1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Truyền thông với người khuyết tật (Nghiên cứu trường hợp tại xã Quất Động, huyện Thường Tín, Hà Nội từ tháng 10 2012 đến tháng 7-2013

98 2,5K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể kể ra những nghiên cứu liên quan đến truyền thông như: David Croteau, William Hoynes 2003, Media/Society: industries, images, and audiences Truyền thông/ Xã hội: công nghệ, hình

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- - -    - - -

NGUYỄN THỊ HIỀN DỊU

TRUYỀN THÔNG VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT

NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI XÃ QUẤT ĐỘNG, HUYỆN THƯỜNG TÍN, HÀ NỘI

TỪ THÁNG 10/2012 ĐẾN THÁNG 7/2013

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Công tác xã hội

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- - -    - - -

NGUYỄN THỊ HIỀN DỊU

TRUYỀN THÔNG VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT

NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI XÃ QUẤT ĐỘNG, HUYỆN THƯỜNG TÍN, HÀ NỘI

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Nghiên cứu này đưa ra thực trạng truyền thông với người khuyết tật tại xã Quất Động, huyện Thường Tín, Hà Nội từ tháng 10/2012 đến tháng 7/2013 Tôi xin đặc biệt cảm ơn bà Bùi Thị Thu, cán bộ Chữ thập đỏ xã Quất Động, người đã hỗ trợ tôi rất nhiều để tôi hoàn thành nghiên cứu này

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của ông Nguyễn Đức Dân – Phó chủ tịch UBND xã Quất Động, chị Lê Hải Yến – Cán bộ thương binh xã hội xã Quất Động

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn 25 người khuyết tật đã chia sẻ thông tin với tác giả nghiên cứu Không có sự giúp đỡ của họ, tôi không thể thực hiện được nghiên cứu này

Cuối cùng tôi xin cảm ơn PGS.TS Mai Quỳnh Nam đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thiện nghiên cứu này

Trang 4

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 4

MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài 6

3 Ý nghĩa nghiên cứu 12

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 13

5 Phạm vi nghiên cứu 13

6 Câu hỏi nghiên cứu 14

7 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 14

8 Phương pháp nghiên cứu 14

NỘI DUNG 16

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 16

1.1 Các lý thuyết 16

1.1.1 Lý thuyết truyền thông điệp cho đối tượng 16

1.1.2 Lý thuyết thuyết phục 17

1.1.3 Lý thuyết sinh thái học 19

1.2 Các khái niệm 21

1.2.1 Truyền thông 21

1.2.1.1 Khái niệm truyền thông 21

1.2.1.2 Các yếu tố của truyền thông 22

1.2.1.3 Phân loại truyền thông 25

1.2.2 Người khuyết tật 28

1.2.3 Truyền thông với người khuyết tật 31

1.2.4 Công tác xã hội 32

1.3 Một số văn bản pháp lý và chính sách liên quan đến truyền thông với người khuyết tật 33

Trang 5

1.3.1 Các văn bản quốc tế 33

1.3.2 Một số văn bản trong nước 35

1.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 36

Chương 2: THỰC TRẠNG TRUYỀN THÔNG VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI XÃ QUẤT ĐỘNG, HUYỆN THƯỜNG TÍN, HÀ NỘI 40

2.1 Nhu cầu truyền thông của người khuyết tật 40

2.1.1 Nhu cầu của người khuyết tật 40

2.1.2 Nhu cầu của người khuyết tật vận động về truyền thông với người khuyết tật 41

2.2 Các yếu tố trong truyền thông với người khuyết tật 43

2.2.1.1 Người nhận 43

2.2.1.2 Nguồn truyền 46

2.2.1.3 Kênh truyền thông 48

2.2.1.4 Thông điệp 49

2.2.1.5 Nhiễu 52

2.2.1.6 Sự phản hồi 54

2.3 Nguyên nhân của thực trạng 56

2.3.1 Nguyên nhân chủ quan 56

2.3.2 Nguyên nhân khách quan 59

2.4 Vai trò của nhân viên xã hội trong truyền thông với người khuyết tật 60

2.4.1 Hòa nhập xã hội của người khuyết tật 60

2.4.2 Người truyền thông 62

2.4.3 Phối hợp các nguồn lực trong cộng đồng 65

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRUYỀN THÔNG VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI XÃ QUẤT ĐỘNG HUYỆN THƯỜNG TÍN 67

3.1 Kết hợp truyền thông về người khuyết tật và truyền thông với người khuyết tật 67

3.2 Một số mô hình 69

3.2.1 Thành lập hội người khuyết tật xã 69

Trang 6

3.2.3 Thành lập nhóm bạn người khuyết tật 74

KẾT LUẬN – KIẾN NGHI ̣ 79

KẾT LUẬN 79

KIẾN NGHI ̣ 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Phụ lục 1 85

Phụ lục 2 86

Phụ lục 3 90

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Nhu cầu về truyền thông với người khuyết tật

Bảng 2.3 Tần suất tham gia các hoạt động nhóm của người khuyết tật Bảng 2.2 Tình trạng hôn nhân

Bảng 2.4 Trình độ học vấn

Bảng 2.5 Tần suất iếp xúc với hàng xóm

Bảng 2.6 Những biểu hiê ̣n của cha me ̣ có con khuyết tật

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Người khuyết tật từ lâu đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học Trong y học, sức khỏe cộng đồng, thông tin điện tử, thiết kế kỹ thuật người khuyết tật được quan tâm dưới góc độ làm giảm bớt ảnh hưởng của dạng tật làm cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của họ bớt khó khăn hơn Trong các ngành xã hội học, công tác xã hội, người khuyết tật được hướng đến như những đối tượng yếu thế trong xã hội cần được hỗ trợ để hòa nhập cộng đồng

Truyền thông là một trong những phương pháp của công tác xã hội hướng tới

hỗ trợ người khuyết tật hòa nhập cộng đồng Nếu truyền thông về người khuyết tật làm thay đổi cách nhìn nhận của những người bình thường về người khuyết tật thì truyền thông với người khuyết tật là một trong những yếu tố không thể thiếu làm thay đổi cách nhìn của người khuyết tật về chính bản thân họ cũng như làm thay đổi cách nhìn người khuyết tật của những người bình thường Truyền thông với người khuyết tật cung cấp cho người khuyết tật các thông tin liên quan đến dạng tật họ gặp phải, kỹ năng sống cần thiết đối với các dạng tật cụ thể, những hiểu biết về các văn bản luật, chính sách trợ giúp người khuyết tật, giúp họ hiểu những giá trị bản thân của chính mình để có thể sống độc lập

Con đường ngắn nhất để đưa thông tin đến cho người khuyết tật chính là truyền thông với người khuyết tật Nhưng những thông tin hỗ trợ người khuyết tật hòa nhập cộng đồng được đưa đến cho người khuyết tật còn hạn chế và chỉ tập trung vào một nhóm đối tượng tại một địa phương cụ thể nơi có các chương trình,

dự án thực hiện

Trên thực tế, truyền thông về người khuyết tật được thực hiện nhiều hơn so với truyền thông với người khuyết tật thông qua các chương trình, dự án liên quan đến hòa nhập cộng đồng cho người khuyết tật hay các bài báo, bài viết đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng Do đó, việc thực hiện song song truyền thông

về người khuyết tật và truyền thông với người khuyết tật sẽ làm tăng hiệu quả cho

Trang 9

quá trình xóa bỏ định kiến, tăng cường năng lực cho người khuyết tật hòa nhập cộng đồng

Từ những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài luận văn tốt nghiệp với tiêu đề:

“Truyền thông với người khuyết tật (nghiên cứu trường hợp tại xã Quất Động,

Thường Tín, Hà Nội từ tháng 10/2012 đến tháng 7/2013 )” để nghiên cứu

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài

Việc nghiên cứu truyền thông trên thế giới hiện nay được những nhà nghiên cứu về báo chí và quan hệ công chúng đặc biệt quan tâm Có thể kể ra những nghiên cứu liên quan đến truyền thông như:

David Croteau, William Hoynes (2003), Media/Society: industries, images,

and audiences (Truyền thông/ Xã hội: công nghệ, hình ảnh và công chúng), Pine

Forge Press: Cuốn sách đánh giá vai trò xã hội của các phương tiện truyền thông, quá trình phát triển công nghệ truyền thông, ảnh hưởng của kinh tế, chính trị và công chúng đối với các phương tiện thông tin đại chúng, tác động của toàn cầu hóa đến phương tiện truyền thông

Gail Dines and Jean M Humez (2003) Gender, race, and class in media: a

text – reader (Giới tính, chủng tộc và giai cấp trong truyền thông: cách tiếp cận tin

tức theo logic xã hội), Sage Publications, Inc: Các tác giả của cuốn sách phân tích mối quan hệ giữa văn hóa, giới tính, chủng tộc, các khía cạnh xã hội, điều kiện xã hội và phương tiện truyền thông; các tầng lớp xã hội được thể hiện trên các phương tiện truyền thông đại chúng Vấn đề giới tính, chủng tộc và giai cấp được thể hiện đan xen với các vấn đề kinh tế, văn hóa trên các bài báo như vấn đề thể chế bao gồm: kinh tế chính trị của các sản phẩm truyền thông, phân tích văn bản và mức độ

sử dụng phương tiện truyền thông

Elana Yonah Rosen, Arli Paulin Quesada, Sue Lockwood Summers (1998),

Changing the World through media education (Thay đổi thế giới thông qua giáo

dục truyền thông), Fulcrum Publishing Cuốn sách là những bài học chi tiết, phân tích vai trò của thông tin truyền thông trong việc đánh giá những vấn đề xã hội như

Trang 10

Stanley J Baran (2006), Introduction to mass communication: media literacy

and culture (Giới thiệu về truyền thông đại chúng: giáo dục truyền thông và văn hóa

truyền thông), McGraw-Hill Tác giả đề cập tới những kiến thức cơ bản về truyền thông đại chúng, sự hiểu biết về văn hóa truyền thông, các ngành công nghiệp truyền thông đại chúng và khán giả gồm: các phương tiện truyền thông như sách, báo, tạp chí, đài phát thanh, truyền hình, internet… Tác giả cũng đề cập tới Văn hóa truyền thông trong kỷ nguyên công nghệ thông tin: lý thuyết và những ảnh hưởng của truyền thông, tôn giáo và đạo đức; truyền thông toàn cầu

Tại Việt Nam, các nhà khoa học đã có nhiều nghiên cứu về truyền thông Mỗi hướng nghiên cứu về truyền thông của các ngành khác nhau có nghiên cứu khác nhau về truyền thông Xét riêng trong ngành báo chí, xã hội học một số nghiên cứu có thể kể đến đó là:

Cuốn Truyền thông: Lý thuyết và kỹ năng cơ bản do Nguyễn Văn Dững chủ

biên được NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật xuất bản năm 2006 Cuốn sách cung cấp những kiến thức lý thuyết và kỹ năng truyền thông cơ bản nói chung, truyền thông - vận động xã hội và truyền thông đại chúng nói riêng; cũng như cung cấp một số nội dung, khái niệm, kỹ năng, tình huống, cơ chế, chức năng của một số loại hoạt động truyền thông; chu trình, việc lập kế hoạch truyền thông, giám sát, đánh giá, phương pháp sử dụng trong giám sát, đánh giá và các hoạt động để duy trì hoạt động truyền thông

