2- Tổng quan nghiên cứu về lao động trẻ em Để có thể có những nhìn nhận ban đầu về thực trạng lao động trẻ em, xu hướng về quy mô lao động trẻ em trong thời gian trước, tìm hiểu các ngu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
VŨ THỊ THANH MAI
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA VÀ GIẢI QUYẾT TÌNH TRẠNG LAO ĐỘNG TRẺ EM
(Nghiên cứu trường hợp tại quận Hà Đông – Thành phố Hà Nội )
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành : Công tác xã hội
Mã số:60 90 01 01
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Hải Hữu
Hà Nội 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy, cô giáo Khoa Xã hội học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, cán bộ, nhân viên làm công tác trẻ em và trẻ em lao động tại Quận Hà Đông, cùng gia đình
và bạn bè đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Đặc biệt, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS.Nguyễn Hải Hữu đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này./
Học viên
Vũ Thị Thanh Mai
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
1 Những nội dung trong luận văn này là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của TS Nuyễn Hải Hữu
2 Các nội dung tham khảo dùng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng tên tác giả, tên công trình, thời gian và địa điểm công bố
3 Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2014
Người thực hiện
Vũ Thị Thanh Mai
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 7
1-Lý do chọn đề tài 7
2- Tổng quan nghiên cứu về lao động trẻ em 9
3.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 15
3.1- Ý nghĩa khoa học 15
3.2- Ý nghĩa thực tiễn 15
4- Câu hỏi nghiên cứu 15
5- Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 15
5.1- Mục đích nghiên cứu 15
5.2 – Nhiệm vụ nghiên cứu 16
6- Giả thuyết nghiên cứu 16
7- Đối tượng và khách thể nghiên cứu 16
7.1 Đối tượng nghiên cứu: 16
7.2 Khách thể nghiên cứu: 16
8 Phương pháp nghiên cứu 17
8.2- Phương pha ́ p thu thập thông tin 17
8.3- Phương pháp phỏng vấn sâu 19
8.4- Phương pháp quan sát 19
8.5 - Phương pha ́ p xử lý số liệu 19
9- Phạm vi nghiên cứu 16
9.1 Phạm vi nội dung nghiên cứu 16
9.2 Phạm vi không gian 17
9.3 Phạm vi thời gian 17
NỘI DUNG CHÍNH 20
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu 20
1 1 Các khái niệm công cụ trong nghiên cứu 20
1.1.1 Khái niệm trẻ em 20
1.1.2 Khái niệm lao động trẻ em 21
Trang 61.1.3 Phòng ngừa và giải quyết tình trạng lao động trẻ em 22
1.2 Các lý thuyết tiếp cận 24
1.2.1 Lý thuyết nhu cầu 24
1.2.2 Lý thuyết hệ thống sinh thái 25
1.2.3 Lý Thuyết vai trò 28
1.3 Luật pháp quốc tế và Việt Nam liên quan đến lao động trẻ em 29
1.3.1 Luật pháp quốc tế liên quan đến lao động trẻ em 29
1.3.2 Luật pháp Việt Nam liên quan đến lao động trẻ em 32
1.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 35
1.4.1 Một số đặc điểm về kinh tế - xã hội quận Hà Đông 35
1.4.2- Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 37
Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ LAO ĐỘNG TRẺ EM QUẬN HÀ ĐÔNG – THÀNH PHỐ HÀ NỘI 39
2.1- Đánh giá chung về thực trạng lao động trẻ em 39
2.1.1 Thực trạng lao động trẻ em ở Việt Nam 39
2.1.2 Thực trạng lao động trẻ em Quận Hà Đông – Thành phố Hà Nội 42
2.1.2.1 Tình trạng đi học 42
2.1.2.2 Nơi ở 46
2.1.2.3 Nơi làm việc 47
2.1.2.4 Ở cộng đồng 48
2.1.2.5 Những khu vực kinh tế mà lao động trẻ em tham gia làm việc 50
2.1.2.6 Số giờ làm việc mỗi ngày và hệ luỵ của nó đến việc học tập của trẻ 52
2.1.2.7 Điều kiện làm việc của lao động trẻ em 54
2.1.2.8 Thu nhập và chi tiêu của lao động trẻ em 57
2.1.2.9 Sự tồn tại của các công việc hiện tại mà trẻ đang làm và dự định về công việc tương lai 59
2.2 - Các hình thức lao động trẻ em Quận Hà Đông – Thành phố Hà Nội 60
2.2.1 Ở nhà phụ giúp cha mẹ làm kinh tế 60
2.2.2 Trẻ em làm thuê giúp việc gia đình 61
Trang 72.2.3 Trẻ em lang thang và trẻ làm thuê tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ 62
2.3 Nguyên nhân lao động trẻ em 63
2.4 Tác động tiêu cực của lao động trẻ em 69
2.4.1 Tác động tiêu cực của lao động trẻ em với quốc gia 69
2.4.2 Tác động tiêu cực của lao động trẻ em đến bản thân trẻ 69
2.5- Nhận thức và thái độ của xã hội đối với lao động trẻ em 73
2.5.1 Nhận thức và thái độ của cộng đồng về sự tồn tại lao động trẻ em 73
2.5.2 Hiểu biết của cộng đồng về quyền và những quy định luật pháp về lao động trẻ em 76
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA, GIẢI QUYẾT TÌNH TRẠNG LAO ĐỘNG TRẺ EM QUẬN HÀ ĐÔNG – THÀNH PHỐ HÀ NỘI 79 3.1 Các điều kiện và năng lực thực hiện việc phòng ngừa và giải quyết tình trạng lao động trẻ em đã thực hiện ở Quận Hà Đông – Thành phố Hà Nội 79
3.1.1 Năng lực của các cơ quan tổ chức bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em đối với giải quyết các vấn đề về trẻ em 79
3.1.2 Mức độ sẵn có và năng lực của các tổ chức xã hội và hệ thống dịch vụ hỗ trợ nhằm đáp ứng nhu cầu cần thiết của lao động trẻ em và gia đình có lao động trẻ em 81
3.1.3 Các hoạt động thanh tra, kiểm tra và giám sát lao động trẻ em 81
3.2 Một số giải pháp phòng ngừa tình trạng lao động trẻ em 83
3.2.1 Đẩy mạnh hoạt động truyền thông, vận động xã hội nâng cao nhận thức về vấn đề lao động trẻ em tại cộng đồng 83
3.2.2 Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền về phòng ngừa, giải quyết tình trạng lao động trẻ em 85
3.3 Một số giải pháp giải quyết tình trạng lao động trẻ em 87
3.3.1 Xây dựng các chương trình, đề án nhằm giải quyết vấn đề lao động trẻ em 87
3.3.2 Hoàn thiện và tổ chức thực thi cơ chế, luật pháp, chính sách về phòng ngừa, giải quyết tình trạng lao động trẻ em 89
Trang 83.3.3 Tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ, được đào tạo chuyên ngành
công tác xã hội làm công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em 90
3.3.4 Tăng cường công tác thanh gia, kiểm tra và xử lý các trường hợp lạm dụng lao động trẻ em 92
3.3.5 Tổ chức thực hiện các hoạt động bảo vệ trẻ em và ngăn ngừa trẻ em bỏ học dựa vào gia đình và cộng đồng 93
3.3.6 Tăng cường vai trò nhân viên công tác xã hội ở cộng đồng trong việc phòng ngừa và giải quyết tình trạng lao động trẻ em 94
KÊT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
PHỤ LỤC 103
Trang 9DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Syndrome
ĐHKHXH&NV Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Trang 10DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1 Tình trạng đi học của lao động trẻ em chia giới tính Trang 44 Bảng 2.2 Nguyên nhân bỏ học của lao động trẻ em lao động quận Hà
Đông – Tp Hà Nội
Trang 45
Bảng 2.4 Thời giờ làm việc bình quân ngày của lao động trẻ em chia
theo loại hình công việc
Trang 54
Trang 11MỞ ĐẦU 1-Lý do chọn đề tài
Quá trình đổi mới đất nước đã và đang mang lại kết quả rõ rệt Đời sống vật chất và tinh thần của trẻ em từng bước được nâng cao, công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có nhiều chuyển biến tích cực từ nhận thức đến chính sách và phương pháp tổ chức thực hiện Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng người dân đã nhận thức rõ các quyền lợi và bổn phận của trẻ em được ghi trong Công ước LHQ về quyền trẻ em và Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Đời sống vật chất, văn hóa tinh thần cho trẻ em đang dần được chăm lo tốt hơn, số lượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được chăm sóc ngày càng tăng lên
Tuy nhiên, một mặt quá trình phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực mang lại nhiều cơ hội, đưa đất nước theo kịp với khu vực và thế giới, mặt khác cũng tạo ra nhiều thách thức mới đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo quy định của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 (Luật BVCSTE 2004) và một số nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác chưa được đưa vào trong Luật đang có xu hướng gia tăng Theo báo cáo của các địa phương đến cuối năm 2008, cả nước có khoảng 1,56 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo quy định của Luật BVCSTE 2004, nếu tính cả 4 nhóm trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt chưa được đưa vào Luật (trẻ em bị ngược đãi, bạo lực, buôn bán, trẻ em tai nạn thương tích; trẻ em nghèo) thì cả nước có khoảng trên 4,6
triệu em (Nguồn: Báo cáo Cục BVCSTE 2008)
Lao động trẻ em là một hiện tượng tồn tại từ lâu ở tất cả các xã hội, ảnh hưởng mạnh mẽ đến cuộc sống và sự phát triển của trẻ em Nhưng phải đến đầu những năm 80 của thế kỉ thứ XX vấn đề lao động trẻ em mới được coi là vấn đề bức xúc mang tính toàn cầu và thu hút được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế Ở nước
ta, vấn đề tự do hoá thị trường, sức lao động gồm cả lao động trí óc và lao động chân tay, nhiều trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đã bỏ nhà đi lang thang, tự lao động kiếm sống, làm những công việc không phù hợp với sức khoẻ và tâm sinh lý của mình Đáng chú ý nhất là số trẻ em phải lao động trong điều kiện nặng nhọc, độc
Trang 12hại, nguy hiểm Đa phần những trẻ em này thường có những hoàn cảnh gia đình hết sức khó khăn hoặc đời sống gia đình có nhiều diễn biến phức tạp Bản thân các em thiếu thốn
cả về vật chất lẫn tinh thần, hầu hết các em không chỉ tự nuôi sống bản thân mà còn phải gửi tiền nuôi gia đình, gặp nhiều rủi ro trong cuộc sống mưu sinh, khi mắc bệnh hoặc gặp tai nạn không được chăm sóc chu đáo
Thực trạng lao động trẻ em ở nước ta đã và đang gây ra nhiều bức xúc Đây cũng là một trong những vấn đề được Chính phủ quan tâm đặc biệt và đưa ra những giải pháp thiết thực nhằm can thiệp và hỗ trợ có hiệu quả đối với nhóm trẻ em thiệt thòi này Sự quan tâm được thể hiện:
Ngày 17/11/2000, Việt Nam đã phê chuẩn tham gia Công ước 182 về “Cấm
và hành động ngay lập tức loại bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất” Ngày 9/6/2003, Việt Nam cũng đã chính thức phê chuẩn tham gia Công ước 138 về Quy định tuổi tối thiểu được đi làm việc Thủ tướng Chính Phủ đã phê duyệt Chương trình Ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm phạm tình dục và trẻ em phải lao động nặng nhọc, trong điều kiện độc hại, nguy hiểm giai đoạn 2004-2010 (Quyết định số 19/2004/QĐ-TTg ngày 12 tháng 2 năm 2004) Điều
đó thể hiện sự cam kết mạnh mẽ của Chính phủ trong việc đảm bảo công bằng xã hội và bảo vệ các quyền trẻ em và quyền con người Nhưng đến năm 2008, do kinh
tế suy thoái, lạm phát tăng cao, đời sống một bộ phận người dân gặp khó khăn và tình hình trẻ em lang thang, lao động lại có xu hướng gia tăng và diễn biến phức tạp
Hà Đông trước kia là thành phố trực thuộc tỉnh Hà Tây cũ, từ ngày 1/8/2008, cùng với toàn bộ tỉnh Hà Tây, thành phố Hà Đông được nhập về thủ đô Hà Nội Ngày 8/5/2009, Hà Đông trở thành một quận thuộc thành phố Hà Nội Chính từ sự thay đổi đó đã tác động đến quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ trong thời gian qua Sự thay đổi về cơ cấu kinh tế, cơ cấu nghành nghề, công nghiệp hóa đã kéo theo làn sóng dân cư từ các tỉnh đổ về, kéo theo tình trạng trẻ em lao động và những hậu quả đi cùng là vấn đề cần được quan tâm giải quyết Vì vậy, nghiên cứu và phân tích đề tài “Một số giải pháp phòng ngừa và giải quyết tình trạng lao động trẻ
Trang 13em (nghiên cứu trường hợp tại địa bàn quận Hà Đông – Tp Hà Nội)” nhằm mục đích sẽ đóng góp một phần vào việc nghiên cứu tìm ra giải pháp chính sách cho sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc trẻ em ở Quận Hà Đông nói riêng và ở nước ta nói chung
2- Tổng quan nghiên cứu về lao động trẻ em
Để có thể có những nhìn nhận ban đầu về thực trạng lao động trẻ em, xu hướng về quy mô lao động trẻ em trong thời gian trước, tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến sự tồn tại lao động trẻ em, những hệ luỵ của lao động đến sự phát triển của trẻ em, nhóm nghiên cứu tiến hành thu thập, rà soát phân tích, đánh giá các công trình nghiên cứu trong quá khứ về các vấn đề trẻ em nói chung và lao động trẻ em nói riêng
Thứ nhất, công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến trẻ em nói chung
“Báo cáo Phân tích tình hình trẻ em ở Việt Nam” do UNICEF thực hiện năm
2010 Báo cáo lấy cách tiếp cận dựa trên quyền con người, xem xét tình hình trẻ em dựa trên quan điểm các nguyên tắc chính về quyền con người như bình đẳng, không phân biệt đối xử và trách nhiệm giải trình Kết quả nghiên cứu đã làm rõ tình hình trẻ em nam và nữ, nông thôn và thành thị, dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số, trẻ em giàu và trẻ em nghèo hiện nay ở Việt Nam Trong đó, nhóm trẻ em thiếu sự chăm sóc của bố mẹ ở Việt Nam có diễn biến phức tạp Các cơ sở chăm sóc cả công lập
và dân lập có ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước dưới nhiều hình thức như chăm sóc tại nhà, chăm sóc tập trung và các hình thức chăm sóc hỗ trợ không chính thức khác Tình trạng số lượng cho con nuôi ra nước ngoài cao trong khi đây được quy định là biện pháp cuối cùng chỉ sử dụng khi không còn cách nào khác Ngoài ra, báo cáo cũng chỉ ra rằng Việt Nam còn thiếu các quy định cụ thể cho việc truy tố những đối tượng hoạt động môi giới cho nhận con nuôi trái pháp luật
Đặng Bích Thủy (2009-2010), Một số vấn đề cơ bản về trẻ em Việt Nam, Đề tài
khoa học cấp bộ, Viện Khoa học xã hội Việt Nam đã chỉ ra những vấn đề xã hội mang tính gay gắt mà trẻ em đang phải đối mặt như bất bình đẳng, trẻ lao động sớm, bị xâm hại, bị bỏ rơi…Tác giả lý giải, phân tích bối cảnh, nguyên nhân của các vấn đề trẻ phải đối mặt từ góc độ chính sách, nhận thức, hành vi, hành động xã hội
