1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự tham gia của phụ nữ trong các dự án cấp nước cho các đô thị nhỏ (nghiên cứu Chương trình cấp thoát nước Phần Lan tại Hải Phòng và Bắc Cạn

88 440 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- NGUYỄN THỊ KHÁNH HÒA SỰ THAM GIA CỦA PHỤ NỮ TRONG CÁC DỰ ÁN CẤP NƯỚC CHO CÁC ĐÔ THỊ NHỎ Nghiên cứu Chương trình

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ KHÁNH HÒA

SỰ THAM GIA CỦA PHỤ NỮ TRONG CÁC DỰ ÁN

CẤP NƯỚC CHO CÁC ĐÔ THỊ NHỎ (Nghiên cứu Chương trình cấp nước Phần Lan

tại Hải Phòng và Bắc Cạn)

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Hà Nội - 2009

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ KHÁNH HÒA

SỰ THAM GIA CỦA PHỤ NỮ TRONG CÁC DỰ ÁN

CẤP NƯỚC CHO CÁC ĐÔ THỊ NHỎ (Nghiên cứu Chương trình cấp nước Phần Lan

tại Hải Phòng và Bắc Cạn)

Chuyên ngành: Xã hội học

Mã số: 60 31 30 LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Quý Thanh

Hà Nội - 2009

Trang 3

1

Mục lục

1 Đặt vấn đề 4

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5

2.1 Ý nghĩa khoa học 5

2.2 Ý nghĩa thực tiễn 5

3 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu 6

3.1 Mục đích nghiên cứu 6

3.2 Mục tiêu nghiên cứu 6

4 Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 7

5.1 Phương pháp chọn mẫu 7

5.2 Phương pháp thu thập thông tin 7

5.2.1 Các phương pháp thu thập thông tin được sử dụng trong khuôn khổ dự án 7

5.2.1.1 Thảo luận nhóm 7

5.2.1.2 Phỏng vấn cấu trúc 8

5.2.1.3 Phỏng vấn bán cấu trúc 8

5.2.2 Các phương pháp thu thập thông tin được chính tác giả sử dụng 8

5.2.2.1 Phương pháp quan sát 8

5.2.2.2 Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc 8

5.2.2.3 Nghiên cứu tài liệu 9

5.3 Phương pháp xử lý thông tin 9

6 Câu hỏi nghiên cứu 9

7 Giả thuyết nghiên cứu 10

8 Khung lý thuyết ……… 10

NỘI DUNG CHÍNH……… 10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 11 1.1 Lý thuyết tiếp cận 11

1.2 Tổng quan nghiên cứu 13

1.3 Các khái niệm công cụ 18

1.4 Các chính sách và bối cảnh xã hội của các chính sách về sự tham gia 20

1.4.1 Các chính sách của Việt Nam 20

1.4.2 Các chính sách về sự tham gia và các chính sách về giới của các nhà tài trợ 22

1.4.2.1 Các chính sách về sự tham gia 23

1.4.2.2 Các chính sách về giới 23

1.5 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu và dự án cấp nước cho các thị trấn nhỏ Việt Nam 24

CHƯƠNG 2: NHỮNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29 2.1 Các biểu hiện sự tham gia của phụ nữ vào dự án 29

2.1.1 Phụ nữ tham gia dưới hình thức “Nghe và biết thông tin về dự án” 29

2.1.2 Phụ nữ tham gia bằng hình thức “đóng góp tiền bạc và lao động cho dự án” 35

2.1.3 Phụ nữ tham gia dự án bằng hình thức “tuyên truyền cho người khác” 37

2.1.4 Phụ nữ tham gia dự án qua hình thức “tham dự các buổi họp” 40

2.1.5 Phụ nữ tham gia dự án bằng các hình thức giám sát thực hiện 42

2.2 Các yếu tố thúc đẩy và rào cản đối với sự tham gia của phụ nữ vào dự án 45

2.2.1 Các yếu tố cá nhân 45

2.2.1.1 Yếu tố năng lực 45

2.2.1.2 Yếu tố địa vị xã hội 46

2.2.1.3 Yếu tố tâm lý 47

Trang 4

2.2.2 Yếu tố gia đình 50

2.2.2.1 Yếu tố tài chính 50

2.2.2.2 Yếu tố người chồng 52

2.2.3 Yếu tố xã hội 56

2.2.3.1 Yếu tố chính sách 56

2.2.3.2 Yếu tố văn hóa xã hội 61

2.2.4 Yếu tố khác 64

2.3 Thảo luận 65

2.3.1 Phụ nữ trong dự án “cấp nước cho các thị trấn nhỏ Việt Nam” tham gia 65

2.3.2 Những yếu tố rào cản và thúc đẩy phụ nữ tham gia vào dự án cấp nước 67

KẾT LUẬN 69 1 Kết luận 69

2 Những ngụ ý về mặt chính sách 71

Tài liệu tham khảo 72

Phụ lục 77

Trang 5

Danh mục bảng và hình

Bảng 2.1: Sự khác biệt về thông tin ưu tiên của nam giới và phụ nữ 31

Bảng 2.2: Thông tin nghe được của người dân thị trấn Tiên Lãng và thị trấn Nà Phặc 32

Bảng 2.4: Nguồn thu nhận thông tin của nam giới và phụ nữ 33

Bảng 2.5: Việc kiểm tra trực tiếp thông tin thu nhận được giữa nam giới và phụ nữ 34

Bảng 2.6 : Nội dung tuyên truyền của các tuyên truyền viên của hai thị trấn 38

Bảng 2.7: So sánh nội dung tuyên truyền giữa nam giới và phụ nữ 39

Bảng 2.8: Hình thức tuyên truyền của nam giới và phụ nữ 39

Bảng 2.9: Số người tham dự các cuộc họp nhóm tại thị trấn Nà Phặc và Tiên Lãng 40

Bảng 2.10: Cách nhìn nhận của nam giới và phụ nữ về sự tham gia của phụ nữ 48

Bảng 2.11: Yếu tố người chồng là rào cản với sự tham gia vào dự án của phụ nữ 53

Bảng 2.13: Các chính sách là yếu tố rào cản đối với sự tham gia của phụ nữ vào dự án của địa phương và của nhà tài trợ 61

Hình 1.1: Tám nấc thang của sự tham gia (S.Arnstein 1969) 12

Hình 1.2: Các mức độ của sự tham gia của Brager và Specht 13

Hình 1.3: Chu trình của một dự án đầu tư xây dựng 26

Hình 1.4: Các bước trong giai đoạn lập dự án đầu tư xây dựng 27

Hình 2.1: Những thông tin về dự án mà người dân nghe và biết 29

Hình 2.2: Tỉ lệ hình thức mong muốn đóng góp vào việc xây dựng nhà máy nước (%) 35

Hình 2.3: Tỉ lệ các hình thức đóng góp tham gia xây dựng nhà máy nước (%) 35

Hình 2.4: Việc tuyên truyền của phụ nữ trong khu vực dự án 37

Hình 2.5: Các hình thức tham gia của phụ nữ trong dự án cấp nước nhỏ 44

Hình 2.6: Mức thang tương ứng với sự tham gia của nam giới và phụ nữ vào dự án 66

Hình 2.7: Mức thang tham gia vào các giai đoạn của dự án của nam giới và phụ nữ 66

Trang 6

Ngay từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, nước bạn Phần Lan đã có những chương trình hỗ trợ chuyên về ngành nước cho các khu vực đô thị, trong đó phải

kể đến việc thủ đô Hà Nội có một hệ thống cấp nước máy như ngày hôm nay một phần rất lớn nhờ vào sự hỗ trợ của nước bạn Phần Lan

Tiếp tục chương trình hợp tác giữa hai quốc gia, chính phủ Phần Lan viện trợ không hoàn lại dự án cấp nước và vệ sinh cho 8 thị trấn nhỏ tại 4 tỉnh giai đoạn 2003-

2008, trong đó xây dựng hai công trình cấp nước tập trung cho hai thị trấn Nà Phặc (tỉnh Bắc Cạn) và thị trấn Tiên Lãng (thành phố Hải Phòng), nhằm nâng cao sức khỏe và cải thiện mức sống của các thành viên trong cộng đồng Dự án đặt ra rất nhiều mục tiêu, một trong các mục tiêu đó là bình đẳng giới Phụ nữ là một trong những đối tượng được dự án đặc biệt quan tâm Đây là một trong những chính sách mà chưa được các dự án tại Việt Nam quan tâm nhiều

Có rất nhiều tác giả nghiên cứu về phụ nữ ở Việt Nam, tuy nhiên những nghiên cứu về sự tham gia của các tác giả tại Việt Nam lại rất ít, đặc biệt là nghiên cứu sự tham gia của phụ nữ vào các dự án phát triển lại càng ít hơn Nghiên cứu sự tham gia của phụ

nữ phần nhiều được các tác giả nước ngoài thực hiện tại các quốc gia khác nhau trên thế giới

Trang 7

Việt Nam đang trên con đường hướng đến sự bình đẳng giới, trong đó phải kể đến

sự bình đẳng về cơ hội tham gia và hưởng lợi từ các dự án phát triển giữa nam giới và phụ nữ Tuy nhiên chúng ta lại chưa có một bức tranh về sự tham gia của phụ nữ vào các

dự án phát triển tại Việt Nam để xem mức độ bình đẳng của nam giới và phụ nữ trong các dự án này như thế nào Vì vậy, nghiên cứu này mong muốn đưa ra hình ảnh của phụ

nữ tham gia vào các dự án phát triển ra sao, những yếu tố rào cản hay thúc đẩy nào tác động đến sự tham gia của phụ nữ vào các dự án phát triển

Bên cạnh đó, tác giả là người hiện đang công tác cho một đơn vị tư vấn lập báo cáo đầu tư cho dự án “cấp nước và vệ sinh cho các thị trấn nhỏ Việt Nam” tại Nà Phặc và Tiên Lãng Có thể nói, là một trong những người tham gia trực tiếp và theo dõi chu trình thực hiện dự án ngay từ giai đoạn đầu tại hai thị trấn này, nên tác giả có một sự hiểu biết nhất định về khu vực dự án và có mối quan hệ mật thiết với những người dân nơi đây Đây cũng là một trong những lý do thôi thúc tác giả thực hiện nghiên cứu “sự tham gia của phụ nữ trong dự án cấp nước cho các đô thị nhỏ” qua nghiên cứu trường hợp chương trình cấp nước Phần Lan cho hai thị trấn Tiên Lãng (thành phố Hải Phòng) và Nà Phặc (tỉnh Bắc Cạn)

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

2.1 Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu tiếp cận từ góc độ lý thuyết “sự tham gia” để phân tích và nhìn nhận

sự tham gia của phụ nữ trong các dự án phát triển tại Việt Nam Qua nghiên cứu, tác giả mong muốn được góp phần xây dựng nên mối quan hệ của những yếu tố rào cản và yếu

tố thúc đẩy tác động tới quá trình tham gia vào các dự án của phụ nữ

2.2 Ý nghĩa thực tiễn

Qua nghiên cứu này, tác giả mong muốn kết quả nghiên cứu phần nào giúp các nhà hoạch định chính sách nói chung và các nhà lập dự án phát triển tại Việt Nam nói riêng có những chính sách cụ thể nhằm giúp phụ nữ có cơ hội hơn nữa trong việc tham gia vào các dự án phát triển và đảm bảo tính bền vững của các dự án

Trang 8

3 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu xây dựng một lý thuyết về sự tham gia của phụ nữ trong các dự án phát triển, trong đó đặc biệt liên quan đến các yếu tố thúc đẩy và yếu tố rào cản đối với

sự tham gia của phụ nữ

3.2 Mục tiêu nghiên cứu

+ Tìm hiểu cách thức tham gia của phụ nữ trong các chu trình của dự án cấp nước + Những biểu hiện của sự tham gia và các bước tham gia của phụ nữ trong các giai đoạn của dự án cấp nước

+ Yếu tố rào cản và thúc đẩy quá trình tham gia của phụ nữ vào dự án cấp nước

4 Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: sự tham gia của phụ nữ vào các dự án phát triển

- Khách thể nghiên cứu: những người phụ nữ và nam giới trong khu vực dự án

- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu trong khuôn khổ dự án cấp nước và vệ sinh cho các thị trấn nhỏ Việt Nam do Bộ ngoại giao Phần Lan tài trợ, tại hai thị trấn Nà Phặc (huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Cạn) và Tiên Lãng (huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng)

- Thời gian nghiên cứu:

+ Tháng 6-7/2005: tham gia khảo sát kinh tế xã hội cho dự án này tại thị trấn Tiên Lãng và Nà Phặc

+ Tháng 1/2006: tham gia khảo sát cam kết đấu nối cho thị trấn Nà Phặc

+ Tháng 1/2007: tham gia khảo sát cam kết đấu nối cho thị trấn Tiên Lãng

+ Tháng 7/2009: phỏng vấn bán cấu trúc 30 trường hợp tại 2 thị trấn

Trang 9

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp chọn mẫu

- Mẫu khảo sát định lượng:

+ Có 200 hộ gia đình ở Nà Phặc, và 300 hộ gia đình ở Tiên Lãng trong khảo sát Kinh

tế - Xã hội Cách chọn mẫu: chọn mẫu ngẫu nhiên 10% tổng số hộ của hai thị trấn + Khảo sát toàn bộ 100% số hộ gia đình trong khu vực dự án trong khảo sát cam kết đấu nối của dự án: cụ thể tại Nà Phặc là 651 hộ, và Tiên Lãng là 3033 hộ gia đình

- Mẫu nghiên cứu định tính: Phỏng vấn bán cấu trúc 30 trường hợp: 15 ở Nà Phặc và

15 ở Tiên Lãng Trong đó, mỗi thị trấn phỏng vấn 5 nam giới và 10 phụ nữ Cách thức chọn mẫu theo chiến lược nghiên cứu định tính lý thuyết cơ sở Các khách thể được chọn phỏng vấn thỏa mãn các tiêu chí đáp ứng mục tiêu nghiên cứu Tác giả chủ

ý chọn mỗi thị trấn 15 trường hợp, trong đó có 10 nữ và 5 nam

5.2 Phương pháp thu thập thông tin

Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng thông tin thu thập được trong khuôn khổ của dự án, bên cạnh đó, tác giả sử dụng một số phương pháp để tự thu thập thông tin, cụ thể như sau:

5.2.1 Các phương pháp thu thập thông tin được sử dụng trong khuôn khổ dự án

đó ưu tiên những phụ nữ thuộc hộ nghèo trong thị trấn (đây là một trong những yêu cầu

từ phía nhà tài trợ) Nhóm nam được chọn ngẫu nhiên nam từ một số hộ gia đình Nhóm hỗn hợp (gồm cả nam và nữ) gồm thành phần là đội ngũ lãnh đạo của các tiểu khu

Trang 10

5.2.1.2 Phỏng vấn cấu trúc

Nghiên cứu này sử dụng một phần dữ liệu gốc của khảo sát kinh tế xã hội và khảo sát cam kết đấu nối của dự án bằng bảng hỏi có sẵn (bảng hỏi này sẽ được trình bày trong phần phụ lục)

sử dụng,… cũng như việc xây dựng nhà máy nước đến đâu, thái độ của người dân tham

dự các cuộc họp/thảo luận nhóm như thế nào

Tác giả sử dụng cả quan sát tự do (phi tiêu chuẩn) (trong thời gian tham gia dự án) nhằm xây dựng ý tưởng nghiên cứu và giới hạn nghiên cứu; quan sát có chủ đích có bảng kiểm Bảng kiểm sẽ được trình bày trong phần phụ lục

Trang 11

Phỏng vấn này dựa trên những vấn đề đã nêu trong hướng dẫn phỏng vấn (Hướng dẫn phỏng vấn này sẽ được nêu trong phần phụ lục)

5.2.2.3 Nghiên cứu tài liệu

Ngoài những phương pháp thu thập số liệu trực tiếp nêu trên, tác giả còn sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu, trong đó các tài liệu được thu thập từ Internet, các thư viện, các viện nghiên cứu Ước tính có khoảng 150 tài liệu xoay quanh các từ khóa: giới,

sự tham gia, phụ nữ, các dự án phát triển được sử dụng trong nghiên cứu này

Qua việc nghiên cứu tài liệu tác giả có cái nhìn tổng quan hơn về vấn đề nghiên cứu và thu thập một số dữ liệu rất có ích cho nghiên cứu của mình

5.3 Phương pháp xử lý thông tin

- Phương pháp xử lý thông tin định lượng: toàn bộ các bảng hỏi được mã hóa và xử lý bằng phần mềm thống kê xã hội SPSS

- Phương pháp xử lý thông tin định tính: toàn bộ thảo luận nhóm được tổng hợp và phân loại

Các phỏng vấn bán cấu trúc được mã hóa và xử lý bằng phần mềm phân tích định tính Nvivo 2.0

6 Câu hỏi nghiên cứu

- Sự tham gia của phụ nữ với dự án cấp nước nhỏ như thế nào?

- Cách thức tham gia của phụ nữ với dự án cấp nước nhỏ như thế nào? Những biểu hiện của sự tham gia, phụ nữ tham gia vào những giai đoạn nào của dự án?

- Những yếu tố rào cản và thúc đẩy nào đối với sự tham gia của phụ nữ vào dự án?

Trang 12

7 Giả thuyết nghiên cứu

- Hình thức tham gia của phụ nữ vào dự án khá đa dạng, trong đó, tuyên truyền, vận động các thành viên trong cộng đồng tham gia vào dự án cấp nước được coi là hình thức tham gia nổi bật nhất đối với phụ nữ

- Bên cạnh những yếu tố về chính sách và cá nhân người phụ nữ thúc đẩy sự tham gia của họ vào dự án, những yếu tố về gia đình, năng lực và địa lý cũng là những yếu tố rào cản đáng kể đối với chị em trong quá trình tham gia vào dự án

- Dự án đã có sự tham gia đáng kể của phụ nữ, tuy nhiên, sự tham gia đó vẫn chưa mang tính chất quyết định như nam giới

- Người chồng

Yếu tố văn hóa xã hội:

- Chính sách của Việt Nam

- Chính sách của nhà tài trợ

- Văn hóa xã hội

Yếu tố khác:

- Địa lý và điều kiện tự nhiên

Sự tham gia của phụ nữ trong

Trang 13

NỘI DUNG CHÍNH

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

NGHIÊN CỨU1.1 Lý thuyết tiếp cận

Trong nghiên cứu này, cách tiếp cận lí thuyết sự tham gia để xem xét sự tham gia của phụ nữ trong dự án cấp nước ở Bắc Cạn và Hải Phòng

Về mặt khái niệm Tham gia là một quá trình hướng tới sự tham gia và chia sẻ

giữa các bên liên quan trong các hoạt động: “Sự tham gia là một quá trình, thông qua đó những bên liên quan ảnh hưởng và chia sẻ việc quản lý đối với các sáng kiến phát triển

và quyết định nguồn lực ảnh hưởng đến chúng” [69, tr34] Anita Kelles-Viitanen (2002) cho rằng “Sự tham gia nghĩa là nhiều việc liên quan đến nhiều người Quá trình tham gia hữu ích trong việc duy trì và xây dựng niềm tin, sự hợp tác và cộng tác” [51, tr 65]

Về nguồn gốc, cách tiếp cận sự tham gia xuất hiện nhằm phân biệt và đối lập với

cách tiếp cận truyền thống “lập trường chuyên gia bên ngoài” Điểm khác biệt giữa chúng

là trong lập trường chuyên gia bên ngoài, các nhà bảo trợ và thiết kế dự án đặt họ ra ngoài hệ thống cộng đồng khi xác định “hình thù” của dự án Họ xem những bên liên quan khác chỉ là những nguồn thông tin và ý kiến Trong khi với cách tiếp cận tham gia,

tham vấn và lắng nghe được xem là điều kiện tiên quyết Ngoài ra, cần phải có việc học

hỏi xã hội, các sáng kiến xã hội, các bình luận từ phía những người tham gia [69, tr74]

Sự tham gia của phụ nữ: Sự tham gia của phụ nữ là sự tham gia mang những nét

đặc trưng với những đặc điểm tâm, sinh lý - xã hội khác biệt và nhiều đặc thù so với nam giới Sự tham gia của phụ nữ nói lên mối quan hệ của phụ nữ với nam giới, với những bên liên quan của dự án (nhà quản lý, nhà tài trợ…), với các thiết chế và quy trình tổ

Trang 14

chức dự án Do tầm quan trọng của vấn đề giới đối với sự thành công của dự án, nên cần

phải có sự lồng ghép giới vào hoạt động của dự án

Nhìn chung, quá trình tham gia của phụ nữ vào các dự án phát triển nảy sinh nhiều vấn đề liên quan đến những yếu tố thúc đẩy và cản trở bản thân phụ nữ trong quá trình tham gia Khi đó, các lí thuyết như định kiến giới, khoảng cách giới, bất bình đẳng giới, bạo lực giới v.v sẽ được xem xét và bổ sung cho lý thuyết có sự tham gia

Về các cấp độ sự tham gia Để xem xét sự tham gia của phụ nữ, chúng tôi sử

dụng các mô hình lý thuyết về cấp độ tham gia của Sherry R Arnstein (1969, 1971), Brager và Specht (1973) và của Ngân hàng thế giới Cách phân chia của Arnstein có phần

nghiêng về việc mô tả các hành động của chủ quản lý dự án hướng tới cộng đồng để lôi

kéo và trao quyền cho họ

Hình 1.1: Tám nấc thang của sự tham gia (S.Arnstein 1969) [52, tr3]

8 Quyền kiểm soát

7 Ủy quyền Mức độ trao quyền cho công dân

6 Đối tác

5 Xoa dịu

4 Tham vấn Mức độ có dấu hiệu của sự tham gia

3 Cung cấp thông tin

2 Trị liệu/tâm lý Mức độ không tham gia

1 Vận động/lôi kéo

Cách tiếp cận của Brager và Specht xuất phát từ lập trường của người dân để mô

tả mức độ mà họ đạt được trong tiến trình tham gia dự án

Trang 15

Hình 1.2: Các mức độ của sự tham gia của Brager và Specht [70, tr62-78]

Cấp độ tham gia Hành động của người tham gia

Tham gia vào lập kế hoạch

- có một sự kỳ vọng lớn hơn về từ thay đổi từ những nhà tổ chức

Có quyền

- cộng đồng được tham gia vào trong quá trình lập cộng đồng từ lúc lập dự án, nhưng vẫn còn các yếu tố từ trên xuống

Có quyền kiểm soát

- cộng đồng thực hiện cả xác định vấn đề và tìm cách giải

quyết

Sự phân chia của WB có phần đơn giản hơn Sự tham gia gồm 4 phương thức và cấp độ như chia sẻ thông tin, tham vấn, tranh luận hoặc hợp tác và cuối cùng là trao quyền [51, tr 32]

1.2 Tổng quan nghiên cứu

“Tham gia” là một thuật ngữ được đề cập rộng rãi trong các hoạt động chính trị, các nghiên cứu mang tính học thuật cũng như các nghiên cứu và hoạt động của các dự án

phát triển Ở nước ngoài, các nghiên cứu về sự tham gia nói chung và sự tham gia của

phụ nữ nói riêng cũng nhận được rất nhiều quan tâm của các học giả cũng như các tổ

Trang 16

chức thực hiện các dự án phát triển, đặc biệt như Ngân hàng thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á v.v

Về mặt lí luận, các nghiên cứu từ thập niên 60, 70 của thế kỷ XX đã tập trung mổ

xẻ các khía cạnh của sự tham gia Sự tham gia của cộng đồng được xem là quyền lực công dân (Sherry R Arnstein, 1969,1971) Arnstein đã phân chia sự tham gia thành 8 nấc thang tương ứng với 3 cấp độ, từ không tham gia tới các dấu hiệu có sự tham gia và tới các cấp độ quyền lực công dân Brager và Specht (1973) cũng đưa ra một phân tích về mức độ tham gia của cộng đồng với 7 cấp độ trên một thang hai cực, từ cực thấp là không tham gia tới cực cao là có quyền quản lý Như vậy, trao quyền là mục tiêu cuối cùng và là cấp độ cao nhất cần hướng tới khi thực hiện quá trình tham gia của một dự án, chương trình (Xem them Ruth Alsop, Mette Bertelsen và Jeremy Holland, 2006)

Về mặt thực nghiệm, các nghiên cứu nước ngoài dựa trên một phông kinh nghiệm dồi dào từ hàng loạt các dự án phát triển Sự tham gia trong các dự án phát triển của Ngân hàng thế giới là điển hình Có thể kể ra một loạt các nghiên cứu của Ngân hàng thế giới từ nhiều bối cảnh và hoạt động phong phú của rất nhiều dự án ở các nước khác nhau trên toàn thế giới như: Ruth Meinzen-Dick, Richard Reidinger, Andrew Manzardo (1995) bàn về sự tham gia trong dự án tưới tiêu nông nghiệp; Nat J Colletta, Gallian Perkins (1995) bàn về sự tham gia trong giáo dục; Gabrielle Watson, N Vijay Jagannathan (1995) bàn về sự tham gia trong lĩnh vực cấp nước và vệ sinh; Mary Schmidt, Alexandre Marc (1995) bàn về sự tham gia trong các hoạt động của các quỹ xã hội; Dan R Aronson, Ellen Tynan (1995) bàn về sự tham gia nền kinh tế và khu vực việc làm; Deepa Narayan (1995) bàn về việc thiết kế sự phát triển dựa trên cộng đồng v.v

Trong vấn đề về sự tham gia trên thì vấn đề giới, hay vấn đề sự tham gia của phụ

nữ được hết sức quan tâm trong các nghiên cứu Một nghiên cứu của Ngân hàng thế giới

(1996) khi bàn về các chủ đề then chốt và các yếu tố chung của sự tham gia đã nêu bật tầm quan trọng của việc hiểu và chứng minh sự khác biệt giới trong các vai trò, các hoạt

động, các nhu cầu và các cơ hội hội trong các bối cảnh đã cho (phân tích giới) Nó làm

nổi bật các vai trò khác biệt và các hành vi học hỏi của nam giới và nữ giới dựa trên các

Trang 17

thuộc tính giới Những sự khác biệt này thông qua văn hóa, giai tầng, chủng tộc, thu nhập, giáo dục và thời gian

Một trong những vấn đề xuất hiện trong các nghiên cứu sự tham gia của phụ nữ

vào dự án là thực trạng bất bình đẳng giới và làm sao để thúc đẩy sự tham gia của phụ

nữ trong dự án Đánh giá của Ngân hàng thế giới đối với 121 dự án cấp nước nông thôn

ở 49 nước Châu Á, Châu Phi và Châu Mĩ La tinh phát hiện ra rằng: thậm chí trong một khu vực mà phụ nữ gánh vác trách nhiệm lớn hơn thì họ chỉ đạt được 17% lợi ích từ các

dự án cấp nước đã được thiết kế một cách đặc biệt cho phụ nữ [69, tr67] Như vậy, sự tham gia của phụ nữ trong các dự án phát triển thường gặp phải những cản trở, những giới hạn nhất định của đặc điểm chính trị - kinh tế - xã hội – văn hóa Chính vì vậy, nghiên cứu về những yếu tố thúc đẩy và cản trở phụ nữ tham gia trong dự án nhận được

sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu

Bàn về các nhân tố ảnh hưởng tới sự tham gia chung của cộng đồng, nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra những yếu tố hạn chế và thúc đẩy sự tham gia Đó là: Một, sự thiếu

cam kết của chính phủ đối với việc chấp nhận cách tiếp cận có sự tham gia (với nghiên

cứu của Thomas Carroll; Conrad Kottak & cộng sự); Hai, sự không sẵn lòng của các viên

chức đối với việc từ bỏ quyền lãnh đạo đối với các hoạt động và các quyết định (với

Azefor & Bradley); Ba, sự thiếu các động cơ và các kỹ năng của cán bộ dự án để giúp họ chấp nhận cách tiếp cận có sự tham gia; Bốn, năng lực giới hạn của các tổ chức cấp địa

phương (tài chính và quản lý) và sự thiếu đầu tư trong việc xây dựng năng lực cộng đồng

(như Kottak và cộng sự; NIACONSULT); Năm, sự tham gia được bắt đầu triển khai quá

chậm (Della McMilan và cộng sự); Sáu, sự mất tin tưởng giữa chính quyền và các bên

tham gia cấp địa phương (Stephen Stern; Maria Mejia và cộng sự)

Maria Aycrigg (1998) bàn đến các lực cản về thể chế (đồng thuận quản lý; các giới hạn nguồn lực; sự tham vấn đối với sự tham gia và bằng chứng về các giá trị thêm về

sự tham gia); các lực cản trong quốc gia (năng lực của NGO và sự cam kết của chính quyền); những hưởng ứng mang tính thể chế như sự đầu tư vào nguồn lực con người; các

Trang 18

thủ tục và chính sách.[54, tr 62] Trond Vedeld (2001) xác định các các cản trở đối với sự tham gia gồm các cản trở trong quốc gia đối với sự tham gia của người hưởng lợi (cấu trúc đẳng cấp của các thiết chế ở Ấn Độ; sự thiếu hụt về sự cam kết của chính phủ và năng lực thể chế; tính đa dạng về cấu trúc, chuyên nghiệp và tổ chức; các thái độ và các văn hóa của những viên chức; sự thiếu hụt về năng lực của NGO đối với việc quản lý quá trình có sự tham gia; các lực cản từ năng lực địa phương [66, tr 423]

So với sự tham gia chung của cộng đồng, vấn đề phụ nữ đặc biệt đặc thù nên việc

xác định các yếu tố thúc đẩy và cản trở đối với sự tham gia của phụ nữ trong dự án cũng

có những đặc thù cần đi sâu mổ xẻ hơn: “Điểm yếu chung của các tổ chức cộng đồng trong khu vực dự án là thiếu sự lôi kéo phụ nữ tham gia, thậm chí mặc dầu hầu hết các lãnh đạo tổ chức cảm thấy rằng phụ nữ cam kết đối với tổ chức (và dành thời gian nhiều hơn cho sự tham gia) so với nam giới”[67, tr7] (Conrad Kottak – Chương trình phát triển nông thôn bắc Brazil)

Một nghiên cứu khác của Ngân hàng thế giới (1994) khi tập trung mổ xẻ các giới hạn đối với phụ nữ trong quá trình phát triển kinh tế như khoảng cách giới đang tồn tại trong giáo dục, sức khỏe; rào cản liên quan đến cán bộ dự án nơi mà phụ nữ bị giới hạn

về thời gian, và địa điểm của các cuộc gặp để trao đổi với các cán bộ nam giới này và việc tập huấn của các cán bộ nam giới mà không tính đến nhu cầu của phụ nữ Mặt khác, vai trò nặng nề đối với sự chăm sóc hộ gia đình hạn chế phụ nữ tham gia phát triển kinh

tế Hơn nữa, còn có các rào cản về pháp luật, hay vai trò kép của phụ nữ ở nhà và ở thị trường[67, tr37]

Sự tham gia của phụ nữ vào các dự án khác nhau cũng mang lại những điểm đặc thù khác nhau Đặc biệt là vấn đề sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực cấp nước và vệ

sinh, bởi vì, phụ nữ thường đóng vai trò quan trọng mang tính chủ chốt đối với sự thành

công của loại hình dự án này Các nghiên cứu về lĩnh vực này đã chỉ ra rằng mặc dù vai

trò quan trọng của phụ nữ trong việc quản lý nước và vệ sinh hộ gia đình, nhưng thường

xuất hiện các rào cản liên quan tới vị trí, cách thiết kế, cán bộ dự án, các vấn đề về lập

chương trình, ngăn phụ nữ tiếp cận tới dịch vụ Ví dụ ở Ấn Độ, do cách thiết kế thiết bị

Trang 19

cấp nước xa nhà ở khiến phụ nữ tách biệt với thiết bị cấp nước, do đó họ tiếp tục phải sử dụng nguồn nước ô nhiễm hơn là đi tới những thiết bị cấp nước hiện đại ở xa những căn nhà của họ [67, tr37]

Ở Việt Nam, tổng kết nghiên cứu trong 10 năm trở lại đây cho thấy các nghiên

cứu tập trung vào các lĩnh vực nổi bật như: Bất bình đẳng giới đối với phụ nữ thể hiện

trong phân công lao động nội trợ, các hoạt động kinh tế, sự chênh lệch giữa vai trò kinh

tế và địa vị trong gia đình (Mai Huy Bích, 1999; Lê Ngọc Văn, 1999; Lê Tiêu La, Lê Ngọc Hùng, 1998; Vũ Tuấn Huy và Deborah S.Carr, 2000, Trần Thị Vân Anh – Nguyễn Hữu Minh, 2008), trong việc giáo dục, định hướng cho con cái (Mai Huy Bích, 2003; Lê Thúy Hằng, 2006), trong mức sinh (Đặng Hà Phương, 2006), và các vấn đề khác

(Nguyễn Linh Khiếu, 2002) Bạo lực giới (Nguyễn Hữu Minh và cộng sự, 1999; Vũ

Hồng Phong, 2006; Hoàng Bá Thịnh, 2006; Trần Thị Vân Anh – Vũ Mạnh Lợi, 2006; Lê Thị Quý – Đặng Vũ Cảnh Linh, 2007) Ngoài ra, một số vấn đề khác như xích mích trong gia đình (Bùi Quang Dũng, 2002), vấn đề phụ nữ lấy chồng nước ngoài (Trần Thị Kim Xuyên, 2005; Phùng Thị Huế, 2006); giới trong di dân (Đặng Nguyên Anh, 2005) v.v

Một số nghiên cứu trực tiếp đề cập đến sự tham gia cộng đồng và của phụ nữ như:

Đỗ Hậu (2000) phân tích sự tham gia của cộng đồng đối với việc quy hoạch đô thị và phân chia sự tham gia của cộng đồng thành 4 giai đoạn theo chu trình dự án Nguyễn Khánh Bích Trâm (2001) xuất phát từ quan điểm giới để phân tích tác động của các chương trình tín dụng đối với các phụ nữ nghèo Nguyễn Thu Nguyệt (2004) cho rằng các yếu tố cản trở phụ nữ tham gia trong xóa đói giảm nghèo là tập quán, sự thiếu tôn trọng phụ nữ, địa vị thấp kém trong gia đình, khối lượng công việc nhà lớn…Lê Thị Quý (2004) cho biết nguyên nhân cản trở phụ nữ tham gia vào chương trình của dự án là: 1) Nam giới thường là chủ hộ; 2) Phong tục; 3) Phụ nữ chỉ đi họp về kế hoạch hóa gia đình; 4) Phụ nữ bận các công việc gia đình; 5) Sự hạn chế về trình độ văn hóa và hiểu biết về tiếng Kinh; 6) Định kiến xã hội đối với nữ giới Các nhóm chuyên gia của WB ở Việt Nam thường xuyên tiếp cận từ góc độ sự tham gia Các báo cáo đánh giá đói nghèo sử dụng cách tiếp cận có sự tham gia (Xem WB, 2003, 2004, 2005) hoặc Lê Ngọc Hùng

Trang 20

(2003) về sự hội nhập giới chỉ rõ sự tham gia của phụ nữ vào quá trình chuẩn bị và thực hiện dự án

Kết lại, chúng ta có thể tóm lược tình hình nghiên cứu về sự tham gia của phụ nữ

ở Việt Nam với mấy đặc điểm: 1) Các nghiên cứu về giới tương đối đa dạng, với nhiều chủ đề, đặc biệt là vấn đề bạo lực giới, bất bình đẳng giới; 2) Các nghiên cứu về sự tham gia chỉ được đề cập trên cấp độ cộng đồng nói chung, chưa đề cập nhiều tới sự tham gia của phụ nữ với nhiều đặc thù của nhóm đối tượng này; 3) Các nghiên cứu về phụ nữ và giới, cũng đã chỉ ra được các vấn đề tham gia của phụ nữ, nhưng chưa thể hiện được cách tiếp cận lí thuyết về sự tham gia như các nấc thang của việc tham gia, các yếu tố cản trở

và thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ…

Tóm lại, trên những thiếu sót của các nghiên cứu về giới và sự tham gia Việt Nam cũng như sự xuất hiện ngày càng nhiều các dự án phát triển như hiện nay, tác giả cho rằng nhu cầu nghiên cứu về sự tham gia của phụ nữ trong sự tham gia chung là một bổ sung hợp lý và cần thiết đối với vấn đề giới Do vậy, tác giả tiến hành nghiên cứu về vấn

đề “Sự tham gia của phụ nữ trong dự án phát triển Nghiên cứu trường hợp dự án cấp

nước tại thị trấn Tiên Lãng – Hải Phòng và thị trấn Nà Phặc – Bắc Cạn”

1.3 Các khái niệm công cụ

+ Dự án phát triển: là những dự án được xây dựng nhằm phục vụ cho đời sống của một bộ phận hay cộng đồng dân cư

Từ thập kỷ 80 của thế kỷ 20 trở lại đây, khi nhắc đến dự án phát triển, người ta thường gắn liền với khái niệm “dự án phát triển bền vững” Bởi lẽ, các dự án phát triển hiện nay đều được xây dựng với mục đích chung để phát triển bền vững

Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn

phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài

nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái "

Trang 21

Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi

trường và Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland) ghi rõ: Phát triển bền

vững là "sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng,

tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai " Nói cách khác,

phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ [65]

Trong các dự án các nhà tài trợ nước ngoài thực hiện, điều quan trọng bậc nhất là một dự án được xây dựng như thế nào để đảm bảo “phát triển bền vững” Trong đó, thiết

kế kỹ thuật phải đảm bảo sự hài hòa giữa các yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường

+ Dự án cấp nước cho các thị trấn nhỏ tại Việt Nam: đây là dự án do chính phủ Phần Lan (thông qua bộ ngoại giao Phần Lan) tài trợ không hoàn lại khoản tiền 20 triệu Euro cho Việt Nam nhằm giúp phần cải thiện điều kiện nước sinh hoạt và vệ sinh cho người dân theo mô hình Thiết kế - Xây dựng - Vận hành (DBL) cho 12 thị trấn của 4 tỉnh Bắc Cạn, Hưng Yên, Hải Phòng và Thái Bình

+ Thị trấn: Thị trấn là đô thị cấp V và là đơn vị hành chính tương đương cấp xã

(cấp hành chính thấp nhất của Việt Nam hiện nay) Thông thường, cơ quan quản lý Nhà nước cấp huyện được đặt ở một thị trấn, gọi là huyện lỵ, song không phải thị trấn nào cũng là huyện lỵ của một huyện

Tiêu chí để xét một khu vực dân cư là thị trấn hay xã thông thường gắn với tỷ lệ ngành nghề Tại khu vực xã, tỷ lệ dân số làm nông nghiệp (lâm nghiệp, ngư nghiệp) cao hơn so với một thị trấn Tại địa bàn một huyện, mật độ dân số tại các thị trấn thông thường cũng cao hơn so với mật độ dân số tại các xã [65]

+ Sự tham gia : “Sự tham gia là một quá trình, thông qua đó, những bên liên quan ảnh hưởng và chia sẻ việc quản lý đối với việc phát triển các sáng kiến , các quyết định

và nguồn lực ảnh hưởng đến chúng [69, tr30]

Trong tiếp cận tham gia, tham vấn và lắng nghe được xem là điều kiện tiên quyết thiết yếu cho sự tham gia Sự tham gia “phổ biến” là sự tham gia của người nghèo và

Trang 22

những người thiếu điều kiện thuận lợi về mặt sức khỏe, giáo dục, mang tính sắc tộc và giới [69, tr 6]

+ Bình đẳng giới: Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó [65]

Bình đẳng giới có thể hiểu là sự ngang bằng về mặt cơ hội giữa nam giới và phụ

nữ trong quá trình phát triển

Ngược lại, bất bình đẳng giới có thể được hiểu là sự không ngang bằng giữa nam giới và phụ nữ trong quá trình phát triển

+ Định kiến giới: Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ [65]

1.4 Các chính sách và bối cảnh xã hội của các chính sách về sự tham gia

1.4.1 Các chính sách của Việt Nam

Có thể nói, Việt Nam là một trong những nước bị ảnh hưởng bởi những tư tưởng Nho Giáo khá nặng nề Việc “trọng nam khinh nữ” là một trong những hậu quả của quá trình ảnh hưởng đó

Người phụ nữ Việt Nam thời phong kiến không có quyền hành gì đáng kể trong gia đình và xã hội Những quyết định đều do người đàn ông đảm nhận Phụ nữ chỉ đảm nhận vai trò “phụ” trong những quyết định của nam giới Sự ra đời của pháp luật nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (từ hiến pháp năm 1946 đến hiến pháp năm 1992) đã có nhiều điều khoản bảo vệ quyền của người phụ nữ

Để nâng cao các quyền về kinh tế cho nữ giới, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Sửa đổi đất đai năm 2003, trong đó có ghi rõ tất cả các giấy tờ liên quan đến quyền

sử dụng đất đều phải được cấp bao gồm tên của cả vợ và chồng

Các giấy tờ về quyền sử dụng đất giúp bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người phụ

nữ đối với tài sản đất đai đó

Trang 23

Những giấy tờ này cũng giúp nữ giới có thể vay vốn để đầu tư vào sản xuất kinh doanh, đồng thời cũng nhằm bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ trong trường hợp ly dị và phân chia tài sản

Bên cạnh đó, sự ra đời của Luật bình đẳng giới năm 2006 đánh dấu một mốc quan trọng việc bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ so với nam giới Luật Bình đẳng giới đã được Quốc hội khoá XI nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2006 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2007 Đây là văn bản pháp luật chuyên ngành đầu tiên và được xem là cơ sở pháp lý quan trọng giúp nhà nước quản lý hiệu quả hơn lĩnh vực bình đẳng giới

Ngày 27/4/2007, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TW về công tác

phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nghị quyết nêu rõ “phải

tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tiếp tục đổi mới công tác phụ nữ để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều hơn, chủ động hơn, đóng góp ngày càng lớn hơn cho sự phát triển của gia đình, cộng đồng, đất nước và thực hiện bình đẳng giới”

Cùng với Luật Bình đẳng giới, Nghị Quyết 11 nêu trên, Quốc hội và các cơ quan hữu quan đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác, tạo điều kiện cho việc thực hiện đồng bộ, thống nhất các quy định liên quan tới bình đẳng giới Cụ thể như: Luật phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Cán bộ, công chức, các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Bình đẳng giới, Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010

Trang 24

Điều 4 Mục tiêu bình đẳng giới

Mục tiêu bình đẳng giới là xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình

(Trích Luật bình đẳng giới năm 2006)

Qua đây, cho thấy rằng, luật pháp Việt Nam phản ánh nỗ lực đáng kể của đất nước trong xóa đói giảm nghèo và thực hiện cam kết thúc đẩy bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực Theo đánh giá của các tổ chức quốc tế, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đã tăng 4 bậc từ vị trí 109 lên 105 trong số 177 nước, chỉ số giới (GDI) đạt tăng hạng từ 109/177 nước lên 91/157, chỉ số khoảng cách giới đạt mức 0,678- đứng vị trí thứ

68 trong số 130 nước và trở thành quốc gia đạt được sự thay đổi nhanh chóng nhất trong xóa bỏ khoảng cách giới trong vòng 20 năm trở lại đây ở khu vực Đông Á [65]

Tuy nhiên, do ảnh hưởng nặng nề của chế độ xã hội cũ nên dù chủ ý hay vô tình, người phụ nữ cũng vẫn chỉ là “cái bóng” của nam giới trong gia đình cũng như ngoài xã hội Điều này thể hiện trong các lĩnh vực khác nhau: kinh tế, văn hóa, tham gia quản lý, hoạt động xã hội

1.4.2 Các chính sách về sự tham gia và các chính sách về giới của các nhà tài trợ quốc tế

Có thể nói, để được các tổ chức nước ngoài tài trợ cho những khoản tiền ưu đãi trong các dự án phát triển, các cơ quan hành chính của Việt Nam phải chịu “áp lực” nhất định trong việc phải tuân theo những quy định chặt chẽ về mặt môi trường và xã hội của các nhà tài trợ Việc đảm bảo an toàn về xã hội là một trong những “chính sách” mà các

tổ chức nước ngoài quan tâm nhất

Trang 25

mà tất cả các bên liên quan cảm thấy có mình trong đó, có quyền sở hữu và có thể ảnh hưởng đến tiến trình Hơn nữa, họ cho phép quá trình tham gia được dựa trên nội dung của tài liệu chiến lược về giảm nghèo và trên các vấn đề cụ thể ảnh hưởng trực tiếp đến từng nhóm của các bên liên quan [69, tr23]

1.4.2.2 Các chính sách về giới

Vấn đề giới là một phần nằm trong chính sách đảm bảo an toàn của nhà tài trợ Cụ thể vấn đề giới được coi là một trong những chính sách tác nghiệp của Ngân hàng thế giới cũng như các nhà tài trợ khác Tất cả các dự án, phân tích giới là một trong những mảng quan trọng, bắt buộc phải có khi phân tích về xã hội

Phân tích giới: một phương pháp phân tích xã hội Phân tích giới tập trung vào

hiểu và chứng minh sự khác biệt trong các vai trò, các hoạt động, các nhu cầu và các cơ hội trong các bối cảnh đã cho Phân tích giới bao gồm các dữ liệu định tính phân tách bởi yếu tố giới Nó làm nổi bật các vai trò khác biệt và các hành vi học hỏi của nam giới và

nữ giới dựa trên các thuộc tính giới Những sự khác biệt này thông qua văn hóa, giai tầng, chủng tộc, thu nhập, giáo dục và thời gian; vì vậy, phân tích giới không đối xử với

Trang 26

phụ nữ như một nhóm đồng nhất hay các thuộc tính giới như không thể thay đổi.[69, tr202]

Các nguyên lý cơ bản trong phân tích giới: 1) Lập kế hoạch như một quá trình: các chương trình định hướng tới sự hưởng ứng giới phụ thuộc vào các quá trình lập kế hoạch linh động có sự tương tác, điều chỉnh các mục tiêu dựa trên phản hồi, và làm cho những người kém thuận lợi có thể trở thành những người tham gia tích cực trong quá trình lập

kế hoạch; 2) Chuẩn đoán giới (gender diagnosis); 3) Các mục tiêu giới; 4) các chiến lược giới; 5) Giám sát và đánh giá giới Khung phân tích giới gồm: 1) Đánh giá nhu cầu; 2)

Hồ sơ các hoạt động; 3) Hồ sơ nguồn lực, cách tiếp cận và quản lý; 4) Phân tích lợi ích và động viên (incentives); 5) Các hạn chế và cơ hội thuộc thiết chế [69, tr201-203]

1.5 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu và dự án cấp nước cho các thị trấn nhỏ Việt Nam

Thị trấn Nà Phặc thuộc huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Cạn, được thành lập từ năm

1979, với diện tích tự nhiên là 6245 ha Sự ra đời của thị trấn là kết quả của việc sơ tán các cơ quan chính quyền tỉnh Cao Bằng do chiến tranh biên giới Việt Nam – Trung Quốc năm 1979 Trước năm 1979, đây là xã Thiều Quang, dân cư sống rải rác ở các khu vực xa đường quốc lộ Dân sơ tán của Cao Bằng về định cư ở hai bên quốc lộ 3, sau đó cùng dân dưới xuôi lên làm cho thị trấn ngày càng đông đúc Nà Phặc nằm cách thị xã Bắc Cạn khoảng 40 km theo hướng quốc lộ 3 Hà Giang – Bắc Cạn và cách thị trấn Ngân Sơn, thủ phủ của huyện Ngân Sơn khoảng 10 km cũng theo quốc lộ 3

Dân số của Nà Phặc năm 2004 là 1.387 hộ với 6.295 khẩu và năm 2005 là 1.390

hộ với 6.365 khẩu

Thị trấn Tiên Lãng nằm ở phía nam của thành phố Hải Phòng, là trung tâm kinh

tế, văn hoá và chính trị của huyện Tiên Lãng Diện tích tự nhiên là 739,6 ha Phía Đông của thị trấn giáp sông Văn Úc, phía Tây giáp xã Cấp Tiến và xã Tiên Thanh, phía Nam giáp xã Bạch Đằng và xã Quang Phục, phía Bắc giáp xã Quyết Tiến Tổng nhân khẩu trên toàn thị trấn là 11.814 người, lớn nhất huyện, tương đuơng với 3.033 hộ Tỷ lệ tăng dân số 3,98%/năm

Trang 27

Thị trấn Tiên Lãng hiện qui hoạch theo hướng đô thị, được chia thành 8 khu dân

cư trên cơ sở địa giới của 5 làng thuộc xã Minh Đức cũ Tiên Lãng được quyết định trở thành thị trấn từ năm 1987 Vẫn còn trên 70% hộ làm nông nghiệp, không có nghề phụ, cao hơn mức trung bình toàn quốc (67%) [64] Thu nhập từ sản xuất nông nghiêp là chính Ruộng đất hạn hẹp khoảng 220 m2/người) Trên địa bàn thị trấn cũng không có cơ

sở công nghiệp lớn nào, chỉ có một vài doanh nghiệp tư nhân

Dự án cấp nước cho các thị trấn nhỏ Việt Nam nằm trong khuôn khổ tài trợ của chính phủ Phần Lan cho chính phủ Việt Nam nhằm cải thiện điều kiện cơ sở hạ tầng Dự

án cấp nước cũng tuân thủ các bước theo đúng chu trình của một dự án đầu tư xây dựng

Chu trình của một dự án xây dựng được chia làm ba giai đoạn lớn: giai đoạn chuẩn bị dự án, giai đoạn thực hiện dự án và giai đoạn kết thúc dự án Tất cả các giai đoạn phải đi lần lượt từ trên xuống dưới, bất cứ một giai đoạn nào bị dừng lại thì dự án này coi như bị loại bỏ

Trang 28

Hình 1.3: Chu trình của một dự án đầu tư xây dựng

CHUẨN BỊ DỰ ÁN

THỰC HIỆN DỰ ÁN

KẾT THÚC DỰ ÁN Giai đoạn chuẩn bị dự án: đây là giai đoạn hình thành ý tưởng dự án Sự tham gia của người dân vào giai đoạn này chưa có Thậm chí những thông tin của giai đoạn này chưa được thông báo hay công bố rộng rãi tới người dân

Giai đoạn thực hiện dự án: Sự tham gia của người dân, nếu có, sẽ được thể hiện trong các giai đoạn lập dự án đầu tư xây dựng và giai đoạn thi công xây dựng Hai giai đoạn thiết kế và đấu thầu là hai giai đoạn người dân không biết và cũng không tham gia đến hai giai đoạn này

Giai đoạn kết thúc dự án: Có thể có sự tham gia của người dân nhưng mức tham gia đó là không nhiều

1.1 GIAI ĐOẠN HÌNH

THÀNH Ý TƯỞNG

1.2 GIAI ĐOẠN ĐỀ XUẤT Ý

TƯỞNG LẬP BÁO CÁO ĐẦU

TƯ XÂY DỰNG

2.1 GIAI ĐOẠN LẬP DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 2.2 GIAI ĐOẠN THIẾT KẾ 2.3 GIAI ĐOẠNĐẤU THẦU

2.4 GIAI ĐOẠN THI CÔNG XÂY DỰNG

3.1 GIAI ĐOẠN VẬN HÀNH THỬ VÀ BÀN GIAO 3.2 GIAI ĐOẠN BẢO HÀNH

XÂY LẮP

Trang 29

Nghiên cứu sẽ tập trung phân tích những giai đoạn có sự tham gia của người dân Giai đoạn xây dựng và vận hành bảo dưỡng là giai đoạn sự tham gia của người dân dừng lại ở góc độ giám sát việc thực hiện có đúng theo cam kết về quy chuẩn thực hiện ban đầu hay không

Giai đoạn lập dự án đầu tư xây dựng (2.1): đây là một giai đoạn có thể được coi là giai đoạn cần có sự tham gia của người dân nhiều nhất Giai đoạn này gồm các bước:

Hình 1.4 Các bước trong giai đoạn lập dự án đầu tư xây dựng

Khảo sát kinh tế xã hội: khảo sát kinh tế xã hội nhằm đưa ra thực trạng về tình hình cấp nước ở địa phương, hiện trạng dùng nước của người dân, nhu cầu dùng nước sạch của người dân, mức tiền mà người dân có thể chi trả cho việc dùng nước,…

Khảo sát cam kết đấu nối: sau khi lên phương án giá nước, mức nước dùng tối thiểu và những tiêu chuẩn kỹ thuật đối với hệ thống cấp nước dự định trong tương lai, các

hộ gia đình sẽ được thông báo những thông tin trên trước khi có đồng ý ký vào bản cam kết đấu nối hay không Dự án chỉ tiếp tục nếu trên 80% số hộ gia đình trong xã cam kết

sẽ đấu nối vào hệ thống cấp nước mới sau này

BÁO CÁO ĐẦU TƯ XÂY DỰNG

KHẢO SÁT KINH TẾ XÃ HỘI

Trang 30

Mục đích của khảo sát tái định cư: tham vấn người dân về giá đền bù, hình thức đền bù và hỗ trợ phục hồi dự án đối với những người bị ảnh hưởng về đất đai, tài sản và thu nhập Việc đền bù phải đảm bảo những người bị ảnh hưởng bởi dự án có mức sống ít nhất bằng hoặc hơn mức sống trước khi có dự án

Chiến dịch thông tin – giáo dục – truyền thông (IEC): đây là một trong những nội dung nằm trong dự án từ khi bắt đầu thực hiện dự án tại địa phương Chiến dịch này nhằm cung cấp những thông tin cho người dân hiểu về dự án, hiểu biết về lợi ích của nước sạch và vệ sinh, qua đó tăng cường việc sử dụng nguồn nước sạch (đặc biệt là sử dụng nước máy) nhằm đảm bảo sức khỏe của mình, gia đình và cộng đồng nơi mình sinh sống Bên cạnh đó, chiến dịch cũng nhằm tuyên truyền người dân bảo vệ nguồn nước và các công trình cấp nước được xây dựng sau này

Giám sát thực hiện: công việc giám sát của người dân tập trung chủ yếu trong giai đoạn dự án thi công xây dựng và vận hành, quản lý và bảo dưỡng nhà máy nước có theo đúng quy chuẩn hay không Nếu không theo đúng quy chuẩn, người dân có quyền khiếu kiện đối với những cá nhân/ đơn vị thực hiện vi phạm với cơ quan có thẩm quyền

Trang 31

CHƯƠNG 2: NHỮNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

2.1 Các biểu hiện sự tham gia của phụ nữ vào dự án

Nếu theo mô hình xây dựng dự án cấp nước trước kia của Việt Nam, mặc dù lợi ích từ việc xây dựng người dân sẽ được hưởng, nhưng liệu nó có thực sự phù hợp với người dân hay không thì đó không phải là điều quan tâm của chủ dự án Điều đó dẫn đến tình trạng, rất nhiều công trình đã được xây dựng nhưng lại bị “bỏ quên” hay “đắp chiếu”, người dân không sử dụng vì không phù hợp Chính vì lẽ đó, việc thúc đẩy người dân tham gia vào dự án nhằm giúp các công trình được xây dựng sau này phù hợp hơn với người dân chính là một trong những điều mà nhà tài trợ đặc biệt quan tâm Tuy nhiên, mong muốn này khi áp dụng vào Việt Nam cũng có những đặc thù riêng Mặc dù vậy, có thể nói, hình thức tham gia vào dự án của người dân được hưởng lợi từ hai nhà máy nước này khá đa dạng

2.1.1 Phụ nữ tham gia dưới hình thức “Nghe và biết thông tin về dự án”

Có thể nói, khởi nguồn của sự tham gia vào bất cứ một việc gì phải bắt nguồn từ việc “biết thông tin” về việc đó Muốn người dân quan tâm đến nhà máy nước, thông tin này phải được truyền đến người dân một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Nghe và biết thông

tin về dự án xoay quanh việc: nghe và biết thông tin gì? – nghe từ đâu? – Mức độ kiểm tra lại độ chính xác thông tin được nghe/biết như thế nào?

Hình 2.1 : Những thông tin về dự án mà người dân nghe và biết

Những thông tin

về dự án

Nguồn thông tin từ đâu?

Nghe và biết những thông tin

tra lại độ chính xác thông tin

Trang 32

Một dự án có rất nhiều thông tin về bản thân nó Dự án cấp nước cũng vậy, có rất nhiều vấn đề liên quan về mặt kỹ thuật (công suất, nguồn nước, quá trình xử lý, vị trí nhà máy nước, đối tượng hưởng lợi, tổng mức đầu tư, giá nước, ),về xã hội: (ảnh hưởng đến đất đai và tài sản, lợi ích gì về mặt xã hội,…), về môi trường (việc xây dựng nhà máy ảnh hưởng đến môi trường và cảnh quan như thế nào, mức độ gây ô nhiễm không khí,…), và những thông tin về nhà tài trợ, thời gian tiến hành dự án, cơ quan nào là người quản lý nhà máy nước,…

Tuy nhiên, quá trình nghe thông tin về dự án cấp nước là một quá trình mang tính chọn lọc, không phải bất cứ một thông tin nào người dân cũng nghe và cảm thấy cần được nghe và biết

Phỏng vấn một trường hợp nữ tại Tiên Lãng cho thấy: biết thông tin là có dự án nhưng chưa biết chính xác về thời gian bắt đầu triển khai dự án (2,3 năm trước), vị trí nhà máy nước dự kiến được xây dựng, nhà tài trợ dự án và nhầm lẫn đối tượng phục

vụ cấp nước cho dự án (người trả lời cho rằng đó là toàn dân của huyện vì nhà máy nước được xây dựng ở trung tâm huyện, trong khi đó, dự án chỉ cấp nước cho duy nhất thị trấn Tiên Lãng, chứ không cấp nước cho các xã lân cận thuộc huyện Tiên Lãng) (PV1, nữ, 60 tuổi, khu 1, thị trấn Tiên Lãng)

Nhiều thông tin người dân nghe được mang tính phỏng đoán (tự suy ra) xong thực

tế không phải như vậy Như trường hợp trên đây, mặc dù dự án cấp nước tại thị trấn Tiên Lãng chỉ phục vụ cho người dân thị trấn, tuy nhiên, theo sự suy đoán của người dân thì nhà máy nước phục vụ cho “cả huyện đó thôi tại vì nó (vị trí nhà máy nước) ở trung tâm huyện ”

Điều này không chỉ xảy ra với một công trình đang xây dựng mà còn xảy ra đối với một công trình cấp nước đã đi vào bắt đầu hoạt động không lâu

Hỏi: Bác có biết Nhà máy nước được xây dựng ở khu vực nào không?

Trả lời: ở Quẩy Thây đó

Trang 33

Hỏi: Thế bác có biết cơ quan hay tổ chức nào quản lý Nhà máy nước này không ạ? Trả lời: thực chất là tôi cũng không nắm được cái này

(PV28, nam, 66 tuổi, khu 2, thị trấn Nà Phặc)

Có rất nhiều thông tin mà người dân quan tâm, tuy nhiên thông tin đến tai người dân cũng đã từng qua rất nhiều nguồn thông tin khác nhau nên dễ bị sai lệch Hơn nữa, nhiều thông tin nếu có sai thì cũng không ảnh hưởng gì (như thông tin về nhà tài trợ) nên bản thân dân thấy không nhất thiết phải nhớ một cách chính xác Dường như có một sự khác biệt thông tin ưu tiên được nghe giữa nam giới và phụ nữ

Bảng 2.1: Sự khác biệt về thông tin ưu tiên của nam giới và phụ nữ

Ưu tiên 1: Thời gian có nước dùng

Ưu tiên 2: Nguồn nước lấy ở đâu, vị trí xây

dựng nhà máy

Ưu tiên 3: Giá nước

Ưu tiên 1: Giá nước

Ưu tiên 2: Thời gian có nước dùng

Ưu tiên 3: Dự án có hỗ trợ gì hay không (tiền đấu nối, hỗ trợ hộ nghèo,…)

Dường như phụ nữ có xu hướng quan tâm đến những vấn đề liên quan đến “tài chính phải chi” khi sử dụng nước, trong khi đó, nam giới quan tâm nhiều đến vấn đề kỹ thuật hơn Điều này có thể giải thích phụ nữ là người quản lý chi tiêu trong gia đình, vì vậy những vấn đề tài chính thường được họ để ý xem liệu có “tốn tiền” hay ảnh hưởng đến chi tiêu của gia đình mình hay không Trong khi đó, vấn đề “tiền” không phải là vấn

đề quan tâm hàng đầu của nam giới, mà họ thường quan tâm đến vấn đề tiện ích của dự

án cấp nước mang lại

Bên cạnh đó, dường như còn có sự khác biệt về thông tin người dân nghe được của người dân ở thị trấn Tiên Lãng và Nà Phặc

Trang 34

Bảng 2.2: Thông tin nghe được của người dân thị trấn Tiên Lãng và thị trấn Nà Phặc

Người dân thị trấn Tiên Lãng Người dân thị trấn Nà Phặc

2 Thời gian bắt đầu cấp nước

3 Mất bao nhiêu tiền để mắc được nước sạch

Thu nhập bình quân đầu người ở thị trấn Tiên Lãng là 338.000 đồng/người/tháng,

Nà Phặc là 317.000 đồng/người/tháng Trung bình mỗi người chi là 14.700 đồng/tháng tại Tiên Lãng và 6.416 đồng/tháng cho việc dùng nước [45, tr10], [46, tr8] Do vậy, có thể “giá nước” và “chi phí lắp đặt” không phải là quan tâm hàng đầu của người dân Tiên Lãng, trong khi đó, nó lại là quan tâm hàng đầu của người dân Nà Phặc

Về nguồn thông tin mà người dân thu được ở hai thị trấn cũng có khác nhau

Bảng 2.3: Nguồn thông tin về dự án nước sạch tại hai thị trấn Tiên Lãng và Nà Phặc

- Qua những hội nghị, tham quan

tại Hà Nội do nhà tài trợ tổ chức

- Qua các cuộc họp của UBND xã

- Qua các cuộc họp thôn và chi hội

- Qua hội phụ nữ tỉnh tuyên truyền

- Qua cuộc họp của UBND xã

- Qua các cuộc họp thôn và chi hội phụ nữ

- Qua tuyên truyền trực tiếp tới hộ gia đình (tuyên truyền viên tới tất cả các hộ)

Trang 35

Để tránh thông tin tới tuyên truyền viên sai lệch, chương trình nước Phần Lan tổ chức tập huấn cho các tuyên truyền viên trực tiếp tại Hà Nội và đi tham quan mô hình nhà máy nước Yên Phụ

Một khác biệt giữa hai thị trấn là người dân tại Nà Phặc thu nhận thông tin trực tiếp qua các tuyên truyền viên (qua hộ gia đình và các buổi phiên chợ), nhưng người dân tại thị trấn Tiên Lãng lại thu nhận thông tin qua các buổi họp thôn là chủ yếu

Dường như cũng có sự khác nhau giữa nguồn thông tin thu được giữa nam và nữ

Bảng 2.4 Nguồn thu nhận thông tin của nam giới và phụ nữ

1 Các hội nghị và tham quan do nhà tài trợ

2 Các cuộc họp với UBND xã

3 Các cuộc họp thôn, hội phụ nữ

4 Các cuộc trao đổi giữa chị em trong phiên chợ và hàng ngày

5 Từ người chồng

Điều này cho thấy, phụ nữ thu nhận thông tin từ nhiều nguồn hơn nam giới, đặc biệt, hình thức trao đổi giữa các chị em trong các buổi phiên chợ (ở Nà Phặc) được coi là

một kênh truyền thông khá hiệu quả “Thôn tôi có 1 tổ người dân tộc ở rất xa, cách

khoảng 4km đó là khu Khuẩy Thây Liên lạc lên đó còn khó vì bà tổ trưởng điện thoại cũng không có, phải nhắn trẻ em đi học Hoặc các phiên họp trong các ngày chợ, bà con

đi chợ rồi đi trao đổi luôn” (PV21, nam, 50 tuổi, khu 1, thị trấn Nà Phặc)

Kênh thông tin từ người vợ/chồng là một kênh thông tin khá phổ biến ở Tiên Lãng, tuy nhiên đối với chị em vùng cao (Nà Phặc) lại có đặc điểm thường không trao đổi với chồng mình khi đi họp về, lý do chồng thường say xỉn không biết gì nên chị em

không trao đổi lại và tự quyết định luôn “Chị em ở đây đi họp thường ít về trao đổi với

chồng lắm, vì các ông chồng không đi họp thường ở nhà say xỉn, có trao đổi thì cũng biết

Trang 36

gì đâu, lại tưởng bị mắng chửi, lại đánh đập vợ con ấy chứ Nên chị em thường chả nói

gì với các ông ấy đâu”.(PV18, Nữ, 50 tuổi, thôn Bản Cày, thị trấn Nà Phặc)

Không phải tất cả thông tin mà người dân nghe được về dự án đều trở thành sự hiểu biết về dự án của người dân Một số người nghe xong nhưng không quan tâm, một

số người “nghe đến đâu, biết đến đó” Tuy nhiên việc kiểm tra lại nguồn thông tin này thì nam giới có xu hướng thực hiện “kiểm tra lại thông tin” nhiều hơn so với nữ giới

Bảng 2.5: Việc kiểm tra trực tiếp thông tin thu nhận được giữa nam giới và phụ nữ

2 Đoán và nghe nói nhà máy đã được xây đến đâu rồi

3 Đoán là lấy nguồn nước ở đâu và không quan tâm đến việc xử lý thế nào (chỉ biết là đảm bảo chất lượng)

Phụ nữ có xu hướng “nghe người ta nói thế” và “chắc thế”, ít tự mình đi xem tận

nơi: “…khoan sâu 100m, người ta bảo thế không biết có phải không…”(PV3, nữ, 60

tuổi, khu 1, thị trấn Tiên Lãng) Còn nam giới lại đi tìm hiểu tận nơi xem nguồn nước

và cách xử lý “…có qua mấy lần thấy xây dựng nhà cửa, tường bao kiên cố lắm … ở

ngoài thì có máy lọc, còn trong đấy thì có cả bể xử lý nữa Trong đó là khu tổ hợp, nguồn nước dẫn về và xử lý ở đó” (PV29, nam, 44 tuổi, thị trấn Nà Phặc)

Nguyên nhân khác nhau đầu tiên là do tâm lý nam giới muốn tìm hiểu cặn kẽ về mặt kỹ thuật hơn phụ nữ Nguyên nhân thứ hai là nam giới có nhiều thời gian để đi “kiểm chứng” những thông tin này hơn Phụ nữ ngoài công việc sản xuất ra còn công việc nội trợ và con cái đã chiếm hết quỹ thời gian của phụ nữ, nên việc biết thông tin và công nhận thông tin qua cách “nghe ngóng” cũng là một trong những đặc trưng của phụ nữ khi tham gia vào dự án

Trang 37

2.1.2 Phụ nữ tham gia bằng hình thức “đóng góp tiền bạc và lao động cho dự án”

Theo kết quả khảo sát kinh tế xã hội giai đoạn chuẩn bị đầu tư của dự án gần 92%

các hộ gia đình tại thị trấn Tiên Lãng mong muốn đóng góp cho việc xây dựng nhà máy

nước Trong khi đó, con số này là 99,4% tại thị trấn Nà Phặc [45, tr6]

Hình 2.2: Tỉ lệ hình thức mong muốn đóng góp vào việc xây dựng nhà máy nước (%)

75.2

21.3 3.5

83.4 16.60

Qua đây cho thấy hầu hết người dân đều mong muốn được đóng góp vào quá trình xây dựng nhà máy nước, trong đó, hình thức đóng góp bằng tiền là hình thức mong muốn phổ biến hơn cả ở cả hai thị trấn

Trang 38

Tuy nhiên, dự án cấp nước do chính phủ Phần Lan tài trợ người dân được hoàn toàn miễn phí khi lắp đặt, chỉ khi nào người dân sử dụng nước hết bao nhiêu thì sẽ phải trả tiền bấy nhiêu Việc lao động công ích (đào đường lắp đặt đường ồng, hoàn trả lại mặt bằng khi đường ống đi qua,…) là do người dân hoàn toàn tự nguyện

Tại Nà Phặc, tham gia bằng lao động chân tay vào dự án khiến mọi người có cảm

giác mình gắn bó với dự án hơn “Người dân ở đây tham gia lao động nhiều chứ, như hồi

đào đường ống nước ấy, ai cũng vui vẻ xắn tay vào cùng đào đường ống nước, vui lắm,…”(PV28, nam, 66 tuổi, khu 2, thị trấn Nà Phặc) Tuy nhiên, điều này dường như có

sự khác biệt so với Tiên Lãng, khái niệm “tham gia” theo quan niệm của người dân Tiên

Lãng chỉ đơn thuần “đồng ý cho làm” là đủ: “Nói chung là dân tình thứ nhất là họ hiểu

ủng hộ dự án, sau đó người ta tuyên truyền cho người xung quanh Hay là ví dụ như dự

án mà cần dùng đến những chỗ đất đai vào phạm vi của họ họ cũng sẵn sàng, ví dụ như giải tỏa mặt bằng cần dùng, nhiều khi đường ống đi qua trong nhà người ta người ta cũng đồng ý cho đào, thế là sự giúp đỡ của người ta quá cao rồi còn gì…” (PV4, nữ, 44

tuổi, khu 4, thị trấn Tiên Lãng)

Điều này có những điểm khác biệt với người dân tộc Tày và Nùng ở Nà Phặc, có thể đây là một nét đặc trưng của người dân tộc thiểu số, họ sống tình cảm, chân thật,

“giúp được thì giúp”, không ngại đó là việc gì Nét văn hóa của người dân Nà Phặc còn thể hiện ở chỗ, việc tham gia đào đường ống nước còn là một công việc của người phụ nữ

tham gia được “Cũng có (đóng góp cho dự án) chứ, chị em tham gia nhiều hoạt động

lắm, từ tuyên truyền, vận động họp hành cho bà con, đến lao động công ích, đặt ống nước thôi thì đủ cả… phụ nữ tham gia hết các hoạt động của dự án, như chú nói trước đó, thậm chí đi đào đường ống nước phụ nữ cũng tham gia…” (PV29, nam, 44

tuổi, thôn Bản Cày, thị trấn Nà Phặc)

Thậm chí phụ nữ còn tham gia nhiều hơn vào công việc này do những yếu tố

khách quan “Công dân ở đây thì không phân biệt gì cả, đi làm hết, mà cũng chỉ đào

đường ống, đặt ống rồi lấp đi thôi Phụ nữ thường đi làm gần hay ở nhà chạy chợ thì

Trang 39

tham gia được chứ nam giới nhiều anh đi làm ăn xa thì khó tham gia hơn” (PV28, nam,

66 tuổi, khu 2, thị trấn Nà Phặc)

2.1.3 Phụ nữ tham gia dự án bằng hình thức “tuyên truyền cho người khác”

Để nhà máy nước xây dựng xong có thể hoạt động được, cần phải có đủ một lượng người sử dụng nước nhất định Tuy nhiên việc sử dụng nước này lại không phải là miễn phí, người dân dùng nước phải trả tiền Việc phải “trả tiền” như vậy khiến cho nhiều người phải cân nhắc đến tính lợi ích của việc dùng nước

Do vậy, một trong những nhiệm vụ của dự án là làm sao tuyên truyền vận động người dân tham gia sử dụng nước càng nhiều càng tốt Một trong những tiêu chí để có thể tiếp tục triển khai dự án tại địa phương là “ít nhất 80% số hộ gia đình trong khu vực dự

án cam kết đấu nối sử dụng sau khi công trình được hoàn thành” Do đó, việc tuyên truyền là công việc mà chủ dự án và địa phương đã tính tới Ngay từ ban đầu, Ban quản lý dự

án và Ủy ban nhân dân thị trấn đã thành lập mỗi thị trấn một đội tuyên truyền viên (gồm trưởng khu và Hội phụ nữ) nhằm tuyên truyền vận động người dân sử dụng nước sạch Ở cả hai thị trấn Tiên Lãng và Nà Phặc, nhìn chung tỉ lệ nữ so với nam trong đội tuyên truyền viên này bằng hoặc cao hơn Ở Nà Phặc, 15/25 người trong đội tuyên truyền viên là nữ Ở Tiên Lãng, 7/14 người trong đội tuyên truyền viên là nữ

Việc tuyên truyền có thể phân ra: Tuyên truyền cái gì? – Tuyên truyền cho ai? – Tuyên truyền bằng hình thức nào?

Hình 2.4: Việc tuyên truyền của phụ nữ trong khu vực dự án

Tuyên truyền cho ai?

Tuyên truyền bằng hình thức nào?

Tuyên truyền cái gì?

Tuyên truyền

về dự án

Trang 40

Mục đích của tuyên truyền là để cho mọi người hiểu về dự án và cam kết đấu nối

sử dụng

Bảng 2.6 : Nội dung tuyên truyền của các tuyên truyền viên của hai thị trấn

1 Lợi ích khi sử dụng nước sạch

2 Nguồn nước cũ không đảm bảo vệ sinh, nước

máy mới đảm bảo vệ sinh

3 Được miễn phí toàn bộ khi tham gia dự án

4 Đây là sự ưu tiên của nhà nước đối với địa

phương

5 Kinh nghiệm dùng nước sạch của bản thân

6 Bảo vệ nguồn nước máy

7 Những bất lợi tham gia sau khi dự án hoàn thành

(đối với Nà Phặc) thì các Tuyên truyền viên lại chưa giải thích được “Có nước sạch sử

dụng thì tốt, còn mua bán nước như thế nào thì người ta, ban quản lý nước ấy, người ta

có barem (khung giá) của người ta Như thế nào thì người ta có hết rồi, bây giờ người dân nếu mà dùng nước mất tiền ấy thì chắc chắn là khó khăn …” (PV29, nam, 44 tuổi,

Điều này cho thấy, việc tuyên truyền ở địa phương không hẳn lúc nào cũng rõ ràng, người dân tin vào tuyên truyền viên hơn là tin vào một con số cụ thể

Về nội dung tuyên truyền cũng có sự khác biệt giữa nam giới và phụ nữ

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đặng Nguyên Anh (2005), “Chiều cạnh giới của di dân lao động thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Tạp chí Xã hội học, số 2 (90): tr23-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiều cạnh giới của di dân lao động thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Đặng Nguyên Anh
Năm: 2005
3. Nguyễn Thị Vân Anh (2006), “Sinh kế và tiếp cận nguồn lực đất đai của phụ nữ tại hai xã nông thôn đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ”. Tạp chí Xã hội học, số 2 (95): tr87-94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh kế và tiếp cận nguồn lực đất đai của phụ nữ tại hai xã nông thôn đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ
Tác giả: Nguyễn Thị Vân Anh
Năm: 2006
5. Mai Huy Bích (2003), “Vài nhận xét về vai trò chăm sóc và dạy dỗ của người cha”. Tạp chí Xã hội học, số 2 (82): tr13-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nhận xét về vai trò chăm sóc và dạy dỗ của người cha
Tác giả: Mai Huy Bích
Năm: 2003
7. Nguyễn Văn Chính (1999), “Cấu trúc trọng nam trong gia đình và tập quán sinh để của người Việt”. Tạp chí Xã hội học số 3&4 (67&68): tr85-96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc trọng nam trong gia đình và tập quán sinh để của người Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Chính
Năm: 1999
8. Bùi Quang Dũng (2002), “Giải quyết xích mích trong nhóm gia đìnHỏi: phác thảo từ những kết quả nghiên cứu định tính”. Tạp chí Xã hội học, Số 1 (77): tr29-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết xích mích trong nhóm gia đìnHỏi: phác thảo từ những kết quả nghiên cứu định tính
Tác giả: Bùi Quang Dũng
Năm: 2002
9. Trần Thị Minh Đức, Đỗ Hoàng (2001), “Áp lực xã hội đối với vai trò trụ cột của người đàn ông”, Tạp chí Xã hội học số 4 (76): tr32-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp lực xã hội đối với vai trò trụ cột của người đàn ông
Tác giả: Trần Thị Minh Đức, Đỗ Hoàng
Năm: 2001
10. Bùi Thị Thanh Hà (2004), “Hiểu biết của nữ công nhân đối với Bộ luật lao động. (Qua nghiên cứu một số doanh nghiệp công nghiệp tại Hà Nội)”. Tạp chí xã hội học, số 2 (86):tr65-75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiểu biết của nữ công nhân đối với Bộ luật lao động. (Qua nghiên cứu một số doanh nghiệp công nghiệp tại Hà Nội)
Tác giả: Bùi Thị Thanh Hà
Năm: 2004
12. Phùng Tố Hạnh và Đào Việt Dũng (1999), “Một vài nhận xét về sự tham gia của cộng đồng qua đánh giá các dự án xây dựng hệ thống cấp nước bằng đường ống”. Tạp chí Xã hội học. Số 1 (65): tr66-72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài nhận xét về sự tham gia của cộng đồng qua đánh giá các dự án xây dựng hệ thống cấp nước bằng đường ống
Tác giả: Phùng Tố Hạnh và Đào Việt Dũng
Năm: 1999
13. Lê Thúy Hằng (2006), “Khác biệt giới trong dự định đầu tƣ của bố mẹ cho việc học của con cái. (Nghiên cứu trường hợp tại xã Lộc Hòa, Nam Định)”, Tạp chí Xã hội học, số 2 (94): tr28-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khác biệt giới trong dự định đầu tƣ của bố mẹ cho việc học của con cái. (Nghiên cứu trường hợp tại xã Lộc Hòa, Nam Định)
Tác giả: Lê Thúy Hằng
Năm: 2006
14. Đỗ Hậu (2000), “Sự tham gia của cộng đồng dân cƣ trong công tác quy hoạch xây dựng đô thị ở Việt Nam”. Tạp chí Xã hội học, số 3 (71): tr92-96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tham gia của cộng đồng dân cƣ trong công tác quy hoạch xây dựng đô thị ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Hậu
Năm: 2000
16. Phùng Thị Huế (2006), “Phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan: hiện trạng và một số định hướng chính sách”. Tạp chí Xã hội học, số 2 (94): tr74-83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan: hiện trạng và một số định hướng chính sách
Tác giả: Phùng Thị Huế
Năm: 2006
17. Vũ Tuấn Huy (2002), “Vai trò của người cha trong gia đình”. Tạp chí Xã hội học, số 4 (80): tr29-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của người cha trong gia đình
Tác giả: Vũ Tuấn Huy
Năm: 2002
18. Vũ Tuấn Huy, Deborah S.Carr (2000), “Phân công lao động nội trợ trong gia đình”. Tạp chí Xã hội học số 4 (72): tr43-52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân công lao động nội trợ trong gia đình
Tác giả: Vũ Tuấn Huy, Deborah S.Carr
Năm: 2000
19. Trần Thị Kim (2003), “Ảnh hưởng của học vấn đề sự tham gia và quyền ra quyết định của phụ nữ nông thôn tỉnh Quảng Ngãi trong thiết chế gia đình. Qua nghiên cứu 3 xã thuộc tỉnh Quảng Ngãi.” Tạp chí Xã hội học, số 1 (81): tr58-64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của học vấn đề sự tham gia và quyền ra quyết định của phụ nữ nông thôn tỉnh Quảng Ngãi trong thiết chế gia đình. Qua nghiên cứu 3 xã thuộc tỉnh Quảng Ngãi
Tác giả: Trần Thị Kim
Năm: 2003
21. Nguyễn Văn Khang (2004), “Xã hội học ngôn ngữ về giới: kì thị và kế hoạch hóa ngôn ngữ chống kì thị đối với nữ giới trong sử dụng ngôn ngữ”, Tạp chí xã hội học, số 2 (86):tr25-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học ngôn ngữ về giới: kì thị và kế hoạch hóa ngôn ngữ chống kì thị đối với nữ giới trong sử dụng ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Văn Khang
Năm: 2004
22. Nguyễn Linh Khiếu (2002), “Vị thế của phụ nữ trong một số vấn đề của gia đình”. Tạp chí Xã hội học, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị thế của phụ nữ trong một số vấn đề của gia đình
Tác giả: Nguyễn Linh Khiếu
Năm: 2002
23. Lê Tiêu La, Lê Ngọc Hùng (1998), “Vấn đề giới trong kinh tế hộ: tìm hiểu phân công lao động nam nữ trong gia đình ngƣ dân ven biển miền Trung”, Tạp chí Xã hội học, Số 3 24. Vũ Mạnh Lợi (2000), “Một số quan điểm lý thuyết về giới trong nghiên cứu gia đình.”Tạp chí Xã hội học, số 4 (72): tr12-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giới trong kinh tế hộ: tìm hiểu phân công lao động nam nữ trong gia đình ngƣ dân ven biển miền Trung”, Tạp chí Xã hội học, Số 3 24. Vũ Mạnh Lợi (2000), “Một số quan điểm lý thuyết về giới trong nghiên cứu gia đình
Tác giả: Lê Tiêu La, Lê Ngọc Hùng (1998), “Vấn đề giới trong kinh tế hộ: tìm hiểu phân công lao động nam nữ trong gia đình ngƣ dân ven biển miền Trung”, Tạp chí Xã hội học, Số 3 24. Vũ Mạnh Lợi
Năm: 2000
25. Võ Thị Mai (2001), “Trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ và hiểu biết xã hội của phụ nữ Quảng Ngãi trong thời kỳ đổi mới”. Tạp chí Xã hội học, Số 3 (75): tr51-58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ và hiểu biết xã hội của phụ nữ Quảng Ngãi trong thời kỳ đổi mới
Tác giả: Võ Thị Mai
Năm: 2001
68. Anita Kelles-Viitanen (2002). Opinion Participation: A Key for Stability and sustainable Change. The views of the poor and experts must be seen as complementaryfor development tosucceed.http://www.adb.org/Documents/Periodicals/ADB_Review/2002/vol34_2/participation.asp truy cập ngày 1/6/2009 Link
69. Asian Development Bank (2006), Strengthening Participation for Development Results:A Staff Guide to Consultation and Participation.http://www.adb.org/Documents/guidelines/strengthening-participation-for-dev/default.asp truy cập ngày 1/6/2009 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Tám nấc thang của sự tham gia (S.Arnstein 1969)  [52, tr3] - Sự tham gia của phụ nữ trong các dự án cấp nước cho các đô thị nhỏ (nghiên cứu Chương trình cấp thoát nước Phần Lan tại Hải Phòng và Bắc Cạn
Hình 1.1 Tám nấc thang của sự tham gia (S.Arnstein 1969) [52, tr3] (Trang 14)
Hình 1.2: Các mức độ của sự tham gia của Brager và Specht  [70, tr62-78] - Sự tham gia của phụ nữ trong các dự án cấp nước cho các đô thị nhỏ (nghiên cứu Chương trình cấp thoát nước Phần Lan tại Hải Phòng và Bắc Cạn
Hình 1.2 Các mức độ của sự tham gia của Brager và Specht [70, tr62-78] (Trang 15)
Hình 1.3: Chu trình của một dự án đầu tƣ xây dựng - Sự tham gia của phụ nữ trong các dự án cấp nước cho các đô thị nhỏ (nghiên cứu Chương trình cấp thoát nước Phần Lan tại Hải Phòng và Bắc Cạn
Hình 1.3 Chu trình của một dự án đầu tƣ xây dựng (Trang 28)
Hình 1.4. Các bước trong giai đoạn lập dự án đầu tư xây dựng - Sự tham gia của phụ nữ trong các dự án cấp nước cho các đô thị nhỏ (nghiên cứu Chương trình cấp thoát nước Phần Lan tại Hải Phòng và Bắc Cạn
Hình 1.4. Các bước trong giai đoạn lập dự án đầu tư xây dựng (Trang 29)
Hình  2.1 : Những thông tin về dự án mà người dân nghe và biết - Sự tham gia của phụ nữ trong các dự án cấp nước cho các đô thị nhỏ (nghiên cứu Chương trình cấp thoát nước Phần Lan tại Hải Phòng và Bắc Cạn
nh 2.1 : Những thông tin về dự án mà người dân nghe và biết (Trang 31)
Bảng 2.2: Thông tin nghe được của người dân thị trấn Tiên Lãng và thị trấn Nà Phặc - Sự tham gia của phụ nữ trong các dự án cấp nước cho các đô thị nhỏ (nghiên cứu Chương trình cấp thoát nước Phần Lan tại Hải Phòng và Bắc Cạn
Bảng 2.2 Thông tin nghe được của người dân thị trấn Tiên Lãng và thị trấn Nà Phặc (Trang 34)
Bảng 2.3: Nguồn thông tin về dự án nước sạch tại hai thị trấn Tiên Lãng và Nà Phặc - Sự tham gia của phụ nữ trong các dự án cấp nước cho các đô thị nhỏ (nghiên cứu Chương trình cấp thoát nước Phần Lan tại Hải Phòng và Bắc Cạn
Bảng 2.3 Nguồn thông tin về dự án nước sạch tại hai thị trấn Tiên Lãng và Nà Phặc (Trang 34)
Bảng 2.4. Nguồn thu nhận thông tin của nam giới và phụ nữ - Sự tham gia của phụ nữ trong các dự án cấp nước cho các đô thị nhỏ (nghiên cứu Chương trình cấp thoát nước Phần Lan tại Hải Phòng và Bắc Cạn
Bảng 2.4. Nguồn thu nhận thông tin của nam giới và phụ nữ (Trang 35)
Bảng 2.5: Việc kiểm tra trực tiếp thông tin thu nhận đƣợc giữa nam giới và phụ nữ - Sự tham gia của phụ nữ trong các dự án cấp nước cho các đô thị nhỏ (nghiên cứu Chương trình cấp thoát nước Phần Lan tại Hải Phòng và Bắc Cạn
Bảng 2.5 Việc kiểm tra trực tiếp thông tin thu nhận đƣợc giữa nam giới và phụ nữ (Trang 36)
Hình 2.2: Tỉ lệ hình thức mong muốn đóng góp vào việc xây dựng nhà máy nước (%) - Sự tham gia của phụ nữ trong các dự án cấp nước cho các đô thị nhỏ (nghiên cứu Chương trình cấp thoát nước Phần Lan tại Hải Phòng và Bắc Cạn
Hình 2.2 Tỉ lệ hình thức mong muốn đóng góp vào việc xây dựng nhà máy nước (%) (Trang 37)
Hình  thức  đóng  góp  dường  như  không  có  sự  khác  biệt  nhiều  về  giới  (p=0,612),  nhưng lại có xu hướng khác biệt về vùng miền - Sự tham gia của phụ nữ trong các dự án cấp nước cho các đô thị nhỏ (nghiên cứu Chương trình cấp thoát nước Phần Lan tại Hải Phòng và Bắc Cạn
nh thức đóng góp dường như không có sự khác biệt nhiều về giới (p=0,612), nhưng lại có xu hướng khác biệt về vùng miền (Trang 37)
Hình 2.4: Việc tuyên truyền của phụ nữ trong khu vực dự án - Sự tham gia của phụ nữ trong các dự án cấp nước cho các đô thị nhỏ (nghiên cứu Chương trình cấp thoát nước Phần Lan tại Hải Phòng và Bắc Cạn
Hình 2.4 Việc tuyên truyền của phụ nữ trong khu vực dự án (Trang 39)
Bảng 2.6 : Nội dung tuyên truyền của các tuyên truyền viên của hai thị trấn - Sự tham gia của phụ nữ trong các dự án cấp nước cho các đô thị nhỏ (nghiên cứu Chương trình cấp thoát nước Phần Lan tại Hải Phòng và Bắc Cạn
Bảng 2.6 Nội dung tuyên truyền của các tuyên truyền viên của hai thị trấn (Trang 40)
Bảng 2.7: So sánh nội dung tuyên truyền giữa nam giới và phụ nữ - Sự tham gia của phụ nữ trong các dự án cấp nước cho các đô thị nhỏ (nghiên cứu Chương trình cấp thoát nước Phần Lan tại Hải Phòng và Bắc Cạn
Bảng 2.7 So sánh nội dung tuyên truyền giữa nam giới và phụ nữ (Trang 41)
Bảng 2.9: Số người tham dự các cuộc họp nhóm tại thị trấn Nà Phặc và Tiên Lãng - Sự tham gia của phụ nữ trong các dự án cấp nước cho các đô thị nhỏ (nghiên cứu Chương trình cấp thoát nước Phần Lan tại Hải Phòng và Bắc Cạn
Bảng 2.9 Số người tham dự các cuộc họp nhóm tại thị trấn Nà Phặc và Tiên Lãng (Trang 42)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm