1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tính bền vững trong hôn nhân của các gia đình Thiên Chúa giáo tại Hà Nội hiện nay (nghiên cứu trường hợp Giáo xứ Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội

117 719 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hà Nội hiện nay Nghiên cứu trường hợp giáo xứ Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội” được thể hiện ở sự phân tích làm sáng tỏ một số khái niệm cơ bản trong xã hội học như hôn nh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐOÀN THỊ PHƯƠNG THẢO

TÍNH BỀN VỮNG TRONG HÔN NHÂN CỦA CÁC GIA ĐÌNH THIÊN CHÚA GIÁO TẠI HÀ NỘI HIỆN NAY

(Nghiên cứu trường hợp Giáo xứ Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội)

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Thu Hương

HÀ NỘI – 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐOÀN THỊ PHƯƠNG THẢO

TÍNH BỀN VỮNG TRONG HÔN NHÂN CỦA CÁC GIA ĐÌNH THIÊN CHÚA GIÁO TẠI HÀ NỘI HIỆN NAY

(Nghiên cứu trường hợp Giáo xứ Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội)

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 7

1 Đặt vấn đề 7

2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 8

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8

4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 9

5 Câu hỏi nghiên cứu 10

6 Giả thuyết nghiên cứu 10

7 Phương pháp nghiên cứu 10

8 Khung phân tích 13

NỘI DUNG CHÍNH 14

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 14

1.1 Khái niệm công cụ 14

1.2 Các lý thuyết sử dụng trong đề tài 21

1.3 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 24

1.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 29

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM HÔN NHÂN CỦA CÁC GIA ĐÌNH THIÊN CHÚA GIÁO Ở GIÁO XỨ CỔ NHUẾ, TỪ LIÊM, HÀ NỘI 31

2.1 Đặc điểm khi kết hôn của các cặp vợ chồng tại giáo xứ Cổ Nhuế 31

2.1.1 Độ tuổi kết hôn 31

2.1.2 Thời gian tìm hiểu trước khi kết hôn 34

2.1.3 Sự tương đồng về tôn giáo giữa vợ chồng khi kết hôn 38

2.2 Đặc điểm đời sống gia đình Thiên Chúa giáo tại giáo xứ Cổ Nhuế 42

2.2.1 Phân công lao động gia đình 42

2.2.2 Thời gian dành cho tương tác giữa vợ chồng trong gia đình 47

2.2.3 Quan niệm về giá trị con cái trong gia đình 50

2.2.4 Thực trạng sử dụng biện pháp tránh thai của các cặp vợ chồng 55

Chương 3: MỘT SỐ BIỂU HIỆN CỦA TÍNH BỀN VỮNG TRONG HÔN NHÂN GIA ĐÌNH THIÊN CHÚA GIÁO TẠI GIÁO XỨ CỔ NHUẾ 58

Trang 4

3.1 Sự hài lòng về người bạn đời 58

3.2 Sự hài lòng về phân công lao động trong gia đình 68

3.3 Sự hài lòng về quan hệ gia đình 72

3.4 Sự hài lòng về đời sống tình dục 77

3.5 Mâu thuẫn trong gia đình 81

3.6 Vai trò Thiên Chúa giáo đối với sự bền vững trong hôn nhân 87

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 95

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

PHỤ LỤC 104

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Tuổi kết hôn trung bình lần đầu giai đoạn 1989-2009 30

Bảng 2.2: Độ tuổi kết hôn trung bình lần đầu của các cặp vợ

chồng ở giáo xứ Cổ Nhuế

30

Bảng 2.3: Khác biệt về độ tuổi kết hôn trung bình lần đầu giữa các

nhóm tuổi ở giáo xứ Cổ Nhuế

31

Bảng 2.4: Mức độ thay đổi về sự tham gia của vợ/chồng vào các

công việc gia đình so với trước năm 2003

41

Bảng 2.5: Số con của các gia đình theo Thiên Chúa giáo ở giáo xứ

Cổ Nhuế

49

Bảng 2.6: Đánh giá mức độ hữu ích việc hiểu được bổn phận

trong việc giáo dục con cái trong gia đình Thiên Chúa giáo ở giáo xứ Cổ Nhuế

52

Bảng 3.1: Sự khác biệt giới trong mức độ hài lòng về người bạn

đời của gia đình Thiên Chúa giáo ở giáo xứ Cổ Nhuế

62

Bảng 3.2: Sự khác biệt nhóm tuổi trong mức độ hài lòng về người

bạn đời của gia đình Thiên Chúa giáo ở giáo xứ Cổ Nhuế

62

Bảng 3.3: Giá trị trung bình đánh giá sự hài lòng về hôn nhân đối

với các độ tuổi

63

Bảng 3.4: Mức độ hài lòng về các tiêu chí đối với người bạn đời

trong gia đình Thiên Chúa giáo ở giáo xứ Cổ Nhuế

64

Bảng 3.5: Đánh giá mức độ hài lòng về sự phân công công việc

trong gia đình

67

Bảng 3.6: Đánh giá mức độ hài lòng về những mối quan hệ 70

Bảng 3.7: Một số yếu tố nhân khẩu và mức độ hài lòng về con cái 71

Trang 6

trong gia đình Thiên Chúa giáo

Bảng 3.8: Một số yếu tố nhân khẩu và sự hài lòng về gia đình bên

vợ/chồng và các mối quan hệ xã hội của gia đình Thiên Chúa giáo ở giáo xứ Cổ Nhuế

73

Bảng 3.9: Một số yếu tố nhân khẩu và sự hài lòng về đời sống tình

dục của các cặp vợ chồng ở giáo xứ Cổ Nhuế

77

Bảng 3.10: Nguyên nhân gây ra những bất đồng ý kiến trong gia

đình Thiên Chúa giáo ở giáo xứ Cổ Nhuế

82

Bảng 3.11: Đánh giá của người trả lời về tính hữu ích của các nội

dung trong lớp học tiền hôn nhân

87

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Thời gian tìm hiểu trước khi kết hôn của các cặp vợ

chồng ở giáo xứ Cổ Nhuế (Đơn vị: %)

34

Biểu đồ 2.2: Tỉ lệ phân công người đảm nhiệm các công việc chính

trong gia đình (Đơn vị: %)

42

Biểu đồ 2.3: Tỉ lệ thời gian chủ yếu dành để nói chuyện với

vợ/chồng trong ngày (Đơn vị: %)

46

Biểu đồ 3.1: Tỉ lệ mức độ hài lòng về người bạn đời trong gia đình

Thiên Chúa giáo ở giáo xứ Cổ Nhuế (Đơn vị: %)

60

Biểu đồ 3.2: Tỉ lệ đánh giá sự quan trọng của sự hòa hợp về tình

dục trong quan hệ vợ/chồng (Đơn vị:%)

76

Biểu đồ 3.3: Tỉ lệ mức độ xảy ra bất đồng ý kiến trong gia đình

(Đơn vị:%)

81

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Hôn nhân là một trong những sự kiện quan trọng đánh dấu sự chuyển đổi vai trò xã hội của cá nhân Tuy nhiên, trong mỗi nền văn hóa quan niệm về hôn nhân và gia đình lại không giống nhau Trong nền văn hóa Á Đông nói chung, văn hóa Việt Nam nói riêng gia đình là một trong những giá trị quan trọng nhất trong đời sống cá nhân

Trong xã hội hiện đại, sự biến đổi của nền kinh tế - xã hội đã tạo ra những tác động trực tiếp đến mọi khía cạnh của đời sống trong đó phải nói đến sự tác động đến các gia đình Ta có thể thấy, ngày nay tình trạng ly thân, ly hôn có

xu hướng gia tăng Những hệ lụy của nó đã tạo ra nhiều vấn đề đáng lo ngại

mà xã hội cần phải quan tâm, giải quyết Hiện nay, ngoài hôn nhân hợp pháp trên thực tế vẫn tồn tại những hình thức sống với nhau như vợ chồng có hoặc không có sự chứng kiến của hai bên gia đình và không đăng ký

Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam quy định: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn” [28] Với quan điểm như vậy việc đăng

ký kết hôn là sự kiện đánh dấu sự hợp thức hóa cuộc sống lứa đôi Mặc dù vậy, trong truyền thống văn hóa Việt Nam, sự hợp thức này còn cần có được

sự thừa nhận của gia đình, họ hàng hai bên qua lễ kết hôn Riêng đối với đạo Thiên Chúa giáo, lễ kết hôn được tổ chức dưới sự chứng kiến của Thiên

Chúa Trong Sách Phúc Âm có ghi: “Cái gì mà Chúa gắn kết thì con người không được phép phân ly” tức là khi hai con người đã gắn kết với nhau thành

một gia đình thì không được phép tách rời nhau Như vậy, với người theo đạo Thiên Chúa thì sự gắn kết được thừa nhận của Chúa Vấn đề đặt ra liệu nghi

lễ của người theo đạo Thiên Chúa như vậy có tác động như thế nào đến tính bền vững trong hôn nhân? Điều này sẽ được trình bày cụ thể trong luận văn

của tôi: “Tính bền vững trong hôn nhân của các gia đình Thiên Chúa giáo tại

Trang 8

Hà Nội hiện nay (Nghiên cứu trường hợp giáo xứ Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà

Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội)” được thể hiện ở sự phân tích làm sáng tỏ một số

khái niệm cơ bản trong xã hội học như hôn nhân, gia đình, tính bền vững trong hôn nhân, Thiên Chúa giáo… Những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần sáng tỏ hơn một số lý thuyết xã hội học như thuyết tương tác biểu trưng, lý thuyết lựa chọn hợp lý, lý thuyết xung đột

2.2 Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu về tính bền vững trong hôn nhân trong gia đình Thiên Chúa giáo có một ý nghĩa hết sức thiết thực Đề tài không chỉ làm rõ được thực trạng tình hình đời sống hôn nhân của các gia đình theo Thiên Chúa giáo mà còn làm rõ được những yếu tố nào tác động đến tính bền vững trong hôn nhân của các gia đình Những kết quả của nghiên cứu này có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, các cấp, các ngành có cái nhìn mới về đời sống hôn nhân của các gia đình Thiên Chúa giáo Đồng thời kết quả này cũng góp phần làm phong phú thêm những nghiên cứu về gia đình và cũng là một nguồn tài liệu tham khảo cho học viên, sinh viên khi nghiên cứu về gia đình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài hướng tới làm sáng tỏ tính bền vững trong hôn nhân của các gia đình Thiên Chúa giáo ở giáo xứ Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Mô tả đặc điểm khi kết hôn của các cặp vợ chồng theo đạo Thiên Chúa giáo tại giáo xứ Cổ Nhuế qua một số yếu tố như: độ tuổi kết hôn, thời gian

Trang 9

tìm hiểu trước khi kết hôn, sự tương đồng về tôn giáo giữa vợ/chồng khi kết hôn

Tìm hiểu đặc điểm đời sống hôn nhân của gia đình Thiên Chúa giáo tại giáo xứ Cổ Nhuế qua một số khía cạnh: phân công lao động trong gia đình, thời gian dành cho tương tác giữa vợ chồng trong gia đình, quan niệm về giá trị con cái trong gia đình, thực trạng sử dụng biện pháp tránh thai của các cặp

vợ chồng

Đánh giá tính bền vững trong hôn nhân của gia đình Thiên Chúa giáo tại giáo xứ Cổ Nhuế qua một số tiêu chí như: sự hài lòng về người bạn đời, sự hài lòng về phân công lao động trong gia đình, sự hài lòng về đời sống tình dục và mâu thuẫn trong gia đình