Những bài viết của tác giả Mai Quỳnh Nam đăng trên tạp chí Xã hội học

đã đưa ra cơ sở lý thuyết cho việc nghiên cứu truyền thông đại chúng và dư luận xã hội

Trên tạp chí Xã hội học số 1 – 1996 trong bài “Truyền thông đại chúng và dư

luận xã hội”, tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa truyền thông đại chúng và dư

luận xã hội Báo chí là đại diện quan trọng nhất của truyền thông đại chúng Theo

đó, mối quan hệ giữa báo chí và công chúng trong quá trình hình thành và thể hiện

dư luận xã hội có tính chất biện chứng

Trang 11

Bài viết“Về đặc điểm và tính chất của giao tiếp đại chúng” trên tạp chí xã

hội học số 2 - 2000, tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa giao tiếp cá nhân, giao tiếp đại chúng và hệ thống truyền thông đại chúng Trên cơ sở phân tích mối quan

hệ này, tác giả đã chỉ ra những tác động trực tiếp đến hiệu quả của hoạt động báo chí Thứ nhất, là sự tác động từ hệ thống pháp luật và quyết định quản lý của các cơ quan quản lý báo chí Thứ hai là sự tác động từ công chúng báo chí Thực tế cho thấy rằng, trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay sự tác động của các phương tiện truyền thông đại chúng dẫn đến sự thay đổi ứng xử xã hội của công chúng là tương đối rõ nét

Bài viết “Về vấn đề nghiên cứu hiệu quả truyền thông đại chúng” trên tạp

chí Xã hội học số 4 – 2001, tác giả đã tổng hợp một số hệ thống chỉ tiêu định tính và định lượng làm cơ sở để phân tích hiệu quả của các phương tiện truyền thông đại chúng

Hướng nghiên cứu khảo cứu thực nghiệm của tác giả trong hàng loạt các bài

viết như “Báo thiếu nhi dân tộc và công chúng thiếu nhi dân tộc” (Tạp chí Xã hội học số 4 – 2002), “Truyền thông và phát triển nông thôn” (Tạp chí Xã hội học số 3

– 2003)… là các công trình nghiên cứu hữu ích về mối quan hệ qua lại giữa công chúng và cơ quan/nhà truyền thông; cụ thể là nghiên cứu cách thức tiếp nhận của công chúng, nội dung truyền thông, hiệu quả truyền thông và kiến nghị của công chúng đối với phương tiện truyền thông đó

Ngoài những bài viết về truyền thông và truyền thông đại chúng, tác giả còn

đề cập đến truyền thông với dư luận xã hội trên các bài viết của tạp chí xã hội học:

“Dư luận xã hội về số con” số 3 – 1994, “Dư luận xã hội – mấy vấn đề lý luận và phương pháp nghiên cứu” số 1 – 1995, “Truyền thông đại chúng và dư luận xã hội” số 1 – 1996, … Dư luận xã hội là sự thể hiện tâm trạng xã hội, phản ánh sự

đánh giá của các nhóm xã hội lớn, của nhân dân nói chung về các hiện tượng đại diện cho lợi ích xã hội cấp bách trên cơ sở các quan hệ xã hội đang tồn tại [7,tr.4] Các phương tiện truyền thông đại chúng hướng đến việc hình thành dư luận xã hội, đồng thời hệ thống này cũng là kênh thể hiện dư luận xã hội “Tác động của truyền

Trang 12

trò trong các đợt vận động chính trị… mà còn đi sâu vào những hiện thượng thường ngày, nhất là các hiện tượng cấp bách, có tính đột xuất” [9, tr.7].

Tài liệu Truyền thông có nhạy cảm giới của TS.Trịnh Bích Liên do tổ chức

OXFAM tài trợ và CSAGA phát hành tháng 6 năm 2011, đặt ra câu hỏi người làm truyền thông có thể làm gì trước vấn đề Bạo lực gia đình từ đó trang bị kiến thức,

kỹ năng truyền thông về nhạy cảm giới có liên quan đến bạo lực gia đình có thể tạo nên sự khác biệt quan trọng trong việc giúp đỡ cộng đồng nhận thức đúng đắn về Bạo lực gia đình và khuyến khích công chúng tích cực chống lại những vấn nạn này

Về mặt nghiên cứu liên quan tới người khuyết tật, một số sách, tài liệu tham khảo, luận văn đề cập tới như:

Cuốn “Hướng dẫn truyền thông về người khuyết tật” của Tổ chức Lao động

Thế giới (ILO) được xuất bản lần đầu năm 2010 Cuốn sách nằm trong mục tiêu hoạt động của ILO là “Việc làm cho người khuyết tật” Đối tượng hướng đến của cuốn sách giới hạn được giới hạn: những người làm công tác biên tập, phóng viên, phát thanh viên, đạo diễn, những người làm chương trình và người dẫn chương trình, những nhà biên tập của các trang web và các sản phẩm truyền thông đa phương tiện Cuốn sách đề cập tới các khía cạnh: Các tài liệu liên quan đến người khuyết tật, Người khuyết tật tại các nước thực hiện dự án của Chương trình hợp tác phát triển ILO – Ailen, định kiến và thực tế cách nhìn nhận người khuyết tật, các cơ quan truyền thông có thể làm gì giúp hòa nhập người khuyết tật, ý tưởng cho những bài viết về hòa nhập người khuyết tật, thuật ngữ về hòa nhập người khuyết tật, một vài điều cần chú ý khi viết bài về lĩnh vực người khuyết tật, công ước và tiêu chuẩn quốc tế về hòa nhập người khuyết tật, thông tin tham khảo các trang web liên quan tới người khuyết tật

Cuốn sách “Vấn đề người khuyết tật qua sự phản ánh của báo chí hiện nay”

của tác giả Vũ Thị Thu Ngà được nhà xuất bản Trường Đại học Quốc Gia xuất bản năm 2008, hệ thống hóa những căn cứ khoa học và luật pháp về người khuyết tật, chỉ ra vai trò quan trọng của báo chí trong việc góp phần nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi của xã hội đối với người khuyết tật Trên cơ sở khảo sát các báo Thanh

Trang 13

Niên, Hà Nội Mới, Nhân đạo và Đời sống, tạp chí Người bảo trợ từ tháng 1/2007 đến 7/2008, nghiên cứu cho thấy rõ thực trạng tuyên truyền về người khuyết tật trên báo hiện nay Nghiên cứu những tác động của báo chí trong việc phản ánh về lĩnh vực người khuyết tật đối với công chúng để đưa ra một số định hướng, giải pháp xây dựng chuyên mục cố định, phân công nhóm phóng viên chuyên trách theo dõi, tạo dựng đội ngũ cộng tác viên, hợp tác chặt chẽ với các cơ quan tổ chức của người khuyết tật nhằm nâng cao chất lượng phản ánh của báo chí về lĩnh vực này.

Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Người khuyết tật ở Việt Nam: sinh kế, việc làm

và bảo trợ xã hội” diễn ra ngày 27/09/2007 do Trung tâm Nghiên cứu Châu Á –

Thái Bình Dương (Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, ĐH Quốc Gia Hà Nội) phối hợp với Trung tâm hợp tác Quốc Tế (Đại học Osaka và Đại học Ochanomizu, Nhật Bản) tổ chức tại Trung tâm thư viện trường Đại học Khoa học

xã hội và Nhân văn bao gồm nhiểu tham luận liên quan đến người khuyết tật 20 tham luận của các nhà khoa học, nhà hoạt động từ thiện, xã hội trong và ngoài nước được trình bày tại hội thảo đều hướng vào vấn đề tìm giải pháp hỗ trợ hiệu quả cho người khuyết tật hòa nhập cộng đồng, ổn định đời sống và có đóng góp cho xã hội,

lý giải cho cách dùng khái niệm “người khuyết tật” thay thế cho khái niệm “người tàn tật”

Cuốn tài liệu “Hướng dẫn phát hiện sớm khuyết tật tại cộng đồng” của Hội

Chữ thập đỏ Việt Nam phát hành năm 2008 đã cung cấp cho tình nguyện viên Chữ thập đỏ tầm quan trọng của phát hiện sớm, can thiệp sớm khuyết tật, phục hồi chức năng tại cộng đồng, giới thiệu bộ phiếu điều tra phát hiện sớm khuyết tật tại cộng đồng Cuốn sách gồm 4 phần Phần 1: Thông tin chung về tình hình khuyết tật tại Việt Nam, thiệt thòi của người khuyết tật, khái niệm và phân loại khuyết tật, nguyên nhân khuyết tật, phòng khuyết tật, mục đích, ý nghĩa và vai trò phát hiện sớm, can thiệp sớm khuyết tật, phục hồi chức năng tại cộng đồng Hội Chữ thập đỏ tham gia các hoạt động phát hiện sớm khuyết tật và phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng Phần II: Giới thiệu cách viết phiếu điều tra phát hiện sớm khuyết tật tại cộng đồng Phần III hướng dẫn các bước tiến hành quy trình điều tra phát hiện sớm khuyết tật

Trang 14

tại cộng đồng Phần IV, cuốn sách giới thiệu một số dạng khuyết tật thường gặp trong cộng đồng

Tài liệu “Hướng dẫn Công tác thông tin, giáo dục, truyền thông nhằm xóa

bỏ kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến người khuyết tật” được Viện Nghiên

cứu Dư luận Xã hội - Ban Tuyên giáo Trung ương biên soạn với sự phối hợp của Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu với các

bộ, ban ngành liên quan đến người khuyết tật tháng 3 năm 2013 Tài liệu được biên soạn trong khuôn khổ Dự án Giảm Kỳ thị với Người Khuyết tật do Quỹ Ford tài trợ Cuốn tài liệu cung cấp các thông tin cơ bản về người khuyết tật cũng như sự kỳ thị, phân biệt đối xử liên quan đến người khuyết tật; định hướng các nội dung chính trong công tác thông tin, giáo dục và truyền thông, đưa ra các nguyên tắc chủ chốt đồng thời giới thiệu một số phương pháp và kỹ năng tiến hành hoạt động Thông tin – Giáo dục – Truyền thông nhằm giảm thiểu kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến người khuyết tật thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và các hoạt động giáo dục truyền thông khác cho cán bộ và nhân dân Phần phụ lục của tài liệu cung cấp một số những thông tin cơ bản về người khuyết tật ở Việt Nam, các thông tin hỗ trợ cho việc xây dựng nội dung hoạt động chống kỳ thị và phân biệt đối xử, tóm tắt các văn bản pháp lý về người khuyết tật và một số thông tin hữu ích khác

Ban điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam xuất bản “Bộ

công cụ trợ giúp cộng đồng khuyến khích trẻ khuyết tật hòa nhập” – Dự án “Tạo tác động thuận lợi thông qua phương tiện truyền thông” năm 2008 dưới sự tài trợ

của tổ chức HANDICAP INTERNATIONAL tại Việt Nam Cuốn sách đưa ra tình hình người khuyết tật tại Việt Nam, cung cấp thông tin về các văn bản pháp lý và chính sách liên quan đến trẻ khuyết tật, các văn bản quốc tế liên quan đến trẻ khuyết tật, một số gợi ý giúp trẻ khuyết tật và gia đình

Cuốn “Người khuyết tật ở Việt Nam, kết quả điều tra xã hội tại Thái Bình,

Quảng Nam, Đà Nẵng và Đồng Nai” do Viện nghiên cứu phát triển xã hội ISDS

nghiên cứu và công bố kết quả, được Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm

2008 và tái bản lần 1 có bổ sung sửa chữa vào năm 2009 Cuốn sách nêu lên những

Trang 15

khái niệm cơ bản về người khuyết tật, những đặc điểm kinh tế - xã hội của người khuyết tật như vấn đề nhân khẩu học, trình độ học vấn, việc làm, tình trạng khuyết tật; những khó khăn của người khuyết tật trong hoạt động sinh hoạt hàng ngày, trong giáo dục, trong tiếp cận dịch vụ y tế, việc làm, hôn nhân, trong tham gia hoạt động xã hội và tiếp cận thông tin; sự kỳ thị và sự phân biệt đối xử; sự hỗ trợ của Nhà nước cũng như của cộng đồng đối với người khuyết tật.

Như vậy, trong mảng đề tài nghiên cứu về truyền thông có liên quan đến người khuyết tật, nghiên cứu truyền thông về người khuyết tật hiện đang được quan tâm hơn Các đề tài nghiên cứu được đưa ra đề cập tới thông tin chung về người khuyết tật, các giải pháp hỗ trợ người khuyết tật hòa nhập cộng đồng, vai trò của những người làm lĩnh vực truyền thông với vấn đề truyền thông về người khuyết tật… Nhưng những đề tài được đưa ra vẫn chưa đề cập cụ thể tới truyền thông với người khuyết tật

3 Ý nghĩa nghiên cứu

3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài

Nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ thêm những lý luận của công tác xã hội khi ứng dụng vào nghiên cứu một vấn đề cụ thể là Truyền thông với người khuyết tật Nghiên cứu vận dụng những kiến thức của công tác xã hội và của truyền thông như

hệ thống các lý thuyết, các phương pháp, kỹ năng, mô hình để tìm hiểu, nghiên cứu một nhóm đối tượng cụ thể Từ đó, nghiên cứu góp phần làm rõ vai trò của kỹ năng truyền thông với người khuyết tật trong công tác xã hội

Nghiên cứu sử dụng lý thuyết hệ thống sinh thái để tìm hiểu và phân tích ảnh hưởng của cá nhân người khuyết tật trong việc tìm kiếm, tiếp cận thông tin; lý thuyết thuyết phục, lý thuyết truyền thông điệp cho đối tượng để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến truyền thông với người khuyết tật từ đó làm rõ và bổ sung thêm khung lý thuyết của đề tài về công tác xã hội trong truyền thông với người khuyết tật Đồng thời cũng vận dụng các phương pháp và kỹ năng can thiệp trong Công tác xã hội được ứng dụng trong quá trình nghiên cứu, củng cố sâu sắc hơn những hiểu biết về

Trang 16

3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Nghiên cứu đưa ra thực trạng và nguyên nhân của truyền thông với người khuyết tật tại xã Quất Động, huyện Thường Tín, Hà Nội; cung cấp một số mô hình, cách thức hoạt động giúp cho nhân viên xã hội hoạt động hiệu quả hơn trong lĩnh vực truyền thông với người khuyết tật

Những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần giúp Hội Chữ thập đỏ xã Quất Động cũng như cán bộ xã phụ trách mảng truyền thông, các nhà chuyên môn xây dựng, bổ sung, hoàn thiện các chính sách, chương trình hoạt động có hiệu quả trong truyền thông với người khuyết tật Với bản thân tôi, thông qua nghiên cứu tôi nhâ ̣n thức được tầm quan tro ̣ng của viê ̣c truyền thông với người khuyết tâ ̣t cần đi từ nhâ ̣n thức cảm tính, xây dựng thông điê ̣p gần gũi với ngôn ngữ nói thường ngày có tác động nhanh hơn và lâu hơn đối với người khuyết tật Mă ̣t khác , thông qua nghiên cứu khả nă Mặt khác, tác giả cũng hy vọng đề tài sẽ trở thành một tài liệu tham khảo giúp ích được trong việc học tập, nghiên cứu của sinh viên ngành công tác xã hội cũng như phục vụ phần nào cho công tác giảng dạy và học tập các môn chuyên ngành công tác xã hội trong các trường Đại học – Cao đẳng hiện nay trong

cả nước

4 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Truyền thông với người khuyết tật

Khách thể nghiên cứu: Người khuyết tật vận động; Cán bộ văn hóa xã phụ

trách mả ng truyền thông , cán bộ chữ thập đỏ xã Quất Động phu ̣ trách mảng hoa ̣t

đô ̣ng liên quan đến người khuyết tâ ̣t , cán bộ chữ thập đỏ thôn Quất Động là người trực tiếp làm công tác truyền thông với người khuyết tật

5 Phạm vi nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 10 năm 2012

đến tháng 7 năm 2013

Không gian nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành trong phạm vi xã Quất

Động, huyện Thường Tín, Hà Nội

Trang 17

Giới hạn nội dung nghiên cứu: Đề tài đi sâu nghiên cứu vấn đề truyền thông

với người khuyết tật thông qua nghiên cứu truyền thông với người khuyết tật vận động tại xã Quất Động huyện Thường Tín, Hà Nội

6 Câu hỏi nghiên cứu

Người khuyết tật tại xã Quất Động có nhận được sự hỗ trợ về thông tin thông qua các hình thức truyền thông với người khuyết tật chưa?

Truyền thông với người khuyết tật có vai trò như thế nào trong việc hòa nhập người khuyết tật?

Nhân viên công tác xã hội có vai trò như thế nào trong truyền thông với người khuyết tật?

7 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu về truyền thông với người khuyết tật để biết thực trạng truyền thông với người khuyết tật tại địa bàn nghiên cứu từ đó thấy được vai trò của nhân viên công tác xã hội trong truyền thông với người khuyết tật (nghiên cứu trường hợp tại xã Quất Động, huyện Thường Tín, Hà Nội)

Nhiệm vụ nghiên cứu:

Về mặt Lý luận: Nghiên cứu khái quát các vấn đề lý luận liên quan tới truyền thông; Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong truyền thông với người khuyết tật

Về mặt Thực tiễn: Nghiên cứu chỉ ra thực trạng truyền thông với người khuyết tật tại xã Quất Động, huyện Thường Tín, Hà Nội từ đó đề xuất một số mô hình truyền thông với người khuyết tật tại xã Quất Động, huyện Thường Tín, Hà Nội

8 Phương pháp nghiên cứu

Trang 18

tượng là người khuyết tật vận động tại xã Quất Động, huyện Thường Tín, Hà Nội Đây là nhóm đối tượng chỉ gặp khó khăn trong cử động, mă ̣t nhâ ̣n thức lý trí và tình cảm qua các cơ quan cảm nhận không bị ảnh hưởng bởi dạng tật Thông qua phỏng vấn nhóm người khuyết tâ ̣t vâ ̣n đô ̣ng tôi tìm hiểu quá trình truyền thông với người khuyết tật được thực hiện như thế nào, các yếu tố ảnh hưởng tới truyền thông với người khuyết tật, ảnh hưởng của truyền thông với người khuyết tật

Phỏng vấn sâu

Thực hiện phỏng vấn sâu với: 01 đại diện UBND xã – phụ trách mảng thông tin truyền thông, 01 đại diện Hội chữ thập đỏ xã, 01 đại diện Hội phụ nữ xã, 01 đại diện Đoàn Thanh niên xã nhằm tìm hiểu cách thức truyền thông với người khuyết tật đang được tiến hành tại địa phương và nhận thức của họ về truyền thông với người khuyết tật

Nghiên cứu tài liệu

Dựa trên những tài liệu thu thập được tiến hành hồi cứu các tài liệu nhằm phân tích, hệ thống hóa, các căn cứ liên quan đến nội dung của đề tài Đối với dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu thu thập được thông tin liên quan đến người khuyết tật, truyền thông với người khuyết tật thông qua phỏng vấn nhóm và phỏng vấn sâu Đối với dữ liệu thứ cấp, nghiên cứu thu thập thông tin qua các tài liệu liên quan đến truyền thông và người khuyết tật

Trang 19

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Các lý thuyết

1.1.1 Lý thuyết truyền thông điệp cho đối tượng

Như chúng ta đã biết , nhâ ̣n thức của con người gồm nhâ ̣n thức cảm tính và nhâ ̣n thức lý tính Cuốn “Truyền thông: Lý thuyết và kỹ năng cơ bản” đã nêu: Trong mỗi dân tộc, mỗi nhóm công chúng – đối tượng cũng có những sắc thái nhận thức khác nhau, hoặc nghiêng về lý trí, hoặc nặng về tình cảm [2, tr.8] Do đó, nhiệm vụ của nhà truyền thông là phải nghiên cứu nắm bắt đặc thù tâm lý tiếp nhận của nhóm đối tượng cụ thể để có thể thiết kế thông điệp phù hợp Nhưng cho dù tiếp nhận thông điệp thông qua tình cảm, cuối cùng cũng phải tác động được tới quá trình nhận thức khi đó cơ sở nhận thức của hành vi mới mang tính bền vững

Mỗi giai đoa ̣n nhâ ̣n thức đều có những ưu điểm và ha ̣n chế nhất đi ̣nh Tác

đô ̣ng vào nhâ ̣n thức lý trí thì thông điê ̣p được nhâ ̣n thức sâu hơn , bền vững hơn nhưng khó tiếp nhâ ̣n hơn Tác động vào nhận thức tình cảm thì thông điệp được nhâ ̣n thức dễ hơn nhưng thông điê ̣p hời hợt và dễ quên Trên thực tế, nhâ ̣n thức cảm tính và nhận thức lý tính luôn song hành với nhau Do đó, kết hợp cả 2 hình thức tác

đô ̣ng này sẽ cho kết quả cao hơn khi tiến hành xã hô ̣i hóa thông điê ̣p

Quá trình xã hội hóa thông điệp được thực hiệ n qua năm giai đoa ̣n là: Làm cho nhóm đối tượng nhận biết thông điệp; Nhóm đối tượng hiểu biết thông điệp; Nhóm đối tượng chấp nhận thông điệp; Làm cho đối tượng tin tưởng thông điệp; Đối tượng hành động theo mục đích, yêu cầu của thông điệp

Từ năm giai đoa ̣n của quá trình xã hô ̣i hóa thông điê ̣p , chúng ta có thể thấy : nếu thiết kế thông điệp nhằm vào nhận thức lý trí cần chú ý tới tính logic của lập luận, lời lẽ, ngôn từ, các phạm trù, khái niệm phải chuẩn xác; các số liệu chứng mình phải có sức thuyết phục cao; bố cục thông điệp phải rành mạch, khoáng đạt; các ý được trình bày ngắn gọn dễ hi ểu thì t hiết kế thông điệp nhằm vào tình cảm,

Trang 20

nhằm gợi mở khả năng tiếp nhận, tăng tính thuyết phục; lời lẽ ngôn từ, cách thức diễn đạt gần gũi, thân thuộc với nhóm đối tượng

Như vâ ̣y, truyền thông với các nhóm đối tượng đặc thù trong xã hội, đă ̣c biê ̣t

là truyền thông với người khuyết tật thì người làm công t ác truyền thông cần linh hoạt mềm dẻo để tác động tới quá trình nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính của đối tươ ̣ng; khi thiết kế thông điê ̣p bám sát năm giai đoa ̣n của quá trình xã hô ̣i hóa thông điê ̣p

