1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Năng lực của đội ngũ tri thức khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.PDF

135 852 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó khi so sánh các nguồn lực với tư cách là các điều kiện, tiền đề để phát triển đất nước và thực hiện công nghiệp hóa thì nguồn lực trí thức, năng lực của đội ngũ trí thức đặc biệt t

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 7

1 Tính cấp thiết của đề tài 7

2 Câu hỏi nghiên cứu 11

3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 11

3.1 Ý nghĩa lý luận 11

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 11

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 12

4.1 Mục đích nghiên cứu 12

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 12

5 Đối tượng - khách thể - phạm vi nghiên cứu 13

5.1 Đối tượng nghiên cứu 13

5.2 Khách thể nghiên cứu 13

5.3 Phạm vi nghiên cứu 13

6 Phương pháp nghiên cứu 13

6.1 Phương pháp phân tích tài liệu 13

6.2 Phương pháp phỏng vấn sâu 14

6.3 Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc 14

7 Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết 15

7.1 Giả thuyết nghiên cứu 15

7.2 Khung lý thuyết 16

NỘI DUNG CHÍNH 17

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 17

1.1 Các lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu 17

1.1.1 Lý thuyết hành động xã hội 17

1.1.2 Lý thuyết cấu trúc - chức năng 19

1.1.3 Lý thuyết hệ thống 20

Trang 2

1.2 Các khái niệm công cụ 22

1.2.1 Khái niệm trí thức/ trí thức khoa học xã hội và nhân văn 22

1.2.2 Khái niệm năng lực/phát huy năng lực 24

1.2.3 Khái niệm công nghiệp hóa - hiện đại hóa 26

1.3 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 28

1.4 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về trí thức 32

CHƯƠNG 2: ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY: ĐẶC ĐIỂM VÀ NĂNG LỰC 39

2.1 Khái quát về đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn ở nước ta hiện nay 39

2.2 Đặc điểm đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam hiện nay 48

2.2.1 Trình độ chuyên môn của trí thức khoa học xã hội và nhân văn 48

2.2.2 Kỹ năng tin học và ngoại ngữ của trí thức khoa học xã hội và nhân văn 52

2.2.3 Hoạt động chuyên môn của trí thức khoa học xã hội và nhân văn .59

2.3 Tự đánh giá của đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn về năng lực và mức độ phát huy năng lực 63

2.3.1 Tự đánh giá về năng lực của trí thức khoa học xã hội và nhân văn 63

2.3.2 Tự đánh giá về mức độ phát huy năng lực của đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn 66

2.4 Một số yếu tố ảnh hưởng tới sự phát huy năng lực của đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn 75

2.4.1 Phù hợp giữa lĩnh vực đào tạo với công việc 75

2.4.2 Môi trường làm việc 79

2.4.3 Về điều kiện sống 95

Trang 3

2.4.4 Thái độ của gia đình đối với công việc của đội ngũ trí thức khoa

học xã hội và nhân văn 101

2.4.5 Mong đợi của trí đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn 102

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 109

1 Kết luận……… 109

2 Khuyến nghị……… 111

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 120

PHỤ LỤC 123

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Cơ cấu đội ngũ trí thức Việt Nam phân theo ngành đào tạo và bậc

đào tạo 41

Bảng 2.2: Cơ cấu giới của đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn 43

Bảng 2.3: Số lượng ngoại ngữ sử dụng được của tri thức khoa học xã hội và nhân văn 54

Bảng 2.4: Trí thức khoa học xã hội và nhân văn tự đánh giá các kỹ năng ngoại ngữ 55

Bảng 2.5: Trí thức khoa học xã hội và nhân văn tự đánh giá các kỹ năng tin học 57

Bảng 2.6: Đánh giá về việc hoàn thành nhiệm vụ của trí thức khoa học xã hội và nhân văn 60

Bảng 2.7: Đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn tự đánh giá năng lực trí tuệ 64

Bảng 2.8: Mức độ phát huy năng lực trong công việc của trí thức khoa học xã hội và nhân văn 67

Bảng 2.9: Tương quan giữa mức độ phát huy năng lực và giới tính của trí thức khoa học xã hội và nhân văn 70

Bảng 2.10: Những yếu tố cần thiết để phát huy năng lực làm việc của cán bộ khoa học xã hội và nhân văn 73

Bảng 2.11: Sự phù hợp giữa công việc với chuyên môn của trí thức khoa học xã hội và nhân văn 75

Bảng 2.12: Số lần chuyển công việc của trí thức khoa học xã hội và nhân văn 77

Bảng 2.13: Mức độ phù hợp với chuyên môn của công việc đầu tiên 77

Bảng 2.14: Mức độ phù hợp với chuyên môn của công việc thứ hai 78

Trang 5

Bảng 2.15: Đánh giá của trí thức khoa học xã hội và nhân văn về người quản

lý 83 Bảng 2.16: Đánh giá của cán bộ khoa học xã hội và nhân văn về những khó khăn trong công việc 84 Bảng 2.17: Tương quan giữa đánh giá những khó khăn trong công việc và giới tính của trí thức khoa học xã hội và nhân văn 86 Bảng 2.18: Đánh giá của trí thức khoa học xã hội và nhân văn về các chính sách, chế độ ở cơ quan theo thang điểm trung bình 87 Bảng 2.19: Đánh giá về các yếu tố phát triển khoa học và công nghệ của trí thức khoa học xã hội và nhân văn 93 Bảng 2.20: Điều kiện về nhà ở của trí thức khoa học xã hội và nhân văn 95 Bảng 2.21: Mức đóng góp thu nhập cho gia đình của cán bộ khoa học xã hội

và nhân văn 97 Bảng 2.22: Mức đóng góp đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho gia đình của trí thức khoa học xã hội và nhân văn 98 Bảng 2.23: Số lượng xe máy trong gia đình trí thức khoa học xã hội và nhân văn 99 Bảng 2.24: Phòng làm việc riêng của trí thức khoa học xã hội và nhân văn 101 Bảng 2.25: Quan điểm của gia đình về công việc của cán bộ khoa học xã hội

và nhân văn 101 Bảng 2.26: Những mong muốn của cán bộ khoa học xã hội và nhân văn 104 Bảng 2.27: Mong đợi về môi trường làm việc của cán bộ khoa học xã hội và nhân văn 105 Bảng 2.28: Mức độ sẵn sàng làm việc tại vùng khó khăn của cán bộ khoa học

xã hội và nhân văn 106

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trí thức là nền tảng của tiến bộ xã hội, đội ngũ trí thức vừa là lực lượng sáng tạo, truyền bá tri thức vừa là động lực thúc đẩy xã hội phát triển Đây cũng là một nhóm xã hội quan trọng đặc biệt là trong thời đại kinh tế trí thức hiện nay

Cha ông ta đã xem: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”, “phi trí bất hưng” Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định: “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc, ở nước khác như thế, Việt Nam càng như thế” [Hồ Chí

Minh, 1947, t5, tr.156] Trong quá trình lãnh đạo cách mạng của mình, Đảng luôn đề cao vai trò của đội ngũ trí thức, của nguồn lực trí thức

Từ năm 1975 đến nay, đội ngũ trí thức đã có nhiều đóng góp trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động hệ thống chính trị và nâng cao trí tuệ, sức lãnh đạo của Đảng, phát triển kinh tế, giáo dục, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa nhân loại, đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Trí thức đã và đang trở thành nguồn tài nguyên quý giá nhất trong mọi tài nguyên, là động lực của tăng trưởng kinh tế với sự ra đời, phát triển của nền

“kinh tế tri thức”

Hiện nay, một trong những vấn đề đáng quan tâm chính là sự lãng phí năng lực, sử dụng chưa đúng năng lực, chưa đúng chuyên môn đào tạo của đội ngũ trí thức nói chung và trí thức khoa học xã hội và nhân văn nói riêng

Ông cha ta có câu: “Một người biết lo bằng một kho người hay làm” chính vì

vậy đội ngũ trí thức càng có vai trò quan trọng trong việc quyết định nhịp độ phát triển của nền kinh tế tri thức

Báo cáo chính trị đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX nêu rõ: “Phải tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo

Trang 8

hướng hiện đại Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta có thể

và cần rút ngắn thời gian Thực tế cho thấy, sự phát triển kinh tế xã hội phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhiều điều kiện nhưng chủ yếu nhất vẫn là phụ thuộc vào con người” [Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo Chính trị Đại hội IX,

2001] Sự khẳng định này đã thể hiện đúng đắn trong hoàn cảnh nước ta đang

ở giai đoạn công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Do đó khi so sánh các nguồn lực với tư cách là các điều kiện, tiền đề để phát triển đất nước và thực hiện công nghiệp hóa thì nguồn lực trí thức, năng lực của đội ngũ trí thức đặc biệt trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn đóng vai trò quyết định

Trong Nghị quyết Trung ương 7 khóa X của Ban chấp hành Trung ương Đảng cũng khẳng định rất rõ vai trò của đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nghị quyết nhấn mạnh:

“Ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt trong chiến lược phát triển, tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia”; “Xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh là trực tiếp nâng tầm trí tuệ của dân tộc, sức mạnh của đất nước, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị Đầu tư xây dựng đội ngũ trí thức là đầu tư cho phát triển bền vững” [Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội nghị 7 Ban Chấp hành Trung ương

khóa X, 2008, tr.90-91]

Nghị quyết số 27 - NQ/T.Ư về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ

đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng ta cũng quan niệm

rằng: “Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền

bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội” [Nghị quyết số 27 khóa X, 2008]

Trang 9

Cho đến Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ phương hướng:

"Xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước Tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo Trọng dụng trí thức trên cơ sở đánh giá đúng phẩm chất, năng lực và kết quả cống hiến Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đãi ngộ xứng đáng những cống hiến của trí thức Có chính sách đặc biệt đối với nhân tài của đất nước Coi trọng vai trò tư vấn, phản biện, giám định xã hội của các cơ quan nghiên cứu khoa học trong việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và các dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Gắn bó mật thiết giữa Đảng và Nhà nước với trí thức, giữa trí thức với Đảng

và Nhà nước" [Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo chính trị Đại hội XI, 2011,

tr 241-242]

Với mục tiêu: "Đến năm 2020, xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, đạt chất lượng cao, số lượng đông và cơ cấu hợp lý, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, từng bước tiến lên ngang tầm với trình độ của trí thức các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới Gắn bó vững chắc giữa Đảng và Nhà nước với trí thức, giữa trí thức với Đảng và Nhà nước, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh công - nông - trí" [Đảng Cộng sản Việt

Nam, Hội nghị 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa X, 2008, tr.90]

Chính vì vậy, đội ngũ trí thức phải chiếm vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội Đây được xem là nguồn lực của mọi nguồn lực,

là nhân tố quan trọng bậc nhất để đưa nước ta nhanh chóng trở thành một nước công nghiệp Do đó, khai thác, sử dụng có hiệu quả và phát triển đội ngũ trí thức là vấn đề quan trọng góp phần thực hiện thành công quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Muốn có nguồn lực chất lượng tốt, chúng

ta phải có những hoạt động tích cực để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

mà trước hết phải bắt đầu từ việc giáo dục, đào tạo

Trang 10

Giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng kỹ năng, tay nghề trong hoạt động, nâng cao tay nghề, hình thành phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức và tâm

lý, tạo nên những hình mẫu con người đặc trưng và tương ứng với những xã hội khác nhau, tạo ra năng lực hoạt động cho mỗi cá nhân trong xã hội Đó chính là chiến lược đúng đắn của Nhà nước ta hiện nay nhưng muốn làm được điều đó, chúng ta cần phải nghiên cứu một cách chính xác để đưa ra những giải pháp hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả, năng lực hoạt động sáng tạo, tư duy khoa học của đội ngũ trí thức và phát huy được hết tiềm năng của nguồn lực này trong sự nghiệp đổi mới - hội nhập của nước ta hiện nay

Với tư cách là chủ thể chính sáng tạo ra tri thức khoa học, đội ngũ trí thức Việt Nam chính là lực lượng đi đầu cho sự phát triển của đất nước Cho nên, nước ta cần phải phát huy tối đa tiềm năng trí tuệ của đội ngũ trí thức, đặc biệt là đội ngũ trí thức thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn

Đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam, trong những năm qua đã có những đóng góp to lớn vào đời sống chính trị, xã hội của đất nước như: Tham gia chuẩn bị, góp ý kiến cho các văn kiện, nghị quyết của Đảng và Nhà nước; phổ biến kiến thức, khuyến khích đưa nhanh các tiến bộ khoa học vào đời sống… Tuy nhiên, đội ngũ trí thức trong nền kinh tế trí thức hiện nay bên cạnh những kết quả đã đạt được, đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định như: Hiệu quả hoạt động chưa tương xứng với tiềm năng của đội ngũ này, chưa đáp ứng tốt những yêu cầu của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói riêng và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội nói chung ở nước ta trong thời

kỳ đổi mới

Chính vì vậy, để đáp ứng yêu cầu thực tiễn về tìm hiểu năng lực của nguồn lực trí thức nói chung và trí thức khoa học xã hội và nhân văn nói

Trang 11

riêng ở Việt Nam hiện nay, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Năng lực của đội

ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của

mình

2 Câu hỏi nghiên cứu

- Năng lực của đội ngũ trí thức trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam hiện nay như thế nào?

- Phát huy năng lực của trí thức khoa học xã hội và nhân văn chịu ảnh hưởng của những nhân tố nào?

- Làm thế nào để phát huy năng lực của đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn hiện nay?

3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn dựa trên cơ sở những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin về trí thức và phát triển đội ngũ trí thức làm cơ sở lý luận cho đề tài

Dựa trên cách tiếp cận của xã hội học, vận dụng hệ thống các khái niệm

và lý thuyết làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu

Dựa trên các quan điểm, chủ trương, chính sách phát triển đội ngũ trí thức nói chung và phát triển đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn nói riêng của Đảng và Nhà nước đồng thời có sự kế thừa các nhân tố hợp lý của những thành tựu nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn liên quan đến đề tài trước đó để làm sáng tỏ năng lực và mức độ phát huy năng lực của đội ngũ này cũng như những yếu tố tác động tới sự phát huy năng lực của trí thức khoa học xã hội và nhân văn hiện nay

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Trang 12

Phân tích và làm sáng tỏ thực trạng sử dụng và phát huy năng lực của đội ngũ trí thức trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn với việc phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và hoàn thiện nhân cách con người mới trong thời

kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở nước ta hiện nay

Kết quả mà luận văn đạt được có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc tìm hiểu thực trạng phát huy năng lực của đội ngũ trí thức trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam trong thời kỳ thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở nước ta hiện nay cũng như tìm hiểu về chất lượng nguồn lực con người trong các giai đoạn phát triển khác nhau dưới sự tác động của nền kinh tế thị trường hiện nay

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

4.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu này hướng tới làm sáng tỏ năng lực và mức độ phát huy năng lực của đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn hiện nay, từ đó đề xuất những khuyến nghị góp phần nâng cao và phát huy năng lực của đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn ở nước ta hiện nay

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Mô tả khái quát về đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn hiện nay

- Đánh giá mức độ phát huy năng lực của đội ngũ trí thức khoa học xã hội nhân văn hiện nay

- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát huy năng lực của đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn

- Đề xuất những khuyến nghị nhằm phát huy năng lực của đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn hiện nay

Trang 13

5 Đối tượng - khách thể - phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Năng lực của đội ngũ trí thức trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam hiện nay

Đề tài đã tiến hành khảo sát đội ngũ trí thức ở 4 địa bàn là Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Bình Dương Trong nghiên cứu này, tác giả giới hạn khai thác số liệu khảo sát về trí thức khoa học xã hội và nhân văn

ở Việt Nam hiện nay

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Những tài liệu về các công trình nghiên cứu, các bài báo, luận văn liên quan đến nguồn lực, đội ngũ trí thức, phát huy năng lực của đội ngũ trí thức Đây là phương pháp hỗ trợ cho việc thu thập các thông tin liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài

Luận văn sử dụng phương pháp phân tích thứ cấp được rút ra từ bộ số liệu được khảo sát của đề tài KX.03.22/06-10: “Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp chấn hưng đất nước trong thế kỷ XXI”

Được sự cho phép của chủ nhiệm đề tài, tác giả đã phân tích riêng 328 trường hợp trí thức khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam được khảo sát

Trang 14

trong đề tài Đây là sự phân tích dữ liệu định lượng mà người khác đã thu thập

để sử dụng cho vấn đề của người nghiên cứu

Cơ cấu mẫu phân tích trong đề tài:

Đối tượng phỏng vấn: trí thức làm việc trong lĩnh vực giáo dục, nghiên cứu, quản lý…

Mục đích phỏng vấn: Thu thập thông tin về khả năng tự đánh giá năng lực của trí thức; mức sống, điều kiện tác động tới năng lực và môi trường làm việc của trí thức cũng như những nhìn nhận, đánh giá, quan điểm về vấn đề sử dụng năng lực của trí thức khoa học xã hội và nhân văn hiện nay ở nước ta…

6.3 Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc

Bên cạnh quá trình thu thập những kết quả của điều tra bằng bảng hỏi, trưng cầu ý kiến và những thông tin từ phỏng vấn sâu cho thấy nghiên cứu cần được bổ sung những dữ liệu định tính Do đó, phương pháp phỏng vấn

Trang 15

bán cấu trúc đã được lựa chọn nhằm làm rõ hơn những thông tin định lượng

đã thu thập được

Bảng hỏi bán cấu trúc tập trung vào các vấn đề sau: đánh giá các tiêu chí quan trọng và sắp xếp theo thứ tự ưu tiên của đội ngũ trí thức, đánh giá về trình độ ngoại ngữ và tin học, mức độ hoàn thành công việc, chế độ khen thưởng và cơ chế khen thưởng, sự ủng hộ và tạo điều kiện của gia đình đội ngũ trí thức

Số lượng phỏng vấn bán cấu trúc: 40 trường hợp ( 20 nam, 20 nữ)

7 Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết

7.1 Giả thuyết nghiên cứu

Đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn ngày càng tăng về số lượng và chất lượng ngày càng được nâng cao

Đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn đã phát huy tốt năng lực

và đang dần đáp ứng được yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở nước ta hiện nay

Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới thực trạng phát huy năng lực của đội ngũ trí thức… trong đó các nhân tố: tuổi, giới tính, trình độ học vấn, định hướng giá trị, chuyên môn nghề nghiệp và hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nước ban hành đang có ảnh hưởng rất lớn tới đội ngũ trí thức và vấn đề phát huy năng lực của đội ngũ trí thức trong giai đoạn hiện nay

Trang 16

Cá nhân

Tự đánh giá về năng lực

Đánh giá mức độ phát huy năng lực

Trang 17

NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Các lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu

xã hội là hành động hướng tới sự đáp lại của người khác hay hành động xã hội là hành động mà chủ thể gắn cho đối tượng một ý nghĩa chủ quan nhất định Do đó, giải thích xã hội học đối với hành động phải bắt đầu bằng việc quan sát và lý giải trạng thái tinh thần chủ quan

Trong khi nhà thực chứng luận nhấn mạnh đến sự kiện và quan hệ nhân quả, thì nhà hành động luận nhấn mạnh đến sự thấu hiểu Vì không thể đi vào bên trong đời sống tinh thần của chủ thể nên nhà xã hội học phải phát hiện các

ý nghĩa, đạt được sự thấu hiểu bằng phương pháp lý giải, mà không thể bằng

đo lường khách quan Vì các ý nghĩa thường xuyên được dàn xếp trong quá trình tương tác, nên không thể thiết lập được các quan hệ nhân quả đơn giản

Theo quan niệm của Weber, một hành động xã hội là một hành động của một cá nhân mà có gắn một ý nghĩa vào hành động ấy, và cá nhân đó tính đến hành vi của người khác, bằng cách như vậy mà định hướng vào chuỗi hành động đó Một hành động mà một cá nhân không nghĩ về nó thì không thể là một hành động xã hội Mọi hành động không tính đến sự tồn tại và những phản ứng có thể có từ những người khác thì không phải là hành động

Trang 18

xã hội Hành động không phải là kết quả của quá trình suy nghĩ có ý thức thì không phải là hành động xã hội Do vậy, khi đề cập đến các loại hành động xã hội, ông đã chia hành động xã hội ra 4 loại cơ bản:

Thứ nhất là hành động xã hội theo mục đích: người hành động phải chọn mục đích nào và phương tiện nào để đạt được mục đích, kết quả cao nhất Ông cho rằng chỉ đến xã hội tư bản, hành động hợp mục đích mới phát triển đầy đủ và chiếm ưu thế

Thứ hai là hành động xã hội theo giá trị: đây là loại hành động hợp lý

về giá trị-hướng tới những giá trị, nghĩa là khi diễn ra hành động thì chủ thể hành động phải suy nghĩ kiểm tra

Thứ ba là hành động xã hội theo cảm xúc: không tuân theo qui luật, lôgic biện chứng của khoa học mà tuân theo những qui luật tâm lý

Thứ tư là hành động theo truyền thống: là loại hành động mà chủ thể hành động xuất phát từ cái họ cho là họ đã học hành hay kinh nghiệm từ trước

đó

Cấu trúc của hành động xã hội gồm: Nhu cầu và lợi ích cá nhân; chủ thể hành động; hoàn cảnh (môi trường) hành động và phương tiện (công cụ) hành động

1 Nhu cầu và lợi ích của cá nhân: Đây là yếu tố tạo động cơ thúc đẩy hành động để thỏa mãn Động cơ này sẽ tạo ra tính tích cực của chủ thể, tham gia định hướng hành động và quy định mục đích của hành động

2 Chủ thể hành động: Là cá nhân, nhóm, cộng đồng, xã hội

3 Hoàn cảnh/môi trường của hành động: Là điều kiện về thời gian, không gian vật chất và tinh thần của hành động Sự tác động của môi trường, hoàn cảnh tới hành động như thế nào? Tuỳ theo hoàn cảnh hành động mà các chủ thể hành động sẽ lựa chọn phương án tối ưu nhất đối với họ

Trang 19

4 Phương tiện/ công cụ: Là cách thức mà chủ thể sử dụng để thực hiện hành động và đạt được mục đích của mình

Vận dụng lý thuyết hành động xã hội, tác giả tìm hiểu mục đích và nhu cầu được nâng cao năng lực của đội ngũ trí thức cũng như những lợi ích

từ việc tham gia các hoạt động nghiên cứu chuyên môn, hoạt động nâng cao mức sống cho bản thân và gia đình thông qua các hành động cụ thể… của đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn

1.1.2 Lý thuyết cấu trúc - chức năng

Lý thuyết cấu trúc - chức năng với những đại diện tiêu biểu như: A Comte, H.Spencer, E.D.Khiem, V Pareto Các tác giả này đều nhấn mạnh tới tính liên kết chặt chẽ của các bộ phận cấu thành nên một chỉnh thề mà mỗi bộ phận đều có những chức năng nhất định góp phần đảm bảo sự tồn tại của chỉnh thể đó với tư cách là một cấu trúc tương đối ổn định và bền vững

Lý thuyết cấu trúc - chức năng cho rằng: một xã hội tồn tại được, phát triển được là do các bộ phận cấu thành của nó hoạt động nhịp nhàng với nhau

để đảm bảo sự cân bằng chung của cả cấu trúc, bất kỳ sự thay đổi nào ở thành phần nào cũng kéo theo sự thay đổi ở các thành phần khác

Sự biến đổi của cấu trúc tuân theo quy luật tiến hoá, thích nghi, khi môi trường có sự thay đổi và sự biến đổi cấu trúc hướng tới sự thiết lập lại trạng thái cân bằng và ổn định

Đối với cấu trúc xã hội, các đại diện của thuyết chức năng vừa nhấn mạnh tính hệ thống của nó vừa đề cao vai trò quan trọng của hệ giá trị - hệ giá trị chuẩn mực xã hội trong việc tạo dựng sự nhất trí, thống nhất, ổn định và trật tự xã hội

Vận dụng lý thuyết này vào vấn đề cụ thể, thuyết chức năng hướng vào giải quyết vấn đề bản chất của cấu trúc xã hội và hệ quả của cấu trúc xã hội

đó Đặt trong bối cảnh sự kiện, hiện tượng là tìm hiểu năng lực của đội ngũ trí

Trang 20

thức thì vấn đề là hướng vào phân tích thực trạng năng lực của trí thức hiện nay và các thành phần tác động tới khả năng làm việc của đội ngũ trí thức cũng như hệ thống các các cơ chế, chính sách dành cho đội ngũ trí thức nói chung và trí thức khoa học xã hội và nhân văn nói riêng hiện nay như thế nào?

1.1.3 Lý thuyết hệ thống

Lý thuyết hệ thống được áp dụng trong nghiên cứu xã hội đã coi xã hội là một hệ thống với tập hợp những yếu tố liên hệ với nhau, tạo thành sự thống nhất ổn định và tính chỉnh thể Hệ thống này có những thuộc tính và những quy luật tích hợp Nguyên lý tính chỉnh thể là nguyên lý xuất phát đồng thời là nguyên lý trung tâm của lý thuyết hệ thống Nó cho thấy đặc trưng cơ bản nhất của hệ thống là tính thống nhất chỉnh thể Tính thống nhất của hệ thống còn là sự thống nhất trong đa dạng hay gọi đó là nguyên

lý tính phức thể Hệ thống là một thể phức tạp, đa cấu trúc, đa chức năng, phức tạp về các loại quan hệ Trong cấu trúc có hệ thống đóng khác với hệ thống mở; hệ thống thuần nhất khác với hệ thống không thuần nhất; Hệ thống điều khiển với hệ thống bị điều khiển Còn trong chức năng có những phạm trù thể hiện hành vi, hành động, hoạt động nhằm duy trì hệ thống; trong quan

hệ có quan hệ vĩ mô khác quan hệ vi mô, quan hệ bên trong (nội tại) khác với quan hệ bên ngoài

Lý thuyết hệ thống trong xã hội học gắn liền với tên tuổi Talcott Parsons - nhà xã hội học người Mỹ

Về mặt lý thuyết, Parsons xem xét hệ thống trong một trục toạ độ 3 chiều: Cấu trúc - Chức năng - Kiểm soát Tức là hệ thống nào cũng có cấu trúc của nó, hệ thống luôn nằm trong trạng thái động vừa tự biến đổi vừa trao đổi với môi trường xung quanh, hệ thống có khả năng điều khiển và tự điều khiển

Trang 21

Parsons đã đưa ra sơ đồ nổi tiếng về hệ thống chức năng xã hội, viết tắt

là AGIL Trong đó gồm bốn loại yêu cầu chức năng hợp thành:

(A)- Thích ứng với môi trường

(G)- Hướng đích - huy động các nguồn lực để đạt mục tiêu

(I) - Liên kết, phối hợp các hoạt động

(L)- Duy trì khuôn mẫu để tạo ra sự ổn định, trật tự

Tương ứng với sơ đồ AGIL, trong bất kỳ hệ thống xã hội nào, người ta

có tiểu hệ thống kinh tế; tiểu hệ thống chính trị; tiểu hệ thống pháp luật và tiểu hệ thống các giá trị, chuẩn mực xã hội được quy chuẩn thông qua các thiết chế của gia đình, nhà trường, tổ chức văn hoá, tôn giáo

Sự tương quan và tương tác trong sơ đồ AGIL sẽ đảm bảo trật tự, ổn định của hệ thống xã hội

Với những đặc trưng, tính chất nói trên, chúng ta có thể vận dụng lý thuyết hệ thống vào nghiên cứu năng lực của đội ngũ trí thức khoa học xã hội

và nhân văn trong giai đoạn công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở nước ta hiện nay

Trước hết coi năng lực của cá nhân như là tổng hợp của nhiều yếu tố thống nhất Tính chỉnh thể của năng lực thể hiện qua các yếu tố cấu thành như điều kiện môi trường làm việc, điều kiện và sự tác động của gia đình, khả năng của bản thân cá nhân Trong đó điều kiện môi trường làm việc thể hiện ở

cơ sở vật chất, mối quan hệ với đồng nghiệp, năng lực của người quản lý…;

về khía cạnh gia đình đó là nhà ở, phương tiện sinh hoạt, sự quan tâm-tạo điều kiện của gia đình…; về khả năng của cá nhân đó là tính tự chủ, tính nhanh nhạy, khả năng làm việc độc lập, sự tham gia các hoạt động chuyên môn…

Đến lượt nó, năng lực của cá nhân lại chịu tác động của tổ hợp các yếu

tố kinh tế xã hội như nghề nghiệp, gia đình, địa vị xã hội, giới, học vấn và

Trang 22

môi trường xã hội Nghiên cứu năng lực của đội ngũ trí thức khoa học xã hội

và nhân văn cần phải đặt trong tổng thể hệ thống những yếu tố này

Ngoài ra còn phải xem xét năng lực của cá nhân như một phạm trù có tính hệ thống luôn luôn biến đổi và ngày càng được nâng lên Khi xã hội phát triển, năng lực của cá nhân cũng chuyển động theo đúng khả năng của mỗi cá nhân Sự hướng đích của mọi sự phát triển là tạo ra sự cân bằng, hài hoà trong

hệ thống năng lực của từng nhóm xã hội nói chung và nhóm trí thức khoa học

xã hội và nhân văn nói riêng đồng thời có sự ảnh hưởng đến các phương diện khác của xã hội

Như vậy, vận dụng lý thuyết hệ thống vào tìm hiểu năng lực của trí thức khoa học xã hội và nhân văn sẽ giúp lý giải phần nào theo các nguyên lý của hệ thống, và thông qua đó để phân tích những đặc điểm của sự biến đổi và những nhân tố tác động đến đội ngũ trí thức này hiện nay

1.2 Các khái niệm công cụ

1.2.1 Khái niệm trí thức/ trí thức khoa học xã hội và nhân văn

Khái niệm “Trí thức”

Hiện nay, còn có nhiều cách tiếp cận, cách hiểu khác nhau về trí thức:

- Đại từ điển Tiếng Việt cho rằng: “Trí thức là những người chuyên làm việc lao động trí óc” [Nhà xuất bản văn hóa thông tin, Hà Nội, 1998, tr.1705]

- Từ điển Bách khoa Việt Nam xác định: Trí thức, “tầng lớp xã hội làm nghề lao động trí óc, trong đó bộ phận chủ yếu là người có trình độ học vấn cao, hiểu biết sâu rộng về chuyên môn của mình, có sáng tạo và phát minh Trí thức bao gồm các nhà khoa học, kỹ sư, kỹ thuật viên, thầy giáo, thầy thuốc, luật sư, nhà văn, nghệ sỹ…” [Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2005, t.4, tr.582]

Trang 23

- Theo Đề án phát triển trí thức Việt Nam, có 3 cách hiểu về trí thức như sau:

Trí thức là người lao động trí óc, có hiểu biết sâu và rộng, thông thường, có trình độ đại học và tương đương trở lên, có năng lực sáng tạo, có trình độ phát triển về trí tuệ, nhạy bén với cái mới và quan tâm đến đổi mới

để phát triển

Trí thức là người có trình độ chuyên môn sâu, rộng trong một lĩnh vực nhất định, được hình thành qua đào tạo, bồi dưỡng và phát triển không ngừng bằng con đường tự đào tạo, lao động và hoạt động sáng tạo của mỗi cá nhân Trí thức có nhu cầu cao về đời sống tinh thần và hướng tới các giá trị chân - thiện - mỹ; có lòng tự trọng, khát vọng tự do, dân chủ, công bằng

Nghị quyết 27 - Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 (khóa X) xác định rõ: Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội

Thực tiễn đổi mới đã khách quan hóa vai trò và tầm quan trọng của trí thức đối với sự phát triển của đất nước và dân tộc Nhận thức rõ vấn đề này, Đảng ta khẳng định: “Trong mọi thời đại, tri thức luôn là nền tảng tiến bộ xã hội, đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức Ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh của mọi quốc gia trong chiến lược phát triển” [Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội nghị 9 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Hà Nội, 2004, tr.88]

Mặc dù đã có nhiều cách hiểu, khái niệm, định nghĩa khác nhau về trí thức hiện nay nhưng trong phạm vi luận văn này, tác giả sử dụng định nghĩa

Trang 24

trí thức theo tinh thần của Nghị quyết số 27 Đây là định nghĩa đã khái quát đặc trưng và tiêu chí cơ bản của trí thức Việt Nam hiện nay Trên cơ sở định nghĩa này, khi hoạch định chính sách, chế độ cần phải cụ thể hoá, như ấn định bằng cấp nào là trí thức, tiêu chí đối với trí thức trong các lĩnh vực, ngành nghề, các thời kỳ khác nhau; cần xác định rõ trí thức là những người như thế nào

Nghị quyết 27/TW cũng xác định khái niệm “Đội ngũ trí thức”: Là lực lượng những người lao động, chủ yếu là lao động trí óc, có trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nhất định, đang hoạt động nghề nghiệp trên các lĩnh vực kinh tế xã hội bao gồm: khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, văn hoá nghệ thuật, quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng, hệ thống các tổ chức chính trị, chính trị xã hội, xã hội nghề nghiệp, và các hội trí thức…

Đội ngũ trí thức đã nghiên cứu, cung cấp nhiều luận cứ khoa học, giúp Đảng bộ, chính quyền địa phương vận dụng cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước sát với điều kiện thực tiễn của địa phương, góp phần trực tiếp đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài

Khái niệm “Trí thức khoa học xã hội và nhân văn”

Trí thức khoa học xã hội nhân văn nằm trong cơ cấu chung của trí thức Việt Nam và là bộ phận hoạt động trong lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn

Họ có tri thức sâu rộng về xã hội và về con người Bằng lao động sáng tạo của mình, họ tham gia vào đời sống chính trị - xã hội và trở thành một nguồn lực trí tuệ quan trọng giúp cho xã hội không ngừng tiến bộ

1.2.2 Khái niệm năng lực/phát huy năng lực

Khái niệm “Năng lực”

Theo Từ điển Tiếng Việt “Năng lực” được hiểu là: Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó Hay năng lực là một phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành

Trang 25

một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao [Từ điển Tiếng Việt, 1994, tr.639]

Trong Tâm lý học, Năng lực là một trong những vấn đề được quan tâm nghiên cứu, có ý nghĩa thực tiễn và lý luận to lớn vì sự phát triển năng lực của mọi thành viên trong xã hội sẽ đảm bảo cho mọi người tự do lựa chọn một nghề nghiệp phù hợp với khả năng của cá nhân, làm cho hoạt động của cá nhân có kết quả hơn, và cảm thấy hạnh phúc khi lao động Như vậy, theo quan điểm của những nhà tâm lý học, năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao

Việt Nam hiện nay, có khá nhiều nhà nghiên cứu tới các vấn đề năng lực của con người trong đó có liên quan tới những năng lực nghề nghiệp đã định nghĩa: Năng lực nghề nghiệp là sự tương ứng giữa những đặc điểm tâm sinh lý của con người với những yêu cầu do nghề đặt ra” [Phạm Tất Dong,

1989, tr.72]

Trong một số công trình nghiên cứu khoa học, các nhà Tâm lý học cũng đưa ra những quan niệm khác nhau về năng lực: "Nói đến năng lực lao động và công tác là nói tới tay nghề và đạo đức…" [Phạm Minh Hạc, 1996,

tr 325]…

Như vậy, bất cứ hoạt động nào của con người, để thực hiện có hiệu quả, con người cần phải có một số phẩm chất tâm lý cần thiết và tổ hợp những phẩm chất này được gọi là năng lực Theo quan điểm của Tâm lý học mác xít, Năng lực của con người luôn gắn liền với hoạt động của chính họ Như vậy, nội dung và tính chất của hoạt động được quy định bởi nội dung và tính chất của đối tượng của nó, do đó khi nói đến năng lực cần phải hiểu năng lực không phải là một thuộc tính tâm lý duy nhất nào đó (như khả năng tri giác, trí nhớ ) mà là sự tổng hợp các thuộc tính tâm lý cá nhân (sự tổng hợp này

Trang 26

không phải phép cộng của các thuộc tính mà là sự thống nhất hữu cơ, giữa các thuộc tính tâm lý này diễn ra mối quan hệ tương tác qua lại theo một hệ thống nhất định và trong đó một thuộc tính nổi lên với tư cách chủ đạo và những thuộc tính khác giữ vai trò phụ thuộc) đáp ứng được những yêu cầu hoạt động và đảm bảo hoạt động đó đạt được kết quả mong muốn

Từ những cách hiểu trên, ta có thể hiểu năng lực: "Năng lực là sự tổng hợp những thuộc tính của cá nhân con người, đáp ứng những yêu cầu của hoạt động và đảm bảo cho hoạt động đạt được những kết quả cao"

Khái niệm “Phát huy năng lực”

Theo Từ điển Tiếng Việt “Phát huy” được định nghĩa là: Làm cho cái hay, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm [Từ điển Tiếng Việt, 1994, tr.742]

Hiện nay, để đo lường được thế nào là phát huy năng lực còn gặp nhiều khó khăn, do chúng ta chưa có một khái niệm hay định nghĩa chính thức Chính vì vậy, trong phạm vi của nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng cách hiểu

về phát huy năng lực chính là phát huy tối đa những khả năng của con người được thể hiện trong quá trình lao động và sản xuất để đưa lại kết quả tốt nhất cho bản thân, gia đình và xã hội

1.2.3 Khái niệm công nghiệp hóa - hiện đại hóa

Theo các nhà kinh tế Liên Xô (cũ) viết trong cuốn giáo khoa kinh tế chính trị của Liên Xô được dịch sang tiếng Việt Nam 1958, đã định nghĩa:

“Công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là phát triển đại công nghiệp, trước hết là công nghiệp nặng, sự phát triển ấy cần thiết cho việc cải tạo toàn bộ nền kinh

tế quốc dân trên cơ sở kỹ thuật tiên tiến.”

Trong cuốn “Từ điển tiếng Việt” đã giải thích: Công nghiệp hoá là quá trình xây dựng nền sản xuất cơ khí lớn trong tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân và đặc biệt công nghiệp nặng, dần tới sự tăng nhanh trình độ trang

Trang 27

bị kỹ thuật cho lao động và nâng cao năng suất lao động [Từ điển Tiếng Việt,

1994, tr.202]

Trên thực tế, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong những năm 60, ta đã mắc phải sai lầm đó, kết quả là nền kinh tế vẫn không thoát khỏi nền công nghiệp lạc hậu, nông nghiệp lạc hậu, kết cấu hạ tầng yếu kém Mặc dù không đạt được mục tiêu nhưng cũng chính nhờ công nghiệp hoá mà nước ta đẫ xây dựng được một số cơ sở vật chất kỹ thuật nhất định, tạo ra tiềm lực về kinh tế - quốc phòng, phục vụ chiến tranh, đảm bảo được phần nào đời sống nhân dân

Tại các nước có nền kinh tế phát triển, công nghiệp hóa là biện pháp cốt lõi để để biến nền kinh tế lạc hậu thành nền kinh tế hiện đại trong đó nền công nghiệp giữ vai trò chính và chủ đạo Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta đang đi theo con đường xã hội chủ nghĩa do đó ta cần quan tâm đến nội dung

cơ bản của công nghiệp hóa -hiện đại hóa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội ở Việt Nam theo hướng phát triển lực lượng sản xuất, cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội trên cở sở áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hóa, hợp lý hóa

và hiệu quả cao, thiết lập quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Năm 1063, Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIPO) quan niệm: “Công nghiệp hóa là một quá trình phát triển kinh tế trong đó một bộ phận nguồn lực quốc gia ngày càng lớn được xây dựng để huy động cơ cấu kinh tế nhiều ngành với công nghệ hiện đại để chế tạo ra các phương tiện sản xuất, hàng tiêu dùng khả năng bảo đảm nhịp độ tăng trưởng cao trong nền kinh tế và bảo đảm sự tiến bộ kinh tế - xã hội”

Theo quan điểm của Đảng ta xác định: “Công nghiệp hóa - hiện đại hóa

là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh,

Trang 28

dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến

bộ của khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất xã hội cao” [Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VII, 1994, tr.554]

Công nghiệp hóa ở nước ta có đặc điểm phải gắn liền với hiện đại hóa bởi vì cuộc cách mạng khoa học hiện đại đã và đang diễn ra ở một số nước phát triển bắt đầu nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức Do đó chúng ta cần phải tranh thủ ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, tiếp cận với nền kinh tế tri thức để hiện đại hóa những ngành, những khâu, những lĩnh vực có điều kiện nhảy vọt

Ở nước ta công nghiệp hóa nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội; tăng cường sức mạnh để bảo vệ độc lập dân tộc Mục tiêu tổng quát của sự nghiệp công nghiệp hóa của nước ta được Đảng cộng sản Việt Nam xác định tại Đại hội lần thức VIII và tiếp tục khẳng định tại Đại hội lần thứ IX là: "Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa" [Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội IX, 2006, tr.14,15]

1.3 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Trong mọi thời đại, tri thức luôn là nền tảng tiến bộ xã hội, đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức Ngày nay, cùng với

sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia trong chiến lược phát triển Trí thức là những người lao động trí

óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư

Trang 29

duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội

Cho đến nay, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về đội ngũ trí thức với nhiều khía cạnh, quy mô khác nhau, trong đó có một số công trình khoa học đã đề cập đến các góc độ mà đề tài có thể nghiên cứu tham khảo và

kế thừa:

Bàn về trí thức Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới và xây dựng đất nước, nhiều cuốn sách, công trình nghiên cứu (Đỗ Mười, Trí thức Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước, 1995; Phó tiến sĩ Nguyễn Quốc Bảo - Đoàn Thị Lịch, Trí thức trong công cuộc đổi mới đất nước, 1998; Vũ Khiêu, Người trí thức Việt Nam qua các chặng đường lịch sử, 1987; Ngô Thị Phượng, Đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn trong sự nghiệp đổi mới, 2007 ) đã đã khái quát tình hình biến đổi của trí thức Việt Nam trong công cuộc đổi mới, phân tích những hạn chế, ưu điểm của trí thức Việt Nam, trên cơ sở đó đề ra những giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ trí thức nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước Đồng thời, khẳng định những quan điểm của Đảng ta về vai trò của trí thức và nhiệm vụ của đội ngũ trí thức trong sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước

Đề cập tới sự biến đổi trí thức và định hướng phát triển của đội ngũ trí thức Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa (Phạm Tất Dong, Trí thức Việt Nam thực tiễn và triển vọng, 1995; Định hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa, 2001; Đỗ Thị Thạch, Phát huy nguồn lực trí thức nữ Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa, 2006 ), các công trình nghiên cứu đã đi từ lý luận đến thực tiễn, phân tích quan niệm hiện đại về "trí thức", trên cơ sở đó nghiên cứu đội ngũ trí thức Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử của thế kỷ 20 Từ việc nghiên cứu thực trạng về số lượng, cơ cấu đến tâm trạng, nguyện vọng của đội ngũ