Phân tích vai trò của Thiên Chúa giáo đối với sự bền vững trong hôn nhân của các gia đình Thiên Chúa giáo tại giáo xứ Cổ Nhuế

4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu là tính bền vững trong hôn nhân của các gia

đình Thiên Chúa giáo tại giáo xứ Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội

4.2 Khách thể nghiên cứu là những người theo đạo Thiên Chúa giáo đã

lập gia đình tại giáo xứ Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội

Trang 10

nhận những công việc chính trong gia đình, sự hài lòng đối với sự phân công đó) Tìm hiểu mức độ xung đột và cách giải quyết những xung đột trong các gia đình Thiên Chúa giáo Đặc biệt đánh giá mức độ hài lòng về người bạn đời, sự hòa hợp trong đời sống tình dục đồng thời tìm hiểu các quan hệ xã hội trong gia đình và ngoài xã hội Đánh giá yếu tố tác động đến tính bền vững trong hôn nhân đặc biệt là yếu tố tôn giáo (cụ thể ở đề tài này là Thiên Chúa giáo)

5 Câu hỏi nghiên cứu

Đặc điểm khi kết hôn của các cặp vợ chồng theo đạo Thiên Chúa giáo như thế nào? Đặc điểm đời sống hôn nhân của gia đình Thiên Chúa giáo tại giáo

xứ Cổ Nhuế được thể hiện qua những khía cạnh nào? Các biểu hiện của tính bền vững trong hôn nhân của gia đình Thiên Chúa giáo như thế nào? Tầm quan trọng của Thiên Chúa giáo đối với sự bền vững trong hôn nhân của các gia đình Thiên Chúa giáo tại giáo xứ Cổ Nhuế?

6 Giả thuyết nghiên cứu

Những người theo đạo Thiên Chúa thường có xu hướng kết hôn với những người cùng tôn giáo Đặc điểm đời sống gia đình có nhiều biểu hiện tương đồng với đặc điểm đời sống hôn nhân của các gia đình khác Tính bền vững trong hôn nhân của các gia đình Thiên Chúa giáo là do có sự tham gia của yếu

tố niềm tin tôn giáo và giáo lý hôn nhân của đạo Thiên Chúa Hôn nhân của các gia đình theo đạo Thiên Chúa giáo hiện nay có tính bền vững cao Niềm tin tôn giáo, giáo lý hôn nhân tác động trực tiếp tới tính bền vững trong hôn nhân của đạo Thiên Chúa giáo

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pha ́ p phân tích tài liê ̣u

Phương pháp phân tích tài liệu được sử dụng trong nghiên cứu nhằm bổ sung thông tin cho đề tài nghiên cứu Nguồn tài liệu của đề tài là những công

Trang 11

trình nghiên cứu có nội dung liên quan đến vấn đề hôn nhân, gia đình Các tài liệu sách; tạp chí; báo có đề cập đến hôn nhân và gia đình nhằm so sánh các kết quả nghiên cứu đã có với kết quả nghiên cứu của đề tài

7.2 Phương pha ́ p trưng c ầu ý kiến

Loại mẫu sử dụng trong nghiên cứu là mẫu ngẫu nhiên thuận tiện Chọn mẫu là những người trong các gia đình Thiên Chúa giáo có sự phân chia tương đối đồng đều giữa nam và nữ ở những độ tuổi khác nhau

Số phiếu phát ra: 200 phiếu

Số phiếu thu về: 200 phiếu

Cơ cấu mẫu khảo sát như sau:

(Nguồn: Kết quả xử lý phiếu điều tra)

Nội dung trưng cầu ý kiến: Bảng hỏi được xây dựng nhằm muc đích tìm hiểu các đặc điểm khi kết hôn của các cặp vợ chồng, đặc điểm đời sống gia đình trong các gia đình Thiên Chúa giáo ở giáo xứ Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà

Trang 12

Nội Tìm hiểu một số biểu hiện của tính bền vững trong hôn nhân cũng như vai trò của Thiên Chúa giáo với sự bền vững trong hôn nhân

Số phiếu thu về được xử lí trên phần mềm SPSS 16.0 Chúng tôi đã thu được những thông tin định lượng có độ chính xác cao cung cấp thông tin chủ yếu cho việc kiểm chứng giả thuyết nghiên cứu của đề tài

7.3 Phương pha ́ p phỏng vấn sâu

Phương pháp phỏng vấn sâu nhằm bổ sung các thông tin định tính làm sáng

tỏ cho các dữ liệu định lượng Phương pháp phỏng vấn sâu được sử dụng để tìm hiểu đặc điểm khi kết hôn, đặc điểm đời sống gia đình của các đối tượng được phỏng vấn Qua đó tìm hiểu những quan điểm của họ như thế nào về đời sống gia đình Đánh giá của họ về mức độ hài lòng trong gia đình (hài lòng về người bạn đời, về phân công lao động, về quan hệ tình dục và những mâu thuẫn trong gia đình) Tìm hiểu vai trò của Thiên Chúa giáo đối với sự bền vững trong hôn nhân

Phỏng vấn được tiến hành với các nhóm đối tượng chính những người theo đạo Thiên Chúa giáo đang sống và làm việc tại địa bàn nghiên cứu là Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội

Số lượng phỏng vấn đã thực hiện: 8 phỏng vấn sâu với khách thể là những người dân sống quanh khu nhà thờ Cổ Nhuế có theo đạo, 1 phỏng vấn sâu cha

xứ, 1 phỏng vấn sâu thầy dạy Giáo lý hôn nhân

7.4 Phương pha ́ p quan sát

Phương pháp quan sát là phương pháp được phối hợp sử dụng trong quá trình thu thập thông tin tại địa bàn nhằm thông qua quá trình tri giác trực tiếp

để thu thập thông tin cần thiết liên quan đến đề tài, những hành động, biểu hiện bên ngoài của người trả lời, nắm bắt sơ qua về tình hình chung của các gia đình được phỏng vấn

Trang 13

8 Khung phân tích

TÍNH BỀN VỮNG TRONG HÔN NHÂN

Sự hài lòng

về người

bạn đời

Sự hài lòng về quan hệ gia đình

Mâu thuẫn trong gia đình

Sự hài lòng về đời sống tình dục

Gia đình Thiên chúa giáo

Đặc điểm khi kết hôn

Thiên chúa giáo

Đặc điểm đời sống gia đình

Điều kiện Kinh tế - Văn hóa – Xã hội

Sự hài lòng về phân công lao động trong gia đình

Trang 14

NỘI DUNG CHÍNH Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Khái niệm công cụ

1.1.1 Hôn nhân

Có rất nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về hôn nhân Dưới cái nhìn của Xã hội học, hôn nhân là một loạt các nghi thức để chính thức hóa mối quan hệ giữa một hoặc nhiều nam và nữ Hôn nhân là sự tán thành về mặt xã hội về "sự hợp nhất" giữa một nam và một nữ, phổ biến nhất, hoặc giữa một nam và nhiều nữ hoặc các dạng khác Hôn nhân quy định quyền và nghĩa vụ kinh tế cũng như tình dục giữa họ [31]

Theo khoản 6, điều 8 Luật Hôn nhân - gia đình quy định: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn” [28] Như vậy, so với các văn

bản pháp luật trước đây thì khái niệm hôn nhân chính thức quy định trong Luật 2000 – đó là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà xác lập quan hệ trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, bình đẳng và các điều kiện khác do pháp luật quy định nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững Còn theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của trường Đại học Luật Hà Nội hôn nhân được

hiểu là: “Sự liên kết giữa người nam và người nữ dựa trên nguyên tắc

tự nguyện, bình đẳng, theo điều kiện và trình tự nhất định, nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc và hoà thuận” [40, tr 148]

Cùng với việc tuân thủ theo những điểm chung về quan niệm hôn nhân của luật pháp Việt Nam thì những người theo đạo Thiên Chúa giáo cũng có những

quan niệm riêng chỉ rõ hơn về hôn nhân Theo quan niệm của Giáo hội: “Hôn nhân là một giao ước ký kết giữa một người nam và một người nữ, với ý thức

tự do và trách nhiệm, để sống yêu thương và giúp đỡ nhau trong tình nghĩa vợ

Trang 15

chồng; để sinh sản và giáo dục con cái trong nhiệm vụ làm cha làm mẹ” [52,

tr 1601]

Như vậy hôn nhân là sự tạo lập cuộc sống chung hoàn toàn của một người đàn ông và một người đàn bà, sự sống chung hoàn toàn này gồm những thành phần vật chất: ở chung dưới một mái nhà, ăn cùng một mâm, hưởng chung những sung sướng vật chất, đồng cam cộng khổ để cùng trở nên hạnh phúc, cùng có đủ mọi nhu cầu của cuộc sống Nhờ có tình yêu thương gắn bó nên những tiền của và những thắng lợi của chồng cũng coi như của chính người

vợ và ngược lại người chồng cũng luôn hiểu rằng "của chồng, công vợ"

Không có một sự ghen tuông nào chia rẽ được họ cả

Theo giáo huấn Công Giáo, một giáo huấn cũng đã được Giáo Hội Chính Thống khẳng định, Chúa Giêsu Kitô đã nâng hôn nhân tự nhiên lên hàng một

bí tích: “Giao ước hôn nhân giữa hai người đã rửa tội, nhờ đó một người đàn ông và một người đàn bà thiết lập nên giữa họ một tương ước kéo dài suốt đời, một tương ước từ bản chất, đã được xếp đặt để phục vụ lợi ích của hai người phối ngẫu và việc dưỡng dục con cái đã được Chúa Kitô nâng lên hàng

bí tích” [52]

Đối với người theo đạo Thiên Chúa giáo thì Hôn nhân có hai đặc tính rất quan trọng là tính “đơn nhất” và “bất khả phân ly” [52] Chung thuỷ suốt đời với người phối ngẫu là một trong những đặc điểm nổi bật của hôn nhân Công giáo, đồng thời còn có ý nghĩa đặc biệt hơn đối với thế giới hiện nay, khi mà

ly dị thường được coi là giải pháp bình thường cho những khó khăn hoặc thất bại trong đời sống hôn nhân Quả thực, đối với nhiều trường hợp, chung thuỷ

là một thách đố lớn lao và phải cậy nhờ vào ơn Chúa, vì chỉ nhờ sức riêng của mình mà thôi thì không đủ Trong đời sống hôn nhân, đôi vợ chồng cần nhớ rằng sự liên kết với nhau không phải chỉ do quyết tâm của họ mà còn là kết

quả của ơn Chúa: “Điều gì Thiên Chúa đã kết hợp, thì loài người không được

Trang 16

phân ly” [52] Hội Thánh không ngừng cầu nguyện cho các đôi vợ chồng

được trung thành với nhau suốt đời Ngược lại, chính Hội Thánh cũng được nâng đỡ luôn trung tín với Chúa Giêsu nhờ sự chung thuỷ của các đôi vợ chồng Đây chính là một yếu tố quan trọng trong việc tạo dựng tính bền vững trong hôn nhân của các gia đình Thiên Chúa giáo

