ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN PHÙNG THỊ YẾN NĂNG LỰC TIẾP CẬN DỊCH VỤ CÔNG CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC BRU VÂN KIỀU NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TỈNH QUẢNG BÌNH
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHÙNG THỊ YẾN
NĂNG LỰC TIẾP CẬN DỊCH VỤ CÔNG CỦA PHỤ NỮ
DÂN TỘC BRU VÂN KIỀU NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TỈNH QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI HỌC
HÀ NỘI, 2007
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHÙNG THỊ YẾN
NĂNG LỰC TIẾP CẬN DỊCH VỤ CÔNG CỦA PHỤ NỮ
DÂN TỘC BRU VÂN KIỀU NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TỈNH QUẢNG BÌNH
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số : 603031
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS LÊ THỊ QUÝ
HÀ NỘI, 2007
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn này là trung thực và chƣa đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 03 tháng 11 năm 2007
Tác giả luận văn
Phùng Thị Yến
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau ba năm học tập, nghiên cứu, tôi đã hoàn thành chương trình cao học Xã hội học
và luận văn thạc sỹ Xã hội học với đề tài: "Năng lực tiếp cận dịch vụ công của phụ nữ
Bru Vân Kiều với dịch vụ công Qua nghiên cứu trường hợp tỉnh Quảng Bình"
Trước hết, tôi xin gửi lời biết ơn chân thành tới các anh chị em, các gia đình Vân Kiều các bản Cổ Tràng, Khe Cát, Lâm Ninh, Quyết Thắng xã Trường Sơn, Trường Xuân Tôi sẽ không hoàn thành được việc nghiên cứu ở hiện trường nếu không có sự giúp đỡ tận tâm của chị em phụ nữ xã Trường Sơn, Truờng Xuân Họ đã sẵn sàng chia sẻ với tôi những bữa cơm còn thiếu thốn của gia đình, chuẩn bị cho tôi những chỗ ngủ an toàn, ấm áp và cung cấp cho tôi nhiều thông tin quý báu
Tôi xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo UBND huyện; phòng Nông nghiệp; trạm Khuyến nông; trạm Thú y; trạm Bảo vệ thực vật; phòng Thống kê; Đảng uỷ, HĐND, UBND các xã Trường Xuân và Trường Sơn huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình; Giám đốc và các cán bộ Quỹ Phát triển Nông thôn và Giảm nghèo huyện Quảng Ninh đã cung cấp các số liệu cần thiết và giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu tại địa bàn
Nghiên cứu của tôi sẽ không thực hiện một cách khoa học và hứa hẹn đem lại ý nghĩa về học thuật, tính thực tế nếu như không có sự hướng dẫn nghiêm túc và tận tâm của
cô giáo hướng dẫn PGS.TS Lê Thị Quý Tôi xin được bày tỏ ở đây sự tri ân của tôi đối với
cô giáo
Một lần nữa tôi xin cảm ơn tất cả các cá nhân, cơ quan đã được đề cập ở trên; và xin thông cảm vì những sai sót có thể xảy ra trong quá trình nghiên cứu và trong luận văn này
Hà Nội, ngày 03 tháng 11 năm 2007
Tác giả luận văn
Phùng Thị Yến
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT ix
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 4
2.1 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 4
2.2 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 4
3 PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ VÀ MẪU NGHIÊN CỨU 5
3.1 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5
3.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 6
3.3 KHÁCH THỂ 6
3.4 MẪU NGHIÊN CỨU 7
4 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ KHUNG LÝ THUYẾT 8
4.1 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 8
4.2 KHUNG LÝ THUYẾT 9
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 13
7 CẤU TRÖC LUẬN VĂN 14
PHẦN NỘI DUNG CHÍNH 15
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 15
A CƠ SỞ LÝ LUẬN 15
1.1 CÁC LÝ THUYẾT ÁP DỤNG 15
1.1.1 LÝ THUYẾT CẤU TRÖC CHỨC NĂNG 15
1.1.3 LÝ THUYẾT GIỚI 17
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN 22
B CƠ SỞ THỰC TIỄN 28
1.3 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 28
1.4 TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 32
1.4.1 TỈNH QUẢNG BÌNH 32
1.4.2 HUYỆN QUẢNG NINH 34
1.4.3 TỔNG QUAN HAI XÃ KHẢO SÁT (XÃ TRƯỜNG XUÂN, XÃ TRƯỜNG SƠN) 35
1.5 ĐÔI NÉT VỀ LỊCH SỬ NGƯỜI NGƯỜI BRU VÂN KIỀU QUẢNG NINH 39
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG TIẾP CẬN CỦA PHỤ NỮ VÂN KIỀU VỚI DỊCH VỤ KHUYẾN NÔNG 41
2.1 MẠNG LƯỚI VÀ CÔNG TÁC KHUYẾN NÔNG HUYỆN QUẢNG NINH 41
2.2 VAI TRÕ GIỚI TRONG HỆ THỐNG KHUYẾN NÔNG VÀ TỔ CHỨC CỘNG ĐỒNG 46
Trang 62.2.1 KHÁC BIỆT GIỚI TRONG CÁC CƠ QUAN KHUYẾN NÔNG NHÀ NƯỚC 46
2.2.2 KHÁC BIỆT GIỚI TRONG MẠNG LƯỚI KHUYẾN NÔNG
CỘNG ĐỒNG 48
2.2.3 KHÁC BIỆT NHÓM DÂN TỘC, NHÓM KINH TẾ HỘ TRONG TIẾP CẬN MẠNG LƯỚI KHUYẾN NÔNG CỘNG ĐỒNG 51 2.3 KHÁC BIỆT VỀ GIỚI VÀ NHÓM DÂN TỘC TRONG THAM GIA CÁC KHÓA ĐÀO TẠO VỀ KHUYẾN NÔNG 53 2.3.1 KHÁC BIỆT GIỚI TRONG THAM GIA CÁC KHOÁ ĐÀO TẠO KHUYẾN NÔNG 53 2.3.2 KHÁC BIỆT NHÓM DÂN TỘC TRONG THAM GIA CÁC KHOÁ ĐÀO TẠO KHUYẾN NÔNG 56 2.4 XU HƯỚNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ KHUYẾN NÔNG 60
CHƯƠNG III THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG TIẾP CẬN CỦA PHỤ NỮ VÂN KIỀU VỚI CÁC DỊCH VỤ Y TẾ 66
3.1 CÁC CHƯƠNG TRÌNH HIỆN TẠI CỦA Y TẾ 66 3.2 SỰ KHÁC BIỆT GIỚI VÀ NHÓM DÂN TỘC TRONG TIẾP CẬN DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE (CSSK), KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH (KHHGĐ) 70 3.2.1 MỨC ĐỘ TIẾP CẬN VỚI DỊCH VỤ KHHGĐ 71 3.2.2 MỨC ĐỘ TIẾP CẬN VỚI DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHOẺ SINH SẢN (CSSKSS) 75 3.2.3 TÌNH TRẠNG SINH CON TẠI NHÀ 82 3.3 KHÁC BIỆT GIỮA NAM VÀ NỮ TRONG MỘT SỐ BỆNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐƯỜNG NƯỚC 84 3.4 KHÁC BIỆT VỀ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG CỦA TRẺ EM TRAI
VÀ GÁI 89 3.5 MỨC ĐỘ KHÁC BIỆT GIỚI, DÂN TỘC TRONG TIẾP CẬN CƠ SỞ Y
TẾ 90 3.6 XU HƯỚNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ Y TẾ 94
CHƯƠNG IV NGUYÊN NHÂN DẪN TỚI SỰ KHÁC BIỆT VỀ GIỚI VÀ DÂN TỘC TRONG TIẾP CẬN DỊCH VỤ CÔNG 101
4.1 CƠ CHẾ PHÂN BỔ NGÂN SÁCH CHƯA HỢP LÝ CHO DỊCH VỤ KHUYẾN NÔNG, Y TẾ 101 4.2 CHỦ TRƯƠNG LỒNG GHÉP GIỚI VÀO QUÁ TRÌNH CUNG CẤP DỊCH VỤ CÔNG CHƯA TRIỆT ĐỂ 103 4.3 PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN CỦA MỘT SỐ CHƯƠNG TRÌNH
KHUYẾN NÔNG VÀ Y TẾ CHƯA PHÙ HỢP 105 4.4 ĐẶC ĐIỂM CÁ NHÂN 107 4.5 MÔ HÌNH PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG KHÔNG HỢP LÝ 108 4.6 QUYỀN QUYẾT ĐỊNH TRONG GIA ĐÌNH CỦA PHỤ NỮ THẤP 116 4.7 ĐẶC ĐIỂM VĂN HOÁ, LỐI SỐNG 118 4.8 ĐIỀU KIỆN SINH THÁI, MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN – MỘT RÀO CẢN KHÁCH QUAN 121
Trang 7PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 123
KẾT LUẬN 123 KHUYẾN NGHỊ 125
TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined.
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng i Địa điểm khảo sát 5
Bảng ii Cơ cấu mẫu nghiên cứu 7
Bảng 2.1 Thống kê các chương trình đang hoạt động trên địa bàn huyện 42 Bảng 2.3 Ma trận Phân tích giới trong khuyến nông 54
Bảng 2.4 Người được nghe phổ biến kiến thức trồng trọt, chăn nuôi 100) 57
Bảng 2.5 Phụ nữ tự đánh giá về kỹ thuật trồng lúa hiện nay của mình 58
Bảng 2.8 Tình hình tham gia họp bản của cộng đồng 63
Biểu đồ 3.1 Khác biệt tỷ lệ nam, nữ trong áp dụng các biện pháp KHHGĐ 71
Bảng 3.2 So sánh KHHGĐ giữa nam và nữ Vân Kiều hai xã năm 2006 72 Bảng 3.3 Sơ bộ về mức sinh của nhóm phụ nữ Vân Kiều 78
Bảng 3.4 Chỉ số về sức khỏe sinh sản của phụ nữ Vân Kiều 2 xã 79
Biểu đồ 3.5 Điều kiện sinh con của bà mẹ theo nhóm dân tộc 82
Bảng 3.6 Tỷ lệ nhiễm bệnh đường nước giữa nam và nữ (n=100) 86
Bảng 3.7 Thống kê số phụ nữ được khám và điều trị phụ khoa (năm 2005) 87
Biểu đồ 3.8 Tỷ lệ phụ nữ bị bệnh phụ khoa 2006 87
Bảng 3.9 Khác biệt về mức độ còi cọc của trẻ em trai, gái dưới 10 tuổi 89
Biểu đồ 4.1 So sánh về phân công lao động giữa nam và nữ Vân Kiều 109 Biểu đồ 4.2 Cảm nhận về mức độ thay đổi khối lượng công việc của phụ nữ 111
Bảng 4.3 Lý do thay đổi khối lượng công việc của phụ nữ 113 Bảng 4.4 Những hoạt động của hộ gia đình phụ nữ được ra quyết định 116
Trang 9CSSKSS Chăm sóc sức khỏe sinh sản
CSSKBMTE Chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em
KHHGĐ Kế hoạch hóa gia đình
PPA Participatory Poverty Assessment - Đánh giá nghèo đói
theo vùng PRA Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia
của cộng đồng
RDSC Trung tâm Dịch vụ Phát triển nông thôn
UNDP Tổ chức phát triển Liên Hiệp Quốc tại Việt Nam
Trang 11TH
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Giảm nghèo cho dân nghèo, đặc biệt cho những người nghèo sống ở khu vực nông thôn là một trong những ưu tiên hàng đầu của chính phủ Việt Nam Song song với quá trình đổi mới kinh tế, mức chênh lệch thu nhập giữa các khu vực (nông thôn, thành thị, vùng sâu, vùng xa) ngày càng cao [11][19] Việt Nam đã cam kết với thế giới trong quá trình phát triển của mình sẽ gắn liền giữa tăng trưởng với công bằng xã hội Rất nhiều chương trình đã triển khai để hỗ trợ các xã nghèo ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhằm giảm bớt khoảng cách thu nhập giữa các khu vực và trong cộng đồng Chính phủ Việt Nam đặc biệt quan tâm đến 1715 xã khó khăn nhất về
kinh tế, xã hội thông qua việc phát triển hạ tầng cơ sở, đặc biệt là nâng cao khả năng tiếp cận với các dịch vụ xà hội cơ bản
Những nỗ lực của chính phủ trung ương và địa phương là rất lớn trong việc giảm bất bình đẳng giữa các vùng, giữa các nhóm dân tộc[11][19] Một phần
của nỗ lực này thể hiện trong các chi tiêu công Tăng cường chi tiêu công là
góp phần tăng cường đầu tư cho các dịch vụ công Giáo dục, y tế, khuyến nông hay tín dụng được coi là những dịch vụ công Từ thập niên chín mươi, các dịch vụ công đặc biệt phát triển thể hiện ở nhiều thành phần cùng tham gia cung cấp dịch vụ, và cung cấp dưới nhiều hình thức Chẳng hạn, dịch vụ y
tế không chỉ nhà nước, bệnh viện công đóng vai trò chủ đạo mà còn rất nhiều
cơ sở, loại hình y tế tư nhân hoạt động Trong giáo dục bên cạnh các trường công lập có các trường dân lập Hay khuyến nông bên cạnh trạm khuyến nông, thú y, bảo vệ thực vật của nhà nước còn nhiều các công ty tư nhân tham gia cung cấp vật tư đầu vào (phân bón, cây con giống, thuốc bảo vệ thực vật…) cho nông dân Tuy nhiên, dù các nhà cung cấp dịch vụ công là tư nhân
Trang 13tham gia nhiều, nhà ước vẫn đóng vai trò quan trọng thông qua các luật lệ hay trợ cấp Điều này đặc biệt thể hiện rõ ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa Điển hình là chính sách khuyến nông (trợ cước, trợ giá) nhà nước vẫn đóng vai trò chủ chốt trong cung cấp dịch vụ cho bà con Bởi thế, vẫn còn nhiều việc phải làm để đánh giá mô hình cung cấp cũng như tiếp cận dịch vụ công ở các khu vực địa lý đặc thù này
Có nhiều câu hỏi đặt ra với dịch vụ công: Khi nhà nước đóng vai trò quan trọng trong cung cấp các dịch vụ y tế, khuyến nông nhưng ai có thể tiếp cận với các dịch cụ cơ bản này? Với chi phí bao nhiêu và chất lượng như thế nào? Đây là những vấn đề có ý nghĩa quyết định đến quá trình giảm nghèo Phải thừa nhận rằng người nghèo nói chung và người nghèo ở khu vực miền núi ít
có khả năng tiếp cận với các dịch vụ công nếu họ phải trả đầy đủ các khoản chi phí Do đó, việc cung cấp các dịch vụ cơ bản thường được gắn với việc trợ cấp kinh phí cho các hộ gia đình Với xu hướng phát triển theo cơ chế thị trường sẽ ngày càng cắt giảm các khoản trợ cấp từ phía nhà nước cho các dịch
vụ công thì liệu người dân sẽ phải tiếp cận như thế nào? Liệu rằng tất cả các nhóm kinh tế, các khu vực có được cơ hội để tiếp cận như nhau với các dịch
vụ không? Một số đánh giá về nghèo đói [11] khu vực dân tộc thiểu số cho rằng: người nghèo, người dân tộc nghèo họ sẵn sàng tính lợi trước mắt thay vì đầu tư hay tự tăng cường cơ hội tiếp cận các dịch vụ công vì một lợi ích dài hơi Chẳng hạn các hộ nghèo gia đình người HMông sẵn sàng cho trẻ nghỉ học đi rừng hái măng thay vì đi học[11] Đơn giản là khi nhu cầu về lương thực chưa được giải quyết thì các nhu cầu về y tế, giáo dục không phải là ưu tiên
Báo cáo thường niên Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và giảm nghèo (CPRGS), số liệu điều tra mức sống dân cư của Tổng cục Thống kê chứng minh từ thập niên chín mươi trở lại đây các chi tiêu của Chính Phủ cho các
Trang 14dịch vụ công có sự khác nhau nhưng nhìn chung có tăng lên[22] [25] Tuy nhiên theo tính toán nhóm giàu, nhóm cư trú trong vùng địa lý thuận lợi có khả năng tiếp cận với dịch vụ công nhiều hơn Và nam giới có nhiều cơ hội tiếp cận hơn phụ nữ Trong nhóm nữ, phụ nữ khu vực nông thôn đồng bằng tiếp cận nhiều hơn với các dịch vụ hơn phụ nữ nông thôn miền núi Chính vì thế nhóm thiệt thòi nhất là nhóm phụ nữ dân tộc Những cản trở về địa lý, xã
hội, văn hoá, thiết chế đã làm hạn chế khả năng lựa chọn của họ với giáo dục, y tế, nước sạch vệ sinh môi trường và nghề nghiệp[ 22]
Ngày nay, các chính sách nhằm tăng cường vốn xã hội cho người dân nghèo thông qua thể chế, tài chính, chương trình dự án đã đang được triển khai Nhưng thực tế nhóm người mà chính sách vươn tới đang được hưởng lợi rất
ít Vì thế, trong tương lai những nỗ lực của chính quyền địa phương trong việc cải thiện sinh kế cho người dân, giảm bất công bằng giữa các nhóm xã hội, các cá nhân nên tiếp tục theo hướng nào? Và bao nhiêu thì phù hợp?
Trong công trình nghiên cứu nhỏ này câu hỏi nghiên cứu đặt ra là: Nam giới
và phụ nữ Vân Kiều có được tiếp cận như nhau với các dịch vụ công hay không? Các cơ hội tiếp cận có đồng đều giữa các nhóm phụ nữ dân tộc sống trong cùng một điều kiện địa lý (người Vân Kiều, người Kinh) không? Nguyên nhân cơ bản nảy sinh sự cách biệt hay bất bình đẳng trong tiếp cận giữa các nhóm xã hội là gì?
Đây là hàng lọat các câu hỏi cần câu trả lời xác thực Nếu vấn đề không được nhìn nhận giải quyết sẽ dẫn đến việc đạt mục tiêu về giảm sự phân hóa giàu nghèo, công bằng giới ngày càng khó khăn Hơn nữ, các đầu tư công của nhà nước sẽ trở nên lãng phí Đây là điều hoàn toàn không mong muốn
Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài “Năng lực tiếp cận dịch vụ công của Phụ
nữ Bru Vân Kiều, nghiên cứu trường hợp tỉnh Quảng Bình” nhằm tìm
Trang 15kiếm câu trả lời cho câu hỏi đang bỏ ngỏ trên Đồng thời, đề tài cũng sẽ là tài liệu có hệ thống về bức tranh cuộc sống của nhóm người yếu thế nhất trong xã hội, nhóm phụ nữ dân tộc miền núi tỉnh Quảng Bình
2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
2.1 Mục đích nghiên cứu
- Mô tả và phân tích thực trạng tiếp cận dịch vụ công của phụ nữ dân tộc Bru Vân Kiều (so với nhóm nam giới cùng dân tộc);
- So sánh và phân tích mô hình tiếp cận dịch vụ công của hai nhóm dân tộc
có cùng một điều kiện địa lý (Vân Kiều và người Kinh);
- Phân tích các nguyên nhân cơ bản cản trở khả năng và cơ hội tiếp cận dịch
vụ công giữa các nhóm xã hội (nhóm nam - nữ; nhóm dân tộc: Kinh – Vân Kiều) và;
- Đề xuất giải pháp khả thi
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhằm đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài sẽ lựa chọn khảo sát tại tỉnh Quảng Bình Huyện Quảng Ninh sẽ là địa bàn được chọn tiếp theo (nơi có nhiều đồng bào Vân Kiều cư trú) Trong huyện dự kiến chọn 2 xã
Nghiên cứu cũng sẽ tìm hiểu các nhân tố tác động đến năng lực, quá trình tiếp cận dịch vụ công của nhóm phụ nữ dân tộc Vân Kiều Ngoài ra, để thấy được mức độ tiếp cận của nhóm phụ nữ dân tộc với dịch vụ công, đề tài sẽ khảo sát
so sánh với khả năng tiếp cận dịch vụ công của nhóm người Kinh trên cùng địa bàn
Trang 163 PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ VÀ MẪU NGHIÊN CỨU
3.1 Phạm vi nghiên cứu
Địa điểm Nghiên cứu thực hiện tại một huyện của tỉnh Quảng Bình: huyện
Quảng Ninh Tại huyện Quảng Ninh chọn 2 xã: Trường Sơn và Trường Xuân Tại xã Trường Xuân chọn một thôn người Kinh và một bản Vân Kiều Tại xã Trường Sơn sẽ chọn hai bản Vân Kiều Tất cả các thôn/bản được chọn sẽ là nơi có số hộ gia đình cư trú đông nhất (trên 40 hộ) Cụ thể các thôn bản được lựa chọn nghiên cứu như sau:
Bảng i Địa điểm khảo sát
Loại hình dịch vụ: Có thể kể ra rất nhiều dịch vụ công nhưng trong đề tài
này, do hạn chế về kinh phí, thời gian nên tác giả chỉ lựa chọn hai loại hình dịch vụ: Khuyến nông và Y tế Đây cũng là hai lĩnh vực tác giả có nhiều kinh nghiệm làm việc trên địa bàn Mặt khác, trong những năm gần đây, Khuyến nông và Y tế là hai dịch vụ được đầu tư khá nhiều bởi các chương trình giảm nghèo của Chính phủ và các tổ chức phát triển khác trên địa bàn
Trang 173.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là Năng lực (khả năng, cách thức) tiếp cận của nhóm phụ nữ Bru Vân Kiều với các dịch vụ công Nói cách khác là xem
xét khả năng tiếp cận của nam giới, phụ nữ với 2 dịch vụ: Y tế, Khuyến nông;
Mức độ tiếp cận của phụ nữ so với nam giới; Sự khác nhau về mức độ tiếp cận dịch vụ giữa các nhóm dân tộc Vân Kiều và người Kinh
3.3 Khách thể
Nhóm dân tộc: Nghiên cứu sẽ thực hiện với nhóm dân tộc Vân Kiều và
người Kinh trên cùng địa bàn cư trú
Nam giới và phụ nữ: Khách thể nghiên cứu còn là các nhóm hộ gia đình ở 2
xã khảo sát của huyện Quảng Ninh Nam giới và phụ nữ trong độ tuổi lao động (Nữ đến 55 và nam giới đến 60tuổi)
Cán bộ chủ chốt cấp huyện, xã, thôn: Nhóm cán bộ chủ chốt thuộc các cơ
quan, lĩnh vực Y tế, Khuyến nông ở các cấp, huyện, xã, thôn cũng sẽ là đối tượng phỏng vấn
Lý do: Làm nổi bật nguyên nhân dẫn tới sự khác biệt trong tiếp cận dịch vụ
Đó có thể là nguyên nhân về địa lý, văn hóa hoặc nguyên nhân khác Tác giả cũng quan tâm tới vấn đề dân số của các tộc người để quyết định lựa chọn so sánh Nhóm Bru-Vân Kiều cư trú chủ yếu khu vực miền trung, (có khoảng 55.000 nghìn người) đứng thứ 24/54 dân tộc Nhiều nhất là nhóm người Kinh (65,795,718) là nhóm chiếm đa số ở Việt Nam và cư trú khắp nơi trong cả nước, nhưng tập trung ở khu vực đồng bằng, thành thị[28] [37]
Trang 183.4 Mẫu nghiờn cứu
Đề tài sử dụng phương phỏp chọn mẫu ngẫu nhiờn cú hệ thống nhằm đảm bảo rằng cỏc nhúm dõn số (cỏn bộ, người dõn, nam, nữ, độ tuổi, dõn tộc, người nghốo, khụng nghốo) đều cú mặt trong mẫu Chia theo cấp quản lý nghiờn cứu tiến hành phỏng vấn sõu cỏn bộ chủ chốt cỏc ban ngành liờn quan ở 5 cấp: Tỉnh- Huyện- xó- thụn và hộ gia đỡnh Với cấp xó - thụn, ngoài phỏng vấn sõu cỏn bộ chủ chốt, chủ nhiệm hoặc thành viờn cỏc tổ chức cộng đồng/hội nghề nghiệp đề tài thảo luận nhúm cỏn bộ xó, thụn và chủ nhiệm cỏc tổ chức cộng đồng, hội nghề nghiệp Cú tổng số 6 cuộc thảo luận nhúm cỏn bộ/tổng số 18 cuộc thảo luận nhúm (chiếm 33%) Với nhúm hộ gia đỡnh tỏc giả tiến hành thảo luận nhúm chia theo đặc điểm giới tớnh (nam, nữ), kinh tế (hộ khỏ, nghốo) và dõn tộc (Kinh, Võn Kiều) Mỗi thụn bản tiến hành 3 thảo luận nhúm, tổng cộng cú 12 cuộc Mỗi cuộc thảo luận nhúm cú ớt nhất 5 thành viờn nhiều nhất 11 người Đối với hộ gia đỡnh, đề tài thực hiện phỏng vấn sõu, điển cứu và chọn mẫu ngẫu nhiờn cú hệ thống thực hiện cỏc bảng hỏi điền sẵn Cỡ mẫu khảo sỏt cụ thể như sau: (xem bảng ii)
Bảng ii Cơ cấu mẫu nghiờn cứu
Nguồn: Tổng hợp kết quả khảo sát
Nh- vậy, cỡ mẫu nghiên cứu N= 168 (nghĩa là có 168 cuộc phỏng vấn đã đ-ợc thực hiện) với 270 l-ợt ng-ời tham dự Trong đó, tỷ lệ nữ chiếm 47% Tỷ lệ ng-ời Vân Kiều 51%
Trang 194 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ KHUNG LÝ THUYẾT
4.1 Giả thuyết nghiên cứu
Nghiên cứu này sẽ cung cấp các bằng chứng và phân tích ba giả thuyết sau;
- Phụ nữ và nam giới dân tộc Bru Vân Kiều tiếp cận không đồng đều với các dịch vụ khuyến nông và y tế
- Có sự khác biệt năng lực tiếp cận dịch vụ công giữa phụ nữ vùng dân tộc miền núi với người Kinh trên cùng địa bàn và;
- Cách tiếp cận và thực hiện các dịch vụ công (khuyến nông, Y tế) chưa phù hợp với người dân tộc
Trang 20i) Cơ hội tiếp cận
ii) Mức độ tiếp cận
iii) Xu hướng tiếp cận
Các nhóm xã hội:
(nam &
nữ Vân Kiều; người Kinh & người Vân Kiều)
Trang 215 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp
Đề tài kết hợp cả hai phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng Cụ thể các phương pháp thu thập thông tin như sau:
Phân tích tài liệu thứ cấp: Nhằm khai thác những kết quả nghiên cứu sẵn có
liên quan đến đề tài
+ Thống kê văn hóa: cũng được sử dụng như một công cụ quan trọng nhằm
thu thập toàn bộ các thông tin phản ánh thực trạng đời sống văn hóa của tộc người Bru-Vân Kiều Bản thân tác giả cũng đã có một công trình nghiên cứu
về văn hóa vật thể, phi vật thể của người Bru Vân Kiều trong cùng địa bàn khảo sát lần này
+ Thống kê kinh tế - xã hội: phương pháp này còn có tác dụng thu thập
những số liệu thống kê kinh tế, xã hội tại địa bàn nghiên cứu góp phần xây dựng lên bức tranh chung của địa bàn khảo sát Nghiên cứu phỏng vấn phòng thống kê huyện, cán bộ thống kê xã để thu thập số liệu trong vòng 3 năm (từ
2004 - 2006)
Phỏng vấn bán cấu trúc: Công cụ này áp dụng đối với nhóm cán bộ chủ chốt
cấp tỉnh, huyện, xã, thôn nhằm thu thập thông tin định tính của mỗi chủ đề Bảng hỏi bán cấu trúc cho phép thay đổi các câu hỏi linh hoạt, tùy thuộc tình hình thực tế của cuộc phỏng vấn Với mỗi chủ đề (khuyến nông: chăn nuôi, trồng trọt, y tế) sẽ có bộ bán cấu trúc riêng
Thảo luận nhóm tập trung: Áp dụng cho nhóm hộ dân khác nhau Đảm bảo
rằng nam cũng như nữ, người nghèo và không nghèo đều có tiếng nói của mình, các cuộc thảo luận nhóm sẽ chia theo các tiêu chí giới tính, dân tộc, độ
Trang 22tuổi, mức sống Công cụ này sẽ giúp có được thông tin tổng quát nhất về thực trạng, nguyên nhân, xu hướng, giải pháp của vấn đề tiếp cận dịch vụ công
Điển cứu (case studies): Điển cứu là các câu chuyện ngắn viết về các trường
hợp điển hình Ngắn gọn hơn đó là nghiên cứu trường hợp điển hình theo từng vấn đề Đây là một phương pháp quan trọng góp phần sinh động trong việc tích thông tin Điển cứu sẽ là những bằng chứng cụ thể, chi tiết minh họa cho các luận điểm, nhận định của đề tài Các trường hợp điển cứu được tác giả quyết định ở hiện trường sau các cuộc thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu cán
bộ chủ chốt Bởi sau những cuộc trao đổi trên, sẽ lựa chọn được các vấn đề cần nhấn mạnh hoặc lưu ý, đồng thời dễ xác minh tại địa bàn khảo sát
Phỏng vấn bằng bảng hỏi: Được thực hiện nhằm thu thập thông tin định
lượng về đánh giá, quan điểm, khả năng tiếp cận và kiểm soát của các nhóm dân cư đối với các dịch vụ về khuyến nông, y tế - nước sạch vệ sinh môi trường Thái độ giữa nam giới và phụ nữ đối với dịch vụ công, nguyên nhân cản trở cũng như xu hướng dự báo trong tương lai Bộ bảng hỏi soạn sẵn sẽ cấu trúc theo các chủ đề, sử dụng bằng ngôn ngữ dễ hiểu phù hợp với người địa phương
So sánh các nhóm dân tộc, các khu vực xã hội: những đặc trưng của các
nhóm dân tộc, của giới tính được đưa vào khung phân tích và tiến hành so sánh để thấy được mức độ tiếp cận khác nhau và làm nổi bật thực trạng tiếp cận dịch vụ công của mỗi nhóm xã hội
Phương pháp tiếp cận đa ngành Cách tiếp cận theo hướng đa ngành nhưng
có trọng tâm hay theo Giáo sư Tô Duy Hợp đấy là tiếp cận “tổng - tích hợp hạt nhân hợp lý” của cả lý thuyết kinh tế, xã hội và văn hóa, phát triển sẽ bổ khuyết cho cách tiếp cận giản đơn theo chiều dọc hoặc đơn ngành Với cách tiếp cận này, kết quả của đề tài hoàn toàn có thể phân tích và lí giải được thực
Trang 23trạng, nguyên nhân, hệ quả và xu hướng biến đổi về khả năng cung cấp dịch
vụ và năng lực tiếp cận dịch vụ Xét đến cùng đây là quan hệ qua lại về cung – cầu [6]
Các phương pháp của khoa học Xã hội học sẽ có công dụng trong việc khám phá ra các đặc điểm và tính quy luật xã hội tác động đến sự tương tác giữa các nhóm xã hội, giữa các lĩnh vực cũng như sự phân tầng về kinh tế
Các lý thuyết của kinh tế học sẽ cung cấp những luận giải vấn đề cung – cầu, vấn đề phân hoá thành các nhóm, các giai tầng xã hội Tương tự như vậy, phương pháp nghiên cứu của dân tộc học, văn hoá học sẽ đưa ra những giải thích về thái độ, hành vi của các nhóm xã hội, các tộc người đồng thời làm sáng tỏ thực trạng đời sống văn hoá vật thể và phi vật thể của các nhóm xã hội thuộc các khu vực khác nhau của Việt Nam
Sử dụng phương pháp có sự tham gia trong phát triển là cách thức chính trong thu thập các dữ liệu Chẳng hạn cùng sống và làm việc với bà con Vân Kiều
để quan sát lối sống, văn hóa của người dân Quan sát tham dự và không tham
dự tại các cơ sở như trạm y tế, các tổ chức cộng đồng, câu lạc bộ khuyến nông Đặc biệt, trong các buổi thảo luận nhóm tập trung hướng dẫn để tất cả những người tham gia thảo luận đều có cơ hội đóng góp ý kiến, chú ý đến các nhóm yếu thế như phụ nữ, người nghèo, người dân tộc trong các buổi thảo luận nhóm hỗn hợp
Nguồn tài liệu
Bằng các phương pháp trên, đề tài đã thu thập hai nhóm thông tin: Thứ nhất,
nhóm thông tin thứ cấp: Bao gồm các báo cáo, nghiên cứu, tài liệu, số liệu thống kê sẵn có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Thứ hai, là nhóm thông tin
sơ cấp: bao gồm bảng hỏi hộ gia đình, phỏng vấn bán cấu trúc, thảo luận
nhóm, điển cứu (case studies)
Trang 24Kỹ thuật xử lý thông tin
Toàn bộ phiếu định lượng phỏng vấn hộ gia đình bằng bảng hỏi sẽ được xử lý bằng 2 chương trình SPSS 13.0 và STATA 8.0 Thông tin định tính (thông tin
từ thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu) được xử lý bằng chương trình xử lý định tính NVIVO 2.0
6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Công bằng giới là vấn đề đã được nghiên cứu tương đối nhiều song dường như vẫn chưa có những nghiên cứu cụ thể về công bằng giới trong tiếp cận các dịch vụ công như y tế và khuyến nông Đặc biệt nghiên cứu về tiếp cận của phụ nữ dân tộc Vân Kiều với dịch vụ công Đây là một nghiên cứu trường hợp về khả năng tiếp cận của một nhóm dân tộc ít người với loại dịch vụ cơ bản, thiết yếu Có thể coi đây là một nghiên cứu trường hợp rất cụ thể về một nhóm dân tộc, về giới, về xã nghèo về tiếp cận dịch vụ- thực trạng, các nguyên nhân và xu hướng- để từ đó có cái nhìn chung với các khu vực tương
tự
Các tài liệu thu thập được kiểm tra bằng nhiều cách có thể để đạt được độ tin cậy cao (kiểm tra chéo ngay tại hiện trường, kiểm tra số liệu định lượng bằng phần mềm thống kê) Do đó, công trình nghiên cứu có thể làm dữ liệu tham khảo cho các nghiên cứu về giới và dịch vụ công ở cấp cộng đồng và các xã
Trang 257 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Cấu trúc Luận văn gồm phần mở đầu và 4 chương chính:
Phần mở đầu
Trong phần này đề cập tới: Tính cấp thiết của đề tài; đối tượng, mục đích nghiên cứu, cơ cấu mẫu, phạm vi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, khung nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp của luận văn và cấu trúc của luận văn
Phần Nội dung chính (gồm 4 chương)
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn
Đề cập tới các hướng lý thuyết đã áp dụng Giải thích các khái niệm có liên quan Bối cảnh nghiên cứu của đề tài, tổng quan tình hình nghiên cứu; tổng quan địa bàn nghiên cứu
Chương 2 Thực trạng về Năng lực tiếp cận dịch vụ khuyến nông của phụ
nữ Bru Vân Kiều
So sánh cơ hội, năng lực tiếp cận dịch vụ giữa nam giới và phụ nữ Vân Kiều, giữa nhóm nữ Vân Kiều và nữ người Kinh Xu hướng tiếp cận dịch vụ giữa các nhóm
Chương 3 Thực trạng về Năng lực tiếp cận dịch vụ Y tế của phụ nữ Bru Vân Kiều
So sánh cơ hội, năng lực tiếp cận dịch vụ giữa nam giới và phụ nữ Vân Kiều, giữa nhóm phụ nữ Vân Kiều và nữ người Kinh Xu hướng tiếp cận dịch vụ giữa các nhóm
Chương 4 Các nguyên nhân dẫn tới sự khác biệt về giới và dân tộc trong tiếp cận dịch vụ
Phần kết luận và khuyến nghị
Trang 26PHẦN NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
A CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Các lý thuyết áp dụng
1.1.1 Lý thuyết cấu trúc chức năng
Lịch sử của lý thuyết này gắn liền với tên tuổi của các nhà xã hội học Auguste Comte, Herbert Spencer, Emile Durkheim, Vilfredo Pareto, Athur Radcliffe-Brown, Bronislaw Malinowski, Talcott Parson, Robert Merton, Peter Blau và nhiều người khác Lý thuyết này là một trong những công cụ lý luận chủ yếu
để xem xét và phân tích các hiện tượng xã hội Trường phái này coi cấu trúc
là kiểu quan hệ giữa con người và xã hội được định hình một cách ổn định, bền vững Ví dụ: cấu trúc phân tầng xã hội, cấu trúc tổ chức nhiệm sở, cấu trúc thị trường, cấu trúc hệ giá trị văn hóa là những hình thức biểu hiện cụ thể của cấu trúc xã hội [7]
Chức năng là một khái niệm cơ bản thuộc kỹ thuật phân tích của khoa học xã hội, về mặt phương pháp luận đã được làm sáng tỏ trong xã hội học và là nhiệm vụ mà một hiện tượng xã hội tách biệt trong quá trình nghiên cứu (chẳng hạn một hành động, một vai trò, một thể chế, một hệ thống) thực hiện cho bản chất, địa vị, sự thay đổi hay sự giải thể một hiện tượng xã hội có độ phức hợp tổ chức thấp hơn (ví dụ vai trò cho một hành động), ngang bằng (ví
dụ của một hệ thống cho một hệ thống), nhưng thường là cao hơn (ví dụ một thể chế cho một hệ thống) [5]
Emile Durkhiem coi chức năng như là các nhu cầu chung của cơ thể xã hội và bất kỳ sự kiện xã hội nào cũng có những chức năng nhất định, tức là có sự
Trang 27đáp ứng nhu cầu nhất định của xã hội Ông cho rằng sự trừng phạt không chỉ
có chức năng đòi đền bù hay trả thù đối với những thiệt hại do tội phạm gây
ra mà còn có chức năng duy trì trạng thái đồng thuận, nhất trí cao của cộng đồng xã hội trước một sự kiện xã hội xảy ra
Theo ông, chức năng là nhu cầu, lợi ích, sự cần thiết, sự đòi hỏi, hệ quả, tác dụng mà một thành phần, bộ phận tạo ra hay thực hiện để đảm bảo sự tồn tại, vận động của cả hệ thống [15]
Ngoài Durkhiem, khi bàn về chức năng còn phải kể đến tác giả Robert
Merton Merton đưa ra ba tiền đề của hệ thống cấu trúc chức năng gồm: Định
đề về tính thống nhất về mặt chức năng của xã hội Mọi niềm tin và nền
văn hoá thông qua việc chuẩn hoá hệ thống giá trị của nó trong thực tiến đời
sống xã hội đều có sự thống nhất chức năng; Định đề về tính phổ biến chức năng: Mọi hình thức và cấu trúc của một nền văn hoá xã hội đã đợc chuẩn
hoá đều có chức năng phù hợp với năng lực và khả năng có lợi cho xã hội và;
Định đề về tính tất yếu: Mọi khía cạnh của đời sống xã hội cũng như nội
dung hoạt động của nó đã đợc chuẩn hoá không những chỉ đảm bảo chức năng tích cực mà còn chỉ định thành phần tất yếu không thể thiếu đợc của hệ thống xã hội Merton đưa ra chức năng hiện và chức năng tiềm ẩn Chức năng công khai gắn với mục tiêu, chức năng tiềm ẩn không gắn với mục tiêu Trong mỗi cấu trúc xã hội luôn tiềm ẩn khả năng rối loạn cấu trúc[15]
Vận dụng lý thuyết này vào trong thực tiễn, chúng ta có thể xem hệ thống khuyến nông và y tế hiện nay là cấu trúc tổ chức của nhà nước Đây là một cấu trúc bền vững và "tĩnh" Trong mỗi cấu trúc xuất hiện các quan hệ xã hội
là tương tác giữa nhà cung cấp dịch vụ (khuyến nông, y tế) và người sử dụng dịch vụ là các nhóm xã hội khác nhau Hệ thống khuyến nông, y tế được tạo
ra để cung cấp dịch vụ thuộc chuyên môn của hệ thống Như cung cấp dịch vụ
Trang 28nâng cao năng lực về kỹ thuật, về cây con giống, chăm sóc sức khỏe Quá trình cung cấp các dịch vụ này cũng là thực hiện các nhu cầu về chức năng của hệ thống Khi các dịch vụ không được cung cấp cho người sử dụng thì có nghĩa tính chất của cấu trúc đã thay đổi hoặc không làm đúng chức năng của mình
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, tác giả xem xét đến biến số về năng lực cung cấp dịch vụ của hai hệ thống khuyến nông và y tế Có thể coi đây là biến độc lập tác động tới khả năng tiếp cận dịch vụ khuyến nông, y tế của nam giới và phụ nữ Vân Kiều Trong một chừng mực nhất định biến độc lập này cũng là nguyên nhân cản trở/yếu tố thúc đẩy khả năng tiếp cận của người dân
1.1.3 Lý thuyết Giới (triết lý về giới và phát triển, tiếp cận quyền và lý thuyết
nữ quyền)
Triết lý về giới và phát triển
Cách đặt vấn đề nghiên cứu về giới và thảo luận về cách thức cải thiện tình hình phụ nữ trong xã hội có thể được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau, đó
là việc nhận dạng và phân loại các quan điểm theo chính chất của giải pháp cải thiện tình hình của phụ nữ Thông thường có thể phân thành hai nhóm giải pháp, một là các giải pháp tập trung vào phụ nữ và hai là các giải pháp tác động vào quan hệ giới [4][14][16][17]
Không phải là điều bất thường khi chúng ta nhận được sự phản đối khi đặt ra vấn đề giới và phát triển Quan điểm Giới và Phát triển (Gender and Development) hay còn được gọi là GAD chú ý đến các quan hệ về mặt xã hội giữa hai giới nam và nữ, chú ý đến sự tác động qua lại về mặt xã giữa hai nhóm phụ nữ và nam giới Quan điểm Giới và phát triển không phải là cuộc chiến tranh giới tính, không chống lại nam giới mà quan điểm này đảm bảo
Trang 29rằng cả hai giới đều cùng là đối tượng phát triển Giới và phát triển không làm đảo lộn vai trò của hai giới mà chỉ cải thiện mối quan hệ giữa hai giới nam và
nữ theo chiều hướng tốt đẹp hơn Giới và phát triển cũng không thúc đẩy phụ
nữ chống lại nam giới Bởi các vấn đề giới ảnh hưởng đến nam giới và phụ nữ rất khác nhau cho nên hai giới nam và nữ cần cùng tham gia vào cuộc đấu tranh vì quyền bình đẳng giới [36]
+ Tiếp cận quyền
Khái niệm nhân quyền có nguồn gốc từ thời Hy lạp cổ dưới dạng các quyền
tự nhiên của con người như quyền được sống Dưới chế độ chiếm hữu nô lệ, người nô lệ không được coi là con người, không có và không được thừa nhận các quyền con người Chế độ phong kiến so với chế độ nô lệ đã là một bước tiến trong việc giành lại quyền tự do và giải phóng con người Giai cấp tư sản
là người đầu tiên nêu ngọn cờ nhân quyền Lần đầu tiên các quyền con người được chính thức ghi trong các văn kiện quan trọng như Tuyên ngôn độc lập của Mỹ, Tuyên ngôn về quyền con người và quyền công dân của Pháp 1789 Tuyên ngôn cộng sản 1848 Tổ chức Liên Hiệp Quốc cũng đã có Hiến chương
về nhân quyền [1]
Dựa vào quy định về "quyền", ngày nay, các nhà chính trị và các học giả đã phát triển các lý thuyết, phát biểu các quan điểm rất rõ ràng về cách tiếp cận dựa trên quyền Thoả thuận chung rằng các quyền cơ bản của con người là những quyền được công nhận trên toàn thế giới, bảo vệ các cá nhân và các nhóm trước những hành vi vi phạm quyền tự do cơ bản và các giá trị của cá nhân Không được phép bác bỏ hoặc khước từ Có quan hệ phụ thuộc, không thể tách rời và như nhau đối với tất cả mọi người (không phân biệt họ là ai, làm công việc gì) Được bảo vệ bởi luật pháp quốc tế, xác định mối quan hệ giữa cá nhân và chính phủ
Trang 30Các quyền con người không phải là một món quà được ban tặng Các quyền này tồn tại một cách tự nhiên, là kết quả của mối quan hệ giữa các cá nhân Nhu cầu của mỗi cá nhân có thể tồn tại một cách biệt lập với những người khác, nhưng các quyền của một người luôn tạo ra trách nhiệm cho những người xung quanh Có nghĩa là chúng ta (a) chịu trách nhiệm về những tác động của việc chúng ta làm lên các quyền cơ bản của những người khác; và (b) giúp mọi người có trách nhiệm thực hiện những nghĩa vụ của mình đối với người khác[23]
Theo chương trình phối hợp giữa Liên Hiệp quốc về HIV/AIDS (UNAIDS)1phương pháp tiếp cận dựa trên quyền có 4 nguyên tắc cơ bản:
Thứ nhất, sự tham gia và tính hòa nhập Thứ hai, tính bình đẳng và không phân biệt đối xử Thứ ba, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình Thứ tư,
tính thống nhất và tính phụ thuộc Nghĩa là thừa nhận việc tôn trọng tất cả các quyền trong khi lập chương trình, thậm chí khi chỉ tập trung vào một hay một
số quyền cụ thể Xem xét các tác động về mặt dân sự, chính trị, xã hội và văn hóa của dự án Ví dụ, khi xây dựng dự án nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ khuyến nông cho hệ thống khuyến nông cơ sở cần tính đến các tác động của
dự án về cả mặt chính trị, xã hội, văn hoá của cộng đồng hưởng lợi dự án Liệu rằng dự án có làm gì ảnh hưởng xấu/tốt tới dự án của nhóm xã hội không
ở mỗi tổ chức, xã hội tự xây dựng cho mình những nguyên tắc cơ bản dựa trên tiếp cận quyền Khác với UNAID, tổ chức Care International2 đã đưa ra
1
Chương trình phối hợp của Liên Hiệp Quốc về HIV/AIDS UNAIDS hỗ trợ các nước trong công tác xây dựng, thực hiện và đẩy mạnh các chiến lược toàn diện phòng chống HIV/AIDS Tại Việt Nam, UNAIDS hỗ trợ các đáp ứng của Chính phủ Việt Nam trong công tác phòng chống HIV/AIDS.
2 CARE INTERNATIONAL tên của một tổ chức Phi Chính Phủ Quốc tế, đã từng làm việc ở Việt Nam nhiều năm
Trang 31bảy (7) đặc điểm khi tiếp cận quyền gồm: 1) Sát cánh với người nghèo và những người ngoài lề xã hội, những người mà quyền có họ thường bị từ chối, góp cùng tiếng nói với họ và thực hiện trách nhiệm của mình với họ 2) Hỗ trợ những nỗ lực của người nghèo và người bị đẩy ra ngoài lề xã hội kiểm soát cuộc sống của họ, thực hiện các quyền, trách nhiệm và mong muốn của
họ 3) Có trách nhiệm trong việc hỗ trợ người nghèo và những người bị đẩy ra ngoài lề xã hội thực hiện các trách nhiệm của họ 4) Phản đối bất kỳ sự kỳ thị nào dựa trên cơ sở giới tính/giới, sắc tộc, dân tộc, tầng lớp, tôn giáo, tuổi, thể trạng, hoặc xu hướng tình dục 5) Xem xét và chỉ ra những nguyên nhân gốc
rễ của đói nghèo và việc vi phạm quyền 6)Thúc đẩy hoà bình bằng cách áp dụng những giải pháp dân chủ và công bằng để giải quyết mâu thuẫn, góp phần giảm đói nghèo và việc vi phạm quyền 7) Hợp tác với những người khác để thúc đẩy quyền của những người nghèo và những người bị gạt ra ngoài lề xã hội Hoặc tổ chức Oxfam Anh cũng dựa vào tiếp cận quyền để xây dựng các chương trình dự án như: Right to say (quyền được nói), quyền được yêu thương
Tóm lại, cho đến nay chưa có định nghĩa chính xác về phương pháp tiếp cận dựa trên quyền Mà tựu trung, tất cả các phương pháp tiếp cận dựa trên quyền đều:
- Tập trung vào việc đạt được những điều kiện tối thiểu giúp giữ gìn phẩm giá của con người;
- Tìm hiểu các nguyên nhân gây ra các yếu điểm;
- Giải quyết vấn đề bất bình đẳng;
- Và tạo ra một môi trường thuận lợi cho mọi người thực hiện các quyền cũng như bổn phận và nghĩa vụ của mình
Trang 32Công trình nghiên cứu này cũng dựa vào quan điểm về tiếp cận dựa vào quyền để xem xét quá trình cung - cầu cho hai loại dịch vụ phổ biến Bằng tiếp cận này sẽ đánh giá hiện trạng và mức độ bất bình đẳng giữa các nhóm xã hội (dân tộc, giới) trong việc tiếp cận hai dịch vụ công Tác giả cũng cho rằng, phụ nữ Bru Vân Kiều là những nhóm yếu thế dễ bị tổn thương bởi do cư trú ở địa bàn khó khăn không được tiếp cận đầy đủ về giáo dục và chăm sóc sức khoẻ nên trình độ học vấn thấp, sức khoẻ kém Và họ có quyền được hưởng lợi ngang bằng với nam giới hay bất kỳ nhóm xã hội khác về sử dụng dịch vụ Trong trường hợp dịch vụ y tế công/khuyến nông không đáp ứng cho họ được một số nhu cầu thiết yếu như sinh đẻ, chăm sóc thai sản, khi đó có thể đặt câu hỏi nghi vấn với dịch vụ Như vậy quan điểm tiếp cận quyền cho phép tác giả nhìn vấn đề nghiên cứu một cách thấu đáo hơn, khách quan hơn
+ Lý thuyết nữ quyền
Lịch sử lý thuyết nữ quyền được coi như là một phong trào xã hội Các nhà
xã hội học nữ quyền được sinh ra từ các giai đoạn của chủ nghĩa nữ quyền Chủ nghĩa nữ quyền chia làm 3 giai đoạn:
Làn sóng nữ quyền thứ nhất (The first Wave of Feminism, từ 1848 -1918) Quan điểm của các nhà nữ quyền giai đoạn này là nhanh chóng đưa phụ nữ tham gia vào lĩnh vực công cộng, nơi có sự nghiêm ngặt về đạo đức, ứng xử, giới tính
Làn sóng thứ hai (The second Wave of Feminism, từ 1918-1968) Liên quan đến cải cách xã hội và cuộc cách mạng trong lĩnh vực riêng tư như quyền tránh thai, chấm dứt áp bức tình dục
Làn sóng thứ ba (The Thirt Wave of Feminism, từ 1968 đến nay) Liên quan đến vấn đề công cộng như: chấm dứt phân biệt giới tính trong nghề nghiệp, lương hưu
Trang 33Cả làn sóng thứ nhất, thứ ba đều liên quan đến chính trị, với sự cải thiện tình trạng kinh tế của phụ nữ, chính sách chống bạo lực với phụ nữ, tiếng nói, kinh nghiệm của phụ nữ được coi trọng như nam giới
Mục tiêu của các nhà nữ quyền là đưa phụ nữ vào các ngành khoa học xã hội
và chứng minh rằng phụ nữ cũng xuất sắc Mục tiêu này của họ đã có thành công nhất định Chẳng hạn vào những năm 60, phụ nữ ở Anh và Mỹ đã được cho phép vào một số lĩnh vực kiến thức của nam giới Các tờ tạp chí trong thời kỳ này đều đưa ra những nguyên nhân và cố gắng của phụ nữ trong xã hội học tập Bên cạnh đó, hàng loạt các cuốn sách với rất nhiều chủ đề nữ quyền cũng ra đời Xã hội học là nền tảng phong phú cho thách thức nữ quyền tiến tới các kiến thức cơ bản Xã hội học nữ quyền đã lập ra được các tạp chí, xuất bản nhiều sách, bài báo thay đổi chương trình trao đổi Với sự kết hợp giữa phong trào nữ quyền và xã hội học đã cổ súy cho hình thành sâu hơn nữa thuyết nữ quyền [14][16][17]
1.2 Một số khái niệm có liên quan
Để thống nhất một cách hiểu chung cho các khái niệm sử dụng trong luận văn, phần này tác giả sẽ giải thích các khái niệm mà luận văn sử dụng bao gồm: Khái niệm Dịch vụ công, Tiếp cận, Phân biệt giữa tiếp cận và sử dụng nguồn, Kiểm soát nguồn lực, Phân công lao động, Giới, Khoảng cách giới, Thiếu nhận thức giới
Dịch vụ công
Theo Ông Mel Blunt, Cố vấn trưởng về kỹ thuật thuộc Dự án Hỗ trợ cải cách hành chính Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) cho biết, theo quan niệm quốc tế, dịch vụ công là những dịch vụ có tính chất công cộng mà Nhà nước có trách nhiệm tổ chức cung cấp để phục vụ cho nhu cầu chung cần
Trang 34thiết cho cuộc sống cộng đồng, đảm bảo an toàn xã hội và không vì mục tiêu lợi nhuận Trách nhiệm chính của việc cung cấp dịch vụ công thuộc về Nhà nước, nhưng việc cung cấp dịch vụ có thể do Nhà nước trực tiếp làm hoặc do các đối tác xã hội làm trong khuôn khổ pháp luật dưới sự giám sát, quản lý của Nhà nước[26]
Hiện nay, khái niệm cũng như nội hàm của thuật ngữ dịch vụ công ở nước ta vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau Tuy nhiên, nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã quy định vấn đề dịch vụ công trong chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan trong bộ máy hành chính nhà nước, như Luật Tổ chức Chính phủ 2001, Điều 8 ghi các nhiệm vụ của Chính phủ mục 4 viết:
“Thống nhất quản lý việc xây dựng, phát triển kinh tế quốc dân, phát triển văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ, các dịch vụ công ”;
hoặc Điều 22 viết:
“Bộ, cơ quan ngang bộ là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với ngành hoặc lĩnh vực công tác trong phạm vi
cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc ngành, lĩnh vực…” Nghị định 86/2002/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của bộ, cơ quan ngang bộ quy định tại Điều 9 về quản lý nhà nước các tổ chức thực hiện dịch vụ công thuộc ngành lĩnh vực
Như vậy có thể khẳng định, dịch vụ công là một hoạt động thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ của bộ máy hành chính nhà nước Nói chung, mặc dù có nhiều cách tiếp cận khái niệm, thuật ngữ dịch vụ công dưới các góc độ khác nhau, nhưng về cơ bản đều thống nhất tương đối ở các đặc điểm sau của dịch
vụ công:
Trang 35- Là một loại dịch vụ do Nhà nước (cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước) trực tiếp thực hiện hoặc uỷ quyền cho các tổ chức, đơn vị ngoài Nhà nước thực hiện dưới sự giám sát của Nhà nước;
- Nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội, nhân dân (những nhu cầu tối thiểu, thiết yếu);
- Nhà nước là người chịu trách nhiệm đến cùng trước nhân dân, xã hội về chất lượng dịch vụ cũng như số lượng dịch vụ Trách nhiệm ở đây thể hiện qua việc hoạch định chính sách, thể chế pháp luật, quy định tiêu chuẩn chất lượng, thanh tra kiểm tra giám sát việc thực hiện v.v;
- Không nhằm mục tiêu lợi nhuận và;
- Đối tượng thụ hưởng Dịch vụ công không trực tiếp trả tiền (đã trả qua hình thức thuế), tuy nhiên có những trường hợp phải trả lệ phí theo quy định chặt chẽ của pháp luật;
Vậy có thể hiểu một cách khái quát: Dịch vụ công là những dịch vụ do Nhà
nước chịu trách nhiệm, phục vụ các nhu cầu cơ bản, thiết yếu chung của người dân không vì mục tiêu lợi nhuận
Theo đó thì, Khuyến nông hay Y tế cũng là những dịch vụ công mà chính phủ thiết lập để phục vụ các nhu cầu cơ bản, thiết yếu của nông dân nói riêng và người dân nói chung
Tiếp cận
Là khi một cá nhân có thể sử dụng (tiếp cận) một nguồn lực nào đó, nhưng không có quyền kiểm soát và do vậy, không thể quyết định việc việc sử dụng nguồn lực đó[36] Nói cách khác, tiếp cận là nói đến khả năng sử dụng các
Trang 36nguồn lực Kiểm soát là nói đến quyền quyết định và quản lý việc sử dụng các nguồn Ví dụ, thuê đất để canh tác, hoặc có cơ hội tiếp cận, tham gia vào chương trình nghị sự
Sử dụng các nguồn
Là khi một cá nhân có thể sử dụng một nguồn lực nào đó, nhưng không được quyền quản lý nguồn lực đó Ví dụ, thuê đất để canh tác, hoặc có cơ hội tiếp cận, phụ nữ được tham gia vào chương trình tập huấn khuyến nông, chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản [36]
Tạo quyền
Là quá trình tăng cơ hội của phụ nữ và nam giới trong việc tự kiểm soát cuộc sống của họ Tạo quyền cho phụ nữ hoặc nam giới thường bao gồm các nội dung tăng cường năng lực tham gia của phụ nữ hoặc nam giới trong việc phản ánh nguyện vọng của họ, đưa các vấn đề họ quan tâm vào chương trình nghị
sự, thương thuyết, ra quyết định và khắc phục các hủ tục và định kiến mà lịch
sử để lại [36]
Kiểm soát (quản lý) nguồn lực
Là khi cá nhân có thể tiếp cận, sử dụng và quyết định việc sử dụng nguồn lực
[36] Ví dụ có quyền sử dụng hoặc cho thuê đất; có quyền kiểm soát và quyết định các vấn đề thảo luận trong chương trình nghị sự
Giới
Là một phạm trù chỉ vai trò và mối quan hệ giữa nam giới và phụ nữ Nói đến mối quan hệ giới là nói đến cách thức phân định xã hội giữa nam giới và phụ
nữ, liên quan đến hàng loạt vấn đề thuộc về thể chế và xã hội chứ không phải
là mối quan hệ cá biệt giữa một nam giới hay một phụ nữ nào đó
Trang 37Các đặc điểm giới không tự nhiên sinh ra và không phải là đặc điểm sinh học Chẳng hạn phụ nữ thường nhường nhịn, hy sinh, đức tính này không phải là bẩm sinh mà hình thành dần bởi môi trường sống (gia đình, xã hội)[36]
Bình đẳng giới
Là tình trạng (điều kiện sống, sinh hoạt, làm việc ) mà trong đó phụ nữ và nam giới được hưởng vị trí như nhau, họ có cơ hội bình đẳng để tiếp cận, sử dụng các nguồn lực để mang lại lợi ích cho mình, phát hiện và phát triển tiềm năng của mỗi giới nhằm cống hiến cho sự phát triển của quốc gia và được hưởng lợi từ sự phát triển đó [36]
Công bằng giới
Có nghĩa là không thiên vị đối với nam giới hoặc phụ nữ Để đảm bảo tính công bằng (không thiên vị)thường phải có những biện pháp đền bù cho những thiệt thòi do lịch sử để lại hoặc do các điều kiện xã hội gây ra cho phụ nữ (hoặc nam giới), khiến cho họ không thể có điều kiện và cơ hội ngang bằng với giới còn lại Công bằng có thể hiểu như là phương tiện, còn bình đằng là mục đích Công bằng dẫn tới bình đẳng[36]
Phân công lao động theo giới
Là sự phân công các nhiệm vụ và trách nhiệm khác nhau giữa nam và nữ Sự phân công này là do dạy dỗ mà thành, được mọi thành viên của từng cộng đồng, xã hội nắm vững Vai trò 3 mặt còn gọi là gánh nặng 3 vai của phụ nữ Công việc sản xuất (sản xuất lương thực, dịch vụ để tiêu dùng trong gia đình hoặc tạo thu nhập), công việc tái sản xuất (sinh con, chăm sóc con cái, làm nội trợ, chăm lo cuộc sống gia đình), và công việc cộng đồng[36]
Khoảng cách giới
Trang 38Là sự khác biệt hoặc bất bình đẳng giữa trẻ em gái và trẻ em trai, giữa nam và
nữ trong một trường hợp cụ thể, định lượng, liên quan đến các điều kiện, sự tiếp cận và thụ hưởng nguồn lực[36] Ví dụ: tình hình tiếp cận dịch vụ y tế của phụ nữ và nam giới, tỉ lệ học sinh nam và nữ bỏ học
Định kiến giới
Là tập hợp các đặc điểm mà một nhóm người, cộng đồng cụ thể coi là thuộc tính của phụ nữ hoặc nam giới (ví dụ: nội trợ không phải là việc của đàn ông) Các định kiến giới thường là không đúng (không phản ánh đúng khả năng thực tế của từng người) và thường giới hạn những gì mà xã hội cho phép hoặc mong đợi các cá nhân thực hiện[36]
Định kiến giới thường gắn liền với thái độ, niềm tin và thướng là yếu tố quan trọng duy trì khuôn mẫu giới Định kiến giới được biểu hiện dưới nhiều “hình thức thể hiện khác nhau”: trong ngôn ngữ, lời nói hàng ngày, trong nhận định, đánh giá cán bộ, trong chính sách cán bộ, trong quan hệ giữa hai giới trong gia đình và xã hội, thậm chí định kiến giới được thể hiện “rất đa dạng và phong phú” trong nội dung của phim ảnh, vô tuyến truyền hình, sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy của thầy cô giáo, phân công lao động của bố mẹ cho con trai và con gái, phân công lao động xã hội từ đó hình thành “việc đàn ông”, việc “đàn bà”; “nghề con trai”, “nghề con gái” Một trong những
ví dụ về định kiến khá phổ biến trong xã hội là cho rằng phụ nữ không thích hợp với những công việc đói hỏi sự hiểu biết về khoa học kỹ thuật Đây chính
là một trong những biểu hiện khá phổ biến hầu hết tại các vùng nông thôn nước ta dẫn đến việc hạn chế sự tham gia của phụ nữ vào các lớp tập huấn kỹ thuật khuyến nông như trồng điều, trồng tiêu, nuôi gà thả vườn, kỹ thuật canh tác trên đất dốc trong các dự án thực hiện tại các địa phương (tỷ lệ phụ nữ tham gia các lớp tập huấn chỉ đạt từ 10-15%)
Trang 39Những định kiến như vậy lâu dần có thể được người ta xem như một điều
"hiển nhiên", và từ đó những gì khác với định kiến dù là thực tế, ví dụ nam giới có người làm việc nhà thành thạo, hay có nhiều phụ nữ có tầm nhìn xa trông rộng cũng bị coi là khó chấp nhận Định kiến giới, đặc biệt nếu có
trong suy nghĩ của các nhà lãnh đạo thì là một trong những trở ngại đáng kể
đối với việc đánh giá khách quan năng lực của giới nữ và do đó cũng là trở ngại đối với việc thực hiện bình đẳng nam nữ nói chung
1.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Theo khung phân tích sinh kế của Bộ Phát Triển Anh [43], mỗi người trong
xã hội sinh ra đều có năm nguồn vốn khác nhau: Vốn con người, Vốn Vật chất, Vốn tài chính, Vốn xã hội và vốn tự nhiên Tuy nhiên, với mỗi vùng miền, trình độ và môi trường sống khác nhau, mỗi cá nhân trong xã hội tiếp cận và kiểm soát các nguồn vốn này cũng khác nhau Theo khung phân tích này, cho đến nay đã có khá nhiều các nghiên cứu đánh giá về năng lực tiếp cận của con người với 5 nguồn vốn Tuy nhiên các nghiên cứu đánh giá chủ yếu là các nghiên cứu thực nghiệm
Trang 40Nghiên cứu được coi là quy mô và xem xét tới cả 5 nguồn vốn và năng lực
tiếp cận các dịch vụ của người nghèo là Nghiên cứu Nghèo đói theo vùng
(PPA) được thực hiện ở 7 vùng trên cả nước[11] Nghiên cứu này được khởi điểm từ năm 1999, sau đó tiến hành nghiên cứu lặp lại vào năm 2001, 2003 với sự tài trợ của nhiều tổ chức khác nhau như: Tổ chức Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP); Ngân hàng Thế Giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu á (ADB); các tổ chức Phi Chính Phủ quốc tế (INGO’s) như Cứu trợ Nhi Đồng Anh; Oxfam Anh; World Vision (Tầm nhìn Thế Giới); Action Aid Việt Nam (AAV); Plan và sự tham gia của các Phi Chính Phủ trong nước (LNGO’s) như Trung tâm Dịch vụ Phát triển nông thôn (RDSC); Trung tâm Hỗ trợ Phát triển nông thôn (CRP)…Các báo cáo PPA này đặc biệt chú ý tới sự tham gia của những nhóm yếu thế (phụ nữ, trẻ em, dân tộc thiểu số, người nghèo…) vào quá trình nghiên cứu cũng như lắng nghe tiếng nói của họ
Kết quả nghiên cứu PPA đã chỉ ra rằng: người nghèo đặc biệt là người nghèo
ở nông thôn miền núi rất ít có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ công như y tế, Giáo dục hay khuyến nông Đặc biệt với dịch vụ khuyến nông được coi là động thái chính khắc phục nghèo nàn nhưng phụ nữ nông thôn miền núi dường như bị gạt ra bên lề Họ không được mời tham dự các chương trình đào tạo nâng cao nhận thức kỹ năng sản xuất, mặc dù trong gia đình họ là lao động chính đảm nhận hầu hết các công đoạn sản xuất nông nghiệp Khía cạnh này cũng được thể hiện rõ trong báo cáo nghiên cứu về khả năng tiếp cận dịch
vụ khuyến nông của người dân nông thôn trong cả nước do Tổ chức NGO Resource Center phối hợp cùng với các tổ chức Phi Chính Phủ khác đánh giá cuối năm 2004 đầu năm 2005
Cũng theo các báo cáo PPA năm 2003 ở 7 vùng trong cả nước, cho thấy các chi phí giáo dục và y tế là một trong gánh nặng đối với người nghèo Khi phải đắn đo vì miếng cơm manh áo, vì lợi ích trước mắt người nghèo phải hy sinh