1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu văn hóa ngõ phố trong đời sống đô thị tỉnh lị Việt Nam ( Nghiên cứu trường hợp thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An

104 859 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn chung ở Vinh có 4 hình thức cư trú cơ bản sau đây: - Hình thức tụ cư theo xóm: thường ở các xã thuộc địa bàn thành phố Như vậy văn hóa ngõ phố có thể là một tiểu văn hóa, phân biệt

Trang 1

VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

VIỆN XÃ HỘI HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

-

PHẠM THỊ QUỲNH TRANG

TIỂU VĂN HOÁ NGÕ PHỐ TRONG ĐỜI SỐNG ĐÔ THỊ

TỈNH LỊ VIỆT NAM (Nghiên cứu trường hợp thành phố Vinh – tỉnh Nghệ An)

CHUYÊN NGÀNH: XÃ HỘI HỌC

MÃ SỐ: 623130

LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC

Hà Nội – 2009

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 4

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5

3 Mục đích nghiên cứu 7

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 8

5 Đối tượng nghiên cứu 8

6 Phạm vi nghiên cứu 8

7 Giả thuyết nghiên cứu 8

8 Định nghĩa, thao tác hoá khái niệm và khung phân tích 8

9 Phương pháp nghiên cứu 11

10 Kết cấu của đề tài……… 11

CHƯƠNG I Cơ sở lý luận nghiên cứu về văn hoá ngõ phố trong đô thị tỉnh lị ở Việt Nam 1.1 Đô thị và đô thị hoá 12

1.1.1 Đô thị 12

1.1.2 Đô thị hoá 13

1.1.3 Đô thị hoá tại Việt Nam 14

1.1.4 Phân loại đô thị 15

1.2 Văn hoá đô thị và vai trò của văn hoá trong phát triển đô thị 16

1.2.1 Văn hoá đô thị 16

1.2.2 Những cơ sở hình thành văn hoá đô thị 19

1.3 Ngõ phố trong đô thị Việt Nam 20

1.4 Tiểu văn hoá và tiểu văn hoá ngõ phố 21

CHƯƠNG II Thực trạng tiểu văn hoá ngõ phố ở thành phố Vinh 2.1 Quá trình hình thành và phát triển của thành phố Vinh 23

2.2 Nguồn gốc hình thành các ngõ phố ở Vinh 27

2.3 Đặc điểm của văn hoá ngõ phố 28

Trang 3

2.3.1 Đặc điểm về địa lý, dân cư và cơ sở hạ tầng 28

2.3.2 Đặc điểm kinh tế 39

2.3.3 Quan hệ của cư dân trong ngõ 41

2.3.4 Nhóm xã hội, hoạt động cộng đồng và không gian công cộng trong ngõ 49

2.3.5 Ngõ phố trong các hình thức cư trú của người dân 62

2.3.6 Những bất cập còn tồn tại trong văn hoá ngõ phố 64

CHƯƠNG III Vai trò của tiểu văn hóa ngõ phố, các yếu tố tác động đến và các giải pháp đối với tiểu văn hoá ngõ phố 3.1 Vai trò của tiểu văn hoá ngõ phố 66

3.2 Các yếu tố tác động đến tiểu văn hoá ngõ phố 69

3.2.1 Quy hoạch đô thị 69

3.2.2 Yếu tố tăng trưởng kinh tế 72

3.2.3 Yếu tố di cư và quá trình cơ động về cư trú trong đô thị 72

3.2.4 Quá trình giao lưu văn hóa 73

3.3 Kiến nghị giải pháp gìn giữ phát huy tính tích cực của tiểu văn hóa ngõ phố trong môi trường đô thị hiện đại 75

3.3.1 Nhóm giải pháp về nhận thức và quan điểm: 75

3.3.2 Nhóm giải pháp đối với xây dựng và quản lý văn hóa đô thị: 77

3.3.2.1 Xây dựng thiết chế văn hoá ngõ phố 77

3.3.2.2 Duy trì, phát huy các sinh hoạt cộng đồng và các nhóm xã hội 80

3.3.2.3 Hoàn thiện và nhân rộng mô hình ngõ phố văn minh 81

3.3.3 Nhóm giải pháp đối với quy hoạch đô thị: 84

3.3.3.1 Đối với các ngõ phố đang tồn tại hiện nay 84

3.3.3.2 Đối với các khu vực đang chuẩn bị trở thành ngõ phố 86

3.3.3.3 Nuôi dưỡng và phát huy các giá trị văn hóa ngõ phố trong các không gian cư trú khác 86

KẾT LUẬN 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

PHỤ LỤC 93

Trang 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU

1 BẢNG

Bảng 2.1 Mối quan hệ giữa số năm ở và biết hàng xóm trong ngõ 43

Bảng 2.2 Mối quan hệ giữa số năm ở và mức độ hiểu biết về hàng xóm 43

Bảng 2.3: Mối quan hệ giữa mức độ qua nhà hàng xóm chơi với số năm cư trú 46

Bảng 2.4: Mối quan hệ giữa mức độ qua nhà hàng xóm chơi với độ tuổi 46

Bảng 2.5: Mối quan hệ giữa mức độ tham gia hoạt động thể dục thể thao trong ngõ với độ tuổi .55

Bảng 2.6 : Mức độ tham dự họp tổ dân phố so với độ tuổi người trả lời .59

2 BIỂU Biểu 2.1: Số thế hệ sống trong một gia đình trong ngõ phố .30

Biểu 2.2 Các kiểu kiến trúc nhà ở chủ yếu trong ngõ phố 35

Biểu 2.3: Số hộ trong ngõ đến chia sẻ khi hàng xóm có việc quan trọng .47

Biểu 2.4 Lựa chọn hình thức cư trú theo sở thích .63

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:

Ngõ phố (hay còn gọi là “hẻm phố”) là một loại hình cư trú rất đặc trưng của

đô thị Việt Nam, khác với các loại hình cư trú tồn tại tại các đô thị ở các nước phát triển Văn hóa ngõ phố thể hiện nét văn hóa đặc sắc của người Việt trong môi trường đô thị Đằng sau phố xá ồn ào là những ngõ phỗ lưu giữ những giá trị truyền thống của người Việt, thể hiện lối sống, cách ứng xử với môi trường thiên nhiên và

xã hội của người Việt Nhưng cũng chính từ cái ngõ ngách chật chội đó cũng nảy sinh rất nhiều mâu thuẫn, vấn đề xã hội, bố cục quy hoạch thiếu hợp lý, kém văn minh là nguy cơ của hỏa hoạn, ngập lụt và ô nhiễm môi trường… Vì vậy văn hóa ngõ phố cần được nhìn nhận sâu sắc và có những nghiên cứu nghiêm túc hơn nữa

Hiện tại vấn đề này đã được một số nhà nghiên cứu xã hội và các nhà quy hoạch đô thị quan tâm, một số nghiên cứu ở Thành phố Hồ Chí Minh đã có nhắc đến văn hóa ngõ phố như một nét văn hóa cần gìn giữ và tính toán cẩn trọng khi quy hoạch lại đô thị trung tâm Sài Gòn Tuy nhiên việc này chỉ dừng lại ở các hội thảo khoa học và các bài viết tản mạn trên các tạp chí, chứ chưa thực sự có một công trình nghiên cứu với các phương pháp xã hội học định tính hay định lượng thực sự chuyên sâu Hơn nữa các khảo cứu đó hầu hết là ở các thành phố lớn (Sài Gòn, Hà Nội), các thành phố với bề dày lịch sử và không gian văn hóa đa chiều, mức độ đô thị hóa cao hơn nhiều so với các đô thị tỉnh lị khác Chính vì vậy đề tài này tác giả chọn đối tượng nghiên cứu là văn hóa ngõ phố trong các đô thị tỉnh lị ở Việt Nam, với trường hợp cụ thể là Thành phố Vinh – Nghệ An

Thành phố Vinh có tuổi đời hơn 200 năm, tuy nhiên vì lí do chiến tranh và thiên tai, nhịp phát triển của thành phố bị đứt đoạn nhiều lần, nên cho đến nay vẫn

là một thành phố trẻ, như phần lớn các đô thị tỉnh lị khác ở nước ta Ra khỏi chiến tranh từ đầu những năm 70 của thế kỷ trước, Vinh được quy hoạch lại gần như từ đầu, nên không có tình trạng ngõ ngách chật hẹp và dài hun hút với vô số nhánh rẽ như ở thành phố Hồ Chí Minh hay Hà nội Vì vậy, ngõ phố ở Vinh có quy mô nhỏ, không gian tụ cư khá rõ, rất dễ trở thành một đợn vị cư trú được xác định

Trang 6

Nhìn chung ở Vinh có 4 hình thức cư trú cơ bản sau đây:

- Hình thức tụ cư theo xóm: thường ở các xã thuộc địa bàn thành phố

Như vậy văn hóa ngõ phố có thể là một tiểu văn hóa, phân biệt được với văn hóa của các hình thức cư trú khác ở đô thị hay không Văn hóa ngõ phố đã và đang tồn tại, biến đổi như thế nào; có những đặc trưng gì; đang đặt ra những vấn đề gì; cần phải ứng xử với nó như thế nào…đang là những câu hỏi chưa có lời giải đáp về

cả lý luận và thực tiễn Chính vì lẽ đó nghiên cứu về văn hóa ngõ phố là rất cần thiết

và có ý nghĩa thiết thực trong quy hoạch đô thị, xây dựng và quản lý văn hóa đô thị Mặt khác, thực tiễn về vấn đề này cũng hết sức phong phú và sinh động, đủ để nghiên cứu và tổng kết Hay nói cách khác vấn đề thực sự đã chín muồi, vừa cần thiết nghiên cứu, vừa có thể nghiên cứu

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu về văn hóa ngõ phố

cả về mặt kiến trúc và lối sống cũng như cách tổ chức sinh hoạt Cụ thể như sau:

Hẻm phố Sài Gòn Thành phố Hồ Chí Minh (Kỷ yếu hội thảo : “Bảo tồn và phát

triển các tiểu văn hóa ở hẻm 1 phố trong quá trình cải tạo Thành phố Hồ Chí Minh”), Trường ĐH Kiến trúc thành phố Hồ Chí Minh và Trung tâm nghiên cứu

Đô thị và phát triển, Nxb Công An Nhân dân, 2006

Cuốn sách tập hợp các bài viết của nhiều tác giả được trình bày trong hội thảo vấn

đề “Bảo tồn và phát triển các tiểu văn hóa ở hẻm phố trong quá trình cải tạo Thành phố Hồ Chí Minh” Cho đến nay có thể nói các nhà nghiên cứu đô thị thành phố Hồ

1 Hẻm phố: (Miền Nam) Tương đương với đơn vị “Ngõ phố” ở Miền Bắc

Trang 7

Chí Minh là những người khởi xướng xu hướng nghiên cứu này Cuốn sách cũng như cuộc hội thảo đã chỉ ra những vấn đề của hẻm phố Sài Gòn nói riêng và hẻm phố các đô thị lớn ở Việt Nam nói chung Các bài viết “ Hẻm phố - Một không gian văn hóa đặc trưng của đô thị Việt Nam” của PGS.TS Nguyễn Minh Hòa, “Hẻm phố

- Gạch nối của làng xã với đô thị” của T.S Đỗ Kim Liên, “Những màu sắc của hẻm phố Sài Gòn” của Th.S Trần Quang Ánh,… đã mô tả và phân tích cuộc sống nơi những con hẻm nhỏ của Sài Gòn dưới nhiều chiều cạnh: văn hóa, tôn giáo, sinh hoạt cộng đồng, mạng lưới xã hội… và các vấn đề bất cập của thực trạng loại hình cư trú này ví dụ như cơ sở hạ tầng, ô nhiễm môi trường, kiến trúc… Một số bài viết khác

đã đề ra những biện pháp, cách thức nhằm nỗ lực bảo tồn và phát triển hẻm phố như: “Xây dựng không gian công cộng thân thiện cho hẻm phố Sài Gòn của PGS.TS Nguyễn Trọng Hòa và GS.TS Tôn Nữ Quỳnh Trân,“Những cơ sở và giải pháp bảo tồn và phát triển hẻm phố trong quá trình cải tạo”-T.S Trần Ngọc Khánh

Một công trình khác có nhắc đến văn hoá ngõ phố ở đô thị tỉnh lị: Văn hóa

đô thị với thực tiễn Thành phố Vinh, Phạm Xuân Cần, Nxb Nghệ An, 2008

Cuốn sách được viết khi Thành phố Vinh đang đứng trước ngưỡng cửa của

đô thị loại 1, để xứng tầm với vị trí đô thị Trung tâm kinh tế - văn hóa vùng Bắc Trung Bộ, tất yếu phải mở rộng địa giới hành chính, thu nạp thêm cư dân nông nghiệp vào thành phố Trước tình hình đó cuốn sách như một cuốn sổ tay cho các nhà quản lý đô thị Vinh nhằm xây dựng Vinh với một nền văn hóa đô thị để nó không chỉ là sản phẩm mà còn là động lực của sự phát triển Mặc dù chỉ với vài trang sách viết về văn hoá ngõ phố nhưng tác giả đã đưa ra những nhận xét sâu sắc

về giá trị của loại hình văn hoá này Tác giả đã chỉ ra nguồn gốc hình thành và những đặc điểm cơ bản của loại hình văn hoá này

Một tác phẩm khác cùng chủ đề đó là cuốn Ngõ phố người đời, Hoàng Đạo

Kính, Nhà xuất bản Văn học, 2005

GS TS KTS Hoàng Đạo Kính là người am hiểu về Hà Nội và có nhiều tác phẩm viết về Kiến trúc Hà Nội Cuốn sách lần này ông không chỉ khai thác khía cạnh kiến trúc của ngõ phố Hà Nội mà còn đưa ra những cái nhìn tinh tế, cảm nhận