1.1.2 Gia đình, gia đình Thiên Chúa giáo

Gia đình là một tổ chức xã hội được hình thành từ lâu trong lịch sử Gia đình là cái mà ai cũng cảm nhận, nhìn thấy được Hầu hết mọi người đều lớn lên từ một gia đình nào đó và thừa hưởng những giá trị vật chất, tinh thần từ nó.Tuy nhiên, với một khái niệm tưởng chừng đơn giản song lại có khá nhiều định nghĩa khác nhau bởi gia đình có sự biến đổi từ xã hội này, nền văn hóa này sang xã hội và nền văn hóa khác, theo chiều dài lịch sử của chúng… Theo quan điểm của nhà Xã hội học Mỹ, giáo sư John J.Macionis định

nghĩa gia đình rất đơn giản: “Gia đình là một tập thể xã hội có từ hai người trở lên trên cơ sở huyết thống, hôn nhân hay nghĩa dưỡng cùng sống với nhau” [57]

Luật Hôn nhân và gia đình (năm 2000): Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền lợi giữa họ với nhau theo quy định của Luật này [28]

Theo PGS.TS Hoàng Bá Thịnh, các định nghĩa về gia đình đều có điểm chung là đề cập đến các đặc trưng quan trọng của gia đình, đó là: hôn nhân, huyết thống hay nuôi dưỡng Trên cơ sở những đặc trưng đó, các thành viên trong gia đình có mối quan hệ gắn bó cùng các nghĩa vụ và quyền lợi, và làm nên văn hóa/gia phong của gia đình [45, tr.312]

Gia đình đối với những người theo đạo Thiên Chúa giáo được quy định rõ

trong Giáo lý hôn nhân Ở đó gia đình là Hội Thánh tại gia: Gia đình là nơi

Trang 17

thể hiện đặc biệt chức tư tế cộng đồng của người cha, người mẹ, con cái và mọi phần tử trong gia đình, nhờ lãnh nhận các bí tích, nhờ kinh nguyện, tạ ơn

và chứng từ đời sống thánh thiện, hy sinh và đức ái hữu hiệu Gia đình là trường học đầu tiên về đời sống Kitô giáo, và là một trường học phát triển nhân tính Chính trong gia đình, người ta học biết làm việc với sự nhẫn nại và vui thích, học biết tình bác ái huynh đệ, sự quảng đại tha thứ, nhất là sự phụng thờ Thiên Chúa qua kinh nguyện và hy lễ đời sống [52]

Trong nghiên cứu này, gia đình Thiên Chúa giáo được xem như là một xã hội thu nhỏ với những mối tương tác bên trong có tác động qua lại với nhau Gia đình Thiên Chúa giáo là những gia đình có cả vợ và chồng đều theo đạo Thiên Chúa giáo và đều có niềm tin tôn giáo Đặc biệt, điều được quan tâm ở đây là tính bền vững của gia đình Thiên Chúa giáo được tìm hiểu thông qua những đặc điểm khi kết hôn và đời sống hôn nhân

1.1.3 Tính bền vững trong hôn nhân

Cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm hay định nghĩa nào rõ ràng về tính bền vững trong hôn nhân Một cách đơn giản, tính bền vững của hôn nhân chính là tính chất suốt đời của hôn nhân Theo quan điểm của Lord Penzance

thì tính bền vững trong hôn nhân là sự khẳng định “sự liên kết tự nguyện suốt đời” của các bên trong hôn nhân [60, pg 409-429] Điều này cũng được

ghi nhận trong luật hôn nhân của một số quốc gia, ví dụ, theo Luật hôn nhân năm 1961 của Australia, để việc kết hôn có hiệu lực pháp lý, các bên kết hôn phải có mục đích chung sống suốt đời

Đối với các nhà làm luật, tính bền vững của hôn nhân được quan tâm do một số yếu tố như: tôn giáo, đặc điểm văn hóa, sự phát triển của xã hội Về yếu tố tôn giáo chẳng hạn trong Đạo cơ đốc Đạo cơ đốc họ coi hôn nhân là một thiết chế bất biến gắn liền với suốt cuộc đời con người, tính bất biến hôn nhân theo quan niệm tôn giáo có thể hiểu theo hai nghĩa: hôn nhân không thể

Trang 18

chấm dứt bằng ly hôn, do đó cấm ly hôn (quan điểm này hiện nay rất ít nước

áp dụng) và hôn nhân có tính bền vững nhưng vẫn có thể chấm dứt bằng ly hôn (đây là quan điểm phổ biến hiện nay)

Trong xã hội hiện đại, hôn nhân có một số biểu hiện khủng hoảng như việc hôn nhân bền vững được thay thế bằng “hôn nhân thử”, tình trạng ly hôn diễn

từ vai trò hôn nhân là cơ sở: “xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững” [28]

Nhìn từ gốc độ Xã hội học, gia đình vừa được xem là một thiết chế xã hội vừa được xem như là một nhóm xã hội Theo quan điểm của Parsons và Bales (1955) xác định hai vai trò chính trong hôn nhân: vai trò công cụ và cai trò tình cảm

Vai trò công cụ: thực hiện việc kiếm tiền, duy trì quan hệ bên ngoài gia đình với các hệ thống kinh tế và giáo dục

Vai trò tình cảm: mối quan tâm chính với việc duy trì các mối quan hệ thoải mái, hài lòng trong gia đình và các quan hệ tình cảm [Trích lại Hoàng

Bá Thịnh: 45, tr 317-318]

Trong nghiên cứu này sự phân công lao động và các mối quan hệ gia đình được xem như là vai trò công cụ Sự hài lòng về người bạn đời, hài lòng trong

Trang 19

đời sống tình dục là vai trò tình cảm Mâu thuẫn trong gia đình được xem xét như là yếu tố có thể gây ra xung đột ảnh hưởng đến mối quan hệ trong gia đình

Qua những quan niệm, những lý giải nêu trên trong đề tài này tôi xét tới một số khía cạnh cụ thể để đánh giá về tính bền vững trong hôn nhân đó là mức độ hài lòng của các thành viên trong gia đình, những quan điểm của vợ chồng trong đời sống hôn nhân gia đình, sự hòa hợp và sẻ chia trong quan hệ

vợ chồng, sự gắn kết giữa các thành viên, những quyết định mà họ đưa gia trong cuộc sống gia đình như thế nào, v.v…

1.1.4 Sự hài lòng

Có thể hiểu một cách đơn giản sự hài lòng là mức độ của trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh nhận thức về một việc gì đó so với mong đợi của người đó Như vậy, sự hài lòng về gia đình có thể hiểu là cảm giác thỏa mãn của người đó về các khía cạnh của gia đình Cụ thể trong nghiên cứu này là sự hài lòng về những khía cạnh trong đời sống hôn nhân, những mối quan hệ gia đình, sự hài lòng về vợ/chồng, sự hài lòng về con cái,

sự hài lòng về đời sống tình dục…

1.1.5 Thiên Chúa giáo

Thiên Chúa giáo thường dùng để chỉ Giáo hội Công giáo Rôma, hay gọi tắt

là Công giáo Tuy nhiên, bản chất cụm từ "Thiên Chúa giáo" là chỉ về tất cả các tôn giáo thờ Thiên Chúa là thần linh tối cao và duy nhất ngự trên trời ("Thiên" là trời, "Chúa" là chúa tể, "giáo" là tôn giáo), và từng tôn giáo đó có cách gọi tên riêng về Thiên Chúa

Thiên Chúa giáo ra đời từ đầu Công nguyên như sự đáp ứng nhu cầu của nhân dân lao động về một vương quốc của sự công bằng sau những chán chường, tuyệt vọng từ sự thất bại của hàng loạt cuộc nổi dậy của người nô lệ

mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa Spactaquyt Văn hóa Rôma, thần học phương

Trang 20

Đông, đặc biệt thần học Do Thái, triết học duy lý Hy Lạp, khắc kỷ là cơ sở lý thuyết cho sự ra đời của Thiên Chúa giáo Người sáng lập ra Thiên Chúa giáo

là Kitô, một nhân vật có thật trong lịch sử tên là Giêsu Cơrit thuộc chủng tộc Isarae, sinh ở Palextin Như mọi tôn giáo khác, những ghi chép về Giêsu cũng được huyền thoại hóa và Giêsu cũng được thần thánh hóa

Hệ thống giáo lý, giáo luật Thiên Chúa giáo phần lớn được ghi nhận trong Kinh thánh Kinh thánh là hệ thống lý thuyết về Đức tin và chân lý của Đức tin Kinh thánh gồm hai phần Cựu ước và Tân ước Đối với người Kitô giáo, Kinh thánh vừa có giá trị nhân bản, vừa có giá trị siêu nhiên, vì tác giả của nó

là Thiên Chúa Bộ cựu ước được viết ra trước khi Chúa Giêsu ra đời, chủ yếu nói về nguồn gốc vũ trụ và loài người, về lịch sử dân Do Thái được chọn để đón nhận ngày chúa Kitô giáo ra đời Bộ Tân ước kể lại cuộc đời chúa Giêsu Kitô, của các Tông đồ, cũng như ghi lại đạo lý của Kitô và các Tông đồ

Khi lý giải về nguồn gốc vũ trụ và sự sống, sách Sáng thế kể về việc Thiên Chúa hoàn tất mọi việc tạo dựng trong bảy ngày Đối với việc tạo dựng còn người như một sinh vật, Kinh thánh cũng cố gắng lý giải về sự thống nhất, sự kết hợp giữa hai yếu tố tinh thần và vật chất trong sự sáng tạo của Chúa Sách bổn là sách dạy vắn tắt những điều mà các tín đồ Kitô hữu phải tin, phải làm trong đời sống thường nhật

Theo Kinh thánh, giáo hội là “một cộng đồng hữu hình và có tổ chức mà Chúa Kitô đã sáng lập để lưu tồn sự hiện diện của mình trên trần gian và tiếp tục thực hiện sứ mạng của mình là giảng dạy chân lý và ban sự sống” Giáo hội Rôma được tổ chức theo thang bậc, mà đứng đầu là Giáo Hoàng và các vị Hồng Y do Giáo Hoàng bổ nhiệm cùng các chức sắc làm việc trong giáo triều Rôma, tức là các Thánh bộ, Thánh vụ, các tòa án và các văn phòng Từ khi Giáo hội Thiên Chúa giáo ra đời đến năm 1986 đã có 265 Giáo Hoàng kế vị

Trang 21

nhau cai quản tòa Thánh Rôma Vị Giáo Hoàng đầu tiên được giáo hội công

nhận là thánh Phêđrô

1.2 Các lý thuyết sử dụng trong đề tài

1.2.1 Lý thuyết tương tác biểu trưng

Theo tác giả Lê Ngọc Hùng trong cuốn “Lịch sử và Lý thuyết xã hội học” thuyết tương tác biểu trưng có nguồn gốc là các quan niệm xã hội học của Max Weber , Georg Simmel, Robert Park, các đồng sự và các học trò của họ Các tác giả của thuyết tương tác biểu trưng vận dụng quan niệm của thuyết hành vi nhưng cho rằng tư duy và sự trải nghiệm bên trong cũng là hành vi mặc các hành vi bên trong khó quan sát nhưng chúng vẫn tuân theo những quy luật của hành vi bên ngoài Đồng thời, các tác giả thuyết tương tác biểu trưng phát triển thuyết hành vi xã hội để nhấn mạnh vai trò của các yếu tố tư duy, ý thức và tự ý thức của cá nhân trong hành vi, hoạt động, giao tiếp nhất

là mối tương tác xã hội [17, tr.325]

