi là huyện Thanh Trì, thuộc trấn Sơn Nam Thượng Năm Thành Thái thứ 10 (1898) xứ này được đổi thành tỉnh Hà Đông Đến thời thuộc Pháp (năm 1942) cả 7 làng6 thuộc Nhân Mục nhập vào Đại Lý Hoàn Long thuộc ngoại thành Hà Nội
Xã Nhân Mục gồm Nhân Mục cựu và Nhân Mục môn Nhân Mục Cựu gồm các làng Thượng Đình và Hạ Đình Nhân Mục Môn gồm các làng Giáp Nhất, Quan Nhân, Chính Kinh, Cự Lộc và Phùng Khoang
Nhân Mục Môn là một xã được thành lập từ rất sớm, vào khoảng thế kỷ thứ VIII, thứ IX Nhân Mục Môn có nguồn gốc chủ yếu từ hai xã láng giềng là xã Hòa Mục (ngày xưa có tên là Nhân Mục) và xã Nhân Mục Cựu (Thượng Đình, Hạ Đình) Như vậy, Nhân Mục (Hòa Mục) và Nhân Mục Cựu so với Nhân Mục Môn
là hai xã cổ hơn, Nhân Mục Môn nằm trong tổng Mọc Trong nhiều tư liệu, xã
6
Thượng Đình, Hạ Đình, Giáp Nhất, Quan Nhân, Chính Kinh, Cự Lộc, Phùng Khoang
Trang 38Nhân Mục Môn nằm trong tổng Khương Đình Ở xã này còn nhiều tài liệu chứng
tỏ cư dân Nhân Mục Môn có quan hệ mật thiết với cư dân các xã bạn
Nhân chính vốn là đất hiếu học7 Từ thời xa xưa đã có nhiều người học giỏi
đỗ cao trong các kỳ thi hương, thi hội, thi đình Số danh nhân có học vị tiến sĩ rất nhiều Cụ Nguyễn Tuấn người làng Giáp Nhất đỗ tiến sĩ năm 1613, đi phó sứ Trung Quốc Cụ Nguyễn Hữu Thiêm người làng Chính Kinh làm thừa sứ thời Lê – Trịnh, viết chữ Hán đẹp nổi tiếng, được phong “Bắc tự siêu nhân” [Nguyễn Văn Khánh, 1997]
Vốn là đất có học, cho nên cư dân trong làng xã sống với nhau thuận hoà, đoàn kết, giữ gìn danh thơm đất Mọc, thanh danh họ tộc, biết tự trọng là người kẻ Mọc Một điều hiếm thấy là cách đối xử giữa các tầng lớp xã hội với nhau ở Nhân Chính, hầu như không có sự khinh thị nặng nề giữa giàu nghèo Trong giao tiếp, người dân lịch thiệp, mến khách
Con người Kẻ Mọc thời xưa đại bộ phận sống bằng nghề làm ruộng, cho nên bản chất chỉ là những nông dân cần cù, chất phác Từ cá tính mỗi con người được nuôi dưỡng trong quan hệ gia đình, dòng họ, rộng ra nữa là xóm giềng, làng
xã, nên cũng có những đức tính chung, tình cảm chung Đó là tình cảm cộng đồng, đức hiếu thảo với cha mẹ, hòa mục với người thân, bạn bè và đoàn kết, gắn bó trong thôn xã Xã hội và môi trường sống đòi hỏi con người Kẻ Mọc không được dừng lại ở những kiến thức “nước, phân, cần, giống, mà phải vươn lên mở rộng tầm kiến thức, trở thành những người “học hay, cày giỏi” Nhà nào cũng tạo điều
kiện cho con em đi học, ít nhất cũng có ít vốn chữ nghĩa để đọc văn cúng giỗ gia tiên, viết văn khế mua nhà tậu ruộng v.v…Đặc biệt, Kẻ Mọc là làng ven đô có
nhiều lợi thế về tiếp xúc văn minh, tiến bộ nên sớm tạo được truyền thống hiếu học, rồi xuất hiện nhiều nhân tài, nhiều nhà khoa bảng có tiếng tăm trong nước
Ở Nhân Mục Môn việc chia xóm dựa theo điều kiện địa lý và đặt tên xóm căn cứ vào một vật tự nhiên tiêu biểu nào đó
Làng Cự Lộc - Chính Kinh (làng Cự Chính)
Xã Nhân Mục Môn xưa có bốn thôn, trong đó có Cự Lộc và Chính Kinh là hai thôn ở sát liền nhau; trong quá trình lịch sử có nhiều thời kỳ có hiện tượng sinh hoạt chung và sát nhập với nhau thành một đơn vị hành chính Dù chia đôi hay hợp
7
Bốn làng Mọc Nhân Mục Môn vốn là đất văn học, theo lời các cụ xưa truyền lại là do thế đất nơi đó: thôn Chính Kinh
ở phía nam, đất trũng nhiều hồ ao là chiếc nghiên mực, thôn Quan Nhân ở kề bên là ngòi bút, hai thôn đó có cái thế
“bút chấm thuỷ” nên có nhiều người đi học đỗ cao làm lên; còn thôn Cự Lộc ở phía trên chỉ là cái cán bút, người đi học chỉ làm đến đề lại thừa phái; thôn Giáp Nhất thì chuyển sang phát về nghề võ [Nguyễn Văn Uẩn, 1995: 174]
Trang 39nhất, hai làng vẫn chung đình chùa Sở dĩ có những thời kỳ chia cắt làm hai là do xích mích mâu thuẫn giữa mấy họ có thế lực kèn cựa với nhau (thí dụ như tranh nhau làm tiên chỉ) Thời thuộc Pháp, Cự Lộc và Chính Kinh là hai xã riêng, thờ thành hoàng riêng (Cự Lộc thờ Lã Đại Liêu, tướng đời Hùng; Chính Kinh thờ Đoàn Thượng, tướng đời Lý); mỗi làng có lý trưởng giữ triện đồng riêng Cự Lộc nhỏ hơn Chính Kinh nhưng lại là sinh quán của Lê Hoan, xuất thân hèn mọn, làm lính cho Hoàng Cao Khải, lập công với Pháp, leo lên chức Tổng đốc và Khâm Sai Bắc Kỳ, hách dịch một thời; Chính Kinh có Tuần phủ Nguyễn Hữu Đắc xuất thân khoa cử, đỗ cử nhân nho học, đối với làng xã có nhiều uy tín hơn Lê Hoan [Nguyễn Văn Uẩn, 1995]
Khi hợp nhất thì hai làng Mọc nói trên có tên chung là Cự Chính, nhưng dân làng vẫn quen gọi tên riêng của mỗi thôn
Cự Chính có hai cổng làng xây bằng gạch mà ngày nay vẫn còn lưu giữ được: một cổng đi ra đường Thượng Đạo cũ từ Phùng Khoang lên Cầu Mọc (ngày nay là tuyến phố Quan Nhân), trên cổng còn đắp chữ “Hoa Kinh Lý Môn”; một cổng quay ra đường số 6 từ Hà Đông đi Hà Nội qua Ngã Tư Sở (ngày nay là đường Nguyễn Trãi); trên cổng đề ba chữ “Nhân Mục Môn”
Làng Cự Chính có 5 xóm chính (bao gồm cả Cự Lộc): Cự Lộc8 giáp Cầu Mới trên sông Tô là một xóm; xóm Đình; xóm Thọ Lão; xóm Vườn Nở; xóm Tó Những xóm này được cấu tạo theo hình xương cá Mỗi xóm đều có ngõ xóm, còn đường của xóm là đường xương cá, nối ra đường làng, nên ở Nhân Chính có câu
“đường làng ngõ xóm, hôm sớm gặp nhau” Mỗi ngõ xóm trước đây chừng hơn một chục nhà
Theo lời các cụ kể lại, Chính Kinh là đất văn học và có nhiều gia đình giàu
có Trong làng, có xóm Thọ Lão thế lực mạnh nhất, bởi vì xóm này có nhiều người giàu, nhiều người làm quan trong triều đình và các trấn khác Họ Nguyễn Thái Bảo
là họ lớn nhất làng cũng tập trung ở xóm này Họ này xây từ đường ở gần lối ra cổng Hoa Kinh, đề bên ngoài là “Thái Bảo từ môn” (Thái Bảo là tước triều đình ban cho ông tổ họ Nguyễn) Ngày nay, họ này vẫn còn giữ được từ đường và tiếng tăm của họ Nguyễn Thái Bảo vẫn còn lưu truyền trong nhân dân cho đến tận bây giờ
8
Cự Lộc là một thôn gốc, nhưng cư dân ở đây ngày càng suy yếu về kinh tế và chính trị, họ phải sát nhập với Chính Kinh thành thôn Cự Chính của làng Cự Chính Cự Lộc phải dựng chung đình với Chính Kinh, thờ chung một Thành hoàng và phải cắt trai tế Cuối những năm 80, đất đai của Cự Lộc cắt về khu B là khu công nhân, ngày nay thuộc khu công nghiệp Thượng Đình, dân cư ở đây phần lớn chuyển thành công nhân
Trang 40Thôn Quan Nhân
Khởi thuỷ chỉ là một trang trại: một người làng Mọc cũ đỗ tiến sĩ được cấp ruộng đất lập dinh cơ, đã chọn chỗ này xây dựng nhà cửa, đưa người nhà họ hàng đến ở, tập chung chung quanh cho đông thành xóm làng Đến thế kỷ XIX thì quan Nhân đã là một làng lớn đông dân nhất trong số những làng Mọc [Nguyễn Văn Uẩn, 1995]
Theo lời các cụ kể lại, trước kia làng Quan Nhân có luỹ tre kiên cố vì ở cạnh đường cái lớn, đường Thượng Đạo cũ qua Cầu Mọc Làng có hai cổng xây: cổng Tiền có 4 cột trụ lớn, cổng Hậu có vòm canh bên trên Hiện nay hai cổng này vẫn còn nguyên dáng vẻ xưa cũ
Quan Nhân có 7 xóm: phía ngoài có xóm Cầu Ba, Ninh Phúc, Ao Nghè, xóm Sòi; bên trong có xóm Cổng Hậu, xóm Chùa, xóm Vườn Điều Sự sắp xếp
của các xóm trong thôn theo hình bàn cờ Vào đầu những năm 90 trung bình mỗi xóm khoảng một trăm nóc nhà, nhưng đến nay con số này lên đến vài trăm Các gia đình trong ngõ không sắp xếp theo thứ tự Lúc bình thường các gia đình rất ít
có quan hệ mật thiết với nhau, chỉ lúc có công có việc thực sự thì họ mới cần đến nhau Những việc riêng của gia đình trước tiên đều nhờ họ hàng
Đình làng Quan Nhân ở xóm Chùa, là một ngôi đình được xây dựng to nhất trong số những ngôi đình của năm làng Mọc; đình thờ Hùng Lãng Công có thành tích đánh giặc Nam Chiếu Chùa làng ở cạnh đình và cũng là một ngôi chùa lớn
Về mặt kinh tế, Quan Nhân là một làng giàu có, song ruộng đất của làng chỉ
có 186 mẫu, còn thì là ruộng xâm canh tức là ruộng tậu của những làng chung quanh Mễ Trì, Phùng Khoang, phát canh thu tô Vì vậy người làng ít nhà làm ruộng, người nghèo thì đi làm thuê các nơi chứ không có nghề phụ Gia đình nào
có điều kiện (bố mẹ là công chức) thì con cái được học hành rồi đi làm các công sở
và sở tư (Hoả xa, Bưu điện, Ngân hàng, sở buôn của Tây…) nhiều người học nghề
đi làm công nhân Cả làng chỉ có khoảng vài ba chục gia đình quá nghèo phải lao động chân tay vất vả [Nguyễn Văn Uẩn, 1995]