Trang 8

sâu sắc về cuộc sống, văn hóa nơi những ngõ phố nhỏ chật hẹp ở Thủ đô Cuốn sách tập hợp nhiều bài tản văn về các vấn đề của đời sống đô thị, có thể xem như là “triết

lý đô thị” Ngõ phố người đời là sự đúc kết của những chiêm nghiệm sâu sắc từ sự

từng trải và tâm huyết của vị Kiến trúc sư với sự thay da đổi thịt từng ngày của đô thị Việt Những nhận định của Hoàng Đạo Kính đã giúp cho tác giả đề tài trả lời những điều còn băn khoăn trong đời sống đô thị Nhãn quan nhìn từ kiến trúc đô thị nhưng vấn đề đặt ra không chỉ dừng lại ở đó của tác giả cuốn sách đã mở rộng nhận thức của người đọc

Nhìn chung các nghiên cứu về Văn hoá ngõ phố không nhiều, chủ yếu mới chỉ là những bài viết tản mạn trên các tạp chí khoa học hay hội thảo chuyên đề Các nghiên cứu đã chỉ ra được những nguồn gốc cơ bản hình thành nên ngõ phố ở đô thị Việt Nam Hầu hết các nghiên cứu đều nhận định được các giá trị của văn hoá ngõ phố: như gìn giữ tính cố kết cộng đồng của văn hoá truyền thống Tuy nhiên bên cạnh đó còn nhiều yếu tố bất cập, thiếu văn minh cần xử lí Các nghiên cứu đó chủ yếu tập trung vào 2 đô thị lớn của Việt Nam là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Không một nghiên cứu nào về đề tài trên đã từng được thực hiện ở các đô thị cấp tỉnh lị, nơi chưa cắt hẳn ràng buộc với nông thôn Đặc biệt chưa một nghiên cứu nào nhìn nhận ngõ phố như một đơn vị văn hoá được “chỉ mặt đặt tên” từ đó gợi ý các giải pháp từ nhận thức đến hành động đối với các cấp quản lý

3 Mục đích nghiên cứu:

Bước đầu nghiên cứu về tiểu văn hóa ngõ phố tại đô thị tỉnh lị ở Việt Nam, qua trường hợp điển hình là thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, chỉ ra có sự tồn tại một loại hình tiểu văn hóa với các đặc trưng về kinh tế - xã hội, lối sống, phong cách sinh hoạt và các hoạt động cộng đồng, xuất phát từ hình thức cư trú ngõ phố Phân tích các giá trị tốt đẹp cần bảo tồn, phát huy, cũng như những yếu tố tiêu cực cần khắc phục của văn hóa ngõ phố, từ đó đề xuất các giải pháp duy trì và phát huy các giá trị tích cực của văn hóa ngõ phố trong môi trường đô thị Việt Nam hiện đại

4 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Từ mục đích nêu trên đề tài có những nhiệm vụ chính sau đây:

Trang 9

- Khảo sát thực tiễn để mô tả, nhận diện và chỉ ra sự tồn tại của một loại hình tiểu văn hóa ngõ phố, từ đó khắc họa một bức tranh cơ bản về văn hóa ngõ phố với một số đặc trưng như: nguồn gốc hình thành, đặc điểm địa lý; đặc điểm kết cấu dân cư; cơ cấu xã hội, cách thức tổ chức đời sống cá nhân và cộng đồng Từ đó, phân tích các chức năng, vai trò của văn hóa ngõ phố trong quá trình phát triển đô thị cũng như những vấn đề đang đặt ra cần phải xử lý ở loại hình tiểu văn hóa này

- Dự báo xu hướng biến đổi, phát triển của tiểu văn hóa ngõ phố trong xu hướng phát triển của đô thị Việt Nam hiện nay

- Đề xuất một số giải pháp về nhận thức và hành động, nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị ưu trội của văn hóa ngõ phố trong môi trường đô thị Việt Nam

5 Đối tƣợng nghiên cứu: Tiểu văn hóa ngõ phố

6 Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu trường hợp Thành phố Vinh – Nghệ An

7 Giả thuyết nghiên cứu:

- Có một loại hình tiểu văn hóa ngõ phố với các nét đặc trưng khác biệt với các loại hình văn hóa cư trú khác tại thành phố Vinh

- Tại thành phố Vinh, tiểu văn hóa ngõ phố là nơi lưu giữ và nuôi dưỡng nhiều giá trị văn hóa truyền thống trong môi trường đô thị hiện đại, dồng thời nó cũng chứa đựng và phát sinh những mặt trái, bất cập

- Tiểu văn hóa ngõ phố ở thành phố Vinh đang đứng trước những thách thức

do quá trình đô thị hóa quá nhanh, cần phải có quan điểm và giải pháp thích hợp

8 Định nghĩa, thao tác hoá khái niệm và khung phân tích

Các nhà xã hội học nói rằng chứng nào sự khác biệt về văn hóa được biểu hiện cụ thể trong lối sống – bao gồm tổng thể các biểu tượng và ý niệm, các giá trị và chuẩn mực, các khuôn mẫu và thể chế, kể cả các sở thích trong thể thao và nghệ thuật, các mốt trong ăn mặc và trang điểm – thành những đặc trưng rõ rệt và những đặc trưng này có thể tái tạo trong đời sống xã hội để có thể phân biệt giữa nhóm này với nhóm kia, giai tầng này với giai tầng khác, chừng đó có thể nói đến

sự tồn tại của một tiểu văn hóa.[8, tr 192]

Trang 10

Như vậy thuật ngữ tiểu văn hóa mô tả những nhóm người không những sống chung trong bối cảnh của một nền văn hóa rộng lớn, mà còn sống thực sự trong bối cảnh tiểu văn hóa của riêng mình Nhìn một cách khái quát, người ta có thể chia các tiểu văn hóa thành hai loại chính, đó là tiểu văn hóa theo vùng địa lý và tiểu văn hóa theo đặc trưng xã hội

Ngõ phố là đơn vị cư trú đứng sau đường hoặc phố Vậy loại hình tiểu văn hóa ngõ phố mà chúng ta đang đề cập thuộc loại hình tiểu văn hóa nào? Nghe ra có

vẻ hợp lý khi đặt loại hình này vào nhóm tiểu văn hóa theo vùng địa lý, vì dẫu sao đây là văn hóa của một nhóm người cùng chia sẻ chung về khu vực cư trú là xóm ngõ của mình Nhưng theo tác giả đây là loại hình tiểu văn hóa thiên về đặc trưng

xã hội nhiều hơn Vì thực tế một ngõ phố là quá nhỏ để nói đến như một khu vực địa lý có cùng điều kiện lịch sử- xã hội hay tự nhiên, khí hậu mà từ đó hình thành nên những bản sắc của ngõ phố đó Những ngõ phố của đô thị Việt từ xưa đến nay thường xuất phát từ những cư dân làm chung một nghề (phường hội, khu tập thể cơ quan…) hay là những người có điều kiện kinh tế tương tự nhau, có những sinh hoạt chung và chia sẻ chung các nguồn lực với nhau mà từ đó hình thành nên bản sắc đặc trưng của ngõ phố nhiều hơn là xuất phát tự đặc điểm tự nhiên, địa vực

Theo cách phân loại đó Tiểu văn hóa ngõ phố được hiểu là loại hình tiểu văn hóa hình thành từ lối cư trú của cư dân thành thị theo ngõ phố (đơn vị hành chính đứng sau ngõ phố) với những đặc trưng rõ rệt về đặc điểm địa lý dân cư (vị trí, kích thước, kiến trúc cảnh quan, quy mô nguồn gốc dân cư, không gian tập thể), kinh tế (nghề nghiệp, cơ sở sản xuất), các loại hình sinh hoạt văn hóa cộng đồng (hoạt động tôn giáo, hoạt động văn hóa, hoạt động vui chơi giải trí, hoạt động chính trị)

và mạng lưới xã hội (quan hệ giữa các hộ gia đình, giữa các cá nhân) cũng như các nhóm xã hội đặc trưng (nhóm nghề nghiệp, nhóm người nhập cư, nhóm theo giới, nhóm theo độ tuổi) của ngõ phố phân biệt với các tiểu văn hóa theo loại hình cư trú khác ở đô thị

Trang 11

TIỂU VĂN HÓA NGÕ PHỐ

Đặc điểm địa lý

dân cư, cư trú

Loại hình hoạt động cộng đồng

Hoạt động chính trị -

XH

Hoạt động sản xuất

Giữa các

hộ, Dòng họ(nếu có)

Giữa các cá nhân

Các nhóm

xã hội

Nhóm nghề nghiệp (viên chức, lao động, hưu trí,…) bán…)

Nhóm người nhập cư (nông thôn, tỉnh khác…) và nhóm cư dân gốc

Nhóm theo giới (nam, nữ)

Nhóm theo độ tuổi (thiếu nhi, thanh niên, người già….)

Đặc điểm kinh tế

Nghề nghiệp

Cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch

vụ

Hoạt động vui chơi, giải trí

Trang 12

9 Phương pháp nghiên cứu:

Mẫu nghiên cứu được điều tra một lần theo lát cắt ngang Nhằm đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

a Phương pháp nghiên cứu định tính:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu tài liệu về lịch sử hình thành, các đặc trưng văn hóa của thành phố Vinh; các tài liệu đã nghiên cứu vấn đề tương tự

- Phỏng vấn sâu: Phỏng vấn người dân trong ngõ về lối sống, văn hóa ngõ phố Phỏng vấn cán bộ cơ sở về nhận thức và ứng xử với văn hóa ngõ phố Đề tài đã thực hiện 5 phỏng vấn sâu người dân và cán bộ cơ sở Tuy nhiên trong quá trình điều tra định lượng (bảng hỏi) điều tra viên kết hợp khai thác các thông tin định tính để phục

vụ cho quá trình phân tích và khai thác số liệu

- Phương pháp quan sát: Quan sát cuộc sống, lối ứng xử với thiên nhiên và xã hội của người dân trong ngõ phố Quan sát mối quan hệ, các hoạt động cộng đồng và không gian công cộng của cư dân trong ngõ

b Phương pháp nghiên cứu định lượng

Phương pháp phỏng vấn bảng hỏi: Nhằm đo lường hiểu biết, thái độ của người dân về văn hóa ngõ phố, quan hệ của cư dân trong ngõ, các hoạt động cộng, lối sống, quan hệ xã hội, các giá trị được quy định thể hiện trong mỗi ngõ phố

- Mô tả mẫu: Mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng

B1: chọn phường: Hiện Thành phố Vinh có 25 phường xã, trước sự phong phú về tính chất của các ngõ phố trong các phường của thành phố Vinh, đề tài tập trung nghiên cứu những phường đã phát triển tương đối lâu đời và mang một số đặc thù của văn hoá

đô thị Vinh bao gồm: Phường Hồng Sơn, Phường Lê Lợi, Phường Hưng Phúc

Phường Hồng Sơn là phường có lịch sử lâu đời, bên cạnh đó còn có chợ Vinh là chợ trung tâm lớn nhất của thành phố; Phường Lê Lợi có kinh tế phát triển bậc nhất Thành phố, địa bàn phường có Quốc Lộ 1A chạy qua, có bến xe, ga tàu và chợ Ga- chợ lớn thứ 2 thành phố; Hưng Phúc là một phường mới được tách ra từ một phần phường Hưng Bình và một phần của phường Hưng Dũng, là một phường trung tâm thành phố, có cụm biệt thự cao cấp, mới quy hoạch và tương đối hiện đại

B2: Chọn ngõ: Từ 3 phường nêu trên, chọn mỗi phường 4 ngõ ngẫu nhiên

B3: Chọn hộ gia đình: Trên cơ sở danh sách các hộ dân trong các ngõ phố, chọn ngẫu nhiên theo bước nhảy 3, 175 hộ gia đình làm mẫu khảo sát

Trang 13

10 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung luận văn sẽ được trình bày theo các chương sau:

Chương I: Cơ sở lý luận nghiên cứu về văn hóa ngõ phố trong đô thị tỉnh lị Việt Nam Chương II: Thực trạng tiểu văn hóa ngõ ở thành phố Vinh

Chương III: Vai trò, yếu tố tác động và các giải pháp đối với tiểu văn hoá ngõ phố

Trang 14

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU VỀ VĂN HÓA NGÕ PHỐ

TRONG ĐÔ THỊ TỈNH LỊ Ở VIỆT NAM

1.1 Đô thị và đô thị hoá

1.1.1 Đô thị

Đô thị xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử loài người và trải qua những giai đoạn phát triển quan trọng Mỗi quốc gia đều có hàng trăm đô thị lớn nhỏ các loại Tiêu chuẩn để được gọi là đô thị ở các nước khác nhau có thể khác nhau, tiêu chuẩn đó cũng thay đổi qua các giai đoạn lịch sử khác nhau Tuy nhiên những tiêu chí để nhận dạng và dùng để phân biệt đô thị và nông thôn thì dù đã có những biến đổi nhất định, nhưng tương đối giống nhau trên toàn thế giới hay nhất quán qua các thời kỳ lịch sử

Đô thị là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, mỗi ngành khác nhau có những định nghĩa về đô thị khác nhau tuỳ theo mục đích, chức năng và nhiệm vụ của ngành Theo định nghĩa của Từ điển Bách khoa Việt Nam, đô thị là:

“Không gian cư trú của của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp” [28, tr.836]

Xã hội học định nghĩa đô thị dựa trên cấu trúc xã hội và chức năng mà nó thực hiện, xem đô thị như là những hình thức tổ chức xã hội có xuất xứ địa lý mang những đặc trưng nhất định

- Có số dân tương đối đông, mật độ dân số cao và không thuần nhất

- Có một phần dân cư làm các công việc phi nông nghiệp và có một số chuyên gia

- Theo Max Weber một đô thị phải đảm nhận những chức năng thị trường và ít nhất phải có một phần quyền lực quản lý điều hành

- Các đô thị thể hiện những hình thức tương tác, trong đó một cá nhân được biết đến không phải như một nhân cách đầy đủ theo nghĩa là ít nhất có một số tương tác với người khác không phải như cá nhân mà là với vai trò mà họ đảm nhận

- Các đô thị đòi hỏi một “gắn kết xã hội” dựa trên luật lệ hợp lý

Một định nghĩa khác đó là: Đô thị là một kiến tạo lãnh thổ - xã hội, một hình thức

cư trú mang tính toàn vẹn lịch sử của con người, được đặc trưng bởi các dấu hiệu sau:

- Là nơi tập hợp của một số lượng lớn dân cư trên một lãnh thổ hạn chế

- Đại bộ phận dân cư sống ở đây làm việc trong lĩnh vực phi nông nghiệp

Trang 15

- Là môi trường trực tiếp tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển xã hội

- Các thành tố không gian vật chất: Gồm môi trường không gian hình thể do con người tạo ra, bao gồm không gian kiến trúc, quy hoạch cảnh quan đô thị, cơ sở hạ tầng

kỹ thuật và cả điều kiện khí hậu sinh thái tự nhiên

- Các thành tố tổ chức – xã hội: Đó là cộng đồng dân cư sinh sống trên lãnh thổ đô thị với tất cả những thể chế luật lệ hiện hành tại đó

Đây là hai nhóm yếu tố không thể tách rời cấu thành nên đời sống đô thị

Cũng như khái niệm đô thị, tuỳ theo góc độ tiếp cận, người ta có những định nghĩa khác nhau về đô thị hoá Một cách chung nhất, theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, đô thị hoá được định nghĩa như sau:

Đô thị hoá là quá trình biến đổi về phân bố các lực lượng sản xuất, bố trí dân

cư, những vùng không phải đô thị trở thành đô thị.[28, tr.836]

Trang 16

Đô thị hoá được định nghĩa dựa trên cách tiếp cận nhân khẩu học và địa lý kinh

tế là sự di cư từ nông thôn vào thành thị, là sự tập trung ngày càng nhiều dân cư sống trong những vùng lãnh thổ địa lý hạn chế được gọi là các đô thị

Theo cách tiếp cận đó thì quá trình đô thị hoá được đơn giản hoá thành quá trình gia tăng dân số sống ở đô thị Nếu vậy thì không thể nào giải thích được tầm quan trọng của đô thị hoá cũng như ảnh hưởng của nó tới sự phát triển của xã hội hiện đại Chính vì vậy ngày nay quan điểm về đô thị hoá đã có phần thay đổi khi mà người

ta bắt đầu tính đến mặt xã hội của quá trình này John Macionis viết: “Đô thị hóa không chỉ thay đổi sự phân bố dân cư trong xã hội mà còn chuyển thể nhiều kiểu mẫu của đời sống xã hội”[21, tr 690] Theo đó đô thị hoá là một quá trình lớn bao trùm mà trong đó có nhiều quá trình nhỏ diễn ra Đó không chỉ là quá trình gia tăng dân số đô thị hay mở rộng diện tích đô thị, mà còn là những quá trình làm thay đổi mạnh mẽ về mặt xã hội như: thay đổi cơ cấu xã hội nghề nghiệp của những người nông dân vừa trở thành thị dân, sự lan tỏa và phát triển của lối sống và văn hoá đô thị… Nói một cách khái quát thì đô thị hoá là quá trình tổ chức lại phương thức và môi trường cư trú của con người Đây là một cuộc thay đổi toàn diện và sâu sắc, không thể cưỡng lại và cũng không thể đảo ngược Đó thực sự là một cuộc lột xác cho những nơi mà nó đi qua

1.1.3 Đô thị hoá tại Việt Nam

Đô thị hoá là một quy luật khách quan, phù hợp với đặc điểm tình hình của mỗi quốc gia Việt Nam cũng là một trong các nước đang phát triển đang trải qua giai đoạn

đô thị hoá mãnh liệt và sâu sắc với những đặc điểm chung như đã nói ở trên Quá trình

đô thị hoá ở Việt Nam thực chất trước hết là quá trình biến làng thành phố, từ nông thôn trở thành đô thị, từ đô thị hành chính thành những đô thị đa chức năng Cùng với

sự phát triển kinh tế chúng ta đang ở trong một cuộc cách mạng về đô thị, với sự hình thành các đô thị mới, mở rộng, nâng cấp, nâng hạng hàng loạt đô thị khác Dân số đô thị đang tăng nhanh chưa từng thấy Sự bùng nổ đó cũng kéo theo nhiều hệ luỵ khó tránh khỏi

PGS.TS.KTS Nguyễn Hồng Thục [3, tr 68] đánh giá có ba nghịch lý trong quá trình đô thị hoá ở Việt Nam đó là:

- Đô thị hoá xảy ra trước công nghiệp hoá: Ở các nước phát triển đi trước thì trước khi phát triển các đô thị hiện đại thì họ đã có ít nhất từ 30-50 năm công nghiệp hoá Chính cuộc cách mạng công nghiệp hoá đã chuyển hoá phương thức sản xuất nông

Trang 17

nghiệp của cư dân nông thôn sang lao động công nghiệp dịch vụ với những cư dân thành thị Nó không những tạo tiền đề về kinh tế mà còn tạo tiền đề vè văn hoá, lối sống cho cư dân, giúp họ bước vào cuộc sống đô thị ít bỡ ngỡ hơn Ở Việt Nam thì quá trình này diễn ra ngược lại Sự di cư dân số vào đô thị tăng nhanh và sớm hơn tốc độ công nghiệp, dịch vụ, điều này dẫn đến tình trạng đô thị hoá cưỡng bức

- Hạ tầng kỹ thuật đi sau: Trải qua cách mạng công nghiệp trước nên hạ tầng kỹ thuật của các nước phát triển có thể chịu đựng tốt làn sóng nhập cư lao động chứ không như ở nước ta Khảo sát đất xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật của nhiều đô thị

ở Việt Nam mới chỉ đạt khoảng 10-15% đất đô thị, trong khi yêu cầu tối thiểu cần từ 30-35%

- Thôn tính đất vành đai: Năm 1996 chiến lược phát triển đô thị Việt Nam vạch kế hoạch cho tổng thể đất đô thị đến 2020 là 460.000 ha, thì đến 2006 đã thực hiện trên 477.000 ha, vượt kế hoạch 14 năm Điều này đi ngược nguyên tắc giữ các vành đai xanh để đảm bảo phát triển bền vững Xoá đi ranh giới địa lý giữa các thành phố, lấy

đi những vùng đất màu mỡ luôn cung cấp rau xanh thực phẩm và các loại rau quả, thủ tiêu những lá phổi xanh, không gian nghỉ dưỡng mà lẽ ra nhất thiết phải gìn giữ

1.1.4 Phân loại đô thị

Để quản lý đô thị các nước đều có quy định pháp luật về phân loại hay xếp hạng

đô thị Ở nước ta văn bản pháp luật quy định hiện hành về vấn đề này là Nghị định 71

ra ngày 5/10/2001 của Chính phủ Theo đó, đô thị được hiểu bao gồm thành phố, thị

xã, thị trấn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập Đô thị nước ta được chia làm 6 loại từ loại đặc biệt đến loại năm

Đô thị loại đặc biệt: có chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật, đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp từ 90% trở lên, quy mô dân số từ 1,5 triệu người, mật độ bình quân từ 15.000 người/km2 trở lên Nước ta có 2 đô thị loại đặc biệt là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh

Đô thị loại 1: là đô thị rất lớn có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc cả nước, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp từ 85% trở lên, quy mô dân số từ 50 vạn người, mật độ bình quân từ 12.000 người/ km2

Trang 18

Đô thị loại 2: là đô thị loại lớn, có tỷ lệ lao động phi nông nghiệp từ 80% trở lên, quy mô dân số từ 25 vạn người, mật độ bình quân từ 10.000 người/ km2

Đô thị loại 3: Là đô thị trung bình lớn, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp từ 75% trở lên, quy mô dân số từ 10 vạn người, mật độ bình quân từ 8.000 người/ km2

Đô thị loại 4: là đô thị trung bình nhỏ, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp từ 70% trở lên, quy mô dân số từ 5 vạn người, mật độ bình quân từ 6.000 người/ km2

Đô thị loại 5: là đô thị loại nhỏ, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp từ 65 % trở lên, quy mô dân số từ 4.000 người, mật độ bình quân từ 2.000 người/ km2

Hiện Việt Nam có 7 thành phố được Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận đô thị loại 1là: Đà Nẵng, Hải Phòng, Huế, Vinh, Đà Lạt, Nha Trang và Cần Thơ

Đi liền với phân loại đô thị, Nghị định của Chính phủ cũng quy định phân cấp quản lý đô thị theo ba cấp: trung ương, tỉnh và huyện

Thành phố trực thuộc Trung ương là các thành phố lớn, có nền kinh tế phát triển, là khu vực quan trọng về quân sự, chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội là động lực phát triển cho cả quốc gia/vùng lãnh thổ chứ không còn nằm bó hẹp trong phạm vi một tỉnh Các thành phố này có cơ sở hạ tầng và khoa học công nghệ phát triển, có nhiều

cơ sở giáo dục bậc cao, dân cư đông, thuận lợi về giao thông vận tải Kể từ ngày 1/1/2004, Việt Nam có 5 thành phố trực thuộc trung ương: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng và Cần Thơ

Thành phố trực thuộc tỉnh là một đơn vị hành chính tương đương với cấp quận, huyện, thị xã, chịu sự quản lý trực tiếp của Uỷ ban nhân dân của tỉnh Và đó cũng là trung tâm hành chính, kinh tế, văn hóa, giáo dục của một tỉnh Một số thành phố lớn trực thuộc tỉnh còn được giữ vai trò làm trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị, của cả một vùng (liên tỉnh) Không phải tỉnh nào cũng có thành phố trực thuộc mà thay vào

đó là thị xã giữ vai trò là tỉnh lị Song lại có tỉnh có tới hơn một thành phố trực thuộc

1.2 Văn hoá đô thị và vai trò của văn hoá trong phát triển đô thị

1.2.1 Văn hoá đô thị

Văn hoá là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, là một khái niệm vừa gần gũi vừa trừu tượng và có tầm bao quát rộng Hiện nay có tới hơn 200 định

Trang 19

nghĩa về văn hoá, mỗi nhà nghiên cứu xuất phát từ mục đích và phương pháp nghiên cứu của mình để đưa ra một định nghĩa thích hợp của riêng mình

UNESCO định nghĩa về văn hoá như sau: “ Văn hoá hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm, quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá

trị, những tập tục và những tín ngưỡng.”(Tuyên bố về những chính sách văn hoá, Hội

nghị quốc tế do UNESCO chủ trì, Mehicô, 1982)

Nhà khoa học Pháp Édouard Herriot (1872-1957)cũng đưa ra một định nghĩa bất hủ về văn hoá: “ Văn hoá là cái còn lại khi ta đã quên tất cả, là cái còn thiếu khi ta

đã học tất cả”(Dẫn theo Trần Ngọc Thêm, Thư ngỏ gửi bạn yêu văn hoá và thích văn hoá học,

http://www.vanhoahoc.edu.vn//index.php?option=com_content&task=view&id=12&Itemid=1, 27/11/2007)

Có nhiều cách tiếp cận trong nghiên cứu văn hoá, trong đó cách tiếp cận theo cấu trúc hai bậc của GS.TS Phạm Đức Dương là một cách tiếp cận theo chiều sâu của văn hoá, nhưng không bị nhiễu bởi chiều sâu của lịch sử Ông cho rằng, “văn hoá được xem như một chỉnh thể với cấu trúc hai tầng”

- Cấu trúc bề mặt (biểu tầng): Như là những biến số bao gồm tất cả những biểu hiện văn hoá trong mọi mặt của đời sống, thường xuyên thay đổi, gần như đứt đoạn (yếu tố động) nhất là trong lúc cộng sinh văn hoá, giao lưu văn hoá

- Cấu trúc chiều sâu (cơ tầng) Như là những hằng số tiềm ẩn trong tâm thức chúng

ta, ít biến đổi, mang tính liên tục Đó là những giá trị, những nhân cách đạo đức, nếp sống… Những giá trị đó quy định sự lựa chọn của mỗi thành viên, mỗi cộng đồng, điều chỉnh sự biến đổi trên kiến trúc bề mặt Đến lượt mình những biến đổi trên bề mặt

sẽ thẩm thấu vào cấu trúc chiều sâu, làm thay đổi dần những hệ giá trị, những quan niệm.”.[7, 3/1999]

Văn hoá đô thị là một khái niệm phổ biến nhưng lại chưa được ai định nghĩa Tuy nhiên, nói văn hoá đô thị hay văn hoá làng xã là muốn khu biệt nó vào trong một khung cảnh cụ thể, hoặc là ở nông thôn hoặc là ở đô thị- hai phương thức cư trú chính của con người Đây là hai nhóm đối chứng với nhau Theo cách tiếp cận hai tầng về văn hoá đã nêu trên, thì ở Việt Nam văn hoá đô thị và văn hoá nông thôn đều có chung một xuất phát điểm từ lớp sâu nhất của cơ tầng văn hoá Việt đó là văn hoá làng xã