1.1.2 Lý thuyết thuyết phục

Theo quan điểm của William McGuire: Để có khả năng thuyết phục trong hoạt động truyền thông (bao gồm nhiều loại hình truyền thông khác nhau) cần phải trải qua nhiều bước khác nhau [2, tr.17] Các bước này là:

Bước 1: Tiếp cận thông điệp

Lúc này, nhà truyền thông bằng các phương tiện và các kênh truyền thông, tạo một môi trường truyền thông trong đó công chúng/ đối tượng có khả năng tiếp cận với thông điệp đã thiết kế Nói cách khác, đây là bước giới thiệu để tăng khả năng tiếp cận thông điệp trong các hoạt động truyền thông

Bước 2: Chú ý tới thông điệp

Khả năng thuyết phục trong truyền thông chỉ có được khi nhà truyền thông

có khả năng thu hút công chúng/ đối tượng để họ chú ý đến thông điệp Thông điệp kém hấp dẫn họ sẽ bỏ qua

Bước 3: Có mối quan tâm hoặc mối liên hệ của cá nhân với thông điệp

Nếu công chúng/đối tượng tìm thấy mối quan tâm hoặc liên quan đến nhu cầu, lợi ích, sở thích, thói quen… của họ, họ sẽ tiếp tục bị “dẫn dắt” để chịu tác động của truyền thông

Bước 4: Hiểu thông điệp

Đây là giai đoạn trong đó đối tượng/ công chúng nhận thức để hiểu thông điệp Bước 5: Cá nhân hóa điều chỉnh hành vi phù hợp với đời sống

Trang 21

Các đối tượng tiếp nhận suy nghĩ kỹ hơn về thông điệp Họ liên hệ với những vấn đề liên quan đến đời sống của chính họ Khi đó, nội dung thông điệp đã bắt đầu

có tác dụng điều chỉnh suy nghĩ và định hướng hành vi của từng cá nhân

Bước 6: Chấp nhận thay đổi

Chấp nhận thay đổi (nhận thức và hành vi, thái độ) là một bước ngoặt quan trọng trong kết quả của chiến dịch truyền thông Nhà truyền thông cần chủ động chú

ý theo dõi, quan sát và chọn thời điểm “bấm nút” cho bước chuyển đổi này thì hiệu lực, hiệu quả truyền thông sẽ cao hơn

Bước 7: Ghi nhớ thông điệp và không ngừng ủng hộ thông điệp

Khi đối tượng/ công chúng đã chấp nhận sự thay đổi hành vi, tiếp theo mà nhà truyền thông cần làm để thuyết phục được họ là phải làm cho họ ghi nhớ thông điệp và không ngừng ủng hộ thông điệp Các nhóm tài liệu, các hoạt động truyền thông trong giai đoạn này cần đa dạng, phong phú, độc đáo, cụ thể, phù hợp với từng nhóm đối tượng

Bước 8: Có khả năng tư duy về thông điệp

Việc chuyển đổi tận gốc thái độ và hành vi liên quan đến lĩnh vực truyền thông phụ thuộc vào việc đối tượng/ công chúng tư duy về thông điệp như thế nào Các tài liệu, các sản phẩm truyền thông, thông qua các kênh truyền thông khác nhau, phải chú ý khuyến khích, kích thích khả năng tư duy về thông điệp cho đối tượng/ công chúng, định hướng quá trình tư duy về thông điệp

Bước 9: Ra quyết định trên cơ sở tiếp thu thông điệp

Trên cơ sở tiếp thu thông điệp, chuyển đổi tận gốc thái độ (dựa trên cơ sở hiểu biết và tư duy thông điệp), đối tượng/công chúng là người ra quyết định cho chính họ về việc chuyển đổi hành vi gì, mức độ nào và như thế nào

Bước 10: Tích cực củng cố hành vi và chấp nhận hành vi trong đời sống Hành vi của đối tượng/ công chúng đã biến đổi, nhưng nếu không được củng

cố, nhất là không được dư luận xã hội hỗ trợ, củng cố thì nó chỉ thay đổi vài lần rồi dừng lại Truyền thông trong giai đoạn này hướng vào việc khẳng định tính đúng

Trang 22

vi mong muốn thay đổi, từ đó, tác động đến đối tượng/ công chúng, giúp cho họ thường xuyên duy trì và củng cố hành vi, là cơ sở cho sự biến đổi hành vi có tính bền vững

Thiết kế thông điệp rõ ràng chiếm vị trí quan trọng hàng đầu nhằm tạo ra tính thuyết phục trong truyền thông Trong lý thuyết này, McGuire còn bổ sung thêm nội dung về những yếu tố có thể đảm bảo chuyển tải thông điệp thành công và hiệu quả như sau:

Độ tin cậy của nguồn phát: Phụ thuộc vào vai trò, vị thế xã hội của cơ quan truyền thông hoặc uy tín xã hội của nguồn tin Những thông tin về khoa học, về quản lý, về văn hóa – xã hội, về luật pháp hay hình sự… đòi hỏi độ tin cậy của nguồn phát, nguồn tin khác nhau

Dạng thức thông điệp: Thông điệp được thể hiện dưới dạng ngôn ngữ nói, viết, biểu tượng, hình ảnh, âm nhạc hay có sự phối hợp giữa chúng…

Kênh chuyển tải: Phải phù hợp với nội dung thông điệp, nhu cầu, thị hiếu, sở thích, thói quen, khả năng và điều kiện của đối tượng/ công chúng trong việc tiếp cận và tiếp thu

Đối tượng tiếp nhận: Số lượng, vai trò, vị thế xã hội của nhóm đối tượng Có những nhóm đối tượng, xét về số lượng không lớn, nhưng có vai trò chi phối, thậm chí khuynh đảo dư luận xã hội

Các bước và 4 yếu tố này bảo đảm cho hoạt động truyền thông đề cập đến toàn bộ các nhân tố quyết định việc một thông điệp có được tiếp nhận và hấp thụ hay không Theo thời gian, hoạt động truyền thông có thể thay đổ i cách thức tác đô ̣ng nhưng mu ̣c đích cuối cùng vẫn tiến đến thay đổi nhận thức , thái độ và hành vi của đối tượng về vấn đề cần truyền thông [2, tr.18] Trong truyền thông với người khuyết tâ ̣t, truyền thông nhằm mu ̣c đích cuối cùng là cung cấp thông tin hỗ trợ người khuyết tật hòa nhập cộng đồng

1.1.3 Lý thuyết sinh thái học

Lý thuyết cung cấp nhiều luận điểm về con người và môi trường xã hội Các luận điểm này nhấn mạnh đến tương tác giữa cá nhân và môi trường Để hiểu về chức năng của cá nhân, chúng ta phải hiểu bối cảnh sống của cá nhân: Cá nhân tồn tại trong gia đình - Gia đình tồn tại trong cộng đồng Cá nhân, gia đình và cộng

Trang 23

đồng tồn tại trong môi trường văn hóa, chính trị, kinh tế Môi trường có tác động đến hành động, niềm tin và những sự chọn lựa của cá nhân

Sự phân biệt người khuyết tật với người không khuyết tật chỉ mang tính chất tương đối về sức khỏe thể chất và tinh thần Trong gia đình, sự tồn tại của người khuyết tật tạo ra mối liên hệ chặt chẽ hơn giữa các cá nhân trong gia đình Cá nhân người khuyết tật để có thể sống được độc lập trước hết cần chính những người thân trong gia đình hiểu và giúp đỡ Ví dụ: trẻ em khiếm thính vẫn có thể sinh hoạt giao tiếp được với những người khác trong gia đình nhưng chỉ trong trường hợp em được

đi học và những thành viên khác cũng học những kỹ năng cơ bản để giao tiếp được với em Khi em được sống trong môi trường có tình thương của mọi người, được mọi người hiểu thì khi ấy khả năng tự chăm sóc bản thân, năng lực cá nhân của em mới được phát huy Nếu như để tìm hiểu một người không khuyết tật thì yếu tố đầu tiên cần phải biết đó là cá nhân đó trong gia đình như thế nào thì với người khuyết tật yếu tố đó càng quan trọng

Từ xưa đến nay, dù gia đình có nhiều biến đổi thì gia đình vẫn là tế bào của

xã hội Một gia đình có nền tảng vững chắc tạo thuận lợi cho quá trình xã hội hóa cá nhân và cá nhân hóa xã hội Trong gia đình có người khuyết tật, quá trình xã hội hóa cá nhân càng tốt bao nhiêu thì sự hòa nhập của người khuyết tật với xã hội càng tốt bấy nhiêu Vẫn lấy ví dụ về trẻ khiếm thính, trẻ được gia đình cho đi học trường chuyên biệt, được hướng dẫn và tự thực hiện được các hành vi chăm sóc bản thân

và giúp đỡ người khác, gia đình yên tâm để em giao tiếp và tham gia vào các hoạt động bên ngoài môi trường gia đình Như vậy, gia đình thực hiện tốt chức năng giáo dục của gia đình trong sự phát triển của xã hội

Để thực hiện được chức năng của gia đình đối với một người không khuyết tật đã khó việc thực hiện với người khuyết tật còn khó hơn Do đó, gia đình phải nhờ đến sự hỗ trợ của những tổ chức khác trong xã hội Thực tế đã chứng minh, nhiều gia đình có người khuyết tật thường phải trải qua cảm giác lo lắng, sợ hãi, không chấp nhận, không dám đối diện với thực thế là con cháu mình là người

Trang 24

phát triển của cá nhân người khuyết tật không được đảm bảo và cá nhân ấy phải chịu sự phân biệt đối xử trong chính gia đình mình Hơn nữa, không phải gia đình nào cũng biết cách chăm sóc, hỗ trợ đúng cho người khuyết tật nên việc nhờ tới sự giúp đỡ về y tế, phục hồi chức năng, giáo dục của các trung tâm tổ chức bên ngoài

là việc làm không thể thiếu

Đặt trong sự phát triển của xã hội, gia đình và cá nhân trong gia đình đó đều chịu sự tác động của môi trường văn hóa, kinh tế, chính trị Người khuyết tật và gia đình của họ trong những môi trường sống khác nhau chịu sự tác động của môi trường văn hóa, kinh tế, chính trị khác nhau Và các yếu tố văn hóa, kinh tế, chính trị trong môi trường sống ảnh hưởng đến suy nghĩ và hành động của cá nhân sống trong môi trường đó Ví dụ: người khuyết tật ở nông thôn khác với người khuyết tật

ở thành thị Nhóm người khuyết tật ở thành thị và gia đình của họ nhận được nhiều thông tin, sự giúp đỡ hơn những người khuyết tật và gia đình của họ ở nông thôn Người khuyết tật trong môi trường sống nhận được nhiều sự quan tâm của người thân và những người khác trong cộng đồng sẽ có nhiều kỹ năng sống, khả năng lao động, không bị phụ thuộc vào người khác, tự tin vào bản thân hơn là những người khuyết tật không nhận được sự quan tâm đúng của người thân và những người xung quanh, họ có xu hướng tự ti với chính bản thân mình và phụ thuộc vào người khác hơn

1.2 Các khái niệm

1.2.1 Truyền thông

1.2.1.1 Khái niệm truyền thông

Truyền thông là một hiện tượng xã hội liên quan đến mọi cá nhân trong xã hội Trong tiếng Anh, thuật ngữ truyền thông tương ứng với từ “communication” là một dạng hoạt động căn bản của bất kỳ một tổ chức mang tính xã hội nào Tùy theo lĩnh vực và góc độ nghiên cứu mà các học giả đưa ra các cách hiểu, quan niệm khác nhau về truyền thông:

Theo PGS TS Mai Quỳnh Nam, “với cách hiểu chung nhất, truyền thông được xác định là hoạt động chuyển tải và chia sẻ thông tin Quá trình này diễn ra liên tục, trong đó có tri thức, tình cảm, kỹ năng liên kết với nhau, đây là quá trình

Trang 25

phức tạp, qua nhiều mắt khâu Các mắt khâu ấy chuyển đổi tương đối linh hoạt, để hướng tới sự thay đổi nhận thức và hành vi của các cá nhân và các nhóm Quá trình

đó dẫn đến việc hình thành một dạng “tính nhân quả của thông tin” [7, tr.48]

Theo PGS.TS Nguyễn Văn Dững, “Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm…, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân/ nhóm/ cộng đồng/ xã hội.” [2, tr.14-15]

Xem truyền thông như một tiến trình gắn liền với sự ý thức của con người,

bà Nguyễn Thị Oanh, trong cuốn “Tâm lý truyền thông và giao tiếp” đã đề cập tới:

“Truyền thông không phải là một hành động đơn giản, riêng lẻ… Đây là một sự việc diễn ra liên tục trong cuộc sống của mỗi chúng ta Chúng ta luôn luôn tiếp nhận những kích thích từ bên ngoài (âm thanh, màu sắc, mùi, cảm giác từ sự tiếp xúc với vật thể …) và luôn luôn phải tự lý giải những kích thích ấy” [15, tr.32]

Từ những quan niệm trên, tôi nhâ ̣n thấy: dù có nhiều cách hiểu khác nhau về truyền thông nhưng đ iểm chung của các cách hiểu ấy là truyền thông là mô ̣t quá trình liên tục , mục đích của truyền thông là làm thay đổi nhận thức của con người Nhưng, những cách hiểu ấy la ̣i có điểm khác biê ̣t : với quan điểm của PGS TS Mai Quỳnh Nam , quá trình truyền thông mang tính chất biện chứng , sự phản hồi thể hiê ̣n kết quả của quá trình truyền thông Điều này làm nổi rõ mối quan hê ̣ khăng khít giữa các yếu tố trong quá trình truyền thông Với quan điểm của PGS TS Nguyễn Văn Dững hiê ̣u quả của truyền thông chính là sự thay đổi của nhâ ̣n thức , hành vi phù hợp với mục đích của cá nhân / nhóm; với quan điểm của bà Nguyễn Thị Oanh truyền thông có hiê ̣u quả hay không phu ̣ thuô ̣c vào việc chúng ta tự lý giải những kích thích đến từ bên ngoài Để phù hợp với nghiên cứu của mình , tôi lựa chọn cách hiểu về truyền thông theo quan điểm của PGS TS Mai Quỳnh Nam

1.2.1.2 Các yếu tố của truyền thông

Trang 26

Có nhiều cách phân loại khác nhau nhưng tựu chung lại, các yếu tố trong truyền thông bao gồm: Nguồn/ người phát, người nhận, thông điệp, kênh truyền thông, nhiễu, sự phản hồi

Nguồn cung cấp thông tin là một cá nhân nhưng cũng có thể là một sự kiện

tác động Trong trao đổi giữa 2 người mỗi bên vừa là nguồn phát vừa là người nhận tin

Người nhận có sự quan tâm, hiểu được giá trị của thông điệp, vượt qua rào

cản tâm lý, mong muốn giải quyết vấn đề, có thông tin phản hồi chính xác, thể hiện mong đợi tiếp nhận thông tin, có điều kiện tiếp nhận thông tin Tùy theo trình độ mà thông tin truyền tải được tiếp nhận theo những cách khác nhau, cấp độ khác nhau Người nhận là đối tượng chính, là người được cung cấp thông tin

Thông điệp (nội dung thông tin) là yếu tố quan trọng trong quá trình truyền

thông Thông điệp gồm 2 loại là: thông điệp muốn truyền đạt và thông điệp nhận được Thông điệp muốn truyền đạt chính là những ý tưởng, cảm xúc mà người phát muốn cho người nhận biết và hiểu chính xác Tùy hoàn cảnh, khả năng, trình độ, khả năng truyền đạt của từng người rất khác nhau Thông điệp nhận được là điều

mà người nhận nghe, thấy, sờ, ngửi hay nếm và giải mã Do sự khác biệt về nhân cách, khả năng, kinh nghiệm, trình độ của người phát và người nhận, sự khác biệt giữa thông điệp muốn phát ra và thông được nhận được mà thông điệp nhận được

và thông điệp muốn truyền đạt có sự khác nhau Thông điệp được truyền đi thông qua ngôn từ, chữ viết, cử chỉ, ánh mắt, nụ cười, đồ vật, cách sử dụng không gian và thời gian Thông điệp không thể không có thông tin

Thông điệp và thông tin trong truyền thông luôn đi kèm với nhau Nếu như thông điệp là cái bản chất thì thông tin là vỏ bao bọc bản chất đó Thông tin càng cụ thể chi tiết, thông điệp có được càng dễ hiểu Thông tin là kiến thức, kiến thức là quyền lực, trao đổi kiến thức là quá trình tạo quyền (nâng cao vị thế) [16,tr.3]

Thứ nhất, thông tin có nghĩa là thu thập các sự kiện thực tế về những điều chúng ta muốn biết Theo Anthony Gidden – một nhà xã hội học người Anh, đồng thời là giám đốc của trường đại học kinh tế Luân – đôn đã đề xuất trong rất nhiều bài báo và bài giảng của mình là “thông tin đã giúp chúng ta có thể nhìn nhận thế

Trang 27

giới như ngôi làng toàn cầu” [16,tr.5] Tốc độ trao đổi thông tin hiện nay trên thế giới thông qua hệ thống vệ tinh đã làm thay đổi rất nhiều những nhu cầu và mong muốn của người dân Thông tin có tính chất quyết định tạo nên dân chủ trong các xã hội hiện đại

Thứ hai, người dân bị thiếu thông tin thì họ sẽ không có quyền lực và thiếu

đi sự lựa chọn trong vấn đề làm thế nào để có thể cải thiện được cuộc sống của họ, hoặc làm thế nào để điều khiển được những sự việ xảy đến với họ Khi người dân

có được thông tin, họ trở thành người có quyền lực và có thể đưa ra những quyết định không những để nâng cao cuộc sống của chính mình, mà còn cải thiện được cuộc sống của những người dân khác, nghèo hơn và quyền lực thấp kém hơn họ [16, tr.6]

Thứ ba, chất lượng thông tin và cách sử dụng thông tin đều mang tính chất quyết định sự thành công từ lúc bắt tay triển khai thiết kế chương trình, hoạt động

và duy trì Nếu đơn thuần chỉ có thông tin thì không thể tạo ra mối quan hệ hợp tác cộng sự [16, tr.7]

Kênh truyền thông là các phương tiện, con đường, cách thức chuyển tải

thông điệp từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận Các kênh này hình thành bằng những phương tiện kỹ thuật Việc sử dụng các phương tiện kỹ thuật để truyền bá thông tin đã chuyển giao tiếp của con người thành giao tiếp đại chúng [2,tr.8]

Nhiễu là yếu tố gây ra sự sai lệch không được dự tính trước trong quá trình

truyền thông (tiếng ồn, tin đồn, các yếu tố tâm lý, kỹ thuật…) dẫn đến tình trạng thông điệp, thông tin bị sai lệch Trong quá trình truyền thông, nguồn phát và đối tượng tiếp nhận có thể đổi chỗ cho nhau, tương tác và đan xen vào nhau Về mặt thời gian, nguồn phát thực hiện hành vi khởi phát quá trình truyền thông trước

Sự phản hồi trong quá trình truyền thông, người nhận luôn có sự đáp ứng lại

với nguồn phát Trong lĩnh vực thông tin, sự phân chia giữa người truyền tin và người nhận là rất tương đối và thường diễn ra đồng thời Phản hồi là dòng chảy của thông tin từ nguồn tin đến nơi nhận và ngược lại Dòng phản hồi chỉ hình thành khi người nhận giải mã được thông tin và người cung cấp thông tin đáp ứng nhu cầu

Trang 28

thông tin của người nhận Phản hồi là yếu tố quan trọng nhất của quá trình truyền thông, đây là một chu trình khép kín và được thể hiện ở các khía cạnh sau: [10, tr.6]

Quá trình truyền thông giữa con người bao giờ cũng diễn ra trong môi trường

xã hội Do đó, liên kết xã hội là nhân tố quan trọng để thu hút các cá nhân và các nhóm xã hội vào dòng thông tin Thông tin được chia thành ba loại: rất cần thiết –

có thể cần thiết – không cần thiết Ba loại thông tin này quy định nhu cầu tiếp nhận thông tin của công chúng trên ba cấp độ: rất quan tâm – có quan tâm – không quan tâm

Trong hoạt động truyền thông có thể xảy ra hiện tượng không có phản hồi Nghĩa là các thông tin phát ra không tạo nên sự quan tâm của công chúng Vì vậy, thang đo về sự phản hồi là một chỉ báo cho thấy hiệu quả của hoạt động của các phương tiện truyền thông đại chúng trong việc hình thành và thể hiện dư luận xã hội

1.2.1.3 Phân loại truyền thông

Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, có nhiều cách phân loại khác nhau cho truyền thông [2, tr.16]

Căn cứ vào tính chủ đích trong truyền thông có thể phân chia thành truyền thông kinh nghiệm, truyền thông không chủ đích và truyền thông có chủ đích

Truyền thông kinh nghiệm là loại hoạt động truyền thông được thực hiện như

là những kinh nghiệm, hoặc kết quả của những kinh nghiệm được hình thành trong quá trình sống của cá nhân, nhóm, cộng đồng Hoạt động giao tiếp thông thường nhằm thỏa mãn những yêu cầu tối thiểu trong cuộc sống của cá nhân trong gia đình, cộng đồng đòi hỏi rất nhiều các hình thức truyền thông kinh nghiệm Với loại truyền thông này, quá trình đào tạo nhằm cung cấp những kiến thức, kỹ năng truyền thông chưa được đề cập tới

Truyền thông có chủ đích: là loại hoạt động truyền thông có mục đích, được xác định rõ ràng với các kế hoạch, quá trình truyền thông Truyền thông có chủ đích bao giờ cũng xuất phát từ mục đích của những người tham gia vào hoạt động truyền thông Có nhiều nhóm mục đích khác nhau nếu có nhiều cá nhân/nhóm cùng tham gia vào quá trình truyền thông Các hoạt động truyền thông, được thực hiện bởi các nhà truyền thông chuyên nghiệp luôn là hoạt động truyền thông có chủ đích Tính

Trang 29

chủ đích thực hiện cao ở các chương trình/dự án, chiến dịch truyền thông với những chiến lược và các mục tiêu thống nhất cho nhiều hoạt động truyền thông có tổ chức trong các thời điểm khác nhau hoặc cùng thời điểm nhằm đạt được sự tác động mạnh mẽ hơn từ các nhà truyền thông

Truyền thông không chủ đích: là hoạt động truyền thông không có mục đích

cụ thể, hoặc tạo ta những kết quả ngoài mục đích của những người tham gia truyền thông Loại truyền thông này chủ yếu là hoạt động giao tiếp hang ngày, ngẫu nhiên của con người hoặc các nhóm bạn bè Nhìn chung, truyền thông không chủ đích là loại hoạt động truyền thông không xảy ra đối với các nhà truyền thông chuyên nghiệp

Căn cứ vào các phương thức tiến hành truyền thông, có truyền thông trực tiếp 1 -1 và truyền thông gián tiếp:

Truyền thông trực tiếp 1 -1 : là hoạt động truyền thông trong đó có sự tiếp xúc trực tiếp mặt đối mặt giữa những người tham gia truyền thông Truyền thông trực tiếp 1 -1 có thể là truyền thông cá nhân (2 người truyền thông trong bối cảnh gặp gỡ trực tiếp), truyền thông 1 – 1 nhóm (ví dụ: thầy giáo giảng bài trong một lớp học), truyền thông trong nhóm (ví dụ: thảo luận nhóm nhỏ trong một hội thảo)… Một số loại hình truyền thông biểu diễn hay sân khấu với khán giả trực tiếp hoặc diễn thuyết trước đám đông cũng thuộc nhóm truyền thông trực tiếp 1 -1

Truyền thông gián tiếp: là hoạt động truyền thông trong đó những người tham gia không tiếp xúc trực tiếp đối tượng tiếp nhận mà thực hiện quá trình truyền thông nhờ sự hỗ trợ của người khác (mang tính chất trung gian) hoặc các phương tiện truyền thông khác, tức là dùng phương tiện kỹ thuật (hoặc con người) làm lực lượng trung gian truyền dẫn Ví dụ: truyền thông nhờ sự hỗ trợ của bưu điện (gửi thư hoặc nói chuyện qua điện thoại… ), nhờ sự hỗ trợ của Internet (chat, chat voice, webcam, email, forum… ), truyền thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như báo, tạp chí, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử, các website…

Căn cứ vào phạm vi tham gia và chịu ảnh hưởng của truyền thông có thể phân chia thành truyền thông trực tiếp 1 -1, truyền thông nhóm và truyền thông đại chúng:

Trang 30

Truyền thông trực tiếp 1 -1 : là một loại hoạt động truyền thông, trong đó các

cá nhân tham gia tổ chức, thực hiện việc trao đổi, thông tin, suy nghĩ, tình cảm… tạo ra sự hiểu biết và những ảnh hưởng lẫn nhau về nhận thức, thái độ, hành vi

Dấu hiệu để phân biệt truyền thông trực tiếp 1 -1 với các loại truyền thông

có tiếp xúc mặt đối mặt khác là tính chất cá nhân (thể hiện trong mục tiêu, phương thức thực hiện…), trong việc tham gia và chịu ảnh hưởng của truyền thông

Truyền thông trực tiếp bao hàm cả truyền thông trực tiếp 1 -1 và truyền thông gián tiếp (ví dụ: gửi thư, gọi điện thoại cho một người ở xa là truyền thông trực tiếp 1 -1 nhưng là truyền thông gián tiếp)

Truyền thông nhóm: là hoạt động truyền thông được thực hiện và tạo ảnh hưởng trong phạm vi từng nhóm hoặc các nhóm xã hội cụ thể Thông thường, truyền thông nhóm được phân chia thành hai loại chính: truyền thông 1 – 1 nhóm, giữa các nhóm và truyền thông trong nhóm

Truyền thông 1 – 1 nhóm: là loại hoạt động truyền thông trong đó nhà truyền thông hướng hoạt động của mình vào một nhóm xã hội nào đó, với các tác động có chủ đích Khái niệm “nhóm” trong truyền thông 1 – 1 nhóm cũng có thể bao hàm

“nhóm lớn”, “nhóm nhỏ” Nhìn chung, phạm vi nhóm nhỏ được sử dụng nhiều hơn trong các kỹ năng truyền thông 1 – 1 nhóm

Truyền thông nhóm: là loại hoạt động truyền thông, trong đó sự chia sẻ thông tin, suy nghĩ, tình cảm được thực hiện bởi các cá nhân trong nhóm được xác định Môi trường và phạm vi của truyền thông nhóm phụ thuộc vào phạm vi, tính chất, đặc biệt là quy tắc, mục tiêu và trình độ phát triển của nhóm trong mối quan hệ với các thông điệp của quá trình truyền thông

Truyền thông đại chúng: là hoạt động giao tiếp xã hội rộng rãi được thực hiện thông qua các phương tiện kỹ thuật và công nghệ truyền thông Một số loại hình truyền thông đại chúng tiêu biểu là: sách, báo in và các ấn phẩm in ấn, điện ảnh, phát thanh, truyền hình, quảng cáo, Internet, băng, đĩa hình và âm thanh…

Căn cứ vào tính phổ biến của loại hình truyền thông có thể chia thành 3 loại: thông tin – giáo dục – truyền thông, tuyên truyền vận động, truyền thông thay đổi hành vi

Trang 31

Thông tin – giáo dục – truyền thông: là loại hình truyền thông có chủ đích sử dụng phối hợp 3 dạng truyền thông ứng với 3 mục đích: thông tin (cung cấp những thông tin cơ bản, bao gồm các kiến thức nền và các kỹ năng cần thiết nhất, những thông tin cập nhật… về vấn đề cần truyền thông), giáo dục (không chỉ hướng vào các đối tượng đang cần những thông tin này mà cả những người cần đến trong tương lai, nhằm tạo nên sự thông hiểu) và truyền thông (chia sẻ, trao đổi thông tin, kiến thức nhằm thúc đẩy những thay đổi trong thái độ và hành vi)

Tuyên truyền vận động: là sự hỗ trợ tích cực một vấn đề, một sự nghiệp và

cố gắng làm cho những người khác cùng ủng hộ vấn đề, sự nghiệp đó Đó cũng là nhóm các hoạt động truyền thông mà người làm truyền thông lên tiếng, làm mọi người chú ý một vấn đề quan trọng và hướng những người có quyền ra quyết định vào một giải pháp hợp lý Chính vì vậy, người ta cũng có thể gọi loại hình truyền thông có chủ đích này với một tên gọi khác là vận động gây ảnh hưởng Trong loại hình này, tính chất thuyết phục được thể hiện rõ nhất và sử dụng hình thức chiến dịch nhiều hơn

Truyền thông thay đổi hành vi: truyền thông thay đổi hành vi là hoạt động truyền thông có mục đích, có kế hoạch nhằm tác động vào tình cảm, lý trí của các nhóm đối tượng, từ đó nâng cao nhận thức, kỹ năng, hình thức thái độ tích cực, làm cho đối tượng chấp nhận và duy trì hành vi mới có lợi cho các vấn đề truyền thông

1.2.2 Người khuyết tật

Tập đoàn dịch vụ và hóa chất Dupont của Mỹ là một trong những công ty đầu tiên đánh giá hiệu quả công việc của lao động là người khuyết tật tại công ty họ Công việc này được tiến hành trong hơn 30 năm, bắt đầu từ những năm 1970 Báo cáo đánh giá của Dupont cho biết lao động là người khuyết tật làm việc tại công ty của họ cho chỉ số ngang bằng hoặc cao hơn so với những người không khuyết tật về

an toàn lao động, hiệu quả công việc, đi làm đều đặn, và duy trì sự ổn định trong việc làm Các điều tra với chủ sử dụng lao động tiến hành tại Úc, Hà Lan và Anh cũng cho các kết quả tương tự [17, 5]

Trang 32

Như vậy, người khuyết tật tại nhiều nơi được coi là nhóm người yếu thế nhưng những đóng góp của họ cho xã hội không thể phủ nhận Trên thế giới cũng như tại Việt Nam tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về người khuyết tật:

Theo Công ước Quốc Tế về quyền của Người khuyết tật: “Người khuyết tật

là người có khiếm khuyết các bộ phận cơ thể gây giảm chức năng hoạt động hoặc hạn chế trong các mặt sinh hoạt, lao động, học tập và đời sống xã hội”

Theo tổ chức Lao động Quốc tế ILO, “Thuật ngữ khuyết tật được dùng để chỉ rất nhiều dạng khiếm khuyết khác nhau về vận động, giác quan, trí tuệ hoặc về tâm lý – xã hội và những khiếm khuyết này có thể có ảnh hưởng hoặc không ảnh hưởng tới khả năng thực hiện các hoạt động thường ngày, cả việc làm”

Theo Luật Người khuyết tật Việt Nam, “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới tạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”

Như vậy, có nhiều cách hiểu khác nhau về “người khuyết tật”, trong nghiên cứu này, tôi lựa chọn cách hiểu về người khuyết tật theo quy định của Luật Người khuyết tật tại Việt Nam Cách hiểu này phù hợp với cách hiểu và nhìn nhận về người khuyết tâ ̣t ta ̣i nhiều nơi ta ̣i Việt Nam, đă ̣c biê ̣t là ta ̣i các vùng nông thôn

Phân loại khuyết tật

Căn cứ vào tình hình khuyết tật cụ thể tại Việt Nam, kế thừa bảng phân loại

cũ và phân loại chức năng theo ICF, phân loại khuyết tật được chia thành các nhóm như sau: Giảm chức năng vận động (khó khăn về vận động); Giảm chức năng nhìn (khó khăn về nhìn); Giảm chức năng nghe (khó khăn về nghe) hoặc nghe và nói kết hợp; Rối loạn cảm giác (bao gồm cả giảm cảm giác do bệnh Phong gây ra, giảm vị giác, khứu giác… do các nguyên nhân khác); Rối loạn chức năng nhận thức: Các dạng chậm phát triển trí tuệ, bệnh Down; Rối loạn chức năng tâm thần – hành vi:

Tự kỷ, các dạng bệnh tâm thần, rối loạn hành vi…Các tình trạng giảm chức năng khác: Tuần hoàn, hô hấp, bài tiết, tiết niệu, sinh dục, sinh sản do các bệnh mãn tính

Đa khuyết tật: là người mắc từ hai khuyết tật trở lên Ví dụ: Một trẻ giảm chức năng nghe kèm theo giảm chức năng nhìn được xác định là đa khuyết tật

Trang 33

Căn cứ điều 3 Luật Người khuyết tật Việt Nam, các dạng tật được chia thành các nhóm: Khuyết tật vận động, Khuyết tật nghe – nói, Khuyết tật nhìn, Khuyết tật thần kinh - tâm thần, Khuyết tật trí tuệ, Khuyết tật khác

Đặc điểm tâm, sinh lý người khuyết tật vận động

Đặc điểm sinh lý

Người khuyết tật vận động là những người có cơ quan vận động bị tổn thương, biểu hiện dễ nhận thấy là họ gặp khó khăn trong ngồi, nằm, di chuyển, cầm, nắm… Do đó, người khuyết tật vận động gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt cá nhân, vui chơi, học tập và lao động, Tuy nhiên đa số người khuyết tật vận động có

bộ não phát triển bình thường nên họ tiếp thu được chương trình học tập, làm được việc có ích cho gia đình, bản thân và xã hội nếu có sự lựa chọn công việc phù hợp

và nhận được sự giúp đỡ cần thiết từ những người xung quanh

Đặc điểm tâm lý

Tâm lý của khá đông người khuyết tật là mặc cảm, tự đánh giá thấp bản thân mình so với những người bình thường khác Ở những người khuyết tật vận động -

họ có các biểu hiện tâm lý giống như mặc cảm ngoại hình (Body Dysmorphic

Disorder), tức là sự chú trọng quá mức đến khiếm khuyết cơ thể đến nỗi gây khổ

đau lớn - mặc dù vậy trong tâm lý học, mặc cảm ngoại hình không được chẩn đoán cho người có khiếm khuyết cơ thể nghiêm trọng, rối loạn tâm lý này chỉ hướng tới những người có khiếm khuyết nhỏ nhưng lại cứ cường điệu chúng lên Tiếp đến một ảnh hưởng khác cần xét đến là ám ảnh sợ xã hội, một kiểu trốn tránh và sợ hãi khi thực hiện các hoạt động mang tính cộng đồng như giao lưu gặp gỡ ở chỗ đông người Tuy nhiên điều này không phải luôn luôn đúng, người ta nhận thấy ở nhiều người khuyết tật nỗ lực tồn tại và phát triển đặc biệt cao [25]

Đặc điểm lao động

Với đặc điểm về thể chất yếu, khó khăn trong vận động nên người khuyết tật thường làm các công việc không phải di chuyển nhiều như thu ngân, làm nghề thủ công (thêu, đan lát, may mặc…) Nhưng không phải người khuyết tật nào cũng may

Trang 34

1.2.3 Truyền thông với người khuyết tật

Hiê ̣n nay , thuâ ̣t “ truyền thôn g về người khuyết tâ ̣t” và “truyền thông với người khuyết tâ ̣t” chưa có mô ̣t khái niê ̣m hoàn chỉnh Tuy nhiên, thuâ ̣t ngữ “truyền thông về người khuyết tâ ̣t” đang được sử du ̣ng rất nhiều trên các diễn đà n, báo giấy, báo in, báo truyền hình và các trang báo điện tử hơn là thuâ ̣t ngữ “truyền thông với người khuyết tâ ̣t” Vì vậy, trong nghiên cứu này tôi đưa ra cách hiểu của bản thân về thuâ ̣t ngữ “truyền thông với người khuyết tâ ̣t”

Truyền thông với người khuyết tật là quá trình trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm…, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa nguồn truyền tới người khuyết tật thông qua các kênh truyền thông nhằm tăng cường sự hiểu biết, thay đổi nhận thức của người khuyết tật, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của người khuyết tâ ̣t và cô ̣ng đồng

Truyền thông với người khuyết tâ ̣t ta ̣o ra sự khác biê ̣t với truyền thông về người khuyết tâ ̣t , truyền thông cho người khuyết tâ ̣t cũng như truyền thông với các đối tươ ̣ng khác Truyền thông với người khuyết tâ ̣t không chỉ hướng tới đối tượng là người khuyết tâ ̣t mà còn hướng tới gia đình , người thân, người hỗ trợ của người khuyết tâ ̣t Nếu truyền thông về người khuyết tâ ̣t đưa tới cách nhìn nhâ ̣n về người khuyết tâ ̣t cho công chúng thì truyền thông với người khuyết tâ ̣t vừa đưa ra cách nhìn nhận của người khác về người khuyết tật , vừa đưa ra cách thức để ngườ i khuyết tâ ̣t nhâ ̣n ra giá tri ̣ bản thân , kiến thức cuô ̣c sống phù hợp với da ̣ng tâ ̣t của người khuyết tâ ̣t , đề xuất các giải pháp giúp người khuyết phát triển năng lực bản thân để người khuyết tâ ̣t lựa cho ̣n

Thêm vào đó, truyền thông với người khuyết tâ ̣t mang tới thông tin mô ̣t cách toàn diện Nó đưa đến cho người khuyết tật những thông tin mà người khuyết tật khó tìm kiếm nếu như chỉ tiếp cận truyền thông về người khuyết tật Ví dụ: truyền thông với người khuyết tâ ̣t thực hiê ̣n bằng truyền thông theo hình thức 1 người truyền thông – 1 người khuyết tâ ̣t đảm bảo được sự bí mâ ̣t , không làm người khuyết

tâ ̣t cảm thấy xấu hổ khi cung cấp thông tin về sức khỏe sinh sản , quan điểm về tình yêu của người khuyết tâ ̣t

Trang 35

Truyền thông với người khuyết tâ ̣t mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc Nó nhấn mạnh tới cung cấp thông tin , đáp ứng thông tin theo nhu cầu của người khuyết tâ ̣t

để từ đó hỗ trợ người khuyết tâ ̣t sống đô ̣c lâ ̣p, hòa nhập cộng đồng

1.2.4 Công tác xã hội

Công tác xã hội có lịch sử từ lâu đời, hệ thống lý thuyết của nó được hình thành ra đời sau các mô hình thực hành Do đó, để xem xét khái niệm công tác xã hội và để có một khái niệm chung nhất về công tác xã hội hiện nay rất khác nhau

Theo Hiệp hội nhân viên xã hội Mỹ (NASW) – công tác xã hội là những hoạt động chuyên nghiệp, nhằm mục đích giúp đỡ các cá nhân, nhóm và cộng đồng trong hoàn cảnh khó khăn, để họ tự phục hồi chức năng hoạt động trong xã hội và để tạo

ra các điều kiện thuận lợi cho họ đạt được những mục đích của cá nhân

Theo ISSW – Hiệp hội công tác xã hội thế giới (tại đại hội Montrean tháng 7/2000): Công tác xã hội chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội việc giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ con người, sự tăng quyền lực và giải phóng người dân giúp cuộc sống của họ ngày càng thoải mái dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, công tác xã hội can thiệp ở các điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề

Theo từ điển xã hội học: Công tác xã hội là một dịch vụ đã chuyên môn hóa – một việc giúp đỡ có tính cá nhân để giải quyết những vấn đề xã hội đặc biệt

Theo F.Lulu Pablo – Bộ trưởng bộ Xã hội Philippin: Công tác xã hội vừa là một nghệ thuật, vừa là một môn khoa học, là một nghề chuyên môn giúp con người giải quyết những vấn đề của cá nhân, của nhóm (đặc biệt gia đình), của cộng đồng

và để đạt được những mối quan hệ thỏa đáng về cá nhân, nhóm, cộng đồng thông qua các hoạt động xã hội như: công tác xã hội, cá nhân, công tác xã hội nhóm, tổ chức cộng đồng, quản lý xã hội và nghiên cứu

Theo Thạc sĩ Nguyễn Thị Oanh: công tác xã hội là một hoạt động thực tiễn, mang tính tổng hợp cao được thực hiện theo những nguyên tắc và phương pháp nhất

Trang 36

của họ Qua đó, công tác xã hội theo đuổi mục tiêu vì phúc lợi, hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội Công tác xã hội là hoạt động thực tiễn bởi luôn làm việc trực tiếp với đối tượng, với nhóm người cụ thể, và phải làm việc với nhiều vấn đề khác nhau như: tệ nạn xã hội, vấn đề người nghèo, vấn đề gia đình… Công tác xã hội không giải quyết mọi vấn đề của con người và xã hội mà chỉ nhằm vào những vấn đề thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày của con người Đó là an sinh xã hội hay phúc lợi xã hội, đồng thời hỗ trợ con người giải quyết vấn đề đời sống cụ thể của họ, nhằm đem lại sự ổn định, hạnh phúc cho mọi người và phát triển cho cộng đồng, xã hội

Như vậy dù có nhiều cách hiểu khác nhau về công tác xã hội nhưng tựu chung lại công tác xã hội là một khoa học xã hội đặc thù, một nghề có tính chuyên nghiệp, đối tượng của nó là những người gặp nhiều khó khăn, đau khổ trong xã hội Công tác xã hội không giải quyết mọi vấn đề của xã hội nhưng nó tăng tính ổn định

xã hội thông qua hỗ trợ giải quyết vấn đề cho các đối tượng yếu thế, cần sự trợ giúp trong xã hội Trong nghiên cứu của mình, tôi sử dụng khái niệm “công tác xã hội” theo cách hiểu của Hiệp hội Công tác xã hội thế giới làm nền tảng để khai thác vai trò của nhân viên công tác xã hội trong truyền thông với người khuyết tật

1.3 Một số văn bản pháp lý và chính sách liên quan đến truyền thông với người khuyết tật

1.3.1 Các văn bản quốc tế

1.3.1.1 Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật

Công ước này được Đại hội đồng Liên Hiệp quốc nhất trí thông qua ngày 13/12/2006 tại kỳ họp lần thứ 61 tại New York, Hoa Kỳ Các quốc gia trên toàn thế giới đăng ký tham gia và phê chuẩn

Mục đích của Công ước này là thúc đẩy, bảo hộ và đảm bảo người khuyết tật được hưởng thụ một cách đầy đủ và bình đẳng quyền con người và các quyền tự do

cơ bản và nâng cao sự tôn trọng nhân phẩm vốn có của người khuyết tật Các quốc

gia của công ước “Thừa nhận tầm quan trọng của việc tiếp cận với môi trường thể

chất, xã hội, kinh tế và văn hóa, với y tế, giáo dục và thông tin liên lạc trong việc giúp người khuyết tật hưởng đầy đủ các quyền và tự do cơ bản của con người”

Trang 37

Điều 2 của Công ước đưa ra định nghĩa “giao tiếp” với người khuyết tật bao gồm: “ngôn ngữ, văn bản, chữ Braille, giao tiếp bằng xúc giác, chữ khổ lớn, các phương tiện truyền thông dễ tiếp cận cũng như ngôn ngữ viết, nghe – nói, ngôn ngữ tối giản, đọc tiếng người và các cách thức, phương tiện và dạng giao tiếp tăng cường hoặc thay thế, kể cả công nghệ thông tin liên lạc dễ tiếp cận”

Để nâng cao nhận thức của người dân về người khuyết tật, tại điểm c khoản

2 điều 8 Công ước đã quy định các quốc gia “khuyến khích các cơ quan truyền thông đưa tin về người khuyết tật theo cách thức phù hợp với mục đích của công ước” Điều 9 Công ước của Liên Hiệp Quốc về quyền của người khuyết tật nêu rõ:

“…các quốc gia thành viên sẽ thực hiện các biện pháp thích hợp để đảm bảo người khuyết tật tiếp cận, bao gồm các công nghệ và hệ thống thông tin và truyền thông, trên cơ sở bình đẳng với những người khác,…”

Điều 21 của công ước quy định “Các quốc gia thành viên tiến hành mọi biện pháp thích hợp để bảo đảm rằng người khuyết tật có thể thực hiện quyền tự do biểu đạt và tự do chính kiến, trong đó có tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin và ý kiến trên cơ sở bình đẳng với những người khác và bằng bất kỳ hình thức giao tiếp nào họ chọn”

Như vâ ̣y, Công ước Quốc tế về quyền của Người khuyết tâ ̣t đề câ ̣p toàn diê ̣n tới c ác biện pháp nâng cao khả năng tiếp cận của người khuyết tật, giúp người khuyết tật có thể sống độc lập và tham gia vào mọi khía cạnh của cuộc sống, trước hết hướng đến sự bình đẳng trong môi trường vật chất, giao thông, thông tin liên lạc, khuyến khích người khuyết tật tiếp cận thông tin và công nghệ, hệ thống liên lạc mới, trong đó có internet Các quốc gia thành viên , trong đó có Viê ̣t Nam , nếu làm được những điều công ước đề cập đến sẽ tạo ra môi trường rất thuận lợi để người khuyết tâ ̣t phát triển bản thân

1.3.1.2 Khuôn khổ hành động Thiên niên kỷ BIWACO

Khuôn khổ hành động Thiên niên kỷ BIWACO hướng tới một xã hội hòa nhập, không rào cản và dựa trên quyền của người khuyết tật khu vự Châu Á – Thái

Trang 38

kỷ người khuyết tật khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, tại thành phố Otsu (tỉnh Shiga, Nhật Bản) tháng 10 năm 2002, và được coi như định hướng chính sách cho Thập kỷ mới

Khuôn khổ hành động Thiên niên kỷ Biwaco đã xác định bảy lĩnh vực ưu tiên, bao gồm: Tổ chức tự lực của người khuyết tật và những hiệp hội phụ huynh và gia đình của người khuyết tật; Phụ nữ khuyết tật; Phát hiện sớm, can thiệp sớm và giáo dục trẻ khuyết tật; Đào tạo và việc làm, gồm cả việc người khuyết tật tự tạo việc làm; Tiếp cận các môi trường xây dựng và giao thông công cộng; Tiếp cận thông tin và viễn thông, bao gồm các công nghệ thông tin, viễn thông và trợ giúp; Xóa nghèo thông qua nâng cao năng lực, an sinh xã hội và các chương trình ổn định cuộc sống bền vững

Trong mỗi một lĩnh vực đều nêu rõ những vấn đề then chốt, các mục tiêu với khung thời gian thực hiện và các hành động cụ thể Trong lĩnh vực thứ 6, “Tiếp cận thông tin và viễn thông, bao gồm các công nghệ thông tin, viễn thông và trợ giúp” nhằm thúc đẩy sự tham gia của chính phủ các nước ban hành các chính sách hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận được với các loại hình truyền thông, làm giảm khoảng cách giữa người khuyết tật với người không khuyết tật [17, tr.16]

1.3.2 Một số văn bản trong nước

Luật người khuyết tật có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 Luật quy định tương đối đầy đủ, toàn diện về người khuyết tật, về quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật; trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và xã hội đối với người khuyết tật Điều 13 quy định rõ về truyền thông, thông tin, giáo dục về vấn đề khuyết tật: mục đích của truyền thông về vấn đề người khuyết tật, các nội dung thông tin – truyền thông – giáo dục với người khuyết tật, yêu cầu về thông tin – truyền thông – giáo dục với người khuyết tật, trách nhiệm thông tin - truyền thông – giáo dục về vấn đề khuyết tật

Thông tin và truyền thông có vai trò quan trọng hỗ trợ người khuyết tật hoà nhập với cộng đồng, tăng cường khả năng tìm kiếm việc làm và cơ hội việc làm Năm 2006, Việt Nam đã ban hành Luật Công nghệ thông tin, tại khoản 6, điều 5 của

Trang 39

Luật nêu rõ: “có chính sách ưu đãi để tổ chức, cá nhân có hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin đối với nông nghiệp, nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người có hoàn cảnh khó khăn” Ngoài ra, Thông tư số 28/2009/TT-BTTTT ngày 14/9/2009 của Bộ Thông tin và Truyền thông, quy định về việc áp dụng Tiêu chuẩn, công nghệ hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận, sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông

Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012 – 2020 được chính phủ phê duyêt và ban hành với mục đích hỗ trợ người khuyết tật phát huy khả năng của mình để đáp ứng nhu cầu bản thân; tạo điều kiện để người khuyết tật vươn lên tham gia bình đẳng vào các hoạt động kinh tế - xã hội, góp phần xây dựng cộng đồng và

xã hội Để thực hiện mục đích trên, đề án có đưa ra các hoạt động chủ yếu là: Phát hiện, can thiệp sớm, phẫu thuật chỉnh hình và cung cấp dụng cụ trợ giúp cho người khuyết tật; Trợ giúp tiếp cận giáo dục; Dạy nghề, tạo việc làm; Trợ giúp tiếp cận và

sử dụng các công trình xây dựng; Trợ giúp tiếp cận và tham gia giao thông; Trợ giúp tiếp cận và sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông; Trợ giúp pháp lý; Nâng cao nhận thức, năng lực chăm sóc, hỗ trợ người khuyết tật và giám sát đánh giá

1.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

Toàn xã có tổng diện tích đất tự nhiên là 776,3 ha Trong đó: Đất nông

nghiệp: 396,3 ha ( chiếm 51,04%); Đất chuyên dùng: 65,3 ha (chiếm 8,41%); Đất ở: 313,6 ha ( chiếm 40,39%); Đất chưa sử dụng: 1,1ha (chiếm 0,16%) Đất đai ở xã

là đất được phù sa cổ các sông bồi đắp thích hợp cho việc trồng lúa và các cây hoa màu như ngô, lạc…

Trang 40

Trên địa bàn xã không có hệ thống sông lớn nào chảy qua nhưng lại có hệ thống kênh mương được bê tông hóa luôn cung cấp nước tương đối đầy đủ cho việc sản xuất nông nghiệp

Với số nhân khẩu là 7944 người, với 2283 hộ dân chia làm 9 khu dân cư Trong đó: Số người trong độ tuổi lao động: 4678 người (chiếm 58,88%) Hầu hết, người dân làm nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và tham gia lao động tại cụm công nghiệp nhỏ Quất Động

Tổng thu nhập 9 tháng đầu năm toàn xã đạt 46,075 tỷ đồng Thu nhập bình quân đầu người đạt 966.000 đồng/người/tháng; cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch

rõ nét, tăng dần tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ thương mại; giảm tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế Mặc dù trong 6 tháng đầu năm có nhiều biến động bất lợi, do ảnh hưởng của nền kinh tế suy thoái, thời tiết phức tạp xong kết quả đạt được: Nông nghiệp đạt 13,82 tỷ đồng (30% kế hoạch năm) – Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đạt 19,35 tỷ đồng (42% kế hoạch năm) – Thương mại dịch vụ đạt 12,9

tỷ đồng (28% kế hoạch năm)

Trong 9 tháng đầu năm 2013, toàn xã đã tiền hành dồn điền đổi thửa tại cụm dân cư số 1 thông Quất Động, diện tích 331.729.900 m2 Năng suất lúa đạt 191 kg/sào Sản lượng thóc đạt 1.108 tấn Trồng dưa chuột, bầu, bí, mướp, khoai đã cho thu lợi mỗi sào đạt 3,5 triệu đồng/sào Thu nhập từ trồng trọt, toàn xã ước đạt 3,975 triệu đồng/sào

Trong những năm gần đây, xã chú trọng phát triển, khuyến khích và tạo điều kiện cho các hộ gia đình làm may, sản xuất tranh thêu truyền thông để phục vụ nhu cầu người dân trong nước và xuất khẩu nước ngoài, tạo việc làm cho lao động tại địa phương Trong 6 tháng đầu năm, xã đã tổ chức 6 lớp cấy nghề may, thêu cho lao động nữ trong độ tuổi lao động

Đầu tư cơ sở vật chất, ứng dụng công nghệ tiên tiến vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp góp phần chuyển đổi cơ cấu và tăng năng suất cây trồng Bước đầu ứng dụng có hiệu quả hoạt động thông tin khoa học trong lĩnh vực quản lý nhà

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
18. Tổ chức Handicap International (2008), Bộ công cụ trợ giúp cộng đồng khuyến khích trẻ khuyết tật hòa nhập, Dự án “Tạo tác động thuận lợi thông qua phương tiện truyền thông”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạo tác động thuận lợi thông qua phương tiện truyền thông
Tác giả: Tổ chức Handicap International
Năm: 2008
20. Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn (2007), Kỷ yếu hội thảo khoa học “Người khuyết tật ở Việt Nam: sinh kế, việc làm và bảo trợ xã hội”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người khuyết tật ở Việt Nam: sinh kế, việc làm và bảo trợ xã hội
Tác giả: Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn
Năm: 2007
25. Independent living institute,http://www.independentliving.org/docs4/ahuja.html, ngày 1/5/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Independent living institute
Năm: 2013
28. Luật gia Việt, Luật công nghệ thông tin, http://www.vietlaw.gov.vn/LAWNET/docView.do?docid=19794&type=html, ngày 12/10/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật công nghệ thông tin
Tác giả: Luật gia Việt
Năm: 2012
23. Đội Công tác xã hội giới trẻ hành động, Vai trò của Nhân viên công tác xã hội, http://forum.gioitrehanhdong.com/yaf_postst6_Vai-tro-cua-Cong-tac-xa-hoi.aspx,ngày 27/7/2013 Link
24. Bộ lao động thương binh xã hội, Công ước Quốc tề về quyền của người khuyết tật, http://www.molisa.gov.vn/Default.aspx?tabid=356&temidclicked=690, ngày 12/10/2012 Link
26. Cổng thông tin chính phủ Việt Nam, Luật người khuyết tật, http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=1&mode=detail&document_id=96045, ngày 12/10/2012 Link
27. Hội người khuyết tật thành phố Hà Nội, Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012 – 2020 của Thủ tướng Chính phủ,http://www.dphanoi.org.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=3159, ngày 12/10/2012 Link
1. Ban điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam (2010), Báo cáo năm 2010 về các hoạt động hỗ trợ người khuyết tật tại Việt Nam, NXB Lao động xã hội, Hà Nội Khác
2. Nguyễn Văn Dững (2006), Truyền thông: Lý thuyết và kỹ năng cơ bản, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội Khác
3. Vũ Dũng (2000), Tâm lý học xã hội, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Khác
6. Trịnh Bích Liên (2011), Truyền thông có nhạy cảm giới, CSAGA, Hà Nội Khác
7. Mai Quỳnh Nam (1994), Dư luận xã hội về số con, Tạp chí Xã hội học số 3, tr.46 – 51 Khác
8. Mai Quỳnh Nam (1995), Dư luận xã hội – mấy vấn đề lý luận và phương pháp nghiên cứu, tạp chí xã hội học số 1, tr. 3- 8 Khác
9. Mai Quỳnh Nam (1996), Truyền thông đại chúng và dư luận xã hội, Tạp chí xã hội học số 1, tr. 3- 7 Khác
10. Mai Quỳnh Nam (2000), Về đặc điểm và tính chất của giao tiếp đại chúng, Tạp chí xã hội học số 2, tr. 8-10 Khác
11. Mai Quỳnh Nam (2001), Về vấn đề nghiên cứu hiệu quả truyền thông đại chúng, Tạp chí xã hội học số 4, tr.21-25 Khác
12. Mai Quỳnh Nam (2002), Báo Thiếu nhi dân tộc và công chúng thiếu nhi dân tộc, Tạp chí Xã hội học số 4, tr. 46-58 Khác
13. Mai Quỳnh Nam (2003), Truyền thông và phát triển nông thôn, Tạp chí Xã hội học số 3, tr. 9-14 Khác
14. Vũ Thị Thu Ngà (2008), Vấn đề người khuyết tật qua sự phản ánh của báo chí hiện nay, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.6 Những biểu hiê ̣n của cha me ̣ có con khuyết tật - Truyền thông với người khuyết tật (Nghiên cứu trường hợp tại xã Quất Động, huyện Thường Tín, Hà Nội từ tháng 10 2012 đến tháng 7-2013
Bảng 2.6 Những biểu hiê ̣n của cha me ̣ có con khuyết tật (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w