Nghiên cứu này nhằm mục đích tìm hiều đời sống văn hóa tinh thần ở nông thôn đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh Đổi Mới, hiện đại hóa, đô thị hóa, đặc biệt là tìm hiểu sự tương đồng và k
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LƯƠNG THỊ THU TRANG
TÌM HIỂU VỀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN Ở NÔNG
THÔN ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ (Nghiên cứu trường hợp tại xã Vũ Đoài, huyện Vũ Thư, Tỉnh
Thái Bình)
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Giáo viên hướng dẫn: PGS TS VŨ MẠNH LỢI
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN 4
2.1 Ý nghĩa khoa học 4
2.2 Ý nghĩa thực tiễn 4
3 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 5
4 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 10
4.1 Mục đích nghiên cứu 10
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 11
5 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 11
6 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 11
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
7.1 Phương pháp luận 13
7.2 Phương pháp chọn mẫu: 14
7.3 Phương pháp thu thập thông tin 14
8 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, MẪU NGHIÊN CỨU 15
8.1 Đối tượng nghiên cứu 15
8.2 Khách thể nghiên cứu 15
8.3 Phạm vi nghiên cứu 15
8.4 Mẫu nghiên cứu 15
9 KHUNG LÝ THUYẾT 18
10 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN 19
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 20
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN 20
1.1.1 Chủ nghĩa Mác quan niệm về văn hóa, văn hóa tinh thần 20
1.1.2 Lý thuyết vốn – vốn văn hóa 21
1.2 CÁC KHÁI NIỆM CÔNG CỤ 21
1.2.1 Khái niệm “văn hóa” 21
1.2.2 Khái niệm về “đời sống văn hóa tinh thần” 23
1.2.3 Khái niệm “nghèo”, “nghèo tuyệt đối” và “nghèo tương đối” 25
CHƯƠNG 2: NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẶC ĐIỂM CÁ NHÂN VÀ ĐẶC ĐIỂM GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI DÂN Ở XÃ VŨ ĐOÀI, (HUYỆN VŨ THƯ, TỈNH THÁI BÌNH) 27
Trang 32.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA CỦA
ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 27
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 27
2.1.2 Tình hình kinh tế xã hội và văn hóa 28
2.2 NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẶC ĐIỂM CÁ NHÂN ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN 29
2.2.1 NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ TUỔI, GIỚI TÍNH VÀ TÔN GIÁO 29
2.2.1.1 Các hoạt động của đời sống văn hóa tinh thần 30
2.2.1.2 Các quan niệm của người dân về cuộc sống 45
2.2.1.3 Nhu cầu chia sẻ tinh thần 51
2.2.2 NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA HỌC VẤN và TÌNH TRẠNG HÔN NHÂN 55
2.2.2.1 Các hoạt động của đời sống văn hóa tinh thần 57
2.2.2.2 Các quan niệm của người dân về cuộc sống 59
2.2.3 NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA NGHỀ NGHIỆP và THU NHẬP 61
2.2.3.1 Các hoạt động của đời sống văn hóa tinh thần 65
2.2.3.2 Các quan niệm của người dân về cuộc sống 70
2.2.4 NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA KINH NGHIỆM DI CƯ 74
2.3 ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẶC ĐIỂM GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI DÂN 78
2.3.1Ảnh hưởng của loại hình gia đình và các điều kiện sống 79
2.3.2 Đặc điểm dòng họ 82
2.3.3 Ảnh hưởng của điều kiện kinh tế gia đình 84
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 91
Kết luận 91
Khuyến nghị 92
PHỤ LỤC 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.3: Mức độ xem phim truyền hình Việt Nam phân theo nhóm tuổi 33 Bảng 2.4: Mức độ xem các chương trình nghệ thuật truyền thống trên tivi
trong tuần
34
Bảng 2.11: Các độ tuổi đánh giá các nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn trong
Bảng 2.14: Độ tuổi và quan niệm về một gia đình được coi là giàu 50
Bảng 2.19: Những việc thường làm khi rảnh rỗi và trình độ học vấn 57
Bảng 2.21: Ảnh hưởng của trình độ học vấn và đánh giá kinh tế gia đình 60
Bảng 2.26: Tương quan giữa nghề nghiệp và tự đánh giá kinh tế gia đình 72 Bảng 2.27: Các nhóm nghề nghiệp và quan niệm về các nguyên nhân nảy
Trang 5Bảng 2.29: Ảnh hưởng của di cư và mức độ đọc báo trong tuần 76 Bảng 2.30: Ảnh hưởng của kinh nghiệm di cư và mức độ đi dự lễ hội 78
Bảng 2.34: Ảnh hưởng của thu nhập trung bình gia đình/tháng và đánh giá
một gia đình là giàu có
88
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Biểu 2.2: Tỷ lệ người quan tâm đến nội dung của thời sự quốc tế 32
Biểu 2.5: Những việc thường làm khi rảnh rỗi và tình trạng hôn nhân 58
Biểu 2.8: Những việc thường làm khi rảnh rỗi phân theo nhóm thu nhập 70 Biểu 2.9: Nhóm thu nhập và quan niệm về một người được coi là giàu 74
Biểu 2.11: Tương quan giữa kinh nghiệm di cư và mức độ đi chùa/nhà thờ trong tháng
77
Biểu 2.12: Kinh nghiệm di cư và cách đánh giá một người là giàu 78 Biểu 2.13: Tương quan giữa người đỗ đạt trong gia đình và đầu tư cho con cái học hành
Trang 6MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa đang diễn
ra hiện nay, nông thôn và gắn với nó là văn hóa nông thôn đang thay đổi nhanh chóng Cùng với việc mở rộng các đô thị hiện có và phát triển các đô thị mới, quá trình đô thị hóa diễn ra đến đâu thì đều có ảnh hưởng và làm biến đổi đời sống dân cư đến đấy Nhiều người bày tỏ sự lo ngại rằng văn hóa làng
xã sẽ bị tổn thương trong dòng chảy của đô thị hóa Có ý kiến cho rằng đô thị hóa sẽ thay đổi văn hóa làng xã; văn hóa đô thị, lối sống đô thị sẽ dần dần lấn
át văn hóa và lối sống nông thôn Đó là những lo ngại có căn cứ
Một trong những hệ lụy của các ảnh hưởng của đô thị hóa hiện nay đang diễn ra phổ biến ở các vùng nông thôn là tình trạng người chưa thành niên và thanh thiếu niên phạm tội ở các vùng nông thôn gia tăng, tính chất của tội phạm ngày càng phức tạp hơn Các tệ nạn xã hội tràn về nông thôn, phá vỡ những trật tự truyền thống đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân Mức độ rạn nứt trong quan hệ gia đình, hàng xóm láng giềng cũng tăng Khiếu nại về tranh chấp đất đai, tài sản trong gia đình và giữa hàng xóm với nhau ngày càng nhiều
Dưới ảnh hưởng của đô thị hóa, sự phân hóa giàu nghèo cũng diễn ra khá sâu sắc trong cộng đồng các làng ở vùng nông thôn Ở nông thôn không phải ai cũng có thể tận dụng tốt các cơ hội phát triển do Đổi Mới và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa mang lại Một bộ phận dân cư biết tận dụng các cơ hội này nên đã có nhiều thành công trong phát triển kinh tế gia đình Bộ phận dân cư khác vì nhiều lý do chủ quan và khách quan khác nhau còn gặp nhiều khó khăn trong đời sống kinh tế gia đình Song song với quá trình phân hóa giàu nghèo về kinh tế, tình trạng phân hóa giàu nghèo trong mức độ hưởng thụ các phúc lợi văn hóa xã hội cũng diễn ra mạnh mẽ không kém Việc tiếp thu và thích ứng với các loại hình văn hóa mới, hiện
Trang 7đại, và mức độ hòa nhập vào lối sống mới đang hình thành ở Việt Nam và trên thế giới cũng khác nhau giữa các nhóm có mức sống kinh tế khác nhau Cách ứng xử về văn hóa và thái độ đối với các giá trị văn hóa tinh thần của các nhóm có mức sống kinh tế khác nhau cũng rất khác nhau (thậm chí đôi khi không thể dung hòa lẫn nhau trong lối sống, cách hưởng thụ cuộc sống, phong cách sống, quan niệm sống…) Sự phân hóa giàu–nghèo với những tiêu chuẩn khác biệt về sự hưởng thụ tiện nghi, lợi ích vật chất và tinh thần sẽ dẫn đến việc thụ hưởng và tiếp nhận văn hóa khác biệt đáng kể giữa hai tầng lớp giàu - nghèo
Nghiên cứu này nhằm mục đích tìm hiều đời sống văn hóa tinh thần ở nông thôn đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh Đổi Mới, hiện đại hóa, đô thị hóa, đặc biệt là tìm hiểu sự tương đồng và khác biệt giữa nhóm dân cư có mức sống thấp và nhóm dân cư có mức sống cao trong việc thụ hưởng các sản phẩm văn hóa tinh thần, sự khác biệt về thái độ ứng xử đối với một số giá trị văn hóa tinh thần cơ bản
Do những hạn chế về nguồn lực cho nghiên cứu, bao gồm cả nguồn nhân lực, thời gian, và nguồn lực tài chính, (nghiên cứu chỉ do một người nghiên cứu chính tiến hành bằng nguồn lực cá nhân), nên nghiên cứu này sẽ
sử dụng hình thức nghiên cứu trường hợp, tìm hiểu sâu một trường hợp là một
xã ở đồng bằng sông Hồng nhằm qua đó có thể nói câu chuyện lớn hơn về giả thuyết đối với sự phân hóa xã hội trong đời sống văn hóa tinh thần đi kèm với
sự phân hóa giàu-nghèo về kinh tế trong quá trình hiện đại hóa, đô thị hóa ở nông thôn Việt Nam hiện nay Để phục vụ mục đích này, xã Vũ Đoài ở huyện
Vũ Thư tỉnh Thái Bình được chọn làm địa bàn nghiên cứu trường hợp Xã Vũ Đoài là một xã nông thôn có mức phát triển trung bình ở một tỉnh có trình độ phát triển trung bình của Đồng bằng sông Hồng
Thái Bình là một tỉnh ven biển ở đồng bằng sông Hồng, miền Bắc Việt
Nam Thành phố Thái Bình là trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa của tỉnh
Trang 8Thái Bình Cũng như những thành phố khác ở đồng bằng sông Hồng, trong thời gian qua Thái Bình có tốc độ đô thị hóa cao, kinh tế - xã hội phát triển nhanh Trong giai đoạn từ nay đến năm 2020, thành phố Thái Bình phấn đấu trở thành đô thị văn minh, giàu đẹp, kinh tế, văn hóa phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao, sớm đưa địa phương trở thành thành phố loại 2 ở vùng đồng bằng sông Hồng Cùng với quá trình
đô thị hóa, hiện đại hóa của cả nước nói chung, sự phát triển nhanh chóng của thành phố Thái Bình đã có ảnh hưởng nhất định đến vùng nông thôn của tỉnh
Xã Vũ Đoài thuộc huyện Vũ Thư, cách thành phố Thái Bình khoảng hơn 10km Theo số liệu của cuộc Tổng điều tra nông nghiệp, lâm nghiệp, và thủy sản năm 2006, Vũ Đoài có 1878 hộ gia đình, với số dân là 5765 người Theo số liệu mới nhất, tính đến tháng 12/2011, tổng số dân là 6.874 nhân khẩu, có 1.825 hộ phân bổ trên 11 thôn [Xem 5].* Tỷ lệ hộ trong diện nghèo tại thời điểm năm 2006 là 30% (tương đương 609 hộ), con số này đến năm
2009 đã giảm xuống còn khoảng 11,5% (khoảng 220 hộ) Người dân ở Vũ Đoài về cơ bản làm nông nghiệp, với 63,1% số hộ có thu nhập chính từ nông nghiệp và thủy sản, 10% từ công nghiệp và xây dựng, 7,4% từ dịch vụ, và khoảng 20% từ các nguồn khác (Tổng điều tra nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản 2006) Xuất phát từ đặc điểm của xã không có điều kiện thuận lợi để phát triển công nghiệp và dịch vụ, thương mại, không có chợ, ngành nghề tiểu thủ công nghiệp tự phát và manh mún, lãnh đạo xã đã xác định phát triển nông nghiệp là nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn 2010-2015 [Xem 5] Với các điều kiện về tình hình kinh tế, xã hội như trên, Vũ Đoài là xã phù hợp để nghiên cứu tác động của công nghiệp hóa, đô thị hóa đối với một xã nông nghiệp ở đồng bằng sông Hồng
* Từ đây và tiếp sau này chúng tôi qui ước: Trong ngoặc vuông, số thứ nhất (trước dấu phẩy) chỉ tên tài liệu trong danh mục tài liệu tham khảo, sau dấu phẩy, số thứ 2 – tập của tài liệu, số cuối cùng chỉ trang của tài liệu Trong quá trình trích dẫn, đôi khi có thể xuất hiện những chữ số La Mã (như I, II,…) sau dấu phẩy cũng chỉ tập của tài liệu trích Bên cạnh đó, trong ngoặc vuông khi trích dẫn các số liên tục liền nhau được ngăn cách bởi dấu chấm phẩy (;) đó là số thứ tự của các tài liệu tham khảo cùng được trích dẫn
Trang 92 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
2.1 Ý nghĩa khoa học
- Đề tài góp phần tìm hiểu và soi sáng thêm lý luận về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa-xã hội, công bằng xã hội trong hưởng thụ các thành quả kinh tế và văn hóa-xã hội, trong quá trình phát triển chung ở Việt Nam hiện nay
- Những nghiên cứu trước đây thường đề cập nhiều tới sự phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo dựa trên các yếu tố kinh tế, trong khi đề tài này đặt trọng tâm làm rõ hơn khái niệm phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo về mặt đời sống văn hóa tinh thần
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Hiểu được đời sống văn hóa tinh thần của các nhóm dân cư nông thôn
có mức sống khác nhau cũng như hiểu được quan niệm và nguyện vọng sống của họ sẽ giúp gợi ra những can thiệp chính sách có hiệu quả nhằm duy trì bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc và giúp người dân tiếp thu các giá trị văn minh chung của nhân loại, thích ứng tốt hơn với đời sống hiện đại, tránh được những xung đột giá trị không đáng có trong gia đình và cộng đồng Điều này đặc biệt có ý nghĩa thực tiễn khi Đảng và Nhà nước và toàn dân đang nỗ lực thúc đẩy phong trào xây dựng làng văn hóa, khu dân cư văn hóa, và gia đình văn hóa Nghiên cứu này chỉ là một nghiên cứu trường hợp quy mô nhỏ nên tính khái quát rộng của nó có thể rất hạn chế Song những điều đề tài này thảo luận có thể đóng góp làm cơ sở thực tế cho các giả thuyết nghiên cứu của các nghiên cứu quy mô lớn hơn về đề tài đời sống văn hóa tinh thần của người dân nông thôn Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm, tìm hiểu về đời sống văn hóa tinh thần và sự phân hóa trong các biểu hiện của nó ở các nhóm dân cư có mức sống khác nhau ở vùng nông thôn, đặc biệt là những nhà nghiên cứu khoa học xã hội, những nhà hoạt động
Trang 10thực tiễn, và những nhà hoạch định chính sách liên quan đến văn hóa và phát triển nông thôn
3 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Nông thôn và văn hóa vùng nông thôn là một trong những đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp nhất của các quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và quá trình đô thị hóa, vì vậy nó cũng là chủ đề của rất nhiều hội thảo, công trình nghiên cứu khoa học từ khi nước ta bắt đầu thời kỳ Đổi mới đến nay Các nhà nghiên cứu đã xem xét “nông thôn” và “văn hóa tinh thần” khu vực nông thôn dưới nhiều chiều cạnh khác nhau nhằm tìm ra những đặc điểm và những quy luật phát triển chung nhất của vùng nông thôn để phục vụ cho các công tác hoạch định chính sách và điều chỉnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa nói riêng, xã hội nói chung được hợp lý hơn Có thể kể đến một số các công trình nghiên cứu có liên quan tiêu biểu sau đây:
Trong cuốn “Văn hóa của nhóm người nghèo ở Việt Nam - Thực
trạng và giải pháp” [Xem 13] do TS Lương Hồng Quang chủ biên (Nxb
Văn hóa – Thông tin, 2001), các tác giả cho rằng nghèo và văn hóa của nhóm nghèo là những chủ đề nghiên cứu có tính lý luận và thực tiễn trong giai đoạn hiện nay Dựa trên các thành tựu nghiên cứu về thực trạng nghèo của Việt Nam và một số nước trên thế giới, nhóm tác giả đã đưa ra một định hướng nghiên cứu mới, khi cho rằng nghèo không chỉ là sự thiếu hụt các khả năng gia nhập đời sống xã hội, thiếu hụt các nguồn lực và điều kiện sống mà còn là
hệ quả của một kiểu loại văn hóa - văn hóa của sự khốn cùng Là hệ quả của những thiếu hụt về mặt kinh tế, đến lượt nó, các hệ thống giá trị, chuẩn mực, khuôn mẫu văn hóa của nhóm nghèo qui định lại khả năng hòa nhập xã hội của nhóm nghèo
Cuốn “Văn hóa trong quá trình đô thị hóa ở nước ta hiện nay”
[Xem 18] do GS Trần Văn Bính chủ biên (Nxb Chính trị quốc gia, 1997) tập
trung nghiên cứu mối quan hệ giữa văn hóa và quá trình phát triển đô thị hóa
Trang 11ở nước ta trên cơ sở phân tích và khái quát thực trạng tình hình kinh tế xã hội
và văn hóa ở nước ta hiện nay Tác giả đã đánh giá vai trò của nhân tố văn
hóa trong quá trình đô thị hóa, xác định cơ cấu, cơ chế mà qua đó văn hóa tác
động tới quá trình này và tác động trở lại của đô thị hóa tới văn hóa Tác giả
cũng phân tích những đặc điểm chung và tính đặc thù trong việc đưa nhân tố
văn hóa vào quá trình đô thị hóa của nước ta
Với đề tài “Đời sống văn hóa tinh thần ở nông thôn Hà Nam hiện
nay” [Xem 12] là luận án chuyên ngành Triết học (2008), tác giả Lê Thành
Hưng đã làm rõ các khái niệm về văn hoá, đời sống văn hoá tinh thần, vai trò
của văn hoá tinh thần trong đời sống xã hội Việt Nam Tác giả cũng đi sâu
phân tích thực trạng đời sống văn hoá tinh thần ở nông thôn Hà Nam hiện nay
thông qua việc tìm hiểu những truyền thống lịch sử văn hoá Hà Nam; những
giá trị tích cực và những biểu hiện tiêu cực trong đời sống văn hoá tinh thần ở
nông thôn Hà Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển
văn hoá tinh thần ở nông thôn Hà Nam trong thời kỳ đổi mới
Liên quan đến phạm trù “văn hóa tinh thần”, tác giả Nguyễn Trần Bạt
có bài “Khái niệm và bản chất của văn hóa” [Xem 16] Theo Nguyễn Trần
Bạt, “cách phân chia văn hóa thành hai lĩnh vực: văn hóa vật chất và văn hóa
tinh thần là không thật hợp lý và thấu đáo Nó phản ánh lối tư duy lưỡng phân
điển hình, ảnh hưởng của những định kiến về tư tưởng cần phải xoá bỏ” Tuy
nhiên, ông cũng khẳng định rằng, thật khó, và ngày càng khó phân biệt rạch
ròi đâu là sản phẩm vật chất, đâu là sản phẩm tinh thần Mặt khác, không có
sản phẩm tinh thần nào lại không được thể hiện dưới một hình thức vật chất
nhất định và cũng như không có một sản phẩm vật chất nào lại không mang
trong nó những giá trị tinh thần Hiểu được mối liên hệ mật thiết không thể
tách rời của những giá trị văn hóa tinh thần và vật chất là điều vô cùng quan
trọng Và ông khẳng định: “Vật chất chỉ là phương tiện để thể hiện những giá
trị tinh thần trong đời sống văn hóa mà thôi.”
Field Code Changed
Trang 12Bài viết “Quan tâm đời sống văn hóa, tinh thần của thanh niên nông
thôn” [Xem 20] nêu lên một thực trạng đó là đời sống văn hóa, tinh thần của
thanh niên nông thôn vẫn chưa được quan tâm đúng mức Tại nhiều nơi, ngoài thời gian lao động trên đồng ruộng, vào buổi tối, thanh niên nông thôn chỉ biết ngồi xem ti-vi hoặc tụ tập đánh bài, tán gẫu, nói chuyện phiếm Do đời sống văn hóa, tinh thần của thanh niên nông thôn khá nghèo nàn, đơn điệu, đã ảnh hưởng không nhỏ tới sự hình thành và phát triển nhân cách, cũng như lối sống của lớp trẻ ở nông thôn Thực tế cho thấy, tỷ lệ thanh niên nông thôn mắc tệ nạn xã hội, như cờ bạc, rượu chè, ma túy hoặc ham mê trò chơi điện tử có chiều hướng tăng Kéo theo đó là những ảnh hưởng về sức khỏe, tâm lý và nhân cách… Do vậy, việc chăm lo đời sống văn hóa, tinh thần của lớp trẻ ở nông thôn cần được chính quyền, đoàn thể các cấp quan tâm hơn nữa Đoàn thanh niên các địa phương cần tạo thêm nhiều "sân chơi" bổ ích dành cho lớp trẻ Cần phát triển mạnh mẽ phong trào văn hóa, thể thao quần chúng nhằm thu hút đông đảo thanh niên ở nông thôn tham gia
Trong bài “Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, góp phần xây dựng
đời sống văn hóa nông thôn mới” [Xem 8] của tác giả Đỗ Văn Hạnh (Phó
Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hòa Bình) tác giả nêu lên hai mặt cơ bản của đời sống văn hóa nông thôn mới cần quan tâm đó là: Xây dựng cơ sở vật chất và nâng cao đời sống văn hóa tinh thần Tác giả cũng thống kê hàng loạt các kết quả đạt được của tỉnh Hòa Bình trong công cuộc xây dựng văn hóa nông thôn mới như “nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, về cơ bản thực hiện tốt, dần dần hình thành tổ chức đám cưới theo nếp sống mới và theo quy ước, hương ước Công tác quản lý và tổ chức lễ hội
có nhiều chuyển biến tích cực Hàng chục lễ hội truyền thống được tổ chức hàng năm đã đảm bảo đúng nghi lễ, hình thức phù hợp, phát huy được các giá trị đạo lý văn hóa truyền thống, khôi phục phát triển nhiều trò diễn dân gian kết hợp với các hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao ” Bên cạnh
Trang 13các thành tựu đã đạt được, tác giả cũng nêu lên một số hạn chế như mức hưởng thụ đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, nhất là khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa còn chênh lệch với khu vực đô thị, vẫn còn một số hủ tục dị đoan đốt vàng mã, v.v… tràn lan ở một số lễ hội đã ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục và đời sống tinh thần của nhân dân Tác giả cũng nêu ra một số phương hướng phát triển cho phong trào xây dựng đời sống văn hóa mới của Hòa Bình như: “cần tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” cho phù hợp với thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Tăng cường quản lý nhà nước, thực hiện tốt vệ sinh môi trường, tổ chức tốt các hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao hướng về cơ sở, phát triển đa dạng các loại hình câu lạc bộ nhằm nâng cao đời sống tinh thần cho các tầng lớp nhân dân…”
Bàn về “Nhu cầu văn hóa”, tác giả Hà Nhi có bài “Vài nét về văn hóa
nông thôn hiện nay” [Xem 9] Tác giả cho rằng: nhu cầu văn hóa là một vấn
đề quan trọng trong đời sống tinh thần của con người nói chung, của người nông dân nói riêng Sự hiểu biết về nhu cầu văn hóa của người nông dân là hết sức khác nhau, phụ thuộc vào vị trí, điều kiện xã hội, giới tính nghề nghiệp, tuổi tác, thậm chí cả sở thích của từng cá thể Quan điểm chung của người nông dân về nhu cầu văn hóa là: coi mọi nhu cầu của con người trong
xã hội, kể cả nhu cầu kinh tế đều thuộc phạm trù nhu cầu văn hóa và việc thỏa mãn những nhu cầu xã hội cũng chính là thỏa mãn nhu cầu văn hóa Trong hệ thống nhu cầu ấy, không thể đáp ứng như nhau toàn bộ những nhu cầu của con người bởi có nhu cầu hợp lý và nhu cầu bất hợp lý; có nhu cầu nổi trội, cấp thiết và có những nhu cầu chưa thực sự cần thiết đối với người nông dân trong bối cảnh hiện nay hoặc tương lai Vì thế, việc tìm hiểu kỹ, phân loại và định hướng nhu cầu văn hóa của người nông dân là vấn đề hết sức cần thiết Không đề ra được một hệ thống tiêu chí phân loại nhu cầu của cộng đồng, gia đình, người dân, cá nhân ở nông thôn… thì rất dễ sa vào việc đáp ứng tràn lan
Trang 14mọi nhu cầu khi nó xuất hiện và không đạt được hiệu quả cao về văn hóa xã hội cũng như phát triển kinh tế
Tác giả Bùi Thiết có bài “Hưởng thụ văn hóa chênh lệch giữa nông
thôn – thành thị” [Xem 2] Theo tác giả, nhìn từ góc độ văn hóa, chúng ta sẽ
thấy một bức tranh “phản cảm” mà khi soi rọi vào đó các mảng màu văn hóa nông thôn hiện lên không mấy lạc quan và sáng sủa Cũng theo tác giả, sự thụ hưởng văn hóa của dân cư nông thôn không chỉ là có ngôi nhà để ở, có cơm
để ăn mà là việc họ không được thụ hưởng văn hóa một cách công bằng như dân cư thành thị Sự hưởng thụ những giá trị văn hóa được gọi là những tiến
bộ của khoa học kỹ thuật của cư dân nông nghiệp rõ ràng là thấp kém hơn so với dân cư thị thành Bên cạnh đó, mặt trái của các phương tiện hiện đại đó tìm được thị trường béo bở ở dân cư nông thôn chủ yếu là ở lứa tuổi vị thành niên và thanh niên, trung niên Dân cư nông nghiệp – nông thôn không những không được hưởng thụ một cách công bằng mọi giá trị văn hóa do họ và cộng đồng sáng tạo ra, họ thua thiệt đủ thứ, và hơn thế nữa họ lại bị sức ép từ phía các giá trị văn hóa được sáng tạo ra bởi khoa học và công nghệ hiện đại Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn trước mắt và lâu dài không chỉ
là việc cư dân nông thôn phải làm gì, nông nghiệp phát triển đến đâu, mà còn
là việc nâng cao không ngừng trình độ thụ hưởng văn hóa một cách đầy đủ - công bằng - tiện lợi cho dân cư nông thôn
Tác giả Minh Sơn có bài viết “Gắn xây dựng nông thôn mới với việc
giải quyết những bức xúc đang đặt ra” [Xem 15] Tác giả nêu lên những
vấn đề bức xúc đang xuất hiện ở các khu vực nông thôn của Việt Nam, trong
đó, văn hóa tinh thần ở nông thôn là một vấn đề bức xúc đang gây lo lắng cho những người quan tâm tới đời sống văn hóa, tinh thần ở nông thôn Tác giả nêu lên các vấn đề nổi cộm trong đời sống văn hóa tinh thần ở nông thôn hiện nay đó là tình trạng thất học, tệ nạn xã hội ngày càng có xu hướng lan rộng ở làng quê từ miền xuôi lên miền ngược Một nỗi lo lắng, nhức nhối khác cũng
Trang 15khá nghiêm trọng và rõ nét là môi trường nông thôn đang bị ô nhiễm nặng nề Bên cạnh đó, tồn tại một vấn nạn làm không ít người băn khoăn, lo lắng là các
tệ mê tín dị đoan, buôn thần, bán thánh, lừa bịp tâm linh và các sinh hoạt phản văn hóa khác lại tràn lan và hoạt động công khai ở nông thôn hiện nay Tác giả đề xuất một số giải pháp cho các vấn đề đang gây bức xúc ở nông thôn, trong đó có vấn đề về đời sống văn hóa tinh thần như: Xây dựng cơ sở hạ tầng
ở nông thôn khang trang hơn Điều chỉnh, bổ sung các chính sách sao cho sát sao hơn Theo tác giả, trong quá trình thực hiện triển khai cuộc vận động xây dựng nông thôn mới, vai trò người nông dân cần được đề cao và tôn vinh để người nông dân khẳng định vị thế về kinh tế - chính trị của họ, để họ thực sự
là chủ thể của công cuộc xây dựng nông thôn mới trong tiến trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế
Trên đây là một số các công trình nghiên cứu tiêu biểu trong rất nhiều các bài nghiên cứu, các tham luận hội thảo, các bài báo, tạp chí chuyên ngành xoay xung quanh vấn đề nông thôn, văn hóa tinh thần khu vực nông thôn và đều là những tài liệu tham khảo quý báu, cung cấp những thôn tin hữu ích cho
người thực hiện đề tài Nghiên cứu Tìm hiểu về đời sống văn hóa tinh thần ở
nông thôn đồng bằng Bắc bộ, nghiên cứu trường hợp tại xã Vũ Đoài, huyện
Vũ Thư, tỉnh Thái Bình là một nỗ lực tiếp theo nhằm làm rõ những đổi mới về
văn hóa tinh thần của người dân nông thôn đồng bằng Bắc bộ trong bối cảnh
công nghiệp hóa, đô thị hóa đang gia tăng
4 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
4.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở những thông tin thu được từ cuộc khảo sát đời sống văn hóa tinh thần của người dân xã Vũ Đoài, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, phân tích một cách có hệ thống các đặc điểm sống, cách hưởng thụ các hoạt động văn hóa tinh thần, cách ửng xử với xã hội và sự biến đổi tâm lý của họ trước những ảnh hưởng của quá trình công nghiệp hóa-đô thị hóa đang diễn ra hiện
Trang 16nay để có cái nhìn tổng quan hơn về những khác biệt của đời sống văn hóa tinh thần trong hai nhóm giàu và nghèo ở nông thôn đồng bằng Bắc bộ hiện nay như thế nào
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thao tác hóa các khái niệm, làm rõ các yếu tố trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân vùng nông thôn
- Khảo sát thực nghiệm đời sống văn hóa tinh thần của người dân ở địa bàn được chọn nghiên cứu trường hợp
- Phân tích một cách có hệ thống các kết quả khảo sát thu được
- Tổng hợp, luận giải các vấn đề đặt ra từ việc nghiên cứu về đời sống văn hóa tinh thần của người dân ở địa bàn nghiên cứu trường hợp nói riêng, người dân ở nông thôn đồng bằng bắc bộ nói chung
5 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Liệu những người có mức sống khác nhau trong cộng đồng ở nông thôn đồng bằng sông Hồng có các khuôn mẫu ứng xử khác nhau về văn hóa tinh thần hay không?
- Nếu có, sự khác nhau đó thể hiện như thế nào?
- Mức độ mà theo đó các điều kiện kinh tế và quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa ảnh hưởng đến sự ứng xử văn hóa của họ là như thế nào?
6 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Tên đề tài và những thảo luận nêu trên dựa trên một giả thuyết chung quan trọng nhất, và cũng là luận điểm cơ bản nhất của Chủ nghĩa Mác, là các điều kiện kinh tế có tác động quyết định đến các khuôn mẫu ứng xử về văn hóa tinh thần Áp dụng vào đề tài này, những người sống trong hộ gia đình có mức sống cao thường có những ứng xử văn hóa tinh thần khác với những người sống trong hộ gia đình có mức sống thấp Sự phân hóa giàu-nghèo ở nông thôn đồng bằng sông Hồng là hiện tượng mới nảy sinh trong thời kỳ Đổi Mới (trong thời bao cấp sự phân hóa này rất nhỏ, có thể nói không đáng kể) đi
Trang 17kèm với quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa, hội nhập toàn cầu Những người thành công về kinh tế thường là những người có khả năng thích ứng tốt với quá trình thay đổi này hơn là người nghèo Những nghiên cứu gần đây cũng cho thấy những người thành công về kinh tế hơn cũng thường là những người
có vốn xã hội, vốn văn hóa phong phú (Luận án Tiến Sĩ của Khúc Thị Thanh
Vân 2012, “Vai trò của vốn xã hội trong phát triển kinh tế hộ ở nông thôn
đồng bằng sông Hồng hiện nay – Nghiên cứu trường hợp tại Nam Định và Bắc Ninh”) Một giả thuyết chung khác của đề tài là những người có mức
sống cao thường có xu hướng có khuôn mẫu văn hóa tinh thần có tính hiện đại hơn, và gần với các giá trị văn hóa của xã hội phát triển về kinh tế hơn so với những người có mức sống thấp là những người có nhiều gắn bó hơn với các khuôn mẫu văn hóa tinh thần truyền thống
Giả thuyết này làm định hướng cho quá trình nghiên cứu, phân tích tài liệu hiện có, thu thập thông tin, phân tích và xử lý số liệu, và viết luận văn Trên thực tế không có giả thuyết nào tuyệt đối đúng trong mọi tình huống Thời gian gần đây trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng người ta có nói tới mối lo ngại khi mức sống được nâng cao thì nhiều người lại quay lại các phong tục tập quán cổ truyền hơn như xem bói, đi chùa cầu phước, xem tử vi, v.v là những điều trái ngược với giả thuyết nêu trên của tác giả về hướng tác động của điều kiện kinh tế đến các giá trị văn hóa tinh thần Tác giả cũng sẽ tìm hiểu khía cạnh này trong nghiên cứu này
Do nghiên cứu chỉ được tiến hành ở một xã (nghiên cứu trường hợp) nên tác động của cộng đồng đến hành vi cá nhân là như nhau cho cả nhóm giàu và nhóm nghèo (là hằng số) vì họ cùng ở trong xã đó Do đó, khung phân tích và các giả thuyết chỉ tập trung vào tác động của các đặc điểm cá nhân và gia đình đến ứng xử văn hóa của người được nghiên cứu Dưới đây là một số luận điểm chi tiết hơn của giả thuyết:
Trang 18- Đặc điểm cá nhân và đặc điểm gia đình là điều kiện trực tiếp tạo ra sự khác biệt về đời sống văn hóa tinh thần giữa hai nhóm giàu nghèo khu vực nông thôn khi biến động xã hội của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tác động đến
- Những người có học vấn cao, làm nghề phi nông nghiệp, có kinh nghiệm di cư (đã từng sống và làm việc ở các khu đô thị), có điều kiện tiếp cận với nhiều nguồn thông tin và những người thuộc lớp trẻ hơn, thường có
xu hướng cởi mở hơn đối với các giá trị văn hóa tinh thần hiện đại (như quan
hệ gia đình dân chủ hơn, bình đẳng hơn, sử dụng thời gian nhàn rỗi với nhiều hình thức đa dạng hơn, ưa thích cái mới, mang tính khoa học và công nghệ hơn, năng động và sáng tạo hơn trong cách nhìn đối với hoạt động kinh tế, ít tính gia trưởng hơn, có cách nhìn vị tha hơn, cởi mở hơn đối với các hiện tượng mới, chẳng hạn như tình dục trước hôn nhân của thanh niên, vấn đề li
dị, v.v )
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1 Phương pháp luận
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là cơ sở
phương pháp luận của toàn bộ quá trình nghiên cứu Nguyên tắc lịch sử cụ thể, khách quan, toàn diện luôn được vận dụng và tuân thủ một cách chặt chẽ trong suốt quá trình nghiên cứu Quan điểm Mác-xít chỉ ra rằng để hiểu đời sống văn hóa, tinh thần của người dân cần xuất phát từ sự phân tích các điều kiện vật chất, sản xuất, đời sống của người dân trong thời gian và không gian
cụ thể, những yếu tố là điều kiện vật chất giúp định hình thế giới quan, niềm tin, tâm thế, thái độ, và các nhu cầu đối với đời sống văn hóa, tinh thần Lý thuyết vốn – vốn văn hóa cũng được sử dụng để tìm hiểu các khía cạnh của đời sống văn hóa tinh thần của người dân ở Vũ Đoài Theo lý thuyết này, ngoài vốn kinh tế, mối quan hệ xã hội rộng rãi của con người trong gia đình, cộng đồng, và xã hội cùng với các giá trị văn hóa gắn với các mối quan hệ
Trang 19này góp phần quy định thái độ, tâm thế, động cơ và hành động của con người liên quan đến những gì được cho là đáng mong muốn hoặc không đáng mong muốn, tốt hay không tốt Vốn xã hội (mạng lưới xã hội) và vốn văn hóa (các giá trị văn hóa gắn với mạng lưới xã hội) đặc biệt có ảnh hưởng đến đời sống văn hóa tinh thần của con người Nghiên cứu này có mục đích chỉ ra những điểm tương đồng hay khác biệt của người dân trong các sở thích, nhu cầu, cách hưởng thụ các sản phẩm của đời sống văn hóa tinh thần của người dân
Vũ Đoài nói riêng, qua đó góp phần hiểu thêm người dân nông thôn đồng bằng bắc bộ nói chung, dưới ảnh hưởng của những đặc điểm cá nhân, gia đình, và quan hệ xã hội của họ
7.3 Phương pháp thu thập thông tin
- Phỏng vấn bằng bảng hỏi: Theo phương pháp này, người được
phỏng vấn sẽ trả lời các câu hỏi theo một bảng hỏi đã được thiết kế sẵn Nguồn thông tin thu thập được là toàn bộ các phương án trả lời đã được mã hóa từ các câu hỏi trong bảng hỏi
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Tác giả luận văn đã tiến hành 12 cuộc
phỏng vấn sâu, bao gồm: 02 cán bộ xã; 05 người dân thuộc “nhóm nghèo” và
05 người dân đại diện cho “nhóm giàu” của xã Vũ Đoài để thu thập cụ thể và
chi tiết hơn những thông tin liên quan đến những vấn đề mà nghiên cứu quan
Trang 20tâm Những thông tin thu được từ phương pháp này được sử dụng trực tiếp trong quá trình phân tích
- Phương pháp phân tích tài liệu: Đề tài đã tham khảo một số đề tài
khoa học, luận văn, luận án, sách báo, các công trình đã được công bố … có liên quan đến đời sống tinh thần của người dân ở nông thôn để có cái nhìn tổng quan hơn về đời sống văn hóa tinh thần của cư dân nông thôn đồng bằng Bắc bộ nói chung, dân cư Vũ Đoài nói riêng Ngoài ra tác giả luận văn còn sử dụng những thông tin thu được từ sách báo, các văn kiện của Đảng, các báo cáo của Đảng ủy xã Vũ Đoài và các tư liệu khác
- Phương pháp quan sát: Tác giả luận văn đã tiến hành quan sát đời
sống sinh hoạt hàng ngày, môi trường sống của người dân, khung cảnh Vũ Đoài nói chung để có cái nhìn tổng quan về đời sống tinh thần của người dân
Vũ Đoài
- Phương pháp xử lý thông tin bằng chương trình SPSS 13.0: Đề tài
sử dụng phầm mềm SPSS 13.0 để tính tần suất và một số tương quan của nguồn thông tin thu được từ bảng hỏi định lượng
8 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, MẪU NGHIÊN CỨU
8.1 Đối tượng nghiên cứu: Đời sống văn hóa tinh thần của hai nhóm người
giàu và người nghèo vùng nông thôn đồng bằng Bắc bộ
8.2 Khách thể nghiên cứu: Hai nhóm dân cư: nhóm giàu và nhóm nghèo ở
khu vực nông thôn trong độ tuổi từ 30-50
8.3 Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Cuộc nghiên cứu thực hiện tại xã Vũ Đoài, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình
- Thời gian nghiên cứu tại thực địa: Tháng 6/2011 đến tháng 9/2011
8.4 Mẫu nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, do tác giả chỉ thực hiện được với một cỡ mẫu nghiên cứu tương đối nhỏ nên tác giả chỉ tập trung phân tích đời sống văn hóa
Trang 21tinh thần của nhóm dân cư trung niên, những người trong độ tuổi từ 30-50, thường là những cặp vợ chồng có con đang trong độ tuổi đi học Nhóm dân cư này đang ở giai đoạn giữa trong chu trình sống của gia đình họ, có vai trò vô cùng quan trọng đối với việc giáo dục con cái, định hình tương lai của thế hệ trẻ, và là nhóm có vai trò rất quan trọng trong việc tái tạo, sáng tạo, và duy trì các giá trị văn hóa trong cuộc sống văn hóa tinh thần hàng ngày Đồng thời,
họ cũng là nhóm dân cư có vai trò quan trọng trong việc chăm sóc người cao tuổi trong gia đình mình
Dựa trên thông tin về mức sống thu thập từ các thống kê sẵn có tại địa phương và dựa trên thông tin thu thập thông qua sử dụng bảng hỏi điều tra định lượng, tác giả sẽ phân các hộ dân trong mẫu thành nhóm có mức sống trên trung bình và nhóm có mức sống từ trung bình trở xuống để so sánh các biểu hiệu của đời sống văn hóa tinh thần của họ trong gia đình và trong cộng đồng Để cho tiện trong thảo luận và trình bày, nhóm có mức sống trên trung bình sẽ được gọi là “nhóm giàu” và nhóm còn lại là “nhóm nghèo” “Nghèo” theo nghĩa này sẽ bao gồm cả người nghèo theo chuẩn quốc gia và những người trong cộng đồng địa phương có mức sống từ trung bình trở xuống
Sở dĩ tác giả không sử dụng chuẩn “nghèo” quốc gia vì người nghèo theo chuẩn quốc gia ở khu vực nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng không nhiều, thường là những hộ có hoàn cảnh đặc biệt (người già neo đơn, phụ nữ đơn thân, gia đình có người bệnh nặng kéo dài, người tàn tật, v.v ) và họ thường sống phân tán khắp các thôn trong địa bàn xã nên họ khó có thể tạo thành một khuôn mẫu ứng xử về văn hóa tinh thần mang tính tập thể được Trong khi đó trọng tâm của nghiên cứu không nhằm mục đích xóa đói giảm nghèo (mục đích kinh tế), mà chỉ nhằm trả lời câu hỏi nghiên cứu là liệu những người có mức sống khác nhau trong cộng đồng ở nông thôn đồng bằng sông Hồng có các khuôn mẫu ứng xử về văn hóa tinh thần khác nhau hay không? Nếu có, sự khác nhau đó là gì và mức độ mà theo đó các điều kiện
Trang 22kinh tế và quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa ảnh hưởng đến các ứng xử văn hóa của họ là như thế nào? Nói cách khác, giàu-nghèo trong nghiên cứu này được xem như một căn cứ về đời sống vật chất, về mức sống hơn là dựa vào căn cứ này luận văn khảo sát sự biến động của đời sống văn hóa tinh thần khi quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tác động
Trang 239 KHUNG LÝ THUYẾT
Dựa vào những khung lý thuyết đã có trong nghiên cứu xã hội học nông thôn, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên hướng dẫn, luận văn này chọn khung lý thuyết sau đây để triển khai các thao tác nghiên cứu và phân tích:
Tác động của đô thị hóa trong quá trình Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa
Nông thôn
Nông nghiệp Nông dân
- số người trong gia đình (giới tính, tuổi…)
- tài sản chung của gia đình
- đặc điểm dòng họ
Đời sống văn hóa tinh thần nhóm giàu và nhóm nghèo
- cách sử dụng thời gian rảnh rỗi (thời gian ngoài kinh tế)
- các sở thích hưởng thụ các sản phẩm văn hóa (nghe đài,
xem tivi, đọc sách báo…)
- các ước vọng (về cuộc sống, gia đình, tương lai …)
- quan niệm của hai nhóm (về giàu-nghèo, cách làm kinh
tế, về văn hóa-xã hội…)
- nhu cầu của hai nhóm (nhu cầu vật chất và tinh thần)
Trang 2410 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Kết cấu của luận văn gồm có phần mở đầu, 2 chương, kết luận và khuyến nghị:
- Mở đầu: Tính cấp thiết của đề tài, ý nghĩa thực tiễn, ý nghĩa khoa
học, đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu của đề tài Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết (Từ trang 1 - trang 18)
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài (Từ trang 20 – trang
26)
- Chương 2: Những ảnh hưởng của đặc điểm cá nhân và đặc điểm gia
đình đối với đời sống văn hóa tinh thần của người dân ở xã vũ đoài, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình (Từ trang 27- trang 90)
- Kết luận và khuyến nghị (Từ trang 91 - trang 93)
Trang 25CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN
1.1.1 Chủ nghĩa Mác-Lenin quan niệm về văn hóa, văn hóa tinh thần
Theo quan niệm của Chủ nghĩa Mác-Lenin, văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra bằng lao động và hoạt động thực tiễn trong quá trình lịch sử của mình Văn hóa là biểu hiện trình độ phát triển xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định Khi nghiên cứu quy luật phát triển của xã hội loài người, chủ nghĩa Mác-Lênin đã khái quát các loại hình hoạt động của xã hội thành hai hoạt động cơ bản là “sản xuất vật chất”
và “sản xuất tinh thần” Với ý nghĩa như vậy, theo nghĩa rộng, văn hóa bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần: Văn hóa vật chất là năng lực sáng tạo của con người được thể hiện và kết tinh trong sản phẩm vật chất Theo nghĩa hẹp, văn hoá được hiểu chủ yếu là văn hoá tinh thần [Xem 23] Cũng theo quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lenin, văn hóa tinh thần là tổng thể các tư tưởng, lý luận và giá trị được sáng tạo ra trong đời sống tinh thần và hoạt động tinh thần của con người; chúng được biểu thị chủ yếu dưới dạng các hiện tượng tinh thần và các giá trị tinh thần Như vậy, nói tới văn hoá là nói tới con người, tới việc phát huy những năng lực thuộc bản chất của con người nhằm hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội
Quan điểm của chủ nghĩa Mác cho rằng “tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội” Theo quan điểm này, tồn tại xã hội như thế nào sẽ quyết định ý thức xã hội như thế, mặc dù ý thức xã hội có thể tác động ngược trở lại tồn tại
xã hội Cũng có thể hiểu rằng, các điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất kỹ thuật ảnh hưởng rất lớn và quyết định tới đời sống văn hóa, tinh thần của người dân Đề tài sẽ vận dụng quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lenin để tìm hiểu các điều kiện về cơ sở vật chất, kinh tế,…ảnh hưởng như thế nào đến văn hoá của người dân Vũ Đoài trong lĩnh vực tư tưởng, tinh thần và tìm hiểu xem văn
Trang 26hóa tinh thần đã ảnh hưởng như thế nào đến sự thành công của mỗi cá nhân cũng nhưng cách nhìn nhận, đánh giá của cá nhân trước mỗi sự kiện, sự biến động xã hội
1.1.2 Lý thuyết vốn – Vốn văn hóa
Theo Bourdieu (trích theo Khúc Thị Thanh Vân [Xem 24]), tính cơ động của mỗi cá nhân bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố, trong đó hoàn cảnh gia đình có tác động rất quan trọng đến cơ hội thành công của cá nhân Sự kết hợp 3 yếu tố của hoàn cảnh gia đình (bao gồm thu nhập của cha mẹ, học vấn,
và nghề nghiệp) có thể tạo ra “vốn văn hóa” cho con cái của các gia đình
trung lưu và thượng lưu Cũng theo Bourdieu, “vốn văn hóa” bao gồm kỹ
năng đọc viết, cơ sở tri thức, và cách nghĩ giúp con người vươn lên phía trước trong xã hội
Vốn văn hóa góp phần tích lũy các thuận lợi, ít nhất là từ góc độ phân tầng xã hội Như một số nhà xã hội học phân tích, con cái có nghề nghiệp trong một giai cấp xã hội tương tự như của bố mẹ bởi vì giai cấp xã hội của gia đình và thu nhập quyết định kỳ vọng và cơ hội của con cái
Lý thuyết vốn văn hóa được đề tài vận dụng để lý giải những ảnh hưởng của hoàn cảnh gia đình (nghề nghiệp, học vấn, và thu nhập) đối với sự thành đạt của một cá nhân Bên cạnh đó, lý thuyết vốn văn hóa cũng được đề tài vận dụng để tìm hiểu những nỗ lực cá nhân có ý nghĩa như thế nào trong
sự di động xã hội khi Vũ Đoài nói riêng, xã hội nói chung có nhiều người thành đạt, trở thành những nhà lãnh đạo, nhà kinh doanh lớn vốn xuất thân từ gia đình nghèo?
1.2 CÁC KHÁI NIỆM CÔNG CỤ
1.2.1 Khái niệm “Văn hóa”
Trong tác phẩm “Chống Duhring”, khi bàn về sự tiến triển về tư tưởng
tự do của loài người, F Engels viết: “Mỗi bước tiến lên trên con đường văn hóa là một bước tiến tới tự do” [Xem 3] Ở đây, culture được hiểu là văn hóa
Trang 27Trong văn cảnh, F Engels phân tích rằng, con người trong tiến trình lịch sử của mình, khi ngày càng thoát ra khỏi thế giới động vật, nghĩa là khi ngày càng có văn hóa, thì con người càng tự do hơn, mặc dù tự do, theo ông, là bản chất của con người
Định nghĩa “Văn hóa” được cộng đồng thế thế giới sử dụng nhiều và được nhiều người trích dẫn hơn cả là của định nghĩa của UNESCO, nêu trong
“Tuyên bố về chính sách văn hóa” tại Hội nghị quốc tế về chính sách văn hóa của UNESCO từ ngày 26/7 đến 6/8/1982 ở Mexico:
"Văn hóa là tổng thể những nét đặc thù về tinh thần và vật chất, về trí tuệ và xúc cảm quy định tính cách của một xã hội hay của một nhóm xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của (tồn tại-being) người, những hệ thống giá trị, những truyền thống và tín ngưỡng Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét (reflect-phản tư)
về bản thân Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt - con người, có lí tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lí Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình
là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm kiếm không mệt mỏi những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt qua cả giới hạn của bản thân" [Xem 19]
Theo định nghĩa này của UNESCO thì "văn hoá" có thể được hiểu theo
hai nghĩa Thứ nhất, văn hoá của một nước là những sinh hoạt trong “lĩnh
vực văn hoá”, hay là “khu vực công nghiệp văn hoá” của nước ấy Đó là viết văn, làm thơ, soạn nhạc, tạc tượng, vẽ tranh nói chung là những hoạt động
có tính nghệ thuật Thứ hai (nhìn theo quan điểm nhân chủng và xã hội học),
văn hoá là tập họp những phong thái, tập quán và tín ngưỡng, là nền tảng, là chất keo không thể thiếu cho sự vận hành nhuần nhuyễn của xã hội Nó là hiện thân những giá trị được cộng đồng chấp nhận, dù có thể biến đổi từ thế
hệ này sang thế hệ khác [Xem 3]
Trang 28Văn hóa dưới hình thức một quan niệm đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam được nêu lần đầu tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” [Xem 6]
Định nghĩa khái niệm văn hóa của Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát sinh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [Xem 10] Gần đây, nhiều học giả kinh tế và xã hội (điển hình là nhà xã hội học người Pháp Pierre Bourdieu) cho rằng, muốn hiểu văn hoá như một nhân tố trong đời sống kinh tế, và nhất là muốn đánh giá vai trò của nó trong tiến trình phát triển, thì nên nhìn nó như một loại vốn - tương tự như ba loại vốn thường
biết khác (Đó là: vốn vật thể, như máy móc, thiết bị; vốn con người, như kỹ năng, kiến thức; và vốn thiên nhiên, gồm những tài nguyên do thiên nhiên
cống hiến và môi trường sinh thái.)
Bên cạnh đó có thể phân biệt hai dạng vốn văn hoá: vật thể và phi vật
thể Vốn văn hoá vật thể gồm những công trình kiến trúc, đền đài cung miếu,
di tích lịch sử, những địa điểm có ý nghĩa văn hoá Còn vốn văn hoá phi vật
thể, là những tập quán, phong tục, tín ngưỡng, và các giá trị khác của xã hội
Loại vốn văn hoá này (cùng những nghệ phẩm công cộng như văn chương và
âm nhạc) là một loại dây, một thứ keo gắn kết cộng đồng Cả hai dạng vốn văn hóa này đều cung cấp những luồng dịch vụ có thể hưởng thụ ngay, hoặc
dùng trong sản xuất những sản phẩm văn hoá trong tương lai
1.2.2 Khái niệm về “đời sống văn hóa tinh thần”
"Đời sống tinh thần xã hội" được chú ý xem xét với tư cách là phạm trù triết học bắt đầu từ cuối những năm 50, đầu những năm 60 trong các tài liệu triết học ở Liên Xô (cũ) Từ đó đến nay, thuật ngữ "đời sống tinh thần xã hội"
Trang 29được sử dụng tương đối việc vận dụng vấn đề cơ bản của triết học - mối quan
hệ giữa tinh thần và tự nhiên, giữa ý thức và vật chất vào lĩnh vực xã hội không chỉ làm xuất hiện vấn đề mối quan hệ giữa ý thức xã hội và tồn tại xã hội, mà còn làm xuất hiện vấn đề mối quan hệ giữa đời sống tinh thần xã hội
và đời sống vật chất xã hội [Xem 23]
Đời sống tinh thần xã hội được hiểu bao gồm tất cả những gì liên quan đến lĩnh vực tinh thần: từ những giá trị, sản phẩm tinh thần đến những hiện tượng, quá trình tinh thần, từ những hoạt động tinh thần (sản xuất tinh thần, phân phối, tiêu dùng giá trị tinh thần ) đến những quan hệ tinh thần (trong trao đổi, giao tiếp tinh thần ) Nói đến đời sống tinh thần xã hội là nói đến tính liên tục về thời gian, tính rộng lớn về không gian của tất cả những hiện tượng, những quá trình tinh thần Với ý nghĩa như vậy, nội dung phạm trù đời sống tinh thần xã hội được hiểu như sau: Đời sống tinh thần xã hội là tất cả những giá trị, sự vật, hiện tượng, những quá trình, những hoạt động, những quan hệ tinh thần của con người phản ánh đời sống vật chất xã hội và được thể hiện như là một phương thức hoạt động và tồn tại tinh thần của con người trong những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định
Văn hoá tinh thần cũng là khái niệm có liên quan đến phạm trù đời
sống tinh thần xã hội Tương tự như đời sống tinh thần xã hội, văn hoá tinh thần không chỉ bao gồm những giá trị tinh thần mà còn bao gồm cả những hoạt động và quan hệ tinh thần của con người Song, khác với đời sống tinh thần xã hội, văn hoá tinh thần chỉ bao gồm một phần chứ không phải tất cả những giá trị, những hoạt động và quan hệ tinh thần nói chung Văn hoá tinh thần, theo cách hiểu của chúng tôi, là toàn bộ những giá trị, nhưng hoạt động, những quan hệ tinh thần có tính chất bền vững, ổn định và được định hình theo những cách thức, chuẩn mực đặc thù của một dân tộc, quốc gia Trái lại, đời sống tinh thần xã hội, ngoài những yếu tố của văn hoá tinh thần, nó còn
Trang 30bao hàm một dung lượng, một phạm vi tinh thần rộng lớn khác Văn hóa tinh thần là phương thức sống của con người về mặt tinh thần
1.2.3 Khái niệm “nghèo”, “nghèo tuyệt đối” và “nghèo tương đối”
Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cư có điều kiện thoả mãn một
phần nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện [Xem 4]
Nghèo tuyệt đối là tình trạng của một bộ phận dân cư không có khả
năng thoả mãn các nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống Nhu cầu tối thiểu là những đảm bảo ở mức độ tối thiểu những nhu cầu thiết yếu về ăn, ở, mặc, nhà ở và nhu cầu sinh hoạt hàng ngày như văn hoá, y tế, giáo dục, đi lại giao tiếp [Xem 4]
Nghèo tương đối là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống
trung bình dưới mức trung bình của địa phương đang xét [Xem 4]
Nghèo tương đối là khái niệm dùng để chỉ tình trạng cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số nhóm xã hội nhất định so với nhóm xã hội khác và so với sự sung túc của xã
hội đó
Nghèo tương đối, thực chất là nghèo trong so sánh với giàu Người ta gọi nghèo tương đối là chủ quan khi những người trong cuộc cảm thấy nghèo, nhưng các tiêu chí đo có thể không hoàn toàn phụ thuộc vào các tiêu chuẩn khách quan
“Người nghèo” không phải là một nhóm thuần nhất “Người nghèo” ở bất kỳ một địa phương nào cũng có thể được định nghĩa là những người bị tụt xuống dưới một mức sống tối thiểu nhất định và do đó có thể được tính gộp chung với nhau, làm đối tượng trong các chính sách mục tiêu Nhưng mức độ nghèo khổ và địa điểm của một cá nhân hay một nhóm người cũng có ảnh hưởng quan trọng tới bản chất mối quan hệ giữa con người và môi trường
Trang 31Luận văn sử dụng khái niệm “nghèo tương đối” này để xác định nhóm người (sống dưới mức trung bình) trong sự so sánh với nhóm còn lại là
“nhóm giàu” (cũng xác định giàu một cách tương đối- những người có mức sống, thu nhập…trên trung bình)
Trang 32CHƯƠNG 2: NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẶC ĐIỂM CÁ NHÂN VÀ ĐẶC ĐIỂM GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI DÂN Ở XÃ VŨ ĐOÀI, (HUYỆN VŨ THƯ, TỈNH THÁI BÌNH)
2.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI CỦA ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Vũ Đoài là một xã nông nghiệp được bao bọc bởi một hệ thống các con sông như: sông Hồng, sông Kiến Giang, cách Trung tâm huyện 8km về phía Nam Theo số liệu mới nhất, tính đến tháng 12/2011, diện tích hành chính của
Vũ Đoài là 719,79 ha, tổng số dân là 6.874 nhân khẩu, có 1.825 hộ phân bổ trên 11 thôn [Xem 5]
Vũ Đoài là một xã đồng bằng, địa hình tương đối bằng phẳng, cốt đất trung bình chênh lệch không quá 0,5 – 1,0 mét, nghiêng dần từ Bắc xuống Nam theo hướng nghiêng của Đồng bằng châu thổ sông Hồng
Với đặc thù là xã đồng bằng, cảnh quan môi trường xã mang nét đặc trưng riêng của đồng bằng châu thổ sông Hồng Các điểm dân cư sống tập trung theo thôn xóm, dòng họ
Hoạt động sản xuất vật chất chủ yếu trên địa bàn xã là sản xuất nông nghiệp Một số ngành nghề đang từng bước phát triển nhưng còn ở mức nhỏ
lẻ
Mặc dù là xã nông nghiệp nhưng lượng rác thải từ các khu dân cư, chất thải chăn nuôi gia súc, gia cầm, cộng với việc sử dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu nên lượng rác sinh ra hàng ngày là rất lớn Hiện tại xã vẫn chưa quy định nơi thu gom rác tập trung, do đó trong giai đoạn tới xã cần dành một phần đất để làm bãi rác tập trung
Cảnh báo ô nhiễm môi trường nông nghiệp, nông thôn, tuy nhiên, song song với những thành tựu đạt được thì mức độ ô nhiễm môi trường trong sản xuất nông nghiệp và nông thôn đang cảnh báo cuộc sống người dân khu vực
Trang 33này và cần được hoạch định chính sách kinh tế nông nghiệp cùng toàn dân nâng cao nhận thức, dồn sức tham gia ngăn ngừa ô nhiễm để bảo vệ môi trường
Hệ thống cơ sở hạ tầng những năm gần đây thực hiện quyết định của
Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Thái Bình về việc đổi đất lấy công trình, Ủy Ban Nhân Dân xã Vũ Đoài đã tích cực sửa chữa và nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng cũng như nâng cấp nhà làm việc của Ủy Ban Nhân Dân xã, Trường Tiểu học và Trường Trung học cơ sở, sửa chữa và cứng hóa đường giao thông nông thôn
2.1.2 Tình hình kinh tế xã hội, văn hóa
Vũ đoài là xã nông nghiệp nên thu nhập của nhân dân Vũ Đoài chủ yếu
từ sản xuất nông nghiệp Những năm gần đây, cùng với cả nước, nhân dân Vũ Đoài thực hiện việc đổi mới nền kinh tế, đó là việc chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, cơ cấu cây trồng con vật nuôi, và đã thu được những thành tựu đáng kể trong phát triển kinh tế Bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới như hệ thống điện-đường-trường-trạm, thông tin, nước sạch ngày một hoàn thiện, đời sống nhân dân ngày một phồn vinh Đã xuất hiện nhiều gia đình làm kinh tế giỏi Nền kinh tế của xã tập trung vào phát triển ngành nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ
Trong những năm qua, cấp Ủy Đảng, chính quyền địa phương luôn quan tâm đến lĩnh vực văn hóa, đời sống tinh thần của người dân có nhiều khởi sắc Việc xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa được nhân dân trong xã hưởng ứng nhiệt tình Đối với các thôn, thực hiện sự chỉ đạo của cấp trên, xã đã dành cho mỗi thôn 400 m2 đất để xây dựng Nhà văn hóa Trên địa bàn xã có hai đình làng, một nhà chùa và một nhà thờ họ lẻ để các tín đồ và nhân dân trong xã sinh hoạt các nghi thức tôn giáo
Trang 342.2 NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẶC ĐIỂM CÁ NHÂN ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI DÂN XÃ VŨ ĐOÀI 2.2.1 NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ TUỔI, GIỚI TÍNH VÀ TÔN GIÁO
Cuộc khảo sát được thu thập thông tin từ 220 người dân trên 11 thôn của xã Vũ đoài với tỷ lệ nam/nữ tương đương nhau (110 nam và 110 nữ) với các lứa tuổi thống kê được như sau:
Biểu 2.1: Tỷ lệ nam-nữ ở các lứa tuổi
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra)
Như đã xác định trong mục “Nhiệm vụ của đề tài”, do cỡ mẫu nghiên cứu của đề tài tương đối nhỏ nên tác giả chỉ tập trung phân tích đời sống văn hóa tinh thần của nhóm dân cư trung niên, (những người trong độ tuổi từ 30-50), vì ở độ tuổi này họ thường là những cặp vợ chồng có con đang trong độ tuổi đi học Nhóm dân cư này đang ở giai đoạn giữa trong chu trình sống của gia đình họ, có vai trò vô cùng quan trọng đối với việc giáo dục con cái, định hình tương lai của thế hệ trẻ, và là nhóm có vai trò rất quan trọng trong việc tái tạo, sáng tạo, và duy trì các giá trị văn hóa trong cuộc sống văn hóa tinh thần hàng ngày Đồng thời, họ cũng là nhóm dân cư có vai trò quan trọng trong việc chăm sóc người cao tuổi trong gia đình mình Chính vì các lý do
Trang 35như vừa trình bày bên trên nên đối tượng nghiên cứu của đề tài này được xác định là những người từ 30 tuổi trở lên và phân tán đều trong khoảng từ 31 đến
60 tuổi, chiếm số lượng nhiều nhất là độ tuổi từ 40-59 tuổi Từ nhóm tuổi 60 trở lên, các nhóm tham gia trả lời chiếm tỷ lệ rất thấp
Bảng 2.1: Quan hệ của người trả lời với chủ hộ phân theo tuổi (%)
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra)
Ở nông thôn Miền Bắc nói chung, xã Vũ Đoài nói riêng, những bậc cao tuổi thường nhường cho con, cháu đứng tên chủ hộ vì họ trẻ, khỏe hơn, được tiếp xúc và năng động với hơn với xã hội Họ sẽ thay mặt gia đình quyết định các công việc chính và giải quyết các mối quan hệ trong nội bộ gia đình cũng như mối quan hệ gia đình - xã hội Điều này cũng lý giải số người tham gia trả lời đa số là chủ hộ và đối tượng này phân tán tương đối đồng đều qua các nhóm tuổi từ 31 đến 60 tuổi Lứa tuổi từ 61 tuổi trở lên là chủ hộ chiếm tỷ lệ rất thấp, hầu như không đáng kể
2.2.1.1 Các hoạt động của đời sống văn hóa tinh thần
Khi tìm hiểu về các hoạt động thể hiện đời sống văn hóa tinh thần của người dân, các biểu hiện về mức độ sử dụng các sản phẩm văn hóa như mức
độ xem tivi, nghe đài, đọc sách báo, đi chùa/nhà thờ, mức độ và mật độ tham
dự các lễ hội, … như thế nào? với tần suất bao nhiêu? và họ quan tâm đến các lĩnh vực gì? vv… được coi như các yếu tố để đo lường Kết quả khảo sát cho thấy, khi được hỏi về tần suất xem các chương trình thời sự trên tivi trong tuần, chỉ có 1% số người được hỏi trả lời họ không xem thời sự lần nào, 21%
Trang 36xem thời sự từ 1-10 lần trong tuần, còn đại đa số (78%) là những người trong tuần xem thời sự trên 10 lần
Mức độ xem tivi
Khi tìm hiểu ảnh hưởng của yếu tố giới tới mức độ quan tâm đến các chương trình thời sự trên tivi, không có sự khác biệt rõ rệt ở hai giới (92% nam và 80% nữ được hỏi thường xuyên theo dõi các chương trình tivi (trên
10 lần/tuần) Tuy nhiên, các số liệu thu được lại có sự khác nhau rõ rệt ở các nhóm tuổi
Bảng 2.2: Mức độ xem tivi trong tuần phân theo nhóm tuổi (%)
Mức độ xem tivi trong tuần
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra)
Theo kết quả khảo sát, khi kiểm tra mối tương quan giữa yếu tố độ tuổi
và mức độ xem các chương trình tivi, thu được kết quả với Sig = 0,000, có thể thấy được mức tương quan có ý nghĩa của hai yếu tố này Với các số liệu tính toán được cho thấy, có sự tăng đều về tỷ lệ ở mức thường xuyên xem tivi (trên 10 lần/tuần) Nhóm dưới 40 tuổi chiếm 58% Nhóm 40-49 tuổi chiếm 78%, nhóm 50-59 tuồi chiếm 81% và nhóm trên 60 tuổi có 100% số người trả lời xem tivi trên 10 lần trong tuần Có thể kết luận rằng yếu tố tuổi có ảnh hưởng tới mức độ xem ti vi của những người tham gia nghiên cứu Tuổi của người tham gia nghiên cứu càng cao thì mức độ tỷ lệ xem tivi càng tăng Cũng như xem tivi, việc nghe các chương trình trên đài cũng cho thấy tầm quan trọng của các chương trình của đài phát thanh với người dân Chỉ có
Trang 377% số người trong mẫu nghiên cứu trả lời trong tuần không nghe đài lần nào,
số còn lại đa số đều nghe đài khoảng từ 1- 10 lần (39%) và trên 10 lần (54%)
Và mặc dù có 167 trên 220 người trả lời gia đình họ không có đài (chiếm 76% tổng số các gia đình), nhưng họ vẫn thường xuyên theo dõi các chương trình được phát trên đài Điều này tưởng chừng như bất hợp lý, nhưng khi tìm hiểu chúng tôi được biết, ở Vũ Đoài, mỗi xóm có một hoặc 2 loa phóng thanh công cộng Hàng ngày xã phát thời sự trong khoảng thời gian cố định là từ 5 đến 6 giờ sáng và 17 giờ đến 18 giờ chiều hàng ngày, (vì thế người dân ở Vũ Đoài nói riêng, các khu vực nông thôn nói chung hay dùng khẩu ngữ “Đài nói là dậy đi làm”, ý nói lúc 5 giờ sáng) Loa phóng thanh ở các xóm có tác dụng chuyển tải không chỉ các chương trình thời sự, các chương trình hóa, văn nghệ, các chủ trương chính sách của Nhà nước và các kế hoạch của xóm, xã
Và vì thế các hộ dân dù không có đài nhưng họ vẫn có thể nắm được các chương trình thời sự, các chủ trương chính sách kịp thời Có thể nói, người dân trong mẫu nói riêng, người dân Vũ Đoài nói chung rất quan tâm đến các vấn đề thời sự và là một phần không thể thiếu khi xem tivi, nghe đài của người dân
Biểu 2.2: Tỷ lệ người được hỏi quan tâm đến nội dung của thời sự
Trang 38Các con số thống kê từ cuộc nghiên cứu cũng cho thấy, hai lĩnh vực rất được người dân quan tâm trong chương trình thời sự quốc tế đó là các vấn đề,
sự kiện liên quan đến chính trị (60%) và văn hóa (52%), trong khi các lĩnh vực về khoa học và thể thao lại chỉ được quan tâm ở mức vừa phải (lần lượt là 25% và 26%)
Bảng 2.3: Mức độ xem phim truyền hình Việt Nam phân theo nhóm tuổi (%)
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra)
Cũng giống như mức độ xem chương trình thời sự, hơn một nửa số người được hỏi (55%) thường xuyên xem phim truyền hình của Việt Nam Khoảng 38% xem từ 1-10 lần trong tháng và chỉ có 5% không xem phim lần nào Mặc dù kinh tế của người dân có phát triển, nhưng theo tìm hiểu số gia đình có lắp truyền hình kỹ thuật số ở Vũ Đoài không nhiều Đa số người dân vẫn xem các chương trình của đài Truyền hình Việt Nam là chính Và mức độ xem phim truyền hình Việt Nam không có sự khác nhau rõ rệt giữa hai giới Trong khi hai nhóm: Nhóm 40 tuổi trở xuống và nhóm 50-59 tuổi có tỷ lệ xem phim truyện Việt Nam mức trên 10 lần 1 tuần rất thấp (lần lượt là 46%
và 45%) thì con số này ở hai nhóm còn lại (nhóm 40-49 tuổi và nhóm 60 tuổi trở lên) lại rất cao (lần lượt là 62% và 84%) Vì vậy khó có thể kết luận được rằng độ tuổi có sự ảnh hưởng về mặt logic đến sở thích xem các bộ phim Việt Nam vì sự phân bổ sở thích này ở các lứa tuổi không đồng đều
Trang 39Bảng 2.4: Mức độ xem các chương trình nghệ thuật truyền thống trên
tivi trong tuần (%) Loại chương trình
Không lần
Trên 3 lần
100
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra)
Trước đây, khi nên kinh tế còn nhiều khó khăn, các gia đình chưa có điều kiện để mua tivi nên các điều kiện được tiếp xúc với các phương tiện, các loại hình giải trí ở nông thôn nói chung, Vũ Đoài nói riêng rất hạn chế Có thể nói các chương trình nghệ thuật mang tính truyền thống như chèo, tuồng, cải lương, dân ca các miền, được bà con nông dân đón nghe, xem rất hào hứng và nhiệt tình Cùng với sự phát triển của xã hội, kinh tế Vũ Đoài cũng phát triển từng ngày Tại thời điểm diễn ra cuộc nghiên cứu, có tới 97% số gia đình có tivi (số liệu từ cuộc nghiên cứu) Còn một số rất ít các hộ gia đình không có tivi là những gia đình neo đơn, già cả… Tivi gần như một vật dụng không thể thiếu trong đời sống người dân Người dân không chỉ có tivi mà còn có rất nhiều những vật dụng khác phục vụ cho các nhu cầu của cuộc sống (đài, điện thoại, internet…) Có tivi, đài… đồng nghĩa với việc các cơ hội được tiếp cận với thế giới bên ngoài nhiều hơn, người dân được biết đến nhiều loại hình nghệ thuật, giải trí hơn, và một câu hỏi được đặt ra ở đây là: Liệu các loại hình nghệ thuật truyền thống có mất dần vị thế độc tôn trước đây? Cuộc nghiên cứu này đã tìm hiểu về tần suất số lần xem các chương trình nghệ thuật này của người dân ở nông thôn (cụ thể xã Vũ Đoài) thay đổi như thế nào trước sự thay đổi chung của nên kinh tế và các nhu cầu xã hội
Trang 40Các kết quả tính toán cho thấy, có 50% số người được hỏi trả lời, trong tuần
họ không xem các chương trình dân ca lần nào, và với loại hình tuồng cổ, thì con số này là 20% Tuy nhiên, vẫn có 63% số người xem tuồng cổ từ 1-3 lần trong tuần, có hơn 50% người dân trong mẫu xem các chương trình chèo, cải lương từ 1-3 lần trong tuần và xem hơn 3 lần trong một tuần với chèo là 43%
và cải lương là 30% Đây là những con số rất có ý nghĩa đối với sự tồn tại của các loại hình nghệ thuật truyền thống Cho dù hiện nay các chương trình giải trí đã đa dạng hơn về cả nội dung và hình thức thì vẫn còn một số lượng tương đối lớn người dân ưa chuộng các loại hình nghệ thuật giải trí truyền thống này
Mức độ đọc báo trong tuần
Tiếp cận báo chí ở xã chủ yếu dưới 2 hình thức Một là báo chí được cung cấp định kỳ cho các cơ quan ở các xã (trung bình có từ 5-10 loại báo) Các loại báo này chủ yếu được cung cấp cho các lãnh đạo của UBND xã và các trưởng thôn (xóm trưởng) Thứ hai là báo chí cung cấp qua nhà văn hoá
và bưu điện Loại này nhiều người dân được đọc
Trong 106 người có đọc báo, tác giả đã thống kê được các loại báo mà người dân ở Vũ Đoài thường đọc bao gồm 26% trong 106 người có đọc báo được đọc báo Nhân dân, 12% trong 106 người này được đọc báo Phụ nữ, và người dân được tiếp cận rải rác với một số loại báo khác, nhưng không được thường xuyên
Mặc dù rất quan tâm đến các vấn đề thời sự nhưng người dân ở Vũ Đoài đa số chỉ đuộc tiếp cận với hai phương tiện truyền thông chính là đài, tivi Ngoài ra, các phương tiện truyền thông, thông tin đại chúng khác (báo, internet…) được sử dụng rất hạn chế Theo tìm hiểu, đa số người dân không
có báo để đọc hàng tháng, hàng tuần Chỉ có 106 trong 220 người tham gia nghiên cứu có đọc báo Những người này mượn được báo từ các nguồn báo