Trang 20

Đỗ Lai Thuý viết: “Đành rằng Việt Nam có đô thị, nhưng đô thị xuất hiện muộn, và chất đô (tức tính chất hành chính) bao giờ cũng lấn át tính chất thị (tức tính chất thương mại) Bởi vậy đô thị là một đơn vị hành chính hơn là một đơn vị kinh tế Vì thế, suốt trong lịch sử Việt Nam, bao giờ cũng là những hòn cô đảo trên cái biển tiểu nông và bị nông thôn bao vây và chi phối Một xã hội như vậy là môi trường lý tưởng

để hình thành và bảo lưu con người tiểu nông, cái cốt lõi để tạo ra con người làng xã… Con người làng xã với các đặc tính: tính cộng đồng, thói duy tình, tính thiết thực, bám làng bám ruộng… khiến cho con người làng xã một tâm lý hướng nội… Chúng ta đều biết, mỗi người Việt Nam, kể cả con người Việt Nam hiện đại hôm nay, dù sống ở thành thị một vài đời, thậm chí ở cả những siêu đô thị hiện đại nước ngoài, thì trong thẳm sâu tiềm thức của mình vẫn có một anh nhà quê trú ẩn.”[24, tr 112 đến tr 130]

Sự khác nhau về mối quan hệ cư trú và môi trường thiên nhiên – sinh thái giữa nông thôn với đô thị cho thấy: quan hệ cư trú - ứng xử ở nông thôn qua nhiều tầng nấc trong nhà, ngoài ngõ mới ra đến thiên hạ (xã hội); còn ở đô thị từ gia đình ra phố đã là thiên hạ (xã hội), nhất là tại các đô thị lớn Môi trường sống ở nông thôn được khắc hoạ bằng nhiều thể khối kiến trúc ẩn mình giữa thiên nhiên Tại đô thị trái lại, môi trường sống chủ yếu được đặc tả bởi các thể khối kiến trúc có điểm xuyến bới những công trình thiên nhiên mang tính nhân tạo Từ cái khung và cái nền đó, văn hoá đô thị hẳn nhiên có những nét đặc trưng so với văn hoá nông thôn

Thứ nhất, lối sống văn hoá đô thị tuỳ thuộc vào các dịch vụ công, từ nhà ở đến

ăn uống, đi lại cho đến các sinh hoạt cá nhân khác Trong khi ở nông thôn mỗi gia đình

có thể tạo dựng một hệ sinh thái tự cung tự cấp cho chính mình

Thứ hai, trong văn hoá đô thị, tốc độ đô thị hoá càng cao thì hệ số sử dụng các phương tiện giao thông lớn càng tăng lên vì không gian giao tiếp của cư dân đô thị rộng hơn và phức tạp hơn nhiều so với ở nông thôn

Thứ ba, Văn hoá đô thị có tính phân hoá cao và rõ nét Dân số đô thị chủ yếu làm trong các lĩnh vực phi nông nghiệp với sự đa dạng về ngành nghề, trình độ, thành phần… tạo ra sự phân hoá trong lối sống Đô thị càng lớn, mật độ dân số càng cao thì

sự phân hoá này càng sâu sắc và rõ nét

Thứ tư, văn hoá đô thị được đặc trưng ở hoạt động ứng xử đa phương hoá, đa dạng hoá theo hướng ngày càng rộng mở Quan hệ ứng xử của cư dân đô thị cũng như

cư dân nông thôn đều diễn biến xung quanh các chiều thiên nhiên, xã hội và bản thân

Trang 21

Nhưng tại đô thị các quan hệ đó đa dạng hơn, cư dân đô thị có nhiều quan hệ giao tiếp

ẩn danh, ngẫu nhiên và giao tiếp công cộng hơn Tính cách ứng xử ở đô thị cũng khác với nông thôn vì thường thiên về quan hệ pháp luật, thị trường, do đó văn hoá ứng xử

ở đô thị thường duy lý hơn, lạnh lùng hơn

Thứ năm, văn hoá đô thị là phức hợp văn hoá bác học, văn hoá dân gian và văn hoá đại chúng Sự tương tác của ba dạng văn hoá đó tạo nên đặc trưng của văn hoá đô thị, khiến văn hoá đô thị diễn biến phức tạp

Theo Nguyễn Thanh Tuấn, có thể quan niệm: văn hoá đô thị là tổng thể các tri thức, kinh nghiệm và giá trị vật chất, tinh thần, kể cả các hoạt động văn hoá để tôn vinh và sản sinh, truyền bá, thực hành các tri thức, kinh nghiệm và giá trị chân, thiện,

mỹ nhằm làm giàu tính người hơn trong đời sống đô thị [26, tr 29]

1.2.2 Những cơ sở hình thành văn hoá đô thị

Theo Lê Như Hoa, văn hoá đô thị được xây dựng trên cơ sở sự phân công lao động, sự điều hành các thiết chế dịch vụ, quá trình giao tiếp và sự hứng thú sử dụng thời gian rỗi [9, tr 61]

Trong quá trình đô thị hoá, với sự phát triển của công nghiệp và thương mại đã làm đa dạng hoá các ngành nghề ở đô thị Sự phát triển đòi hỏi trình độ chuyên môn hoá cao đã tạo ra sự phân công lao động sâu sắc trong xã hội đô thị Khác với sự sản xuất nông nghiệp thuần nhất ở nông thôn, đô thị với khả năng sản xuất và nhu cầu tiêu dùng cao đã hình thành một khâu trung gian giữa sản xuất và tiêu dùng Đó là lĩnh vực dịch vụ, đây được xem như là một yếu tố quan trọng hình thành nên văn hoá đô thị, một trong những yếu tố quan trọng để đo lường tốc độ phát triển của đô thị Dịch vụ đáp ứng mọi nhu cầu từ cơ bản nhất đến cao cấp nhất của cư dân đô thị Vai trò của dịch vụ rất quan trọng và chi phối đến mọi mặt của đời sống cư dân đô thị Sự phát triển của dịch vụ và phân công lao động sâu sắc đã ảnh hưởng lớn đến hình thức giao tiếp của cư dân đô thị Ở nông thôn các mối quan hệ chủ yếu mang tính sơ cấp, mọi người giao tiếp với nhau thân tình cởi mở, dựa trên mối quan hệ thân tộc họ hàng hay hàng xóm láng giềng nên họ hiểu rõ về cuộc sống cũng như đời tư của nhau Thì ở đô thị với hệ thống quan hệ xã hội đa dạng và mang tính chức năng cao khiến cho con người đô thị giao tiếp với nhau chủ yếu mang tính ẩn danh, có mục đích và lạnh lùng hơn Alvin Toffler gọi đó là “con người môđun”: “Có ý thức hay không, chúng ta xác định mối quan hệ của chúng ta với hầu hết mọi người theo chức năng Chừng nào mà

Trang 22

chúng ta không dính líu với các vấn đề của người bán giày ở nhà ông ta, thì đối với chúng ta ông ta hoàn toàn có thể thay thế được bởi những người bán hàng khác có cùng khả năng Như thế chúng ta đang áp dụng nguyên lý môđun cho các mối quan hệ con người Chúng ta đã tạo ra người có thể vứt bỏ được: người môđun.” [23, tr 40]

Sự phân công và bổ sung lao động, sự hình thành các thiết chế dịch vụ và sự giao tiếp là một trong những nguyên nhân của sự hứng thú sử dụng thời gian rỗi Việc

sử dụng thời gian rỗi của cư dân đô thị đa dạng và khác biệt giữa các nhóm xã hội khác nhau

Như vậy bốn nhóm yếu tố: Sự phân công lao động, sự điều hành các thiết chế dịch vụ, quá trình giao tiếp và sự hứng thú sử dụng thời gian rỗi là những cơ sở nền tảng để hình thành văn hoá đô thị Muốn phát triển văn hoá đô thị bền vững, các chính sách chủ trương đưa ra cần căn cứ toàn diện và sâu sắc đến những cơ sở trên

1.3 Ngõ phố trong đô thị Việt Nam

Đô thị là một cơ thể sống mà chúng ta có thể tiếp cận từ nhiều chiều cạnh Về khía cạnh văn hoá xét theo không gian cư trú có thể chia đô thị làm hai phần: động và tĩnh

“Thành phố động” là nơi với nhiều trục lộ giao thông, các dãy phố san sát hàng quán, các toà nhà cao ốc, văn phòng, trung tâm thương mại nhộn nhịp phồn hoa “Thành phố tĩnh” chính là cái thành phố sau thành phố động đó với không gian yên tĩnh và ít xô bồ hơn Hình thức biểu hiện của thành phố tĩnh chính là các con hẻm, con ngõ như một hệ thống chân rết chạy dọc theo các đường phố, phân bổ khắp thành phố

Ngõ phố (Miền bắc), hẻm (Miền Nam) là đơn vị giao thông đứng sau đường hoặc phố

Đó là một con đường nhỏ hẹp nối liền với một đại lộ (street), một trục đường chính của thành phố (avenue) hoặc là nhánh rẽ ngắn của một con đường có nhiều cây cao hai bên lề (boulevard) Song, ngõ phố không chỉ là đường đi,quan trọng hơn, đó là nơi

cư trú của các hộ gia đình, sống lâu đời trong một không gian khá chật hẹp.[8, tr 24]

Ngõ hay hẻm là một trong những đặc trưng dễ nhận thấy nhất của cấu trúc không gian cư trú của đô thị Việt Nam “Ở phương Tây, nhà ở đô thị được quy hoạch theo các tiểu khu ở và được kết hợp bởi các đơn nguyên nhà cao tầng, với hệ thống dịch vụ xã hội đi kèm khá hoàn chỉnh Kiểu cấu trúc này tạo ra văn hoá chung cư với các quan hệ lạnh lùng, ít cảm xúc Kiểu nhà ống xếp chạy san sát các dãy phố lại tạo ra lối văn hoá thương mại chức năng với tính cộng đồng thấp Các cá nhân quan hệ với nhau theo kiểu ẩn danh và nhất thời Trong khi đó, hẻm (ngõ) phố của Việt Nam là

Trang 23

một không gian văn hoá theo nghĩa năm chiều: ba chiều không gian cơ học, một chiều của thời gian và một chiều của tâm linh” [10, tr 47] Theo chiều thời gian mỗi ngõ phố

có số phận riêng, nó chứng kiến các mốc son lịch sử quan trọng của thành phố cũng như của người dân trong ngõ, lưu giữ những chứng tích lịch sử- văn hoá quan trọng Theo chiều tâm linh, ngõ phố là nơi nuôi dưỡng tâm hồn, lưu giữ các giá trị văn hoá tinh thần, tôn giáo, tín ngưỡng, các giá trị văn hoá cộng đồng, tình làng nghĩa xóm

Một trong những đặc trưng của ngõ phố Việt Nam đó là sự đan xen giữa không gian ở, sinh hoạt và làm việc với ranh giới không thực sự rõ nét và khác nhau giữa các con ngõ Có ngõ chỉ đơn thuần với chức năng cư trú và sinh hoạt nhưng có ngõ ngoài chức năng đó ra còn là nơi làm việc, sản xuất, đặc trưng nhất là những ngõ nghề hay ngõ lao động nghèo Cơ cấu lao động của cư dân trong ngõ phần nào quyết định không khí sinh hoạt chung của ngõ Những ngõ với phần lớn là công nhân viên chức làm việc hành chính thì thường sạch sẽ, yên tĩnh, trong khi đó những ngõ phố với đa số thành phần là những người buôn bán nhỏ, sản xuất tiểu thủ công nghiệp thì khá nhộn nhịp và náo nhiệt với đầy đủ các hoạt động sống: ăn ở, sinh hoạt, sản xuất, buôn bán

Các ngõ phố đô thị Việt Nam có nhiều nguồn gốc hình thành khác nhau nhưng

đa phần là mang tính chất tự phát Khi quy hoạch thành phố, các nhà quy hoạch chỉ quan tâm đến xây dựng và phát triển các trục đường giao thông chính, các khu thị tứ chứ không quy hoạch và quản lý chi tiết các khu dân cư sống ở mặt sau của các đường phố, đó chính là các ngõ phố Chính vì vậy mà ngõ phố Việt Nam hình thành thiếu quy hoạch, chằng chịt và ngoằn nghèo với cơ sở hạ tầng kỹ thuật kém, ít cây xanh và không gian sinh hoạt cộng đồng Kiến trúc nhà ở trong ngõ cũng vì thế mà lộn xộn, không đồng bộ và thiếu bản sắc Hiện tượng lấn chiếm và sử dụng trái phép đất công

là hiện tượng phổ biến làm cho ngõ đã hẹp lại càng trở nên chật chội và tối tăm

Nhưng chính những con hẻm chật chội tối tăm đó là nơi gìn giữ những giá trị văn hoá tinh thần truyền thống của người Việt Trong nhịp phát triển sôi động của đô thị, lối sống ẩn danh, thực dụng và lạnh lùng ngày càng sâu sắc và rõ nét trong những mối quan hệ của cư dân đô thị, thì ở trong mỗi con ngõ, tình làng nghĩa xóm, lối sống cộng đồng “tối lửa tắt đèn có nhau” vẫn luôn được gìn giữ và trân trọng

1.4 Tiểu văn hoá và tiểu văn hoá ngõ phố

Các nhà xã hội học nói rằng chừng nào sự khác biệt về văn hóa được biểu hiện cụ thể trong lối sống – bao gồm tổng thể các biểu tượng và ý niệm, các giá trị và chuẩn

Trang 24

mực, các khuôn mẫu và thể chế, kể cả các sở thích trong thể thao và nghệ thuật, các mốt trong ăn mặc và trang điểm – thành những đặc trưng rõ rệt và những đặc trưng này có thể tái tạo trong đời sống xã hội để có thể phân biệt giữa nhóm này với nhóm kia, giai tầng này với giai tầng khác, chừng đó có thể nói đến sự tồn tại của một tiểu văn hóa.[8 tr 192]

Như vậy thuật ngữ tiểu văn hóa mô tả những nhóm người không những sống chung trong bối cảnh của một nền văn hóa rộng lớn, mà còn sống thực sự trong bối cảnh tiểu văn hóa của riêng mình Nhìn một cách khái quát, người ta có thể chia các

tiểu văn hóa thành hai loại chính, đó là tiểu văn hóa theo vùng địa lý và tiểu văn hóa theo đặc trưng xã hội

Loại hình tiểu văn hóa ngõ phố mà chúng ta đang đề cập thuộc loại hình tiểu văn hóa nào? Nghe ra có vẻ hợp lý khi đặt loại hình này vào nhóm tiểu văn hóa theo vùng địa lý, vì dẫu sao đây là văn hóa của một nhóm người cùng chia sẻ chung về khu vực cư trú là xóm ngõ của mình Nhưng thực tế đây là loại hình tiểu văn hóa thiên về đặc trưng xã hội nhiều hơn Vì một ngõ phố là quá bé nhỏ để nói đến như một khu vực địa lý có cùng điều kiện lịch sử- xã hội hay tự nhiên, khí hậu mà từ đó hình thành nên những bản sắc của ngõ phố đó Những ngõ phố văn hóa của đô thị Việt từ xưa đến nay thường xuất phát từ những cư dân làm chung một nghề (phường hội, khu tập thể cơ quan…), hay là những người có điều kiện kinh tế tương tự nhau, có những sinh hoạt chung và chia sẻ chung các nguồn lực với nhau, mà từ đó hình thành nên bản sắc đặc trưng của ngõ phố nhiều hơn là xuất phát tự đặc điểm tự nhiên, địa vực

Theo cách phân loại đó Tiểu văn hóa ngõ phố được hiểu là loại hình tiểu văn hóa hình thành từ lối cư trú của cư dân thành thị theo ngõ phố, với những đặc trưng

rõ rệt về đặc điểm địa lý dân cư (vị trí, kích thước, kiến trúc cảnh quan, quy mô nguồn gốc dân cư, không gian tập thể); kinh tế (nghề nghiệp, cơ sở sản xuất); các loại hình sinh hoạt văn hóa cộng đồng (hoạt động tôn giáo, hoạt động văn hóa, hoạt động vui chơi giải trí, hoạt động chính trị); mạng lưới xã hội (quan hệ giữa các hộ gia đình, giữa các cá nhân) cũng như các nhóm xã hội đặc trưng (nhóm nghề nghiệp, nhóm người nhập cư, nhóm theo giới, nhóm theo độ tuổi) và, cuối cùng quan trọng nhất là lối sống, với đặc trưng là tính cộng đồng cao Có thể nói tựu trung lại ngõ phố là nơi lưu giữ và tiếp tục phát huy những giá trị của văn hóa làng xã Việt Nam trong môi trường đô thị hiện đại

Trang 25

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG TIỂU VĂN HOÁ NGÕ PHỐ Ở THÀNH PHỐ VINH

2.1 Quá trình hình thành và phát triển của thành phố Vinh

Từ đời Trần cho đến cuối thế kỷ 19, lị sở của Nghệ An đóng ở Lam Thành- Phù Thạch Vinh lúc ấy chỉ là một đồn luỹ nhằm bảo vệ cho lị sở Tuy nhiên, tại đây cũng

đã có các hoạt động thương mại, nghề thủ công, giao lưu văn hoá khá nhộn nhịp

Vị trí đắc địa của Nghệ An đã lọt vào “mắt xanh” của thiên tài Nguyễn Huệ Hoàng đế Quang Trung đã có chủ trương, đồng thời tổ chức xây dựng Phượng Hoàng Trung đô ở Vinh Ngày 1/10/1788, Vua Quang Trung gửi chiếu cho La sơn Phu tử Nguyễn Thiếp, chọn Vinh để xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô Năm 1792, Vua Quang Trung đột ngột băng hà, để lại cả sự nghiệp và Trung đô Phượng Hoàng thành xây dở Mặc dù chưa được xây dựng hoàn chỉnh và cũng chưa có những ảnh hưởng to lớn, trực tiếp đến đời sống của Vinh đương thời, nhưng Phượng Hoàng Trung Đô có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng và sâu sắc đối với lịch sử hình thành và phát triển của Vinh Nó làm tăng lên nhiều lần kích thước và chiều dày văn hoá lịch sử của thành Vinh Đó cũng là một niềm tự hào, một điểm tựa có ý nghĩa lịch sử và tâm linh sâu sắc cho các thế hệ người dân Vinh

Tuy nhiên không nên gọi đó là ngày thành lập thành phố Vinh, hoặc ngày ra đời Vinh với tư cách một đô thị

Tháng 5 năm 1804, vua Gia Long xuống chiếu cho Tả quân Lê Văn Duyệt đốc thúc việc xây thành đắp luỹ để chuyển dời lị sở Nghệ An từ Lam Thành- Phù Thạch về

Vinh ngày nay Đây là một cái mốc quan trọng đánh dấu chính thức việc Vinh trở thành trung tâm hành chính của tỉnh Nghệ An, trở thành một trong 29 doanh trấn của

cả nước ta thời kỳ đó Tuy vậy, nền kinh tế của Vinh chủ yếu vẫn dựa trên nông

nghiệp, tự cung tự cấp là chính Đô thị Vinh, vì vậy về khía cạnh văn hoá vẫn nghiêng

về yếu tố đô, yếu tố thành, hơn là yếu tố thị

Và, Vinh chỉ thật sự chuyển thành đô thị đúng nghĩa cùng với cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp (1897- 1914)

Ngày 20/7/1885, người Pháp chiếm thành Nghệ An Ngày 12/7/1899, vua Thành Thái ra đạo dụ thành lập trung tâm đô thị Vinh cùng với các đô thị khác là Thanh Hoá, Huế, Hội An, Quy Nhơn, Phan Thiết Sau đó một ngày đạo dụ này được

Khâm sứ Trung Kỳ phê duyệt Đây là văn bản chính thức đầu tiên của nhà nước gọi Vinh là đô thị, mà chính xác là trung tâm đô thị (centre urbain)

Trang 26

Ngày 11/3/1914 vua Duy Tân ra đạo dụ thành lập trung tâm đô thị Bến Thuỷ Ngày 27/8/1917 vua Khải Định ra đạo dụ thành lập trung tâm đô thị Trường Thi

Như vậy vào thời điểm này trên một vùng đất trên dưới 20 km2, tồn tại ba trung tâm đô thị, với chức năng có những điểm khác nhau

Ngày 10/12/1927 toàn quyền Đông Dương cho thành lập thành phố Vinh- Bến Thuỷ trên cơ sở sáp nhập ba trung tâm đô thị là Vinh, Trường Thi và Bến Thuỷ

Sự sáp nhập ba trung tâm đô thị để trở thành thành phố Vinh là một sự chuyển biến có ý nghĩa về chất

Ngoài văn hoá truyền thống còn in đậm trong nếp sống và cách nghĩ cách làm của đại bộ phận các tầng lớp nhân dân, trong giai đoạn này cư dân Vinh bắt đầu đối diện và đối thoại với những trào lưu văn hoá mới, trong đó cũng đã bắt đầu hình thành những mầm mống đầu tiên của văn hoá công nghiệp và văn hoá đô thị Việc hình thành các phố thị sầm uất, với cung cách quản lý đô thị theo khuôn mẫu châu Âu cũng

đã đặt cư dân Vinh vào khuôn khổ của đời sống đô thị, từ việc giao thông đến đóng thuế, xả rác, giữ gìn an ninh trật tự công cộng…Về giáo dục đây cũng là giai đoạn giao thời giữa lối học và thi cử cũ với cách thức giáo dục mới Về văn hoá văn nghệ ngoài các hình thức sinh hoạt văn hoá truyền thống, âm nhạc mới cũng đã du nhập và bắt đầu phát triển ở Vinh Các hoạt động văn hoá thể thao cũng phát triển dần, trở thành hoạt động vui chơi giải trí không chỉ của tầng lớp thượng lưu mà cả của học sinh, trí thức

và người lao động Về tôn giáo tín ngưỡng, ngoài Phật giáo, Nho giáo, công giáo cũng

đã xâm nhập được vào một bộ phận quần chúng dân cư

Tuy nhiên, trong chiều sâu nhất của quá trình tiếp biến văn hoá của đô thị Vinh thời kỳ này có ba dòng văn hoá cùng chảy Dòng thứ nhất là dòng văn hoá truyền thống, với tất cả yếu tố tích cực và cả sự phản ứng tiêu cực Dòng thứ hai là dòng văn hoá phương tây, do người Pháp truyền bá và áp đặt Ngoài những yếu tố thực dân, chính nó cũng có những yếu tố tích cực Những mầm mống đầu tiên của văn hoá đô thị được bắt đầu từ đây Dòng thứ ba là dòng văn hoá vô sản, âm thầm, nhưng bền bỉ và ráo riết Chính dòng văn hoá này đã làm nên cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930- 1931 Trong sự giao lưu và tiếp biến ấy, Vinh không chỉ hun đúc thêm những tinh hoa của văn hoá Xứ Nghệ và tiếp thu những tinh tuý đầu tiên của nền văn hoá mới, văn hoá vô sản và những yếu tố văn minh của văn hoá đô thị mà người phương tây mang đến

Trang 27

Sau Cách mạng Tháng Tám, trong điều kiện nhà nước cộng hoà non trẻ phải đối phó với thù trong giặc ngoài, nạn đói lan tràn, nhưng với khí thế của thời đại mới, nhân dân Vinh bắt tay xây dựng đời sống văn hoá mới

Thế nhưng, thực dân Pháp lại gây hấn, nhân dân ta lại bước vào cuộc trường kỳ kháng chiến Bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược Pháp, thực hiện chủ trương của Trung ương và Hồ Chủ tịch, thành phố Vinh đã tiến hành tiêu thổ để kháng chiến Thành phố Vinh sầm uất và xinh đẹp, thành quả của hơn một nửa thế kỷ xây dựng bằng mồ hôi, nước mắt và xương máu của nhiều thế hệ nay phải san phẳng Tuy vậy, với chủ trương tôn trọng tự do tín ngưỡng, nhiều cơ sở tôn giáo tín ngưỡng vẫn được giữ nguyên vẹn Tiêu thổ để kháng chiến là một sự kiện bi tráng nhất trong lịch sử hiện đại của thành phố Vinh, thể hiện rõ nét nhất khí phách và bản lĩnh văn hoá của người dân xứ Nghệ

Sau tiêu thổ kháng chiến, phần lớn các nhà máy công xưởng đã được di chuyển

về các huyện Dân thành phố cũng tản cư đi các huyện, chuẩn bị cho cuộc trường kỳ kháng chiến Có thể nói trong giai đoạn này thành phố đã bị nông thôn hoá Dân số Vinh lúc này chỉ có trên dưới 5000 người, tuyệt đại bộ phận là nông dân Các hoạt động kinh tế xã hội cũng như mọi mặt của đời sống chuyển sang thời chiến

Hoà bình lập lại trên miền Bắc, thành phố Vinh cũng mau chóng hồi sinh Nhân dân Vinh đi tản cư từ các nơi nô nức trở về bắt tay khôi phục lại thị xã Các tuyến đường được xây dựng lại, hầm hào được san phẳng, chợ búa, nhà cửa cũng được dựng lại Tuy nhiên trận lụt cuối năm 1954, rồi mấy năm sau là những trận hoả hoạn liên tiếp đã gây cho Vinh những tổn thất nặng nề

Năm 1957, nhà máy Điện Vinh được xây dựng lại Nhiều công trình kinh tế xã hội khác cũng được xây dựng hoặc cải tạo nâng cấp, như đường sắt Thanh Hoá- Vinh, cảng Bến Thuỷ, nhà máy ép dầu, nhà máy gỗ, nhà máy nước, nhà máy xay…

Ngày 28/12/1961, Bộ Chính trị có Nghị quyết 31 xây dựng Vinh trở thành một trong năm khu công nghiệp lớn của miền Bắc và nâng cấp Vinh lên thành phố

Ngày 10/10/1963 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 148 thành lập thành phố Vinh Đây là một cột mốc quan trọng trên con đường phát triển của Vinh

Về văn hoá, nhiều người cho rằng đây là một thời kỳ phát triển hết sức lành mạnh của Vinh Hàng loạt các thiết chế văn hóa quan trọng được xây dựng Các hoạt động văn hoá nghệ thuật, thể dục thể thao diễn ra sôi nổi trên khắp thị xã, thu hút đông đảo quần chúng tham gia Cùng với hệ thống giáo dục được hình thành từ mầm non

Trang 28

đến đại học, phong trào bổ túc văn hoá cũng phát triển rộng khắp, góp phần nâng cao dân trí cho nhân dân

Thế nhưng, chỉ một năm sau ngày Vinh được lên thành phố, đế quốc Mỹ leo thang ném bom ra miền Bắc, Vinh là một trọng điểm trong tuyến lửa Khu Bốn Một lần nữa, Vinh lại bị tàn phá hoàn toàn Hầu như tất cả thành quả lao động của nhân dân thành phố Vinh trong mười năm xây dựng trong hoà bình đã bị xoá sổ Kết thúc cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, Vinh không còn một ngôi nhà nào nguyên vẹn

Cuộc sống mọi mặt của thành phố chuyển sang thời chiến, với hai nhiệm vụ sản xuất và phục vụ chiến đấu Văn hoá chính trị bao trùm hết tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Nếp sống văn hoá của thành phố lúc này là nếp sống thời chiến, kham khổ

và thiếu thốn, nhưng cũng hết sức lành mạnh và lạc quan

Tuy nhiên trong giai đoạn này, ngoài việc lo lắng đến cuộc sống hàng ngày, thành phố đã quan tâm đến những công việc có tính lâu dài Thành phố đã đề xuất và ngày 26/12/1970, Chính phủ ra quyết định cắt các xã Hưng Đông, Hưng Lộc, Hưng Vĩnh, Hưng Hoà, một phần đất ở phía bắc Cầu Đước của xã Hưng Chính huyện Hưng

Nguyên và xã Nghi Phú, huyện Nghi Lộc sáp nhập vào thành phố Vinh

Ra khỏi chiến tranh với hố bom và gạch vụn, Vinh bắt tay xây dựng lại Ngày 1/5/1974, Phó thủ tướng Chính phủ Đỗ Mười đặt viên gạch đầu tiên xây dựng lại Thành phố Vinh Với sự giúp đỡ của Cộng hoà Dân chủ Đức, Vinh được quy hoạch lại

và xây dựng gần như mới hoàn toàn Khu nhà cao tầng Quang Trung, với 25 ngôi nhà

5 tầng, cùng với các thiết chế dịch vụ khác được coi là một biểu tượng mới của Vinh thời kỳ đầu xây dựng lại Từ những nơi sơ tán các cơ quan quân, dân, chính, đảng cũng lần lượt trở lại xây dựng trụ sở ở Vinh Các thiết chế văn hoá cũng được khôi phục lại Đặc biệt trong giai đoạn này, như nhiều thành phố khác ở miền bắc, Vinh bắt đầu có sự giao lưu ngày càng nhiều với các đô thị ở miền Nam và nước bạn Lào

Thế nhưng không khí hồ hởi sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước không kéo dài được lâu Đất nước ta rơi vào khủng hoảng kinh tế xã hội trầm trọng, lại bị bao vây cấm vận từ bên ngoài Năm 1980, cùng với một số đô thị khác, Vinh không còn nguồn viện trợ từ Cộng hoà Dân chủ Đức Đây là giai đoạn mà đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân cũng rất nghèo nàn Có thể nói, công cuộc tái thiết lại Vinh chỉ thật sự được khởi động lại và bứt phá mạnh mẽ từ khi công cuộc đổi mới được phát động, đặc biệt là từ những năm 90 của thế kỷ trước

Trang 29

Ngày 13 tháng 8 năm 1993 Vinh được công nhận là đô thị loại hai Đây là một cái mốc quan trọng, một mặt ghi nhận sự tái sinh mạnh mẽ của Vinh, mặt khác là sự định hướng cho Vinh phát triển trong tương lai

Ngày 5/9/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 1210 về việc công

nhận Thành phố Vinh là đô thi loại 1 trực thuộc Tỉnh Nghệ An Đây là một dấu mốc

hết sức quan trọng, khẳng định một kích thước và vị thế, đẳng cấp mới của thành phố

Hiện nay Vinh đã là một đô thị được quy hoạch tốt, khá bề thế, khang trang, hứa hẹn là một thành phố hiện đại Sau khi sáp nhập thêm sáu xã của Huyện Hưng Nguyên và huyện Nghi Lộc, Vinh hiện có diện tích 10.498,39 ha, dân số 282.981 người Kinh tế tăng trưởng khá liên tục trong nhiều năm liền, thu nhập bình quân đầu người đạt trên 20 triệu VNĐ/ năm Theo đó Vinh đã và đang thu hút được ngày càng nhiều các nguồn đầu tư từ các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh, cũng như sự đầu tư từ nhân dân Bộ mặt đô thị thay đổi nhanh chóng Các hoạt động văn hoá cũng được xã hội hoá mạnh Định hướng về văn hoá đô thị được khẳng định, nội dung về văn hoá đô thị từng bước được nhận thức Phương thức và giải pháp xây dựng văn hoá đô thị cũng được đổi mới

- Hình thức tụ cư trong các chung cư

- Hình thức tụ cư theo dãy phố

- Hình thức tụ cư theo khu đất phân lô mới quy hoạch

- Hình thức tụ cư theo ngõ phố

Mỗi hình thức cư trú sẽ ảnh hưởng nhất định đến phương thức sống, cách thức ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội của cộng đồng dân cư sống ở đó Cũng như nhiều đô thị Việt Nam khác, ngõ phố là một hình thức cư trú đặc trưng của thành phố Vinh Hiện chưa thống kê được ở Vinh có bao nhiêu ngõ phố, nhưng nếu thành phố có hàng trăm khối phố thì ngõ phố phải lên đến hàng ngàn Ngõ phố ở Vinh có các nguồn gốc hình thành chủ yếu sau đây:

Được hình thành một cách ngẫu nhiên, từ từ do quá trình chuyển cư tự nhiên Dân cư ở đây chủ yếu là dân góp chuyển từ các địa bàn khác trong thành phố, hay các

Trang 30

huyện trong tỉnh, “trước lạ sau quen” theo thời gian hình thành nên mối quan hệ hàng xóm láng giềng với nhau

- Được hình thành từ rất lâu đời, do chuyển từ xã lên phường, từ đường làng mà thành ngõ phố Dân cư trong những ngõ này chủ yếu là cư dân của làng cũ với chằng chịt các mối quan hệ họ hàng, láng giềng, làm ăn… Tuy nhiên theo quá trình đô thị hoá, sự di

cư đi và đến của cư dân trong ngõ, sự thay đổi cơ cấu dân cư và lao động đã làm cho thành phần dân cư trong những ngõ này không còn thuần nhất như trước Quá trình đô thị hoá, quy hoạch và quản lý nên bộ mặt những ngõ phố này cũng đã thay đổi nhiều so với tính chất làng trước đây

Ngõ được chuyển đổi từ khu tập thể cơ quan, hoặc khu quy hoạch đất ở dành cho một cơ quan, đơn vị xí nghiệp nào đó trong cơ quan, doanh nghiệp nhà nước Cư dân ngõ này ở thế hệ đầu chủ yếu là những người làm cùng cơ quan, xí nghiệp, trước khi là hàng xóm láng giềng họ là đồng nghiệp Những ngõ đó vẫn thường được gọi tên như là: ngõ tỉnh uỷ, ngõ địa chất, ngõ kho bạc, xóm đại học, xóm bệnh viện…

2.3 Đặc điểm của văn hoá ngõ phố

2.3.1 Đặc điểm về địa lý, dân cƣ và cơ sở hạ tầng

Ngõ phố là một hiện tượng phổ biến ở đô thị Việt Nam, Ở thành phố Vinh cũng vậy Ngõ phố phân bổ khắp thành phố, cả khu trung tâm, nội thành đến những khu ven

đô Quy mô và hình thức các ngõ phố ở Vinh tương đối đa dạng Có những ngõ có lộ giới chỉ khoảng 2m nhưng có những ngõ rộng tới 7m cho phép chạy được hai làn xe ô tô

Có ngõ cụt nhưng có ngõ thông với một đường cái khác, có ngõ lại thông với các nhánh ngõ khác, những ngõ này còn có chức năng giao thông tương đối quan trọng Đều gọi chung một đơn vị là ngõ nhưng lại rất khác nhau về quy mô, có ngõ chỉ khoảng 4-5 thậm chí 3 hộ sinh sống nhưng có ngõ lên đến 40 hộ gia đình với hàng trăm nhân khẩu Hiện tượng ngõ ngách hẹp và hun hút với vô số nhánh rẽ đã dần dần bị biến mất ở Vinh Cũng

có những ngõ thông với nhiều ngõ khác tạo thành một hệ thống các dây ngõ chằng chịt phía sau mặt tiền của đường phố, những ngõ này tạo thành các “đường liên khối” (chạy

từ khối phố này qua khối phố khác) ngoằn ngoèo nhiều khúc lượn Những hệ thống ngõ như thế này chủ yếu là những địa điểm có dân cư cư trú lâu đời theo hình thức “làng”,

sau đó được xây dựng, sửa chữa và hình thành một cách tự phát thành “ngõ”

Tuy nhiên nhìn chung lại thì hầu hết ngõ phố ở Vinh ngày nay được quy hoạch tương đối đẹp, lộ giới trung bình khoảng 4-5m với quy mô khoảng 15- 20 hộ gia đình sinh sống Đơn vị hành chính nhỏ nhất ở thành phố Vinh là phường, xã Trực thuộc phường có các đơn vị nhỏ hơn được gọi là “Khối” (tương đương Cụm dân cư ở Hà Nội) Dưới khối lại được chia thành “Tổ dân cư”, hay “tổ tự quản” Thực chất khối và tổ dân

Trang 31

cư đều là những hình thức tổ chức tự quản, tuy nhiên khối cũng làm một số việc mang tính chất quản lý hành chính, tương tự như xóm ở xã Điều đáng quan tâm ở đây là ở Vinh thông thường mỗi ngõ như vậy cũng tương đương là một, hoặc hai tổ dân cư Tuy vậy cũng có nhiều ngõ bao gồm nhiều tổ dân cư khác nhau Có khi cùng một ngõ, nhưng dãy bên phải là tổ một, bên trái lại là tổ hai Điều này cũng cần được quan tâm lưu ý,

nhất là hiện nay thành phố đang có chủ trương xây dựng ngõ phố văn minh

Các hộ gia đình trong ngõ cũng như các gia đình đô thị điển hình khác chủ yếu sống kiểu gia đình hạt nhân hai thế hệ (60%) Theo kết quả điều tra gia đình Việt Nam năm 2006, mô hình hộ gia đình hạt nhân chiếm tỉ lệ 63,4 %2

Theo kết quả điều tra của đề tài nghiên cứu tại thành phố Vinh, số gia đình hạt nhân trong ngõ phố trung bình chỉ 60%, thấp hơn cả trung bình chung của cả nước Số gia đình 1 thế hệ chủ yếu là các cặp vợ chồng mới kết hôn và chưa kịp có con, hai vợ chồng già sống với nhau trong khi con cháu đã ra riêng hết Số gia đình có trên 3 thế hệ sống chung với nhau cũng chiếm tới 30% Các gia đình như thế này hình thành chủ yếu

là do một số người già từ quê ra sống cùng con cái để an dưỡng tuổi già, số ít là ông bà sống cùng con cháu đã lập gia đình nhưng không ra ở riêng

Số thế hệ sống trong 1 gia đình

1 thế hệ 10%

2 thế hệ 60%

3 thế hệ trở lên

30%

Biểu 2.1: Số thế hệ sống trong một gia đình trong ngõ phố

[Từ đây trở về sau, các số liệu được trích dẫn là kết quả khảo sát văn hoá ngõ phố tại thành phố Vinh của tác giả, trừ khi có chú giải khác]

Chưa thống kê xem tỷ lệ gia đình có từ 3 thế hệ trở lên là bao nhiêu đối với những gia đình sống ở mặt đường và chung cư nhưng chắc chắn sẽ thấp hơn con số 30

% (vì nếu không làm sao có được con số trung bình 65% trên toàn quốc) Nói như vậy

để thấy rằng ngõ phố vẫn có những nét rất đặc trưng giống với làng quê, phù hợp với

2 Theo Lâm Ngọc Như Trúc, Công nghiệp hoá và sự biến đổi của gia đình Việt Nam,

http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn/Hoithao/VNHOC/TB6/truc.pdf

Trang 32

lối sống của người già Nhà mặt đường ồn ào, khói bụi, nhiều xe cộ, chung cư cũng lạnh lùng kém thân thiện và ít cây xanh thường không được những người cao tuổi ưa thích Nhà trong ngõ rộng rãi, mát mẻ, yên tĩnh, gần gũi với thiên nhiên và cả với hàng xóm láng giềng tạo cho người cao tuổi một cảm giác ấm cúng như ở làng quê, phù hợp với sức khoẻ và lối sống của họ Điều đó phần nào giải thích cho con số 30% số hộ gia đình trong ngõ có 3, 4 thế hệ sống chung một nhà

Phần lớn dân số thành phố Vinh sống trong các ngõ phố lớn nhỏ khác nhau Không giống như các đô thị lớn khác, cư dân của thành phố Vinh tương đối thuần nhất, đây cũng là đặc điểm dễ nhận thấy ở các đô thị tỉnh lị Việt Nam Hầu hết cư dân trong ngõ phố là dân góp từ các vùng trong thành phố, tỉnh 68% chuyển từ những phường khác nhau trong thành phố tới, họ có thể là những người đã từng sống ở những ngõ phố khác, ở khu chung cư Quang Trung cũ hay các nhà mặt đường 30,9% nhập

cư từ các huyện trong tỉnh, rất ít người ở vùng ngoại tỉnh đến định cư trong các ngõ phố Thực tế thì người ngoại tỉnh cư trú ở Vinh cũng không nhiều, chỉ có khoảng 30.000 người, chưa đầy 10% dân số Sự di cư này có thể do kết hôn, tách hộ, do công việc, cũng có thể là di cư đến nơi có điều kiện sống tốt hơn, phù hợp hơn

Thời gian định cư của các gia đình ở Vinh hầu hết đều dưới 20 năm (69,7%) chỉ có khoảng hơn 30% là sống trên 20 năm

Vinh có cơ cấu dân số trẻ về tuổi đời sống trong đô thị Theo thống kê quản lý nhân hộ khẩu của Công An Thành phố Vinh năm 2008 thì số người trên 50 tuổi có nguyên quán ở Vinh chỉ gần 13 nghìn người so với hơn 30 vạn dân Hầu hết người ở Vinh đều là những cư dân đô thị đời đầu, là thế hệ đầu tiên trong công cuộc đô thị hoá của đô thị này Họ chủ yếu từ các vùng nông thôn trong tỉnh di cư ra thành phố Họ từ quê mang ra đô thị những nét văn hoá làng xã rất đặc trưng Những đặc trưng đó ngấm dần vào trong lòng mỗi ngõ phố, để ta thấy ngõ phố vừa mang hơi thở của đô thị, nhưng đồng thời mang tâm hồn của làng quê

Tuy nhiên, điều đáng quan tâm là phần lớn những người dù mới đến hay đã sống rất lâu trong các ngõ phố đều muốn gắn bó với con ngõ của mình, muốn định cư lâu dài tại đây mà không có ý định chuyển đi

84,6% trả lời là sẽ định cư lâu dài tại ngõ và không có ý định chuyển đi Chính vì vậy

mà hiện tượng thay đổi chủ và bán đất trong ngõ cũng rất ít xảy ra Dân cư trong ngõ tương đối ổn định, ít có sự xáo trộn và thay đổi, đây là một nét đặc trưng của ngõ phố

Trang 33

khác với những đặc điểm thường thấy trong quá trình đô thị hoá ở các đô thị lớn hiện nay Có những gia đình còn sống bao đời với nhiều thế hệ ở ngõ phố đó Việc mua bán đất hay thay đổi chủ là hiếm khi xảy ra và khi được hỏi về hiện tượng này trong những năm qua thì 39,4 % trả lời không và 24% trả lời là hiếm khi chỉ 16,6 % trả lời là thỉnh thoảng có hiện tượng mua bán đất

Những người trong ngõ ít khi bán nhà để chuyển đi nơi khác là vì họ không có nhu cầu thay đổi chỗ ở, đất để làm nhà và sinh sống chứ không phải để mua đi bán lại, đất rộng thì chia cho con cho cháu, chỉ khi thực sự bức bí thì họ mới bán đất Số người chuyển đến thì có thể nhiều, nhưng số người chuyển đi thì rất ít

Họ không chuyển đi nơi khác cũng là vì hầu hết họ đều hài lòng với cuộc sống trong ngõ phố (86,9 %) Không có ai không hài lòng cả dù họ là đã sống ở ngõ phố này bao lâu, 5 năm, 10 năm hay trên 20 năm

Ở tất cả các nhóm với thời gian sống ở ngõ phố khác nhau thì mức độ hài đều gần 90% Nhóm sống dưới 5 năm thì con số này chỉ 70%, nhưng do mẫu thuộc nhóm này quá nhỏ (10 người) nên cũng chưa thể đưa ra được kết luận gì về sự khác biệt này

Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến thái độ hài lòng hay không của người dân trong ngõ chính là cơ sở hạ tầng của ngõ bao gồm: đường sá, điện nước, hệ thống thoát nước và chiếu sáng

Nhiều người cho rằng cơ sở hạ tầng của ngõ phố là rất kém, ngõ phố không phải là sản phẩm của quy hoạch đô thị hiện đại, chính quá trình tụ cư tự phát đã hình thành những ngõ ngách chật chội, ẩm thấp, ngập nước và tối tăm Nhiều ngõ là do đường làng mở rộng mà thành ngõ, những ngõ này đường quanh co uốn khúc như đường làng và còn bị chia nhỏ với nhiều ngách hốc Lối ứng xử với thiên nhiên tại các khu dân cư theo kiểu làng truyền thống ngay giữa lòng đô thị tất nhiên là không thể phù hợp Song trong các khu dân cư ở đô thị thì quá trình sản xuất – tiêu dùng chủ yếu dựa vào các vật phẩm công nghiệp “nhân tạo” và không thể có chu kì khép kín sinh thái về với thiên nhiên Nền sản xuất công nghiệp hoá, đô thị hoá với tốc độ bê tông hoá quá nhanh, lại càng gia tăng mức độ bòn rút tài nguyên thiên nhiên và phá hoại sự cân bằng sinh thái giữa không gian ngõ ngách chật hẹp và thiếu bóng cây xanh Một nhà nghiên cứu đã viết về hẻm phố ở Thành phố Hồ Chí Minh như sau: “Không ít hẻm được hình thành từ những mảnh đất trống, mỗi người chiếm một khoảng vừa dựng được cái nhà nhỏ, chừa ra lối đi không lớn hơn đường làng…Kiến trúc cũng như cư

Trang 34

dân được sắp xếp chủ yếu theo trục nằm ngang, nếu dân cư tăng lên thì nhà cửa cũng được mở rộng theo trúc hoành theo hướng lấn hẻm nên nhiều con hẻm càng ngày càng bít lại… Do đi lên từ làng xóm hoặc hình thành tự phát thiếu quy hoạch nên nhiều con hẻm gây khó khăn cho vấn đề chỉnh trang đô thị và không giấu được vẻ nhếch nhác, mất vệ sinh do hệ thống cấp thoát nước không có” [19, tr 39]

Những ngõ phố kiểu như vậy ở thành phố Vinh cũng có nhưng cũng không nhiều và không điển hình Thành phố Vinh có tuổi đời hơn 200 năm, tuy nhiên vì lí do chiến tranh và thiên tai, nhịp phát triển của thành phố bị đứt đoạn nhiều lần, nên cho đến nay vẫn là một thành phố trẻ, như phần lớn các đô thị tỉnh lị khác ở nước ta Ra khỏi chiến tranh từ đầu những năm 70 của thế kỷ trước, Vinh được quy hoạch lại gần như từ đầu, nên không có tình trạng ngõ ngách chật hẹp và dài hun hút với vô số nhánh

rẽ như ở thành phố Hồ Chí Minh hay Hà nội Vì vậy, ngõ phố ở Vinh có quy mô nhỏ, không gian tụ cư khá rõ, rất dễ trở thành một đợn vị cư trú được xác định Hơn nữa gần 10 năm trở lại đây, nhờ thực hiện phương châm “nhà nước và nhân dân cùng làm” nên tình hình cơ sở hạ tầng và vệ sinh môi trường của ngõ phố được cải thiện mạnh Đường phố được bê tông hoá, hệ thống chiếu sáng được lắp đặt, hệ thống thoát nước được cải thiện hơn

Gần 100% ngõ phố ở Vinh đều đã được bê tông hoá, có hệ thống thoát nước và chiếu sáng Đường ngõ ít khi bị ngập nước, nếu có mưa to thì có một số bị ngập nhưng nước rút khá nhanh 57,7 % người sống trong ngõ được hỏi trả lời không bao giờ bị ngập nước, 34,3 % trả lời có thỉnh thoảng ngập khi mưa quá to nhưng nước rút rất nhanh

Hệ thống thu gom rác thải đến từng gia đình làm cho tình trạng xả rác bừa bãi trên đường ngõ giảm đi “Mỗi thời, mỗi nơi khác nhau người ta có cách ứng xử với rác khác nhau Ngày xưa rác hầu như được xử lý gọn trong vòng quay sinh thái Người ta

có thể vô tư mà xả rác Quá lắm thì gom lại một góc vườn mà chôn lấp, mà đốt Trước đây phong trào “sạch làng tốt ruộng” thế hệ những người lớn hôm nay hàng tuần vẫn được dịp “hun khói cả làng” như vậy” [3, tr 221] Ngày nay, hầu hết các ngõ phố đều

có dịch vụ thu gom rác thải, 97,1% trả lời có hệ thống thu gom rác thải tận nhà, cao hơn so với tỷ lệ thu gom rác thải tính cho toàn thành phố 90,5% 3

3 Số liệu Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế- xã hội năm 2008 và kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội năm 2009 của thành phố Vinh

Trang 35

Hàng ngày thường vào các khoảng thời gian 6-8 giờ tối, vệ sinh viên của khối thu gom rác thải trong từng ngõ phố Đối những ngõ quá hẹp, người dân ở đây đổ rác

ra đường cái vào đúng giờ quy định, sau đó xe rác của công ty môi trường đô thị sẽ thu gom Số gia đình tự xử lí rác thải tại nhà như đốt, chôn lấp cũng ít đi Nói chung tình trạng xả rác tùy tiện đã được hạn chế đáng kể Chính vì vậy mà khi được hỏi về mức

độ hài lòng về cơ sở hạ tầng trong ngõ hầu hết mọi người đều hài lòng (71,4%) Tuy nhiên nói vậy không có nghĩa là cơ sở hạ tầng trong ngõ đã hoàn hảo và văn minh, vẫn

có một số ngõ chật hẹp, bê tông nham nhở, đường dây điện chằng chịt trên không Trước đây có một số ngõ rộng rãi đường bê tông chắc chắn nhưng lại cấm không cho

xe cơ giới vào bằng cách dựng cọc bê tông ngay lối vào ngõ Việc này vừa mất mỹ quan, thiếu văn minh còn nguy hiểm và không tiện dụng Hiện tượng này mấy năm gần đây đã được phá bỏ nhiều Mặc dù chất lượng yếu kém về cơ sở hạ tầng trong ngõ không nhiều và không tạo ra những vấn đề bức xúc về văn minh đô thị như ở các đô thị lớn, nhưng trong quá trình phát triển Thành phố nên khắc phục dần tình trạng này

Hình 2.1: Ngõ phố xanh sạch đẹp ngày càng nhiều ở Vinh

Cơ sở hạ tầng, cảnh quan trong ngõ phố ở Vinh tương đối tốt như vậy cũng một phần phụ thuộc vào kiến trúc quy hoạch và tính kiên cố của các ngôi nhà trong ngõ Người dân Vinh cũng như người dân xứ Nghệ nói chung, sống trong môi trường thiên nhiên khắc nghiệt, nên rất coi trọng chỗ ở Nếu như cư dân ở các đô thị lớn khác thường ưu tiên dành dụm vốn liếng để đầu tư sinh lời thì cư dân Vinh ưu tiên trước hết cho việc làm nhà Người dân Vinh khá tự chủ trong việc xây dựng nhà ở, ít trông chờ hay ỷ lại Nhà nước Nó cũng góp phần làm cho tình hình nhà ở ở Vinh được cải thiện

Trang 36

khá nhanh, không quá bức xúc như nhiều đô thị khác “Đến 2007 trong tổng số 57372

hộ gia đình ở Vinh đã có 43300 hộ có nhà, chiếm tỷ lệ 93% Trong đó có 66,3% nhà ở kiên cố, 28,7 nhà ở bán kiên cố, chỉ có 5% nhà tạm; bình quân diện tích nhà là 9,6% m2/ người.”[3, tr.188] Nhà của người dân trong ngõ hầu hết là những nhà gạch kiên

cố với các loại kiến trúc khác nhau

Biểu 2.2 Các kiểu kiến trúc nhà ở chủ yếu trong ngõ phố

Xem biểu đồ 2.2 ta thấy kiến trúc dạng nhà cao tầng lồi lõm theo xu hướng kiến trúc của những năm cuối thế kỷ trước chiếm số lượng cao nhất (31%) Đây là dạng kiến trúc phù hợp với một ngôi nhà vườn trong ngõ có đất rộng, phù hợp để đón nhận không khí thiên nhiên, ánh sáng và gió

Nhà mái bằng một tầng chiếm 21,8 % thường được các gia đình ít người hơn và

có kinh tế vừa phải lựa chọn để xây cất, điều đáng chú ý là rất nhiều ngôi nhà như thế này được xây dựng theo hướng mở, có nghĩa là có thể dễ dàng cất thêm tầng 2,3 nếu sau này gia chủ có điều kiện và nhu cầu Điều này rất dễ hiểu vì con người xứ Nghệ sống trong môi trường thiên nhiên khắc nghiệt, cuộc sống nghèo túng quanh năm nên thường “lo xa”

Nhà cấp 4 truyền thống được phổ biến vào những năm 70, 80 ngày càng ít đi Phần lớn những ngôi nhà này hiện nay đã cũ kĩ, nền thấp và ẩm, được chủ nhà đập đi xây mới, số còn lại do gia đình chưa có điều kiện nên vẫn còn được sử dụng

Số nhà tập thể cơ quan theo dãy liền kề khá phổ biến ở các ngõ phố được hình thành từ khu tập thể cơ quan cũ từ thời bao cấp Vào thời kỳ này tuyệt đại bộ phận công nhân viên chức sống trong các khu tập thể cơ quan Cho đến tháng 9/2007 vẫn còn 156 khu tập thể cơ quan cũ với gần 3500 hộ dân sinh sống Nhiều khu tập thể người dân đã được cấp sổ đỏ và có thể đập và xây nhà mới trên phần đất của mình nếu

có điều kiện và nhu cầu, tuy nhiên cũng có những khu tập thể mà các chủ hộ ở đó chưa

Trang 37

được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nên mặc dù khu nhà đã xuống cấp,

ẩm thấp và dột nát nhưng vẫn chưa được phép xây mới Hiện thành phố đã có đề án xoá bỏ và nâng cấp các khu tập thể cũ này Tính đến 7/2009 4

Thành phố đã giải quyết xong 16 khu tập thể và 74 khu đang triển khai thực hiện Trong đó có 12 khu tập thể

có diện tích từ 3000 m2 trở lên đựoc quy hoạch lập dự án xây dựng nhà ở chung cư hiện đại có kết hợp với văn phòng và dịch vụ khác phục vụ kinh doanh thương mại Hiện đề án này triển khai còn chậm do các vướng mắc về giấy tờ thất lạc, giải phóng mặt bằng Trong tương lai số khu tập thể sẽ giảm đi thay vào đó có thể là một dãy chung cư mới hiện đại hoặc những ngõ phố được quy hoạch và đượ phép xây dựng nhà ở mới Bộ mặt kiến trúc nhà ở trong ngõ phố sẽ có những thay đổi đáng kể khi đề

án này được hoàn thành

Một điều đáng chú ý là số nhà ống đứng vị trí thứ hai chiếm 24,7% Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa “nhà ống là kiểu nhằ đặc trưng của phố phường cổ Việt Nam, xây trên lô đất bề ngang rất hẹp, thường chỉ trên dưới 3 - 4 m, mặt quay ra phố, nhưng chiều sâu gấp nhiều lần chiều rộng, có thể tới hàng chục mét, vì thế có tên gọi hình tượng là “nhà ống” Hiện nay nhà ống là hệ quả của đất phân lô khu vực mặt tiền với bề ngang hẹp, thường được nhắc đến như một loại kiến trúc đặc trưng của những ngôi nhà mặt phố, như một cái hộp thiếu ánh sáng và không khí Thế nhưng trong những ngõ phố nhà ống vẫn xuất hiện Một số ngõ phố bán đất nền theo lô với

bề ngang chỉ khoảng 4-5m nên nhà ống là một lựa chọn hợp lý trong khoảng diện tích hẹp đó cho các gia đình trong ngõ Tuy nhiên trên một số mảnh đất rộng trong ngõ có thể phù hợp với nhiều lựa chọn kiến trúc khác nhau thì nhà ống vẫn mọc lên “Cụ Hoàng Đạo Thúy trong cuốn “Phố phường Hà Nội xưa” viết: “luân lý trước kia khuyến khích sự trong sạch, nên ít ai dám làm chuyện thổ mộc to Đến nhà vua cũng ngại quan ngữ sử và ngọn bút của sử quán Vả lại của cải cũng không có là bao, nên hay làm nhỏ và khéo” Tư duy đó thể hiện rõ nét trong lối kiến trúc nhà ống ở đô thị với sự lồng ghép không gian đến mức tối thiểu, những công năng khác nhau của cuộc sống như chỗ bán hàng, nơi gia công hàng, chỗ tiếp khách, nơi ăn ở, khoảng không gian thư giãn, bếp núc…” [16, tr.106] Nhà ống trong ngõ phố không chỉ thể hiện lối tư duy cổ xưa đó mà còn cho thấy sự nghèo nàn trong màu sắc kiến trúc đô thị ở những năm của thập niên 90 Ở thời điểm đó trong điều kiện vừa thoát khỏi cuộc sống khó

4 Uỷ ban nhân dân thành phố Vinh, Báo cáo kết quả thực hiện đề án giải quyết nhà ở tập thể cũ trên địa bàn TP Vinh, tháng 8/ 2009

Trang 38

khăn và dành dụm để xây một nơi ở kiên cố, không gian và thiết kế kiến trúc cho ngôi nhà chưa được chủ nhân của nó thực sự chú ý tới, đồng thời những kiểu nhà đặc trưng

và phù hợp với không gian ngõ chưa được chính quyền và các nhà quy hoạch quan tâm và nghiên cứu

“Thì cũng không biết xây kiểu gì, lúc đó đang mốt nhà ống, với cả xây thế này cũng tiết kiệm diện tích”

(Nam, 53 tuổi)

Dù mỗi nhà một dạng kiến trúc khác nhau nhưng hầu như tất cả đều tuân thủ quy định về pháp luật xây dựng dân dụng, hiện tượng lấn chiếm hay cơi nới kể cả trên không cũng dần bị xoá bỏ Ngõ phố ở Vinh ít thấy hiện tượng lấn chiếm đất công sử dụng vào mục đích riêng như ở Sài Gòn hay Hà Nội Trần Quang Ánh viết về hẻm phố Sài Gòn: “Không gian ở đây không là của riêng ai Mỗi người thi nhau “xẻ” một tí Ban công được chìa ra phía ngoài càng nhiều càng tốt, rồi bậc tam cấp để dẫn xe máy thi nhau lấn ra đường hẻm Vào những con hẻm như thế này phải chịu vướng víu nhiều thứ… Nhà cửa thì muôn hình muôn vẻ, không đồng bộ nhau về kiến trúc tạo nên cuộc sống chen chúc, lộn xộn Chắc chắn những con hẻm này ban đầu cũng có một “hình hài” không đến nỗi nào nhưng theo thời gian cũng với lòng tham của con người, con hẻm bị biến dạng đi”[1, tr 82,83] Hay Trần Ngọc Khánh viết về ngõ phố Hà Nội: “Dù trời nắng chói chang, nhưng trong ngõ này luôn thiếu ánh sáng Trên đầu, không phải

là bóng râm của những tán cây, mà là ban công của những nhà ống cao ngất ngưởng cùng cơ man là các loại mái che Mật độ dân số sống trong ngõ rất cao, nên dù ngõ nhỏ nhưng rất phong phú với đủ mọi hoạt động Càng đi sâu vào ngõ, càng cảm thấy ngột ngạt, bức bí …Những ngôi nhà mọc lên lấp đầy mọi khoảng trống, không còn chỗ cho vui chơi, giải trí, không có chỗ cho cây xanh, không có chỗ cho cả ánh sáng khiến ngõ ngách thường bị liên hệ với những gì khuất tất và đen tối [17, 18/05/2008] Ngõ phố ở Vinh thông thoáng hơn, hiện tượng lấn chiếm trên không cũng có nhưng không nhiều và không trở thành vấn nạn như ở các thành phố lớn

Đất rộng, mật độ dân số chưa cao nên những hộ gia đình trong ngõ sở hữu một diện tích đất tương đối rộng, hầu hết các hộ gia đình ở đây đều có sân vườn (84%) Dạng kiến trúc của nhà ở khác nhau trong mẫu không liên quan nhiều đến việc có sân vườn hay không Chỉ có kiến trúc nhà ống là ít có sân vuờn nhất (gần 70% có sân

Trang 39

vườn) bởi vì những ngôi nhà dạng này thường được xây lên từ những mảnh đất hẹp, diện tích xây dựng chiếm gần hết mặt bằng lô đất Trong khi các hộ gia đình với kiến trúc khác nhau thì đều trên 83% là có sân vườn Những khu nhà tập thể liền kề không

có hoặc vườn rất bé nhưng mỗi hộ đều có một khoảng sân tương đối rộng và như nhau với tất cả các hộ

Hình 2.2: Khoảng không trong 1 ngõ phố

Có vườn với thật nhiều cây xanh ngay trong khuôn viên nhà mình là mơ ước của nhiều cư dân đô thị, điều này rất khó thực hiện đối với những ai ở mặt đường hay chung cư Nhà mặt đường hay chung cư chỉ có thể trồng cây trong chậu cảnh, hay ít đất ở ban công Nhưng có lẽ đó chỉ là giải pháp tình thế và không thể thoả mãn nhu cầu của ai muốn sống hoà mình với thiên nhiên Ngõ phố là nơi lý tưởng để có thể có được cảm giác hoà mình đó

5 Nguồn: http://www.vanhoahoc.edu.vn/site/index.php,

Trang 40

Hiện nay với quy hoạch đô thị hiện đại, những khu biệt thự nhà phân lô cũng đều có một khoảng đất dành cho cây xanh, nhưng cảm giác gần gũi với thiên nhiên có được như trong ngõ phố có lẽ là điều mà các nhà quy hoạch không thể biến hoá được

Đi vào ngõ phố cho ta cảm giác đang đi vào một đường làng, nhưng con đường đó hiện đại hơn, khang trang hơn, và đỡ vắng vẻ hơn, các hộ sống gần nhau hơn Chính

bố cục kiến trúc có sân và vườn làm cho những ngôi nhà trong ngõ luôn có một tư thế

mở Khác với cửa đóng then cài kín mít như ở chung cư và nhà mặt đường, nhà trong ngõ với cánh cổng khép hờ, những người hàng xóm có thể viếng thăm bất cứ lúc nào,

họ không cần vào nhà mà vẫn hỏi thăm trò chuyện được với gia chủ Sân vườn vừa là điều kiện cũng vừa là chủ đề trong cuộc trò chuyện hàng ngày của những người trong ngõ Sang nhà hàng xóm xin một mớ rau nấu canh, mượn nhờ cái sân để gửi xe máy của khách mỗi khi nhà có việc là những thói quen dễ gặp trong từng con ngõ

Ngày nay với tốc độ bê tông hoá cao, và để đảm bảo an toàn hầu hết các gia đình đều xây tường gạch, sắt thép vì thế mà những hàng cây xanh trong ngõ cũng thưa dần đi Nhưng nhiều gia đình trong ngõ đã dung hoà điều này bằng cách cho cây dây leo trên hàng rào Cũng có những ngõ với hàng cây xanh rất đẹp hai bên đường ngõ Thường đó là những ngõ có người quản lý, việc trồng cây xanh trên đường được bàn bạc và thống nhất, chăm sóc và cắt tỉa cây cũng được thực hiện thường xuyên và theo

quy ước chung của ngõ

Hình 2.4: Một góc ngõ “Ngũ Gia Bì” – P Hồng Sơn – TP Vinh

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Ngõ phố xanh sạch đẹp ngày càng nhiều ở Vinh - Tiểu văn hóa ngõ phố trong đời sống đô thị tỉnh lị Việt Nam ( Nghiên cứu trường hợp thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An
Hình 2.1 Ngõ phố xanh sạch đẹp ngày càng nhiều ở Vinh (Trang 35)
Hình 2.2: Khoảng không trong 1 ngõ phố - Tiểu văn hóa ngõ phố trong đời sống đô thị tỉnh lị Việt Nam ( Nghiên cứu trường hợp thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An
Hình 2.2 Khoảng không trong 1 ngõ phố (Trang 39)
Hình 2.4: Một góc ngõ “Ngũ Gia Bì” – P. Hồng Sơn – TP Vinh - Tiểu văn hóa ngõ phố trong đời sống đô thị tỉnh lị Việt Nam ( Nghiên cứu trường hợp thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An
Hình 2.4 Một góc ngõ “Ngũ Gia Bì” – P. Hồng Sơn – TP Vinh (Trang 40)
Bảng 2.1 Mối quan hệ giữa số năm ở và biết hàng xóm trong ngõ - Tiểu văn hóa ngõ phố trong đời sống đô thị tỉnh lị Việt Nam ( Nghiên cứu trường hợp thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An
Bảng 2.1 Mối quan hệ giữa số năm ở và biết hàng xóm trong ngõ (Trang 44)
Bảng 2.2: Mối quan hệ giữa số năm ở và mức độ hiểu biết về hàng xóm - Tiểu văn hóa ngõ phố trong đời sống đô thị tỉnh lị Việt Nam ( Nghiên cứu trường hợp thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An
Bảng 2.2 Mối quan hệ giữa số năm ở và mức độ hiểu biết về hàng xóm (Trang 44)
Bảng 2.5: MQH giữa mức độ tham gia hoạt động thể thao trong ngõ với độ tuổi - Tiểu văn hóa ngõ phố trong đời sống đô thị tỉnh lị Việt Nam ( Nghiên cứu trường hợp thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An
Bảng 2.5 MQH giữa mức độ tham gia hoạt động thể thao trong ngõ với độ tuổi (Trang 56)
Hình 2.7: Các cụ ông quây quần bên bàn cờ tướng - Tiểu văn hóa ngõ phố trong đời sống đô thị tỉnh lị Việt Nam ( Nghiên cứu trường hợp thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An
Hình 2.7 Các cụ ông quây quần bên bàn cờ tướng (Trang 57)
Bảng 2.6: Mức độ tham dự họp tổ dân phố so với độ tuổi người trả lời - Tiểu văn hóa ngõ phố trong đời sống đô thị tỉnh lị Việt Nam ( Nghiên cứu trường hợp thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An
Bảng 2.6 Mức độ tham dự họp tổ dân phố so với độ tuổi người trả lời (Trang 60)
Hình 2.8 Đường ngõ cũng là một không gian công cộng lý tưởng trong ngõ phố - Tiểu văn hóa ngõ phố trong đời sống đô thị tỉnh lị Việt Nam ( Nghiên cứu trường hợp thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An
Hình 2.8 Đường ngõ cũng là một không gian công cộng lý tưởng trong ngõ phố (Trang 62)
Hình 2.10: Những sân thể thao rộng rãi như thế này là khá hiếm hoi trong ngõ - Tiểu văn hóa ngõ phố trong đời sống đô thị tỉnh lị Việt Nam ( Nghiên cứu trường hợp thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An
Hình 2.10 Những sân thể thao rộng rãi như thế này là khá hiếm hoi trong ngõ (Trang 63)
Hình 2.11: Quầy tạp hoá trong ngõ - Tiểu văn hóa ngõ phố trong đời sống đô thị tỉnh lị Việt Nam ( Nghiên cứu trường hợp thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An
Hình 2.11 Quầy tạp hoá trong ngõ (Trang 63)
Hình thức cư trú %  Nhà mặt phố  20.0  Nhà trong ngõ  38.9  Chung cư  4.0  Nhà phân lô  9.1  Nhà trong làng  12.6 - Tiểu văn hóa ngõ phố trong đời sống đô thị tỉnh lị Việt Nam ( Nghiên cứu trường hợp thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An
Hình th ức cư trú % Nhà mặt phố 20.0 Nhà trong ngõ 38.9 Chung cư 4.0 Nhà phân lô 9.1 Nhà trong làng 12.6 (Trang 64)
BẢNG HỘ GIA ĐÌNH - Tiểu văn hóa ngõ phố trong đời sống đô thị tỉnh lị Việt Nam ( Nghiên cứu trường hợp thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An
BẢNG HỘ GIA ĐÌNH (Trang 103)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w