Luận điểm gốc của thuyết tương tác biểu trưng cho rằng xã hội được tạo thành từ sự tương tác của vô số các cá nhân; bất kỳ hành vi, cử chỉ nào của con người đều có vô số các ý nghĩa khác nhau; hành vi và hoạt động của con người không những phụ thuộc mà còn thay đổi cùng với các ý nghĩa biểu trưng Do đó, để hiểu được tương tác xã hội giữa các cá nhân, giữa con người với xã hội, cần phải nghiên cứu các tương tác xã hội, cần phải lý giải được ý nghĩa của các biểu hiện của mối tương tác đó

Trong số các lý thuyết xã hội học hiện đại, thuyết tương tác biểu trưng của Cooley góp phần trả lời trực tiếp câu hỏi về bản chất mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội Thuyết này cho rằng xã hội được tạo nên từ các tương tác xã hội giữa các cá nhân Do vậy, cần phải tập trung nghiên cứu ý nghĩa biểu trưng và ý nghĩa chủ quan mà con người gán cho các mối tương tác tạo nên xã

Trang 22

hội của con người và tìm hiểu sự ảnh hưởng của mối tương tác biểu trưng đó với các cá nhân

Lý thuyết tương tác biểu trưng cho thấy các cá nhân trong quá trình tương tác tác động qua lại lẫn nhau Trong đề tài nghiên cứu này ta xét đến yếu tố tôn giáo tác động như thế nào đến hành vi của mỗi cá nhân Đâu chính là động cơ thúc đẩy họ hành động, với một niềm tin họ tin rằng hôn nhân là một điều gì đó thiêng liêng, tác động mạnh đến nhận thức của họ Mối tương tác giữa các thành viên trong gia đình có ảnh hưởng gì đến tính bền vững trong hôn nhân hay không Thuyết này sử dụng trong những nghiên cứu về mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái, sự thích ứng về mặt hôn nhân Tuy nhiên khi

sử dụng thuyết tương tác biểu trưng trong đề tài điều đó cũng làm giảm quyền lực trong quan hệ vợ chồng, không đề cập đến khía cạnh tình cảm, không xét đến hôn nhân – gia đình trong bối cảnh xã hội bên ngoài

1.2.2 Lý thuyết lựa chọn hợp lý

Thuyết lựa chọn hợp lý dựa vào tiền đề cho rằng con người luôn hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu Theo Marx, mục đích tự giác của con người như là quy luật quyết định toàn bộ cấu trúc, nội dung, tính chất, phương pháp của hành động và ý chí của con người Ông

viết: “Cuối quá trình lao động, người lao động thu được cái kết quả mà họ đã hình dung ngay từ đầu quá trình ấy, tức là đã có trong ý niệm rồi Con người không chỉ làm biến đổi hình thái của những cái do tự nhiên cung cấp; trong những cái do tự nhiên cung cấp, con người cũng đồng thời thực hiện cái mục đích tự nguyện của mình, mục đích ấy quyệt định phương thức hành động của

họ giống như một quy luật và bắt ý chí của họ phải phục tùng nó” [7, tr 267]

Thuật ngữ “lựa chọn” được dùng để nhấn mạnh việc phải cân nhắc, tính toán để quyết định sử dụng loại phương tiện hay cách thức tối ưu trong số

Trang 23

những điều kiện hay cách thức hiện có để đạt được mục tiêu trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực Thuyết này nhấn mạnh yếu tố mong đợi hợp lý giải quyết vấn đề mà các bên tham gia phải phân tích, lựa chọn và đưa ra quyết định hành động Về nguyên tắc, thuyết này cho rằng mỗi cá nhân đều xuất phát từ động cơ duy lý là lựa chọn hành động nào đem lại lợi ích lớn nhất với nguy cơ chi phí và thiệt hại nhỏ nhất Cách hiểu này lúc đầu mang nặng ý nghĩa kinh tế học vì nhấn mạnh yếu tố lợi ích vật chất nhưng sau này các nhà

xã hội học mở rộng phạm vi của mục tiêu bao gồm các yếu tố lợi ích xã hội

và tinh thần Mới thoạt nhìn, lý thuyết có vẻ ít hấp dẫn đối với việc nghiên cứu hôn nhân và gia đình Nhưng thực ra nhiều người sử dụng sự phân tích lợi hại để cân đo, so sánh các hành động và quan hệ trong gia đình Các nguồn lực và quyền lực đóng vai trò trung tâm Theo hai nhà nghiên cứu Sabatelli và

Shehan, “Các nguồn lực của mỗi người vợ người chồng, và sự lệ thuộc của mỗi người vợ người chồng vào mối quan hệ của họ phải được tính đến, ví dụ khi ta muốn nghiên cứu quyền lực trong hôn nhân” [62] Xét đến tính bền

vững trong hôn nhân dưới góc độ lý thuyết lựa chọn hợp lý ta tìm hiểu được những quan điểm gì đưa tới việc họ lựa chọn bạn đời, quyết định kết hôn… và các quyết định khác trong đời sống hôn nhân của họ

1.2.3 Lý thuyết xung đột

Những người đặt nền móng xây dựng chủ thuyết xung đột trong xã hội học hiện đại là Karl Marx và Engels Xuất phát điểm của thuyết xung đột là học thuyết của Marx và Engels về mâu thuẫn xã hội, là sự đấu tranh của các mặt đối lập trong lĩnh vực đời sống xã hội được phản ánh và kế thừa trong các khuynh hướng xã hội học khác nhau

Trong khi thuyết chức năng nhấn mạnh sự ổn định, trật tự, công bằng, thì thuyết mâu thuẫn nhấn mạnh sự mâu thuẫn, xung đột và sự biến đổi xã hội

Sự căng thẳng xã hội, sự phân hóa xã hội cùng với sự mâu thuẫn, cạnh tranh,

Trang 24

xung đột, đấu tranh, biến đổi xã hội là những chủ đề nghiên cứu cơ bản của các lý thuyết mâu thuẫn trong xã hội học

Những luận điểm gốc của thuyết xung đột cho rằng, do có sự khan hiếm các nguồn lực (đất đai, nguyên vật liệu, tiền tài, địa vị…) và do sự phân công lao động và sự bất bình đẳng trong phân bổ nguồn lực, quyền lực nên quan hệ giữa các cá nhân, các nhóm xã hội luôn nằm trong tình trạng mâu thuẫn, cạnh tranh với nhau vì lợi ích [16, tr.266] Thuyết mâu thuẫn cho rằng: cần phải tập trung vào phân tích động cơ và đặc điểm xã hội của các bên tham gia mâu thuẫn và bản chất của mối quan hệ mâu thuẫn

Gia đình bao gồm những cá nhân có nhân cách, ý tưởng, giá trị, sở thích và mục đích khác nhau Mỗi người không phải bao giờ cũng hài hòa với mọi người khác trong gia đình Các gia đình thường có bất đồng, từ nhỏ đến lớn

Họ chỉ khác nhau về tần số và mức độ, tính chất, biểu hiện và cách giải quyết xung đột Theo cách tiếp cận này có người cho rằng xung đột là một bộ phận

tự nhiên của gia đình, gia đình nào cũng có thể gặp, nhưng quan trọng là cách thức để giải quyết những mâu thuẫn đó như thế nào, êm đẹp hay chọn việc phá vỡ giao kèo kết hôn Những xung đột dễ dẫn đến việc phá vỡ, hay việc chấp nhận hôn nhân một cách hình thức nhưng mỗi người lại theo đuổi một mục đích riêng

1.3 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu về gia đình là một lĩnh vực thu hút được rất nhiều nghiên cứu ở trên thới giới cũng như Việt Nam Trong nghiên cứu này, do sự tiếp cận tài liệu nghiên cứu về gia đình còn hạn chế, trong phần tổng quan vấn đề nghiên cứu chỉ tập trung vào các nghiên cứu về gia đình đã được công bố ở Việt Nam

Trong các nghiên cứu về gia đình ở Việt Nam có một số nhóm chủ đề chính Nghiên cứu về gia đình truyền thống, có thể kể đến một loạt những

Trang 25

nghiên cứu của tác giả Phạm Khắc Chương, Mai Quỳnh Nam, Huỳnh Phước, Phan Kế Bính, Phạm Côn Sơn… liên quan đến những vấn đề văn hóa gia đình, gia đình với những phong tục tập quán, văn hóa trong quan hệ giữa các thành viên với nhau [13]

Dưới góc độ xã hội học có nhiều nghiên cứu đề cập ở một số phương diện

như: phân công lao động gia đình trong cuốn Xu hướng gia đình ngày nay: Một vài đặc điểm từ nghiên cứu thực nghiệm tại Hải Dương (PSG TS Vũ

Mạnh Lợi, 2004); vai trò của gia đình trong chăm sóc giáo dục con cái (PSG

TS Hoàng Bá Thịnh, 2006); bạo lực gia đình (PGS TS Hoàng Bá Thịnh,

2006, 2007, 2009; Lê Thị Quý, 2007); biến đổi gia đình (Vũ Tuấn Huy, Mai Huy Bích); kinh tế gia đình (Nguyễn Thị Kim Hoa, Văn Thị Ngọc Lan); ngoài ra có một số nghiên cứu về gia đình ở nước ngoài, hôn nhân có yếu tố nước ngoài (Trần Mạnh Cát; PGS TS Hoàng Bá Thịnh, 2007, 2011)…

Trong tác phẩm “Gia đình Nhật Bản” của Trần Mạnh Cát, nghiên cứu này

đã chỉ ra được các vấn đề của gia đình Nhật Bản ngày nay và trong quá khứ

có nhiều sự thay đổi khác biệt Do ảnh hưởng của công nghiệp hóa mà xã hội Nhật Bản có những thay đổi làm mất đi những giá trị truyền thống, cũng gần như làm môi trường sống của những người dân bị thay đổi theo chiều hướng xấu gây ảnh hưởng không tốt đến con người [6]

Trong nghiên cứu về hôn nhân ở Nhật Bản có đề cập đến một xu hướng mới xuất hiện và dần trở nên phổ biến, đó là tổ chức hôn nhân trong các nhà hàng khách sạn sang trọng và sử dụng dịch vụ tổ chức hôn nhân của các công

ty dịch vụ nhằm phô trương sự giàu có, làm tăng chi phí cho hôn nhân và cho

cả những người đến dự Có thể nhận thấy xu hướng này cũng đang xuất hiện

ở Việt Nam nhất là ở các đô thị lớn, không những gây lãng phí, tốn kém cho gia đình mà còn gây tốn kém cho người đến dự, nhiều người đi đám cưới mà

cứ như là đi trả nợ, trong lòng không thoải mái Nhìn chung, xu hướng này có

Trang 26

nhiều mặt tốt nhưng vẫn có những hạn chế mà việc dễ nhận thấy nhất là gây lãng phí, tốn kém, nó còn làm phai mờ các phong tục truyền thống tốt đẹp Tuy nhiên trong những nghiên cứu này có hạn chế là: khi đưa ra vấn đề về gia đình ở các nước khác tương tự với vấn đề ở Nhật Bản để so sánh thì lại đưa ra một cách dài dòng, khiến người khác có thể nhầm tưởng là những nghiên cứu về những nước đó chứ không phải là về Nhật Bản Như trong phần cuối chương về hôn nhân, một phần khá lớn được dùng để mô tả về hôn nhân ở Việt Nam

Tất cả những nghiên cứu này cũng sử dụng phương pháp định tính, nghiên cứu tổng hợp tài liệu, sử dụng kết quả của những nghiên cứu trước đó để đưa

ra vấn đề đó là chức năng của gia đình Nhật Bản

Chức năng của gia đình Nhật Bản đã được thao tác hóa khái niệm, đồng thời phân tích cụ thể, kỹ lưỡng từng chi tiết nhỏ Cụ thể: Chức năng của gia đình Nhật Bản bao gồm các chức năng: kinh tế, tái sản xuất dân số, xã hội hóa Trong đó chức năng kinh tế bao gồm hai tiểu chức năng là sản xuất và tiêu dùng Lý thuyết chức năng, lựa chọn hợp lý… đã được áp dụng trong những nghiên cứu này

Ở Việt Nam, hiện nay có rất nhiều nghiên cứu về gia đình với những lĩnh vực nghiên cứu khá phong phú nhằm đề cập đến sự biến đổi của gia đình Việt Nam nói chung, bên trong đó là cơ cấu hộ gia đình, cơ cấu độ tuổi kết hôn, những thay đổi của gia đình trong quá trình Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa…

Trong nghiên cứu “Sự hài lòng về cuộc sống”, PGS.TS Hoàng Bá Thịnh

đã mức độ hài lòng với các khía cạnh của đời sống gia đình (bao gồm: hôn nhân, con cái, mối quan hệ với con cái) của người dân ở cả miền Bắc và Nam

là tương đối cao [70] Điều này nói lên rằng người dân Việt Nam khá lạc quan

về đời sống gia đình Mức độ hài lòng ở các khía cạnh gia đình được người

Trang 27

dân đánh giá cao hơn so với các khía cạnh khác như hài lòng về kinh tế, nghề nghiệp, thu nhập hay điều kiện môi trường sống của họ Nghiên cứu cũng chỉ

rõ những yếu tố của nền kinh tế thị trường cũng khiến cho mối quan hệ vợ chồng gặp trở ngại Việc giáo dục con cái trở nên khó khăn và khác biệt so với xã hội truyền thống Mặc dù vậy, kết quả nghiên cứu trên đây cho thấy đối với người Việt Nam, gia đình vẫn là một giá trị hết sức quan trọng, và mức độ hài lòng về hôn nhân, gia đình cùng với quan hệ giữa các thành viên trong gia đình vẫn đạt ở mức cao Đây là những chỉ báo phản ánh sự bền vững của gia đình Việt Nam trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Để duy trì sự bền vững gia đình, trong thời gian tới công tác gia đình cần tập trung hỗ trợ thực hiện tốt các chức năng của gia đình, nhất là chức năng kinh tế, chức năng giáo dục con cái, chức năng tình cảm và chức năng văn hoá Chú trọng các giải pháp can thiệp nhằm giảm thiểu các yếu tố rủi ro đối với gia đình, xử lý nghiêm các hành vi bạo lực gia đình, lựa chọn giới tính thai nhi, đồng thời phát triển các dịch vụ xã hội đáp ứng nhu cầu cần hỗ trợ của các gia đình

Một số bài viết khác như “Gia đình và cơ cấu hộ gia đình Việt Nam – vài nét đại cương từ một cuộc khảo sát xã hội học gần đây” của Charles Hir-

schman và Vũ Mạnh Lợi ta có thể nhận thấy gia đình Việt Nam nói chung là một hệ thống chịu ảnh hưởng phức hợp nhiều yếu tố [24] Vừa chịu ảnh hưởng của Nho giáo và duy trì hệ thống gia đình theo Nho giáo với những tư tưởng thờ cúng tổ tiên, trong nhà tuân thủ nếp sống gia trưởng, đàn ông làm chủ gia đình, con trai là người nối dõi, họ hàng và nơi ở tổ chức theo người bố… Lại vừa đề cao vai trò của người phụ nữ, người vợ và con gái có quyền thừa kế tài sản theo phong tục và pháp luật ở Việt Nam quy định Từ nghiên cứu này có thể thấy rằng khác với các nước phương Tây hầu như không có mối quan hệ thân tộc, người Việt Nam tuy không sống cùng họ hàng nhưng

Trang 28

vẫn giữ mối quan hệ thân tộc bền chặt, luôn thăm viếng và giúp đỡ lẫn nhau khi vui cũng như khi buồn, khi khó khăn hoạn nạn Các hộ gia đình do phụ nữ làm chủ hộ gần đây mới thu hút được sự chú ý của những người nghiên cứu Tuy không đi sâu nghiên cứu, nhưng ở đây nó đã chỉ ra rằng khác với các nước khác, hộ gia đình do phụ nữ làm chủ hộ ở Việt Nam "không phải là dấu hiệu chủ yếu của người chồng vắng nhà và tình trạng bất lợi về kinh tế"

Trong một nghiên cứu khác người ta cho rằng xu hướng xuất hiện hộ gia đình do phụ nữ làm chủ hộ trên thế giới là đáng lo ngại vì nó liên quan đến

vấn đề hộ gia đình nghèo khổ Trong khuôn khổ bài nghiên cứu “Hộ gia đình

do phụ nữ làm chủ hộ ở Việt Nam” [25] đưa ra giả thuyết rằng liệu hộ gia

đình do phụ nữ làm chủ hộ ở Việt Nam có nghèo hơn các hộ gia đình do nam giới làm chủ hộ không? Qua nghiên cứu thực tế đã chứng minh rằng, hộ gia đình do phụ nữ làm chủ hộ không hề nghèo hơn các hộ gia đình do nam giới làm chủ hộ thậm chí còn có mức sống cao hơn dù không đáng kể Từ đó có thể thấy có một khoảng cách giữa các giả thuyết và thực tiễn

Trên thực tế, không như một số nước khác, gia đình ở Việt Nam biến đổi là

do rất nhiều yếu tố mà nghiên cứu này đã chỉ ra được Đây không phải là mất

đi các đặc trưng truyền thống mà chỉ là sự điều chỉnh để thích nghi với những

hoàn cảnh xã hội mới, để có thể tồn tại Tác phẩm “Những khía cạnh của sự biến đổi gia đình” của Vũ Tuấn Huy đã chỉ ra trong mối quan hệ gia đình bất

bình đẳng vẫn tồn tại ngay cả trong chính tư tưởng của mỗi thành viên trong gia đình, bất bình đẳng là nguyên nhân dẫn đến xung đột, mâu thuẫn trong gia đình [24] Đây là vấn đề nan giải không phải ngày một ngày hai mà có thể thay đổi được, cần phải có sự điều chỉnh trong tư tưởng và hành động của mỗi người Một câu hỏi được đặt ra ở trong nghiên cứu cần có được sự quan tâm thích đáng của các nhà hoạch định chính sách xã hội, đó là mối quan hệ giữa

Trang 29

gia đình và chính sách xã hội, cần có những chính sách xã hội như thế nào cho phù hợp

Tìm hiểu về thức trạng mức sinh và những yếu tố ảnh hưởng đến mức sinh tác giả Phạm Văn Quyết đã chỉ ra rằng, quá độ suy giảm mức sinh ở nước ta diễn ra chưa đồng đều giữa các vùng và giữa các nhóm xã hội Trong khi ở nhiều nhóm xã hội đã đạt đến mức sinh thấp, thì ở một số nhóm xã hội khác, nhất là các nhóm tôn giáo, dân tộc vẫn duy trì một mức sinh cao Nghiên cứu nhằm tìm hiểu tại sao sự thay đổi mức sinh ở một số khu vực xảy ra muộn hơn, chậm hơn ở một số khu vực khác trên cùng một mức độ phát triển, đồng thời tìm hiểu yếu tố tôn giáo có tác động như thế nào đến mức sinh [35]

Trên cơ sở tổng quan các công trình nghiên cứu tôi chưa nhận thấy có nghiên cứu nào đề cập cụ thể đến tính bền vững của hôn nhân trong các gia đình Thiên Chúa giáo ở Việt Nam Với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về những khía cạnh mới của gia đình Việt Nam, đặc biệt là gia đình Thiên Chúa giáo Trên cơ sở đó cũng so sánh và đóng góp vào những công trình nghiên

cứu về gia đình một vấn đề nghiên cứu mới đó là “tính bền vững trong hôn nhân”

1.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

Nhà thờ Cổ Nhuế thuộc Giáo xứ Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội Nhà thờ nằm tại ngõ 220 đường Cổ Nhuế nằm ở tọa độ 21o3’51” Bắc và

105o46’49” Nam

Do tài liệu về nhà thờ đã bị thất lạc nhiều năm nên không còn giấy tờ thông tin chính thống về nhà Thờ mà chỉ còn những thông tin được truyền đạt thông qua hình thức truyền miệng Nhà thờ Cổ Nhuế thuộc Giáo xứ Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội Hiện tại có rất nhiều giáo họ đến tham gia lễ và sinh hoạt tại nhà Thờ này phải kể đến một số giáo họ lớn như: họ Đống Thôn, họ Viên Thôn, họ Hoàng Thôn… Sơ lược về giáo xứ chính là lý lịch về họ Viên

Trang 30

Thôn Họ Viên Thôn đi đạo năm 1883 Người đứng đầu là cụ Dịch Tám, là người Thôn Viên ra khu Hồ Tây là làng Sở hiện nay và ở trọ ở “Trích Sài” – Yên Thái hiện nay Cụ Tám thấy dân học đạo thì vui vui nên về rủ được 8 hộ nữa mà xin nhập đạo Lúc này thầy Văn Sử đang dạy ở Trích Sài đưa một số người gặp cố Mỹ, cố Mỹ nhận lời và vào sổ kẻ theo đạo Bề trên sai thày Văn

Sử về dạy cho Giáo họ này trước Cụ Trinh đã rửa tội cho 8 nhà này là 18 nhân danh

Năm 1884, thày Văn Sử đứng lên làm nhà thờ cùng nhà tràng Người dân

nhượng cho họ 11 sào (3.960m 2

), họ mua được 21 sào (7.560m 2 ), ông cán Nghị dâng 1 sào (360m 2 )

Đến năm 1898, giáo họ đã có 84 nhân danh được rửa tội nhưng dần dần lại

bỏ và số còn lại chỉ là 8 hộ theo mà thôi Họ này có một số người: Tổng lý của làng lấy vợ lẽ, người nghiện nha phiến, quan viên đình đám rồi bỏ Họ

còn được bà Tổng Chiêu Hoàng Thôn dâng 10 sào đất (3.600m 2

) vào nhà xứ

hiện nay

Tháng 12/1947, mượn cớ không để cho giặc có chỗ để dựng đồn, đội Quân phá hủy, mang rơm rạ xếp ghế nhà thờ rồi đốt cháy chỉ còn lại 4 bức tường Năm 1953, Cha già Trần Ngọc Liễn xây dựng lại đến tháng 4 năm 1954 khánh thành và được Đức Tổng Trịnh Như Khuê về kinh lược và làm phép Khi họ đốt có thầy Lê Trung Thịnh chưa ra đi tản cư biết chứ không phải giặc đốt Năm 1952 thầy được truyền chức cùng đức cha Căn và cha thịnh do Cha già Liễn linh hướng

Còn Cha phó Phê rô Ngyễn Văn Tư ở nhà thờ Đức Diễn, coi sóc các nhà thờ Đình Quán và Phúc Lý Cha mất ngày 3/9/1969

Hiện nay nhà thờ Cổ Nhuế do cha Giuse Nguyễn Văn Hy làm chính xứ

Số người dân gốc của giáo xứ thì có ít nhưng lượng người nhập cư thì gấp nhiều lần (nếu đi các lễ chủ nhật, ví dụ lúc 18h00 chủ nhật thì sẽ rất rõ) Mỗi

Trang 31

năm nhà thờ Cổ Nhuế tổ chức 2 đến 3 lớp giáo lý hôn nhân, có một lớp hiện tại đang học khoảng 110 người hiện nay các lớp học do thầy va cha xứ giảng dạy (PVS 10, nam 48 tuổi, Cha xứ)

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM HÔN NHÂN CỦA CÁC GIA ĐÌNH THIÊN CHÚA GIÁO Ở GIÁO XỨ CỔ NHUẾ, TỪ LIÊM, HÀ NỘI

2.1 Đặc điểm khi kết hôn của các cặp vợ chồng tại giáo xứ Cổ Nhuế

2.1.1 Độ tuổi kết hôn

Theo một số kết quả đã được công bố độ tuổi kết hôn trung bình lần đầu trong xã hội hiện nay có xu hướng tăng cao Trong nghiên cứu về “Gia đình Nhật Bản”, Trần Mạnh Cát đã chỉ ra rằng độ tuổi kết hôn lần đầu của nam giới là 28,5 và nữ là 25,7 Độ tuổi kết hôn này khá cao so với các nước khác,

kể cả những nước tư bản phát triển [6]

Ở nước ta, theo kết quả điều tra quốc gia lần đầu tiên về gia đình mới được

Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch công bố, tuổi kết hôn trung bình của người Việt Nam đã tăng lên cả ở nam và nữ Tuổi kết hôn trung bình giai đoạn 2000

- 2006 là gần 26 tuổi ở nam (tăng 2,9 tuổi), gần 23 tuổi ở nữ (tăng 2,2 tuổi) so với năm 1975

Bên cạnh đó kết quả điều tra Quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam cho thấy độ tuổi trung bình kết hôn lần đầu của nam-nữ thanh niên Việt Nam đã tăng từ 25,3 lên 26,6 đối với nam giới và từ 22,7 lên 23,2 đối với phụ

nữ Trung bình, thanh niên nông thôn kết hôn sớm hơn thanh niên thành thị khoảng 2 năm [50]

Một nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng độ tuổi kết hôn trung bình hiện nay đang có xu hướng gia tăng đối với cả nam và nữ tuy nhiên có sự khác biệt về

giới tính, vùng miền, dân tộc… (Trích lại: Th.S Nguyễn Thanh Bình, 2012)

Trang 32

Bảng 2.1: Tuổi kết hôn trung bình lần đầu giai đoạn 1989-2009

Năm Nam Nữ Chênh lệch (Nam-Nữ)

1989 24,4 23,2 1,2

1999 25,4 22,8 2,6

2009 26,2 22,8 3,4

(Nguồn: Tổng cục Thống kê,Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam, 2009)

Từ kết quả Tổng điều tra dân số 1989 cho tới 2009 đã cho thấy độ tuổi kết hôn trung bình lần đầu có xu hướng tăng đối với cả nam và nữ, song độ tuổi kết hôn của nữ thấp hơn nam Trong khi tuổi kết hôn trung bình của nam (1989-2009) tăng 1,8 tuổi thì độ tuổi kết hôn trung bình của nữ giảm 0,4 tuổi

Độ tuổi giảm của nữ tuy không nhiều nhưng có xu hướng ổn định hơn trong khi nam lại có xu hướng kết hôn muộn hơn

Trong các số liệu đã được công bố chưa đề cập đến sự khác biệt về yếu tố tôn giáo trong mối liên hệ với độ tuổi kết hôn lần đầu Trong nghiên cứu này tôi cũng muốn xem liệu có sự khác biệt về độ tuổi kết hôn trung bình lần đầu của người theo đạo Thiên Chúa giáo so với các số liệu chung của cả nước không Kết quả khảo sát cho thấy:

Bảng 2.2: Độ tuổi kết hôn trung bình lần đầu của các cặp vợ chồng ở giáo xứ Cổ Nhuế

Độ tuổi trung bình 24,4 25,1 23,8

(Nguồn: Kết quả xử lý phiếu điều tra)

Trong mẫu khảo sát độ tuổi kết hôn trung bình lần đầu của người theo đạo Thiên Chúa hiện nay có xu hướng cũng tăng cao và không có sự khác biệt nhiều với nghiên cứu trên Tuổi kết hôn trung bình của khách thể trong nghiên

Trang 33

cứu này cũng khá cao 24,4 tuổi Trong đó tuổi kết hôn thấp nhất là 18 tuổi và cao nhất là 34 tuổi Cũng như các nghiên cứu trước độ tuổi kết hôn trung bình lần đầu có sự chênh lệch giữa nam và nữ là 1,5 tuổi Độ tuổi kết hôn trung bình lần đầu ở nam là 25,1 tuổi cao hơn của nữ là 23,8 tuổi trong các gia đình Thiên Chúa giáo Tuổi kết hôn trung bình của nam cao hơn so với tuổi kết hôn trung bình của nữ nguyên nhân có thể xuất phát từ áp lực đối với việc kết hôn của nữ là cao hơn nam Từ lâu nay phụ nữ vẫn đóng vai trò khá thụ động trong hôn nhân, họ thường chờ đợi người nam giới đến dạm hỏi và xin cưới Những hạn chế về sinh học (tuổi của người phụ nữ) khiến cho khoảng thời gian dành cho việc hôn nhân thường diễn ra ngắn hơn so với nam giới Các bậc cha mẹ cũng thường quan niệm “con gái có thì” nên luôn muốn con gái sớm lấy chồng và lo sợ nếu tuổi của con ngày càng cao Chính vì lẽ đó, tuổi kết hôn trung bình của phụ nữ thường thấp hơn so với tuổi kết hôn trung bình của nam giới

Bảng 2.3: Khác biệt về độ tuổi kết hôn trung bình lần đầu giữa các nhóm tuổi ở giáo xứ Cổ Nhuế

Nhóm tuổi Tuổi kết hôn trung bình lần đầu

Từ 25 dến 35 tuổi 24,6

Từ 36 đến 45 tuổi 25

(Nguồn: Kết quả xử lý phiếu điều tra)

Dựa trên kết quả thu thập được độ tuổi của đối tượng khảo sát hiện nay là

từ 25 đến 65 tuổi Căn cứ vào kết quả đó tôi phân chia làm 3 nhóm tuổi tương ứng với 3 thế hệ (bảng 2.3) nhằm so sánh xem có sự khác nhau về độ tuổi kết hôn trung bình lần đầu giữa các thế hệ hay không Có thể thấy độ tuổi kết hết trung bình lần đầu có xu hướng ngày càng tăng Với những người hiện nay đang ở độ tuổi từ trên 45 tuổi thì độ tuổi kết hôn lần đầu của họ là 22,5 tuổi

Trang 34

thấp hơn hẳn so với nhóm từ 25 đến 35 tuổi độ tuổi kết hôn trung bình là 24,6 tuổi

Với độ tuổi kết hôn trung bình này, mỗi cá nhân đã chín chắn, phát triển đầy đủ về mặt thể chất và có thể bắt đầu cuộc sống hôn nhân Khi kết hôn ở

độ tuổi như trên mỗi cá nhân cũng đã trang bị được đầy đủ những kiến thức

về đời sống gia đình Họ hiểu được và sẵn sàng gắn bó mình với một người yêu thương trong cuộc đời Họ ý thức được việc bảo vệ hạnh phúc của bản thân mình Có thể nói với độ tuổi kết hôn như trên họ đã đủ chín chắn về cả

thể chất và tinh thần cho việc xây dựng hạnh phúc gia đình.“Hai vợ chồng anh bằng tuổi nhau, 27 tuổi mới tiến tới kết hôn vì cả anh chị cũng như gia đình hai bên muốn cho hai đứa được học hành và ổn định về công việc cuộc sống Anh thấy điều đó cũng tốt vì khi cuộc sống hai người ổn thì mới có thể

lo lắng chu toàn được cho gia đình” (PVS 3, nam 28 tuổi, Nhân viên kinh

doanh) Xu hướng kết hôn chậm đang tăng lên do nhiều nam nữ thanh niên và

cả cha mẹ họ đều mong muốn con cái được học hành, có trình độ chuyên môn, có tay nghề để dễ dàng tìm việc làm, sau đó mới lập gia đình Nói cách khác, lập gia đình chậm, tuổi kết hôn lần đầu cao có thể giúp cho các cặp nam

nữ bước vào hôn nhân và đời sống gia đình với sự chín chắn cần thiết, cũng như sự ổn định về nghề nghiệp, về thu nhập, tạo thuận lợi cho việc đảm bảo

cuộc sống gia đình

Tóm lại, độ tuổi kết hôn trung bình lần đầu của người theo đạo Thiên Chúa giáo hiện nay khá cao phù hợp với xu hướng đời sống hiện đại và không có sự khác biệt so với xu hướng kết hôn chung của cả nước

2.1.2 Thời gian tìm hiểu trước khi kết hôn

Kết hôn là mốc đánh dấu mối quan hệ xã hội trong đời sống gia đình của

vợ chồng Tìm hiểu trước khi kết hôn có lẽ không còn là một điều xa lạ với

Trang 35

mỗi cá nhân trong xã hội hiện đại Trước khi bước vào đời sống gia đình các cặp đôi thường có một thời gian nhất định để tìm hiểu lẫn nhau Chưa có một nghiên cứu nào đề cập đến mối quan hệ giữa thời gian tìm hiểu trước khi kết hôn và tính bền vững của hôn nhân Song trên các phương tiện truyền thông

đại chúng đã từng đề cập đến vấn đề này Chẳng hạn, theo tờ Journal of riage and the Family (Tập san hôn nhân và gia đình) số ra tháng 5-1980 chỉ

Mar-ra kết quả của một nhóm nghiên cứu cho rằng: “Hôn nhân dường như có cơ hội tồn tại và phát triển hơn nếu trước khi lập gia đình, người ta hiểu biết tương đối đầy đủ về con người bên trong của nhau” [58]

Trong xã hội vẫn tồn tại những quan điểm khác nhau về vấn đề này Có người cho rằng thời gian tìm hiểu quá nhanh khi chưa kịp hiểu có thể dẫn đến

sự đổ vỡ sau này, song một số khác lại cho rằng tìm hiểu nhau quá lâu sẽ dẫn đến nhàm chán, cuộc sống hôn nhân sau này không còn mới mẻ Trong nghiên cứu này tôi cũng đặt ra câu hỏi liệu thời gian tìm hiểu của người theo đạo Thiên Chúa giáo như thế nào

Căn cứ vào kết quả khảo sát thu được tôi chia khoảng thời gian tìm hiểu thành 4 nhóm cụ thể gồm: dưới 1 năm, 1 năm, từ 1 đến 2 năm và trên 2 năm Dưới 1 năm được xem xét là thời gian tìm hiểu nhau chưa dài cụ thể là 3 tháng, 4 tháng Thời gian tìm hiểu 1 năm là phương án được nhiều người đưa

ra nhất do đó tôi sẽ để thành một phương án riêng Từ 1 đến 2 năm là thời gian tìm hiểu khá dài giữa hai người Kết quả khảo sát cụ thể:

Trang 36

(Nguồn: Kết quả xử lý phiếu điều tra)

Thời gian tìm hiểu nhau trước khi kết hôn ngày càng được mọi người quan

tâm và đánh giá cao vai trò của nó “Việc tìm hiểu giữa nam và nữ là một điều quan trọng để giúp họ hiểu đối phương của mình Để cùng phấn đấu, cùng chia sẻ rồi đi tới quyết định có gắn bó với nhau suốt đời hay không Trong quá trình giảng dạy Giáo lý tiền hôn nhân đây cũng là một điều được tôi nhấn mạnh rất nhiều.” (PVS 9, nam 45 tuổi, Giáo viên)

Đa số các cặp vợ chồng có thời gian tìm hiểu nhau nhiều nhất là 1 năm chiếm tỉ lệ 48% Thời gian tìm hiểu nhau từ 1 đến 2 năm chiếm tỉ lệ 29% và thấp nhất là thời gian tìm hiểu nhau dưới 1 năm mà cụ thể ở đây là 3 tháng, 4 tháng trước khi tiến tới kết hôn chiếm tỉ lệ 4% Thời gian tìm hiểu có sự khác biệt nhau như thế liệu có ảnh hưởng như thế nào đến đời sống hôn nhân của

họ không vẫn là một câu hỏi có nhiều ý kiến trái chiều “Theo anh thì thời gian tìm hiểu cần lâu một chút có thể là trên 1 năm để cả hai có thể hiểu nhau một cách kỹ hơn cả về bản thân người mình tìm hiểu, gia đình của họ và nhiều yếu tố khác có tác động đến gia đình mình sau này” (PVS 4, nam 32

Trang 37

tuổi, Tài xế) Khoảng thời gian được các cặp vợ chồng tìm hiểu nhau lâu nhất

là 6 năm chiếm tỉ lệ 0,5% và có cặp vợ chồng không tìm hiểu nhau chiếm 1% Nguyên nhân của sự khác biệt về số năm như thế đó là do hoàn cảnh và môi

trường sống của mỗi người “Anh và vợ anh học cùng nhau từ hồi cấp 3 nên cũng có tình cảm với nhau Lên đại học thì học khác khoa nhưng cùng trường

và cứ thế thời gian bên nhau kéo dài 6 năm, yêu nhau lâu như thế rồi mới tính đến chuyện kết hôn Lúc đó 2 đứa đã xác định kỹ càng và cũng ổn định về công việc, kinh tế.” (PVS 4, nam 32 tuổi, Tài xế) Cũng không ít trường hợp thời gian tìm hiểu nhau ít hơn rất nhiều: “Chị đi xuất khẩu lao động về, lúc đó tuổi cũng không còn trẻ nữa nên ở nhà ai cũng giục, ai cũng bảo mai mối giới thiệu Nghe mọi người nói nhiều quá nên thôi thì cứ gật đầu Từ lúc gặp mặt nhau đến khi quyết định lập gia đình nhanh lắm em ạ Nếu như không phải học lớp học tiền hôn nhân kéo dài có lẽ tính thời gian từ khi được giới thiệu đến khi kết hôn chắc chỉ vài tuần.” (PVS 5, nữ 37 tuổi, Công nhân)

Thời gian tìm hiểu cũng chính là thời gian họ cân nhắc thật kỹ trước khi đưa đến quyết định là có kết hôn với đối tượng mình đang tìm hiểu không Việc tìm hiểu nhau trước khi kết hôn ngày nay đã tự do hơn rất nhiều Người

ta được tự do chọn lựa, không còn chịu áp lực nhiều từ phía gia đình và xã hội Với xu hướng ngày càng mở rộng hiện nay, bản thân mỗi người có rất nhiều mối quan hệ, bạn bè, đồng nghiệp và những mối quan hệ xã hội khác Điều đó cho phép người ta được chọn lựa rộng rãi hơn và tiến tới quyết định cuối cùng là kết hôn Thời gian tìm hiểu của các cặp vợ chồng trước khi kết

hôn cũng có ảnh hưởng khá lớn đến đời sống gia đình sau này “Học hành cùng nhau, lớn lên cùng nhau nên bọn anh rất hiểu nhau Có thể nói vợ anh

là người hiểu anh nhất, nhiều khi mình có chuyện gì căng thẳng, mệt mỏi không nói ra nhưng cô ấy nhìn là biết Và anh cũng cảm thấy được sự chia sẻ thực sự trong đời sống vợ chồng Vừa làm vợ chồng, vừa làm bạn Anh thấy

Trang 38

thực sự hài lòng khi lấy được người mình yêu, người đó cũng yêu và hiểu mình đến như thế.” (PVS 4, nam 32 tuổi, Tài xế)

Đối với trường hợp thời gian tìm hiểu ngắn đời sống hôn nhân cũng không

có sự khác biệt nhiều: “Chị được giới thiệu nên cũng chỉ biết sơ qua về anh

ấy, chỉ biết là tốt bụng và chăm chỉ làm ăn Thời gian chung sống với nhau hiểu nhau hơn, từ trách nhiệm chuyển sang tình cảm Ai cũng nói chị may mắn mới lấy được người tốt Bản thân chị cũng thế, chưa hiểu gì về nhau mà cũng lấy họ còn nói chị liều ấy (Cười)” (PVS 5, nữ 37 tuổi, Công nhân)

Cho đến nay vẫn chưa có một kết luận nào cho biết một thời thời gian tìm hiểu chính xác có thể thích hợp cho mọi người mà nó chỉ mang tính chất tương đối và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như khoảng cách, môi trường sống, môi trường làm việc và cả hoàn cảnh gia đình mà có những thời gian phù hợp cho mỗi người Riêng đối với những người theo đạo Thiên Chúa giáo, trước khi kết hôn họ có thời gian học Giáo lý hôn nhân Đây là thời gian được xem là quan trọng trong quá trình tìm hiểu về đời sống hôn nhân Phải chăng do có sự chuẩn bị tâm thế về đời sống gia đình nên người theo đạo Thiên Chúa sẽ có thời gian tìm hiểu về người bạn đời trước khi kết hôn Để khẳng định được điều này có thể cần những nghiên cứu tiếp theo

2.1.3 Sự tương đồng về tôn giáo giữa vợ chồng khi kết hôn

Theo quan điểm lý thuyết chức năng, tôn giáo có chức năng tạo ra cố kết xã hội và khi kiểm soát xã hội được liên kết với tôn giáo thì sức mạnh của kiểm soát sẽ gia tăng Trên thực tế, nghi lễ kết hôn của người theo đạo Thiên Chúa được diễn ra trong không gian linh thiêng Các cặp đôi có sự tuyên thệ gắn bó

cả đời trước bàn thờ Chúa Chính nghi lễ như vậy sẽ tạo ra sự gắn kết chặt chẽ hơn giữa hai người Đối với người theo đạo, việc tổ chức lễ cưới có sự chứng kiến của Chúa có thể còn quan trọng hơn thủ tục đăng ký kết hôn Nghi lễ này

Trang 39

là sự thánh hóa cuộc hôn nhân Họ không chỉ cam kết với nhau mà còn cam kết trước Chúa Khi đó họ có sự kiểm soát từ bên trong Trong Giáo lý, Giáo luật hôn nhân hiện nay cũng chỉ ra tôn giáo là sức mạnh rất lớn nối kết con người lại với nhau Nhiều cuộc nghiên cứu cho thấy khuynh hướng chung là các cuộc hôn nhân thường xảy ra giữa những người cùng một tín ngưỡng Theo quan niệm của đạo Thiên Chúa cho rằng những người cùng đức tin sẽ

có sự hòa hợp trong đời sống hôn nhân hơn Các cuộc hôn nhân cùng một đức tin như nhau chiếm một tỉ lệ lớn [59]

Song điều đó không có nghĩa là không được lấy người ngoại đạo và cũng không được phép ép buộc những người khác theo đạo điều này đươc thể hiện

rõ ở các điều trong Bộ giáo luật: “Cả hai bên phải được giáo huấn về các mục đích và đặc tính cốt yếu của hôn phối, và không bên nào được loại bỏ các điều ấy Hội Ðồng Giám Mục có nhiệm vụ quy định cả về cách thức làm

tờ công bố và tuyên hứa mà luật đòi hỏi, lẫn về thể thức để những lời công bố

và tuyên hứa ấy được bảo đảm ở tòa ngoài, và được thông báo cho bên không công giáo" [51] Giáo Hội không bắt buộc ai vào đạo, trái lại còn ngăn cấm, không cho phép ai được ép buộc người khác theo đạo: "Mọi người có bổn phận phải tìm kiếm chân lý liên quan đến Thiên Chúa và Giáo Hội Một khi

đã biết được chân lý, họ có quyền lợi và bổn phận theo luật Chúa phải ôm ấp

và tuân theo Không ai được phép cưỡng bách người khác chấp nhận đức tin công giáo trái với lương tâm của họ" [51]

Trong tổng số 200 người được hỏi thì 167 người lấy vợ/chồng cùng tôn giáo chiếm tỉ lệ 83,5% Còn lại 33 người chiếm tỷ lệ 16,5% lấy vợ/chồng không cùng tôn giáo Trên thực tế những người kết hôn không cùng tôn giáo

sẽ như thế nào Kết quả khảo sát cho thấy trong số những người không theo đạo Thiên Chúa trước khi kết hôn cũng đã có trường hợp gặp sự phản đối từ

gia đình “Bố mẹ chị cho rằng lấy nhau không cùng tôn giáo sẽ gặp rất nhiều

Trang 40

khó khăn do sự khác biệt về niềm tin Ban đầu cũng gặp nhiều khó khăn lắm nhưng sau chị và chồng chị bây giờ cũng đã giải thích, thuyết phục gia đình chị” (PVS 2, nữ, 33 tuổi, Công nhân) Mặc dù gặp không ít sự cản trở từ hai

bên gia đình nhưng tất cả những người được hỏi đều thuyết phục được gia đình và kết hôn với người mình yêu Trong mẫu khảo sát của nghiên cứu tất

cả những trường hợp lấy vợ/chồng dù có cùng tôn giáo hay không cùng tôn giáo thì họ đều tham gia lớp Giáo lý hôn nhân trước khi tiến tới kết hôn với tỉ

lệ 100%

Đối với những người có người bạn đời tương lai theo đạo Thiên Chúa giáo thì tham gia lớp học Giáo lý hôn nhân có thể coi là điều tiên quyết trước khi hai người tiến tới hôn nhân Tham gia lớp học tiền hôn nhân chính là học hỏi giúp tìm hiểu ý Chúa về hôn nhân đã được mạc khải trong Kinh Thánh, trong luật tự nhiên và Giáo hội dạy Lớp học giúp mọi người chuẩn bị bước vào đời sống gia đình một cách chu đáo Hiểu được tầm quan trọng của việc học Giáo

lý hôn nhân họ cảm thấy thoải mái và hào hứng hơn đối với việc tham gia lớp học, đồng thời cũng đánh giá cao những điều được chỉ dạy trong đạo Thiên Chúa giáo

“Khi tham gia lớp học cả chị và chồng chị đều có thời gian bên cạnh nhau nhiều hơn Cùng ngồi nghe những điều Thầy dạy, cùng tìm hiểu xem cần phải chuẩn bị những gì trước khi kết hôn Sau khi kết hôn cuộc sống sẽ thay đổi như thế nào Nói chung vừa hào hứng, vừa lạ lẫm và cũng đầy bỡ ngỡ Quyết định theo Đạo của chồng nên chị cũng toàn tâm toàn ý, học rồi mới biết toàn những điều tốt, những điều thiện, thấy mình đối nhân xử thế nhẹ nhàng hơn rất nhiều” (PVS 7, nữ 27 tuổi, Nội trợ)

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh và Nguyễn Xuân Mai (2007) “Những biến đổi kinh tế xã hội của hộ gia đình”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những biến đổi kinh tế xã hội của hộ gia đình”
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
2. TrầnThị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng (2000), Phụ nữ, giới và phát triển, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ, giới và phát triển
Tác giả: TrầnThị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2000
3. TrầnThị Vân Anh và Nguyễn Hữu Minh(chủ biên) (2008), Bình đẳng giới ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình đẳng giới ở Việt Nam
Tác giả: TrầnThị Vân Anh và Nguyễn Hữu Minh(chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2008
4. Mai Huy Bích (2009), Một hình thái gia đình mới ở Thụy Điển và mấy vấn đề đặt ra cho xã hội học gia đình, Tạp chí Xã hội học (số 4), tr.94-105 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một hình thái gia đình mới ở Thụy Điển và mấy vấn đề đặt ra cho xã hội học gia đình
Tác giả: Mai Huy Bích
Năm: 2009
5. Th.S Nguyễn Thanh Bình (2012), “Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuổi kết hôn lần đầu ở Việt Nam hiện nay”, Nxb Đại học Sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuổi kết hôn lần đầu ở Việt Nam hiện nay”
Tác giả: Th.S Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2012
6. Trần Mạnh Cát (2004), Gia đình Nhật Bản, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình Nhật Bản
Tác giả: Trần Mạnh Cát
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
7. C.Mác và Ph. Ăngghen (1993), Toàn tập (Tập 23), Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật
Năm: 1993
8. Nguyễn Đức Chiện (2008), Chuyển đổi mẫu hình kết hôn của người Việt ở đồng bằng sông Hồng qua một số nghiên cứu xã hội học gần đây, Tạp chí nghiên cứu gia đình và giới, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển đổi mẫu hình kết hôn của người Việt ở đồng bằng sông Hồng qua một số nghiên cứu xã hội học gần đây
Tác giả: Nguyễn Đức Chiện
Năm: 2008
9. JM. Lam Thy Đinh Văn Diệm (2009), Giáo dục gia đình, Ủy ban đoàn kết Công giáo Hồ Chí Minh, Nguyệt san Công giáo và Dân tộc (số 1), tr.19- 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục gia đình, Ủy ban đoàn kết Công giáo Hồ Chí Minh
Tác giả: JM. Lam Thy Đinh Văn Diệm
Năm: 2009
10. Vũ Dũng (1996), Tâm lý học tôn giáo, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học tôn giáo
Tác giả: Vũ Dũng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996
12. Nguyễn Hồng Hà (2003), Một số nguyên nhân xung đột trong gia đình vợ chồng trẻ tại Hà Nội. (Luận văn thạc sĩ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nguyên nhân xung đột trong gia đình vợ chồng trẻ tại Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Hồng Hà
Năm: 2003
13. Nguyễn Hồng Hà (2012), Nếp sống gia đình ở khi đô thị mới (Nghiên cứu trường hợp khu chungcuw Trung Hòa – Nhân Chính), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp sống gia đình ở khi đô thị mới (Nghiên cứu trường hợp khu chungcuw Trung Hòa – Nhân Chính)
Tác giả: Nguyễn Hồng Hà
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2012
14. Nguyễn Việt Hà (2009), Mức độ hiểu biết về luật hôn nhân và gia đình của đối tượng tiền hôn nhân (Nghiên cứu trường hợp thành phố Hà Nội), (Luận văn thạc sĩ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mức độ hiểu biết về luật hôn nhân và gia đình của đối tượng tiền hôn nhân (Nghiên cứu trường hợp thành phố Hà Nội)
Tác giả: Nguyễn Việt Hà
Năm: 2009
15. Theresa Thu Hằng (2009), Giáo dục Kito giáo trong gia đình, Ủy ban đoàn kết Công giáo Hồ Chí Minh, Nguyệt san Công giáo và Dân tộc (số 1), tr.26-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Kito giáo trong gia đình
Tác giả: Theresa Thu Hằng
Năm: 2009
16. Lê Văn Hồng (2008),Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, Nxb Thế Giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
Tác giả: Lê Văn Hồng
Nhà XB: Nxb Thế Giới
Năm: 2008
17. Lê Ngọc Hùng(2002), Lịch sử và lý thuyết xã hội học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử và lý thuyết xã hội học
Tác giả: Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
18. Lê Ngọc Hùng, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, (2000), Xã hội học về giới và phát triển, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học về giới và phát triển
Tác giả: Lê Ngọc Hùng, Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2000
19. Hà Việt Hùng (2010), Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và biến đổi gia đình, Tạp chí Xã hội học (số 3), tr.40-46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và biến đổi gia đình
Tác giả: Hà Việt Hùng
Năm: 2010
21. Vũ Tuấn Huy và Deborah S.Carr, (2000), Phân công lao động nội trợ trong gia đình, Tạp chí Xã hội học, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân công lao động nội trợ trong gia đình
Tác giả: Vũ Tuấn Huy và Deborah S.Carr
Năm: 2000
22. GS,TS Đặng Cảnh Khanh và GS,TS Lê Thị Quý (2007), Gia đình học, Nxb Lý luận chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình học
Tác giả: GS,TS Đặng Cảnh Khanh và GS,TS Lê Thị Quý
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tuổi kết hôn trung bình lần đầu giai đoạn 1989-2009 - Tính bền vững trong hôn nhân của các gia đình Thiên Chúa giáo tại Hà Nội hiện nay (nghiên cứu trường hợp Giáo xứ Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội
Bảng 2.1 Tuổi kết hôn trung bình lần đầu giai đoạn 1989-2009 (Trang 32)
Bảng 2.4: Mức độ  thay  đổi về sự tham  gia của vợ chồng vào các công  việc gia đình so với trước năm 2003 (Đơn vị: %) - Tính bền vững trong hôn nhân của các gia đình Thiên Chúa giáo tại Hà Nội hiện nay (nghiên cứu trường hợp Giáo xứ Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội
Bảng 2.4 Mức độ thay đổi về sự tham gia của vợ chồng vào các công việc gia đình so với trước năm 2003 (Đơn vị: %) (Trang 43)
Bảng 2.5: Số con của các gia đình theo Thiên Chúa giáo ở giáo xứ Cổ  Nhuế - Tính bền vững trong hôn nhân của các gia đình Thiên Chúa giáo tại Hà Nội hiện nay (nghiên cứu trường hợp Giáo xứ Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội
Bảng 2.5 Số con của các gia đình theo Thiên Chúa giáo ở giáo xứ Cổ Nhuế (Trang 51)
Bảng 2.6 : Đánh giá của mức độ hữu ích việc hiểu đƣợc bổn phận trong  việc giáo dục con cái trong gia đình Thiên Chúa giáo ở giáo xứ Cổ Nhuế - Tính bền vững trong hôn nhân của các gia đình Thiên Chúa giáo tại Hà Nội hiện nay (nghiên cứu trường hợp Giáo xứ Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội
Bảng 2.6 Đánh giá của mức độ hữu ích việc hiểu đƣợc bổn phận trong việc giáo dục con cái trong gia đình Thiên Chúa giáo ở giáo xứ Cổ Nhuế (Trang 54)
Bảng 3.4: Mức độ hài lòng về các tiêu chí đối với người bạn đời - Tính bền vững trong hôn nhân của các gia đình Thiên Chúa giáo tại Hà Nội hiện nay (nghiên cứu trường hợp Giáo xứ Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội
Bảng 3.4 Mức độ hài lòng về các tiêu chí đối với người bạn đời (Trang 66)
Bảng 3.5: Đánh giá mức độ hài lòng sự phân công công việc trong gia  đình - Tính bền vững trong hôn nhân của các gia đình Thiên Chúa giáo tại Hà Nội hiện nay (nghiên cứu trường hợp Giáo xứ Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội
Bảng 3.5 Đánh giá mức độ hài lòng sự phân công công việc trong gia đình (Trang 69)
Bảng 3.7: Một số yếu tố nhân khẩu và mức độ hài lòng về con cái  Đặc điểm nhân khẩu  Điểm  trung  bình  mức  độ  hài  lòng - Tính bền vững trong hôn nhân của các gia đình Thiên Chúa giáo tại Hà Nội hiện nay (nghiên cứu trường hợp Giáo xứ Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội
Bảng 3.7 Một số yếu tố nhân khẩu và mức độ hài lòng về con cái Đặc điểm nhân khẩu Điểm trung bình mức độ hài lòng (Trang 73)
Bảng  3.8:  Một  số  yếu  tố  nhân  khẩu  và  sự  hài  lòng  về  gia  đình  bên  vợ/chồng và các mối quan hệ xã hội của gia đình Thiên Chúa giáo ở giáo  xứ Cổ Nhuế - Tính bền vững trong hôn nhân của các gia đình Thiên Chúa giáo tại Hà Nội hiện nay (nghiên cứu trường hợp Giáo xứ Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội
ng 3.8: Một số yếu tố nhân khẩu và sự hài lòng về gia đình bên vợ/chồng và các mối quan hệ xã hội của gia đình Thiên Chúa giáo ở giáo xứ Cổ Nhuế (Trang 75)
Bảng 3.9: Một số yếu tố nhân khẩu và sự hài lòng về đời sống tình dục  của các cặp vợ chồng ở giáo xứ Cổ Nhuế - Tính bền vững trong hôn nhân của các gia đình Thiên Chúa giáo tại Hà Nội hiện nay (nghiên cứu trường hợp Giáo xứ Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội
Bảng 3.9 Một số yếu tố nhân khẩu và sự hài lòng về đời sống tình dục của các cặp vợ chồng ở giáo xứ Cổ Nhuế (Trang 79)
Bảng 3.10: Nguyên nhân gây ra những bất đồng ý kiến trong gia đình  Thiên Chúa giáo ở giáo xứ Cổ Nhuế - Tính bền vững trong hôn nhân của các gia đình Thiên Chúa giáo tại Hà Nội hiện nay (nghiên cứu trường hợp Giáo xứ Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội
Bảng 3.10 Nguyên nhân gây ra những bất đồng ý kiến trong gia đình Thiên Chúa giáo ở giáo xứ Cổ Nhuế (Trang 84)
Bảng 3.11: Đánh giá của người trả lời về tính hữu ích của các nội dung  trong lớp học tiền hôn nhân - Tính bền vững trong hôn nhân của các gia đình Thiên Chúa giáo tại Hà Nội hiện nay (nghiên cứu trường hợp Giáo xứ Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội
Bảng 3.11 Đánh giá của người trả lời về tính hữu ích của các nội dung trong lớp học tiền hôn nhân (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm