1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự biến đổi kinh tế - xã hội của người Thái ở Điện Biên từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay

239 889 13

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 239
Dung lượng 2,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 1999, Thomas Sikor mang đề tài nghiên cứu “The Political Economy of Decollectivization: A study of Differentiation in and among Black Thai Villages of Northern Vietnam” Vấn đề C

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

-

PICHET SAIPHAN

SỰ BIẾN ĐỔI KINH TẾ – XÃ HỘI CỦA NGƯỜI THÁI Ở ĐIỆN BIÊN TỪ

CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 ĐẾN NAY

CHUYÊN NGÀNH : DÂN TỘC HỌC

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LI ̣CH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :

1 PGS.TS HOÀNG LƯƠNG

2 PGS.TS LÊ SỸ GIÁO

Hà Nội - 2011

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cƣ ́ u

Nghiên cứu về người Thá i đã được nhiều người Viê ̣t Nam và nước ngoài quan tâm từ lâu

Từ những năm 80 của thế kỷ XX , nghiên cứu người Thái đã trờ thành vấn đề quốc tế Học giả của nhiều nước khác nhau trên thế giới đã chuyên tâm tìm hiểu, nghiên cứu về nhiều lĩnh vực liên quan đến người Thái , nhất là các nhóm Thái trong khu vực Đông Nam Á

Qua các tâ ̣p kỷ yếu Hô ̣i thảo quốc tế về Thái học, từ Hô ̣i thảo lần I (1981) đến Hội thảo lần X (2008), nghiên cứ u Thái trên thế giới Thái học (Thai Studies) đã trởthành một khoa học

Ở Việt Nam, viê ̣c tìm hiểu nghiên cứu về người Thái đã trở thành đề tài hấp dẫn vớ i nhiều ngành khoa ho ̣c khác nhau Nhiều vấn đề đã được tranh luâ ̣n sôi nổi, nhất là vấn đề nguồn gốc li ̣ch sử , quá trình tộc người, và sự hiê ̣n diê ̣n của nhiều nhóm Thái ở Đông Nam Á Thái học trở thành mô ̣t khoa ho ̣c được quan tâm ta ̣i nhiều Viê ̣n nghiên cứu Các chuyên đề về người Thái cũng được giảng da ̣y ở bộ môn Dân tộc học (Nhân ho ̣c) tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nô ̣i trước đây và Trường Đa ̣i ho ̣c khoa ho ̣c xã hô ̣i và nhân văn hiê ̣n nay Nhiều luận văn, luâ ̣n án tha ̣c sĩ, tiến sĩ về Thái ho ̣c đã được bảo vê ̣ thành công

Người Thái Viê ̣t Nam là mô ̣t trong 54 thành viên trong đại gia đình các dân tô ̣c Viê ̣t Nam đã có những đóng góp quan tro ̣ng trong sự nghiê ̣p dựng nước và giữ nước Vì thế, trướ c sự hô ̣i nhâ ̣p của Viê ̣t Nam vào sự phát triển chung của thế giới , người Thái Viê ̣t Nam nói chung , các nhóm Thái ở Điện Biên nói riêng, cũng không nằm ngoài xu thế chung này của đất nước và th ế giới

Trang 3

Đặc biệt là , trong quá trình phát triển này , người Thái Điê ̣n Biên đã vinh dự được li ̣ch sử lựa cho ̣n đă ̣t lên trên vai mình những trách nhiê ̣m và thách thức to lớn

Với truyền thống li ̣ch sử lâu dài của mình , nhất là với chiến thắng lịch sử Điê ̣n Biên Phủ năm 1954, người Thái Điê ̣n Biên của lòng chảo Mường Thanh đã chứng tỏ được bản lĩnh và tài năng của mình Hôm nay, đứng trước ngưỡng cửa của sự nghiệp Đổi mới và công cuộc công ngh iê ̣p hóa, hiê ̣n đa ̣i hóa của Viê ̣t Nam, lại một lần nữa , Điê ̣n Biên càng chứng tỏ và khẳng định được vị thế của mình Từ sau ngày giải phóng Điê ̣n Biên Phủ đến nay, nhất là từ ngày đấ t nước bước vào con đường Đổi mới năm 1986, Điê ̣n Biên đã có những bước đi vững chắc, bắt đầu có những biến đổi cơ bản để xây dựng mô ̣t xã hội văn minh, phát triển

Chọn đề tài về “Sự biến đổi kinh tế – xã hội của người Thái ở Điê ̣n

Biên từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay” làm luận án tiến sĩ lịch

sử, chuyên ngành Dân tô ̣c ho ̣c (Nhân ho ̣c), tôi mong muốn được đóng góp chút ít công sức của mình viết thêm những dòng lịch sử hiện đại vào tiến trình phát triển của một mảnh đất li ̣ch sử và anh hùng này Đồng thời, qua đó cũng mong được đồng cảm , chia xẻ và vui mừng trước những thành qủa ban đầu , nhưng rất căn bản trong sự Đổi mới mà người Thái và các dân tô ̣ c ở Điện Biên đã và đang gă ̣t háiđược trên con đường phát triển của mình

2 Lich sư ̉ nghiên cứu vấn đề

Như đã nói ở trên, nhiều vấn đề về người Thái ở Viê ̣t Nam đã được nhiều ho ̣c giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu từ lâu Ngoài những

cuốn sách mang tính chất sử thi dân gian như “Quám tố mướng” (Kể truyê ̣n bản mường), “Táy Pú Xớc” (Theo đường chinh chiến của ông cha )… là một

loạt công trình viết bằng chữ Thái Đen cổ đã được công bố

Trang 4

Cho đến nay, vấn đề về người Thái đã được nhiều nhà khoa ho ̣c quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc đơ ̣ khác nhau

2.1 Tƣ̀ thời phong kiến

Ở Viê ̣t Nam đã có các nhà nho nói tới nhiều vấn đề liên quan đến người Thái, như Nguyễn Trãi [95]trong cuớn “Dư đi ̣a chí”, nhất là trong lời cẩn án

đã nhắc tới nhiều đi ̣a danh trong đi ̣a bàn có người Thái sinh sớng Riêng người Thái ở Điê ̣n Biên cũng được nhắc tới khá nhiều Tiếp đó phải kể đến

“ Kiến văn tiểu lục ”, của nhà bác học Lê Quý Đơn [58,59] cũng nói tới các

nghề chăn nuơi , trờng tro ̣t của người Thái Tri châu Tuần Giáo Pha ̣m Thâ ̣n Duâ ̣t [51] khơng chỉ miêu tả về nhiều phong tục tập quán , sinh hoa ̣t vă n hóa của người Thái ở Tuần Giáo và các vùng xung quanh mà còn ghi chép khá tỉ mỉ về chữ Thái Ơng là mơ ̣t nhà nho dành khá nhiều tì nh cảm cho ngơn ngữ , văn hóa các vùng Thái, nhất là chữ Thái Đen vùng Tuần Giáo (Điê ̣n Biên)

Thực ra, trướ c đó các tác giả Hoàng Bình Chính (tức quan Đớc đờng ho ̣ Hoàng, sau đởi là Hoàng Tro ̣ng Chính) đời Lê và quan Hiê ̣p trấn ho ̣ Trần , đời Nguyễn đều viết về Hưng Hóa (gờm đất vùng Tây Bắc ngày nay ) Trong đó,

đáng chú ý là cuớn “Hưng Hóa xứ phong thở lục” của tác giả Hoàng Bình Chính và “Hưng Hóa ký lược” của tác giả Pha ̣m Thâ ̣n Duâ ̣t Đặc biệt là các tác giả này dành khá nhiều cơng sức để giới thiệu về đất Mường Thanh, đến thời Pha ̣m Thâ ̣n Duâ ̣t được go ̣i là Phủ Điện Biên, là vùng đất Điê ̣n Biên thuơ ̣c

tỉnh Điện Biên hiê ̣n nay

2.2 Thờ i Pháp thuơ ̣c

Khi thực dân Pháp xâm lược Viê ̣t Nam, các tác giả người Pháp cũng đã viết về người Thái ở nhiều nơi khác nhau Trong đó tiêu biểu là các cuớn :

“Etude de la Langue Thạ” (Nghiên cứu về ngơn ngữ Thái ) của Edouard

Diguet (1895); “La Province de Thanh Hoa” (Tỉnh Thanh Hóa ) của Le

Breton (1918); “Le Thanh Hoa” (Tỉnh Thanh Hóa) của Charles Roberquain

Trang 5

(1921); “Notes sur les Ta ̀ y Đèng de Lang Chanh” (Nhâ ̣n xét về người Tay

Đeng ở Lang Chánh, Thanh Hóa) của R Robert (1941); về Tây Bắc có cuốn :

“Histoire Militaire de l‟Indochine Française” (Lịch sử đạo quân binh Pháp ở

Đông Dương) (1931) Nhiều tư liê ̣u về vùng Tây Bắc được các tác giả Pháp viết trước đây khi ho ̣ đang ở Viê ̣t Nam

2.3 Tƣ ̀ Cách ma ̣ng tháng Tám năm 1945 đến nay

Viê ̣c nghiên cứu về người Thái của các nhà khoa ho ̣ c Viê ̣t Nam trong giai đoàn này đã và đạt được nhiều kết qủa Các công trình đó có t hể sắp xếp thành một số nhóm theo các chủ đề như sau

2.3.1 Như ̃ng vấn đề về li ̣ch sử, xã hội

Vấn đề về li ̣ch sử , xã hội của người Thái ở Việt Nam là vấn đề đượ c

nhiều nhà khoa học quan tâm Các công trình tiêu biểu là : “Sơ lược về sự

thiên di của các bộ tộc Thái vào Tây Bắc Viê ̣t Nam” (1965) của GS Đặng

Nghiêm Va ̣n, “Quá trình hình thành các nhóm Tày -Thái Việt Nam” (1967)

Năm 1977, tập thể các tác giả Đă ̣ng Nghiêm Va ̣n, Cầm Tro ̣ng, Khà Văn Tiến,

Tòng Kim Ân do Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên) đã xuất bản cuốn “Tư liê ̣u về

lịch sử và xã hội dân tộc Thái” (Nxb KHXH) Đến năm 1979, hai GS Đặng

Nghiêm Va ̣n và Đinh Xuân Lâm cùng viết cuốn : “Điê ̣n Biên trong li ̣ch sử” ,

(Nxb KHXH) Cuốn sách này giới thiê ̣u khá cu ̣ thể và hê ̣ thống về li ̣ch sử các dân tô ̣c ở Điê ̣n Biên trong đó có người Thái từ thời cổ đa ̣i , thâ ̣m chí cả các huyền thoa ̣i về thời mới khai thiên lâ ̣p đi ̣a vùng đất này

Năm 1987 có tác phẩm “Mấy vấn đề về li ̣ch sử kinh tế xã hội cổ đại

của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam” , (Nxb KHXH), của nhà dân tộc học

Cầm Tro ̣ng Vào năm 1999, “Luật tục của người Thái ở Viê ̣t Nam” , (Nxb Văn hóa dân tô ̣c), do Ngô Đức Thi ̣n h và Cầm Tro ̣ng đã xuất bản Hai cuốn

sách này có giá trị khi nghiên cứu về li ̣ch sử xã hô ̣i truyền thống của người Thái ở Tây Bắc

Trang 6

2.3.2 Như ̃ng vấn đề về văn hóa truyền thống, phong tục tập quán

Những tác phẩm về vấn đ ề này có cuốn “Nhà Sàn Thái” của Hoàng

Nam và Lê Ngo ̣c Thắng , Nxb Văn hóa dân tô ̣c (1985) Nguyễn Duy Thiê ̣u

viết thêm về nhà sàn Thái trong bài “ Kiến trúc nhà sàn Thái” in trong Tạp chí

Kiến trúc Viê ̣t Nam số 3 năm 2000

“Hoa văn Thái” của PGS TS Hoàng Lương Nxb Văn hóa dân tô ̣c

phát hành (1988) là công trình ng hiên cứu đô ̣c đáo về văn hóa vâ ̣t chất của người Thái ở Viê ̣t Nam

Trang phu ̣c Thái đã được Lê Ngo ̣c Thắng giới thiê ̣u trong bài “Trang

phục Thái với những chức năng xã hội”, Tạp chí Dân tộc học, số 4 năm 1988 Sau đó tác giả đã viết cuốn “Nghê ̣ thuật trang phục Thái” do Nxb Văn hóa

dân tô ̣c xuất bản năm 1990

“Văn hóa Thái ở Việt Nam” của GS.TS Phan Hữu Dâ ̣t và Cầm Tro ̣ng

(1995) là một tác phẩm n ghiên cứ u công phu về văn hóa của người Thái ở Tây Bắc

Nguyễn Thi ̣ Thanh Nga quan tâm đến vấn đề nghề dê ̣t của người Thái , đã viết bài “Nghề dê ̣t truyền thống của người Thái ở Thanh hóa , Nghệ An”

trong Tạp chí Dân tộc học , số 3 năm 2001 và có cuốn sách “Nghề dê ̣t của người Thái ở Tây Bắc trong cuộc sống hiê ̣n đại” xuất bản năm 2003 do Nxb

KHXH

2.3.3 Như ̃ng vấn đề chung

Trong các tác phẩm đã công bố , cuốn “Sơ lược giới thiê ̣u các nhóm

dân tộc Tày -Nùng-Thái ở Việt Nam” (1968) do GS Đặng Nghiêm Vạn và

nhà Dân tộc học Lã Văn Lô cùng viết, đây là cuốn sách đầu tiên viết chung về các dân tộc Tày, Nùng, Thái, giúp người đọc thấy được những quan hê ̣ nguồn gốc, văn hóa, ngôn ngữ giữa các dân tô ̣c này

Trang 7

Cuốn sách “Người Thái ở Tây Bắc Viê ̣t Nam” của Cầm Trọng , Nxb

KHXH năm 1978, gần như là một cuốn sách tổng kết về những tư liệu và những ý kiến nhâ ̣n xét về nhiều lĩnh vực của người Thái ở Tây Bắc Viê ̣t Nam Với cuốn sách này, tác giả đã nhận được giải thưởng Nhà nước cho các công trình nghiên cứu khoa học Cầm Tro ̣ng đã tổng kết và rút go ̣n những công

trình đã công bố về người Thái ở Viê ̣t Nam của tác giả trong cuốn “Những

hiểu biết về người Thái ở Viê ̣t Nam”, Nxb Chính trị quốc gia năm 2005

Về viê ̣c nghiên cứu người Thái ở Thanh Hó a phải kể đến PGS TS Lê Sỹ Giáo là một nhà dân tộc học có nhiều công trình nghìên cứu về người Thái ở Thanh Hóa Những nghiên cứu này đã được in trong các Ta ̣p chí [60-75]

Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu, luâ ̣n văn Tha ̣c sĩ, luâ ̣n án Tiến sĩ của mô ̣t số người trong nướ c và nước ngoài đã viết khá cu ̣ thể về mô ̣t

số chuyên đề về người Thái Viê ̣t Nam : “Thiết chế bản mường truyền thống

của người Thái ở vùng Tây Nghệ An” của Tiến sĩ Vi Văn An (1998); luâ ̣n văn

thạc sĩ của Vũ Trường Giang về “Hê ̣ thống truyền thông cổ truyền của ngườ i

Thái ở miền Tây Thanh Hóa” (2000)

Nói đến việc nghiên cứu về người Thaí ở Việt Nam của người nước ngoài, từ sau thời Pháp thuô ̣c , Viê ̣t Nam bước vào cuô ̣c kháng chiến chống Mỹ t ình hình xã hội không thuận lợi cho việc nghiên cứu của người nước ngoài Cho nên, có ít công trình nghiên cứu về vấn đề dân tộc Thái ở Tây Bắc

Viê ̣t Nam Các bài như “From Lawa to Mon from Saa to Thai” (Từ người

Lawa đến người Mon, từ người Saa đến ngươ ̀ i Thái ) của George

Condominas (1990), “Mountain Minorities and the Viet Minh : A key to

Indochina war” (Các dân tộc miền núi và Việt Minh : Chìa khóa của chiến tranh Đông Dương) của John T McAlister (1967) và vừa mới đây Jean

Michaud (2000) quan tâm về vấn đề “The Montagnards and the State in

Northern Vietnam from 1802 to 1975 : A Historical Overview” (Các cư dân

Trang 8

và tổ quốc ở miền Bắc Việt Nam từ 1802 – 1975 : Tham khảo dòng li ̣ch sử) là

tiêu biểu cho giai đoàn này

Năm 1999, Thomas Sikor mang đề tài nghiên cứu “The Political Economy of Decollectivization: A study of Differentiation in and among Black Thai Villages of Northern Vietnam” (Vấn đề Chính tri ̣ – Kinh tế về phi tập thể hóa: Nghiên cứu sự khác biê ̣t trong và giữa các bản người Thái Đen miền Bắc Viê ̣t Nam) Tác giả tìm hiểu chính sách nhà nước với luật đất đai tác động

đến các tổ chức kinh tế ở địa phương người Thái Sơn La

Đến năm 2004 đã được Guy Lêontti thu thâ ̣p , biên tâ ̣p la ̣i và xuất bản

với đầu đề là “Lettres de Điê ̣n Biên Phủ” (Những bức thư từ Điê ̣n Biên Phủ)

Trong cuốn sách này nói khá nhiều về các nhóm Thái Đen và Thái Trắng Đây là những tư liê ̣u quý hiếm về người Thái ở Tây Bắc trước đây

Thêm nữa, công trình nghiên cứu người Thái Viê ̣t Nam của GS Sumitr Phitiphat, nhà khoa học người Thái Lan nghiên cứ u trong vòng năm 1999-

2003, đã được phản ánh trong cuốn sách về “ไทด าในเวียดนาม” (Người Thái Đen ở

Viê ̣t Nam) (2004) để cập đến các nội dung về lịch sử, xã hội, kinh tế, văn hóa,

phong tu ̣c tâ ̣p quán

Vấn đề về biến đổi kinh tế của người Thái được TS Trần Văn Bình giới

thiê ̣u trong cuốn “Tập quán hoạt động kinh tế của một số dân tộc ở Tây Bắc

Viê ̣t Nam” (2001), tác giả viết một chương về hoạt động kinh tế của người

Thái ở Tây Bắc cho thấy những vấn đề chung về nền kinh tế của người Thái ở Tây Bắc chưa tâ ̣p trung vào người Thái ở Điện Biên

Ngoài cuốn: “Điê ̣n Biên trong li ̣ch sử” của GS Đặng Nghiêm Vạ n và

Đinh Xuân Lâm viết trực tiếp về Điê ̣n Biên , xuất bản từ năm 1979, mãi đến gần đây, trong thời kỳ đổ i mới, Điê ̣n Biên mới la ̣i được mô ̣t số tác giả chú ý

tới Trong đó đáng chú ý là cuốn : “Sự biến đổi nền nông nghiê ̣p Châu Thổ –

Thái Bình ở vùng núi Lai Châu” của hai tác giả Tạ Long và Ngô Thị Chính

Trang 9

do Nxb Nông nghiệp phát hành năm 2000 Cuốn sách giới thiê ̣u về các chính sách và sự thực hiện chính sách của nhà nước về vấn đề kinh tế nông nghiệp Điê ̣n Biên từ sau Cách mạng tháng Tám đến ngày đổi mới ; Năm 2001, luâ ̣n

văn tha ̣c sĩ của Lương Thi ̣ Thu Hằng viết về đề tài : “Phụ nữ Thái Đ en với

viê ̣c bảo tồn văn hóa trong thời kỷ đổi mới (qua nghiên cứu ở xã Thanh Luông, Điê ̣n Biên, Lai Châu)” Trong công trình nghiên cứu này tác giả đã

cho thấy những chuyển biến ma ̣nh mẽ trong tất cả các mă ̣t của đờ i sống và

sản xuất ở Thanh Luông

Như vậy, tuy về người Thái ở Viê ̣t Nam được nhiều người quan tâm nghiên cứu, nhưng riêng về người Thái vùng Điê ̣n Biên la ̣i ít được chú tro ̣ng , nhất là trong thời kỳ hiê ̣n đa ̣i và những năm gầ n đây Nhâ ̣n thức được tình hình như vậy , với tư cách là một người Thái từ mô ̣t quốc gia láng giềng – Thái Lan, tôi mong muốn được góp phần giới thiê ̣u những trang sử mới của vùng đất cùng những con người cụ thể ở đây tron g công cuô ̣c Đổi mới ở Viê ̣t Nam Mong rằng, luận án của tôi có thể go ̣ i ra được những nguyên nhân chủ quan và khách quan giúp cho mảnh đất anh hùng này tiếp tu ̣c phát triển

3 Mục đích nghiên cứu

Khái niệm về kinh tế – xã hội liên quan đến vấn đề biến đổi kinh tế – xã hội của đề tài nghiên cứu này là ng hiên cứu sự biến đổi về mă ̣t kinh tế dẫn để nhâ ̣n biến đổi về mă ̣t xã hô ̣i chứ không phải nghiên cứu về sự biến đổi của hình thái kinh tế – xã hội và cũng không đặt vấn đề nghiên cứu sự biến đổi kinh tế, xã hội riêng biệt

Mục đích của luận án nhằm làm sáng tỏ ba nội dung như sau:

3.1 Nghiên cứ u tiến trình li ̣ch sử của người Thái ở vùng Điê ̣n Biên từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay

Trang 10

3.2 Tình hình kinh tờ́ – xã hụ̣i trước khi có Đụ̉i mới, thực trạng và tiờ̀n đờ̀ dõ̃n tới sự đụ̉i mới và những biờ́n đụ̉i cu ̣ thờ̉ vờ̀ kinh tờ́ – xã hụ̣i ở Điợ̀n Biờn

3.3 Nghiờn cứ u quá trình đụ thi ̣ hóa đụ̀ng thời cũng là các bước phát triờ̉n và biờ́n đụ̉i ở thành phụ́ miờ̀n núi Điợ̀n Biờn Từ đó có thờ̉ rút ra bài ho ̣c kinh nghiờ ̣m cho nhiờ̀u vùng miờ̀n núi khác

4 Đụ́i tượng, phạm vi nghiờn cứu

Đờ̉ cõ ̣p tới những đă ̣c đ iờ̉m của kinh tờ́ – xã hụ̣i truyờ̀n thụ́ng trước Cách mạng tháng Tám 1945 so sánh vớ i sự biờ́n đụ̉i của nó qua quá trình phát triờ̉n dưới tác đụ ̣ng của xa hụ ̣i mới (sau Cách mạng tháng Tám 1945), sự phát triờ̉n Điờ ̣n Biờn trong quá trình đụ thị hóa và sự thay đụ̉i lụ́i sụ́ng vờ̀ mă ̣t xã

hụ ̣i - kinh tờ́ - văn hóa từ Đụ̉i mới đờ́n nay

Luõ ̣n án tiờ́n hành nghiờn cứu điờ̉m tại phường Him Lam , thành phụ́ Điờ ̣n Biờn Phủ và xã Thanh Luụng , mụ ̣t xã giáp ranh giữa nụng thụn và đụ thị, tỉnh Điợ̀n Biờn Đõy là điờ̉m cư trú lõu đời của người Thái ở Điờ ̣n Biờn , đụ̀ng thời Him Lam và Thanh Luụng nằm ở nơi chi ̣u sự tác đụ ̣ng khá ma ̣nh của quá trình đụ thị hóa và sự phát triờ̉n kinh tờ́ thị trường cù ng với người Kinh di cư lờn Điợ̀n Biờn sau Cách mạng tháng Tám 1945

Đờ̉ phục vụ cho nghiên cứu so sánh trong những tr-ờng hợp cần thiết chúng tôi còn mở rộng phạm vi nghiên cứu sang một số xã khác trong huyện

Điện Biên Chúng tôi còn khảo sát tại một số gia đình ng-ời Kinh trong phạm

vi nghiờn cứu vì sự biến đổi trong thời điểm này tạo nên quan hệ giữa ng-ời Kinh và ng-ời Thái ở vùng Điẹn Biên

5 Nguụ̀n ta ̀i liờ ̣u nghiờn cứu

Nguồn tài liệu quan trọng nhất đờ̉ hoàn thành luận án này là nguồn tài liệu điờ̀n dã mà chúng tôi thu thập đ-ợc từ những năm 2003 đến 2007, tại

Trang 11

ph-ờng Him Lam thành phố Điẹn Biên Phủ, xã Thanh Luụng và một số xã khác trong huyện Điện Biên

Nguồn tài liệu thứ hai là các văn bản của các cơ quan Nhà n-ớc nh- Chính phủ, các bụ̣ các ban ngành của trung ương và địa phương Các nguồn tài liệu này được l-u trữ tại Trung tâm l-u trữ quốc gia và văn phòng Uỷ ban Nhân dân các cấp ở tỉnh và địa ph-ơng

Nguồn tài liệu thứ ba là những tài liệu đã đ-ợc công bố từ tr-ớc dến nay của các học giả, các nhà nghiên cứu trong và ngoài n-ớc, các bài viết liên quan đến người Thái ở Việt Nam và Tây Bắc nói chung, đặc biệt là các sách nghiờn cứu liờn quan đờ́n vṍn đờ̀ kinh tế - xã hội ở Điện Biên

6 Đo ́ ng góp của luõ ̣n án

6.1 Góp phõ̀n nghiờn cứ u vờ̀ kinh tờ́ xã hụ ̣i ở Điờ ̣n Biờn trờn con đường tiờ́n vào đụ thi ̣ hóa và hiợ̀n đại hóa

6.2 Góp thờm tư liợ̀u nhằm nghiờn cứu so sánh với nụ̣i dung này ở người Thái khu vực khác

6.3 Góp phõ̀n làm rõ thờm quá trì nh cụng nghiờ ̣p hóa và hiờ ̣n đa ̣i hóa và sự đụ̉i mới kinh tờ́ - xã hụ̣i, đă ̣c biờ ̣t là đụ́i với các vùng nụng thụn miờ̀n núi và các dõn tụ̣c ít người của Viợ̀t Nam

7 Bụ́ cu ̣c của luõ ̣n án

Ngoài phần Mở đõ̀u, Kết luận, Tài liợ̀u tham khả o, Phụ lục, nội dung của luân án đ-ợc chia thành 4 ch-ơng

Chương 1: Tụ̉ng quan vờ̀ tình hình nghiờn cứu

Chương 2: Đặc điờ̉m kinh tờ́ – xã hụ̣i truyờ̀n thụ́ng của người Thái ở

Điờ ̣n Biờn

Chương 3: Sự biờ́n đụ̉i kinh tờ́ – xã hụ̣i dưới tác đụ ̣ng của xã hụ ̣i mới Chương 4: Đụ thi ̣ hóa và sự thay đụ̉i lụ́i sụ́ng từ Đụ̉i mới đờ́n nay

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Ngươ ̀ i Thái ở tỉnh Điê ̣n Biên

1.1.1 Khái quát về tỉnh Điện Biên

-Vị trí, đă ̣c điểm tự nhiên

Điê ̣n Biên là mô ̣t tỉnh miền núi biên giới phía Tây Bắc Viê ̣t Nam (Xin xem Bản đồ khu Tây Bắc Viê ̣t Nam , phần Phu ̣ lu ̣c ), có diện tích tự nhiên 9.542,289 km² chiếm 2,89% diện tích cả nước Tọa đô ̣ đi ̣a lý: 20°54‟-22°33‟ vĩ độ Bắc và 102°10‟-103°36‟ kinh đô ̣ Đông Phía Bắc giáp tỉnh Lai Châu , phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Sơn La , phía Tây Bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), phía Tây và Tây Nam giáp với nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào Cách thủ đô Hà Nội khoảng 500 km đường bô ̣, nằm bên cành quốc

lô ̣ 279 đi cửa khẩu Tây Trang ở phía Nam và quốc lô ̣ 12 đi Lai Châu ở phía Bắc Điê ̣n Biên là tỉnh duy nhất có chung đường biên giới với 2 quốc gia Trung quốc và Lào , trong đó b iên giới với Lào dài 360 km và biên giới với Trung quốc dài 38,5 km Điê ̣n Biên có 9 đơn vi ̣ hành chính (01 Thành phố, 01 Thị xã và 07 huyê ̣n) với 21 dân tô ̣c sinh sống

Về tên cũ của Điê ̣n Biên Phủ là tên Mườn g Thanh Nhà Thái học Cầm Trọng [9] đã trình bày: Mường Thanh tên cũ là Mường Then Mô ̣t tên Mường gắn với các thần thoa ̣i và truyền thuyết về sự phát sinh ra tô ̣c Thái đó là “đất tổ” của nhiều ngành Thái ở Đông Nam Á Khi La ̣n Chươ ng đưa bô ̣ phâ ̣n người Thái Đen từ Mường Lò vào Mường Thanh thì Mường Thanh lúc đó còn gọi là Song Thanh vì ở vùng lòng chảo rộng lớn này có hai mường ; Thanh Nưa (Thanh trên) cắm từ bản Noong He ̣t đổ ngược về đầu sông Nâ ̣m

Trang 13

Rốm Tại đâ y có trung tâm Mường Thanh là c ủa toàn châu mường , Thanh Tảư (Thanh dưới) từ bản Noong He ̣t đổ xuôi về cuối sông Nâ ̣m Rốm Tại đây có viêng Xam Mứn (Tam Va ̣n Thành) cổ kính của người Lự xây dựng

Mường Thanh/Mường Then (còn gọi là Mãnh Thiên) là tên gọi xưa nhất của Điện Biên Thời Hùng vương, đất Mường Thanh thuộc bộ Tân Hưng Thời Lý nằm trong địa hạt châu Lâm Tây; đến thời Trần, Mường Thanh thuộc châu Ninh Viễn, lộ Đà Giang Đầu thời Lê, Mường Thanh thuộc châu Phục Lễ (Lai Châu), trấn Gia Hưng Năm 1463, trấn Hưng Hóa được thành lập, Mường Thanh lúc đó thuộc phủ An Tây, gồm 10 châu: Lai, Luân, Quỳnh Nhai, Chiêu Tấn, Tùng Lăng, Hoàng Nham, Hợp Phì, Tuy Phụ và Khiêm Đời Lê Cảnh Hưng (1740-1768), 6 châu bị nhà Thanh đánh chiếm, phủ An Tây chỉ còn 4 châu: Chiêu Tấn, Quỳnh Nhai, Lai và Luân

Khoảng thế kỷ X, trong quá trình khai khẩn ruộng nước, tạo thành cánh đồng rộng lớn, con cháu của Khun Bó Rôm đã xây dựng Mường Thanh thành một mường lớn Đến thời Lạn Chương, Mường Thanh phát triển cực thịnh

Sau này, tên gọi Mường Thanh được ghi trong sách Hưng Hóa xứ phong thổ

lục của Hoàng Bình Chính với cái tên đô ̣ng Mãnh Thiên (mô ̣t tên phiên âm

bằng chữ Hán của Mường Thanh ) Vì lúc đó một thủ lĩnh phong trào nông dân nổi tiếng là Hoàng Công Chất đã lấy trung tâm Mường Thanh để xây đắp thành luỹ gọi là thành “phủ Chiềng Lè” (phiên âm là Trình Lê ̣ ) Thời đó Mường Thanh trở thành căn cứ của phong trào nông dân nổi dâ ̣y chống triều đình Lê-Trịnh mục nát; đồng thời cũng là trung tâm của toàn thể khu vực

“Mười sáu châu Thái” đúng như câu:

“Đây! Dưới xuôi có vua

Trên này có chúa

Những miền như Mường Puồn, Châu ét

Từ Đà Bắc, chợ Bờ

Trang 14

Lại phía trên như Mường So, Mường Là đổ lại

Tất cả đều quy phục chúa Mường Thanh.”

Sau khi Hoàng Công Chất mất năm 1767, con trai là Hoàng Công Toản lên thay, lãnh đạo nông dân tiếp tục chống lại vua Lê -chúa Trịnh Cuốn

“Hưng Hóa xứ phong thổ lục” của tác giả Hoàng Bình C hính và “Hưng Hóa ký lược” của tác giả Phạm Thận Duật đã viết đến đất Mường Thanh và phủ Điê ̣n Biên, Mục: Châu Ninh Biên, tác giả có nhắc tới đất Mường Thanh Năm

Cảnh Hưng 28 (1767) lần lượt bình đi ̣nh bo ̣n giă ̣c chiếm cứ Mư ờng Thanh, nhưng đến năm 1769, Hoàng Công Toản bị thất bại , khởi nghĩa bị tan rã; đến năm Cảnh Hưng 36 (1775), đất ấy đă ̣t làm châu Ninh Biên Trong châu có 4

đô ̣ng: Phong Thanh, Cẩm Ba, Tiên Phong, Hiền Liên đến năm Cảnh Hưng thứ 38 (1777) triều đình đă ̣t cho Mường Thanh là châu Ninh Biên thuô ̣c phủ Yên Tây Triều đình lúc đó cũng thừa nhâ ̣n ranh giới của châu Ninh Biên

rô ̣ng gần như đất Mường Thanh của người Thái Châu Ninh Biên có tất cả 12 mường nhỏ gô ̣p la ̣i , trên tiếp giáp với Nâu Giang (Nâ ̣m U) và các nước Nam Man Xa Ly (miền Phong Sa Ly ) dướ i tiếp giáp Tuần Giáo , tả tiếp giáp Ai Lao, bắc tiếp giáp Lai Châu

Năm Thiê ̣u Tri ̣ nguyên niên (1841), tên Điê ̣n Biên Phủ được đă ̣t cho

vùng lòng chảo Mường Thanh (Điện có nghĩa là vững chãi, Biên có nghĩa là

vùng biên ải); đổi phủ An Tây thành phủ Điện Biên Đến tháng 5/1841, đề nghị của Nguyễn Khắc Tuần xin lập phủ Điện Biên gồm châu Ninh Biên , Tuần Giáo và Lai Châu, được vua Thiê ̣u Trị phê chuẩn, đóng phủ ly ̣ ở Chiềng Lề, châu Ninh Biên, nay thuô ̣c Bản Phủ, xã Noọng Hét Từ đó Mường Thanh mang tên Điê ̣n Biên Phủ [28, tr 232] và [9, tr 324-325]

Năm Thiê ̣u Tri ̣ thứ 4 (1844) đă ̣t làm 2 tổng: Tổng Phong Thanh gồm có

7 xã, Tổng Tiên Phong có 6 xã Đến năm Tự Đức Nguyên Niên (1848) đă ̣t riêng thành Phủ Điê ̣n Biên và chiêu du ̣ được 9 xã: Bà Man, Bình Đôn, Noọng

Trang 15

Hét, Bá Bao, Mãnh Gia, Trần Củ, Đông Lâm Chiêu Lai, Bình Thản và 4 xã cũ: thành 13 xã

Như đã nói trên , sách “Hưng Hóa Ký Lược”, trong tổng mu ̣c có nói đến phụ đạo châu Ninh Biên là “ ở chỗ khác lại nói châu này là đất Mường

Trong kháng chiến chống Pháp Điện Biên đã tách, nhập nhiều lần Đến ngày 7-5-1954, ngày chiến thắng Điện Biên Phủ , từ đây, Điê ̣n Biên Phủ mới thực sự có tên trên bản đồ thế giới Cũng từ đây , tên go ̣i Điê ̣n Biên Phủ là đồng nghĩa với chiến thắng! [131, tr 77-81]

Năm 1953, Khu Tây Bắc được thành lâ ̣p theo Sắc lê ̣nh số 134-SL, ngày 28/01/1953 để „củng cố căn cứ địa Tây Bắc mới giải phóng” gồm các tỉnh : Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Lai Châu [Nguồn: C«ng b¸o VNDCCH, 1953, sè 1-2, tr 1] Tháng 4/1955, Điện Biên nằm trong Khu tự trị Thái-Mèo; tháng 10/1962 đổi thành Khu tự trị Tây Bắc , gồm 3 tỉnh: Lai Châu, Nghĩa Lộ và Sơn La Sau khi giải phóng miền Nam năm 1975, khu tự trị Tây Bắc được giải thể, tỉnh Lai Châu được thành lập, bao gồm cả địa phận tỉnh Điện Biên

1

Hô ̣i văn ho ̣c nghê ̣ thuâ ̣t Hà Nam Ninh : Phạm Thận Duật , cuộc đời và tác phẩm , Nxb

KHXH, Hà Nội, 1989, tr 131-132 Từ trang 109-199, sách trên đã giới thiệu Hưng Hóa Ký

Lược của Phạm Thân Duật (bản di ̣ch chữ Hán của Viê ̣n nghiên cứu Hán Nôm ) nhiều trang

nói đến đất Mường Thanh

Trang 16

ngày nay, thủ phủ tỉnh đóng tại thị xã Mường Lay Sau trận lụt lịch sử năm

1991, thị xã Mường Lay bị nước cuốn sạch, vì thế thủ phủ của tỉnh phải chuyển dời về đóng tại thị xã Điện Biên.Cho đến trước năm 2004, Điện Biên là một huyện thuộc tỉnh Lai Châu (cũ), đến ngày 1 tháng 1 năm 2004, tách thành tỉnh riêng, gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 7 huyện, cụ thể là: Thành phố Điện Biên Phủ (thành lập tháng 10/2003), thị xã Mường Lay (thị xã Lai Châu trước kia), huyện Điện Biên (đang trình xin đổi thành huyện Mường Thanh), Điện Biên Đông, Mường Ẳng, Mường Chà, Mường Nhé, Tủa Chùa và huyện Tuần Giáo

Khu vực Mường Thanh vẫn là khu vực bảo tồn truyền thống dân tô ̣c Thái cho đến khi có mặt của thực dân Pháp Hiện nay , Mường Thanh vẫn mang tên Điê ̣n Biên Phủ Đây là quê hương của chiến thắng li ̣ch sử vĩ đa ̣i – quét sạch thực dân Pháp ra khỏi đất nước , mở ra kỷ nguyên su ̣p đổ của chủ

nghĩa thực dân cũ Mường Thanh và phủ Điện Biên , tên go ̣i ngày xưa , hiê ̣n

nay là Thành phố Điện Biên Phủ và huyê ̣n Điê ̣n Biên thuô ̣c tỉnh Điê ̣n Biên

Vùng Điện Biên là miền vừa có núi non vừa có cánh đồng rộng lớn Những dãy núi ở đây nằm trên đô ̣ cao so với mă ̣t biển từ 500 – 1.000 mét Dãy núi Pú Xam Xao chạy dọc theo biên giới Việ t-Lào với đỉnh núi cao nhất 1.897 mét Phía Bắc dãy núi là lớp núi đá vôi Đó là dãy Tây Trang , cửa đất Điê ̣n B iên qua nước Lào Sang phía Đông dãy núi cao từ 1.200 đến 1.700 mét, từ đó xoè ra thành ba dãy Dãy thứ nhất chạy theo hướng Tây Nam đến dòng sông Nậm Mức Dẫy thứ hai cha ̣y theo hướng Bắc Nam do ̣c theo phía Đông cánh đồng Mường Thanh, tới Mường Phăng dãy núi ra tha ̣ch thành mô ̣t cao nguyên Dãy thứ ba ngắn nhất chạy theo hướng Đông Nam đến cánh đồng Tuần Giáo

Trang 17

Chen vào giữa những dãy núi là những cánh đồng và những dòng sông suối nhỏ Chính những chi nhánh của những con sông Mã , Nâ ̣m Mức, Nâ ̣m Núa và Nâ ̣m Rốm

Thung lũng Điê ̣n Biên hay vùng lòng chảo Mườn g Thanh có hai con sông gồm;

1) Sông Nậm Rốm : phát nguyên từ dãy núi giữa Na Tấu và Mường Đặng, qua Na Nhan , hợp lưu với Nâ ̣m Phăng , qua lòng chảo hợp lưu với 28 nhánh suối khác , chạy xuyên qua tiêu vùng theo hướng Bắc Nam Diê ̣n tích lưu vực 500 km² Độ dốc trung bình 4%, hê ̣ số uốn khúc 1,7, đi sâu vào lòng chảo về phía Nam hệ số uốn khúc 1,96

Các suối thuộc lưu vực Nậm Rốm có tất cả 28 nguồn suối trong đó chỉ có 7 nguồn suối có nước quanh năm và có tác du ̣ng tương đối lớn đối với sản xuất nông nghiê ̣p

Hiê ̣n nay sông Nâ ̣m Rốm là con sông có ích nhất đối với sản xuất nô ng nghiê ̣p Công trình đầu mố i hê ̣ thống đa ̣i thủy nông Điê ̣n Biên xây dựng trên con sông này tưới nước cho một diện tích quan trọng của vù ng lòng chảo, với 3.371 ha lúa mùa , cây công nghiệp Các nhánh suối hợ p lưu với Nâ ̣m Rốm như Nâ ̣m Khảu H ú, Huổi Pha ̣, Pe Luông , Nâ ̣m Ngo ̣p , Nâ ̣m Luông , Hồng Lếch, Hồng Sống vv tưới mô ̣t phần diê ̣n tích trên kênh và bổ s ung cho mô ̣t số khu vực dưới kênh Song, đô ̣ dốc lòng sông lớn trong các tháng 7, 3 tháng gây ra lũ lu ̣t đô ̣t ngô ̣t, mực nước lớn nhất hàng năm thường cao hơn đáy sông từ 4 đến 6 mét nhưng sau 5 đến 10 tiếng đồng hồ lại rứt Năm 1959 lũ cao nhất làm ngâ ̣p 1 km đường 12 (khu vực Hồng cúm) , ngâ ̣p trên 600 ha đất bãi ruô ̣ng ven sông

2) Nậm Núa : có 2 nhánh Nậm Núa chảy từ Mường Nha về , Nâ ̣m Ngan chảy từ Pu Nhi về , hợp lưu ở Nâ ̣m Ngan (Na Sang) lấy tên Nâ ̣m Núa chảy theo hướng Đông Tây đến Pá Nậm (Sam Mứn) hợp lưu với Nâ ̣m Rốm

Trang 18

chảy qua No ng Luông, Pa Thơm sang Lào hợp lưu với Nâ ̣m U [Nguồn: Hồ

sơ 628, Phong UBHC KTTTB, tr 11-12]

Vào mùa khô , với những chiếc thuyền đuôi én tro ̣ng tải từ nửa tấn đến

mô ̣t tấn, ta có thể xuôi ngược khắp các dòng sông quen thuô ̣c vùng Tây Bắc Nếu muốn sang Lào, từ dòng sông Nâ ̣m Rốm của đất Điê ̣n Biên thuyền rẽ qua sông Nâ ̣m Nua câ ̣p vào Pắc U để vào sông Nậm U ở thượng Lào , từ đó thuyền dẫn đến con sông lớn Nâ ̣m Khoong (Mêkông) [29, tr 19]

Nằm go ̣n giữa những dãy núi kể trên là cánh đồng Mường Thanh rô ̣ng lớn nhất của đất Tây Bắc cha ̣y dài trên hai chu ̣c cây số với bề rô ̣ng năm cây số “Nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc”, là bốn vựa lúa ở Tây Bắc [28, Tr 12-14] Thứ nhất là cánh đồng Mường Thanh, thuô ̣c huyê ̣n Điê ̣n Biên; thứ nhì là Mường Lò, tức cánh đồng Nghĩa Lô ̣, thuô ̣c huyê ̣n Văn Chấn tỉnh Yên Bái; thứ ba là Mường Than , tức cánh đồng Than Uyên , thuô ̣c huyê ̣n Than Uyên , tỉnh Lai Châu; thứ tư là Mường Tấc , tức cánh đồng Mường Tấc , thuô ̣c huyê ̣n Phù Yên tỉnh Sơn La hiện nay

Nằm trong kh u vực nô ̣i chí tuyến , sự phân hóa vĩ độ của nước Việt Nam không lớn, tính địa đới của khí hậu k hông cao như ở Ấ n Đô ̣ và Lào Do ảnh hưởng của gió mùa , của địa hình và của thảm thực vật nên khí hậu các vùng có sự khác nhau nhiều Khu Tây Bắc bi ̣ vây bo ̣c xung quanh với núi cao,

đi ̣a hình như mô ̣t hê ̣ thống lòng chảo lớn nhỏ Do đó, Tây Bắc bi ̣ che khuất cả hai luồng gió mùa chính , làm cho chúng biến tính : mùa đông rấ t khô hanh , mùa hè lại có gió tây nóng bỏng

Số liệu khí hậu ở Điện Biên trong một số năm cho thấy như sau ; nhiệt

đô ̣ trung bình từ năm 1959 – 1972 là 21,8˚C, cao nhất 26˚C (tháng 6, 7), thấp nhất 15˚C (tháng 1); giờ nắng trong năm 1966 – 1972 là cao nhất 199 giờ (tháng 4), thấp nhất 122 giờ (tháng 7); lượng mưa trong năm 1931 – 1972 cao nhất là 392 mm (tháng 8), thấp nhất 11,8 mm (tháng 1) [78, tr 21]

Trang 19

Nhâ ̣n xét về vùng đất này , nhà bác học Lê Quý Đôn trong “Kiến văn

tiểu lục” viết rằng; “Châu này thế núi vòng quanh , nước sông b ao bọc, đồn sở ở giữa, ruộng đất bằng phẳng màu mỡ, bốn bên đến chân núi , đều phải đi một ngày đường, công viê ̣c làm ruộng bằng nửa công viê ̣c châu khác , mà số hoa lợi thu hoạch gấp đôi Thổ sản có sa nhân , sáp vàng , diêm tiêu , lưu hoàng và sắt sống Có một qủa núi, nước suối rất mặn, thú rựng thời thường đến uống, người đi ̣a phương dùng nỏ bắn rất nhiều, tục gọi là “mở thi ̣t” [59,

tr 355-356]

Môi trường tự nhiên trong mô ̣t khu vực đi ̣a lý Điê ̣n Biên ta ̣o mô ̣t yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế xã hô ̣i và văn hóa tô ̣c người Như ông Cầm Tro ̣ng viết rằng: Đất Điện Biên là nơi cư trú tập trung của đồng bào dân tộc Thái từ lâu đời, điều mà xã Thanh Luông ngày nay vốn thuô ̣c đi ̣a phâ ̣n trung tâm của Mường Thanh ngày xưa [9, tr 324] Hiê ̣n nay dân đi ̣a phương như Ông Lò Xuân Hình, Giám đốc Bảo tàng Điện Biên Phủ đã giải thích thêm : Trong khu vực Mường Thanh có ba khu trung tâ m chủ yếu là Chiềng Chăn, thành trung tâm chính của Mường Thanh, còn hai Chiềng lớn là Chiềng Lè và Chiềng Đi Khu vực này bao gồm cả lòng chảo Điê ̣n Biên , đă ̣c biê ̣t là xã Thanh Luông

mô ̣t trung tâm lớn ngày xưa

-Đặc điểm tự nhiên phường Him Lam và xã Thanh Luông

Để viê ̣c nghiên cứu thuâ ̣n lợi và có những cứ liê ̣u cu ̣ thể chi tiết về đề tài nghiên cứu , tôi đã cho ̣n hai đi ̣a điểm Phường Him Lam – mô ̣t đi ̣a bản đã và đang đượ c đô thi ̣ hóa và cũng là địa bản tr ung tâm của huyê ̣n Điê ̣n Biên ; xã Thanh Luông , mô ̣t đi ̣a bàn giáp ranh giữa vùng nông thôn và đô thị , tính chất nông thôn còn khá điển hình để làm điểm nghiên cứu Cả hai điểm này sẽ là những mình chứng cụ thể , sinh đô ̣ng về sự biến đổi kinh tế – xã hội cũng như các mă ̣t khác trong quá trình Đổi mới ở Điê ̣n Biên hiê ̣n nay

Trang 20

Phường Him Lam nằm trong Thành phố Điê ̣n Biên Phủ , phía Đông Nam giáp phường Noọng Bua, phía Đông Bắc giáp xã Thanh Minh , phía Bắc và Tây Bắc giáp phường Thanh Trường, phía Nam giáp phường Tân Thanh

Him Lam có tổng diê ̣n tích tự nhiên là 415,5 ha, trong đó có trên 1/3 diê ̣n tích là đất đồi , có hai cánh đồng Him Lam và Huổi Phạ Trên đi ̣a bản phường Him Lam có Đồi Him Lam Sông suối chảy qua : chủ yếu là sông

Nâ ̣m Rốm , suối Huổi pha ̣ và có hồ Huổi Pha ̣ nằm ở phía Đông [Nguồn: UBND Thành phố ĐBP , 2005] Ngoài ra, phường Him Lam có mô ̣t đă ̣c điểm tự nhiên quan tro ̣ng là những hòn đá đen to lớn nằm ở sông Nâ ̣m Rốm khi chảy qua địa bàn này Người dân đi ̣a phương đã cho ̣ n đă ̣c điểm tự nhiên này

gọi tên bản là “bản Hin Đăm”, theo tiếng Thái có nghĩa là “bản đá đen” , sau này người Việt gọi chệch thành “bản Him Lam” (phường Him Lam hiê ̣n nay)

Xã Thanh Luông là một xã biên giới thuộc huyện Điện Biên , nằm ở phía Tây của Thành phố Điện Biên Phủ , cách trung tâm thành phố và tỉnh khoảng 5 km Thanh Luông là đơn vi ̣ hành chính tru ̣c thuộc huyện Điện Biên, Tỉnh Điện Biên Phía Tây của xã giáp nước Lào với đường biên dài 10 km, phía Đông giáp Thành phố Điện Biên Phủ , phía Bắc giáp xã Thanh Nưa và phiá Nam giáp xã Thanh Hưng của huyện Điện Biên

Đi ̣a hình Thanh Luông theo đô ̣ dốc từ 16˚ đến 20˚ có tổng diê ̣n tích tự nhiên là 4.010 ha với đất nông nghiê ̣p và đất thổ cư 842 ha, còn lại là 3.168 ha đất rựng và diê ̣n tích mă ̣t nước [Nguồn: Phòng Địa Chính huyện Điện Biên và Tổng cục thống kê tỉnh Lai Châu, 2000]

Trên đi ̣a bàn Thanh Luông có sô ng Nâ ̣m Rốm Dòng sông này chảy qua cánh đồng Thanh Luông, phía Bắc của cánh đồng Mường Thanh , hay go ̣i là cánh đồng Điện Biên , đến cuối cánh đồng sông rẽ qua sông Nậm N úa theo hướng Tây Nam vào sông Nâ ̣m U ở tỉnh Hua Phăn nước Lào để chảy về con sông lớn Nâ ̣m Khoo ng (sông MêKông) đến tỉnh Luâng Phabang , nước Lào

Trang 21

Còn lại có suối Nậm Pe chảy từ bản Hua Pe phía Tây của xã theo hướng đông để gặp sông Nâ ̣m Rốm Nguồn suối Nâ ̣m Pe có khu suối nước nóng ta ̣o nên

đă ̣c điểm đô ̣c đáo của tự nhiên xã Thanh Luông nói riêng , khu Tây Bắc nói chung Cánh đồng Thanh Luông cũng là đặc điểm của địa hình xã Thanh Luông và huyê ̣n Điê ̣n Biên nằm ở trung tâm của cánh đồng Mường Thanh , thung lũng lòng chảo Điê ̣n Biên

Về khí hâ ̣u, Thanh Luông thuô ̣c vùng chi ̣u ảnh hưởng khí hâ ̣u nhiê ̣t đới gió mùa, hàng năm thời tiết chia thành 2 mùa rõ rẹt Mùa khô bắt đầu từ tháng

11 năm trướ c đến thá ng 4 năm sau và mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 Nhiê ̣t đô ̣ trung bình ở Thanh Luông là 25,5˚C, cao nhất 26,6˚C (tháng 6,7), thấp nhất 14,3˚C (tháng 12) Số giờ nắng cả năm ở Điê ̣n Biên là 158 giờ, cao nhất 219 giờ (tháng 3), thấp nhất 120 giờ (tháng 8) Lượng mưa trong năm ta ̣i Điê ̣n Biên là 167 mm, cao nhất 526 mm (tháng 7), thấp nhất 0 mm (tháng 2) [Nguồn: Tổng cục thống kê tỉnh Lai Châu, 2000]

1.1.2 Dân số, dân cư va ̀ sự phân bố

Bảng Mật độ dân số trung bình tỉnh Điện Biên (năm 2007)

Trang 22

Dõn năm 2007 của tỉnh Điợ̀n Biờn là 468.284 người mõ ̣t đụ ̣ dõn sụ́ bình quõn 49 người/km², là mụ̣t trong những tỉnh có mọ̃t đụ̣ dõn sụ́ thṍp nhṍt trong cả nước và thṍp hơn nhiờ̀u so với mõ ̣t đụ ̣ dõn sụ́ trung bình của vùng Tõy Bắc (69 người/km²) và của cả nước (254 người/km²)

Theo Sở Kờ́ hoạch và Đõ̀u tư tỉnh Điợ̀n Biờn năm 2007, trờn đi ̣a bàn tỉnh Điợ̀n Biờn có 21 dõn tụ ̣c sinh sụ́ng , trong đó người Thái: 186.808 người (39.89%), Hmụng: 144.062 người (30.76%), Kinh: 96.312 người (20.57%), Khơ-mú: 16.404 người (3.50%), Lào: 4.969 người, Kháng: 3.982 nhười, Dao: 3.852 người, Hà Nhì: 3.843 ngườ i, Hoa: 2.490 người, Xinh-mun: 1.658, Tày: 1.730 ngườ i, Cụ́ng: 839 người, Nùng: 782 người; các dõn tụ̣c khác: 913 người (Xin xem Bảng Tỷ lờ ̣ thành phõ̀n các dõn tụ ̣c tỉnh Điờ ̣n Biờn năm 2007

và Bảng Dõn sụ́ các dõn tụ ̣c ở tỉnh Điờ ̣n Biờn năm 2007) Các dõn tụ̣c ở Điợ̀ n

Biờn có những nét văn hóa đă ̣c trưng của đụ̀ng bào khu vực Tõy Bắc

- Người Thái cư trú tọ̃p trung tại trung tõm thành phụ́ Điợ̀n Biờn Phủ và các huyợ̀n: Tuõ̀n Giáo, Điợ̀n Biờn, Điợ̀n Biờn Đụng, Mường Ẳng, thị xã Mường Lay, Mường Nhé và huyợ̀n Mường Chà

- Người Hmụng có 3 nghành: Hmụng Trắng, Hmụng Đỏ và Hmụng Hoa Trong đó người Hmụng Trắng nhiều nhất, cư trú tọ̃p trung tại các huyợ̀n: Tủa Chùa, Mường Chà, Mường Nhé, Tuõ̀n Giáo, Điợ̀n Biờn Đụng

- Người Kinh cư trú tọ̃p trung chủ yờ́u tại Thành phụ́ Điợ̀n Biờn, huyợ̀n Điợ̀n Biờn, Tuõ̀n Giáo, thị xã Mường Lay

- Người Khơ-mú cư trú tọ̃p trung tại các huyợ̀n: Điợ̀n Biờn, Tuõ̀n Giáo, Điợ̀n Biờn Đụng, Mường Chà

- Người Hà Nhì và người Cụ́ng chủ yờ́u cư trú tọ̃p trung tại huyợ̀n: Mường Nhé;

- Người Lào cư trú chủ yờ́u ở huyợ̀n Điợ̀n Biờn và Điợ̀n Biờn Đụng;

Trang 23

- Người Hoa cư trú tập trung tại thị xã Mường Lay, Mường Chà, Tủa Chùa;

- Người Dao cư trú chủ yếu tại huyện Mường Nhé, Tủa Chùa

- Ngườ i Xinh Mun á x· Chiềng Xá

Bảng Tỷ lệ thành phần các dân tộc tỉnh Điện Biên (năm 2007)

Trang 24

Bảng : Dân số các dân tô ̣c ở tỉnh Điện Biên (năm 2007)

[Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Điện Biên năm 2007]

- Người Hà Nhì và người Cống chủ yếu cư trú tập trung tại huyện: Mường Nhé;

- Người Lào cư trú chủ yếu ở huyện Điện Biên và Điện Biên Đông;

- Người Hoa cư trú tập trung tại thị xã Mường Lay, Mường Chà, Tủa Chùa;

Trang 25

1.1.3 Khái quát về ngươ ̀ i Thái ở Điện Biên

-Tên go ̣i và các ngành Thái ở Điê ̣n Biên

Từ trước đến nay, người Thái ở Tây Bắc nói chung, ở Điện Biên nói

riêng vẫn tự gọi là “Côn Tay” hay “Phủ Tay” (người Thái, trong đó: “côn” và “phủ” = người; “Tay” = Thái), cũng giống như người Tày vùng Đông Bắc tự gọi là “Cần Tày” (người Tày) Có hai ngành Thái là: “Tay Đăm” (Thái Đen) và “Tay Khao/Đón” (Thái Trắng) Ngành Thái Đen cư trú tập trung tại

Thành phố Điện Biên Phủ, các huyện Tuần Giáo, Tủa Chùa, Mường Ẳng, Điện Biên, Điện Biên Đông; còn ngành Thái Trắng cư trú tập trung tại thị xã Mường Lay, các huyện Mường Nhé và Mường Chà

-Nguồn gốc li ̣ch sử

Nguồn gốc li ̣ch sử của người Thái ở Viê ̣t Nam nói chung , người Thái ở Tây Bắc và tỉnh Điê ̣n Biên nói riêng là vấn đề hết sức phức tạp Qua các nguồn sử liê ̣u , nhất là khảo cổ học , dân tô ̣c ho ̣c PGS.TS Hoàng Lương [48,

Tr 3-8] khẳng định rằng; Cư dân Phùng Nguyên – Đông Sơn và cư dân Tày Thái cổ có mố i quan hê ̣ nô ̣i sinh Có thể nói người Tày-Thái cổ là một trong những thành viên quan tro ̣ng của khối cô ̣ng đồng cư dân Phùng Nguyên – Đông Sơn và ho ̣ đã gó p phần ta ̣o dựng và phát triển nền văn minh Đông Sơn ở Việt Nam Điều đó cũng đã đượ c các nhà khoa ho ̣c lớn như GS Hà Văn Tấn, GS Phạm Đức Dương, GS Trần Quốc Vương nhâ ̣n đi ̣nh sau:

-GS Hà Văn Tấn [35],[36] đã xác đi ̣nh : Trong văn hóa Đông Sơn có

những đặc điểm văn hóa tồn tại ở một số dân tộc hiê ̣n nay nói tiếng Môn Khơme hoặc tiếng Thái Cho nên cư dân Văn Lang (nói chính xác là cư dân Đông Sơn), chính là cư dân nông nghiệp lúa nước Trong lớp cư d ân đó có người Thái Cổ, lúc đó cũng đang sinh sống xung quanh vịnh Hà Nội

-GS Phạm Đức Dương [99],[100] cũng nhận xét: Chủ nhân cu ̉a nền văn hóa Phùng Nguyên, người nói ngôn ngữ Viê ̣t -Mường chung đã áp dụng mô

Trang 26

hình văn hóa lúa nước của người Tày-Thái cổ Vì vậy khả năng chủ nhân của nền văn hóa Phùng Nguyên có thể chính là người Tày-Thái

GS Trần Quốc Vượng (Tríc theo Hoàng Lương ) [48, tr 8] đã khẳng

đi ̣nh: Như vậy, có thể thấy rằng, tiếng Tày-Thái là một nhân tố cấu trúc quan

trọng của tiếng Việt, tộc Tày-Thái đã tham gia vào sự cấu thành người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ, văn hóa Tày-Thái tham gia ngay từ đầu vào sự hình thành và bước đầu phát triển của văn hóa Viê ̣t Nam

PGS.TS Lê Sỹ Giáo [60] cũng cho rằng : từ thời tiền giai gấp đã có

một bộ phận cư dân Thái (bản địa) sinh sống trên vùng lãnh thổ này cùng với tổ tiên các tộc Viê ̣t-Mường, Môn-Khơ me

PGS.TS Hoàng Lương [48], đã kết luâ ̣n : Vì vậy, khi nói cư dân Tày

-Thái cổ và cư dân Việt -Mường chung là hai người bạ n láng giềng là hoàn toàn có căn cứ khoa học đáng tin cậy

Nghiên cứu về người Thái ở Viê ̣t Nam , qua các nguồn tư liê ̣u các nhà khoa học đã cho thấy bô ̣ phâ ̣n người Tày -Thái cổ có sự xuất hiện trên địa bàn Bắc Bô ̣ Viê ̣t Nam từ thời Phùng Nguyên - Đông Sơn trướ c công nguyên

Cô ̣ng đồng người Thái cư trú rô ̣ng rãi ở miền Bắc Viê ̣t Nam dần dần thành

lâ ̣p các lãnh đi ̣a cát cứ của mình Mỗi vùng thường có mô ̣t mường trung tâm và các mường phụ thuộc do một lãnh chúa lớn cai quản Theo những cuốn

sách mang tính chất sử thi dân gian như “Quám Tô Mương” (Kể truyê ̣n bản mường), “Táy Pú Xớc” (Theo đường chinh chiến của ông cha) đã kể đến mô ̣t

bô ̣ phâ ̣n người Thái Đen từ mường Ôm , mường Ai (nay ở tỉnh Vân Nam , Trung Quốc) thiên di xuốn g chiếm mường Lò (nay là cá nh đồng Nghĩa Lô ̣, tỉnh Yến Bái) làm trung tâm Đến thời tù trưởng Lạn Chương, con út của Ta ̣o Lò ở mường Lò , và một bộ phần người Thái từ mương Lò thiên di đến đất mường Thanh Đây là cuô ̣c thiên di mang tính chất tổ tiên người Thái Đen ở

Trang 27

vùng Tây Bắc nói chung Điện Biê n nói riêng Từ đây mường Thanh bắt đầu thành mường trung tâm của nhóm người Thái Đen ở vùng Tây Bắc Việt Nam

Cho đến thời Lý Thánh Tông , ảnh hưởng của nhà Lý đối với vùng này đã rất lớn Cô ̣ng đồng tô ̣c người vùng Tây Bắc được ghi chép vào li ̣ch sủ Viê ̣t Nam Trong cuốn sách Đa ̣i Viê ̣t sử ký toàn thư có nói tới nhóm “ Ngưu Hồng”

(có thể phiên âm từ Ngu Háu là Rắn Hổ mang – biểu tượng của nhóm người

Thái Đen Tây Bắc) và “Ai Lao” (là cô ̣ng đồng của nhóm người Lào) được tác

giả này nhận xét là tổ tiên cộng đồng tộc người Thái phía Tây Bắc Một sự kiê ̣n ghi trong chính sử Viê ̣t Nam thâ ̣t đáng ghi nhớ trong cuốn Đa ̣i Việt sử ký

toàn thư ghi rằng : “năm 1067, vào tháng 2 mùa xuân, Ngưu Hống và Ai Lao

đều vào triều cống Lễ vật gồm có vàng, bạc, trầm hương, sừng tê, ngà voi ”

[25, tr 247]

Để người đọc dễ hình dung vấn đề, chúng tôi sẽ không đề cập đến toàn bộ nguồn gốc lịch sử của người Thái ở Việt Nam, mà chỉ tập trung giới thiệu về nguồn gốc lịch sử của người Thái vùng Tây Bắc, trong đó có ngành Thái Đen hiện cư trú tại tỉnh Điện Biên, dựa vào các tình tiết được ghi chép trong hai tập sử thi nói trên

Đến thế kỷ X -XI, người Thái ở Tây Bắc Viê ̣ t Nam có mă ̣t rõ ràng ta ̣i

nơi đây Còn có một bộ phần người Thái theo truyê ̣ n kể bản Mường (Quám

Tô Mương) do tù trưởng La ̣n Chương từ vùng Mường Lò đồng bằng sông

Hồng đến Tây Bắc đă ̣t trung tâm ở Mường Thanh (Điê ̣n Biên hiê ̣n nay) Ông đã trờ thành tổ tiên Ho ̣ Lò Cầm và được ghi chép vào li ̣ch sử dân tô ̣c Thái khoảng từ thế kỷ X -XI Đây là những nhóm Thái đến bổ sung vào các nhóm Thái cổ sinh sống từ l âu ở Viê ̣t Nam và ta ̣o nên bứ c tranh phân bố cư dân Thái ở Việt Nam như ngày nay

Nhìn chung, bắt đầu thế kỷ thứ XII trở đi, các vùng người Thái ở Việt Nam đã ổn định nơi cư trú và bắt tay vào việc xây dựng bản mường của mình

Trang 28

Buổi đầu khi mới làm chủ và xây dựng bản mường, miền Tây Bắc Việt Nam

phân thành 3 vùng: Phía bắc, các mường của người Thái Trắng liên kết với người Lự quy tụ vào trung tâm Mường Lay, phía nam các mường Thái Đen và Thái Trắng cũng hình thành và quy tụ vào trung tâm Mường Xang (Mộc Châu) và vùng giữa là các mường của người Thái Đen quy tụ vào trung tâm

Mường Muổi (Thuận Châu)

Đến thế kỷ XIII, dưới thời thủ lĩnh Lò Lẹt hiệu là Ngu Háu (rắn Hổ

Mang), trung tâm Mường Muổi bắt đầu phát triển Sang thế kỷ XIV, dưới thời

thủ lĩnh Ta Ngân, trung tâm Mường Muổi quy tụ được hai thế lực lớn Mường

Lay và Mường Xang để thống nhất lãnh thổ tộc người mang tên Đất Thái (Đin Tay) Lúc này, trung tâm Mường Muổi là chỗ dựa của triều đình phong kiến

Việt Nam, để giữ yên bờ cõi phía tây bắc của đất nước Sau khi Ta Ngân mất, các mường Thái nổi lên cát cứ và dẫn tới sự hình thành những đơn vị lớn hơn gọi là Châu mường Đến thế kỷ XV-XVI, toàn miền Tây Bắc có 16 châu

mường, nên có tên gọi là khu vực “Xíp hốc Châu Tay” (mười sáu Châu Thái)

Thế kỷ XV, dưới đời Vua Lê Lợi (1428-1433), miền Tây Bắc nằm trong Lộ Đà Giang Người quy tụ được khu vực rộng lớn này là thủ lĩnh trung

tâm Châu Mường Xang tên là Sa Khăm Sam (Sa Tam hay còn gọi là Sa Khả Sâm) vốn có công đem nghĩa quân Áo đỏ từ vùng núi Tú Nang, huyện Mộc

Châu gia nhập vào nghĩa quân của triều đình, dưới sự chỉ huy của Lê Lợi đánh thắng giặc Minh xâm lược năm 1428 Lê Lợi lên ngôi hoàng đế mở đầu triều đại phong kiến Hậu Lê, Sa Khăm Sam được nhà Vua phong chức tước lớn, mang quốc tính là Lê Khả Sâm và trực tiếp cai quản toàn bộ Lộ (Trấn) Đà Giang

Sau khi Sa Khăm Sam mất, trung tâm Mường Xang cũng suy yếu dần

Sang thế kỷ XVI-XVII triều đình phong kiến nhà Lê trở lại vun đắp và dựa

vào các đời thủ lĩnh Châu Mường Muổi để quy tụ khu vực Mười Sáu Châu

Trang 29

Thái Các thủ lĩnh Mường Muổi được nhà vua cho mang danh hiệu như Tuyên

uý xứ, Đại tư mã, Thiếu bảo để đủ uy lực quy tụ các Châu Mường

Thế kỷ XVIII, khu vực Mười Sáu châu Thái bị giặc cỏ mang tên Phẻ,

Pong, Nhuần, Giẳng tràn từ Vân Nam vào cướp phá, hà hiếp nhân dân Thủ

lĩnh Châu Mường La là Cầm Bun Phanh vốn có tài thao lược đã cất quân quét sạch bọn giặc ra khỏi phần lớn khu vực Nhờ chiến công hiển hách đó, vua Lê Cảnh Hưng (1740-1786) phong ông là Gia Nghĩa tướng Quân và cho cai quản khu vực Mười Sáu Châu Thái

Lúc này đồng bằng châu thổ Bắc Bộ đã nổ ra nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân chống lại vua Lê chúa Trịnh Trong đó có cuộc nổi dậy do chủ tướng Hoàng Công Chất chỉ huy đã phát triển tới vùng Tây Bắc, lấy châu Mường Thanh làm nơi đóng đại bản doanh (Thành bản Phủ) Quân họ Hoàng tiếp tục đánh đuổi giặc Phẻ, Pong ở cánh đồng Mường Thanh và thu lại 6

Châu Mường, Hoàng Nham (Mương Hoang), Tùng Lăng (Mương Tung), Lễ Tuyền (Mương Tiêng), Châu Khiêm (Mương Chiêm Khem), Tuy Phụ (Mương

Chúp) và Hợp Phì (Mương Mí) vốn đương nghiêng ngả về tỉnh Vân Nam

(Trung Quốc) Nhiều thủ lĩnh Châu mường Thái đã theo Hoàng Công Chất

Riêng có Cầm Bun Phanh ở Châu Mường La kiên quyết theo đuổi tư tưởng

trung quân, quyết không biến miền Tây Bắc làm mảnh đất riêng tách khỏi cương vực triều đình Việt Nam nên đã chống lại Hoàng Công Chất Cuối cùng ông bị quân họ Hoàng vây bắt giam và chết ở nhà tù Mường Thanh Sau khi họ Hoàng bị Chúa Trịnh đem quân lên đàn áp ở Mường Thanh, Châu Mường La dưới thời cháu đích tôn Cầm Bun Phanh là Cầm Bun Hiềng được triều đình cho đóng vai trò trung tâm để quy phục toàn khu vực Mười Sáu Châu Thái

Sang thế kỷ XIX, triều đình nhà Nguyễn bãi bỏ chế độ Đại Tri Châu, thay vào đó là lệnh bắt từng đơn vị Châu Mường trực thuộc tỉnh Hưng Hóa

Trang 30

Lỵ sở tỉnh là Thành Hưng Hóa đặt nằm bên bờ hữu ngạn sông Hồng (nay thuộc tỉnh Phú Thọ) Sáu Châu Mường phía bắc luôn bị thế lực tỉnh Vân Nam khống chế, nên dần dần nghiêng hẳn theo Trung Quốc Vào khoảng năm 1873 – 1874, Lưu Vĩnh Phúc từ Lào Cai tiến quân vào Tây Bắc với mục đích tập hợp lực lượng các dân tộc ở đây chống Pháp, và trước mắt là chống giặc Cờ Vàng

Năm 1884, trong lúc tiến hành bình định khu vực Mười Sáu Châu Thái, người Pháp đã cùng triều đình Mãn Thanh (Trung Quốc) ký hiệp ước ở Thiên Tân, trong đó tập trung vào việc hoạch định biên giới Việt - Trung Người Pháp đã thoả nhượng đấ t 6 châu mường Thái nhập chính thức vào tỉnh Vân Nam để triều đình Mãn Thanh triệu tập toàn bộ số quân người Trung Hoa đương cùng phái chủ chiến của triều đình Nguyễn đứng đầu là Tôn Thất Thuyết, đương ra sức chống Pháp ở vùng Tây Bắc thời đó phải rút về nước Từ đó, Đất Thái chỉ còn lại 10 châu mường nên mang tên là Thập Châu

Năm 1890, thủ lĩnh Châu Mường Lay Đèo Văn Trì2 vốn trung thành với triều Nguyễn đã ra hàng và tích cực làm việc cho Pháp Người ta cho rằng đây là mốc đánh dấu việc người Pháp chính thức cai trị vùng này, nhưng việc bình định của họ thực chất phải kéo dài tới năm 1897 mới tạm thời ổn định Buổi đầu, người Pháp tạm chia Thập Châu thành 2 vùng để dàn xếp điều hoà cho hai thủ lĩnh Thái đã có công giúp Pháp bình định vùng rừng núi hiểm trở này:

- Lập khu vực mang tên "Các Châu Mường Thái" kéo suốt từ Mường Thanh đến Mường Lò (tương đương như ngày nay là tỉnh Điê ̣n Biên , toàn bộ tỉnh Sơn La và huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái) do thủ lĩnh Châu Mường La là

2

Trong lịch sử của người Thái Tây Bắc, đến đời cha con Đèo Văn Trì, lần đầu tiên dòng Thái Trắng Lai Châu mạnh lên buộc các tù trưởng Thái Đen phải thần phục

Trang 31

Cầm Bun Hoan người ra hàng và dẫn quân Pháp vào chiếm phần đất phía Nam Thập Châu

- Ở phía bắc được gọi là "Các Châu mường Thái Trắng" được đặt dưới quyền cai quản của thủ lĩnh Châu Mường Lay là Đèo Văn Trì Từ năm 1900 trở đi, người Pháp dần dần phân Thập Châu vào các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Sơn La và Lai Châu

- Giải thể tỉnh Hưng Hóa của triều Nguyễn

- Giải thể Châu Chiêu Tấn (Mường Tiến) thành 4 châu: Mường So (nay là huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu) Tách Mường Chăn khỏi Văn Chấn thành Châu Văn Bàn (nay là huyện thuộc tỉnh Lào Cai) Lập Mường Than thành Châu Than Uyên (nay là huyện thuộc tỉnh Lai Châu) Lập Mường

Chiên thành Châu Quỳnh Nhai (nay là huyện thuộc tỉnh Sơn La)

- Chính thức đưa Mường Quài vốn thuộc Mường Muổi (Thuận Châu) thành Châu Tuần Giáo (tỉnh Điện Biên) Nâng Mường Mùn (Mồn) thành

Châu Luân (Luân Châu, nay là một xã thuộc huyện Tuần Giáo, Điện Biên)

Trong những năm 1908-1911, hai tỉnh Sơn La và Lai Châu (cũ) có 12

Châu Mường và cái tên mang mà u sắc văn hóa Thái : “Xíp Xong Châu Tay” 3

(Mười Hai Châu Thái) đã xuất hiện Từ đó trong nhiều tập sách của tác giả Pháp thường ghi tên tiếng Thái này như một khu vực chính thức Bởi vậy, đến

nay nhiều nơi trên thế giới, nhất là giới nghiên cứu Thái vẫn ngộ nhận tên Xíp

Xong Châu Tay là vùng Thái như khu vực Xíp Xong Păn Na (Trung Quốc)

Thực tế đây chỉ là tên gọi mang tính văn hóa Thái ở Tây Bắc, xuất hiện trong thời người Pháp cai trị xứ này, không phải tên chính thức ghi trong văn bản lịch sử hành chính Hơn nữa, vào những năm 1908-1928, thủ lĩnh Châu

Mường Mụa (Mai Sơn, nay thuộc tỉnh Sơn La) tên là Cầm Văn Oai (Bun Oai)

3

Tiếng Anh viết “Sip Song chu Thai”, Xin xem bài của Jean Michaud [140] và John T

Trang 32

được nhà nước bảo hộ Pháp cho giữ chức Quản Đạo, chỉ huy lính người địa phương, trong đó đại bộ phận là người Thái Do có uy tín mang màu sắc văn

hóa dân tộc, Châu Mường Mụa (Mai Sơn) thời đó được người Thái mọi nơi

hiểu ngầm như sự phục hồi một Châu Mường trung tâm để quy tụ khu vực

Xíp Xong Châu Tay Năm 1933, tên gọi Xíp Xong Châu Tay đã mất hẳn, để

nhường cho một tâm tưởng văn hóa trong câu ca dao: “đin Tay háu mí xíp hốc

Châu té lăng chiến vạy” (đất Thái có mười sáu Châu từ đời xưa truyền lại)

Từ những năm 1930 – 1940, người Thái đã bước dưới sự lãnh đa ̣o của Đảng Cô ̣ng sản Viê ̣t Nam theo con đường của Chủ ti ̣ch Hồ Chí Minh Các tổ chức Đảng lan nhanh ra các vùng Tây Bắc từ Mường La , Thuâ ̣n Châu, Tuâ ̣n Giáo, Điê ̣n Biên v.v , góp phần cùng cả nước giành thắng lợi to lớn trong cuô ̣c đấu tranh giải phóng dân tô ̣c cho đến năm 1945 Cách mạng tháng Tám đã thành công

1.1.4 Ngươ ̀i Thái và các dân tộc khác ở Điê ̣n Biên

Người Thái từ trước đến nay là cư dân chiếm dân số đông nhất ở Điê ̣n Biên Đa số dân tô ̣c Thái là người Thái Đen, chỉ có 1 bản Thái Trắng duy nhất là bản Na Pheo , Mường Mươn [Nguồn: Hồ sơ 3125, Phong KTTTB, tr 14] Theo cuốn sách rất giá tri ̣ về li ̣ch sử Điê ̣n Biên của GS Đặng Nghiêm Va ̣n và

GS Đinh Xuan Lâm [29, tr 25-28] đã nói rõ về người Thái ở Điện Biên có

mă ̣t từ thời của tù trưởng La ̣n Ch ương tiến quân vào đất Mường Thanh tro ̣n trung tâm ở qủa đồi A 1 ngày nay Cho đến nay dân đi ̣a phương vẫn go ̣ i đồi này là Pom Lạn Chương

Ngoài người Thái ra ở Điện Biên ngày xưa còn có các dân tộc anh em khác cùng sinh sống Người Lự là một dân tộc bà con với người Thái nay vắng bóng ở Điê ̣n Biên đã để la ̣i trên dải đất này từ đó đến nay đã được trên dưới 800 năm không ít di tích li ̣ch sử ví su ̣ như thành Tam Va ̣n (dân địa

phương go ̣i là “Viêng Xam Mứn”) ở bản Noọng Xam Mứn hiện nay

Trang 33

Lịch sử của người H mông có mặt tập trung cư trú ở Điện B iên tâ ̣p vào thế kỷ XVIIII Đến Tháng 10/1858, triều đình rút hết quân “chủ lực” và thay thế bằng những thổ dân rồi giao cho quan lại ở phủ đó cai quản Điều này mở đầu mô ̣t thời kỳ loa ̣n la ̣c triền miền Tháng 8/1864, những người Hmông mới thiên di tới đã nổi da ̣y khắp nới

GS Đặng Nghiêm Vạn [29, tr 87-88] đã cho rằng: Ở Điện Biên người

Mèo liên kết với người Dao cùng các dân tộc Nam -Á và Tạng -Miến ở đó chiếm lĩnh các bản mường quanh cánh đồng Mường Thanh , xuống cướp phá phủ lỵ Mục đích cuộc nổi d ậy này không ngoài đấu tranh đảm bảo một số quyền tự chủ nhất đi ̣ nh, hạn chế việc bóc lột thái quá của bọn cầm quyền , nhưng cũng không tránh được những cuộc chém giết tàn sát những người dân

vô tội, đốt phá bản mường của các dân tộc khác ở những miền thung lũng Quan quân triều đình và các thổ quan ở đi ̣a phương tìm cách ngăn chặn phủ

dụ nhưng bất lực Đến năm 1866, nhận thấy dùng vũ lực đàn áp không được , triều đình sai người lên chiêu dụ nhưng phải đến bốn năm năm sau , tình hình mới thật yên Riêng ở Điê ̣n Biên, sau khi chiếm giữ được phủ lỵ ít lâu , người Mèo bị người tù trưởng Thái Đen là Cầm Ten ở Thuậ n Châu lên đánh đuổi , họ phải chạy lên miền rẻo cao bao quanh cánh đồng

Có thể nói được rằng , từ thế kỷ thứ XVIII trở về trước , đất Điê ̣n Biên phần quan tro ̣ng gắn liền vợi li ̣ch sử dân tô ̣c Thái Hiện nay người Thái ở Điê ̣n Biên thuô ̣c ngành Thái Đen phần lớn ở Mường Quài (Tuần Giáo ), Mường Muổi (Thuâ ̣n Châu), mô ̣t phần ở Mường La , Mường Mụa (Mai Sơn) thuô ̣c tỉnh Sơn La, thiên di lên qua nhiều thời kỳ li ̣ch sử khác nhau Thời kỳ gần đây nhất và ồ a ̣t nhất xẩy ra cuô ̣c di dân lớn của người Thái tới Mường Thanh là thời kỳ Cầm Ten hay Ba ̣c Cầm Tiến liên k ết với n gười tù trưởng Khơ-mú đánh giặc Cờ vàng

Trang 34

Cuối thế kỷ XVIIII, người Thái Trắng từ mường Lay có ảnh hưởng đến vùng đất mường Thanh Vào khoảng năm 1873 – 1874, Lưu Vĩnh Phúc từ Lào Cai tiến quân Cờ Đen vào Tây Bắc với mục đích tâ ̣p hợp lực lượng các dân tô ̣c ở đây chống Pháp và trước mắt là chống bo ̣n giă ̣c Cờ Vàng Đèo Văn Trì, mô ̣t quý tô ̣c phong kiến người Thái Trắng ở mường Lay, lên nằm quyền được đánh dấu bằng sự xâm nhâ ̣p của quân Cờ Đ en của Lưu Vĩnh Phúc Sau đó Đèo Văn Trì chuyển sang hợp tác với thực dân Pháp Họ bảo trợ cho quyền lực chính tri ̣ của Đèo Văn Trí cãi quan mô ̣t vùng đất bao gồm Lai

Châu, Điê ̣n Biên Phủ và Phong Thổ Trong li ̣ch sử Thái Tây Bắc, đến đời cha con Đèo Văn Trì , lần đầu tiên dòng Thái Trắng Lai Châu ma ̣nh lên buô ̣c các tù trưởng Thái Đen phải thần phục

Nói về người Kinh ở Điện Biên , từ năm 1754-1769, lịch sử Điện Biên ghi đến sự xuất hiê ̣n người Kin h tên Hoàng Công Chất ở đất Mường Thanh Có thể nói , lịch sử của người Kinh có mặt tập trung cư trú ở Điện B iên tâ ̣p vào thế kỳ XVIII do ông Hoàng Công Chất tập hợp Sau này, người Kinh lên sinh sống ở Điê ̣n Biên ngày càng đô ng hơn do nhiều lý do như GS Đặng

Nghiêm Vạn [29, tr 23-25] đã viết rằng: Người Kinh sinh sống tập trung ở

các thị trấn, ở dọc đường quốc lộ, làm việc ở các nông trường , các xí nghiệp, các xưởng thủ công hoặc trong các đơn vị khai hoang, các khu kinh tế mới , công tác ở các cơ quan dân , chính, Đảng từ cấp xã lên đến huyê ̣n , hoặc phục

vụ trong Qu ân đội nhân dân hay Công An vũ trang Con cháu của những người đầu tiên theo Hoàng Công Chất lên giải phó ng đất Mường Thanh nay không còn thấy ai Để tránh sự khủng bố của họ Tri ̣nh , họ phân tán vào sinh sống với đồng bào T hái và đến nay đã Thái hóa Nếu lưu ý, ta cũng còn thấy bóng dáng của họ qua một vài nét bắt gặp ở mô ̣t số làng bản vùng xung quanh lòng chảo Ở đây nếu được thẩm nhân dân dịa phương , họ vẫn trân

Trang 35

trọng tự nhận là con cháu của “ Keo Chất” (tức người Kinh tên là Chất) theo đồng bào Thái ở đây quen gọi là Keo họ Hoàng

Theo lờ i ca của người Thái Điê ̣n Biên còn lưu la ̣i mô ̣t số câu nói lên lòng mến yêu của nhân dân địa phương đối với Hoàng Công Chất, ông Lường Văn Ún, bản Pác Pe hát rằng;

“Nghe chăng tiếng hát của quân Keo Chất trong phủ,

Ngân vang khắp cánh đồng Mường Thanh bao la

Ai ơi muốn biết xin hãy về coi,

Ai ơi có mắt hãy mở trông cho kỹ

Người Kinh cùng người Hán,

Ngươ ̀ i Thái với người Lào, người Xá,

Vui vẻ cùng nhau tay làm miệng hát .”

(Theo: Đặng Nghi êm Vạn ghi trong “Những hoạt động của Hoàng

Công Chất trong thời kỳ ở Tây Bắc”) [30, tr 512-513]

Khi triều đình thấy rõ tầm quan tro ̣ng của đi ̣a điểm Mường Thanh , mô ̣t số người Kinh được tâ ̣p trung lên vùng đi ̣a đầu Tổ quốc phía Tây này Lại thêm mô ̣t số gia đình người Kinh do nghèo khổ phải lên lâ ̣p nghiê ̣p ở đây Cho đến trước Cách ma ̣ng th áng Tám, số người Kinh chưa có là bao nhiêu Pavi, một người Pháp đã đă ̣t chân lên đất Mường Thanh vào cuối thế kỷ thứ XIX có nói ở thi ̣ trấn này thấy khoảng năm bảy nhà người Kinh Nhà nghiên cứu của EFEO , TS Andrew Hardy, cho thấy trong năm 1938 đã có dân cư người Kinh cư trú ta ̣i Điê ̣n Biên Phủ được 46 nhân khẩu [134, tr 295]

Từ cuô ̣c khá ng chiến chống Pháp và Nhâ ̣t , nhất là sau khi chiến di ̣ch Điê ̣n Biên Phủ kết thúc, hưởng ứng lời kêu go ̣i của Đảng và Chính phủ, người Kinh lên xây dựng quê hương mới ở Điê ̣n Biên ngày càng đông Ban đầu, họ là những người đã cùng đồng đội mang thân cản giặc bảo vệ đất Điện Biên , đã góp phần ta ̣o nên niềm vinh quang đời đời cho mảnh đất Mường Thanh

Trang 36

Chiến tranh kết thúc, hoà bình lập lại, theo lời kêu go ̣i của Đảng , nă ̣ng nghĩa,

nă ̣ng tình với nh ững người anh em các dân tộc đã từng đùm bọc nuôi dưỡng trong chiến đấu, họ đã cởi bỏ áo lính rồi vâ ̣n đô ̣ng giác ngô ̣ gia đình bà con ho ̣ hàng, tình nguyện ở lại tiếp tục đổ mồ hôi trên những luống cày , những nhà máy để góp phần xây dựng lại Điện Biên Họ còn là những nông dân mới chỉ biết núi rừng qua sách báo , bản thân nhiều người chưa đi qua quá tam giác châu sông Hồng tình nguyê ̣n rời bỏ quê hương , lên xây dựng các khu kinh tế mới để là m giàu cho Điê ̣n Biên , cho đất nước , kiên nhẫn và chi ̣u đựng gánh vác những khó khăn vất vả ban đầu trong việc khai hoan g phu ̣c hóa với lòng mong muốn làm sao Đ iê ̣n Biên thêm mảnh ruô ̣ng lúa xanh, thêm rừng cây công nghiê ̣p, thêm đàn trâu mô ̣ng , đàn bò sữa Họ cũng là những giáo viên nhân dân , những cán bô ̣ văn hóa , cán bộ khoa học kỹ thuật , cán bộ Đảng v.v lăn lộn với đồng bào , năm này qua năm khác , đem tiếng nói của Đảng của khoa học lên mở mang c ho người dân mà thời trước cuô ̣c sống thường bi ̣ mây mù núi rừng che phủ , bị giai cấp bóc lột dìm sâu trong ngu dốt và nghèo khổ

Sinh hoa ̣t ở mô ̣t đi ̣a phương mới , trong những cơ sở sản xuất hay các

cơ quan Nhà nước mang tính xã hội chủ nghĩa và được chủ nghĩa xã hội tạo nên, tiếp tu ̣c trực tiếp những kinh nghiê ̣ m tốt đe ̣p của các dân tộc anh em trong lĩnh vực sản xuất và đời sống , họ đang tạo cho bản thân một cung cách sinh hoa ̣t, mă ̣c dầu vẫn chung nhất nhưng đã có những đă ̣c tính Điê ̣n Biên , khác với những người anh em còn ở lại quê hương Đó là do ho ̣ ít chi ̣u sự ràng buộc bởi những tập tục của một môi trường quen thuộc , với ao thu thơi thả nhưng tù túng của nh ững làng xã cổ truyền đồng bằng Bắc Bộ Đó là do họ hấp thụ mau hơn những cung cách của chế độ xã hội chủ nghĩa đương hình thành một cách trong sáng ở miền núi , nơi ít bi ̣ tha hóa bởi mô ̣t xã hô ̣i có giai cấp đã phát triển dưới xuôi , bởi ảnh hưởng của văn hóa thực dân dễ bề tiếp

Trang 37

câ ̣n Những người cán bô ̣ Kinh này đã góp phần thúc đẩy Điê ̣n Biên tiến mau trên con đường thực hiê ̣n ba cuô ̣c cách ma ̣ng mà cách ma ̣ ng kỹ thuâ ̣t là then chốt [29, tr 23-25]

Trên quê hương mới , họ được lớn lên trong sự đùm bọc đầy tình thương của đồng bào đi ̣a phương , trong mối tình trong sáng của sự đoàn kết giữa các dân tô ̣c anh em , trong thiên nhiên khá ưu đài của đất Điê ̣n Biên li ̣ch sử Hiê ̣n nay dân số người Kinh đứng hàng thứ hai trong huyê ̣n Điê ̣n Biên, chỉ sau người Thái [29, tr 23-25]

Chúng tôi thấy rằng từ thế kỷ XVIII vai trò của người Kinh ở vùng Điê ̣n Biên khá quan tro ̣ng , khi li ̣ch sử Điê ̣n Biên ghi đến sự xuất hiê ̣n người Kinh tên Hoàng Công Chất ở đất Mường Thanh Sau này người Kinh lên Điê ̣n Biên ngày càng đông hơn đă ̣c biê ̣t là từ sau chiến thắng Điê ̣n Biên Phủ năm 1954 bao gồm đô ̣i ngũ cán bô ̣ nhà nước , bô ̣ đô ̣i ở la ̣i xây dựng các nông trường, công nhân lâm trường và những người nông dân ở đồng bằng Bắc Bô ̣

đi tham gia phát triển kinh tế - văn hóa miền núi theo chủ trương của nhà nước Viê ̣t Nam trong những năm 1950, 1960 Từ đó người Kinh và người Thái kể cả các dân tộc khác ở Điện Biên đoà n kết xây dựng xã hội mới làm cho Điê ̣n Biên trở thành một vùng phát triển nhanh chóng và ma ̣nh mẻ

1.2 Tình hình nghiên cứu về sự biến đổi kinh tế – xã hội của ngươ ̀ i Thái ở Điện Bien

Từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, nhất là từ sau 1954, Viê ̣c

nghiên cứu về người Thái của các nhà khoa học Việt Nam trong giai đoàn này

đã và đa ̣t được nhiều kết qủa Các công trình tiêu biểu là: “Sơ lược về sự thiên

di của các bộ tộc Thái vào Tây Bắc Viê ̣t Nam” (1965) của GS Đặng Nghiêm

Vạn, “Quá trình hình thành các nhóm Tày -Thái Việt Nam” (1967) Sau đó

GS Đặng Nghiêm Vạn và nhà Dân tộc học Lã Văn Lô cùng viết cuốn : “Sơ

lược g iới thiê ̣u các nhóm dân tộc Tày -Nùng-Thái ở Việt Nam” (1968) giúp

Trang 38

người đo ̣c tìm hiểu sơ lược nguồn gốc li ̣ch sử , văn hóa, ngôn ngữ giữa các dân tô ̣c này Đến năm 1977, tâ ̣p thể các tác giả Đă ̣ng Nghiêm Va ̣n , Cầm Trọng, Khà Văn Tiến, Tòng Kim Ân do Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên) đã xuất

bản cuốn “Tư liê ̣u về li ̣ch sử và xã hội dân tộc Thái” do Nxb KHXH Cuốn sách này đã giới thiều nhiều tư liều về “Quám Tô Mươ ng” (Kể truyê ̣n bản mường), Lai li ̣ch dòng họ Hà Công , Lê ̣ mường và Luật mường và Tục lệ

người Thái Đen ở Thuận Châu (Sơn La), giúp người đọc hiểu biết khá tường

tâ ̣ntừ nguồn gốc li ̣ch sử, các phong tục tập quán, luâ ̣t lê ̣ bản mường Thái Tây

Bắc

Đến năm 1979, hai GS Đặng Nghiêm Vạn và Đinh Xuân Lâm cùng

viết cuốn : “Điê ̣n Biên trong li ̣ch sử” do Nxb KHXH Cuốn sách này giới

thiê ̣u khá cu ̣ thể và hê ̣ thống về li ̣ch sử các dân tô ̣c ở Điê ̣n Biên trong đó có người Thái từ thời cổ đa ̣i , thâ ̣m chí cả các huyền thoại về thời mới khai thiên

lâ ̣p đi ̣a vùng đất này Trong đó, đáng chú ý là sự tích về sự ra đời 4 cánh đồng

lớn: Nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc ở vùng Tây Bắc Đây cũng là 4 đi ̣a

bàn lớn mà các nhóm Thái sinh sống tập trung từ lâu đời và tạo nên bản sắc văn hóa Thái: văn hóa nông nghiê ̣p trồng lúa nước thung lũng

Cuốn sách “Người Thái ở Tây Bắc Viê ̣t Nam ”, xuất bản năm 1978 do Nxb KHXH, trình bày khá nhiều lĩnh vực về ngườ i Thái, nhất là về cơ cấu tổ chức xã hô ̣i bản mường của người Thái , trong đó nêu bâ ̣t hê ̣ thống bô ̣ máy hành chính của giai cấp thống trị Thái ở vùng Tây Bắc Nhưng các nguồn tư liê ̣u đó chủ yếu tâ ̣p trung giới th iê ̣u về người Thái Đen , nhất là những tư liê ̣u về tầng lớp quý tô ̣c người Thái Đen – tầng lớp trực tiếp thống tri ̣ vùng Tây Bắc trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 Vì thế, tuy nói về người Thái ở Tây Bắc, nhưng người Thái ở vùng khác, nhất là các nhóm Thái Trắng rất ít được đề câ ̣p tới Để bổ sung thêm những tư liê ̣u cu ̣ thể và phân tích sâu sắc , cụ thể hơn về cơ cấu tổ chức xã hội Thái ở Tây Bắc , tác giả Cầm Trọng và

Trang 39

nhà nghiên cứu ng ười Nhật Bản là Kashinaga Masao đã cho xuất bản cuốn

“Danh sách tổ tiên họ Lò Cầm , Mai Sơn, Sơn La” do hai tác giả trên cùng

sưu tầm, nghiên cứu và di ̣ch Nxb Thế Giới in ấn năm 2003

Thực ra, đây là mô ̣t bản gia phả về dòng ho ̣ quý tộc Thái Đen được tính từ thời Ta ̣o Ngâ n, Tạo Xuông đến đời Lạn Chươ ng và con cháu của ho ̣ gồm

22 đờ i ta ̣o (từ khoảng thế kỷ XIII đến trước cách mạng tháng Tám năm 1945)

Ngoài các tác phẩm đó ra , còn khá nhiều cuốn sách mang tính chất chuyên đề và các bài ta ̣p chí viết về người Thái ở Tây Bắc, Thanh Hoá, Nghê ̣

An Trong đó có thể kể ra mô ̣t số công trình nổi bâ ̣t như:

“Luật tục của người Thái ở Việt Nam” của hai tác giả Ngô Đức Thịn h

và Cầm Trọng (Nxb Văn hóa dân tô ̣c, 1999) là cuốn sách tập hợp những tài liê ̣u viết về các vấn đề liên quan đến xã hô ̣i Thái và luâ ̣t tu ̣c Thái Nó gồm là những luâ ̣t tu ̣c truyền miê ̣ng và mô ̣t số luâ ̣t tu ̣c đã được viết th ành văn Sách gồm 2 phần chính Phần mô ̣t: Người Thái và luâ ̣t tu ̣c Thái Phần hai: Các văn bản luật tục Thái (in bằng chữ Viê ̣t và chữ Thái ) Cuốn sách là mô ̣t tư liê ̣u quý, mô ̣t tài liê ̣u tham khảo có giá tri ̣ khi nghiên cứ u phương thức tổ chức và quản lý xã hội theo luật tục truyền thống của người Thái ở Tây Bắc

“Văn hóa Thái ở Việt Nam” của GS.TS Phan Hữu Dâ ̣t và Cầm Tro ̣ng

(1995) là một tác phẩm n ghiên cứ u công phu về văn hóa của người Thái ở Tây Bắc Nô ̣i dung của cuốn sách này trình bày : 1 Văn hóa của người Thái ở Viê ̣t Nam; 2 Văn hóa Thái trong cội nguồn Việt Nam và Đông Nam Á ; 3 Văn hóa Thái – mô ̣t loa ̣i hình văn hóa thung lũng; 4 Văn hóa Thái – mô ̣t loại hình văn hóa kỹ thuật tiền công nghiệp ; 5 Văn hóa thiết chế xã hô ̣i ; 6 Hê ̣ thống tư tưởng và trí thức; 7 Mối quan hệ giữa văn hóa Thái với văn hóa các dân tô ̣c nói ngôn ngữ Môn -khơ me ở Tây Bắc và mô ̣t số dân tô ̣c ở m iền Bắc Viê ̣t Nam

Trang 40

“Hoa văn Thái” của PGS TS Hoàng Lương Nxb Văn hóa dân tô ̣c

phát hành (1988) là công trình ng hiên cứu đô ̣c đáo về văn hóa vâ ̣t chất của người Thái ở Viê ̣t Nam , nô ̣i dung của cuốn sách trình bày : 1 Hoa văn mă ̣t phà; 2 Hoa văn trang phu ̣c, trang sức và các loa ̣i hoa văn khác ; 3 Giá trị văn hóa và giá trị lịch sử của hoa văn Thái Qua các nguồn sử liê ̣u đã sưu tầm được, tác giả đã bước đầu đi đến những nhận xét về mối quan hệ lâu đời giữa các nhóm Tày -Thái cổ và cư dân Việt -Mường Từ đó rút ra những đóng góp của các cư dân nói tiếng Thái ở Việt Nam trong quá trình dựng nước và giữ

nước Mô ̣t số tác phẩm khác của tác giả Hoàng Lương là : “Luật tục với việc

bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống một số dân tộc ở Tây Bắc Viê ̣t Nam” (2004) có nội dung về vấn đề giá tri ̣ văn hóa dân tô ̣c Thái và mô ̣t

số dân tô ̣c anh em Qua đó nhâ ̣n ra mối quan hê ̣ giữa văn hó a và luật tục Muốn bảo tồn di sản văn hóa phải phát huy vai trò của luật tục Đặc biệt nhấn mạnh việc phối hợp sức mạnh giữa luật pháp của nhà nước và luật tục trong

quá trình phát triển “Cư dân Tày-Thái cổ và cư d ân Viê ̣t-Mường chung, hai

người bạn láng giềng gần gũi từ thời cổ đại” (2006) Bằng nhiều nguồn tư

liê ̣u, tác giả nhấn mạnh mối quan hệ láng giềng gần gũi giữa người Thái (nhất là các nhóm Thái cổ) và cư dân Viê ̣t Mường chung

Ngoài ra , có tác phẩm :“Nhà Sàn Thái” của Hoàng Nam và Lê Ngo ̣c Thắng Nxb Văn hóa dân tô ̣c (1985) Nô ̣i dung của cuốn sách trình bày : 1 Nhà sàn Thái sản phẩm văn hóa dân tô ̣c; 2 Nhà sàn nơi h ội tụ các sinh hoạt

văn hóa Cuốn “Văn hóa truyền thống của người Ca Da ” (1985) do Hoàng

Anh Nhân chủ biên Cuốn sách này viết về người Thái ở mường Ca Da (nay thuộc huyện Quan Hóa , tỉnh Thanh Hóa ) có nội dung trình bày : 1 Truyền thuyết và cổ tích; 2 Truyê ̣n thơ, trường ca, trò diễn, dân ca; 3 Mô ̣t số luâ ̣t lê ̣

Như đã nêu trên , các công trình nghiên cứu về người Thái quan tâm đến vấn đề về nguồn gốc lịch sử , văn hóa xã hội truyền thống, phong tu ̣c tâ ̣p

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Điện Biên (1994), Lịch sử Điê ̣n Biên , huyện Điện Biên (1945-1975) BCH ĐB huyện Điện Biên xuất bản (Sơ thảo) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Điê ̣n Biên
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ huyện Điện Biên
Năm: 1994
2. Ban chấp ha ̀nh Đảng bô ̣ tỉnh Lai Châu (1999), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lai Châu, Tâ ̣p I, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lai Châu
Tác giả: Ban chấp ha ̀nh Đảng bô ̣ tỉnh Lai Châu
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
3. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Lai Châu (2004), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lai Châu, Tâ ̣p II(1975-2003), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lai Châu
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Lai Châu
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
4. Uỷ ban Dân tộc và Miền núi (1999), “ Thực trạng và động thái phát triển kinh tế xã hôi của các vùng Dân tộc và Miền núi sau 15 năm thực hiện đường lối đổi mới (1986-2000)”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và động thái phát triển kinh tế xã hôi của các vùng Dân tộc và Miền núi sau 15 năm thực hiện đường lối đổi mới (1986-2000)”
Tác giả: Uỷ ban Dân tộc và Miền núi
Năm: 1999
5. Cao Sĩ Quê (1980), “Qui h oạch xây dựng thi ̣ trấn huyê ̣n ly ̣ Điê ̣n Biên”, Tạp chí Xây dựng, số 6-7, tr. 13-15, 55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qui hoạch xây dựng thi ̣ trấn huyê ̣n ly ̣ Điê ̣n Biên”,"Tạp chí Xây dựng
Tác giả: Cao Sĩ Quê
Năm: 1980
6. Các Mác và Ang -ghen (1993), Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia , Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Các Mác và Ang -ghen
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1993
7. Cầm Trọng (1977), “Quan hê ̣ dòng ho ̣ trong các bản người Thái vùng Tây Bắc”, Tạp chí Dân tộc học, số 1, tr. 73-80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hê ̣ dòng ho ̣ trong các bản người Thái vùng Tây Bắc”, "Tạp chí Dân tộc học
Tác giả: Cầm Trọng
Năm: 1977
8. Cầm Trọng (1977), “Quan hê ̣ giữa bản và mường ở vùng người Thái Tây Bắc”, Tạp chí Dân tộc học, số 2, tr. 45-49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ giữa bản và mường ở vùng người Thái Tây Bắc”, "Tạp chí Dân tộc học
Tác giả: Cầm Trọng
Năm: 1977
9. Cầm Tro ̣ng (1978), Người Thái ở Tây Bắc Viê ̣t Nam, Nxb Khoa ho ̣c xã hô ̣i, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Thái ở Tây Bắc Viê ̣t Nam
Tác giả: Cầm Tro ̣ng
Nhà XB: Nxb Khoa ho ̣c xã hô ̣i
Năm: 1978
10. Cầm Trọng (1983), “Thư ̉ bàn về ý nghĩa của mô ̣t số thuâ ̣t ngữ biểu thi ̣ hình thái kinh tế xã hội cổ truyền người Thái và Tày” , Tạp chí Dân tộc học, số 3, tr. 61-68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thư ̉ bàn về ý nghĩa của mô ̣t số thuâ ̣t ngữ biểu thi ̣ hình thái kinh tế xã hội cổ truyền người Thái và Tày
Tác giả: Cầm Trọng
Nhà XB: Tạp chí Dân tộc học
Năm: 1983
11. Cầm Tro ̣ng (1987), Mấy vấn đề về li ̣ch sử kinh t ế xã hội cổ đại của người Thái Tây Bắc Viê ̣t Nam, Nxb Khoa ho ̣c xã hô ̣i, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về li ̣ch sử kinh t ế xã hội cổ đại của người Thái Tây Bắc Viê ̣t Nam
Tác giả: Cầm Tro ̣ng
Nhà XB: Nxb Khoa ho ̣c xã hô ̣i
Năm: 1987
12. Cầm Tro ̣ng (1988), “Sự hình thành bản mường và bản mường đổi mới của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam” , Tạp chí Dân tộc học , số 4, tr.47-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hình thành bản mường và bản mường đổi mới của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam” , "Tạp chí Dân tộc học
Tác giả: Cầm Tro ̣ng
Năm: 1988
13. Cầm Tro ̣ng (1992), “Từ những tên go ̣i của từng dân tô ̣c trong cô ̣ng đồng ngôn ngữ Tày Thái chúng ta có thể nghiên cứu gì về nguồn gốc của họ”, Tạp chí Dân tộc học, số 4, tr. 14-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ những tên go ̣i của từng dân tô ̣c trong cô ̣ng đồng ngôn ngữ Tày Thái chúng ta có thể nghiên cứu gì về nguồn gốc của họ”, "Tạp chí Dân tộc học
Tác giả: Cầm Tro ̣ng
Năm: 1992
14. Cầm Tro ̣ng (1993), “Mô ̣t số suy nghĩ về viê ̣ c xây dựng luâ ̣t dân tô ̣c qua luâ ̣t tu ̣c và luâ ̣t pháp thành văn của người Thái” , Tạp chí Dân tộc học, số 3, tr. 46-49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô ̣t số suy nghĩ về viê ̣c xây dựng luâ ̣t dân tô ̣c qua luâ ̣t tu ̣c và luâ ̣t pháp thành văn của người Thái
Tác giả: Cầm Tro ̣ng
Nhà XB: Tạp chí Dân tộc học
Năm: 1993
15. Cầm Tro ̣ng (1994), “Dân tô ̣c ho ̣c về người Thái – làm được gì và cần tiếp tu ̣c như thế nào”, Tạp chí Dân tộc học, số 1, tr. 39-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tô ̣c ho ̣c về người Thái – làm được gì và cần tiếp tu ̣c như thế nào”, "Tạp chí Dân tộc học
Tác giả: Cầm Tro ̣ng
Năm: 1994
16. Cầm Trọng (1995), Đặc trưng văn hoá dân tộc và truyền thống c ách mạng ở Kỳ Sơn, Nghê ̣ An, Nxb Chính tri ̣ quô ̣c gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng văn hoá dân tộc và truyền thống c ách mạng ở Kỳ Sơn, Nghê ̣ An
Tác giả: Cầm Trọng
Nhà XB: Nxb Chính tri ̣ quô ̣c gia
Năm: 1995
17. Cầm Tro ̣ng , Phan Hữu Dâ ̣t (1995), Văn hoá Thái ở Viê ̣t Nam , Nxb Khoa ho ̣c xã hô ̣i, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Thái ở Viê ̣t Nam
Tác giả: Cầm Tro ̣ng , Phan Hữu Dâ ̣t
Nhà XB: Nxb Khoa ho ̣c xã hô ̣i
Năm: 1995
18. Cầm Tro ̣ng (1998), Văn hoá và lịch sử người Thái ở Viê ̣t Nam , Nxb Văn hoá dân tô ̣c, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá và lịch sử người Thái ở Viê ̣t Nam
Tác giả: Cầm Tro ̣ng
Nhà XB: Nxb Văn hoá dân tô ̣c
Năm: 1998
19. Cầm Trọng (1999), “Ma thuâ ̣t chữa bê ̣nh ở xã hô ̣i Thái cổ truyền” , In trong sách Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tô ̣c học Viê ̣t Nam Tâ ̣p I, tr. 207-216, Nxb Khoa ho ̣c xã hô ̣i, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ma thuâ ̣t chữa bê ̣nh ở xã hô ̣i Thái cổ truyền
Tác giả: Cầm Trọng
Nhà XB: Nxb Khoa ho ̣c xã hô ̣i
Năm: 1999
20. Cầm Tro ̣ng, Kashinaga Masao (2003), Danh sách Tổ tiên Họ Lò Cầm, Mai Sơn – Sơn La, Nxb Thế Giơ ́ i, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh sách Tổ tiên Họ Lò Cầm, Mai Sơn – Sơn La
Tác giả: Cầm Tro ̣ng, Kashinaga Masao
Nhà XB: Nxb Thế Giớ i
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm