Trong đó, một trong những thay đổi có tính quan trọng và có nhiều tác động đến xã hội là sự phát triển ngày một đa dạng và phong phú các loại hình tổ chức xã hội cùng với sự mở rộng c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THÙY LINH
SỰ THAM GIA XÃ HỘI CỦA NGƯỜI VIỆT NAM:
SO SÁNH CÁC TỔ CHỨC CHÍNH THỨC VÀ PHI CHÍNH THỨC
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Hà Nội - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THÙY LINH
SỰ THAM GIA XÃ HỘI CỦA NGƯỜI VIỆT NAM:
SO SÁNH CÁC TỔ CHỨC CHÍNH THỨC VÀ PHI CHÍNH THỨC
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60.31.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Quý Thanh
Hà Nội - 2014
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 6
2.1 Ý nghĩa khoa học 6
2.2 Ý nghĩa thực tiễn 6
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 7
3.1 Mục đích nghiên cứu 7
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 7
4.1 Đối tượng nghiên cứu 7
4.2 Khách thể nghiên cứu 7
4.3 Phạm vi nghiên cứu: 7
5 Câu hỏi nghiên cứu 8
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 8
6.1 Phương pháp luận 8
6.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 8
7 Khung lý thuyết 10
NỘI DUNG 11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 11
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 11
1.1.1 Các nghiên cứu về tổ chức xã hội 11
1.1.2 Các nghiên cứu về hình thức và nội dung sự tham gia xã hội 15
1.1.3 Các nghiên cứu về yếu tố tác động đến sự tham gia xã hội 21
1.2 Một số khái niệm công cụ 26
1.2.1 Khái niệm Sự tham gia xã hội 26
1.2.2 Khái niệm Xã hội dân sự 27
1.2.3 Khái niệm Tổ chức xã hội 28
1.3 Các tiếp cận lý thuyết: Lý thuyết mạng lưới xã hội 32
CHƯƠNG 2: SO SÁNH SỰ THAM GIA XÃ HỘI CỦA NGƯỜI VIỆT NAM 37
Trang 42.1 Khái quát về các tổ chức xã hội ở Việt Nam 37
2.1.1 Sơ lươ ̣c về sự phát triển các tổ chức xã hội ở Viê ̣t Nam 37
2.1.2 Sư ̣ phân loại tổ chức xã hội ở Viê ̣t Nam 38
2.2 Phân tích sự tham gia của người Việt Nam trong các tổ chức xã hội 45
2.2.1 So sánh sự tham gia của người Việt Nam giữa các tổ chức xã hội 45
2.2.1.1 Cơ cấu nhân khẩu xã hội của người tham gia 45
2.2.1.2 Hình thức tham gia 48
2.2.1.3 Nội dung tham gia 54
2.2.1.4 Lợi ích và trách nhiệm khi tham gia 58
2.2.2 Một số điểm chung trong sự tham gia của người dân ơ ̉ các tổ chức 64
2.2.2.1 Tính tự nguyện trong tham gia 64
2.2.2.2 Tính lợi ích trong tham gia 65
2.2.2.3 Sư ̣ ràng buộc về quyền lợi và trách nhiê ̣m trong tham gia 66
2.2.2.4 Sư ̣ hình thành những mối quan hê ̣ xã hội mới 67
2.2.2.5 Ngươ ̀ i đứng đầu tổ chức 67
CHƯƠNG 3: NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ THAM GIA XÃ HỘI 70
3.1 Những yếu tố quyết định từ đặc điểm của các tổ chức xã hội 70
3.1.1 Loại hình tổ chức 70
3.1.2 Mục đích, tôn chỉ của tổ chức 71
3.1.3 Quy mô va ̀ phạm vi hoạt động của tổ chức 72
3.1.4 Những lợi ích mà tổ chức đem lại cho các thành viên 74
3.2 Những yếu tố quyết định từ đặc điểm của thành viên tham gia 75
3.2.1 Đặc trưng nghề nghiệp 75
3.2.2 Sở thích cá nhân 76
3.2.3 Điều kiện kinh tế 78
3.2.4 Điều kiện thời gian 79
3.2.5 Lợi ích mà thành viên thu được khi tham gia 80
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 96
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Sơ đồ 2.1: Nhƣ̃ng loa ̣i hình tổ chƣ́c xã hô ̣i trong các kiểu xã hô ̣i 41
Sơ đồ 2.2: Nhƣ̃ng đă ̣c điểm của các tổ chƣ́c xã hô ̣i ở Viê ̣t Nam 43
Sơ đồ 2.3: Cơ cấu, nhân khẩu xã hô ̣i của thành viên trong các loa ̣i hình tổ chƣ́c 47
Sơ đồ 2.4: Hình thức tham gia của thành viên giữa các loa ̣i hình tổ chức 53
Sơ đồ 2.5: Nô ̣i dung tham gia của thành viên giữa các loa ̣i hình tổ chức 57
Sơ đồ 2.6: Lợi ích, trách nhiệm của thành viên trong các loa ̣i hình tổ chƣ́c 64
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, sự phát triển của xã hội mang đến những thay đổi lớn trên nhiều khía cạnh của đời sống con người Trong đó, một trong những thay đổi có tính quan trọng và có nhiều tác động đến xã hội là sự phát triển ngày một đa dạng và phong phú các loại hình tổ chức xã hội cùng với sự mở rộng các nhu cầu và phạm vi tham gia vào các hoạt động xã hội của người dân Dù chưa có số liệu thống kê mô ̣t cách đầy đủ và chính xác nhất , song ước tính hiê ̣n nay số lượng hiê ̣p hô ̣i và các tổ chức
xã hội (đăng kí chính th ức) ở Việt Nam lên đến hàng vạn Theo số liê ̣u của Vu ̣ tổ chức Phi chính phủ , Bô ̣ Nô ̣i vu ̣ thì đến tháng 12/2006, Viê ̣t Nam có 364 hô ̣i có phạm vi hoạt động toàn quốc và 4157 hô ̣i và hàng chu ̣c va ̣n tổ chức nhỏ có hoa ̣t
đô ̣ng được đăng kí chính thức tại các cấp chính quyền cơ sở Còn hiện nay, cả nước
có khoảng 425 hô ̣i hoa ̣t đô ̣ng ở pha ̣m vi toàn quốc , khoảng gần 14.000 hô ̣i có pha ̣m
vi hoa ̣t đô ̣ng ở cấp tỉnh , cấp huyê ̣n Trong đó, ở 22 tỉnh, thành phố thuô ̣c khu vực phía Nam có 2.636 tổ chức hô ̣i ở cấp tỉnh Ở 13 tỉnh, thành phố thuộc khu vực miền Trung - Tây Nguyên có 1.712 tổ chức, ở các tỉnh khu vực phía Bắc có gần 3.000 hô ̣i cấp tỉnh Ngoài ra, còn hàng vạn hội hoạt động ở phạm vi xã , phường và thi ̣ trấn Nhìn chung, trong những năm gần đây , tính trung bình mỗi năm có khoảng 20 hô ̣i, hiê ̣p hô ̣i nghề nghiê ̣p khoa ho ̣c và công nghê ̣ , kinh tế có pha ̣m vi hoa ̣t đô ̣ng toàn quốc đươ ̣c cấp phép thành lập Bên ca ̣nh đó, còn có rất nhiều các loa ̣i hô ̣i, nhóm phi chính thức (không đăng kí chính thức ) khác đang tồn tại và hoạt động mạnh mẽ ở nước ta (Nhạc Phan Linh, 2013)
Cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, Việt Nam hiện đang hướng đến mục tiêu xây dựng một xã hội dân sự Ở đây, có thể hiểu xã hội dân sự được cấu thành từ tổng thể của các tổ chức xã hội và dân sự tự nguyện mà các tổ chức này tạo nên cơ
sở của một xã hội tự vận hành, là một hình thức tổ chức xã hội dựa trên sự tập hợp hành động tập thể của các công dân trong mối tương quan với các thiết chế xã hội khác như nhà nước, thị trường và cộng đồng xã hội nói chung
Trang 7Sự tham gia xã hội (social participation) của người dân là một đặc trưng quan trọng của xã hội dân sự Trong đó, sự tham gia xã hội là việc cá nhân tham gia vào các tổ chức xã hội được thành lập một cách chính thức hoặc phi chính thức và thông qua các tổ chức này, cá nhân có cơ hội được tham gia vào các phong trào và hoạt động xã hội Đó có thể là những hoạt động thoả mãn nhu cầu, sở thích cá nhân, cũng có thể là những hoạt động liên quan đến quá trình lao động sản xuất của mỗi người, Qua đó, cá nhân được thể hiện năng lực bản thân và góp phần xây dựng một xã hội dân sự có tính năng động và tự chủ cao với đa dạng các mối quan hệ, mạng lưới và giai tầng xã hội
Sống trong một xã hội phát triển, con người ngày càng có nhiều cơ hội và nhu cầu tham gia các hoạt động bên ngoài nhằm xây dựng năng lực và khẳng định
vị thế của bản thân Tính năng động và năng lực cá nhân được thể hiện thông qua quá trình họ tham gia trong các tổ chức xã hội và thực hiện các hoạt động xã hội
Do đó, việc tìm hiểu về sự tham gia của người dân trong các tổ chức xã hội có thể giúp các nhà nghiên cứu nắm rõ hơn những đặc trưng về sự tham gia xã hội của người dân trong một xã hội nhất định, chỉ ra được những khác biệt trong sự tham gia vào nhiều loại hình tổ chức xã hội khác nhau của các nhóm xã hội Từ đó, nhà nghiên cứu có thể nhận thấy một cách cụ thể và rõ ràng hơn mức độ phát triển của một hệ thống xã hội nhất định
Có thể thấy, sự tham gia xã hô ̣i là mô ̣t vấn đề nghiên cứu không còn xa la ̣ gì trên thế giới nhưng vẫn còn khá mới ở Viê ̣t Nam Tổng hợp từ các công trình nghiên cứu đi trước, có thể thấy rằng các tác giả trong và ngoài nước đã có những cách tiếp
câ ̣n khá đa da ̣ng khi nghiê n cứu về vấn đề này Trong đó, các nghiên cứu chủ yếu
tâ ̣p trung vào viê ̣c tìm hiểu nguồn gốc hình thành các tổ chức xã hội, trình bày cá c cách phân loại tổ chức , phân tích vai trò củ a các tổ chức cũng như những điểm mạnh và hạn chế của chúng trong sự tham gia xã hội của người dân Bên ca ̣nh đó , nhiều nghiên cứu cũng đi sâu tìm hiểu về các hình thức và nô ̣i dung của sự tham gia
xã hội giữa các nhóm xã hội khác nhau , thể hiê ̣n qua các lĩnh vực của đời sống xã
hô ̣i như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,… dưới da ̣ng các hoa ̣t đô ̣ng xã hô ̣i cu ̣ thể
Trang 8như tham gia tình nguyện, từ thiê ̣n, đóng góp kinh phí, đánh giá chính sách, quản lý
xã hội, giao lưu văn hóa văn nghê ̣, thể thao, ăn uống,… Ngoài ra, còn có các nghiên cứu tìm hiểu về các nguyên nhân tác động đến mức độ và hiệu quả của sự tham gia
xã hô ̣i, các yếu tố tác động xuất phát từ bên trong cá nhân và bên ngoài xã hô ̣i có ảnh hưởng đến nội dung , tính chất của sự tham gia xã hô ̣i ở từng nhóm đối tượng khác nhau
Nhìn chung, về cơ bản có thể khẳng đi ̣nh các cô ng trình nghiên cứu ở trong
và ngoài nước về sự tham gia xã hội là khá toàn diện và đa dạng Tuy nhiên, thực tế
là những công trình nghiên cứu của Việt Nam về vấn đề này vẫn còn khá hạn chế về số lươ ̣ng và cũng chỉ mớ i nghiên cứu trong những năm gần đây Các vấn đề nghiên cứu về sự tham gia xã hội của người dân khi xem xét trong các loại hình tổ chức xã hội khác biệt hiện vẫn chưa dành được nhiều sự quan tâm ở nước ta Trong khi đó, các tổ chức xã hội là thành phần quan trọng cấu thành nên một hệ thống xã hội, có tác động lớn đến sự phát triển của một xã hội nhất định Xét thấy đây là một vấn đề
có nhiều khía cạnh còn bỏ ngỏ, tác giả quyết định thực hiện luận văn thạc sĩ với tên
là “Sự tham gia xã hội của người Việt Nam: So sánh các tổ chức chính thức và
phi chính thức” nhằm làm rõ hơn những vấn đề đặt ra về sự tham gia của người
dân trong các loa ̣i hình tổ chức xã hội khác nhau ở Việt Nam hiện nay
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Trang 9Những kết quả thu được trong quá trình thực hiện đề tài sẽ góp phần cung cấp các thông tin thực nghiệm có giá trị làm căn cứ cho việc xây dựng và ban hành
các chính sách trong tổ chức và quản lý sự tham gia xã hội của công dân Việt Nam
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá thực tra ̣ng sự tham gia của người Viê ̣t Nam trong các tổ chức xã hô ̣i chính thức và phi chính thức đ ể từ đó làm rõ sự khác biê ̣t trong tham gia và những yếu tố tác đô ̣ng đến sự tham gia của người dân trong các loa ̣i hình tổ chức xã hô ̣i này
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ các khái niệm công cụ và các tiếp cận lý thuyết trong nghiên cứu đề tài;
- Đánh giá thực trạng sự tham gia của người Việt Nam trong các tổ chức xã hội đang hoa ̣t đô ̣ng chính thức và phi chính thức;
- So sánh những khác biệt trong sự tham gia của người Việt Nam giữa các tổ chức xã hội đang hoa ̣t đô ̣ng chính thức và phi chính thức;
- Phân tích những yếu tố tác động đến sự tham gia của người Việt Nam trong các tổ chức xã hội đang hoa ̣t đô ̣ng chính thức và phi chính thức
4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Sự tham gia xã hội của người Việt Nam trong các tổ chức xã hội chính thức
và phi chính thức
4.2 Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu của đề tài là công dân Việt Nam tuổi từ 18 trở lên, hiện đang sinh sống tại mô ̣t số địa phương trong cả nước
4.3 Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Nghiên cứ u đươ ̣c tiến hành trên pha ̣m vi cả nước
Trang 10- Thờ i gian: Thực hiê ̣n từ tháng 2/2013 đến tháng 3/2014
- Nội dung: Nghiên cứu sự tham gia xã hô ̣i của người Viê ̣t Nam dưới góc đô ̣ tìm hiểu sự tham gia của người dân trong các loa ̣i hình tổ chức xã hô ̣i đang hoa ̣t
đô ̣ng mô ̣t cách chính thức và phi chính thức ở Viê ̣t Nam hiê ̣n nay
5 Câu hỏi nghiên cứu
- Sự tham gia của người dân trong các tổ chức xã hội đang hoạt đô ̣ng chính thức
và phi chính thức ở Việt Nam có những điểm giống và khác biệt nhau như thế nào?
- Những yếu tố nào có ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân trong các tổ chức xã hô ̣i đang hoa ̣t đô ̣ng chính thức và phi chính thức ở Việt Nam?
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận
- Nghiên cứu dựa trên sự tiếp cận và vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử làm kim chỉ nam cho những phân tích, lý giải và chứng
minh các quan điểm, nhận định được đưa ra trong quá trình nghiên cứu
- Vận dụng lý thuyết về mạng lưới xã hội và căn cứ trên các quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước đã ban hành làm cơ sở lý luận cho việc phân tích,
lý giải và chứng minh các quan điểm, nội dung nghiên cứu trong đề tài
6.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
6.2.1 Phương pháp thu thập thông tin
Quá trình nghiên cứu đề tài chủ yếu được tiến hành bằng hai phương pháp thu thập thông tin là phân tích tài liệu có sẵn và phỏng vấn sâu khách thể nghiên cứu
Trong đó, phương pháp phân tích cơ sở dữ liệu được thực hiện dựa trên các tài liệu gồm: sách chuyên khảo, báo cáo nghiên cứu, tạp chí khoa học chuyên ngành, các luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ và một số tài liệu khác nhằm hệ thống những nội dung nghiên cứu có liên quan đến đề tài, tổng hợp và phân tích những
Trang 11vấn đề đã và chưa làm được của các nghiên cứu đi trước, qua đó xây dựng hướng nghiên cứu cụ thể cho đề tài
Bên cạnh đó, tiến hành phỏng vấn 40 đối tươ ̣ng nghiên cứu dưới ba hình thức gồm phỏng vấn trực tiếp, phỏng vấn qua điện thoại và phỏng vấn qua internet Phương pháp phỏng vấn sâu được áp dụng với mục đích thu thập các thông tin thực tiễn về sự tham gia của người dân trong hai loại hình tổ chức xã hội chính thức và phi chính thức
Kỹ thuật chọn mẫu
Trong nghiên cứu này , phương pháp cho ̣n mẫu điển hình được sử du ̣ng để chọn ra 40 đối tươ ̣ng phỏng vấn với các tiêu chí vùng miền, vị trí trong tổ chức, giới tính, đô ̣ tuổi dành cho khách thể nghiên cứu với số lượng mẫu cụ thể như sau :
Trang 126.2.2 Các phương pháp xử lý và phân tích thông tin
- Các thông tin sau khi thu thập sẽ được xử lý trên phần mềm phân tích dữ liê ̣u NVIVO theo quy trình sau : nhâ ̣p dữ liê ̣u (là các file văn bản ) vào chương trình NVIVO; Tạo các trường hợp (case) để tập hợp các dữ liệu vào một nhóm và tạo các giá trị liên quan ; Tạo các attribute và value; Gán các thuộc tính cho các trường hợp (case); Tạo các node và mã hóa thông tin ; Xem lại các thông tin đã được mã hóa và biểu diễn các mối quan hê ̣ từ thông tin đươ ̣c mã hóa
- Các phương pháp phân tích thông tin mà tác giả sử dụng trong nghiên cứu này là việc diễn giải dữ liệu định tính dựa trên sự so sánh và phân tích các thông tin theo hai phương thức trình bày chính là diễn dịch và quy nạp
7 Khung lý thuyết
Sự tham gia xã hội của người Việt Nam Bối cảnh kinh tế - xã hội
Chính sách của Đảng và Nhà nước
Tổ chức chính thức
Tổ chức phi chính thức
Quyền lợi, trách nhiệm khi tham gia
Hình thức tham gia
Nô ̣i dung tham gia
Trang 13NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong những năm qua , các nghiên cứu về tổ chức xã hô ̣i trên thế giới cũng như ở Viê ̣t Nam ngày càng nhiều Nhìn chung, có một khối lượng lớn tài liệu tìm hiểu về các vấn đề như xã hô ̣i dân sự , khu vực xã hô ̣i , tổ chức xã hô ̣i , NGO, NPO,… Trong những công trình của mình , nhiều nhà nghiên cứu đã đồng ý rằng các tổ chức xã hội chính thức hay không chính thức (có đăng kí hay không đăng kí ) đóng vai trò trung tâm trong chùm các vấn đề trên Chúng được bao bọc bởi một vị trí địa lý như cộng đồng địa phương, thị trấn, thành phố, khu phố, các trường học (Fisher và cộng sự, 2002; Bess và cộng sự, 2002)
Năm 1994, C.Beaulieu viết về sự xuất hiê ̣n của các tổ chức xã hô ̣i mới xuất hiê ̣n đầu thâ ̣p niên 90 của thế kỷ XX , về nguồn gốc xã hô ̣i của những người sáng
lâ ̣p và lý do thúc đẩy ho ̣ thành lâ ̣p tổ chức (C.Beaulieu, 1994) Bên ca ̣nh Beaulieu,
mô ̣t số nghiên cứu về tổ chức xã hô ̣i ở khu vực Đông nam Á được thực hiê ̣n thông qua viê ̣c tìm hiểu về các phong trào xã hội trong một thể chế mới ở Indonesia (M.A.S Hiknam, 1995); vấn đề dân chủ hóa được nhìn nhâ ̣n dưới góc đô ̣ từ xã hô ̣i công dân và vốn xã hô ̣i đến các liên kết chính tri ̣ và sự chính tri ̣ hóa ta ̣i các nước Indonesia, Philippines và Kerala (Tornquist, 1998); sự ảnh hưởng trong viê ̣c mở
rô ̣ng và phát triển thành viên của cá c hiê ̣p hô ̣i đi ̣a phương ở Thái Lan (Rueland và Ladavalay, 1993) Xem xét các tổ chức xã hô ̣i với tính cách là ha ̣t nhân của cấu trúc
xã hội công dân , Rueland đã phân tích sự phát triển của các hiê ̣p hô ̣i , các tổ chức phi chính phủ (NGO), các phương tiện truyền thông đại chúng và mối quan hệ của chúng với cơ quan chính phủ ở Đông Nam Á (Rueland, 1998)
Nhóm nghiên cứu của Matthew Hilton đã phát hiện rằng c ó một sự thay đổi trong ảnh hưởng của các tổ chức xã hội khi mà vai trò của nhóm tổ chức thuộc Nhà
Trang 14nước như các tổ chức công đoàn, đảng phái chính trị, các nhà thờ hay các hiệp hội phụ nữ truyền thống đang có một sự suy giảm trong khi các tổ chức thành viên của các phong trào xã hội mới, các tổ chức phi chính phủ và các nhóm ưu thế khác đang
có sự phát triển mạnh mẽ Tuy vậy, sự mở rộng của các phúc lợi nhà nước đã góp phần thúc đẩy và củng cố sự phát triển của các tổ chức tự nguyện Ở đây, bản chất của những thay đổi trong sự tham gia của công dân xuất phát từ việc gia tăng của sự giàu có sung túc và sự tiếp cận với giáo dục đại học, sự phát triển trong các lĩnh vực chuyên môn cùng với những biến đổi trong niềm tin chính trị và xã hội của cá nhân (Matthew Hilton và cộng sự, 2010)
Có thể thấy, nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra những ưu điểm và thành công nổi bâ ̣t của các tổ chức xã hô ̣i , đă ̣c biê ̣t là sự gần gũi của các NGO đối với người nghèo và sự tăng cường tham gia của người dân Trong đó, các NGO thường
tỏ ra linh hoa ̣t và tích cực biến đổi , có động lực tìm kiếm những hướng tiếp cận mới Các tổ chức xã hội cũng có vai trò quan trọng trong việc phát huy dân chủ (Laothamatas, 1997) Nghiên cứ u trên thế giới đã đúc rút những lý do ta ̣o nên mă ̣t tích cực của các tổ chức xã hội như sau (Wischermann và cô ̣ng sự, 2002):
- Trong khi các cơ quan chính phủ và cứu trợ chính thức thường phải trải rô ̣ng trên nhiều đối tươ ̣ng và nhóm mu ̣c tiêu thì mô ̣t tổ chức phi chính phủ có khả năng chỉ
tâ ̣p trung vào vài hoa ̣t đô ̣ng Vì thế, nó có thể làm việc một cách tập trung , do đó có hiê ̣u quả Tổ chức phi chính phủ cũng thường làm viê ̣c dài ha ̣n ở các vùng sâu vùng
xa nơi cán bô ̣ nhà nước ít khi có mă ̣t lâu dài
- Các tổ chức xã hội thường đề cao triết lý “tham gia” trong làm dự án , khiến cho dự án có tính hiê ̣n thực và người dân thấy mình được làm chủ
- Các tổ chức xã hội có khả năng tiếp cận và ch ấp nhận “tri thức bản địa” , khiến chúng có thể hiểu biết thâ ̣t sự về người bi ̣ thiê ̣t thòi và về những ảnh hưởng đến họ do tác động của chính sách và chương trình vĩ mô
Trang 15- Các tổ chức xã hội cũng có thể đóng vai trò xúc tác làm cho người ra quyết
đi ̣nh có thể nắm bắt được những quan tâm của người nghèo Các tổ chức này đóng vai trò như những kênh thúc đẩy dân chủ cơ sở
- Các tổ chức xã hội ít bị ràng buộc quá chặt vào những giáo điều phát triển như các tổ chức tài trợ chính thức và các cơ quan chính phủ Nhân viên củ a ho ̣ thường năng đô ̣ng hơn với những thử nghiê ̣m , tỏ ra thích nghi và sẵn sàng với những tiếp câ ̣n mới Họ thường đóng vai trò xúc tác hoặc đi tiên phong
Tuy nhiên, nhiều nghiên cứ u khác đã nêu lên những nhươ ̣c điểm , thể hiê ̣n sự hoài nghi về khả năng của các tổ chức xã hội có thể thực sự tới với người nghèo , khả năng đóng góp của chúng vào việc phát huy dân chủ và về mức đô ̣ dân chủ trong quá trình ra quyết đi ̣nh nô ̣i bô ̣ tổ chức Có nhiều bằng chứng thực nghiệm không ủng hô ̣ nhâ ̣n đi ̣nh rằng các NGO làm viê ̣c có hiê ̣u quả ở cấp đi ̣a phương và
có lợi cho những người nghè o nhất Mô ̣t số tác giả cho rằng nếu như các NGO với tới được những người nghèo nhất thì thực ra cũng chỉ tiếp câ ̣n kiểu nhỏ gio ̣t từ trên xuống, hê ̣t như cái thực tế mà chính các NGO đã phản đối
Ở Việt Nam những năm qua mă ̣c dù chưa thâ ̣t sự nhiều nhưng cũng đã có những quan tâm nghiên cứu về các tổ chức xã hô ̣i Trước hết, chúng ta điểm qua tình hình ở thập niên 1990 Tạp chí Xã hội học số 1/1993 là một chuyên đề về công tác xã hội , trong đó có mô ̣t số bài đề câ ̣p đến tổ chức xã hô ̣i Trong số này , tác giả Nguyễn Văn Thanh đã công bố mô ̣t số công trình về các tổ chức phi chính phủ quốc tế, trong đó tác giả đã dành mô ̣t thời lượng khá lớn để bàn về ho ạt động và những quy đi ̣nh pháp lý cho tổ chức và hoa ̣t đô ̣ng của c ác tổ chức này ở Việt Nam (Văn Thanh, 1993) Khoảng giữa những năm 1990 còn phải chú ý đến hai công trình đáng kể là cuốn sách “Các đoàn thể nhân dân trong kinh tế thi ̣ trường” (Nguyễn Viết Vươ ̣ng chủ biên, 1994), trình bày kết quả nghiên cứu của đề tài “Vị trí và tính chất hoa ̣t đô ̣ng của Mă ̣t trâ ̣n các đoàn thể , các tổ chức xã hộ i trong hê ̣ thống chính trị”, trong đó có đề cập đến việc hoàn thiện cơ sở pháp lý cần phải có cho các tổ chức xã hô ̣i ở Viê ̣t Nam Đến năm 1996, Nguyễn Khắc Mai công bố cuốn sách “Vi ̣
Trang 16trí, vai trò các hiê ̣p hô ̣i quần chúng ở nước ta” tâ ̣p trung nghiên cứu về các tổ ch ức
và quy chế pháp lý cho tổ chức và hoạt động của hội (Nguyễn Khắc Mai, 1996) Hai cuốn sách này, mô ̣t cuốn tâ ̣p trung đề câ ̣p đến các tổ chức chính tri ̣ - xã hội và một cuốn la ̣i thảo luâ ̣n chủ yếu về các hiê ̣p hô ̣i quần chúng rô ̣ng rãi
Bước sang những năm 2000, người ta chứng kiến nhiều nghiên cứu mới về sự phát triển cũng như những trở nga ̣i của xã hô ̣i dân sự và các NGO ở Viê ̣t Nam (Bạch Tân Sinh , 2001) hay vai trò của các hô ̣i trong đổi mới và phát triển đất nước với những vấn đề lý luâ ̣n về các tổ chức xã hô ̣i , về bứ c tranh của các hô ̣i quần chúng Việt Nam cũng như các NGO quốc tế hoạt động ở Việ t Nam (Thang Văn Phúc, 2002) Năm 2002 - 2003, Bùi Thế Cườ ng và nhóm nghiên cứu của Viê ̣n xã
hô ̣i ho ̣c thuô ̣c Viê ̣n Khoa h ọc xã hội Việt Nam đã thực hiện Đề tài “Phong trào xã
hô ̣i - từ nỗ lực tâ ̣p thể đến tổ chức xã hô ̣i ”, trong đó tiến hành nghiên cứu mô ̣t số loại tổ chức chính trị - xã hội , các hiệp hội v à trung tâm phi chính phủ (Bùi Thế Cường và cô ̣ng sự, 2003) Ngoài ra vào năm 2003, Lê Ba ̣ch Dương và các cô ̣ng sự cũng đã có nghiên cứu về xã hội dân sự ở Việt Nam khi tập trung mô tả các đặc điểm các kiểu tổ chức xã hội và một số nghiên cứu trường hợp về các tổ chức xã hội
Nghiên cứu về các tổ chức xã hô ̣i dân sự , Vũ Duy Phú và các cộng sự đã có những phát hiê ̣n cu ̣ thể về khu vực về xã hô ̣i dân sự của nước ta, trong đó có nhiều thông tin , tư liệu, nhâ ̣n đi ̣nh có giá tri ̣ như đưa ra cấu trúc của xã hô ̣i dân sự Viê ̣t Nam bao gồm 4 loại tổ chức : các tổ chức , đoàn thể quần chúng ; các hiệp hội nghề nghiê ̣p; các tổ chức phi chí nh phủ và các cơ sở hoă ̣c tổ chứ c dựa trên cơ sở cô ̣ng đồng (Vũ Duy Phú và cộng sự, 2008) Bên ca ̣nh đó, tác giả Dương Xuân Ngọc cũng đã nghiên cứu về các vấn đề của xã hô ̣i dân sự như lược sử xã hô ̣i dân sự , cấu trúc của xã hội dân sự , trong đó có những nô ̣i dung liên quan đến vi ̣ trí , vai trò của các
hô ̣i quần chúng đối với sự hình thành , phát triển của xã hội dân sự ở Việt Nam (Dương Xuân Ngọc , 2009) Nhâ ̣n thấy sự ảnh hưởng lớn ma ̣nh củ a các tổ chức xã
hô ̣i, hai tác giả Thang Văn Phúc và Nguyễn Minh Phương đã có công trình nghiên cứu về những giải pháp phát huy vai trò của các tổ chức xã hô ̣i ở Viê ̣t Nam (Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương, 2012)
Trang 17Bên ca ̣nh cá c tác giả trong nước thì nhiều tác giả nước ngoài cũng nghiên cứu về các tổ chức xã hô ̣i ở Viê ̣t Nam Trong đó tâ ̣p trung tìm hiểu sự xuất hiê ̣n của các tổ chức xã hội mới đầu thập niên 1990, nguồn gốc xã hô ̣i của những người sáng
lâ ̣p và lý do thúc đẩy ho ̣ thành lâ ̣p tổ chức (C.Beaulieu, 1994); các phân loại về tổ chức xã hô ̣i (M.Sidel, 1995); hay phân tích về sự xuất hiê ̣n của các NGO ở Viê ̣t Nam (M.Gray, 1997) vớ i quan niê ̣m “NGO” là các tổ c hức có thành viên (theo nghĩa rộng nhất ), dân lâ ̣p, phi lợi nhuâ ̣n và định hướng phát triển Nhìn chung, các tổ chức xã hô ̣i , trong đó các tổ chức cộng đồng và tổ chức phi chính phủ là những thành phần chính của xã hội dân sự ngày nay ở Việt Nam Trong khi một số tổ chức cộng đồng đã đăng ký theo Bộ luật Dân sự thì vẫn còn một số lượng lớn các nhóm không được đăng ký Có các tổ chức cộng đồng liên quan đến sinh kế như các nhóm những người sử dụng nước, nhóm những người nuôi gia súc và các nhóm hỗ trợ lẫn nhau Trong khu vực đô thị có nhóm cộng đồng, nhóm văn hóa, nhóm giải trí và như vậy, các nhóm này thường nhỏ và hoạt động tự cung tự cấp Tuy nhiên, cũng có nhiều nhóm đã được hình thành xung quanh các hoạt động của các nhà tài trợ hoặc các tổ chức phi chính phủ quốc tế (KEPA, 2011)
Nhìn chung , các công trình nghiên cứu về tổ chức xã hội đã tâ ̣p trung vào viê ̣c phân loa ̣i các da ̣ng tổ chức ; làm rõ các đặc điểm của các kiểu tổ chức xã hội ; tìm hiểu nguồn gốc hì nh thành và sự phát triển của các loa ̣i hình tổ chức ; phân tích những đóng góp và sự tác đô ̣ng của các nhóm tổ chức trong và ngoài nhà nước đối với sự phát triển của xã hội; nghiên cứu vai trò của các tổ chức xã hô ̣i và khu vực xã
hô ̣i dân sự trong vấn đề quản lý xã hô ̣i ; nghiên cứu sự phát triển của các hô ̣i , hiê ̣p
hô ̣i tự nguyê ̣n trong bối cảnh xã hô ̣i hiê ̣n ta ̣i Qua đó, chỉ ra những ưu nhược điểm trong hoa ̣t đô ̣ng của các tổ chức xã hô ̣i đối với các vấn đề về hỗ trợ và quản lý xã hô ̣i
Sự tham gia xã hội diễn ra trong bối cảnh cộng đồng, nơi mọi người tham gia vào các hoạt động xã hội trong nhiều mạng xã hội chính thức và không chính thức Hình thức và nội dung tham gia được xác định bởi các vấn đề được phát sinh trong
Trang 18một cộng đồng, một địa bàn và bao gồm các vấn đề về văn hóa, định mức, giá trị, các tổ chức Do đó , hình thức và nội dung tham gia của công dân được thể hiện thông qua các hoa ̣t đô ̣ng , phong trào xã hô ̣ i bao gồm sự tham gia trong các hoạt động chính trị, hoạt động tình nguyện, tôn giáo, tham gia các môn thể thao, văn hóa
xã hội, sự kiện giải trí, (Michael Bittman, 1999; Buzzi và cộng sự, 2002; Cornolti
và cộng sự, 2005) Các hoạt động chính trị không dành được nhiều sự quan tâm của nhóm xã hội trẻ tuổi với những biểu hiện thờ ơ với chính trị đang ngày càng gia tăng nhưng lại có sự quan tâm lớn đối với một loạt các hình thức không chính thống trong sự tham gia của dân sự, bao gồm các hoạt động tự nguyện (Youniss và cộng
sự, 2002; Verba và cộng sự, 1995) Giới trẻ có xu hướng chủ động tham gia trong các hiệp hội tự nguyện với các hoạt động về tôn giáo, hòa bình, từ thiện, thể dục thể thao,
âm nhạc và khiêu vũ, nhà hát,… (Buzzi và cộng sự, 2002)
Trong một khảo sát về sự tham gia xã hội được thực hiện với 1000 mẫu là những người trẻ tuổi từ 15 - 25 được thực hiện bởi nhóm nghiên cứu của Cornolti đã cho thấy một nửa số mẫu đã tham gia trong các hoạt động tôn giáo, hòa bình, tổ chức từ thiện và các tổ chức văn hóa, trong khi 63% đã tham gia vào một câu lạc bộ thể dục thể thao Đồng thời những người trẻ tuổi còn tham gia vào các nhóm văn hóa, nhà hát, âm nhạc và khiêu vũ (24%) và các câu lạc bộ thể thao (41%) (Cornolti
và cộng sự, 2005) Các hình thức khác nhau của sự tham gia xã hội ở thanh thiếu niên được cho là chịu sự tác động từ các yếu tố về nền tảng gia đình, nhóm bạn bè ảnh hưởng, giáo dục học và các phương tiện truyền thông đại chúng (Eccles và Barber, 1999; Da Silva và cộng sự 2004; Smetana và cộng sự 2006)
Những nghiên cứu được thực hiện cho nhóm đối tượng là người lớn tuổi lại
có hướng tiếp cận khác khi xem xét sự tham gia xã hội từ bốn góc độ: sự tham gia, hoạt động, vai trò và nguồn lực (Duan và Zhang, 2008) thông qua ba loại hình hoạt động là: tập thể, sản xuất hoặc chính trị và mỗi loại có những đặc điểm riêng biệt (Bukov và cộng sự, 2002) Các loại hoạt động này được phân biệt dựa trên các nội dung, bối cảnh và nguồn lực cần thiết để tham gia Hoạt động sự tham gia của tập thể được định nghĩa là thể hiện chung của thành viên trong nhóm, hướng đến mục
Trang 19tiêu riêng của nhóm và không hướng đến một mục tiêu bên ngoài Tham gia sản xuất là sản xuất hàng hoá và dịch vụ có lợi ích ngoài cá nhân hoặc nhóm Tham gia chính trị liên quan đến hành vi ra quyết định về các nhóm xã hội và sự phân bổ nguồn lực (Bukov và cộng sự, 2002)
Ở nước ta những năm gần đây đã có quan tâm đặc biệt đối với sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt động xã hội Trong phần lớ n các tổ chức xã hô ̣i dân sự, nô ̣i dung tham gia của cô ̣ng đồng là khá phong phú , nghiên cứu về thực tra ̣ng xã
hô ̣i dân sự ở Viê ̣t Nam đã cho biết nô ̣i dung tham gia của người dân trong các tổ chức xã hô ̣i dân sự tâ ̣p trung ở mô ̣t số hoa ̣t đô ̣ng như hòa giải, thăm viếng; vâ ̣n đô ̣ng quyên góp, gây quỹ; giúp đỡ người có hoàn cảnh khó khăn; phổ biến chính sách của Đảng và Nhà nước ; phát động và đẩy mạnh các phong trào xã hội;… (Nguyễn Đức Vinh và cô ̣ng sự, 2011) Trong mô ̣t nghiên cứu về tính liên kết và trao đổi của các tổ chức xã hô ̣i tự nguyê ̣n ở nông thôn khu vực đồng bằng sông Hồng , kết quả nghiên cứu cho thấy sự tham gia của cô ̣ng đồn g dân cư nông thôn ở các tổ chức tự nguyê ̣n thể hiê ̣n qua các hoa ̣t đô ̣ng chủ yếu như cho ̣i trâu , chọi gà, nuôi chim, chăm sóc cây cảnh, đánh cờ, ca hát, làm thơ, thể du ̣c thể thao , thăm hỏi thành viên và gia quyến ,
ăn uống,… (Đặng Thị Việt Phương, Bùi Quang Dũng, 2011)
Trong thờ i kỳ đổi mới, tầng lớp thanh niên Việt Nam đã có sự tham gia rô ̣ng rãi vào đời sống xã hội, thể hiê ̣n qua mô ̣t số lĩnh vực như sự tham gia trong các tổ chức chính trị - xã hội, vào lĩnh vực kinh tế, văn hóa và xã hô ̣i Các số liệu nghiên cứu cho thấy tỷ lê ̣ thanh niên tham gia vào cơ quan quyền lực tối cao của đất nước thường ở mức trên 10% trong tổng số các đa ̣i biểu đa ̣i diê ̣n cho các tầng lớp khác nhau Trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị và quản lý nhà nước các cấp và các tổ chức đoàn thể, xã hội khác, thanh niên cũng có những đa ̣i diê ̣n tham gia Đối với lĩnh vực kinh tế,
mô ̣t bô ̣ phâ ̣n không nhỏ thanh niên là những doanh nhân và công nhân trẻ Trong các lĩnh vực về văn hóa xã hội, thanh niên đã có ý thức và đầu tư nhiều hơn cho công viê ̣c học tập hay việc tham gia xã hội thông qua internet, mô ̣t phương tiê ̣n hữu hiê ̣u giúp kết nối cá nhân với xã hô ̣i và các hoa ̣t đô ̣ng tình nguyê ̣n hỗ trợ mô ̣t số nhóm xã hô ̣i yếu
Trang 20thế, dễ tổn thương; hoạt động bảo vệ trật tự an toàn xã hội , an toàn giao thông; hiến máu nhân đạo hay trong các sự kiện văn hóa thể thao khác (Trịnh Duy Luân, 2006)
Hiê ̣n nay ở Viê ̣t Nam có khá nhiều dự án phát triển có sự tham gia của người dân Đầu tiên phải kể đến các dự án về xóa đói giảm nghèo v ới sự tham gia trực tiếp của người dân tại tỉnh Quảng Trị, thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh thành khác Những hoa ̣t đô ̣ng chính mà người dân tham gia trong các dự án này là tự đánh giá về tình trạng đói nghèo của hộ gia đình ; xây dựng các phương án và kế hoa ̣ch thoát nghèo; đánh giá các chính sách và công tác xóa đói giảm nghèo của chính quyền địa phương;…(Trịnh Hồ Hạ Nghi, Huỳnh Thị Ngọc Tuyết, 2003; Chương trình XĐGN Việt Đức, 2003) Tuy nhiên, một số nghiên cứu trong các dự án giảm nghèo cho thấy viê ̣c tham gia của người dân chưa được thực hiê ̣n mô ̣t cách có hiê ̣u quả theo nguyên tắc dân chủ cơ sở Thực tế, người dân dường như bi ̣ tách biê ̣t khỏi viê ̣c bàn ba ̣c, thảo luâ ̣n và quyết đi ̣nh các vấn đề ở thôn , xã mà chỉ tập trung vào viê ̣c thực hiê ̣n những vấn đề đã được quyết đi ̣nh (Anderson và cô ̣ng sự, 2010) Về cơ bản, sự tham gia trực tiếp của người dân chỉ diễn ra ở cấp thôn Ở cấp thôn, người dân mới trực tiếp tham gia và thiên về thực hiê ̣n các quyết đi ̣nh, công trình cu ̣ thể cần đóng góp công sức và tiền của (Đặng Ngọc Quang và cộng sự , 2004) Qua vài nét trên có thể thấy mă ̣c dù đã có sự tham gia của người dân trong vấn đề xóa đói giảm nghèo nhưng sự tham gia này của họ vẫn còn nhiều hạn chế (Nguyễn Trung Kiên, Lê Ngo ̣c Hùng, 2012)
Bên ca ̣nh vấn đề đói nghèo thì người dân cũng t ham gia ma ̣nh mẽ trong hoa ̣t
đô ̣ng quản lý xã hội, cụ thể ở đây là các hoạt động liên quan đến viê ̣c thực hiê ̣n dân chủ cơ sở ở đi ̣a phương (Trương Văn Dũng, 2009) Bên ca ̣nh đó, ở lĩnh vực quản lý
đô thi ̣, sự tham gia của người dân được thể hiê ̣n qua viê ̣c ho ̣ sẽ trực tiếp đánh giá về công tác quy hoạch và quản lý đô thị tại địa bàn cùng vớ i sự phối kết hợp của chính quyền địa phương Những phản ánh trực tiếp từ phía cộng đồng cho thấy một cách
rõ ràng nhất thực tiễn về tiềm năng phát triển cảnh quan, phát hiện chính xác và cụ thể những vấn đề nổi trội nhìn thấy rõ trong cảnh quan của khu vực, qua đó xây dựng và triển khai các hoạt động ưu tiên trong việc cải thiện cảnh quan khu phố (Tạ Quỳnh Hoa và Phạm Thúy Loan, 2006)
Trang 21Hiện nay, cộng đồng dân cư cũng tham gia mô ̣t cách ma ̣nh mẽ vào các hoa ̣t
đô ̣ng quản lý và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên Sự tham gia này được thể hiê ̣n ở các hoạt động phát triển kinh tế cũng như việc cải thiện sinh kế thông qua sự bảo tồn tài nguyên của người dân Trong một số dự án phát triển về tài nguyên biển , người dân sẽ trực tiếp t ham gia đánh giá tình trạng thực tiễn về vấn đề sử dụng tài nguyên ven biển; xác định các hướng phát triển kinh tế thủy sản có thể khả thi trong điều kiện hiện tại với những tác động từ phía thị trường; nhâ ̣n định cụ thể các nguồn lực và xây dựng định hướng cho các kế hoạch phát triển thủy sản (Viện Kinh tế Việt Nam, 2006) Bên cạnh đó, người dân còn tham gia trong các hoa ̣t đô ̣ng lâ ̣p kế hoa ̣ch quản lý các khu bảo tồn biển Với mục đích gắn việc bảo tồn biển với an toàn kinh
tế xã hội, tạo ra cơ hội việc làm mới như nuôi trồng thủy sản bền vững và du lịch thiên nhiên, sự tham gia của cô ̣ng đồng đã góp ph ần giảm tác động trong viê ̣c khai thác thủy sản theo cách hủy diệt, đồng thờ i giúp cho vi ệc quản lý, bảo tồn biển có hiệu quả cao và đảm bảo được tính bền vững (WWF và Siemenpuu, 2006)
Bên cạnh tài nguyên biển thì nhiều dự án bảo tồn tài nguyên rừng cũng có sự tham gia ma ̣nh mẽ của cộng đồng địa phương Các đánh giá cho thấy nhận thức của người dân đã có những hiểu biết cơ bản về rừng, tài nguyên rừng và tầm quan trọng của rừng trong khu vực, nhất là những gì liên quan đến cuộc sống hàng ngày của họ như nguồn gỗ, củi, khu vực đất canh tác, động vật có giá trị săn bắn Tuy vậy, một số nhóm cộng đồng là người dân tộc thiểu số vẫn chưa hiểu biết đầy đủ về các nguy cơ tác động tới rừng, chưa nắm rõ giá trị của đa dạng sinh học trong khu bảo tồn, thông tin về sự hiện diện của khu bảo tồn còn hạn chế nên thái độ của họ đối với công tác bảo vệ rừng còn mờ nhạt Do đó, ở một số dự án có sự tham gia của cô ̣ng đồng, người dân sẽ được nâng cao nhâ ̣n thức qua viê ̣c được cung cấp những kiến thức đầy đủ hơn về
đa dạng sinh học tại khu vực; đươ ̣c phổ biến rộng rãi các qui định pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; được tuyên truyền về những hậu quả của việc mất rừng, ảnh hưởng tới đời sống người dân, về sự hạn chế của tài nguyên rừng; đươ ̣c tăng cường sự tiếp xúc với cán bộ kiểm lâm, phối hợp cùng ho ̣ trong quản lý bảo vệ rừng và được chủ động tham gia vào hoạt động bảo tồn tài nguyên rừng (FFI Việt Nam và PanNature, 2012)
Trang 22Ngoài những vấn đề trên, các nghiên cứu về sự tham gia xã hội của cộng đồng ở một số lĩnh vực như giao thông, y tế,… cũng dành được nhiều quan tâm Dự
án đánh giá tình hình giao thông nông thôn ở hai tỉnh Vĩnh Long và Phú Thọ đã được thực hiện bởi Công ty Tư vấn Mekong Economic (MKE), trong đó tập trung nghiên cứu về tình trạng của hệ thống giao thông nông thôn, tìm hiểu mức độ và những hình thức đóng góp về kinh phí cũng như sự tham gia trực tiếp của cộng đồng trong việc xây dựng và quản lý giao thông nông thôn Xem xét vai trò tham gia của cộng đồng địa phương trong giao thông nông thôn và đề xuất các khuyến nghị để tăng cường sự tham gia của người dân địa phương trong việc phát triển giao thông nông thôn tại hai địa phương trên (MKE, 2005) Vấn đề y tế cũng được nghiên cứu trong dự án “Huy động sự tham gia của cộng đồng trong phát hiện bệnh nhân lao thông qua việc triển khai chiến lược PAL tại tuyến y tế cơ sở” do Trung tâm phát triển sức khỏe cộng đồng (CCHD) thực hiện tại 6 tỉnh Yên Bái, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Khánh Hòa, Lâm Đồng và Đồng Nai Dự án được thực hiện với 3 mục tiêu cụ thể là tăng cường năng lực cho cán bộ y tế tuyến xã và tuyến huyện để triển khai chiến lược PAL; huy động sự tham gia của cộng đồng và các cơ quan liên quan để tăng số bệnh nhân khám các bệnh phổi, qua đó phát hiện được nhiều bệnh nhân mắc lao, trong đó có trẻ em; củng cố hệ thống y tế tuyến cơ sở thông qua đẩy mạnh công tác khám chữa bệnh tại tuyến xã và công tác chuyển tuyến, thông tin hai chiều giữa huyện và xã (CCHD, 2011)
Trong những năm gần đây, nghiên cứ u về tham nhũng có sự tham gia của
cô ̣ng đồng đang là mô ̣t vấn đề nghiên cứu quan trọng và cần thiết ở Việt Nam Do
đó, vào năm 2012, với sự tài trợ bởi Ngân hàng Thế giới và Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh, cuộc điều tra “Tham nhũng từ góc nhìn của người dân, doanh nghiệp và cán bộ, công chức, viên chức” tiến hành tại 10 tỉnh/ thành phố gồm Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Sơn La, Hải Dương, Đồng Tháp, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Hải Phòng và Cần Thơ do Thanh tra Chính phủ chủ trì đã được thực hiện Ở dự án này , người dân trực tiếp tham gia vào viê ̣c đánh giá mức
độ phổ biến, tính nghiêm trọng cũng như các hình thức tham nhũng ở Việt Nam;
Trang 23xác định nguyên nhân của tham nhũng, các yếu tố hạn chế hiệu lực của công tác phòng chống tham nhũng Qua đó, đề xuất những hướng đi và giải pháp ưu tiên cho viê ̣c phòng chống tham nhũng ở Việt Nam trong những năm sắp tới Với thông tin thu được từ những cảm nhận và đánh giá của người dân, cuộc khảo sát đã cho thấy những kết quả đáng ghi nhận, phản ánh cụ thể và rõ ràng về tình trạng tham nhũng
ở Việt Nam hiện nay (Thanh tra chính phủ, 2012)
Như vâ ̣y, có thể thấy rằng các nghiên cứu về hình thức và nô ̣i dung tham gia
xã hội đã cho thấy được một sự đa da ̣ng về nô ̣i dung và hình thức tham gia các hoa ̣t
đô ̣ng xã hô ̣i của người dân Hình thức và nội dung tham gia có thể chính thức hoă ̣c phi chính thức, có tính thờ i điểm hoă ̣c liên tu ̣c trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hô ̣i như kinh tế , chính trị, văn hóa, y tế, xã hội, môi trường, tôn giáo,… đươ ̣c thể hiê ̣n qua các hoa ̣t đô ̣ng về giải trí , tình nguyện , từ thiê ̣n, đóng góp x ây dựng ý kiến, quản lý xã hội , phản ánh xã hội ,… Đồng thời cũng chỉ ra những khác biê ̣t về nô ̣i dung và hình thức tham gia xã hô ̣i giữa các nhóm đối tượng khác nhau Qua đó cho thấy mô ̣t bức tranh toàn diê ̣n và hê ̣ thống về sự tham gia xã hô ̣i của toàn
bô ̣ cô ̣ng đồng dân cư trong mô ̣t bối cảnh xã hô ̣i nhất đi ̣nh
Nghiên cứu về sự tham gia xã hô ̣i của cô ̣ng đồng , nhiều tác giả đã dành sự quan tâm lớn cho viê ̣c tìm hiểu những nguyên nhân , yếu tố tác đô ̣ng hay thâ ̣m chí là chi phối sự tham gia của cá nhân Mô ̣t số nghiên cứu cho thấy mức đô ̣ tham gia xã
hô ̣i của cá nhân phụ thuộc vào mối tương tác giữa mứ c đô ̣ sẵn có và cấu trúc cơ hô ̣i (Alsop và cô ̣ng sự, 2006) Ở đây, “mức đô ̣ sẵn có” đươ ̣c hiểu là các nguồn vốn của người tham gia gồm vốn con người (trình độ nhận thức, học vấn, kiến thức,…); vốn tâm lý (khả năng nhận biết thay đổi, mức đô ̣ tự tin,…); vốn thông tin (khả năng tiếp
câ ̣n với thông tin); vốn xã hô ̣i (khả năng huy động sự hỗ trợ từ mạng lưới xã hội của
cá nhân); vốn văn hóa (các phong tục, tâ ̣p quán, lối sống); vốn kinh tế (khả năng sở hữu tài sản và điều kiện thu nhập cá nhân ); vốn chính tri ̣ (mức đô ̣ quyền lực của cá nhân trong gia đình và ngoài xã hô ̣i) “Cấu trúc cơ hô ̣i” ở đây là các yếu tố về thể chế chính
Trang 24thức (các quy định, văn bản luâ ̣t pháp, cơ chế tổ chức xã hô ̣i) và thể chế phi chính thức (các định kiến xã hội, dư luận xã hô ̣i) (Nguyễn Trung Kiên, Lê Ngo ̣c Hùng, 2012)
Nghiên cứu của Michael Bittman về sự tham gia của người dân trong các hoạt động giải trí đã cho thấy có m ối tương quan giữa các yếu tố về thất nghiệp, đói nghèo và giới với những chi phí về thời gian và tiền bạc cho các hoạt động giải trí của người dân Vấn đề thu nhập, thời gian lao động, các công việc gia đình cũng như những khác biệt giới có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhu cầu giải trí của cá nhân
và là nguyên nhân t ạo ra sự khác biệt trong tham gia xã hội giữa các đối tượng (Michael Bittman, 1999) Phát hiện này khá tương đồng với kết quả nghiên cứu của hai tác giả Nguyễn Trung Kiên và Lê Ngo ̣c Hùng khi cho rằng những người có nhâ ̣n thức cao hơn, thu nhâ ̣p cao hơn, điều kiê ̣n kinh tế tốt hơn, mạng lưới xã hội rộng lớn hơn, cơ hô ̣i tiếp câ ̣n với thông tin nhiều hơn , dễ hô ̣i nhâ ̣p với môi trường xã hô ̣i mới hơn và có quyền lực xã hô ̣i hơn sẽ có nhiều điều kiê ̣n tốt để tham gia xã hô ̣i và tham gia vào nhiều hoa ̣t đô ̣ng xã hô ̣i hơn (Nguyễn Trung Kiên, Lê Ngo ̣c Hùng, 2012)
Theo đó, các cá nhân và nhóm xã hội có ít cơ hội tham gia các hoạt động giải trí được cho là những người nằm trong nhóm xã hội bị loại trừ (Michael Bittman, 1999) Sự loại trừ xã hội có thể dẫn đến tình trạng bị cô lập xã hội Trong một nghiên cứu về sự tham gia xã hội và sự cô lập xã hội của Văn phòng thống kê Liên minh châu Âu đã cho biết có 7% công dân châu Âu được nhận thấy đã bị cách ly với xã hội, thể hiện ở việc cá nhân không bao giờ gặp gỡ bạn bè hoặc người thân, hoặc không có khả năng nhận được sự giúp đỡ nếu cần thiết Sự cô lập xã hội được cho là gia tăng trong tuổi già và tỷ lệ này cao hơn ở những người có nguy cơ đói nghèo (Eurostat, 2010) Ở Việt Nam, hiện tươ ̣ng này được nhận thấy ở mô ̣t số nhóm đối tươ ̣ng như người khuyết tâ ̣t hay người dân tô ̣c thiểu số Thực tế là các nhóm đối tươ ̣ng này có khả năng nhận thức và trình độ dân trí thấp hơn các nhóm xã hội khác ;
họ thường có tâm lý tự ti khi tham gia trong các hoạt động xã hội ; cơ hô ̣i tiếp câ ̣n với thông tin thông qua hê ̣ thống các phương tiê ̣n truyền thông cũng hạn chế; mạng lưới xã hô ̣i khá mỏng; khả năng hòa nhập với xã hội thấp ; điều kiê ̣n kinh tế ha ̣n chế
và địa vị xã hội cũng thấp Do đó mà mức đô ̣ tham gia xã hô ̣i của các nhóm đối
Trang 25tươ ̣ng này là ha ̣n ch ế hơn so với những người khác (Lê Ba ̣ch Dương và cô ̣ng sự , 2009; Ngân hàng thế giới, 2009)
Bên ca ̣nh yếu tố về tâm lý cá nhân thì các y ếu tố thuô ̣c về tâm lý c ộng đồng, cảm giác của cộng đồng cũng có tác động mạnh mẽ đến sự tham gia của cá nhân Cảm giác của cộng đồng được coi là một cấu trúc cốt lõi, cũng như giá trị trung tâm và lý tưởng, có khả năng định hướng, can thiệp và được xem như một chất xúc tác bên ngoài tạo nên sự liên kết về cảm xúc, tư tưởng giữa các cá nhân trong cuộc sống tập thể (Fisher và cộng sự, 2002; Bess và cộng sự, 2002) McMillan và Chavis đã đề xuất một
mô hình bốn chiều về cảm giác của cộng đồng bao gồm các thành phần sau: thành viên, ảnh hưởng, hội nhập và cam kết thực hiện nhu cầu và chia sẻ kết nối cảm xúc Trong đó, thành viên đề cập đến cảm giác là một phần của một cộng đồng và nhận dạng cộng đồng Ảnh hưởng là cơ hội của các cá nhân khi tham gia vào cuộc sống cộng đồng cũng như sự đóng góp của họ trong một mối quan hệ đối ứng Hội nhập và thực hiện các nhu cầu đề cập đến những lợi ích mà thành viên mang đến cho cộng đồng Chia sẻ kết nối tình cảm dựa trên ý nghĩa về sự phát triển các mối quan hệ thông qua sự chia sẻ giữa các thành viên khác trong cộng đồng (McMillan và Chavis, 1986)
Mô ̣t số nghiên cứu cho thấy yếu tố về lứa tuổi cũng có những ảnh hưởng nhất
đi ̣nh đến tính chất tham gia xã hô ̣i của người dân Trong khi giới trẻ có xu hướng thích tham gia trong một số hoạt động dân sự như hoạt động tình nguyện , tôn giáo, hòa bình từ thiện, thể du ̣c thể thao, âm nha ̣c, khiêu vũ,… và có vẻ thờ ơ với các hoa ̣t
đô ̣ng chính tri ̣ ( Verba và cộng sự, 1995; Youniss và cộng sự, 2002; Buzzi và cộng
sự, 2002) thì nhóm người lớn tuổi lại quan tâm đến các hoạt động sản xuất và các hoạt động chính trị nhiều hơn (Bukov và cộng sự, 2002) Dường như giới trẻ có sự tham gia xã hô ̣i đa da ̣ng hơn ở nhóm người lớn tuổi và nguyên nhân được cho là lứa tuổi thanh thiếu niên chịu sự tác động mô ̣t cách ma ̣nh mẽ t ừ các yếu tố về nền tảng gia đình, nhóm bạn bè ảnh hưởng, giáo dục học và các phương tiện truyền thông đại chúng (Eccles và Barber, 1999; Da Silva và cộng sự 2004; Smetana và cộng sự 2006) Bên cạnh vấn đề lứa tuổi thì sở thích cũng là mô ̣t trong những yếu tố tác đô ̣ng lớn đến viê ̣c lựa cho ̣n hình thức và nô ̣i dung tham gia xã hô ̣i của cá nhân Trong
Trang 26nghiên cứu nhóm tác giả Bùi Quang Dũng, sở thích là lý do phổ biến để giải thích cho viê ̣c tham gia các tổ chức tự nguyê ̣n của người dân Nhiều người nói rằng mình vào phường hô ̣i là vì ham thích và nhiê ̣t tình với các hoa ̣t đô ̣ng xã hô ̣i của đi ̣a phương Tuy nhiên, các cá nhân có thích không giống nhau, do đó sự đăng kí tham gia tổ chức của
họ cũng khác nhau Người thích chơi gà thì có phường gà; người thích hoa ̣t đô ̣ng thể thao thì có Câu la ̣c bô ̣ (CLB) bóng bàn, bóng chuyền, cầu lông,… Ai thích văn hóa văn nghê ̣ thì vào CLB quan ho ̣, CLB tuồng, CLB chèo, CLB thơ; ai thích chơi cây cảnh thì tham gia hô ̣i sinh vâ ̣t cảnh,… (Đặng Thị Việt Phương, Bùi Quang Dũng, 2011)
Tương tự như sở thích , lối sống được xem là mô ̣t yếu tố có sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự tham gia xã hội của cộng đồng Lối sống được hiểu là một cách sống, là những điều mà một người hoặc nhóm người cụ thể thường làm Lối sống dựa trên sự lựa chọn cá nhân, đặc điểm, hoàn cảnh và sở thích cá nhân Tùy thuộc vào lối sống của mình mà các cá nhân có nhiều sự lựa chọn để tham gia vào các loại hình hoạt động khác nhau trong quỹ thời gian dành cho việc giải trí của bản thân
Có người lựa chọn những hoạt động về nghệ thuật và văn hóa như đọc sách, xem phim, có người lại thích đi du lịch và tham gia các hoạt động thể thao nhưng cũng
có người thích làm các công việc chăm sóc gia đình (Carla Seddon, 2011) Bên cạnh đó, lối sống cá nhân cũng có tác đô ̣ng đến sự tham gia các hoạt động ở khu phố, địa bàn cư trú hay lịch sử tiến trình sự di cư của người dân, quá trình hình thành lòng tin đối với hàng xóm; sự tham gia trong các hoạt động ở các tổ chức, hiệp hội, câu lạc bộ (Andrew Miles, 2012)
Ngoài những yếu nêu trên thì vấn đề thể chế xã hội cũng có tác động không nhỏ tới sự tham gia củ a cô ̣ng đồng Trong đó , các thể chế chính thức như một hệ thống pháp luâ ̣t hợp lý có thể ta ̣o điều kiê ̣n thuâ ̣n lợi về hành lang pháp lý cho sự tham gia của người dân như viê ̣c huy đô ̣ng được các nguồn lực từ cô ̣ng đồng , biểu hiê ̣n ở viê ̣c đóng gó p bằng tiền; mối quan hê ̣ giữa các bô ̣ chính quyền và nhân dân đươ ̣c cải thiê ̣n (Đặng Ngọc Quang và cộng sự , 2004) Bên ca ̣nh đó , cơ chế hoa ̣t
đô ̣ng của bô ̣ máy tổ chức cũng có thể ta ̣o không ít khó khăn c ho viê ̣c tham gia quản
lý xã hội của người dân như viê ̣c chính quyền không cần tới hoă ̣c không tham khảo
Trang 27ý kiến đóng góp của người dân cho việc lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội tại
đi ̣a phương (Well và cô ̣ng sự, 2005) Ngoài ra, các thể chế phi chính thức như định kiến xã hô ̣i cũng là mô ̣t rào cản đối với sự tham gia xã hô ̣i của người dân Ví dụ rõ nét về vấn đề này là quan niệm xã hội về người dân tộc thiểu số khi phần lớn xã hội cho rằng ngườ i dân tô ̣c thiểu số la ̣c hâ ̣u , có nền văn hóa mê tín dị đoan , họ không biết cách làm ăn, có trình độ văn hóa thấp và không có chí tiến thủ Cách nhìn nhận như vâ ̣y làm cho nhóm dân tô ̣c thiểu số gă ̣p những trở nga ̣i nhất đi ̣nh khi tham gia vào các hoạt động xã hội (Nguyễn Trung Kiên, Lê Ngo ̣c Hùng, 2012)
Nhìn chung , các nghiên cứu trên đã làm rõ được những nguyên nhân tác
đô ̣ng đến sự tham gia xã hô ̣i của người dân trên cả hai phương diê ̣n là cá nhân và xã
hô ̣i Trong đó, các yếu tố xuất phát từ cá nhân bao gồm yếu tố về sở thích ; lứa tuổi, trình độ nhận thức ; tâm lý cá nhân ; khả năng tiếp cận thông tin ; lối sống; điều kiê ̣n kinh tế; quyền lực xã hô ̣i;… và các yếu tố xuất phát từ xã hội như thể chế xã hội ; cơ chế tổ chức; hê ̣ thống pháp lý; tâm lý cô ̣ng đồng; đi ̣nh kiến xã hô ̣i;… Các yếu tố kể trên, tùy thuộc vào đặc trưng củ a từng đối tượng mà đã có sự tác động khôn g giống nhau đến sự tham gia xã hô ̣i của các nhóm xã hô ̣i khác nhau Qua đó, cho thấy được những vấn đề xã hô ̣i ẩn sâu bên trong và có tính quyết đi ̣nh đến sự tham gia xã hô ̣i của cộng đồng dân cư nói chung
Tóm lại, tổng hơ ̣p từ các công trình nghiên cứu ở trên , có thể thấy rằng các tác giả trong và ngoài nước đã có những cách tiếp cận khá đa dạng khi nghiên cứu về sự tham gia xã hô ̣i Trong đó, những nghiên cứu về sự tham gia xã hô ̣i trong cá c loại hình tổ chức xã hội đã làm rõ những vấn đề về nguồn gốc hình thành tổ chức , sự phân loa ̣i tổ chức; vai trò của các tổ chức trong xã hô ̣i ; những điểm ma ̣nh và ha ̣n chế của các tổ chức;… Các nghiên cứu về nô ̣i dung và hình thức của sự tham gia xã
hô ̣i la ̣i đi sâu tìm hiểu về các lĩnh vực tham gia ; các loại hình hoạt động ; phương thức của sự tham gia; sự khác biê ̣t về nô ̣i dung và hình thức tham gia giữa các nhóm
xã hội khác nhau ;… Các nghiên cứu về yếu tố tác động đến sự tham gia lại tập trung vào viê ̣c đi tìm hiểu các nguyên nhân xuất phát từ bên trong cá nhân và bên ngoài xã hội có ảnh hưởng đến nội dung , tính chất của sự tham gia xã hội đối với
Trang 28từng nhóm đối tượng khác nhau Như vâ ̣y, về cơ bản có thể khẳng đi ̣nh các công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước về sự tham gia xã hội là khá toàn diện và đa dạng Tuy nhiên, thực tế là những công trình nghiên cứu củ a Viê ̣t Nam về vấn đề này vẫn còn khá hạn chế về số lượng và cũng chỉ mới nghiên cứu trong những năm gần đây Bên ca ̣nh đó, khái niệm “sự tham gia xã hô ̣i ” ở nước ta chủ yếu được tiếp
câ ̣n dưới hình thức là các dự án có sự tham gia của cô ̣ng đồng cò n những nghiên cứu khoa ho ̣c về vấn đề này hiê ̣n vẫn còn thiếu và yếu Đặc biệt là những nghiên cứu trực diê ̣n về sự tham gia xã hô ̣i của người dân ở các tổ chức xã hô ̣i chính thức
và phi chí nh thức vẫn còn nhiều vấn đề đang bỏ ngỏ Vì vậy, cần thiết có nhiều nghiên cứu cụ thể và hệ thống hơn về sự tham gia xã hô ̣i c ủa người dân trong các loại hình tổ chức xã hội này
1.2 Một số khái niệm công cụ
1.2.1 Khái niệm Sự tham gia xã hội
Hiê ̣n nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm “sự tham gia xã hội” (social participation) Theo các tác giả Aleksej Bukov, Ineke Maas và Thomas Lampert thì sự tham gia xã hội được hiểu là sự chia sẻ các định hướng xã hội của các nguồn lực cá nhân, nó được xem xét là một tiêu chí quan trọng đánh giá chất lượng cuộc sống Trong các nghiên cứu, nhóm tác giả phân biệt ba loại tham gia liên quan đến nội dung, bối cảnh và các nguồn lực cần thiết để tham gia bao gồm: tham gia tập thể, tham gia sản xuất và tham gia chính trị (Aleksej Bukov và cô ̣ng sự, 2001)
Trong khi đó, các tác giả Heller, Wandersman và Florin lại định nghĩa sự tham gia xã hội như là một quá trình trong đó các cá nhân tham gia vào việc ra quyết định trong các tổ chức, các chương trình và các môi trường có ảnh hưởng đến
họ (Heller và cô ̣ng sự , 1984) Với đi ̣nh nghĩa này thì sự tham gia xã hô ̣i được hiểu
là những hành động xã hô ̣i được cá nhân thực hiê ̣n khi là thành viên của mô ̣t tổ chức, mô ̣t kế hoa ̣ch hay trong mô ̣t hoàn cảnh nào đó mà có ảnh hưởng đến họ
Theo M.Broese van Groenou, sự tham gia xã hô ̣i được nhìn nhâ ̣n dưới nhiều khía cạnh khác nh au Ở đây, tác giả đề cập đến 5 chiều ca ̣nh của sự tham gia bao
Trang 29gồm: 1) tham gia trong các tổ chức, 2) các hoạt động văn hoá xã hội, 3) tiêu chí về sự tham gia, 4) sử dụng phương tiện truyền thông (truyền hình, phát thanh, báo) và 5) sử dụng máy tính cá nhân và internet (M.Broese van Groenou, 2004) Với cách hiểu này thì sự tham gia xã hô ̣i nghĩa là việc cá nhân tham gia vào câc tổ chức xã
hô ̣i hoă ̣c là tham gia vào các phong trào , hoạt động văn hóa xã hội dựa trên sự t iếp
câ ̣n thông tin thông qua các loại phương tiện truyền thông khác nhau
Ngoài ra, khái niệm về sự tham gia xã hội còn được hiểu là các hoa ̣t đô ̣ng xã
hô ̣i Đó là những hoa ̣t đô ̣ng liên quan đến lĩnh vực sản xuất, giải trí và các hoạt động xã hội bên ngoài, cho phép các cá nhân đáp ứng những người khác (Broese van Groenou và Deeg, 2006) Cá nhân tham gia vào các hoạt động chủ yếu được cải thiện chính mình và được tự phát triển, trong khi sau này, cá nhân đóng góp các nguồn lực của mình cho các cá nhân hoặc các nhóm trong cộng đồng thông qua sự tham gia các hiệp hội tự nguyện và chính trị (Klumb và Baltes, 1999)
Như vâ ̣y, tổng hợp từ những quan điểm của các tác giả về sự tham gia xã hô ̣i
ở trên, có thể thấy sự tham gia xã hô ̣i đã được xem xét dưới hai góc đô ̣ Ở góc độ thứ nhất, sự tham gia xã hô ̣i được hiểu là sự tham gia của cá nhân t rong các hoa ̣t
đô ̣ng xã hô ̣i và các lĩnh vực xã hội khác nhau Ở góc độ thứ hai , sự tham gia xã hô ̣i đươ ̣c hiểu là sự tham gia của cá nhân trong các hô ̣i, nhóm, tổ chức xã hô ̣i
Trong nghiên cứu này , tác giả tiếp cận khái niệm sự tham gia xã hô ̣i theo cách hiểu là quá trình cá nhân gia nhập vào các tổ chức , hội nhóm xã hội khác nhau
Cá nhân thông qua việc gia nhập vào các tổ chức xã hội sẽ thực hiện các hoạt động trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hô ̣i nhằm thỏa mãn mong muốn của bản thân , cải thiện chính mình và đóng góp cho sự phát triển của các tổ chức mà ho ̣ tham gia
1.2.2 Khái niệm Xã hội dân sự
“Xã hội dân sự” là một khái niệm được đặc trưng bằng tinh thần cộng đồng
Sự tự nguyện và tinh thần cộng đồng của các công dân theo nghĩa đó là đặc trưng cho “bản chất” của khu vực dân sự và nó góp phần vào hoạt động có hiệu quả của nhà nước Các định nghĩa phổ biến về “xã hội dân sự” hiện nay đều nhấn mạnh tới
Trang 30tinh thần tự nguyện của công dân trong việc bảo vệ các quyền lợi hợp pháp và giá trị của mình Theo tinh thần này, xã hội dân sự được tạo thành bởi một loạt các đoàn thể nhằm kết nối giữa những nhóm quyền lợi hiện đại (công đoàn và các đoàn thể có tính chuyên nghiệp) và những tổ chức truyền thống dựa trên mối quan hệ họ hàng, dân tộc, văn hoá và khu vực, giữa các tổ chức chính thức và phi chính thức Những đoàn thể tự nguyện làm việc vì quyền lợi chung Chúng được hình thành và khuyến khích phát triển bởi các cộng đồng địa phương Nói một cách đơn giản, các
tổ chức dân sự thể hiện nguyện vọng và nhu cầu của người dân Người dân tự tổ chức lại căn cứ theo các nhu cầu, nguyện vọng hay tín ngưỡng chung và thể hiện thành các loại hình hoạt động (Bùi Quang Dũng, 2007)
Tóm lại, có thể hiểu xã hội dân sự theo định nghĩa của Trung tâm Xã hội dân
sự của Trường đại học kinh tế London như sau: “Xã hội dân sự đề cập tới một mảng các hoạt động tập thể tự nguyện xung quanh các giá trị, mục tiêu, ý thích chung Về
lý thuyết, các hình thái tổ chức xã hội dân sự khác biệt hẳn với các hình thái tổ chức nhà nước, gia đình và thị trường Nhưng trong thực tế thì, ranh giới giữa nhà nước,
xã hội dân sự, gia đình và thị trường là khá lẫn lộn, mập mờ và không rõ ràng Xã hội dân sự thường bao gồm một sự đa dạng về phạm vi hoạt động, các thành viên tham gia và các hình thái tổ chức, khác nhau về mức độ nghi lễ, tự do và quyền lực
Xã hội dân sự thường được hình thành dưới dạng các tổ chức như các hội từ thiện, các hiệp hội, các công đoàn, các nhóm tương trợ, các phòng trào xã hội, các hiệp hội kinh doanh, các liên minh, và các đoàn luật sư.”
1.2.3 Khái niệm Tổ chức xã hội
Tổ chức xã hội là khái niệm thường dùng trong xã hội học, được dùng với nhiều nghĩa khác nhau Tổ chức xã hội có thể được hiểu là một thành tố của cơ cấu xã hội, hoặc là một dạng hoạt động, hay là mức độ trật tự nội tại, sự hài hòa giữa các thành phần của một chỉnh thể Theo nghĩa rộng, tổ chức xã hội chỉ bất kể tổ chức nào trong xã hội Còn theo nghĩa hẹp thì tổ chức xã hội chính là một tiểu hệ thống xã hội trong một tổ chức xã hội nào đó (Phạm Tất Dong, Lê Ngo ̣c Hùng, 2006)
Trang 31Trong xã hội học, khái niệm tổ chức xã hội được dùng chủ yếu với nghĩa xem nó như là một thành tố của cơ cấu xã hội Với ý nghĩa này, tổ chức xã hội chính là một hệ thống các quan hệ, tập hợp liên kết cá nhân và các quan hệ ở đây là các quan hệ xã hội Những quan hệ này sẽ liên kết các cá nhân vào một nhóm để họ cùng thực hiện một hoạt động chung nào đó nhằm đạt được những lợi ích nhất định
Tóm lại, có thể hiểu tổ chức xã hội là một dạng nhóm thứ cấp khá phổ biến, nhưng không phải mọi nhóm thứ cấp đều là tổ chức xã hội Tổng hơ ̣p từ các quan điểm đi trước, tác giả Bùi Thế Cường đã chỉ ra các dấu hiệu cơ bản nhất của tổ chức
xã hội như sau (Bùi Thế Cường, 2010):
1 Nhóm xã hội được lập ra có chủ định và các thành viên của nhóm đó ý thức được rằng nhóm của họ tồn tại để đạt được mục đích nhất định nào đó
2 Nhóm xã hội được xem là tổ chức xã hội phải có sự thể hiện cụ thể các quan hệ quyền lực xã hội, tức là có quan hệ lãnh đạo - phục tùng Trong các nhóm này có người nhiều quyền lực và những người ít quyền lực hơn Họ được phân bố trong mạng lưới các quan hệ quyền lực theo thứ bậc trên - dưới, cao - thấp
3 Cùng với hệ thống các quan hệ quyền lực, tổ chức xã hội là một tập hợp các vị thế và vai trò Mỗi một thành viên của tổ chức xã hội có vị thế xác định trong nhóm và được trao những trách nhiệm và quyền hạn nhất định Tổ chức xã hội cũng đặt ra cho những thành viên này một tập hợp hành vi được phép làm và những hành
vi không được làm
4 Vai trò của các thành viên tổ chức xã hội được thực hiện theo sự mong đợi của tổ chức và trong mọi tổ chức luôn có những quy tắc điều chỉnh mối quan hệ giữa các vai trò Những quy tắc này sẽ phối hợp việc thực hiện vai trò của các thành viên khiến cho tổ chức hoạt động được nhịp nhàng, ổn đinh
5 Phần lớn các mục đích và các mối quan hệ của tổ chức được chính thức và công khai Các tương tác giữa các thành viên và các thành viên của tổ chức với bên ngoài phần nhiều dựa trên vị thế và vai trò của họ được thừa nhận một cách chính thức
Trang 32Phân loại Tổ chức xã hội
Khi phân tích về các tổ chức xã hội, M.Weber đã chỉ ra các dấu hiệu của nó, căn cứ trên các đặc điểm này, có thể phân loại các tổ chức xã hội thành 4 dạng nhóm (Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng, 2006) bao gồm:
1 Các nhóm quyền uy: là một dạng nhóm sơ cấp, liên kết các cá nhân bằng quan hệ uy quyền và sự sùng bái cá nhân, vị thế và vai trò của các thành viên của nhóm không được xác lập theo những quy tắc khách quan mà dựa trên mối quan hệ với thủ lĩnh Nhóm quyền uy hoạt động thường nhờ vào sự đóng góp của các thành viên dưới danh nghĩa bổn phận
2 Các tổ chức tự nguyện: hoạt động vì những lợi ích và nhu cầu của các thành viên Việc tham gia tổ chức là hoàn toàn tự nguyện và các tổ chức dạng này không liên quan nhiều với chính phủ
3 Các tổ chức biệt lập: đặc trưng quan trọng nhất của tổ chức này là các thành viên của tổ chức bị cô lập, tách biệt khỏi xã hội Phần lớn các thành viên của
tổ chức biệt lập không phải là tự nguyện, thậm chí có một số trường hợp do cưỡng bức Xã hội và các tổ chức biệt lập đặt ra nhiều luật lệ, quy tắc để duy trì trật tự, đồng thời khiến các thành viên phụ thuộc lẫn nhau
4 Các tổ chức quan liêu: là tổ chức mà hoạt động của nó được phân chia thành các vai trò, các vai trò này được xác định bởi những quy tắc, thủ tục và được sắp xếp vào một thứ bậc quyền lực Trong xã hội hiện đại, tổ chức quan liêu có một
ý nghĩa đặc biệt quan trọng
Tổng hơ ̣p từ những phân tích ở trên , có thể hiểu tổ chức xã hô ̣i là mô ̣t da ̣ng nhóm xã hội mà ở đó có sự phân chia rõ các vị trí, vai trò, được xác định bởi những quy tắc, thủ tục và được sắp xếp vào một thứ bậc quyền lực Có nhiều dạng nhóm
xã hội khác nhau , tương đương với nhiều lo ại hình tổ chức khác nhau bao gồm các tổ chức quyền uy , tổ chức tự nguyê ̣n , tổ chức biê ̣t lâ ̣p , tổ chức quan liêu Trong tổ chức, thành viên thực hiện các hành vi dựa trên vị thế và vai trò của bản thân và những vai trò nà y được thực hiê ̣n dựa trên sự mong đợi của tổ chức Sự tương tác
Trang 33giữa các thành viên và giữa thành viên với các tổ chức bên ngoài dựa trên vi ̣ thế và vai trò được thừa nhâ ̣n chính thức của ho ̣
Phân loại tổ chức xã hội chính thức và phi chính thức
Hiê ̣n nay vẫn chưa có mô ̣t đi ̣nh nghĩa cu ̣ thể và nhất quán về các khái niê ̣m
“tổ chức xã hô ̣i chính thức” và “tổ chức xã hô ̣i phi chính thức” Tuy nhiên, mô ̣t số nhà nghiên cứu đã đưa ra quan điểm cá nhân trong việc phân loại các tổ chức xã hội thành hai dạng hoạt động chính thức và phi chính thức
Dựa trên cách phân loa ̣i tổ chức theo Điều 94 và Điều 110 của Bộ luật Dân sự, phân loa ̣i dựa trên tính pháp nhân của tổ chứ c thì các tổ chức thuô ̣c nhóm có tư cách pháp nhân đươ ̣c go ̣i là tổ chức xã hô ̣i chính thức còn nhóm các tổ chức không có tư cách pháp nhân sẽ là tổ chức xã hô ̣i phi chính thức (Ban Tổ chứ c - Cán bộ của Chính phủ, 1999)
Tác giả Nguyễn Khắc Mai trong nghiên cứu của mình đã phân biê ̣t các tổ chức
xã hội thành hai loa ̣i hình cơ bản gồm các đoàn thể nhân dân (tổ chức chă ̣t chẽ, gần Đảng, có tính chất chính trị - xã hội) và các hội quần chúng Trong đó, các hội quần chúng lại được chia thành hai loa ̣i gồm các Hội quần chúng chính thức (Hô ̣i khoa ho ̣c kỹ thuật, các Hội văn học nghệ thuật, các Hội nhân đạo và từ thiện, các Hội thể thao, các Hội văn hóa và nghề nghiệp khác , các Hội hòa bình và hữu nghị , các Hội tôn giáo) và các Hội quần chúng phi chính thức không thuô ̣c các Hô ̣i chính thức ở trên (Nguyễn Khắc Mai , 1996) Như vậy, theo sự phân loa ̣i này thì tổ chức xã hô ̣i chính thức sẽ bao gồm các tổ chức đoàn thể nhân dân và các Hô ̣i quần chúng chính thức
còn tổ chức xã hội phi chính thức sẽ là những Hội quần chúng phi chính thức
Theo sự phân loa ̣i của nhóm tác giả Lê Ba ̣ch Dương trong nghiên cứu về Xã
hô ̣i dân sự ở Viê ̣t Nam thì các tổ chức xã hô ̣i ở Viê ̣t Nam được chia thành 5 loại gồm các đoàn thể quần chúng ; các Hội nghề nghiệp ; các tổ chức cộng đồng , các tổ chức cung cấp di ̣ch vu ̣ ; các quỹ từ thiệ n, các trung tâm hỗ trợ ; các tổ chức khô ng đăng kí, không chính thức (Lê Ba ̣ch Dương và cô ̣ng sự , 2003) Với cách phân loa ̣i như trên thì các tổ chức chính thức sẽ là các tổ chức có đăng kí hoa ̣t đô ̣ng còn tổ
chức phi chính thức là những tổ chức không đăng kí hoa ̣t đô ̣ng
Trang 34Tác giả Bế Quỳnh Nga đã phân biệt các tổ chức xã hội thành hai loại, gồm các tổ chức chính tri ̣ xã hô ̣i và các tổ chức xã hô ̣i tự nguyê ̣n Theo tác giả, các tổ chức chính trị xã hội là nhóm những tổ chức được Nhà nước hỗ trợ và có hệ thống tổ chức từ trung ương đến cơ sở còn các tổ chức xã hội tự nguyện là những hội, nhóm thành lập
mô ̣t cách tự phát và không có sự hỗ trợ của Nhà nướ c (Bế Quỳnh Nga, 2008)
Như vâ ̣y , tổng hợp từ những cách phân loa ̣i ở trên , có thể thấy những dấu hiê ̣u cơ bản để các tác giả phân biê ̣t tổ chức xã hô ̣i chính thức và phi chính thức bao gồm yếu tố về năng lực pháp lý c ủa tổ chức; tính tự phát hay tính chính thức trong viê ̣c thành lâ ̣p tổ chức và viê ̣c có đăng kí hay không đăng kí hoa ̣t đô ̣ng của tổ chức Từ những yếu tố kể trên , có thể đưa ra cách phân loại các tổ chức xã hội chính thứ c
và phi chính thức trong nghiên cứu này như sau : Tổ chứ c xã hô ̣i chính thức là những tổ chức có tư cách pháp nhân , có đăng kí hoạt động một cách chính thức với các cơ quan quản lý còn Tổ chức xã hội phi chính thức là n hững tổ chức không có
tư cách pháp nhân, thành lập một cách tự phát và không đăng kí hoạt động
1.3 Các tiếp cận lý thuyết: Lý thuyết mạng lưới xã hội
Mạng lưới xã hội là một cấu trúc xã hội hình thành bởi những cá nhân (hay những tổ chức), các cá nhân được gắn kết bởi sự phụ thuộc lẫn nhau thông những nút thắt như tình bạn, quan hệ họ hàng, sở thích chung, trao đổi tài chính, quan hệ tình dục, những mối quan hệ về niềm tin, kiến thức và uy tín (http://vi.wikipedia.org/wiki/) Đơn giản hơn, mạng lưới xã hội là đồ thị những mối quan hệ xác định, ví dụ như tình bạn Các nút thắt gắn kết cá nhân với xã hội chính là những mối liên hệ xã hội của
cá nhân đó Mạng lưới xã hội có thể dùng để kiểm tra vốn xã hội - giá trị mà cá nhân có được từ mạng lưới xã hội Những khái niệm này thường được biểu thị trong biểu đồ mạng xã hội, trong đó các nút thắt chính là các điểm và các mối quan hệ
Theo định nghĩa của Fitchter (1957), “mạng lưới xã hội (social network) bao gồm nhiều mối quan hệ đôi Mỗi người trong mạng lưới có liên hệ với ít nhất 2 người khác nhưng không ai có liên hệ với tất cả những thành viên khác”
Trang 35Theo Đặng Nguyên Anh: trên bình diện xã hội học, khái niệm mạng lưới xã hội dựa trên cơ sở lý thuyết hệ thống và tương tác xã hội Mạng lưới xã hội là tập hợp liên kết giữa các cá nhân hay giữa các nhóm dân cư nhất định Thông qua sự tiềm ẩn trong những mối liên hệ cũng như quyền lợi và trách nhiệm chi phối các mối quan hệ đó, mạng lưới xã hội được sử dụng nhằm đạt được mục đích nhất định (Đặng Nguyên Anh, 1998)
Một quan niệm xã hội học khác cho rằng: mạng lưới xã hội dùng để chỉ phức thể các mối quan hệ xã hội do con người xây dựng, duy trì và phát triển trong cuộc sống thực của họ với tư cách là thành viên xã hội (Lê Ngo ̣c Hùng, 2003)
Trong xã hội học, các quan điểm và tính chất của mạng lưới xã hội được nghiên cứu từ nhiều hướng tiếp cận khác nhau Lý thuyết tương tác xã hội của Georg Simmel tập trung vào phân tích các kiểu, hình thức của mạng lưới xã hội gồm các mối quan hệ của các cá nhân đang tác động lẫn nhau Theo thuyết cấu trúc
- chức năng, Emile Durkhiem phân biệt hai kiểu đoàn kết xã hội hữu cơ và máy móc trên cơ sở hai hình thức phân công lao động phức tạp và đơn giản tạo nên những kiểu quan hệ và liên hệ tương ứng giữa các cá nhân và nhóm người Mạng lưới quan hệ chức năng đặc trưng cho kiểu đoàn kết hữu cơ của xã hội hiện đại và mạng lưới quan hệ phi chức năng đặc trưng cho kiểu đoàn kết máy móc của xã hô ̣ i truyền thống Theo lý thuyết hệ thống xã hội, một số tác giả tập trung vào giải quyết một nhiệm vụ trung tâm của xã hội học là nghiên cứu cốt lõi bên trong của xã hội Với tư cách là kiểu mối liên hệ và quan hệ giữa các thành tố xã hội, mạng lưới xã hội
là biểu hiện cụ thể, trực tiếp và rõ rệt nhất của cấu trúc xã hội Phân tích mạng lưới xã hội trở thành một phương pháp tiếp cận cấu trúc xã hội (Barry Wellman, 1983)
Nhìn chung, theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thuyết mạng lưới thì đối tượng nghiên cứu của xã h ội học chính là các “cấu trúc xã hội” mà theo họ cho rằng: cách tốt nhất để nghiên cứu cấu trúc xã hội chính là nghiên cứu mạng lưới các liên kết giữa các thành viên trong xã hội, các nhóm,…
Trang 36Nếu như các nhà tâm lý học xã hội như: Jacob Moreno, Alex Bavelas, Fritz Heider,… chủ yếu nghiên cứu nhu cầu, động cơ, tình cảm của mạng lưới xã hội thì các nhà xã hội học lại tập trung nghiên cứu hình thù, khuôn mẫu, kiểu loại, quy mô, đặc điểm và tính chất của sự hình thành, vận động và biến đổi của mạng lưới xã hội
Có hai cách tiếp cận chủ yếu ở đây là: (1) nghiên cứu định lượng (tần suất tiếp xúc, mật độ quan hệ , độ bền vữ ng về mặt thời gian và quy mô, phạm vi phân bố trong không gian của mạng lưới) (2) nghiên cứu định tính như chiều, hướng, vị trí, kiểu, dạng, tính chất và độ tin cậy của mối quan hệ tạo thành mạng lưới xã hội Theo Mark Granovetter thì mật độ và cường độ của các mối liên hệ xã hội có tác dụng khác nhau đối với giao tiếp và sự hội nhập xã hội Việc một cá nhân có mạng lưới xã hội dày đặc và khép kín trong đó mọi người đều quen biết và thân thiết với nhau có thể tạo ra
sự hạn chế trong việc trao đổi thông tin và cản trở sự liên hệ với thế giới bên ngoài Ngược lại, một mạng lưới xã hội gồm các mối liên hệ yếu ớt, lỏng lẻo, thưa thớt, luôn luôn mở lại tỏ ra có lợi cho sự trao đổi thông tin và tạo ra sự hội nhập với xã hội cũng như tạo cơ hội cho cá nhân theo đuổi mục đích của họ (R.Collin, 1983)
Không chỉ vậy, các nhà nghiên cứu của thuyết mạng lưới cũng chỉ ra rằng:
“các nhà phân tích mạng lưới tìm kiếm các cấu trúc sâu - các khuôn mẫu mạng lưới
có tính quy tắc nằm phía sau bề mặt thường là phức tạp của các hệ thống xã hội Các actor và các hành vi của họ được xem là bị kìm hãm bởi các cấu trúc đó Do vậy, tiêu điểm không phải là hướng vào các actor chủ động mà là sự kìm hãm về mặt cấu trúc” Quan điểm này cũng đã phân biệt rõ đối tượng và khách thể của các
nghiên cứu theo cách tiếp cận của thuyết mạng lưới Chủ thể của các nghiên cứu xã hội học chính là các actor, còn đối tượng nghiên cứu của xã hội học được nói rõ hơn chính là nghiên cứu sự kìm hãm về mặt cấu trúc; các chủ thể (actor) thực hiện hành
vi đều bị kìm hãm bởi cấu trúc đó
Vâ ̣n du ̣ng cách tiếp câ ̣n của thuyết ma ̣ng lưới xã hô ̣i để phân tích , lý giải sự tham gia xã hô ̣i của công dân , ta thấy rằng : mỗi chủ thể dựa trên ma ̣ng lưới xã hô ̣i
mà mình có , sẽ tham gia vào các nhóm , tổ chức xã hô ̣i thông qua mối liên kết giữa các cá nhân và các nhóm xã hội Ở mỗi một nhóm xã hội khác nhau, các chủ thể có
Trang 37những hành vi khác nhau, đóng những vai trò khác nhau, ở những địa vị khác nhau Một mạng lưới xã hội của một chủ thể sẽ bao gồm rất nhiều nhóm với mức độ mật thiết, quan trọng, tính chất khác nhau
Sự tham gia xã hô ̣i của công dâ n được thể hiê ̣n ở những mối liên hệ, sợi dây liên kết giữa các cá nhân, các nhóm xã hội với nhau trên cơ sở tập trung vào các hành
vi ứng xử giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với nhóm, cá nhân với xã hội Đó có thể là mối quan hệ mang tính bền chặt hoặc là các mối quan hệ bình thường và không bền chặt (hay còn gọi là mối quan hệ đóng và mối quan hệ mở) Trong cuộc sống của mỗi người đều tồn tại các mạng lưới các quan hệ tương đối chằng chịt với nhiều cấp độ, tùy thuộc vào các chủ thể của mối quan hệ đó họ là ai, thuộc phân tầng xã hội nào
Cách tiếp cận lý thuyết mạng lưới giúp nhìn nhận và lý giải được tính chất , mức đô ̣ tham gia vào các hoa ̣t đô ̣ng xã hô ̣i , các nhóm xã hội của mỗi cá nhân thông qua hê ̣ thống các mối liên hê ̣ của ho ̣ t rong cuô ̣c sống Từ viê ̣c lý giải cách thức các
cá nhân thể hiện hành vi của bản thân trong nhóm, có thể nhận biết được hình thức
và nô ̣i dung của sự tham gia , các mối lợi ích cũng như vai trò , trách nhiê ̣m mà mỗi người nắm giữ t rong ma ̣ng lưới các mối liên hê ̣ Bên ca ̣nh đó , cách tiếp cận mạng lưới xã hội cũng sẽ giúp cho việc lý giải một phần những đă ̣c trưng, tính chất và các mối liên kết giữa cá nhân với cá nhân trong mô ̣t nhóm và giữa cá nhân với các nhóm khác nhau trong xã hô ̣i Nhìn vào sơ đồ mạng xã hội mà một cá nhân đạt được ta có thể nhìn thấy đươ ̣c mức đô ̣ rô ̣ng - hẹp trong các mối quan hệ cũng như khả năng tham gia xã hội của cá nhân
Như vâ ̣y, cá nhân khi tham gia xã hội sẽ thông qua ma ̣ng lưới các mối quan
hê ̣ ma ̣nh - yếu của mình để gia nhâ ̣p vào các nhóm , các tổ chức xã hội khác nhau Các nhóm xã hội này lại có những khác biệt nhất định về kinh tế, mối quan hệ, quyền lực,… và cá nhân cũng qua đó để lựa chọn cách ứng xử khác nhau ở từ ng nhóm với từng mối liên hệ Mỗi một mối liên kết trong mạng lưới của cá nhân có thể cho thấy rõ sự đa dạng trong lối sống, hành vi ứng xử, địa vị, vai trò của cá nhân
đó trong từng mạng lưới xã hội Tuy nhiên, mỗi một cá nhân có một mạng lưới và
Trang 38toàn bộ xã hội là một hệ thống các mạng lưới xã hội đan xen, bện chặt vào nhau và không giống nhau Bởi vậy, các cá nhân có cơ hội thu - nhận các luồng thông tin không giống nhau nên dẫn đến sự khác nhau tro ng tham gia xã hô ̣i giữa các cá nhân trong các nhóm xã hô ̣i khác nhau
Trang 39CHƯƠNG 2: SO SÁNH SỰ THAM GIA XÃ HỘI CỦA NGƯỜI VIỆT NAM TRONG CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI CHÍNH THỨC VÀ PHI CHÍNH THỨC 2.1 Khái quát về các tổ chức xã hội ở Việt Nam
Có thể khẳng định rằng, các tổ chức xã hội ở Việt Nam đã có sự gia tăng một cách mạnh mẽ và phong phú về số lượng lẫn loại h ình trong nhữ ng năm vừa qua Bên ca ̣nh các tổ chức thuô ̣c chính phủ thì các tổ chức thuô ̣c khu vực xã hô ̣i dân sự cũng có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của Việt Nam Được thành lập theo những phương thức khác nhau, tổ chức xã hội là một hình thức tổ chức tự nguyện của công dân, có chung mục đích tập hợp, hoạt động theo pháp luật và theo điều lệ không vì lợi nhuận nhằm đáp ứng những lợi ích chính đáng của các thành viên và tham gia vào việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội
Trong cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp trước đây, các quan hệ kinh tế - xã
hô ̣i còn mang nă ̣ng tính hành chính và nhà nước hóa , quyền tự do kinh doanh, sự đa dạng các hình thức sở hữu và quan hệ thị trường bị hạn chế ; quyền dân chủ của người dân chưa được đảm bảo ; do đó các tổ chức xã hô ̣i chưa có điều kiê ̣n phát triển Theo số liê ̣u thống kê từ mô ̣t số nghiên cứu thì trước năm 1986, cả nước chỉ
có gần 30 tổ chức được thành lâ ̣p Bước sang những n ăm 1990 đến nay, số lượng các tổ chức xã hội đã được tăng lên nhanh chóng
Năm 1990, có khoảng 100 hô ̣i hoa ̣t đô ̣ng trong pha ̣m vi toàn quốc , 300 hô ̣i hoạt động trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Năm 1996, có khoảng 160 hô ̣i ở Trung ương được thành lâ ̣p
Năm 2002, có 240 hô ̣i hoa ̣t đô ̣ng trong pha ̣m vi toàn quốc , 1.450 hô ̣i hoa ̣t
đô ̣ng trong pha ̣m vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Năm 2007, có 364 hô ̣i hoa ̣t đô ̣ng trong pha ̣m vi toàn quốc , 3.625 hội có phạm vi hoạt động tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Trang 40Hiê ̣n nay , cả nước có khoảng 425 hô ̣i hoa ̣t đô ̣ng ở pha ̣m vi toàn quốc , khoảng gần 14.000 hô ̣i có pha ̣m vi hoa ̣t đô ̣ng ở cấp tỉnh , cấp huyê ̣n Trong đó, ở 22 tỉnh, thành phố thuộc khu vực phía Nam có 2.636 tổ chức hô ̣i ở cấp tỉnh Ở 13 tỉnh, thành phố thuộc khu vực miền Trung - Tây Nguyên có 1.712 tổ chức, ở các tỉnh khu vực phía Bắc có gần 3.000 hô ̣i cấp tỉnh Ngoài ra , còn hàng vạn hội hoạt động ở phạm vi xã , phường và thi ̣ trấn Nhìn chung, trong những năm gần đây , tính trung bình mỗi năm có khoảng 20 hô ̣i, hiê ̣p hô ̣i nghề nghiê ̣p khoa ho ̣c và công nghê ̣, kinh tế có phạm vi hoạt động toàn quốc được cấp phép thành lâ ̣p
Ở Trung ương, hiê ̣n có 23 tổ chức được Nhà nước giao 384 biên chế, trong đó chủ yếu là các hội được công nhận là tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiê ̣p, tổ chức
xã hội - nghề nghiê ̣p Ở địa phương, theo báo cáo của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các tổ chức được ủy ban nhân dân tỉnh giao 3.316 biên chế, ngoài ra ở
mô ̣t số đi ̣a phương , ủy ban nhân dân tỉnh cũng hỗ trợ kinh phí , cho phép mô ̣t số tổ chức được tuyển dụng thêm cán bộ hợp đồng lao động (Nhạc Phan Linh, 2013)
Sự gia tăng nhanh chóng số lượng các tổ chức xã hô ̣i , đă ̣c biê ̣t là các tổ chức
xã hội dân sự ở Việt Nam trong hai thập kỉ qua đã cho thấy được sự tham gia của người dân trong các lĩnh vực và hoa ̣t đô ̣ng xã hô ̣i ngày càng rô ̣ng và mỗi người có
xu hướng tham gia nhiều hơn mô ̣t tổ chức Điều này cho thấy được sự phát triển của
cá nhân, gia đình, cô ̣ng đồng và toàn xã hô ̣i ở Viê ̣t Nam
Thực tế, các công trình nghiên cứu về tổ chức (hô ̣i) ở nước ta vẫn chưa đưa
ra đươ ̣c những tiêu chuẩn thống nhất để phân loa ̣i tổ chức Dựa trên các văn bản pháp luật của N hà nước và thực trạng tổ chức , hoạt động của hội , có thể tạm thời phân loa ̣i theo các dấu hiê ̣u sau:
Phân loại tổ chức theo cơ sở quy đi ̣nh của pháp luật
Điều 10, Hiến pháp 1992 quy đi ̣nh: Công đoàn là tổ chức chính tri ̣ - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động cùng với các cơ quan nhà nước , tổ chức kinh tế, tổ chức xã hô ̣i chăm lo bảo vê ̣ quyền lợi của cán bô ̣ , công nhân, viên