Trang 30

trí thức để đưa ra một số khuyến nghị nhằm phát triển đội ngũ trí thức nước ta hiện nay Trên cơ sở nghiên cứu khái quát tình hình công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước và một số yêu cầu đặt ra về nguồn lực trí tuệ; các tác giả đã khẳng định vai trò của đội ngũ trí thức trong công nghiệp hóa - hiện đại hóa, làm rõ ưu, nhược điểm của đội ngũ trí thức ở nước ta, từ đó đề xuất những định hướng trong hoạch định chính sách để xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2000 - 2010

Đề cập tới vai trò của đội ngũ trí thức (Nguyễn Thanh Tuấn, Một số vấn đề về trí thức Việt Nam, 1998; Nguyễn Văn Khánh - Nguyễn Quốc Bảo, Một số vấn đề về trí thức Việt Nam, 2001; Nguyễn Văn Sơn, Trí thức giáo dục đại học Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, 2002; ), các tác giả đã đi sâu nghiên cứu về trí thức, vai trò của trí thức nói chung đối với tiến bộ xã hội; làm rõ những đặc điểm của trí thức Việt Nam trong tiến trình lịch sử và dự báo xu hướng phát triển của đội ngũ này Trên

cơ sở đó, các tác giả đã đề ra những phương hướng đổi mới công tác quản lý

và chính sách kinh tế - xã hội đối với đội ngũ trí thức Việt Nam trong giai đoạn mới

Một số bài viết về trí thức như: "Quan điểm và chính sách của V.I Lênin đối với trí thức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa" của Trịnh Quốc Tuấn, Nghiên cứu lý luận, số 4, 1995; "Những bài học từ quan điểm của Lênin về trí thức', Tạp chí Thông tin khoa học xã hội, số 4/1996; "Bài học từ những quan điểm của Hồ Chí Minh về trí thức, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 2/2001; "Trí thức trong khối liên minh công - nông - trí vì sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay", Tạp chí Cộng sản, tháng 11/1999 "Bài học từ những quan điểm của chủ nghĩa Mác về trí thức" trong cuốn "Học thuyết Mác với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam", Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003 của Phó giáo sư, Tiến sĩ Phan Thanh Khôi Trong đó, các tác giả đã đi sâu nghiên cứu các vấn đề: bản chất giai cấp của trí

Trang 31

thức, chính sách sử dụng các chuyên gia tư sản, cải tạo trí thức cũ, đào tạo trí thức mới, xây dựng khối liên minh công - nông - trí thức, các giải pháp phát huy vai trò của trí thức

Bên cạnh đó, có một số Luận án tiến sĩ đã nghiên cứu về vị trí, vai trò, đặc điểm, động lực sáng tạo của trí thức trong quá trình cách mạng Việt Nam như: "Vị trí và vai trò của tầng lớp trí thức trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam" của Phạm Việt Dũng, Luận án Phó tiến sĩ triết học, Hà Nội, 1988; "Động lực của trí thức trong lao động sáng tạo ở nước ta hiện nay " của Phan Thanh Khôi, Luận án Phó tiến sĩ triết học, Hà Nội, 1992; “Phát huy tiềm năng của trí thức khoa học xã hội trong công cuộc đổi mới ở nước ta” của Nguyễn An Ninh, Luận án tiến sĩ, Hà Nội,

1999 "Xây dựng đội ngũ trí thức khoa học Mác - Lênin trong các trường Đại học ở nước ta hiện nay" của Phạm Văn Thanh, Luận án tiến sĩ triết học,

Hà Nội, 2001; "Trí thức người dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong công cuộc đổi mới" của Trịnh Quang Cảnh, Luận án tiến sĩ triết học, Hà Nội, 2001; "Phát huy vai trò nguồn lực trí thức khoa học xã hội và nhân văn trong quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay" của Nguyễn Đình Minh, Luận

án tiến sĩ triết học, Hà Nội, 2003; "Vai trò của trí thức thủ đô Hà Nội trong

sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa" của Nguyễn Xuân Phương, Luận

án tiến sĩ triết học, Hà Nội, 2004

Ngoài ra, còn có rất nhiều công trình khoa học, bài viết được đăng trên các Tạp chí liên quan ít nhiều đến trí thức, đến khoa học - công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay

Tuy nhiên, trên thực tế, chưa có một đề tài khoa học, một công trình nghiên cứu nào đề cập đến đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn dưới góc độ một luận văn thạc sĩ Xã hội học Do đó, đề tài nghiên cứu của tôi không trùng lắp với bất kỳ công trình khoa học nào trước đó

Trang 32

1.4 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về trí thức

Trong quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước, trí thức Việt Nam luôn nêu cao tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, không ngừng phấn đấu, hy sinh hăng hái tham gia xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc góp phần đưa sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Như vậy, ở mọi xã hội, trí thức Việt Nam luôn luôn đóng vai trò quan trọng, là lực lượng nòng cốt trong việc sáng tạo, truyền bá tri thức và là nguồn lực đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển, thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội Đảng cầm quyền nào cũng chăm lo tới việc xây dựng đội ngũ trí thức cho đất nước mình không chỉ ở giai đoạn hiện tại mà đặc biệt chuẩn bị cho tương lai

Đảng ta đã nhận thấy điều đó ngay từ khi giành được chính quyền vào năm 1945 Đất nước ta từ chỗ chỉ có vài chục trí thức có trình độ đại học trở lên, cho tới nay đã có một đội ngũ vài triệu người trong hầu hết các ngành kinh tế - xã hội Đội ngũ đó đã có đóng góp tích cực trong hai cuộc kháng chiến bảo vệ tổ quốc, trong công cuộc đổi mới và đặc biệt trong việc xây dựng luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước và trực tiếp tham gia công tác đào tạo, lãnh đạo, quản

lý ở các cấp khác nhau

Vấn đề xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam có chất lượng cao, đủ về số lượng, cơ cấu hợp lý, đáp ứng yêu cầu phát triển đội ngũ trí thức mạnh, hiệu quả và bền vững của đất nước có ý nghĩa quan trọng, cơ bản, lâu dài đồng thời là nhiệm vụ cấp thiết, trước mắt của Đảng và Nhà nước ta

Trong mọi thời kỳ, đội ngũ trí thức luôn là nguồn lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội đối với mỗi quốc gia cũng như trên phạm vi quốc tế Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của đội ngũ trí thức, Đảng ta đã khẳng định trí thức là một trong những động lực của cách mạng, là một thành viên

Trang 33

trong khối liên minh với giai cấp công nhân và giai cấp nông dân Trải qua mỗi giai đoạn phát triển cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ trí thức trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, đóng góp công sức cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước Nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được ban hành nhằm vận động, định hướng đội ngũ trí thức phát huy trí tuệ, công sức cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Nhiều nhà trí thức được Đảng bồi dưỡng, rèn luyện trở thành những chuyên gia đầu đàn trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội Kết quả nghiên cứu của họ cũng đã được sử dụng làm cơ sở soạn thảo các nghị quyết, hoạch định các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, góp phần vào thành công của công cuộc đổi mới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất quan tâm tới lực lượng trí thức, rất lắng nghe tiếng nói của trí thức Không những Người trân trọng nghe ý kiến mà còn rất quan tâm đến những vấn đề, những khó khăn, hoàn cảnh cụ thể của từng người để tạo điều kiện cho trí thức làm việc tốt hơn Hầu như không có một trí thức lớn nào làm việc cho Chính phủ mà không từng được Bác Hồ gửi thư thăm hỏi, gửi quà, gửi áo, gửi thuốc, khi có điều kiện thì tới thăm, xem xét từ chỗ ăn, chỗ ở, điều kiện làm việc Đó là sự tác động rất lớn đối với tâm hồn những trí thức Việt Nam Trong việc sử dụng trí thức và năng lực của đội ngũ trí thức, Người cũng không bao giờ áp đặt suy nghĩ của mình lên người khác

Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, trước những đòi hỏi cấp thiết của tình hình cách mạng, những thời cơ và thách thức mới của đất nước, cần xác định phương hướng và những giải pháp đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với đội ngũ trí thức nhằm thực hiện mục tiêu: hướng tới xây dựng, củng cố và hoàn thiện phương pháp, hình thức, biện pháp lãnh đạo phù hợp

Trang 34

đối với đội ngũ trí thức, giúp cho việc xây dựng đội ngũ trí thức ngày càng lớn mạnh, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Trải qua hơn 20 năm đất nước ta bước vào công cuộc đổi mới, đặc biệt

từ sau đại hội VIII của Đảng năm 1996 cho đến nay và nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đội ngũ trí thức nước ta đã tăng nhanh về số lượng, nâng lên về chất lượng và có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển của đất nước Đảng và Nhà nước ta đã luôn quan tâm xây dựng đội ngũ trí thức, đã ban hành một số chủ trương, chính sách quan hệ đến trí thức, tạo điều kiện để trí thức phát triển và hoạt động sáng tạo

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 (khóa VIII) đã xác định mục tiêu:

“Xây dựng đội ngũ trí thức giàu lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có chí khí và hoài bão lớn, quyết tâm đưa đất nước lên đỉnh cao mới Phấn đấu đưa

số lượng cán bộ nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ lên gấp rưỡi hiện nay và nâng cao hiệu quả sử dụng đội ngũ” [Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khoá VIII, 1996, tr.3]

Nghị quyết X của Đảng (2006) cũng đã xác định những quan điểm lớn của Đảng đối với đội ngũ trí thức:

- Phát huy trí tuệ và năng lực, mở rộng thông tin, phát huy dân chủ, trọng dụng nhân tài

- Khuyến khích trí thức, các nhà khoa học phát minh, sáng tạo

- Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đãi ngộ xứng đáng những cống hiến của trí thức cho công cuộc phát triển đất nước

- Coi trọng vai trò tư vấn, phản biện của các Hội khoa học và kỹ thuật, khoa học xã hội và nhân văn và văn học - nghệ thuật đối với các dự án phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội

Tuy nhiên, trong thời gian qua một số chủ trương, chính sách của Đảng

và Nhà nước đã ban hành vẫn còn thiếu đồng bộ, chậm đi vào cuộc sống,

Trang 35

chưa đủ sức động viên, phát huy sức mạnh của đội ngũ trí thức và khắc phục được những hạn chế của công tác trí thức, chưa thể hiện rõ sự tôn vinh, trọng dụng trí thức một cách thực sự trong các hoạt động kinh tế xã hội, xây dựng Đảng, quản lý nhà nước…

Từ chỗ Đảng ta chưa có Nghị quyết riêng, toàn diện về xây dựng đội ngũ trí thức thì tới năm 2008 tại Hội nghị lần thứ 7 của Ban chấp hành Trung ương khóa X đã có bản thảo, ban hành Nghị quyết về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Nghị quyết này thể hiện rõ quan điểm của Đảng ta, đánh giá cao vị trí, vai trò, trách nhiệm của đội ngũ trí thức và trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, xã hội đối với việc xây dựng đội ngũ này Nghị quyết đã được đội ngũ trí thức rất hoan nghênh và xã hội đồng tình ủng hộ Nghị quyết đã nêu lên các nhiệm vụ và giải pháp khá cụ thể để xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức

Đặc biệt, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 42 - CT/TW đối với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, một tổ chức rộng lớn, đại diện cho đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ nước nhà Đó là một bước thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương

Đảng ta từ trước đến nay đều luôn nhấn mạnh quan điểm nhất quán lấy

"liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nòng cốt" của cách mạng Điều này được thể hiện trong Chính cương, Điều lệ Đảng, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội ở nước ta và nhiều văn kiện khác Quan điểm chỉ đạo đó thể hiện trong

Nghị quyết số 27 - NQ/TW (khóa X, 2006)

Nghị quyết số 27 là nghị quyết chuyên đề về trí thức lần đầu tiên của Đảng, khẳng định rõ quan điểm của Đảng và nhà nước ta đối với đội ngũ trí thức Việt Nam trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, ba mươi lăm năm xây dựng đất nước và nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá,

Trang 36

hiện đại hoá Tuy nhiên, để làm được điều này, Đảng, Nhà nước, đội ngũ trí thức và toàn dân ta còn phải vượt qua nhiều khó khăn trở ngại, có cả trở ngại

từ bên trong lẫn trở ngại từ bên ngoài Một trong những khó khăn đó là:

Sự thống nhất về nhận thức, thế nào là trí thức, thế nào là đội ngũ trí thức, có thể thống kê được một danh sách các trí thức, hoặc các trí thức tiêu biểu của một địa phương hoặc một ngành nào đó không?

Mối quan hệ biện chứng và tính đồng nhất giữa đảng với trí thức, giữa trí thức với đảng; giữa cán bộ lãnh đạo các cấp uỷ đảng, chính quyền với các trí thức tiêu biểu và ngược lại; vấn đề đào tạo nguồn nhân lực và xây dựng đội ngũ trí thức

Trong hàng loạt các chính sách đối với các đội ngũ trí thức cụ thể, nên tìm ra các chính sách chung, chính sách nền tảng, đòn bẩy

Xây dựng, củng cố các tổ chức tập hợp trí thức, phát huy sức mạnh của trí thức trong liên minh công nông trí

Nghị quyết cũng nhấn mạnh: Trí thức Việt Nam là lực lượng lao động sáng tạo đặc biệt quan trọng trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, xây dựng kinh tế tri thức, phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh là trực tiếp nâng tầm trí tuệ của dân tộc, sức mạnh của đất nước, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị Đầu tư xây dựng đội ngũ trí thức là đầu tư cho phát triển bền vững

Xây dựng đội ngũ trí thức là trách nhiệm chung của toàn xã hội, của cả

hệ thống chính trị, trong đó trách nhiệm của Đảng và Nhà nước giữ vai trò quyết định Trí thức có vinh dự và bổn phận trước Tổ quốc và dân tộc, không ngừng phấn đấu nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực chuyên môn, đóng góp nhiều nhất cho sự phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc

Trang 37

Thực hành dân chủ, tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo của trí thức vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động nghề nghiệp của trí thức Trọng dụng trí thức trên cơ sở đánh giá đúng phẩm chất, năng lực và kết quả cống hiến; có chính sách đặc biệt đối với nhân tài của đất nước

Trong những năm đổi mới, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách để đội ngũ trí thức phát triển nhanh về số lượng và nâng lên về chất lượng, phát huy vai trò trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, đặc biệt là các nghị quyết chuyên đề về giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hoá văn nghệ…để tạo động lực thúc đẩy sự sáng tạo, cống hiến của đội ngũ trí thức Nhà nước đã thực hiện các chính sách xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống đào tạo, nghiên cứu; đổi mới cơ chế quản lý, tăng cường đầu tư cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, văn hoá - văn nghệ; các chính sách sử dụng và tạo môi trường phát huy vai trò của trí thức; chính sách đãi ngộ, tôn vinh trí thức, lập các giải thưởng quốc gia, phong tặng các chức danh khoa học, các danh hiệu cao quý; thu hút trí thức người Việt Nam ở nước ngoài… Muốn có một đội ngũ trí thức có chất lượng để giữa thế kỷ này chúng ta có thể bước vào nền kinh tế tri thức thì cần phải đổi mới cơ chế sử dụng, chính sách đãi ngộ, tạo điều kiện tốt hơn nữa cho trí thức làm việc

Kết luận chương 1:

Chương 1 của luận văn đã hệ thống hóa một số khái niệm như: trí thức, trí thức khoa học xã hội và nhân văn; năng lực, phát huy năng lực; công nghiệp hóa - hiện đại hóa và vận dụng một số lý thuyết làm cơ sở nghiên cứu cho luận văn: lý thuyết hành động xã hội; lý thuyết cấu trúc - chức năng và lý thuyết hệ thống

Trang 38

Trên cơ sở nghiên cứu năng lực của đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân luận văn đã trình bày vài nét tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề và một

số quan điểm của Đảng và Nhà nước về trí thức, phát huy vai trò của trí thức hiện nay Kết quả nghiên cứu lí luận về năng lực của đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn là cơ sở để đánh giá đúng thực trạng năng lực của trí thức khoa học xã hội và nhân văn hiện nay đồng thời là phương pháp luận đúng đắn để đề xuất giải pháp xây dựng, phát huy năng lực của đội ngũ trí này

Trang 39

CHƯƠNG 2: ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC XÃ HỘI

VÀ NHÂN VĂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY: ĐẶC ĐIỂM VÀ NĂNG LỰC 2.1 Khái quát về đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn ở nước ta hiện nay

Trí thức ở nước ta được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau Một số được đào tạo từ trước cách mạng tháng Tám, số lượng này đến nay không nhiều Trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, một số cán bộ đã được Đảng và Nhà nước ta đã cử đi học tập và nghiên cứu ở nước ngoài để chuẩn bị cho công cuộc khôi phục và xây dựng đất nước sau này Còn phần lớn nguồn lực trí thức nước ta được đào tạo ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây và đào tạo trong công cuộc đổi mới của đất nước Trong thời kỳ mở cửa có sự hội nhập với quốc tế, cơ hội học tập và nghiên cứu tại các nước trên thế giới dành cho giới trí thức ngày càng được mở rộng Vì vậy,

số lượng sinh viên Việt Nam đi du học ngày càng nhiều, lực lượng này đã bổ sung và làm phong phú hơn nguồn lực con người được đào tạo của đội ngũ trí thức Việt Nam

Cho đến nay, phần lớn đội ngũ trí thức ở nước ta đều trưởng thành trong xã hội mới, được hình thành từ nhiều nguồn đào tạo ở trong và ngoài nước Thông qua hoạt động thực tiễn, đội ngũ trí thức Việt Nam với tính năng động, sáng tạo, khả năng thích ứng rất nhanh với nền kinh tế thị trường và quá trình hội nhập đã có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp bảo vệ, xây dựng

Tổ quốc Bên cạnh đó, đội ngũ trí thức luôn được xem là nền tảng đảm bảo cho sự tiến bộ xã hội đồng thời đây cũng là lực lượng nòng cốt trong lĩnh vực sáng tạo và truyền bá tri thức Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học

kỹ thuật, của nền công nghệ hiện đại thì tại các quốc gia ở những cấp độ khác nhau, đang dần bước vào quá trình xây dựng, phát triển kinh tế trí thức và hình thành xã hội công nghệ thông tin

Trang 40

Việt Nam đang trong thời kỳ thực hiện mục tiêu cơ bản là đưa nước ta phát triển thành một nước công nghiệp hiện đại vào năm 2020 Nghị Quyết Trung ương 7 khóa X của BCHTW Đảng đã khẳng định rất rõ vai trò của đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước:

“Ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt trong chiến lược phát triển, tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia” Để thực hiện được mục tiêu này đòi hỏi chúng ta phải có nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn nhân lực

chất lượng cao để sử dụng, phát huy tối đa năng lực của đội ngũ trí thức này

Hiện nay, lực lượng trí thức khoa học ở Việt Nam là một bộ phận quan trọng của tầng lớp trí thức với những đặc điểm riêng có tính chất đặc thù Đó

là đội ngũ có năng lực trí tuệ và nhân cách, ra đời và phát triển cùng với quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Bên cạnh đó, Đảng ta cũng xác định: “Nhân tài không phải là sản phẩm tự phát mà phải được phát hiện và bồi dưỡng công phu Nhiều tài năng có thể mai một nếu không được phát hiện và sử dụng đúng chỗ, đúng lúc…”.[Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội VI, 1987, tr.134]

Chính vì vậy, tùy từng điều kiện, hoàn cảnh khác nhau mà đội ngũ trí thức sẽ phát huy tiềm năng và năng lực của mình đạt hiệu quả tốt nhất Mặt khác, đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn chính là những con người

có tài năng trên nhiều lĩnh vực: chuyên môn, năng lực quản lý, lãnh đạo, khả năng làm việc độc lập, tính chính trị - xã hội ổn định…nhưng hiện nay họ chưa thực sự phát huy được tối đa những khả năng của mình Do vậy, với việc vận dụng quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào quá trình làm việc đã trang bị cho đội ngũ trí thức có được một thế giới quan, lập trường tư tưởng và phương pháp luận khoa học từ đó hình thành những con người Việt Nam mới và phát triển toàn diện Do vậy, đội ngũ trí

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. C. Mac và Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. t.2,3,20,23,27,42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mac và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1993
2. Phạm Tất Dong (1995), Trí thức Việt Nam-thực tiễn và triển vọng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí thức Việt Nam-thực tiễn và triển vọng
Tác giả: Phạm Tất Dong
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1995
3. Phạm Tất Dong (1995), Định hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong công nghiệp hóa-hiện đại hóa, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong công nghiệp hóa-hiện đại hóa
Tác giả: Phạm Tất Dong
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1995
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1987
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1991
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1996
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 2001
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
13. Phạm Minh Hạc (2003), Về phát triển toàn diện con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phát triển toàn diện con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2003
16. Lê Thị Thanh Hòa (1994), Lựa chọn và sử dụng nhân tài trong lịch sử, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lựa chọn và sử dụng nhân tài trong lịch sử
Tác giả: Lê Thị Thanh Hòa
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1994
18. Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Quốc Bảo (2001), Một số vấn đề về trí thức Việt Nam, Nxb. Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về trí thức Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Quốc Bảo
Nhà XB: Nxb. Lao động
Năm: 2001
19. Phan Thanh Khôi (2000), Tổng quan về đội ngũ trí thức nước ta hiện nay, Tạp chí Thông tin lý luận (số 4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về đội ngũ trí thức nước ta hiện nay
Tác giả: Phan Thanh Khôi
Năm: 2000
20. Phan Thanh Khôi (1992), Động lực của trí thức trong lao động sáng tạo ở nước ta hiện nay, Luận án phó tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động lực của trí thức trong lao động sáng tạo ở nước ta hiện nay
Tác giả: Phan Thanh Khôi
Năm: 1992
21. Phan Thanh Khôi (1998), Đội ngũ trí thức, chuyên gia và cán bộ quản lý khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đề tài KX05. 03, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đội ngũ trí thức, chuyên gia và cán bộ quản lý khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Phan Thanh Khôi
Năm: 1998
22. Phan Thanh Khôi (1999), Trí thức trong khối liên minh công- nông-trí vì sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay, Tạp chí cộng sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí thức trong khối liên minh công-nông-trí vì sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay
Tác giả: Phan Thanh Khôi
Năm: 1999
23. Bùi Thị Ngọc Lan (2002), Nguồn lực trí thức trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn lực trí thức trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam
Tác giả: Bùi Thị Ngọc Lan
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3: Số lượng ngoại ngữ sử dụng được của tri thức khoa học - Năng lực của đội ngũ tri thức khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.PDF
Bảng 2.3 Số lượng ngoại ngữ sử dụng được của tri thức khoa học (Trang 54)
Bảng 2.4: Trí thức khoa học xã hội và nhân văn tự đánh giá - Năng lực của đội ngũ tri thức khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.PDF
Bảng 2.4 Trí thức khoa học xã hội và nhân văn tự đánh giá (Trang 55)
Bảng 2.6: Đánh giá về việc hoàn thành nhiệm vụ của trí thức - Năng lực của đội ngũ tri thức khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.PDF
Bảng 2.6 Đánh giá về việc hoàn thành nhiệm vụ của trí thức (Trang 60)
Bảng 2.7: Đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn tự đánh giá - Năng lực của đội ngũ tri thức khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.PDF
Bảng 2.7 Đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn tự đánh giá (Trang 64)
Bảng 2.8: Mức độ phát huy năng lực trong công việc của trí thức - Năng lực của đội ngũ tri thức khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.PDF
Bảng 2.8 Mức độ phát huy năng lực trong công việc của trí thức (Trang 67)
Bảng 2.9: Tương quan giữa mức độ phát huy năng lực và giới tính của - Năng lực của đội ngũ tri thức khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.PDF
Bảng 2.9 Tương quan giữa mức độ phát huy năng lực và giới tính của (Trang 70)
Bảng 2.12: Số lần chuyển công việc của trí thức - Năng lực của đội ngũ tri thức khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.PDF
Bảng 2.12 Số lần chuyển công việc của trí thức (Trang 77)
Bảng 2.14: Mức độ phù hợp với chuyên môn của công việc thứ hai - Năng lực của đội ngũ tri thức khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.PDF
Bảng 2.14 Mức độ phù hợp với chuyên môn của công việc thứ hai (Trang 78)
Bảng 2.16: Đánh giá của cán bộ khoa học xã hội và nhân văn về - Năng lực của đội ngũ tri thức khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.PDF
Bảng 2.16 Đánh giá của cán bộ khoa học xã hội và nhân văn về (Trang 84)
Bảng 2.17: Tương quan giữa đánh giá những khó khăn trong công việc - Năng lực của đội ngũ tri thức khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.PDF
Bảng 2.17 Tương quan giữa đánh giá những khó khăn trong công việc (Trang 86)
Bảng 2.19: Đánh giá về các yếu tố phát triển khoa học và công nghệ - Năng lực của đội ngũ tri thức khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.PDF
Bảng 2.19 Đánh giá về các yếu tố phát triển khoa học và công nghệ (Trang 93)
Bảng 2.21: Mức đóng góp thu nhập cho gia đình của cán bộ khoa học xã - Năng lực của đội ngũ tri thức khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.PDF
Bảng 2.21 Mức đóng góp thu nhập cho gia đình của cán bộ khoa học xã (Trang 97)
Bảng 2.25: Quan điểm của gia đình về công việc của cán bộ - Năng lực của đội ngũ tri thức khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.PDF
Bảng 2.25 Quan điểm của gia đình về công việc của cán bộ (Trang 101)
Bảng 2.26: Những mong muốn của cán bộ khoa học xã hội và nhân văn - Năng lực của đội ngũ tri thức khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.PDF
Bảng 2.26 Những mong muốn của cán bộ khoa học xã hội và nhân văn (Trang 104)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w