Cùng với sự phát triển của các khu du lịch biển nói chung và hệ thống dịch vụ du lịch biển nói riêng, đời sống kinh tế xã hội của người dân tại khu du lịch cũng chịu nhiều ảnh hưởng và c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐẬU THỊ TRANG
SỰ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG DỊCH VỤ DU LỊCH BIỂN TẠI CỬA LÒ – NGHỆ AN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Hà Nội - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐẬU THỊ TRANG
SỰ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG DỊCH VỤ DU LỊCH BIỂN TẠI CỬA LÒ – NGHỆ AN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Vân Hạnh
Hà Nội - 2012
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lược sử vấn đề nghiên cứu về du lịch và dịch vụ du lịch biển 3
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn: 8
3.1 Ý nghĩa khoa học: 8
3.2 Ý nghĩa thực tiễn: 8
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu: 9
5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu: 9
6 Phương pháp nghiên cứu 10
7 Câu hỏi nghiên cứu 13
8 Giả thuyết nghiên cứu 13
9 Khung lý thuyết: 14
NỘI DUNG CHÍNH 15
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 15
1.1 Cơ sở lí luận 15
1.1.1 Lý thuyết xã hội học 15
1.1.1.1 Lý thuyết biến đổi xã hội 15
1.1.1.2 Lý thuyết cấu trúc chức năng 17
1.1.2 Tiếp cận liên ngành trong nghiên cứu xã hội học du lịch 18
1.1.2.1 Lý thuyết giới hạn của những thay đổi có thể chấp nhận được (Limits of acceptable change - LAC) 18
1.1.2.2 Quan điểm phát triển du lịch bền vững 23
1.1.3 Các khái niệm 26
1.2 Cơ sở thực tiễn 31
1.2.1 Du lịch biển ở Việt Nam hiện nay 31
1.2.2 Tổng quan địa bàn nghiên cứu 33
1.2.2.1 Điều kiện tự nhiên 33
1.2.2.2 Địa diểm du lịch Cửa Lò 33
Trang 41.2.2.3 Điều kiện kinh tế 35
1.2.2.4 Đặc điểm về cơ sở hạ tầng 36
1.2.2.5 Đặc điểm văn hoá xã hội 36
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN CÁC LOẠI HÌNH DỊCH VỤ DU LỊCH BIỂN TẠI CỬA LÒ HIỆN NAY 38
2.1 Một số đặc điểm chung về phát triển dịch vụ du lịch biển tại Cửa Lò 38
2.1.1 Sự gia tăng các loại hình dịch vụ du lịch biển trong những năm gần đây và một số loại hình dịch vụ du lịch biển chủ đạo của Cửa Lò 38
2.1.2 Chất lượng của các loại hình dịch vụ du lịch biển 48
2.1.3 Doanh thu từ các loại hình dịch vụ du lịch biển 55
2.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ du lịch biển tại Cửa Lò 59
2.2.1 Chính sách phát triển du lịch của chính quyền địa phương 59
2.2.2 Nhu cầu của người dân về du lịch 62
2.2.3 Thời vụ của du lịch 65
2.2.4 Kinh tế khi khởi nghiệp của các hộ gia đình kinh doanh dịch vụ du lịch 68
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ HỆ QUẢ CỦA SỰ PHÁT TRIỂN CÁC LOẠI HÌNH DỊCH VỤ DU LỊCH BIỂN ĐỐI VỚI KINH TẾ XÃ HỘI CỦA CỬA LÒ 71
3.1 Hệ quả đối với kinh tế Thị xã nói chung 71
3.2 Hệ quả đối với thu nhập của các hộ gia đình kinh doanh dịch vụ du lịch biển 77
3.3 Hệ quả đối với cơ cấu nghề nghiệp của địa phương 81
3.4 Hệ quả đối với vấn đề môi trường của địa phương 86
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 91
1 Kết luận 91
2 Khuyến nghị 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC 99
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CNH – HĐH : Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
DVDLMT : Dịch vụ du lịch môi trường
ĐHKHXH&NV : Đại học khoa học xã hội và nhân văn
ĐHQGHN : Đại học quốc gia Hà Nội
GDP : Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm quốc nội)
LAC : Limits of Accept changes
(Giới hạn của những thay đổi có thể chấp nhận được)
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Số lượng cơ sở lưu trú qua các năm 39
Bảng 2.2: Số cơ sở kinh doanh ăn uống qua các năm 40
Bảng 2.3: Số lượng các phương tiện vận chuyển khách qua các năm 43
Bảng 2.4: Số lượng các hộ kinh doanh dịch vụ bổ sung qua các năm 47
Bảng2.5: Cách thức du khách biết đến Cửa Lò 48
Bảng 2.6: Đánh giá của du khách về chất lượng dịch vụ tại Cửa Lò 50
Bảng 2.7: Mức độ hài lòng của du khách về chất lượng dịch vụ phân theo 53
Bảng 2.8: Mục đích đi du lịch của du khách 55
Bảng 2.9: Lượng khách đến du lịch Cửa Lò qua các năm 56
Bảng 2.10: Doanh thu từ hoạt động du lịch của Cửa Lò 58
Bảng 2.11: Sự thay đổi số lần đi du lịch của khách trong một năm 62
Bảng 2.12: So sánh mức độ ảnh hưởng của kinh tế khi khởi nghiệp của hộ gia đình đến việc kinh doanh giữa các gia đình kinh doanh các loại hình dịch vụ khác nhau 69
Bảng 3.1: Doanh thu từ các dịch vụ du lịch tại Cửa Lò 72
Bảng 3.2 : Nguồn thu ngân sách từ hoạt động du lịch 74
Bảng 3.3: Đánh giá của các hộ gia đình kinh doanh về mức độ đạt được các mong muốn từ khi kinh doanh dịch vụ du lịch 81
Bảng 3.4: Thời gian kinh doanh dịch vụ du lịch trong một năm của các hộ gia đình 84
Bảng 3.5: Đánh giá của các hộ gia đình và khách du lịch về chất lượng vệ sinh môi trường của địa phương 87
Bảng 3.6: Việc ký cam kết về vệ sinh môi trường của các hộ gia đình kinh doanh 88
Bảng 3.7: Lượng chất thải thải rắn thải ra môi trường hàng năm 89
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Mức độ hài lòng của du khách về các loại hình dịch vụ 52 Biểu đồ 2.2: Đánh giá chất lượng dịch vụ du lịch của du khách qua các lần du lịch 54 Biểu đồ 2.3: Đánh giá của các hộ kinh doanh về mức độ ảnh hưởng của chính sách phát triển du lịch của địa phương đến việc phát triển dịch vụ du lịch 61 Biểu đồ 2.4: Đánh giá của các hộ kinh doanh về mức độ ảnh hưởng của 64 nhu cầu du lịch của người dân đến sự phát triển dịch vụ du lịch 64 Biểu đồ 2.5: Đánh giá của hộ kinh doanh về mức độ ảnh hưởng của tính thời vụ đến việc phát triển dịch vụ du lịch biển 66 Biểu đồ 2.6: Đánh giá của hộ kinh doanh về mức độ ảnh hưởng của kinh tế khi khởi nghiệp của hộ gia đình kinh doanh đến việc kinh doanh dịch vụ du lịch biển 71 Biểu đồ 3.2: Các nguồn thu nhập chính của gia đình 78 Biểu đồ 3.3: Nguyên nhân tăng mức thu nhập của các hộ gia đình kinh doanh dịch vụ
du lịch 80 Biểu đồ 3.4: Việc làm trong thời gian không kinh doanh dịch vụ du lịch biển của các hộ gia đình 85
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Với lợi thế về tài nguyên du lịch biển như đường bờ biển dài, nhiều bãi tắm, vùng vịnh, các đảo lớn nhỏ cùng với ưu thế của vùng biển nhiệt đới, trong những năm gần đây, du lịch biển nước ta đã được khai khác và ngày càng phát triển Hiện nay, tại Việt Nam, du lịch biển chiếm một tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu kinh tế biển, được coi
là ngành có sự phát triển nhanh cùng với sự gia tăng về mặt nhu cầu, giải trí nghỉ ngơi của con người Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X năm
2007 đã ra “Nghị quyết về chiến lược biển đến năm 2020”, xác định: “ phấn đấu đưa kinh tế biển đóng góp khoảng 53 % - 55% GDP và 55 % - 60% kim ngạch xuất khẩu của cả nước”, trong đó mức đóng góp của du lịch biển trong tổng GDP của nền kinh tế biển vào khoảng 14 – 15% “Trở thành một nước mạnh về biển là mục tiêu chiến lược xuất phát từ yêu cầu và điều kiện khách quan của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam” (Nghị quyết 03 NQ/TW của Bộ Chính trị - khóa VII) Nếu không phát triển kinh tế biển thì Việt Nam sẽ có nguy cơ tụt hậu ngày càng xa so với các nước trong khu vực đang vươn mạnh ra biển
Cùng với sự phát triển chung của cả nước, du lịch Nghệ An nói chung và du lịch Cửa Lò nói riêng đã có những bước phát triển hết sức mạnh mẽ Thị xã Cửa Lò – Nghệ An là nơi có những ưu thế về những bãi biển sạch, đẹp, lợi thế về nguồn thủy hải sản phong phú và chất lượng cao; cùng với đó, những tài nguyên du lịch nhân văn đã tạo điều kiện cho Thị xã trở thành một điểm đến thu hút khách du lịch Trong những năm gần đây, nhiều sự kiện du lịch đã giúp cho du lịch Cửa Lò mở ra nhiều cơ hội mới cho, từ việc quảng bá hình ảnh trên cả nước đến việc kêu gọi đầu tư như năm du lịch Nghệ An 2005 (năm du lịch Quốc gia), kỷ niệm 100 năm du lịch Cửa Lò (2007), 15 năm thành lập Thị xã Cửa Lò (2009) hay việc công nhận Thị xã Cửa Lò là đô thị loại 3 (2009)… Đấy là những dấu mốc quan trọng và có ý nghĩa đối với du lịch Cửa Lò Sự phát triển của du lịch biển đã giúp cho Cửa Lò trở thành một đô thị sầm uất, có nền kinh tế phát triển mạnh mẽ trong tỉnh Và kinh doanh dịch vụ du lịch biển từ lâu đã là
Trang 9một ngành nghề kinh tế khá phát triển nơi đây Dịch vụ du lịch biển là một bộ phận quan trọng và sự phát triển của nó góp phần làm cho du lịch biển ngày càng phát triển Dịch vụ du lịch biển ở Cửa Lò trong những năm qua đã phát triển một cách nhanh chóng Sự gia tăng về số lượng, sự cải thiện về chất lượng và nguồn thu từ dịch vụ du lịch không ngừng tăng lên không chỉ giúp cho ngành du lịch biển phát triển mạnh mẽ, trở thành ngành đóng góp tỷ trọng lớn nhất cho kinh tế Cửa Lò mà còn tạo điều kiện cho các ngành kinh tế khác cùng phát triển Thực tế cho thấy tại Cửa Lò, việc phát triển du lịch biển đã làm thay đổi một cách hết sức cơ bản diện mạo đô thị, đời sống nhân dân khu vực nông thôn và cả cộng đồng dân cư trên tất cả mọi phương diện Cùng với sự phát triển của các khu du lịch biển nói chung và hệ thống dịch vụ du lịch biển nói riêng, đời sống kinh tế xã hội của người dân tại khu du lịch cũng chịu nhiều ảnh hưởng và có những biến đổi nhất định, đặc biệt là đối với những hộ dân kinh doanh dịch vụ đó
Tuy nhiên, việc phát triển dịch vụ du lịch cũng để lại những hệ quả tiêu cực đối với một số vấn đề như cơ cấu lao động hay môi trường nói chung của địa phương mà đến nay vẫn chưa tìm được giải pháp giải quyết triệt để Hệ quả của việc phát triển dịch vụ du lịch đối với kinh tế xã hội tại địa phương đó là không tránh khỏi Vấn đề cốt lõi của việc phát triển chính là tính bền vững Vì vậy một trong những yêu cầu của các nhà quản lý là phải nắm bắt được những tác động, những hệ quả mà du lịch mang lại trước mắt và lâu dài để có thể có những giải pháp nhằm phát triển dịch vụ du lịch và du lịch nói chung một cách bền vững, có hiệu quả cao
Du lịch và dịch vụ du lịch biển có vai trò hết sức to lớn đối với kinh tế biển
và cả nền kinh tế nói chung, vì vậy trong những năm gần đây, vấn đề này rất được chú trọng nghiên cứu Tuy vậy, mảng đề tài về sự phát triển của các dịch vụ du lịch biển nói riêng, những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển này và những hệ quả của
nó đến đời sống người dân hiện nay vẫn còn thiếu, chưa được đề cập nhiều Đối với Cửa Lò thì vấn đề này hầu như chưa được khai thác
Trang 10Từ các yêu cầu của thực tiễn và lý luận trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài
nghiên cứu: ““Sự phát triển hệ thống dịch vụ du lịch biển tại Cửa Lò – Nghệ An
hiện nay” Đề tài tập trung làm rõ sự phát triển của các loại hình dịch vụ du lịch
của sản phẩm du lịch tắm biển – nghỉ dưỡng – kết hợp mua sắm về cả số lượng, chất lượng và nguồn thu; tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển nhanh, mạnh của các dịch vụ du lịch biển tại Cửa Lò hiện nay và những hệ quả của
sự phát triển đó đến một số mặt của đời sông kinh tế - xã hội địa phương; từ đó đưa
ra một số khuyến nghị nhằm giúp các nhà hoạch định chính sách có các biện pháp phù hợp với thực tiễn tại Cửa Lò hiện nay để xây dựng ngành du lịch của Thị xã phát triển nhanh, mạnh và bền vững
2 Lược sử vấn đề nghiên cứu về du lịch và dịch vụ du lịch biển
Đã có nhiều đề tài cấp Bộ của tổng cục du lịch, các viện nghiên cứu, những bài báo nghiên cứu đề cập đến loại hình du lịch biển đảo của Việt Nam Cụ thể Viện
Khoa học xã hội và nhân văn (2005) đã triển khai đề tài cấp Bộ “Điều kiện kinh tế
xã hội – nhân văn vùng ven biển Việt Nam” Đề tài đã nghiên cứu tất cả các điều
kiện kinh tế, xã hội, nhân văn của các vùng ven biển của cả nước, từ đó đề xuất các giải pháp thực hiện phát triển bền vững kinh tế xã hội vùng biển của cả nước
Nguyễn Thăng Long (1998), Nghiên cứu ảnh hưởng của tính mùa vụ du lịch đến hoạt động du lịch ở Việt Nam, đề tài cấp Bộ, Viện nghiên cứu phát triển
du lịch Đề tài tập trung vào việc nghiên cứu các nội dung chính như những vấn đề
lý luận về tính thời vụ và những vấn đề có liên quan trong hoạt động du lịch bao gồm các khái niệm về: tính thời vụ du lịch, bản chất của tính thời vụ du lịch, các đặc điểm về tính thời vụ du lịch; xác định các yếu tố hình thành tính thời vụ du lịch như yếu tố tài nguyên “cầu” du lịch, “cung” du lịch; tác động của tính thời vụ đến hoạt động du lịch: đến công tác tổ chức quản lý và hiệu quả kinh doanh, đến tài nguyên
và môi trường du lịch và đến kinh tế - xã hội Tiếp theo là nghiên cứu thực trạng ảnh hưởng (mức độ, phạm vi) của tính thời vụ đến hoạt động kinh doanh du lịch như với hoạt động của một số loại hình du lịch chủ yếu ở Việt Nam bao gồm: du lịch biển, du lịch núi, du lịch lễ hội và du lịch tham quan nghiên cứu; thực trạng về
Trang 11tính thời vụ trong hoạt động du lịch ở một số khu vực du lịch của Việt Nam bao gồm các khu du lịch: Sầm Sơn, Vũng Tàu, SaPa, Đà Lạt, Chùa Hương, Núi Bà Đen,
Cố Đô Huế Và cuối cùng, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm hạn chế những ảnh hưởng của tính thời vụ đến hoạt động kinh doanh du lịch như đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường; tăng mức độ sẵn sàng đón tiếp khách trong toàn năm; điều tiết bằng giá; tăng cường công tác tuyên truyền quảng cáo; sử dụng biện pháp hành chính; chủ động phương án sử dụng nhân sự và cơ sở vật chất kỹ thuật
Nguyễn Đình Hoè, Vũ Văn Hiếu (2001), Du lịch bền vững, NXB Đại học
Quốc gia Hà Nội Giáo trình được biên soạn nhằm 3 mục tiêu khoa học sau:- Tương quan tác động nhiều mặt của hoạt động du lịch đối với môi trường (tự nhiên, xã hôi nhân văn và kinh tế) với sự tập trung chú ý phân tích sâu hơn các tác động xấu do
du lịch gây ra; Giới thiệu về du lịch bền vững, là loại hình du lịch đảm bảo sự hài hoà về lợi ích kinh tế của phát triển du lịch với việc bảo vệ tính đa dạng của tự nhiên, bản sắc văn hoá của cộng đồng bản địa nơi tiến hành du lịch; Đề xuất định hướng xây dựng các chính sách phát triển du lịch, các biện pháp kiểm soát tác động của môi trường nhằm đạt được du lịch bền vững, phương pháp đánh giá tính bền vững của một lãnh thổ du lịch hay một dự án du lịch bền vững
Hoàng Trung Châu, “Định hướng phát triển du lịch Nghệ An năm 2003”,
bàn về những thuận lợi của việc phát triển du lịch Nghệ An, trong đó có du lịch biển với những bước tăng trưởng khá và cơ sở vật chất được nâng cao Cùng với sự phát triển của du lịch, đời sống của người dân cũng có những chuyển biến về nhiều mặt Bên cạnh đó, tác giả cũng nêu lên một số hạn chế còn tồn tại của du lịch Nghệ An
Để nhanh chóng đưa du lịch Nghệ An vượt qua những thách thức và phát triển trong những năm tiếp theo, tác giả đã đề cập đến một số phương hướng phát triển trong thời gian tới
Trần Thị Kim Ánh (2010), Nghiên cứu phát triển du lịch biển Đà Nẵng,
Luận văn thạc sỹ du lịch học, ĐH KHXHVNV – ĐHQGHN đưa ra một cách nhìn tổng quan về du lịch biển ở Đà Nẵng từ lúc hình thành đến phát triển trong giai
Trang 12đoạn 2005 - 2009 về nhiều phương diện như tình hình khai thác khách hàng, thu nhập từ du lịch, điều kiện phát triển du lịch biển; đánh giá những lợi thế và hạn chế của việc phát triển du lịch biển Đà Nẵng và từ đó định hướng phát triển một số loại hình du lịch biển tại Đà Nẵng cũng như một số khuyến nghị với các nhà hoạch định chính sách trong việc phát huy những giá trị của của loại hình kinh tế du lịch biển tại Đà Nẵng
Trần Thị Kim Bảo (2009), Nghiên cứu điều kiện phát triển du lich sinh thái dải ven biển tỉnh Quảng Trị, luận văn thạc sỹ du lịch học, ĐH KHXH&NV –
ĐH QGHN đã làm rõ vai trò của du lịch sinh thái trong quá trình phát triển kinh tế
xã hội cũng như khái quát các điều kiện phát triển du lịch sinh thái dải ven biển Quảng Trị về cả điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội và đặc điểm tài nguyên
du lịch Tác giả đã đưa ra một số đánh giá về hiện trạng phát triển như khách du lịch, doanh thu du lịch, từ đó có những định hướng phù hợp để phát triển du lịch sinh thái dải ven biển tại địa phương
Liên quan đến du lịch biển, tác giả Lê Trọng Bình (2009) đã phân tích được thế mạnh, nguồn lợi của vùng biển và đảo nước ta, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác hơn nũa nguồn tài nguyên biển đảo nước ta cho phát triển du lịch
Thanh Hoa, Du lịch biển - Thế mạnh của du lịch Việt Nam, Tạp chí Du lich
biển, số 3/ 2005, tr 47, Hội Liên Hiệp khoa học kỹ thuật Việt Nam Bài viết đã nêu
ra được những điểm mạnh của du lịch biển Việt Nam với đường bờ biển dài và đẹp, những vùng vịnh kín gió, khí hậu nhiệt đới quanh năm Cùng với đó là những hệ sinh thái biển phong phú và đa dạng khiến cho nước ta có những tài nguyên vô cùng quý giá cho phát triển du lịch biển Tuy nhiên, có thể thấy rằng, việc khai thác tài nguyên phục vụ cho du lich biển còn kém hiệu quả và chưa đồng bộ, công tác quản
lý chưa chặt chẽ khiến cho việc khai thác du lịch gây ra những hệ quả nghiêm trọng đối với môi trường, suy thoái tài nguyên biển Mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng ngành du lịch Việt Nam cũng đang từng bước nỗ lực góp phần phát triển du lich biển một cách bền vững
Trang 13Nguyễn Văn Mạnh (2010), Phát triển bền vững du lịch Việt Nam trong bối cảnh Hội nhập kinh tế quốc tế, Đại học kinh tế Quốc dân Đề tài đề cập đến một
vấn đề quan trọng trong phát triển du lịch nước ta hiện nay, bao gồm các nội dung chính: Thứ nhất là phát triển du lịch bền vững cần dựa vào ba trụ cột cơ bản sau: Đảm bảo sự phát triển bền vững về kinh tế: Đảm bảo sự tăng trưởng, phát triển ổn định lâu dài về mặt kinh tế của các doanh nghiệp và của ngành du lịch, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế của quốc gia và cộng đồng; Đảm bảo sự bền vững về tài nguyên và môi trường: Thể hiện ở việc khai thác sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên và điều kiện môi trường.Việc khai thác, sử dụng tài nguyên cho phát triển kinh doanh du lịch cần được quản lý sao cho không chỉ thỏa mãn nhu cầu phát triển trong hiện tại mà còn đảm bảo cho nhu cầu phát triển qua nhiều thế hệ Bên cạnh đó trong quá trình phát triển, các tác động của hoạt động kinh doanh du lịch đến môi trường sẽ được hạn chế đi đôi với những đóng góp cho các nỗ lực tôn tạo tài nguyên, bảo vệ môi trường; Đảm bảo sự bền vững về văn hóa xã hội: Theo đó sự phát triển hoạt động kinh doanh du lịch phải có những đóng góp cụ thể cho phát triển xã hội, đảm bảo sự công bằng trong phát triển
Thứ hai, những vấn đề đặt ra hiện nay đối với phát triển du lịch nước ta hiện nay là: Phát triển du lịch thiếu bền vững về kinh tế; Phát triển du lịch thiếu bền vững về môi trường sinh thái; Phát triển du lịch thiếu bền vững về môi trường văn hóa xã hội
Cuối cùng, đề tài đưa ra một số giải pháp chủ yếu để phát triển bền vững du lịch Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế:
- Nghiên cứu làm rõ ràng các khái niệm và phạm trù cốt lõi trong du lich làm cơ sở cho việc quản lý nhà nước và quản trị kinh doanh du lịch
- Kịp thời đánh giá lại để xếp hạng khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch và công nhận đô thị du lịch ở Việt Nam
- Phát triển đồng bộ thị trường du lịch
Trang 14- Lựa chọn trong số 4 khu du lịch tổng hợp và 18 khu du lịch chuyên đề cấp quốc gia để tập trung nguồn vốn hoàn thiện các khu du lịch quốc gia ngang tầm với các khu du lịch nổi tiếng của các nước trong khu vực và trên thế giới
- Xây dựng và ban hành mã ngành đào tạo quốc gia ở bậc đào tạo đại học và sau đại học cho ngành du lịch
- Tiếp tục đổi mới chính sách và cơ chế quản lý ngành du lịch
- Nâng cao trình độ kinh doanh du lịch của các doanh nghiệp
- Tăng cường hơn nữa sự phối hợp liên ngành, liên vùng, các nhà cung ứng du lịch trong việc xây dựng và phổ biến và phát triển hình ảnh du lịch Việt Nam
Lê Văn Thăng, Trần Anh Tuấn Bùi Thị Thu (2010), Du lịch và môi trường,
Đại học khoa học – Đại học Huế Giáo trình có những nội dung chính về các vấn đề liên quan đến du lịch và môi trường Chương 1 là những cơ sở lý luận về du lịch và môi trường, bao gồm những khái niệm về môi trường, du lịch, mối quan hệ giữa du lịch và môi trường; khái quát sự hình thành, phát triển du lịch và công tác bảo vệ môi trường Chương 2 đề cập đến những tác động của du lịch đến môi trường, đó là môi trường tự nhiên, môi trường văn hóa – xã hội, môi trường kinh tế, bao gồm những tác động tích cực và tiêu cực ở mỗi lĩnh vực Chương 3 nói về vai trò và ảnh hưởng của môi trường đến các hoạt động du lịch với các mặt tích cực và hạn chế Chương 4 là mối quan hệ giữa du lịch và phát triển bền vững
Như vậy, có thể thấy rằng, vấn đề du lịch biển được rất nhiều tác giả và nhà nghiên cứu quan tâm Du lịch biển thực sự là ngành kinh tế mang lại hiệu quả cao nếu công tác quản lý và việc thực hiện khai thác tiềm năng du lịch biển được kết hợp một cách khoa học Tuy nhiên, những nghiên cứu về du lịch biển ở nước ta hiện nay mới chỉ là những nghiên cứu của ngành du lịch hay kinh tế Hơn nữa, những nghiên cứu riêng về dịch vụ du lịch biển, vai trò của nó như là một nhân tố hết sức quan trọng giúp phát triển du lịch biển, nâng cao đời sống người dân hay những yếu
tố ảnh hưởng đến sự phát triển của hệ thống dịch vụ đó còn rất ít và hầu như chưa
có nghiên cứu nào dưới góc độ xã hội học đề cập đến Đó chính là điểm mới của đề
tài: “Sự phát triển hệ thống dịch vụ du lịch biển tại Cửa Lò – Nghệ An hiện nay”
Trang 153 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn:
3.1 Ý nghĩa khoa học:
Đề tài vận dụng cách hiểu xã hội học, các lý thuyết xã hội học trong nghiên cứu các vấn đề xã hội cụ thể Đồng thời cũng muốn khẳng định thêm tầm quan trọng của lý thuyết xã hội học nói chung và lý thuyết xã hội học du lịch nói riêng trong việc giải quyết các vấn đề xã hội một cách toàn diện nhất
Nghiên cứu về sự phát triển hệ thống dịch vụ du lịch biển là nghiên cứu thực trạng, đặc điểm của sự phát triển hệ thống dịch vụ du lịch biển, một số yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển cũng như những hệ quả của nó đối với kinh tế xã hội nói chung của địa phương Xã hội học du lịch là ngành khoa học còn mới, có tính liên ngành Do đó, ngoài việc sử dụng các khái niệm, các lý thuyết, phương pháp và kết quả của các khoa học khác, nó đang dần xác định rõ cho mình đối tượng, phương pháp nghiên cứu và những khái niệm đặc trưng riêng Nghiên cứu về sự phát triển
hệ thống dịch vụ du lịch biển tại Cửa Lò trong luận văn này mong muốn có thể góp phần làm rõ thêm những khái niệm, lý thuyết của khoa học xã hội học du lịch đang trong quá trình hoàn thiện
Trang 164 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích tìm hiểu thực trạng sự phát triển hệ thống dịch vụ du lịch biển tại Cửa Lò – Nghệ An Trong đề tài này, chúng tôi đưa ra một
- Tìm hiểu một số hệ quả của việc phát triển hệ thống dịch vụ du lịch biển đối với kinh tế, xã hội của địa phương như kinh tế chung của địa phương, thu nhập của các hộ gia đình kinh doanh, cơ cấu lao động và môi trường của Cửa Lò
Đề xuất một số khuyến nghị nhằm phát huy những yếu tố có ảnh hưởng tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực để nâng cao hiệu quả của việc kinh doanh dịch vụ du lịch biển, góp phần vào sự phát triển du lịch bền vững của Thị xã
5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu:
5.1 Đối tượng nghiên cứu:
Sự phát triển hệ thống dịch vụ du lịch biển tại Cửa Lò – Nghệ An hiện nay
5.2 Khách thể nghiên cứu:
Khách thể nghiên cứu là các hộ gia đình kinh doanh dịch vụ du lịch biển, khách du lịch, các cán bộ ngành văn hóa du lịch, kinh tế và những người dân thuộc khu vực nghiên cứu thị xã Cửa Lò - Nghệ An
5.3 Phạm vi nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Tháng 7/2011 – 9/2012
Phạm vi không gian nghiên cứu: thị xã Cửa Lò - Nghệ An
5.4 Phạm vi vấn đề nghiên cứu
Do thời gian có hạn, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu một số loại hình dịch vụ du lịch biển của sản phẩm du lịch “tắm biển – nghỉ dưỡng kết hợp mua
Trang 17sắm”, cụ thể là dịch vụ ăn uống, dịch vụ lưu trú, dịch vụ lữ hành, dịch vụ vận chuyển khách trong khu du lịch, dịch vụ giải trí, dịch vụ bán hàng và một số dịch vụ khác Đề tài nghiên cứu thực trạng, một số yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển các loại hình dịch vụ này và một số hệ quả của nó đối với kinh tế (kinh tế chung của Thị xã, thu nhập của các hộ gia đình kinh doanh) và xã hội (cơ cấu nghề nghiệp, môi trường) của địa phương
6 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sự phát triển dịch vụ du lịch biển tại Cửa Lò – Nghệ An hiện nay, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
Những thông tin thu thập được từ phiếu trưng cầu ý kiến mang tính định lượng
sẽ bổ sung bằng chứng cho việc chứng minh những luận điểm của đề tài
180 bảng hỏi cho các hộ gia đình kinh doanh dịch vụ du lịch biển tại địa bàn thị xã Cửa Lò để thu thập thông tin và ý kiến của người dân về tình hình phát triển
hệ thống dịch vụ du lịch biển ở địa phương trong những năm gần đây
100 bảng hỏi cho khách du lịch nhằm thu thập ý kiến về chất lượng dịch vụ tại Cửa Lò và nhu cầu du lịch của du khách
Cách thức thu thập thông tin:
- Thiết kế bảng hỏi
- Phát thử phiếu trưng cầu ý kiến, phát hiện lỗi kỹ thuật và điều chỉnh
một số thông tin trong phiếu phù hợp hơn
- Đến địa bàn: Giới thiệu thông tin về nghiên cứu viên, đề tài và mục
đích của việc tiến hành thu thập thông tin bằng phiếu trưng cầu ý kiến
- Hướng dẫn người được hỏi cách thức trả lời phiếu trưng cầu ý kiến
- Phát phiếu trưng cầu ý kiến và thu lại phiếu trưng cầu ý kiến, kiểm tra
việc trả lời của những người được hỏi và hướng dẫn họ bổ sung thông tin nếu thiếu
Trang 18Cơ cấu mẫu khảo sát định lượng (đơn vị: %)
Trang 196.2 Phương pháp phân tích tài liệu
Được sử dụng chủ yếu trong giai đoạn phát hiện vấn đề và lựa chọn dối tượng nghiên cứu, hình thành các giả thuyết nghiên cứu Ngoài ra nó còn sử dụng trong việc so sánh, phân tích các số liệu thông tin từ các số liệu, thông tin từ các nghiên cứu về các khu du lịch biển, kinh tế biển trước kia, góp phần bổ sung, làm đa dạng nguồn thông tin đã thu thập được của đề tài nghiên cứu Trong đề tài đã sử dụng
một số tài liệu như Báo cáo tổng kết hoạt động du lịch”, “Báo cáo tình hình thực
hiện kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội và phương hướng nhiệm vụ của Uỷ ban
nhân dân thị xã Cửa Lò qua các năm 2007 -2012 Các tài liệu khác liên quan như
sách, báo, tạp chí về du lịch biển ở Cửa Lò
Ngoài những câu hỏi nghiên cứu trong bảng hỏi chúng tôi còn tiến hành phỏng vấn sâu 16 trường hợp nhằm thu thập thêm thông tin về thực trạng phát triển hệ thống dịch vụ du lịch biển tại Cửa Lò, từ đó làm sáng tỏ hơn những vấn đề mới mẻ
mà các phương pháp khác chưa khai thác được
16 trường hợp phỏng vấn sâu bao gồm:
Được sử dụng để tìm hiểu địa bàn thông qua tri giác trực tiếp về quan sát -
quan sát việc kinh doanh của các hộ gia đình, thực trạng khách du lịch, cơ sở hạ tầng, môi trường và các hoạt động vui chơi giải trí cũng như cuộc sống sinh hoạt của người dân Cửa Lò và ghi nhận làm bổ sung thêm nguồn tài liệu
Các phiếu điều tra được tiến hành nhập và xử lý, phân tích kết quả trên máy tính, bằng phần mềm trong nghiên cứu khoa học xã hội SPSS
Trang 207 Câu hỏi nghiên cứu
1 Hiện nay hệ thống dịch vụ du lịch biển ở Cửa Lò phát triển như thế nào?
2 Những yếu tố nào ảnh hưởng đến sự phát triển của dịch vụ du lịch biển tại đây?
3 Sự phát triển hệ thống dịch vụ du lịch biển mang lại những hệ quả gì đối với kinh tế - xã hội của địa phương?
8 Giả thuyết nghiên cứu
1 Hiện nay, hệ thống dịch vụ du lịch biển ở Cửa Lò đang phát triển nhanh cả
về số lượng và chất lượng
2 Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển hệ thống dịch vụ du lịch biển tại Cửa Lò hiện nay như chính sách phát triển du lịch của địa phương, nhu cầu du lịch của người dân, tính thời vụ của du lịch và kinh tế khi khởi nghiệp của hộ gia đình kinh doanh; trong đó hai yếu tố có ảnh hưởng mạnh là nhu cầu du lịch của người dân và thời vụ của du lịch
3 Sự phát triển của hệ thống dịch vụ du lịch biển ở Cửa Lò có ảnh hưởng tích cực đến kinh tế xã hội của người dân địa phương, làm cho đời sống của người dân ngày càng được nâng cao
Trang 21Thời vụ của du lịch
Kinh tế khi khởi nghiệp của hộ gia đình kinh doanh
Dịch vụ vận chuyển khách
Dịch
vụ giải trí
Dịch
vụ bán hàng
Dịch
vụ khác
Cơ cấu lao động
Môi trường
Trang 22NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Lý thuyết xã hội học
1.1.1.1 Lý thuyết biến đổi xã hội
Có nhiều lý thuyết, quan điểm giúp chúng ta thiết lập cơ sở khoa học để nghiên cứu, phân tích, đánh giá, dự báo sự thay đổi chất lượng cuộc sống dưới tác động của các nhân tố phát triển Trong phạm vi giới hạn được xác định, luận văn chỉ đề cập đến một số lý thuyết liên quan trực tiếp làm cơ sở lý luận tiếp cận nội dung nghiên cứu
Sự biến đổi đời sống chịu nhiều yếu tố khách quan và chủ quan tác động Việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nói chung và kinh tế ngành nói riêng tác động mạnh
mẽ đến đời sống của người dân, đặc biệt là chất lượng cuộc sống Luận văn lựa chọn hướng tiếp cận tổng – tích hợp một số lý thuyết và quan điểm xã hội học để phân tích vấn đề nghiên cứu
Mọi xã hội, cũng giống như tự nhiên – vận động, biến đổi và phát triển không ngừng Xã hội càng phát triển, hiện đại thì sự biến đổi càng nhanh hơn, rõ hơn và sâu sắc hơn Theo cách hiểu rộng nhất, biến đổi xã hội là sự thay đổi so với một tình trạng xã hội hoặc một nếp sống xã hội có trước Hoặc theo nghĩa hẹp hơn,
sự biến đổi xã hội là sự thay đổi về cấu trúc xã hội hay tổ chức xã hội Dưới góc độ
xã hội học, biến đổi xã hội được quan niệm là một quá trình qua đó những khuôn mẫu của các hành vi xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và các hệ thống phân tầng xã hội được thay đổi theo thời gian [9, tr.275]
Biến đổi xã hội là mọi sự thay đổi xã hội, nó ảnh hưởng sâu sắc đến mọi thành tố trong cấu trúc xã hội, không chỉ biến đổi ở hệ thống vĩ mô, mà cả trong từng tiểu hệ thống vi mô và luôn chịu sự tác động của các yếu tố khách quan, chủ quan và môi trường Sự biến đổi xã hội được hiểu là trung tính, có nghĩa là sự biến đổi xã hội có thể tạo nên sự tiến bộ hay thụt lùi của xã hội Có hai mức tạo ra sự
Trang 23biến đổi xã hội: (1) Sự biến đổi nội xã hội: Sự thay đổi các cấu trúc xã hội và các tổ chức xã hội diễn ra trong lòng một xã hội nhất định; (2) So với sự biến đổi nội xã hội, sự thay đổi xã hội có phạm vi bao quát rộng lớn, sâu sắc và triệt để Mặt khác, giữa biến đổi nội xã hội và thay đổi xã hội có quan hệ nhân quả với nhau Sự thay đổi xã hội là thay đổi ở tất cả các cấu trúc và tổ chức xã hội Biến đổi cơ cấu kinh tế
- sự phát triển hệ thống dịch vụ du lịch biển, tác động đến cơ cấu xã hội, biến đổi đời sống của người dân địa phương là loại biến đổi nội xã hội
Biến đổi xã hội dù ở cấp độ nào và có hoạch định hay không hoạch định đều
có những đặc điểm sau: (1) Là hiện tượng rất phổ biến nhưng nó diễn ra không giống nhau giữa các xã hội; (2) Khác biệt về thời gian và hậu quả; (3) Vừa có tính
kế hoạch vừa có tính phi kế hoạch Đây là tính hai mặt của quá trình biến đổi Con người vừa là chủ thể tạo ra biến đổi, vừa chịu hậu quả của biến đổi Có nhiều cách tiếp cận về sự biến đổi xã hội và biến đổi xã hội luôn chịu ảnh của các nhân tố và điều kiện của sự biến đổi như: Dân số, khoa học – công nghệ; kinh tế; văn hóa; tư tưởng; giáo dục; các phong trào xã hội, sự truyền bá
Như vậy, khi xem xét đời sống của người dân địa phương do ảnh hưởng của
sự phát triển các dịch vụ du lịch biển, chúng ta hình dung sự biến đổi đời sống của dân cư với đầy đủ các chỉ báo nội hàm của nó, trong sự tương quan tác động trực tiếp của sự phát triển các dịch vụ du lịch biển Đồng thời với các nhân tố, thành tố
và môi trường của toàn bộ hệ thống vùng tác động đến đời sống, vừa ở trạng thái cấu trúc (tĩnh), vùa trạng thái biến đổi (động) Điểm then chốt và mang ý nghĩa thực tiễn của luận văn là tiếp cận nghiên cứu tác động của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mà cụ thể ở đây là sự phát triển của các dịch vụ du lịch biển đến những chuyển biến về mặt xã hội – đời sống của các nhóm dân cư vùng biển Cửa Lò – Nghệ An, điều này thấm nhuần ý nghĩa rằng: “nhà xã hội học, từ bước đi đầu tiên,
đã đặt chân vào ngay hiện thực” [E Durkheim (1993), tr.62]
Trang 241.1.1.2 Lý thuyết cấu trúc chức năng
Những gương mặt tiêu biểu trong lý thuyết này là A Comte, H.Spencer, E Durkheim, V Pareto, B.Malinowski, T.Parson, M.Levyjin, R.Merton, Perter Blau
sự phát triển và những nghiên cứu ở các giác độ khác nhau của lý thuyết này được Hansjurgen Daheim hệ thống hóa hết sức chi tiết Thuyết cấu trúc chức năng được
sử dụng rộng rãi trong phân tích xã hội học, khi xem xét xã hội ở trạng thái tĩnh Nhấn mạnh những đóng góp chức năng của những bộ phận trong xã hội để duy trì cấu trúc cũ; điều cơ bản là xã hội có trật tự và thống nhất, sự đồng tình, đoàn kết xã hội, cân bằng nội tại đảm bảo cho trật tự xã hội [8, tr.267]
Theo lịch sử, A Comte trong xã hội học tĩnh tuy chưa nói đến “chức năng” nhưng ông đã chuẩn bị trước cho phép phân tích chức năng thông qua việc xem xét,
xử lý các mối quan hệ tương tác giữa các cá nhân và xã hội, trước hết trong gia đình H Spencer đã nói về “cơ thể hữu cơ”, giữa các thành phần của cơ thể đều có
“sự phụ thuộc chức năng” - người đặt nền tảng cho cấu trúc chức năng luận phát triển mạnh mẽ về sau này E Durkhiem đã góp phần phát triển quan điểm lý thuyết này khi xem xét mối quan hệ xã hội đã đưa ra khái niệm đoàn kết xã hội (Social Solidarity), với hai hình thức cơ bản là đoàn kết cơ học và đoàn kết hữu cơ, và tương ứng với nó là hai kiểu xã hội: cơ học (truyền thống) và hữu cơ (hiện đại) để chỉ ra các quan hệ giữa cá nhân và xã hội, giữa cá nhân với nhóm và giữa các cá nhân với nhau [J M Charon (1998), tr 175]
Tiếp cận cơ cấu - chức năng khi vận dụng vào nghiên cứu trong luận văn được hiểu như là lý thuyết trung gian cho phép tiếp cận gần đến những vấn đề cụ thể, như là thay đổi cấu trúc xã hội do sự thay đổi cơ cấu kinh tế (kinh doanh dịch
vụ du lịch biển) và theo đó, tính trật tự, tính bất ổn định xã hội, cũng như các mối quan hệ xã hội trong cộng đồng cũng thay đổi Tất thảy đang chịu sự tương tác trực tiếp của sự phát triển hệ thống dịch vụ du lịch biển nói riêng, du lịch biển nói chung
và của các nhân tố vĩ mô khác Như vậy, khi xem xét ảnh hưởng của sự phát triển kinh tế trong cộng đồng dân cư ven biển, cho phép chúng ta xem xét biến đổi cấu trúc và theo đó là chức năng của các thành tố trong cộng đồng về vị thế xã hội, vai
Trang 25trò xã hội, quyền lực xã hội, quan hệ xã hội và vai trò của các thiết chế xã hội Những thay đổi cấu trúc và chức năng xã hội trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động sống – sinh kế của các nhóm dân cư nghề nghiệp không hoàn toàn giống nhau dẫn đến sự phân tầng xã hội, cũng như khả năng duy trì trật tự, ổn định và phát triển xã hội vận động theo thời gian
1.1.2 Tiếp cận liên ngành trong nghiên cứu xã hội học du lịch
1.1.2.1 Lý thuyết giới hạn của những thay đổi có thể chấp nhận được (Limits of acceptable change - LAC)
Do có nhiều người chọn để sống, làm việc và sinh hoạt dọc theo các bờ biển
và dòng chảy, các chuyên gia quản lý nguồn lợi đang bị thách thức bởi việc cân bằng nhu cầu đang thay đổi của cộng đồng với sự quan tâm đến việc quản lý nguồn lợi Có hàng loạt các công cụ quản lý hỗ trợ cho nhà quản lý trong việc tìm hiểu, giám sát và quản lý các tác động do du khách tạo ra trong lúc bổ sung thêm những trải nghiệm cho du khách Nếu không có những phương tiện khảo sát các tác động tiêu cực của du khách, thì sẽ không có cơ sở để cho rằng du lịch có thật sự là “bền vững” hay không, với những lợi ích nhiều hơn giá phải trả[32] Sơ đồ quản lý có thể giúp xác định điều này bao gồm những khái niệm mới về sức tải và sơ đồ quản lý Giới hạn của những thay đổi có thể chấp nhận được (LAC) Quá trình ra quyết định gần gũi với người sử dụng đã được phát triển để xây dựng những sơ đồ này và cung cấp cách đi từ việc lập kế hoạch đến việc thực hiện Cách tiếp cận có hệ thống và đơn giản này có thể giúp các nhà quản lý trong việc xác định và giám sát các tác động của du khách (đến nguồn lợi, đến trải nghiệm của du khách, và đến cộng đồng) và chọn ra những chiến thuật quản lý để xác định được các tác động và cuối cùng là thực hiện kế hoạch Cho dù hệ thống quản lý này có được chọn hay không thì các bên liên quan nên được tham gia một cách đầy đủ nếu có thể.[33]
Như chúng ta đã biết, du khách có thể tác động tiêu cực đến nguồn lợi và ngay cả với trải nghiệm của những du khách khác Những tác động này bao gồm việc làm xáo động các sinh vật hoang dã, thải rác, thu nhặt các “vật lưu niệm” và phá huỷ các vùng rừng ngập mặn, thảm cỏ biển và các rạn san hô Du khách có thể
Trang 26phạm lỗi về các tiêu chuẩn văn hoá mà không biết; ví dụ: việc ăn mặc không đàng hoàng hoặc việc chụp hình một số người và các điểm truyền thống khi chưa được cho phép Bất cứ một chương trình du lịch nào cũng có kết quả là nhiều hoạt động của du khách đều có tác động, có thể là tích cực hoặc tiêu cực Một chương trình du lịch bền vững hiệu quả tìm cách đạt được sự cân bằng giữa bảo vệ nguồn lợi và cung cấp các hoạt động giải trí trong vùng cho du khách Việc giám sát và quản lý các tác động của du khách là vấn đề cơ bản trong các chiến lược quản lý du lịch bền vững, nhưng thường bị bỏ qua khi các kế hoạch được thực hiện.[36]
Nếu Bạn không biết những hiệu quả của các hoạt động du lịch bền vững của bạn lên môi trường tự nhiên trong vùng và các cộng đồng xung quanh, thì Bạn không thể nói rằng Bạn đang thành công
Nếu các hoạt động của du khách không được giám sát một cách cẩn thận, sự suy thoái dần về chất lượng môi trường có thể xảy ra mà không có sự thông báo của các nhân viên khu bảo tồn (KBT) cho đến khi việc phá huỷ này đã diễn ra quá nghiêm trọng Tương tự như vậy, những thay đổi xấu diễn ra từ từ có thể xảy ra trong các cộng đồng địa phương Để phát hiện và điều chỉnh các vấn đề trước khi đi quá xa, việc giám sát cẩn thận các tác động, bao gồm cả tích cực và tiêu cực, cần phải là các hoạt động đầu tiên trong việc quản lý tổng thể của vùng Biết rằng việc điều tra giám sát sẽ tốn rất nhiều chi phí và nó đòi hỏi nhân viên phải được huấn luyện và sự hỗ trợ của các bên liên quan; nhưng đây là một phần quan trọng trong
kế hoạch du lịch bền vững.[37]
Ngay từ lúc bắt đầu thì nhà quản lý KBT nên có những ý tưởng tốt về số lượng du khách sử dụng phù hợp với khả năng cho phép của KBT Nếu du lịch trở nên quá nhiều và vượt qua ngưỡng mà các tác động không thể chấp nhận được, nhà quản lý KBT sẽ cần phải có các hành động Làm thế nào mà chúng ta biết được cái ngưỡng này và làm thế nào để chúng ta biết là đã vượt qua ngưỡng?
Trang 27Sức tải
Khách du lịch làm gì, khi nào và ở đâu, hành vi đối xử và việc đo đạc bảo vệ trong vùng một cách thường xuyên là quan trọng để xác định các tác động của du khách hơn là đơn giản chỉ là số lượng du khách.[35]
Những phương pháp đầu tiên được hình thành để xác định các tác động của
du lịch đã phát triển từ khái niệm về sức tải Nó được xuất phát từ việc quản lý các động vật ăn cỏ ở hiện trường Một số định nghĩa về sức tải đã được phát triển trong các tài liệu, phụ thuộc vào địa điểm và cách mà khái niệm này được áp dụng Sự quan tâm và cách đối xử của du khách; cách mà du khách di chuyển và lưu trú; hiệu quả của hướng dẫn viên; và tính mùa vụ trong đó phần lớn các dịch vụ này xảy ra, tất cả đều gây nên các tác động Ví dụ, sức tải trong trường hợp giải trí sẽ đề cập đến số lượng và các loại hình sử dụng mà có thể được tính toán tại một vùng nào đó theo thời gian Trong khi đó việc duy trì các điều kiện sinh-lý phù hợp của các nguồn lợi và những cơ hội cho các du khách cao cấp được thực hiện ở một cấp độ nhất định trong công tác quản lý Khái niệm này đang làm mạnh thêm cho các sơ đồ quản lý nguồn lợi giải trí chính được sử dụng ngày nay
Nói cách khác: Sức tải là khả năng lớn nhất của các hoạt động du lịch có thể được duy trì mà không làm phá huỷ môi trường hoặc làm giảm sự hưởng thụ của du khách
Sơ đồ LAC bao gồm các bước sau:
1 Xác định các vấn đề khu vực và mối quan tâm
2 Xác định và mô tả lớp cơ hội
3 Chọn chỉ số tài nguyên và điều kiện xã hội
4 Kiểm kê các nguồn lực hiện có và điều kiện xã hội
5 Chỉ định các tiêu chuẩn cho tài nguyên và các chỉ số cho xã hội ở mỗi lớp cơ hội
6 Xác định lớp cơ hội thay thế, phản ánh các vấn đề khu vực và mối quan tâm và nguồn lực hiện có và điều kiện xã hội
7 Xác định các hành động quản lý cho từng luân phiên
8 Đánh giá và lựa chọn một lựa chọn ưa thích
9 Thực hiện các hành động và các điều kiện màn hình
Trang 28Sơ đồ về những giới hạn thay đổi có thể chấp nhận được tổng hợp từ những quan tâm về sức tải và những tác động tiềm năng khác Đây là một quá trình quyết định để xác định những tác động không thể chấp nhận được đối với các điều kiện nguồn lợi và trải nghiệm du khách trong các KBT LAC bao gồm cả việc xác định cấp độ của các tác động hiện có trong vùng không thể chấp nhận được và chọn ra những chiến lược và thủ thuật quản lý phù hợp, phát triển các kế hoạch hành động, thực hiện và giám sát chúng Với cách tiếp cận này, việc lập kế hoạch giám sát diễn
ra rất sớm và việc giám sát được thực hiện trong suốt cả quá trình Khi việc giám sát xác định rằng ngưỡng của các tác động không thể chấp nhận được đã xuất hiện thì các hành động quản lý cần được thực hiện.[32]
Sức tải là dùng để quyết định số lượng bao nhiêu người/du khách tham quan
mà nguồn lợi vẫn có thể được duy trì, trong khi đó thì LAC cố gắng xác định mức
độ thay đổi bao nhiêu thì có thể chấp nhận được từ kết quả của sự tham quan này và làm thế nào để xác định được nó LAC hỗ trợ trong việc làm rõ phạm vi, độ nghiêm trọng và những nguyên nhân của vấn đề trước khi chúng trở nên không được chấp nhận Nó khuyến khích các nhà quản lý đánh giá những giải pháp thay thế thay vì chỉ có một giải pháp duy nhất Đây là một hệ thống linh động mà có thể sắp xếp theo những mối quan tâm về sinh thái, đa dạng sinh học và xã hội – văn hoá của từng vùng
Cách tiếp cận LAC là dựa trên 3 giả định:
• Những tác động là không thể tránh được, vì thế cần tập trung xác định mức độ tác động bao nhiêu là có thể chấp nhận được;
• Các vùng khác nhau sẽ có các điều kiện xã hội và môi trường khác nhau;
• Với cùng một cấp độ du lịch nhất định có thể có những tác động khác nhau trong các điều kiện khác nhau
Phương pháp giới hạn thay đổi có thể chấp nhận được
Như đã đề cập ở trên, LAC đang được phát triển, đặc biệt là cho phép ngành
du lịch xác định những thiếu sót của khái niệm sức tải, dù rằng khái niệm này cũng được áp dụng trong một số trường hợp quản lý tổng thể LAC chấp nhận những thay
Trang 29đổi không thể ngăn cản được nhưng xác định giới hạn về mức độ thay đổi có thể chấp nhận được Để thực hiện phương pháp LAC, các nhà quản lý KBT sẽ cần sự tư vấn của các bên liên quan để xác định cách nhìn nhận chung về những điều kiện có thể chấp nhận được của vùng nên là gì; xây dựng các chỉ số và các tiêu chuẩn liên quan đến mức độ thay đổi mà các bên liên quan cho là không thể chấp nhận được tại những vùng này; và giám sát để đánh giá thường xuyên những hiệu quả mà du lịch mang lại dựa trên những tiêu chuẩn được xác định trước đây Nếu như các chỉ
số vượt qua ngưỡng chấp nhận đã được đồng ý, thì cần phải có những hành động quản lý để làm giảm các tác động tiêu cực Cách tiếp cận LAC thúc đẩy các nhà quản lý tiến tới nắm chắc các chi tiết trong cách quản lý mà sẽ còn tiến xa hơn so với con số đơn giản trong khái niệm sức tải Thêm vào đó, bằng cách xây dựng giới hạn các thay đổi có thể chấp nhận được mà có sự tham gia của nhiều bên liên quan càng tốt, các nhà quản lý đạt được nhiều niềm tin khi họ yêu cầu hoặc đòi hỏi những thay đổi trong quản lý mà có thể tác động nhiều người khác nhau như nhà điều hành tour, hướng dẫn viên và cộng đồng địa phương.[32]
Sự tham gia của cộng đồng
Khía cạnh quan trọng của quá trình LAC là khuyến khích sự tham gia của cộng đồng Các tiêu chuẩn, chỉ thị và những hành động được xác định trong các cuộc họp có sự tham gia của các bên liên quan Các bên liên quan không chỉ được thông báo về các chỉ số và tiêu chuẩn; họ giúp đỡ quyết định Kinh nghiệm của Cục Kiểm lâm Hoa Kỳ trong việc phát triển và điều chỉnh quá trình LAC đã chỉ ra rằng
sự tham gia của các bên liên quan là điều rất quan trọng Điều rõ ràng bây giờ là cách tiếp cận có sự tham gia dựa trên cơ sở của cộng đồng là nền tảng cho các KBT thành công Các thành viên cộng đồng là người phụ thuộc vào các nguồn lợi ven biển thường có cam kết cao nhất và là những người trông coi chu đáo những nguồn lợi này nếu họ nhận được những lợi ích trực tiếp từ những nỗ lực của họ [34]
Du lịch tại Cửa Lò cũng mang những đặc điểm chung như các khu du lịch khác trên cả nước về khả năng đáp ứng nhu cầu du lịch của một số lượng khách nhất định Sức tải này phụ thuộc vào tiềm năng du lịch, bao gồm tài nguyên thiên nhiên, tài
Trang 30nguyên nhân văn của Cửa Lò và sự quản lý của ngành du lịch Để phát triển du lịch biển Cửa Lò một cách bền vững, việc khai thác tiềm năng du lịch của địa phương phải đặt trong những mức độ, giới hạn nhất định, vừa đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của du khách nhưng phải vừa đảm bảo được việc bảo tồn và phát triển những giá trị du lịch tại địa phương Làm được những điều này, du lịch Cửa Lò sẽ đạt được những hiệu quả kinh tế, xã hội cao và phát triển một cách bền vững
1.1.2.2 Quan điểm phát triển du lịch bền vững
Trong tiến trình phát triển, mọi quốc gia đều đặt mục tiêu phát triển bền vững cho mọi chương trình hành động của mình Đây là hướng đi đúng đắn và cần thiết, là yêu cầu tất yếu đặc biệt là với các quốc gia đang phát triển, đang trong quá trình CNH - HĐH đất nước trong đó có Việt Nam chúng ta Phát triển bền vững là mục tiêu và biện pháp của các cá nhân và tổ chức khi tham gia vào quá trình kinh doanh tạo ra sự phát triển để đáp ứng cho nhu cầu hiện tại mà không giảm bớt đi khả năng của các thế hệ mai sau trong việc đáp ứng cho nhu cầu của họ Điều 4
Luật Du lịch đã nói rõ: “Du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng được các
nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của tương lai” [16]
Du lịch bền vững là du lịch mà giảm thiểu các chi phí và nâng cao tối đa các lợi ích của du lịch cho môi trường tự nhiên và cộng đồng địa phương và có thể được thực hiện lâu dài nhưng không ảnh hưởng xấu đến nguồn lợi mà nó phụ thuộc vào
Du lịch bền vững là “việc di chuyển và tham quan đến các vùng tự nhiên một cách
có trách nhiệm với môi trường để tận hưởng và đánh giá cao tự nhiên (và tất cả những đặc điểm văn hoá kèm theo, có thể là trong quá khứ và cả hiện tại) theo cách khuyến cáo về bảo tồn, có tác động thấp từ du khách và mang lại những lợi ích cho
sự tham gia chủ động về kinh tê-xã hội của cộng đồng địa phương (World Conservation Union,1996)
Du lịch là một trong những ngành lớn nhất trên toàn cầu, có thị trường phát triển nhanh tập trung vào các môi trường còn hoang sơ như các vùng biển và các Khu bảo tồn biển (KBTB) Du lịch có thể mang những lợi ích đến cho các cộng
Trang 31đồng địa phương và các KBTB thông qua việc tạo ra các lợi tức và tuyển dụng Tuy nhiên, Du lịch cũng có thể đe doạ đến nguồn lợi của KBTB bằng cách huỷ hoại các sinh cảnh sống, xáo trộn đời sống hoang dã, tác động đến chất lượng nước và đe doạ cộng đồng địa phương do việc phát triển quá mức, đông đúc và phá vỡcác giá trịvăn hoá địa phương Thêm vào đó, du lịch đại chúng thường có thể không mang những lợi ích cho cộng đồng địa phương khi những lợi tức du lịch bị“rò rỉ” đến các nhà điều hành bên ngoài Và kết quả là du lịch có thể phá huỷ rất nhiều nguồn lợi
mà nó phụ thuộc vào Ngược lại, du lịch bền vững được lập kế hoạch một cách cẩn trọng để mang những lợi ích đến cho cộng đồng địa phương, tôn trọng văn hoá địa phương, bảo tồn nguồn lợi tự nhiên, nguồn lợi trực tiếp được mang đến cho cộng đồng địa phương và KBTB và giáo dục cả du khách và cư dân địa phương về tầm quan trọng của bảo tồn
Du lịch bền vững có 3 hợp phần chính, đôi khi được ví như “ba chân”
(International Ecotourism Society, 2004):
1 Thân thiện môi trường, du lịch bền vững có tác động thấp đến nguồn lợi
tự nhiên và KBTB nói riêng Nó giảm thiểu các tác động đến môi trường (động thực vật, các sinh cảnh sống, nguồn lợi sống, sử dụng năng lượng và ô nhiễm …) và cố gắng có lợi cho môi trường
2 Gần gũi về xã hội và văn hoá, nó không gây hại đến các cấu trúc xã hội
hoặc văn hoá của cộng đồng nơi mà chúng được thực hiện Thay vào đó thì nó lại tôn trọng văn hoá và truyền thống địa phương Khuyến khích các bên liên quan (các
cá nhân, cộng đồng, nhà điều hành tour, và quản lý chính quyền) trong tất cả các giai đoạn của việc lập kế hoạch, phát triển và giám sát, giáo dục các bên liên quan vềvai trò của họ
3 Có kinh tế, nó đóng góp về mặt kinh tế cho cộng đồng và tạo ra những
thu nhập công bằng và ổn định cho cộng đồng địa phương cũng như càng nhiều bên liên quan khác càng tốt Nó mang lợi ích cho người chủ, cho nhân viên và cả người xung quanh Nó không bắt đầu một cách đơn giản để sau đó sụp đổ nhanh do các hoạt động kinh doanh nghèo nàn
Trang 32Phát triển du lịch bền vững (Sustainable Tourism) được Tổ chức Du lịch thế giới (United National World Tourist Organization, viết tắt là UNWTO) định nghĩa
như sau: "Sự phát triển bền vững của ngành du lịch đáp ứng nhu cầu hiện tại của
du khách và của địa phương du lịch, đồng thời bảo vệ và thúc đẩy cơ hội phát triển cho tương lai Sự quản lý của ngành phải cân bằng và đáp ứng được nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ mà vẫn duy trì được các giá trị của sinh thái, văn hóa và môi sinh" Hoặc: "Du lịch bền vững là các hình thức du lịch đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách du lịch, ngành du lịch và cộng đồng địa phương nhưng không ảnh hưởng tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau Du lịch khả thi về kinh tế nhưng không phá hủy tài nguyên mà tương lai của du lịch phụ thuộc vào đó, đặc biệt là môi trường tự nhiên và kết cấu xã hội của cộng đồng địa phương”[31]
Tác giả Nguyễn Văn Mạnh cho rằng: “Phát triển du lịch bền vững là hoạt
động khai thác có quản lý các giá trị tự nhiên và nhân văn nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn trong khi vẫn đảm bảo sự đóng góp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai, cho công tác bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương”.[14]
- Góp phần bảo vệ môi sinh, môi cảnh
- Xây dựng, phát triển kinh tế tăng trưởng không ngừng
- Đảm bảo công bằng xã hội
- Không xâm hại đến lợi ích nhiều mặt của các thế hệ trước mắt cũng như lâu dài
- Tạo tiền đề phát triển về mọi mặt của đời sống xã hội.[40]
Trong xu thế chung của Thế giới và Việt Nam về phát triển du lịch bền vững, mỗi địa phương đều xây dựng cho mình từng chương trình phát triển du lịch riêng dựa trên cơ sở những quy định và tiêu chí chung đã được đặt ra Và từ những tiêu chí chung đó, mỗi địa phương có những giải pháp và hướng đi khác nhau nhằm đạt được mục tiêu một cách hiệu quả nhất Đảng bộ và nhân dân Nghệ An đang nỗ lực
Trang 33thực hiện những biện pháp để đưa du lịch ngày càng phát triển nhanh, mạnh và bền vững Nghị quyết số 05 - NQ/TU ngày 28/10/2011 của Ban Thường vụ tỉnh ủy Nghệ An đề ra mục tiêu phát triển Du lịch Nghệ An giai đoạn 2011 - 2020 như sau:
- Tiếp tục khai thác có hiệu quả thế mạnh tài nguyên du lịch của tỉnh, tăng cường nguồn lực phát triển kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật; chủ động hội nhập và gắn kết du lịch Nghệ An với khu vực Bắc miền Trung và du lịch cả nước, quốc tế; đảm bảo tốc độ phát triển du lịch nhanh và bền vững
- Phát triển du lịch phải gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ phát triển văn hóa, nhất
là bảo tồn, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, giáo dục truyền thống, bảo
vệ môi trường, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ chủ quyền biên giới và biển đảo
1.1.3 Các khái niệm
1.1.3.1 Phát triển
Là một dạng thay đổi xã hội về mặt cấu trúc xã hội và vì vậy phải phân biệt với các dạng khác Biến đổi xã hội theo trọng tâm mô tả sự thay đổi của các yếu tố đặc trưng của cấu trúc xã hội, tiến bộ là sự thay đổi được đánh giá là tích cực và tiến hóa là
sự thay đổi đi theo hướng từ bình diện đơn giản lên bình diện cao hơn Khi đó, ta có thể định nghĩa phát triển là một quá trình xã hội qua đó thay đổi các yếu tố của cấu trúc
xã hội và ở đó sẽ thấy những sự thay đổi thật sự so với khả năng khách quan (Endruweit) Qua đó khái niệm cũng phù hợp với quan niệm kém phát triển hoặc quá phát triển được dùng ở đây chỉ trong liên hệ với sự thay đổi xã hội Trong khoa học và thực tiễn thường dùng nhiều khái niệm khác, thường cũng với ý nghĩa là các dạng khác của thay đổi các cấu trúc xã hội nêu trên (Behrendt, Boeckh, Nohlen)
Với tư cách là khái niệm cơ bản không chỉ trong xã hội học phát triển và trong chính sách phát triển cho các nước đang phát triển, mà còn cả trong sinh học
và tâm lý học phát triển, khái niệm phát triển cho phép nghiên cứu sự thay đổi hay khả năng thay đổi khi lưu ý tới hoàn cảnh xuất phát của nó và phạm vi tác động của nó Qua đó cũng có thể giải thích về nhân quả hay thậm chí dự báo sự phát triển
Trang 34chênh lệch của các xã hội khác nhau hay các lĩnh vực khác nhau trong cùng một xã hội và sau đó điều khiển một cách hợp lý
Trong xã hội học đại cương thì khái niệm phát triển ngay ở bước khởi đầu chẳng hạn ở Comte, Ferguson và Spencer đã đóng một vai trò thống trị thường xuyên Khi đó người ta thường quá nhấn mạnh các yếu tố theo thuyết tiến hóa và không chỉ xây dựng các thuyết về các giai đoạn phát triển, mà còn phát biểu các định luật sai lầm về phát triển Trong việc lý tưởng hóa lịch sự của nó, người ta đã đặt tiến triển của lịch sử thành một mô hình không có khả năng lựa chọn mà ở đó hoàn toàn không tính đến khả năng có thể lựa chọn các đương lượng chức năng Tuy bị bác bỏ trong xã hội học đại cương, tiền đề này vẫn được tiếp tục theo đuổi ở một vài thuyết phát triển [8; tr.338]
Phát triển là quá trình vận động từ thấp (đơn giản) lên cao (phức tạp), mà nét đặc trưng chủ yếu là cái cũ biến mất và cái mới ra đời Sự phát triển của hệ thống
vô cơ, của thế giới hữu sinh, của xã hội loài người, của nhận thức đều phục tùng những quy luật phổ biến của phép biện chứng (Từ điển triết học, Nxb Tiến bộ, Matxcova, 1973: 433)
1.1.3.2 Du lịch
Khái niệm du lịch được đề cập theo nhiều khía cạnh khác nhau:
Theo định nghĩa của hai nhà kinh tế Hunsker và Kraff: “Du lịch là tập hợp
các mối quan hệ và hiện tượng phát sinh trong những cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoại địa phương, nếu như việc lưu trú đó không trở thành lưu trú thường xuyên và không có hoạt động kiếm lời” [30]
Định nghĩa của Michael Coltman (Mỹ): “Du lịch là sự kết hợp với tương tác
của bốn nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách”
Trang 35Năm 1963, với mục đích quốc tế hoá, tại Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch
họp ở Roma, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: Du lịch là
tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ
Tổ chức du lịch thế giới định nghĩa: “Du lịch bao gồm tất cả các hoạt động
của một cá nhân đi đến là lưu trú tại những điểm ngoài nơi ở thường xuyên của họ trong thời gian không dài hơn một năm với mục đích nghỉ ngơi, công cụ và mục đích khác”
Theo Luật du lịch của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
số 44/2005/ QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005): Du lịch là các hoạt động có liên
quan đến chuyến đi con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định [16]
Từ các định nghĩa trên cho ta thấy du lịch là một hoạt động liên quan đến một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức đi ra khỏi nơi cư trú thường xuyên của họ bằng các cuộc hành trình ngắn ngày hoặc dài ngày ở một nơi khác với mục đích chủ yếu không phải là kiếm lời Quá trình đi du lịch của họ được gắn với các hoạt động kinh tế, các mối quan hệ, hiện tượng ở nơi họ đến
Trang 361.1.3.3 Du lịch biển
Du lịch biển được hình thành và phát triển từ rất lâu đời, cho đến những năm
70 của thế kỷ 20, du lịch biển đã trở thành một loại hình được khách du lịch ưa thích Du lịch biển không chỉ dừng lại ở việc tắm biển, chiêm ngưỡng cảnh quan sinh thái biển mà còn phát triển rất đa dạng cả về nội dung và hình thức
Theo tác giả Đồng Ngọc Minh và Vương Lôi Đình (2000) “Du lịch biển là chỉ
tổng hòa hiện tượng và quan hệ, của các hoạt động du ngoạn, vui chơi, nghỉ ngơi tiến hành ở biển, sinh ra lấy biển làm chỗ dựa nhằm mục đích thõa mãn yêu cầu về vật chất và tinh thần của mọi người dưới điều kiện tinh tế, xã hội nhất định”
Theo Viện nghiên cứu và phát triển Du lịch và đại học tự do Bruxells, Bỉ, du
lịch biển: Là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở khai thác tài nguyên biển,
gắn liền với loại tài nguyên này là các hoạt động như: tắm biển, tắm nắng, tắm khí trời, hít thở không khí trời, thể thao nước nhằm thõa mãn nhu cầu nghỉ ngơi, chữa bệnh, vui chơi, giải trí của du khách tại vùng biển Nói cách khác, du lịch biển là
loại hình du lịch ở vùng đất ven biển, trên bãi biển, trên mặt nước và vùng đất mặt nước biển
1.1.3.4 Du lịch bền vững
Điều 4 Luật Du lịch quy định: “Du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp
ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của tương lai” [16]
1.1.3.5 Dịch vụ du lịch
Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú,
ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch [16]
Trong giới hạn luận văn này chỉ nghiên cứu các loại hình dịch vụ của sản
phẩm du lịch “tắm biển – nghỉ dưỡng kết hợp mua sắm” phục vụ cho hoạt động du
lịch tại khu du lịch biển Cửa Lò, bao gồm dịch vụ lữ hành (các công ty lữ hành trên
địa bàn Cửa Lò), vận chuyển (vận chuyển khách trong khu du lịch), lưu trú (các cơ
sở lưu trú: khách sạn, nhà nghỉ của các đơn vị và hộ gia đình trong khu du lịch), ăn
Trang 37uống (các nhà hàng, quán ăn phục vụ khách du lịch, trong khu du lịch), bán hàng (hàng lưu niệm và hàng đặc sản khô trong khu du lịch và chợ Thu Thủy), vui chơi giải trí (các cơ sở vui chơi, giải trí trong khu du lịch), những dịch vụ khác (bao gồm các dịch vụ như bãi giữ xe, chụp ảnh, cho thuê ghế nằm, phao bơi, nước sạch, cho thuê xe đạp đôi tại khu du lịch)
1.1.3.6 Kinh doanh du lịch
Kinh doanh du lịch là thực hiện một số hoặc toàn bộ các công đoạn đầu tư tạo sản phẩm du lịch đến tổ chức tiêu thụ các sản phẩm du lịch trên thị trường nhằm tạo mục đích sinh lợi Hay nói cách khác, kinh doanh du lịch chính là quá trình tổ chức sản xuất, lưu thông mua bán hàng hóa du lịch trên thị trường du lịch nhằm đảm bảo hiệu quả về mặt kinh tế xã hội [16]
Kinh doanh du lịch bao gồm các loại hình kinh doanh lưu trú, kinh doanh ăn uống, kinh doanh vận chuyển, kinh doanh lữ hành, kinh doanh thông tin, dịch vụ bổ sung
Khi nghiên cứu về chất lượng cuộc sống, theo Rankridma, “có hai khía cạnh nhất thiết phải được quan tâm trong các khảo sát về chất lượng cuộc sống Khảo sát
về những biểu hiện xã hội được coi như là tinh hoa của giá trị, điều mà con người
Trang 38cần và khảo sát về chất lượng cuộc sống thông thường tức là nghiên cứu xem con người muốn gì nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của họ”
Còn theo Trung tâm khảo sát chất lượng cuộc sống của Đan Mạch thì:
“Trong khảo sát về chất lượng cuộc sống, người ta thường phân biệt giữa chất lượng cuộc sống một cách chủ quan và khách quan Chất lượng cuộc sống chủ quan
là cảm giác tốt và hài lòng với mọi thứ chung Còn chất lượng cuộc sống khách quan là đáp ứng các yêu cầu về xã hội và văn hóa cho sự sung túc về vật chất, địa
vị xã hội và thể chất khỏe mạnh”
Trong nghiên cứu của mình, Janssen cho rằng chất lượng cuộc sống có thể được định nghĩa chủ quan là “tình trạng hạnh phúc và khỏe mạnh cả về vật chất và tinh thần”. Ghi nhận những cảm giác chủ quan của chất lượng cuộc sống phản ánh
sự khác biệt khập khiễng giữa hy vọng và mong muốn của con người với những điều họ trải qua trong thực tế Sự thích nghi của con người với những mong muốn trong cuộc sống thường phải điều chỉnh để sống trong thực tại mà mình có thể nhận thức được Điều đó khiến cho những người có hoàn cảnh sống khó khăn có thể duy trì được một chất lượng cuộc sống vừa phải
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Du lịch biển ở Việt Nam hiện nay
Việt Nam nằm trong số những nước có nhiều bãi biển và vịnh biển, đảo đẹp nhất thế giới Các sản phẩm du lịch biển, đảo cũng thu hút lượng khách du lịch đông nhất ở Việt Nam và mang lại doanh thu du lịch cao nhất Du lịch biển là một tiềm năng kinh doanh lớn của nước ta Vùng biển và ven biển tập trung tới 3/4 khu
du lịch tổng hợp và 10/17 khu du lịch chuyên đề Các loại hình phát triển du lịch biển đảo, du lịch văn hóa, sinh thái cộng đồng được ưu tiên phát triển trong thời gian tới, trong đó du lịch biển được coi là loại hình du lịch chủ đạo
Du lịch biển đảo có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch của cả nước Các ví dụ về sự phát triển du lịch dựa trên nguồn tài nguyên tự nhiên biển đảo ở Nha Trang, Phú Quốc đã cho thấy sức hấp dẫn của các khu vực này đối với khách du lịch Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010
Trang 39và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đã xác định 7 khu vực trọng điểm ưu tiên phát triển du lịch, trong đó đã có tới 5 khu vực thuộc vùng ven biển Mặc dù cho đến nay, nhiều tiềm năng du lịch biển đặc sắc, đặc biệt là hệ thống đảo ven bờ chưa được đầu tư khai thác tương xứng, nhưng ở khu vực ven biển và các đảo đã phát triển khoảng 70% các khu điểm du lịch trong cả nước, hàng năm thu hút từ 70 – 80% lượng khách du lịch.[42]
Vị trí của du lịch biển đảo đối với sự phát triển kinh tế - xã hội được thể hiện một cách rõ nét qua việc: Phát triển du lịch biển góp phần thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác; tạo thêm nhiều việc làm cho xã hội Vùng ven biển và các đảo ven bờ Việt Nam hiện có khoảng 10 triệu người trong độ tuổi lao động Việc phát triển du lịch sẽ góp phần tạo việc làm cho cộng đồng dân cư sống
ở vùng biển, đặc biệt trên các đảo vốn có nhiều khó khăn, góp phần tích cực tạo dựng và củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, phát triển hậu phương vững chắc ở tuyến phòng thủ trên biển của đất nước và đảm bảo an ninh quốc phòng vùng ven biển và hải đảo Thực tiễn phát triển du lịch biển đảo những năm qua đã khẳng định vai trò trên của du lịch
Tuy nhiên, những gì chúng ta đang khai thác nguồn tài nguyên biển, đảo quý giá để làm du lịch hiện nay vẫn còn quá tự phát, lãng phí tài nguyên Ngành du lịch biển vẫn thiếu những sản phẩm dịch vụ biển - đảo đặc sắc có tính cạnh tranh cao so với khu vực và quốc tế, chưa có khu du lịch biển tổng hợp đạt trình độ quốc
tế Vì thế, cần phải có chiến lược và quy hoạch lâu dài về chủ đề này để phát triển
du lịch giai đoạn tới”
Trong thời gian tới, hệ thống sản phẩm du lịch biển sẽ được xây dựng, phát triển thành sản phẩm du lịch cạnh tranh với khu vực và thế giới Cùng với hai loại hình cũng được ưu tiên phát triển là du lịch văn hoá và du lịch sinh thái cộng đồng,
du lịch biển được coi là loại hình du lịch chủ đạo Phát triển du lịch biển với các dòng sản phẩm du lịch đặc thù, chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh trong khu vực và thế giới về du lịch nghỉ dưỡng biển, tham quan thắng cảnh biển Hình thành
Trang 40các dòng sản phẩm du lịch thể thao biển và sinh thái biển Xây dựng mô hình làng
du lịch nghỉ dưỡng biển theo tiêu chí đẳng cấp, sang trọng nhằm thu hút khách cao cấp, phát triển song song với các khu du lịch biển, ven biển khác Điều này đã khẳng định sự quan tâm cũng như nhận thức của nước ta nói chung và các ban ngành nói riêng và về vai trò của du lịch biển đảo đối với sự phát triển của ngành
du lịch và nền kinh tế xã hội Việt Nam
1.2.2 Tổng quan địa bàn nghiên cứu
1.2.2.1 Điều kiện tự nhiên
Cửa Lò là một thị xã thuộc tỉnh Nghệ An, nằm ở phía đông của tỉnh Nghệ
An, phía đông giáp Biển Đông, phía tây giáp Nghi Lộc, phía nam giáp thành phố Vinh và huyện Nghi Xuân, phía bắc giáp Diễn Châu Trước đây, Cửa Lò thuộc huyện Nghi Lộc
Cửa Lò có diện tích 27,81 km², nằm ở phía Đông Nam tỉnh Nghệ An, cách Thành phố Vinh, tỉnh lị tỉnh Nghệ An 16km về phía Đông, Sây bay Vinh 10km về phía Tây, Thủ đô Hà Nội gần 300km về phía Bắc và Thành phố Hồ Chí Minh 1.400km về phía Nam, thủ đô Viên Chăn của lào 400 km Cửa Lò nằm giữa 2 con sông lớn là Sông Lam ở phía Nam và Sông Cấm ở phía Bắc Cửa Lò nổi tiếng với bãi biển, khu nghỉ mát và cảng biển sầm uất Địa hình ở đây tương đối bằng phẳng Trong thị xã có nhiều ngọi núi nhỏ, nhiều đảo và bán đảo tạo nên những cảnh quan
kỳ thú Cửa Lò được bao bọc bởi hai con sông là Sông Cấm ở phía bắc và Sông Lam ở phía Nam [41]
1.2.2.2 Địa diểm du lịch Cửa Lò
Đảo Hòn Ngư Song Ngư là hòn Đảo nằm cách đất liền hơn 4 km Đảo gồm hai hòn lớn nhỏ Hòn lớn cao 133m, hòn nhỏ cao 88m so với mặt nước biển Phan Huy Chú viết trong sách "Lịch triều hiến chương loại chí”: Núi Song Ngạn ở cửa bể Hội Thống…giống như hình hai con cá, tục gọi là núi Song Ngư, người địa phương đơn giản gọi nó là Đảo Ngư hay Hòn Ngư Muốn nhìn sõ toàn cảnh của Hòn Ngư ta phải đứng từ bến sông Sông Cửa Lò nhánh chính xuất phát từ nhánh tây, chảy qua Hương Vận, Phan Thanh Sau khi chia nước cho Kênh Nhà Lê, sông băng qua