Trang 14đồng thời dự báo xu hướng, đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2010-2020 nhằm góp phần hạn chế và giải quyết các vấn đề của trẻ em Tuy nhiên nghiên cứu này lại chưa tập trung vào đượcmột đối tượng trẻ em cụ thể với một vấn đề cụ thể, nên các giải pháp được đưa ra ở mức độ để đảm bảo quyền và lợi ích của em nói chung
Bài viết chuyên đề “Kinh nghiệm của một số nước về hệ thống bảo vệ trẻ em”
của tác giả Nguyễn Hải Hữu đăng trên website:treem.molisa.gov.vn cho thấy thực
tế ở Australia, Thuỵ Điển, Hồng Kông, việc hình thành hệ thống bảo vệ trẻ em liên quan rất nhiều đến các quy định của pháp luật và chính sách hiện hành Một trong những điểm mới trong bài viết là khái niệm “tư pháp thân thiện với trẻ em” Khi trẻ
em vi phạm pháp luật thì áp dụng các hình thức điều tra, xét hỏi, xử lí tại toà án như thế nào để không gây tổn hại cho trẻ em đặc biệt là trong trường hợp trẻ em là nạn nhân của các hành vi bạo lực, xâm hại Bài viết giúp chúng ta có thể tìm hiểu và áp dụng những ưu điểm, thành tựu thực tế của các nước để xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở nước ta phù hợp
và hiệu quả
“Một số kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với việc phát triển
các dịch vụ công tác xã hội trong công tác bảo vệ trẻ em” của tác giả Đỗ Thị Ngọc
Phương đăng trên Website:http://www.socialwork.vn, nhận định tại Anh , Mĩ, Úc, Philippines, Thái Lan, Singapore, Nhật Bản, Trung Quốc, việc cung cấp dịch vụ xã hội chủ yếu là trách nhiệm của các bộ và cơ quan nhà nước Tại các quốc gia này, cán bộ xã hội vẫn thực hiện chức năng tham vấn tâm lý xã hội, nhưng lồng ghép với đánh giá các nhu cầu phúc lợi xã hội và quản lý việc tiếp cận với các dịch vụ xã hội
đa dạng khác nhau Dịch vụ xã hội cũng có thể bao gồm việc xem xét các nhu cầu phát triển của trẻ em , gia đình, cộng đồng và lồng ghép với sự tham gia của cộng đồng
“Những điểm mở và thách thức cơ bản với phương thức làm chương trình dựa
trên cơ sở quyền con người cho phụ nữ và trẻ em ở Việt Nam” của Christian Salazar
Volkmann năm (2004), NXB chính trị quốc gia đã đề cập đến vấn đề quyền của phụ
nữ và trẻ em Tác giả đã làm rõ những yếu tố cơ hội và thách thức cơ bản nhất liên
Trang 15quan đến chương trình đảm bảo quyền và sự tham gia của phụ nữ và trẻ em Việt Nam trên cơ sở tiếp cận từ quyền con người Tác giả đồng thời cho thấy, thực hiện đầy đủ quyền đối với phụ nữ và trẻ em mang lại động lực cần thiết để họ tham gia đầy đủ, có hiệu quả vào các hoạt động xã hội
Tác giả Trịnh Hòa Bình với nghiên cứu “Sự hiểu biết giữa gia đình và trẻ em
về vấn đề quyền trẻ em hiện nay” đăng trên Tạp chí Xã hội học số 4/2005 Nghiên
cứu tập trung điều tra về kiến thức, thái độ, hành vi của cộng đồng về quyền trẻ em, (2004- 2005) trên quy mô 10 tỉnh, thành phố trong cả nước với sự tham gia của
3000 cha mẹ Một trong những phát hiện quan trọng trùng khớp với những vấn đề nói trên là sự thấu hiểu giữa cha mẹ và con cái còn nhiều bất cập thể hiện qua những mâu thuẫn cơ bản trong gia đình Việt Nam hiện nay qua việc phân tích những thông tin định tính và định lượng từ cuộc khảo sát
Thứ hai, một số công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến trẻ em lao động
Kết quả rà soát, phân tích cho thấy các đề tài nghiên cứu về lao động trẻ em đã được thực hiện ở Việt Nam nhiều năm trước, ở những góc độ khác nhau Trong phạm vi các công trình có liên quan đến đề tài, tôi nghiên cứu, lựa chọn và phân tích một số công trình nghiên cứu, các đánh giá, bài viết tiêu biểu
Ăngghen trong tác phẩm “Vai trò của lao động trong lịch sử biến hoá từ
vượn thành người” đã viết “trong một chừng mực nhất định có thể nói lao động
sáng tạo nên chính con người” Đối với giáo dục con người thì lao động cũng là một biện pháp giáo dục tốt Như vậy thông qua quá trình tham gia vào hoạt động lao động phù hợp, trẻ em có thể dần hoàn thiện bản thân, hình thành nhân cách và góp phần phát triển toàn diện mọi mặt của trẻ em
Tuy nhiên trên thực tế trẻ em đã và đang là một trong những nguồn lao động chính tại nhiều gia đình, nhiều địa phương ở nước ta Những hoạt động lao động có ảnh hưởng tới sự phát triển bình thường của trẻ em, gây tổn hại về thể chất hay tâm
lý cho trẻ em chính là hành vi vi phạm quyền trẻ em
Những năm gần đây, cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã giúp nền kinh tế nước ta vươn lên mạnh mẽ, nhưng đồng thời cũng dẫn đến sự phát triển
Trang 16không đồng đều ở nhiều nơi trong cả nước Sự phân hoá giàu nghèo ngày càng tăng Nhiều trẻ em đã phải bỏ học để tự kiếm sống và giúp đỡ gia đình Một
số trẻ em may mắn hơn khi không phải bỏ học thì phải chọn cho mình một công việc nào đó để tự lo liệu tiền để trang trải việc học tập của mình Các trung tâm kinh
tế lớn của cả nước như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng…đã trở thành đích đến của trẻ em nông thôn mong muốn có thể cải thiện được đời sống
Để có một cái nhìn khái quát về vấn đề lao động trẻ em nói chung, cũng như thực trạng nghiên cứu vấn đề này ở Việt Nam tôi xin tóm lược một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau:
Trước hết, chương trình nghiên cứu Trẻ em làm thuê giúp việc gia đình do
Tổ chức Cứu trợ trẻ em của Thụy Điển (Save the Children Sweden) cộng tác với Khoa Tâm lý học (Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn- Đại học Quốc gia
Hà Nội) thực hiện năm 2000 Đối tượng nghiên cứu tập trung vào nhóm trẻ em giúp việc gia đình tại Hà Nội, nhằm tìm hiểu nguyên nhân, đặc điểm và ảnh hưởng của lao động tới sự phát triển cá nhân của trẻ cũng như mô tả mối quan hệ xã hội của trẻ tại nơi làm việc Nghiên cứu này được tiến hành bằng sự kết hợp sử dụng các phương pháp định lượng (dùng bảng hỏi), định tính (phỏng vấn sâu 20 trường hợp trong đó có 5 trường hợp phỏng vấn gia chủ và 15 trường hợp trẻ em) và phân tích
tư liệu
Tiếp theo là báo cáo của nhóm tác giả về vấn đề Lao động trẻ em tại thành
phố Hồ Chí Minh do Quỹ cứu trợ nhi đồng Anh tiến hành năm 1998 Áp dụng
phương pháp điều tra bảng hỏi để thu thập thông tin về nhiều loại ngành nghề khác
nhau có trẻ em tham gia Và một số báo cáo như, “Điều đầu tiên trước hết trong lao
động trẻ em: xoá bỏ những công việc độc hại với trẻ em” do Tổ chức Lao động
quốc tế (ILO) phối hợp với quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) điều tra năm
1999, “một thế giới phù hợp với trẻ em” được thực hiện năm 2001 dưới sự tài trợ của Quỹ bảo trợ nhi đồng Anh…
Vấn đề lao động trẻ em cũng là mối quan tâm hàng đầu của các bộ ngành
liên quan Một số điều tra tiêu biểu như: Vấn đề lao động trẻ em ở
Trang 17Việt Nam (Bộ Lao động và Thương binh xã hôị, năm 1997), đây là tài liệu tập
trung những báo cáo được trình bày tại một cuộc tọa đàm về vấn đề lao động trẻ em ở Việt Nam Những báo cáo này chỉ rõ nguyên nhân, hậu quả của lao động trẻ em và đưa ra một số kiến nghị
Bài viết “Quản lý và ngăn ngừa lao động trẻ em ở Việt Nam hiện nay″ của
Nguyễn Bao Cường đăng trên Bản tin số 23, Viện Khoa học và Lao động xã hội
Bài viết đã chỉ ra được những nguyên nhân, những nhu cầu, nguyện vọng và Các
khó khăn, rào cản trong việc giải quyết tình trạng lao động trẻ em hiện nay, đưa ra được một số giải pháp thực hiện nhằm giải quyết tốt hơn công tác quản lý và ngăn ngừa lao động trẻ em giai đoạn 2010 – 2015 Tuy nhiên các vấn đề khó khăn cũng như các giải pháp đưa ra còn chung chung, chưa cụ thể để phòng ngừa và giải quyết vấn đề lao động trẻ em một cách có hiệu quả
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Tình trạng lao động trẻ em – thực trạng
và giải pháp”, do Tiến sĩ Nguyễn Hải Hữu làm chủ nhiệm đã đưa ra một cái nhìn
tổng quan về thực trạng lao động trẻ em ở Việt Nam, những nguyên nhân, hậu quả của lao động trẻ em, thông qua hoạt động khảo sát trên 8 tỉnh thành phố Đồng thời nghiên cứu đã chỉ ra những giải pháp để phòng ngừa và giải quyết tình trạng lao động trẻ em hiệu quả
Theo báo cáo tổng kết quyết định 19/2004/QĐ-TTG ngày 12/02/2004 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ
em lang thang, trẻ em bị xâm hại tình dục và trẻ em phải lao động nặng nhọc, trong điều kiện độc hại và nguy hiểm giai đoạn 2004 – 2010 (gọi tắt là chương trình 19) với mục tiêu: “Nâng cao nhận thức và hành động của toàn xã hội về công tác bảo vệ trẻ em; ngăn ngừa, giảm dần và tiến tới giảm cơ bản vào năm 2010 số lượng trẻ em lang thang kiếm sống, trẻ em bị xâm phạm tình dục và trẻ em phải lao động nặng nhọc trong điều kiện độc hại, nguy hiểm, tạo điều kiện để những trẻ em này được bảo vệ, chăm sóc, giáo dục và phát triển toàn diện về mọi mặt, có cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn” Sau 6 năm triển khai và thực hiện Chương trình kết quả được đánh giá là chương trình này đã nhận được sự quan tâm của chính quyền các cấp, các ngành, các đoàn
Trang 18thể và các tổ chức xã hội địa phương, gia đình và bản thân trẻ em Đặc biệt việc thực hiện các mô hình của Đề án 3 về “Ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lao động trong nặng nhọc trong điều kiện độc hại và nguy hiểm” được nhiều địa phương nhân rộng, từ đó nâng cao nhận thức của nhiều gia đình, cộng đồng trong việc phòng ngừa và giảm đáng kể tình trạng trẻ em lao động sớm, lao động nặng nhọc, trong điều kiện độc hại và nguy hiểm Tuy nhiên Chương trình này mới chỉ tập trung vào một số đối tượng trẻ em đặc thù và đặc biệt là với đối tượng lao động trẻ em trong điều kiện nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm chứ chưa trợ giúp được cho đối tượng lao động trẻ em khác
Theo báo cáo Điều tra quốc gia lao động trẻ em năm 2012 của Viện Khoa học Lao động và Xã hội Đây là cuộc điều tra trên cả nước phủ rộng tới hộ gia đình, với bộ câu hỏi tổng quát về nhiều lĩnh vực như thu nhập, địa điểm và điều kiện làm việc… Cuộc điều tra đã mang lại một bức tranh tổng thể về thực trạng lao động trẻ
em hiện nay cũng như những tác động của suy thoái kinh tế tới nhóm lao động trẻ
em
Tổng quan một số công trình nghiên cứu về vấn đề lao động trẻ em và những vấn đề có liên quan, tôi nhận thấy lao động trẻ em là nhóm đối tượng đã được nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu, chuyên gia quan tâm tìm hiểu, phân tích, đánh giá dưới nhiều góc độ khác nhau để tìm ra biện pháp phòng ngừa và giải quyết tình trạng lao động trẻ em Xuất phát từ mong muốn góp phần vào việc nghiên cứu về vấn đề lao động trẻ em, và trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tôi tập trung tìm hiều về thực trạng lao động trẻ em ở Việt Nam nói chung và đặc biệt là trên địa bàn quận Hà Đông nói riêng Trên cơ sở tìm hiểu các báo cáo nghiên cứu, tạp chí khoa học và vận dụng các phương pháp nghiên cứu tìm hiểu sâu hơn nữa về thực trạng lao động trẻ em và các giải pháp phòng ngừa và giải quyết tình trạng lao động trẻ
em trong giai đoạn hiện nay trên địa bàn quận để tìm ra những biện pháp phù hợp, kịp thời phòng ngừa và giải quyết tình trạng lao động trẻ em ở quận Hà Đông nói riêng và Việt Nam nói chung
Trang 193.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
3.1- Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm sáng tỏ lý luận bảo vệ trẻ em lao động, qua đó bổ sung và làm phong phú thêm cách nhìn nhận, đánh giá, các biện pháp phòng ngừa và giải quyết tình trạng lao động trẻ em
Kết quả nghiên cứu còn là tài liệu tham khảo hữu ích đối với các học giả, nhà khoa học, nhà nghiên cứu, chuyên gia quan tâm đến vấn đề bảo vệ trẻ em lao động
4- Câu hỏi nghiên cứu
Các câu hỏi nghiên cứu trả lời đƣợc các vấn đề sau:
- Thực trạng lao động trẻ em hiện nay ở quận Hà Đông đang diễn ra như thế nào?
- Các hệ quả của vấn đề lao động trẻ em hiện nay đối với xã hội như thế nào?
- Cần có những giải pháp nào để nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa và giải quyết tình trạng lao động trẻ em hiện nay?
5- Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
5.1- Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu, đánh giá thực trạng lao động trẻ em trên địa bàn Quận Hà Đông – Tp Hà Nội trên cơ sở đó tìm ra những giải pháp phòng ngừa và giải quyết tình trạng lao động trẻ em có hiệu quả
Trang 205.2 – Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu và đánh giá thực trạng lao động trẻ em đang diễn ra tại quận Hà Đông
- Nghiên cứu và đánh giá các hệ quả của vấn đề lao động trẻ em tới đời sống
xã hội
- Đưa ra một số giải pháp nhằm phòng ngừa và ngăn chặn tình trạng lao động trẻ em có hiệu quả
6- Giả thuyết nghiên cứu
Tình trạng lao động trẻ em hiện nay đang diễn biến ngày càng phức tạp do nhiều nguyên nhân với nhiều hình thức khác nhau
Trẻ em lao động đang phải đối mặt với rất nhiều nguy cơ , rủi ro và các hệ quả của vấn đề lao động trẻ em
Ở Việt Nam nói chung cũng như trên địa bàn quận Hà Đông nói riêng đã và đang nỗ lực đẩy mạnh các giải pháp phòng ngừa và can thiệp để bảo vệ lao động trẻ
em, tạo môi trường lành mạnh cho mọi trẻ em phát triển toàn diện tuy nhên vẫn chưa thực sự hiệu quả
7- Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
7.1 Đối tượng nghiên cứu:
Một số giải pháp nhằm phòng ngừa và giải quyết tình trạng lao động trẻ em Trong đó có vai trò của nhân viên công tác xã hội
7.2 Khách thể nghiên cứu:
- Cán bộ làm công tác bảo vệ trẻ em
- Trẻ em lao động từ 10 – 17 tuổi bao gồm: Trẻ em phụ giúp cha mẹ làm kinh
tế, trẻ em làm thuê giúp việc trong gia đình, trẻ em làm thuê tại cơ sở kinh doanh dịch vụ, trẻ em lang thang kiếm sống
8- Phạm vi nghiên cứu
8.1 Phạm vi nội dung nghiên cứu
Các giải pháp phòng ngừa và giải quyết tình trạng lao động trẻ em bao gồm nhiều nội dung khác nhau như bảo vệ quyền trẻ em, bảo đảm các chính sách ưu đãi
Trang 21hỗ trợ, bảo vệ trẻ em trước nguy cơ bị bóc lột, bạo lực…Trong điều kiện về thời gian cho phép, tôi tìm hiểu và đánh giá thực trạng lao động trẻ em quận Hà Đông trên các nội dung sau: lĩnh vực công việc trẻ em lao động tham gia phổ biến ở quận
Hà Đông, độ tuổi, giới tính, mối quan hệ giữa công việc và tình trạng đi học, điều kiện làm việc, thu nhập của lao động trẻ em Các giải pháp phòng ngừa và giải quyết tình trạng lao động trẻ em đã được thực hiện trên địa bàn quận
8.2 Phạm vi không gian
Nghiên cứu được thực hiện tại địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
8.3 Phạm vi thời gian
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 01/2012 đến hết tháng 12/2013
9 Phương pháp nghiên cứu
9.1- Cách tiếp cận
Vận dụng cách tiếp cận hệ thống, chúng tôi nhìn nhận quận Hà Đông là một hệ thống bao hàm các thành tố như phòng LĐTB&XH quận Hà Đông, các Trung tâm nuôi dưỡng trẻ em, các cơ quan ban nghành đoàn thể, cán bộ lãnh đạo, cán bộ trẻ
em, nhân viên chăm sóc trẻ em, gia đình trẻ Các thành tố đó có mối quan hệ tương
hỗ chặt chẽ với nhau Bên cạnh đó, hoạt động bảo vệ trẻ em lao động quận Hà Đông nằm trong hệ thống bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Thành phố Hà Nội Chế độ, chính sách bảo vệ trẻ em của quận Hà Đông không tách rời chế độ, chính sách chung của thành phố Hà Nội
Tiếp cận từ góc độ văn hóa, chúng tôi nhìn nhận những đặc trưng văn hóa, giá trị chuẩn mực của người Việt Nam, của truyền thống gia đình người Việt đã ảnh hưởng đến các em như thế nào Mặt khác, sự thay đổi về môi trường sống với nề nếp cuộc sống mới, môi trường làm việc, lao động kiếm sống đã ảnh hưởng ra sao trong cuộc sống sinh hoạt, thói quen, ứng xử của các em Vai trò của những giá trị, chuẩn mực đó trong việc hình thành tính cách, đạo đức, quan điểm sống và khả năng hòa nhập cộng đồng của các em
9.2- Phương pha ́ p thu thập thông tin
9.2.1- Phương pháp phân tích tài liệu
Trang 22Nghiên cứu sử dụng tư liệu từ các công trình sau:
- Các báo cáo: Báo cáo tổng hợp đề tài nghiên cứu cấp bộ tình hình lao động trẻ em thực trạng và giải pháp của TS Nguyễn Hải Hữu chủ nhệm năm 2010 Báo cáo tổng kết Quyết định 19/2004/QĐ – TTg ngày 12/02/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ
em bị xâm hại tình dục và trẻ em phải lao động nặng nhọc, trong điều kiện độc hại và nguy hiểm giai đoạn 2004 -2010 Báo cáo Điều tra quốc gia lao động trẻ em năm 2012…
- Văn bản pháp lý: Công ước Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em năm 1990, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em sửa đổi năm 2004, Bộ Luật Lao động bổ sung và sửa đổi năm 2012, Nghị định 67/2007/NĐ-CP và Nghị định 13/2010/NĐ-
CP bổ sung Nghị định 67/2007/NĐ/CP, Chỉ thị số 1408/CT-TTg ngày 1/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ về “Tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em”, trong đó
có lao động trẻ em Nghị định số 144/2013/NĐ-CP ra ngày 29/10/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính về Bảo trợ, cứu trợ xã hội và bảo vệ, chăm sóc trẻ em…
- Chương trình: Chương trình mục tiêu quốc gia bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn 2005-2010, chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2001-
2010, chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011 – 2015, Chương trình Ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm phạm tình dục và trẻ em phải lao động nặng nhọc, trong điều kiện độc hại, nguy hiểm giai đoạn 2004-2010 (gọi tắt là Chương trình 19)
- Các công trình nghiên cứu, sách, báo, đánh giá, bài viết về trẻ em, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, lao động trẻ em, mô hình chăm sóc, bảo vệ trẻ em lao động của nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu, học giả trong cả nước
9.2.2- Trưng cầu ý kiến
- Đối tượng: Lao động trẻ em độ tuổi từ 10 đến dưới 17 tuổi tại Quận Hà Đông –
TP Hà Nội
- Dung lượng mẫu: Tất cả trẻ em phụ giúp cha mẹ làm kinh tế, trẻ em làm thuê giúp việc gia đình, trẻ em lang thang kiếm sống, trẻ em làm thuê tại cơ sở kinh
Trang 23doanh dịch vụ (nhà hàng, quán ăn, quán karaoke, quán cà phê, quán cắt tóc gội đầu,
cơ sở may mặc….) (100 em)
Phương pháp chọn mẫu: Tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, chọn mẫu thuận tiện Trên 100 phếu tác giả dựa trên những đặc điểm thuận lợi của địa bàn quận Hà Đông, những nơi mà tác giả có thể dễ dàng tiếp cận với đối tượng lao động trẻ em như ở nhà, các quán ăn nhậu, hay trên đường phố…để lấy ý kiến Nếu người được phỏng vấn không đồng ý thì chuyển sang đối tượng khác
9.3- Phương pháp phỏng vấn sâu
Đối tượng: Cán bộ lãnh đạo cục Bảo vệ chăm sóc trẻ em, phòng Lao TBXH Quận Hà Đông); địa phương (Ủy ban nhân dân tỉnh/huyện/xã thuộc địa bàn quận Hà Đông): 10 phiếu
động-Trẻ em lao động: 10 Phiếu
9.4- Phương pháp quan sát
- Quan sát thể trạng và các biểu hiện trong giao tiếp, ứng xử giữa trẻ với trẻ, giữa trẻ với chủ sử dụng lao động để biết được mối quan hệ của trẻ với công việc, với chủ sử dụng lao động
- Quan sát công việc mà trẻ đang làm, các trang thiết bị, dụng cụ làm việc để biết được môi trường và điều kiện làm việc của trẻ
- Quan sát thái độ, hành vi của chủ sử dụng lao động đối với các em trong các hoạt động hằng ngày
9.5 - Phương pha ́ p xử lý số liệu
Phương pháp xử lý số liệu thống kê: dùng phần mềm SPSS
Mục đích: khai thác có hiệu quả các số liệu sau khi thực hiện bảng hỏi; rút ra được những nhận xét, kết luận khoa học khách quan đối với vấn đề nghiên cứu
Trang 24NỘI DUNG CHÍNH
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu
1 1 Các khái niệm công cụ trong nghiên cứu
1.1.1 Khái niệm trẻ em
Hiện nay, khái niệm “Trẻ em” không đồng nhất ở tất cả các quốc gia trên thế
giới Theo báo cáo của UNICEF, trong số 66 quốc gia có thông tin về độ tuổi trẻ em thì có 2 nước quy định là dưới 21 tuổi (Cameroon và Coted’Ivrire); 54 nước quy định tuổi trẻ em dưới 18 tuổi; 4 nước quy định dưới 17 tuổi và 6 nước quy định dưới 16 tuổi đó là Việt Nam, Bangladesh, Malawi, Myanmar, Singapore, Zambia Hiện tại Việt Nam và Zambia đang nghiên cứu sửa luật và dự kiến nâng độ tuổi lên dưới 18 tuổi Sở dĩ có sự khác nhau này là do có sự khác biệt về điều kiện lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội Một lập luận khác để giải thích về sự khác biệt đó là khả năng của nền kinh tế của mỗi quốc gia, bởi vì việc quy định về độ tuổi trẻ em bao giờ gắn liền với trách nhiệm đảm bảo các quyền của trẻ em, ngoài ra còn đảm bảo quyền công dân, quyền con người nói chung ở mỗi quốc gia
Theo quan điểm của một số tổ chức quốc tế trực thuộc Liên hiệp quốc như Quỹ Dân số (UNFPA), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa (UNESCO) xác định trẻ em là người dưới 15 tuổi
Theo Điều 1, Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em của Liên hiệp quốc công
bố năm 1989 xác định “Trong phạm vi công ước này, trẻ em có nghĩa là dưới
18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” [19]
Tại Việt Nam, theo Điều 11, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thì
“Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” [25]
Trong phạm vi của đề tài, chúng tôi vận dụng khái niệm Trẻ em theo Điều 11, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục Trên cơ sở đó, nhóm trẻ trong phạm vi nghiên cứu là những em lao động tại quận Hà Đông – thành phố Hà Nội
Trang 251.1.2 Khái niệm lao động trẻ em
Thuật ngữ lao động trẻ em đã được đề cập đến trong một số văn bản quy
phạm pháp luật (ví dụ, Điều 7 Luật BVCSGDTE có quy định nghiêm cấm hành vi
lạm dụng lao động trẻ em), nhưng chưa có một định nghĩa hay khái niệm cụ thể về
lao động trẻ em Bộ luật Lao động 1994 (được sửa đổi, bổ sung một số điều vào các
năm 2002, 2006, sau đây viết tắt là BLLĐ) có quy định khái niệm lao động chưa
thành niên và định nghĩa lao động chưa thành niên là người lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi (Điều 119) Mặc dù vậy, quy định này hiện mới chỉ điều chỉnh các
quan hệ lao động ở khu vực kinh tế chính thức, trong khi lao động trẻ em diễn ra cả trong khu vực kinh tế phi chính thức và trong môi trường gia đình
Theo Điều 120 Bộ Luật Lao Động: “Cấm nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc, trừ một số nghề và công việc do Bộ LĐTBXH quy định” Điều 121 Bộ Luật Lao Động nêu rõ: “Cấm sử dụng người lao động chưa thành niên làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại theo danh mục nghề do Bộ LĐTBXH và Bộ Y tế ban hành”
Theo quan niệm của tổ chức lao động quốc tế (ILO): Lao động trẻ em là khái niệm chỉ tất cả những công việc gây hại cho trẻ em về mặt tinh thần, thể chất, xã hội hay đạo đức và cản trở việc học tập của trẻ em do lấy đi của các em cơ hội học tập, buộc các em phải nghỉ học sớm hoặc buộc các em phải kết hợp với làm việc nặng nhọc và/ hoặc trong nhiều giờ
ILO đưa ra 3 căn cứ xác định lao động trẻ em, bao gồm:
- Độ tuổi tối thiểu mà các nước không được phép sử dụng trẻ em vào làm việc
- Giới hạn số giờ làm việc của trẻ em theo lứa tuổi
- Các điều kiện làm việc không được phép sử dụng trẻ em
Tuy nhiên không phải tất cả trẻ em tham gia lao động đều là lao động trẻ em, trong trường hợp trẻ em tham gia làm những công việc nhẹ nhàng, phù hợp với sức khỏe, khả năng của trẻ em và thời gian ngắn, không gây ảnh hưởng tới sự phát triển toàn diện của trẻ em, thì đó lại là nhân tố phát triển thể chất, năng lực tư duy và đời sống tình cảm của trẻ em
Trang 26Khái niệm lao động trẻ em sử dụng trong nghiên cứu:
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài tác giả sử dụng khái niệm lao động trẻ em là: trẻ em lao động từ 10 đến 17 tuổi tham gia vào những công việc không phù hợp với quy định của pháp luật về độ tuổi, thời gian làm việc và tính chất công việc
Đồng thời sử dụng sơ đồ nhận dạng lao động trẻ em của TS Nguyễn Hải Hữu để nhận dạng đối tượng lao động trẻ em
1.1 Sơ đồ nhận dạng lao động trẻ em
(Nguồn: Sơ đồ nhận dạng lao động trẻ em.TS Nguyễn Hải Hữu)
1.1.3 Phòng ngừa và giải quyết tình trạng lao động trẻ em
Phòng ngừa và giải quyết tình trạng lao động trẻ em là một trong những hoạt động bảo vệ trẻ em, được hiểu là những hoạt động hướng đến đảm bảo cho trẻ em
Trẻ em tham gia hoạt động kinh tế
Trẻ em không
tham gia hoạt
động kinh tế
Trẻ em tham gia HĐKT, không phải
LĐTE Trẻ em
LĐTE có nguy cơ làm trong các nghề thuộc nhóm nghề bị cấm
LĐTE có thời gian làm việc trên 42 giờ/tuần
Trang 27được hưởng quyền và lợi ích của mình về cả yếu tố vật chất và tinh thần, giúp cho trẻ em được phát triển một cách toàn diện Các yếu tố liên quan đến bảo vệ trẻ em trong hoạt động phòng ngừa và giải quyết tình trạng lao động trẻ em: như bảo vệ quyền, lợi ích trẻ em, bảo vệ thể chất, bảo vệ tâm sinh lý, bảo vệ chế độ chính sách dành cho trẻ em, bảo đảm cho trẻ được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh
để phát triển toàn diện
Phòng ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lao động có những đặc thù nhất định Thứ nhất, đó là những hoạt động nghiên cứu, can thiệp và trợ giúp nhằm tìm
ra những giải pháp phòng ngừa và giải quyết tình trạng lao động trẻ em Thứ hai, đối tượng thụ hưởng là những trẻ em có sự tương đồng về điều kiện, hoàn cảnh sống, phải lao động kiếm sống Thứ ba, hầu hết các em đều thiếu thốn không chỉ đời sống vật chất, tinh thần và tình yêu thương từ các thành viên trong gia đình
Trong nghiên cứu, tác giả xem xét hoạt động phòng ngừa và giải quyết tình trạng lao động trẻ em tại quận Hà Đông dựa trên nội dung chính: làm sao để trẻ em lao động được đảm bảo môi trường, điều kiện sống và làm việc an toàn, tìm kiếm các giải pháp phòng ngừa và giải quyết tình trạng lao động trẻ em đảm bảo quyền
và lợi ích của trẻ em
- Đảm bảo điều kiện sống bao gồm các yếu tố như dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, nơi ở, vui chơi, giải trí… góp phần phát triển về thể chất, trí tuệ, nhận thức và hòa nhập xã hội
- Đảm bảo môi trường và điều kiện sống cho trẻ, đảm bảo quyền được học tập
và tham gia vào các hoạt động vui chơi giải trí của trẻ, bao gồm các hoạt động hướng đến sự an toàn, thân thiện, lành mạnh tại địa bàn mà các em đang sinh sống
và làm việc
- Các giải pháp phòng ngừa và giải quyết tình trạng lao động trẻ em đã, đang thực hiện như thế nào? Nghiên cứu các giải pháp, làm thế nào để thực hiện có hiệu quả hơn nữa để phòng ngừa và giải quyết tình trạng lao động trẻ em
Trang 281.2 Các lý thuyết tiếp cận
1.2.1 Lý thuyết nhu cầu
Nhu cầu là cái gì? Nhu cầu được cho là cần thiết, đặc biệt khi nó được cho là
thiết yếu cho sự sinh tồn của một con người, một tổ chức hay bất kỳ thứ gì khác
Nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow được xem là cha đẻ của lý thuyết
nhu cầu Theo ông, hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu của họ Nhu cầu tự
nhiên của con người được chia thành các thang bậc khác nhau theo thứ tự từ thấp đến
cao về tầm quan trọng Thang nhu cầu của ông chia làm hai cấp: cấp thấp và cấp cao
Biểu 1.2 Tháp nhu cầu của Abraham Maslow
+ Nhu cầu cấp thấp gồm hai nhu cầu về vật chất (1) và an toàn (2) Nhu cầu về
Trang 29gồm các hành vi: ăn, uống, mặc, ở, ngủ nghỉ, đi lại… Nhu cầu về an toàn không bị đe dọa về sức khỏe, tính mạng, công việc, gia đình Nhu cầu này thể hiện trong cả thể chất và tinh thần
+ Nhu cầu cấp cao gồm ba nhu cầu về xã hội (3), tôn trọng (4) và phát triển (5) Nhu cầu về xã hội là các nhu cầu về tình yêu thương, được chấp nhận và được tham gia vào tổ chức, đoàn thể nào đó trong xã hội Khi thỏa mãn được nhu cầu được chấp nhận là thành viên trong xã hội thì con người có xu hướng được tôn trọng và ghi nhận những giá trị cá nhân như quyền lực, địa vị, uy tín… Cao nhất trong thang nhu cầu của con người là nhu cầu được phát triển toàn diện
Theo ông, khi con người thỏa mãn các nhu cầu bậc thấp đến một mức độ nhất định sẽ nảy sinh các nhu cầu bậc cao hơn
Vận dụng lý thuyết nhu cầu của A.Maslow trong nghiên cứu chúng tôi tìm hiểu nhu cầu của trẻ em lao động quận Hà Đông – thành phố Hà Nội theo năm bậc thang
về nhu cầu Từ đó xem xét các nhu cầu nào đã được đảm bảo, nhu cầu nào chưa được đảm bảo, đảm bảo ở mức độ nào, có ưu tiên đáp ứng nhu cầu nào trước, nhu cầu nào sau hay theo trình tự các bậc nhu cầu của nhà tâm lý học A.Maslow
Mặt khác, trên cơ sở lý thuyết nhu cầu, chúng tôi còn tìm hiểu xem liệu các nhu cầu của cán bộ làm công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em tại quận Hà Đông là gì và
họ có được đáp ứng khi làm việc tại cơ quan mình không? Họ có nhưng nhu cầu gì
để công tác bảo vệ trẻ em nói chung và bảo vệ trẻ em lao động tại Quận Hà Đông ngày một tốt hơn
1.2.2 Lý thuyết hệ thống sinh thái
Hệ thống là một tập hợp các phần tử khác nhau, giữa chúng có mối liên hệ và tác động qua lại theo một quy luật nhất định tạo thành một chỉnh thể, có khả năng thực hiện những chức năng cụ thể Mỗi hệ thống bất kỳ nào đều có các thành tố: hành vi, cấu trúc, văn hóa và diễn biến của hệ thống
Sinh thái được hiểu là những liên hệ, tác động, ảnh hưởng giữa các thành tố cùng tồn tại trong một môi trường sống Những mối liên hệ này có tính hai chiều và phụ thuộc vào nhau
Trang 30Để hiểu một yếu tố nào đó trong môi trường, chúng ta phải tìm hiểu cả hệ thống môi trường xung quanh họ, vì vậy bất cứ việc can thiệp hoặc giúp đỡ một cá nhân của một tổ chức nào đó đều liên quan và ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống đó
Lý thuyết hệ thống sinh thái cho rằng, một hệ thống, vừa bao gồm các tiểu hệ thống nhỏ trong nó đồng thời nó cũng là một tiểu hệ thống nằm trong một hệ thống rộng lớn hơn Hệ thống càng phức tạp thì tổng hợp các tiểu hệ thống và các thành tố càng da dạng Giữa các thành tố có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau Sự thay đổi, biến động của mỗi thành tố trong một hệ thống đều ảnh hưởng, tác động đến các thành tố khác và ngược lại Bởi những liên hệ đó mà tập hợp các tiểu hệ thống
và thành tố tạo thành một sự toàn vẹn, thống nhất
Trong bảo vệ trẻ em, lý thuyết hệ thống sinh thái chỉ ra sự tác động mà các tổ chức, các chính sách, các cộng đồng, nhóm, gia đình ảnh hưởng lên trẻ em Lý thuyết hệ thống sinh thái cho phép phân tích thấu đáo sự tương tác giữa trẻ em và hệ thống sinh thái – môi trường xã hội Mỗi cá nhân trẻ đều có một môi trường sống và một hoàn cảnh sống, chịu tác động của các yếu tố trong môi trường sống và cũng tác động, ảnh hưởng ngược lại môi trường xung quanh
Trên cơ sở lý thuyết hệ thống sinh thái, chúng tôi nhận thấy cơ quan bảo vệ trẻ
em quận Hà Đông là một hệ thống trong đó bao gồm các tiểu hệ thống: nhân sự (cán bộ lãnh đạo, cán bộ trẻ em), trẻ em, đối tác, chính sách, cơ sở vật chất, tài chính… Mặt khác, cơ quan bảo vệ trẻ em quận Hà Đông cũng là một tiểu hệ thống nằm trong một hệ thống bảo vệ bảo trẻ em rộng lớn hơn là cơ quan bảo vệ trẻ em cấp tỉnh, thành phố, cấp trung ương Ngoài ra, cơ quan bảo vệ trẻ em quận Hà Đông còn nằm trong hệ thống kinh tế - xã hội quận Hà Đông – Thành phố Hà Nội
Dưới cách nhìn nhận cơ quan bảo vệ trẻ em quận Hà Đông là một hệ thống và cũng là một tiểu hệ thống, khi tiến hành những can thiệp trợ giúp trẻ tại quận Hà Đông chúng tôi không thực hiện những hoạt động riêng lẻ, rời rạc đối với từng bộ phận mà thực hiện đồng bộ phối kết hợp với các bộ phận khác, với tiểu hệ thống khác Chẳng hạn, việc tiến hành thu thập thông tin, chúng tôi thực hiện các nhóm đối tượng khác nhau: nhóm trẻ em lao động, nhóm cán bộ làm công tác bảo vệ trẻ
Trang 31em, nhóm chủ sử dụng lao động, nhóm gia đình trẻ Do vậy, kết quả thu thập thông tin phản ánh thông tin khách quan về thực trạng trẻ em lao động và việc thực hiện các giải pháp phòng ngừa và ngăn chặn tình trạng lao động trẻ em quận Hà Đông Bên cạnh đó, tìm hiểu hoạt động bảo vệ trẻ em trên cơ sở lý thuyết hệ thống sinh thái, chúng tôi phân tích mối quan hệ giữa trẻ với các cá nhân, tổ chức, nhóm cộng đồng trong một hệ thống sinh thái, ở đó, các mối quan hệ có sự tác động qua lại với nhau:
Để hiểu một yếu tố nào đó trong môi trường, ta phải nghiên cứu cả hệ thống môi trường xung quanh họ, vì vậy bất cứ việc can thiệp hoặc giúp đỡ một cá nhân của một tổ chức nào đó đều liên quan và ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống đó Lý thuyết
hệ thống sinh thái có ảnh hưởng rất nhiều đến các phương thức thực hiện trong công tác xã hội như tư vấn, xử lý ca, tư vấn nhóm, tổ chức và phát triển cộng đồng
Biểu 1.3 Mô hình hệ thống sinh thái trẻ em
Chính sách
P
TBXH
LĐ-Dịch
vụ XH
Văn hóa
Tôn giáo
Luật pháp
Cộng
đồng
Thiết chế XH
Trang 321.2.3 Lý Thuyết vai trò
Vai trò là khái niệm nhấn mạnh những kỳ vọng xã hội gắn với những vị thế hay
vị trí nhất định trong xã hội và nó phân tích những kỳ vọng trong xã hội ấy Mỗi một vai trò lại gắn với một nhóm đối tác khác nhau và nhóm đối tác đó có một hệ kỳ vọng riêng của họ
Vai trò không chỉ đơn giản liên quan đến những hành vi được xã hội quan sát
mà trong thực tế còn bao gồm xã hội quan niệm những hành vi đó phải được thực hiện ra sao Những hành vi được thực hiện đúng với mong muốn của xã hội được gọi
là những chuẩn mực và giá trị xã hội đó
Trong xã hội, mỗi người không phải chỉ đảm nhận một vai trò mà thường đảm nhận nhiều vai trò khác nhau Các vai trò không được tổ chức và vận dụng logic, hài hòa sẽ dẫn đến xung đột vai trò, căng thẳng vai trò, biến đổi vai trò Những đòi hỏi quan trọng nhất đối với vai trò không chỉ là thực hiện các vai trò mà còn thể hiện vai trò đó có liên quan đến sự mong đợi, kỳ vọng, chuẩn mực, quy ước của xã hội hay không
Có hai khuynh hướng lý thuyết chính liên quan đến vai trò Khuynh hướng thứ nhất cho rằng quá trình xã hội hóa chính là quá trình xã hội áp đặt các khuôn mẫu vai trò cho các thành viên trong đó Khuynh hướng thứ hai giải thích việc học “đóng vai” ngoài đời giống như học theo một thứ kịch bản gợi ý, một thứ kịch bản mở Loại kịch bản này buộc các “diễn viên” phải linh hoạt với hoàn cảnh thực tế hoặc tạo ra những chi tiết thích hợp để biết rằng mình cần phải làm gì, làm thế nào, làm cho ai
Vận dụng lý thuyết vai trò trong nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, cán bộ làm công tác bảo vệ trẻ em và chăm sóc trẻ em, các cơ quan ban nghành đoàn thể, gia đình trẻ, bản thân trẻ có những vai trò nhất định Mỗi một vai trò thể hiện qua những công việc, nhiệm vụ cụ thể
Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý, vai trò thể hiện ở việc tổ chức, quản lý các hoạt động bảo vệ trẻ em qua công việc như lập kế hoạch, phân công nhiệm vụ, tổ chức thực hiện, giám sát, đánh giá các hoạt động của cán bộ, nhân viên làm công
Trang 33tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em đang sinh sống tại quận hà Đông Ngoài ra, cán bộ quản
lý còn thực hiện báo cáo tình hình hoạt động trong lĩnh vực mình quản lý với Phòng lao động, xã hội quận Hà Đông và công tác đối ngoại với các tổ chức tài trợ khác Đối với cán bộ, chuyên viên làm công tác bảo vệ trẻ, chăm sóc trẻ em thì họ có các vai trò thực hiện các hoạt động, hướng dẫn, phối hợp, với các cơ quan ban nghành cùng thực hiện các quy định, chế độ, chính sách, các hoạt động bảo vệ, chăm sóc trẻ em Bên cạnh đó còn có vai trò như một nhân viên Công tác xã hội khi thực hiện các hoạt động can thiệp, hỗ trợ cho các em khi cần thiết
Đối với cơ quan ban nghành đoàn thể có vai trò thực hiện và phối hợp với cơ quan chuyên môn, với gia đình trẻ để thực hiện các quy định, chế độ, chính sách đảm bảo quyền và lợi ích của trẻ
Đối với gia đình trẻ có vai trò là người chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ Gia đình thực hiện trách nhiệm của mình đối với trẻ đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ
1.3 Luật pháp quốc tế và Việt Nam liên quan đến lao động trẻ em
1.3.1 Luật pháp quốc tế liên quan đến lao động trẻ em
Đầu thế kỷ XX mới có các văn kiện pháp lý quốc tế đầu tiên (do ILO) ban
hành về vấn đề lao động trẻ em Những văn kiện này tồn tại dưới dạng các công ước
và khuyến nghị nằm trong hệ thống những tiêu chuẩn quốc tế về lao động nói
chung, được xây dựng trên cơ sở sự thỏa thuận giữa ba bên: các chính phủ, giới chủ
và các tổ chức công đoàn Tổ chức Lao động quốc tế (gọi tắt là ILO) được thành lập vào năm 1919 Từ đó đến nay ILO đã ban hành được gần 200 công ước và 30 văn kiện đề cập đến việc bảo vệ trẻ em khỏi các hình thức bóc lột và lạm dụng sức lao động Trong đó có hai Công ước cơ bản (kèm theo hai khuyến nghị)trực tiếp đề cập đến vấn đề ngăn ngừa, cấm và xóa bỏ lao động trẻ em là Công ước số 138 (kèm theo là Khuyến nghị số 146) và Công ước số 182 (kèm theo là Khuyến nghị số
190) Hai Công ước số 138 và 182 thuộc vào tám điều ước ưu tiên của ILO, theo
đó yêu cầu các quốc gia thành viên phải báo cáo việc thực hiện định kỳ hai năm một
lần
Trang 34Ngoài ILO, Liên hợp quốc từ trước đến nay cũng có những hoạt động về xoá bỏ lao động trẻ em Trong hệ thống văn kiện quốc tế về quyền con người do Liên hợp quốc ban hành từ năm 1945 đến nay có một số văn kiện trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến vấn đề này, trong đó tiêu biểu là Công ước về quyền trẻ em năm 1989 Dưới đây giới thiệu khái quát các văn kiện quốc tế chủ chốt về ngăn ngừa và xoá bỏ lao động trẻ em của ILO và Liên hợp quốc
Công ước số 138 của tổ chức lao động quốc tế về tuổi tối thiểu làm việc: Công ước quốc tế về độ tuổi lao động tối thiểu năm 1973 được Hội nghị
toàn thể của Tổ chức Lao động quốc tế thông qua qua ngày 26/07/1973 và có hiệu lực từ ngày 19/6/1976 (Việt Nam gia nhập Công ước 138 ngày 09/6/ 2003) Mục tiêu của công ước, ràng buộc các quốc gia thành viên cam kết nhằm bảo đảm thật sự việc bãi bỏ lao động trẻ em và nâng dần tuổi tối thiểu được đi làm việc hoặc được lao động tới độ tuổi mà các thiếu niên có thể phát triển đầy
hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất như một vấn đề khẩn cấp (Điều 1)
Công ước về quyền trẻ em năm 1989 của Liên hợp quốc Đây là văn kiện
toàn diện, tiến bộ nhất về quyền trẻ em tính đến thời điểm hiện nay Nó xác định
Trang 35một tập hợp các quyền và tự do của trẻ em trên tất cả các lĩnh vực, nhằm mục đích bảo đảm sự sống còn, phát triển toàn diện và bảo vệ trẻ em trước những nguy cơ xâm hại Các quyền trẻ em được nêu trong Công ước đều trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần bảo vệ trẻ em khỏi bị ngược đãi, xâm hại, bạo lực và bóc lột Tuy nhiên, quan trọng nhất là các quyền được ghi nhận trong các điều từ 28 đến 34, yêu cầu các quốc gia thành viên thực hiện các quyền cho trẻ em quyền được giáo dục, học tập, tham gia vui chơi giải trí và bảo vệ Đặc biệt, Điều 32 Công ước trực tiếp yêu cầu các quốc gia thành viên thực thi các biện pháp cần thiết để bảo vệ trẻ em khỏi bị bóc lột về kinh tế, trong đó bao gồm việc quy định một hay nhiều mức tuổi lao động tối thiểu trên cơ sở tính đến những tiêu chuẩn quốc tế khác có liên quan (hàm ý các điều ước quốc tế của ILO) Ngoài ra, hai Nghị định thư không bắt buộc bổ sung Công ước về quyền trẻ em cũng đề cập đến việc xóa bỏ hai trong số những dạng lao động trẻ em tồi tệ nhất là cưỡng bức trẻ em tham gia chiến sự và buôn bán, bóc lột tình dục trẻ em
Ngoài ra, khi nói đến khuôn khổ pháp lý quốc tế về vấn đề này, còn cần kể
đến Chương trình quốc tế về xóa bỏ lao động trẻ em của ILO Đây là một chương
trình hành động toàn cầu do ILO triển khai từ năm 1992 nhằm giúp các quốc gia thành viên tăng cường năng lực giải quyết vấn đề lao động trẻ em, tiến tới xóa bỏ dần tình trạng lao động trẻ em Mặc dù chương trình này không phải là một điều ước quốc tế, song nó có ý nghĩa rất to lớn đối với việc xóa bỏ lao động trẻ em trên thế giới Vì rằng, thứ nhất nó thể hiện sự đoàn kết và cam kết chung của cộng đồng quốc tế trong vấn đề này và thứ hai là nó cung cấp những hỗ trợ kỹ thuật rất hữu ích cho các quốc gia trong việc xây dựng và thực thi các chính sách, pháp luật về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em
Tuân thủ tôn chỉ, mục đích hoạt động của ILO, IPEC tập trung tác động đến
cả ba nhóm đối tượng chính là các chính phủ, các tổ chức của người sử dụng lao
động và các tổ chức của người lao động Thêm vào đó, IPEC cũng chú trọng vận
động, giúp đỡ các cộng đồng, các nhà trường, các bậc cha mẹ và các cơ quan truyền thông đại chúng tham gia vào việc ngăn ngừa, cấm và xóa bỏ lao động trẻ em Các
Trang 36vấn đề về lao động trẻ em được IPEC tập trung giải quyết đó là: những công việc độc hại, bóc lột; lao động cưỡng bức hay trong các điều kiện dễ bị tổn thương nhất;
lao động của trẻ em gái và trẻ em dưới 12 tuổi
1.3.2 Luật pháp Việt Nam liên quan đến lao động trẻ em
Trẻ em ở Việt Nam có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước Các mục tiêu về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em luôn gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội quốc gia Để thực hiện mục tiêu đó, Đảng và Nhà nước ta đã luật hóa thành những quy định, điều khoản, chế tài trong các bộ luật, luật Mặt khác, nhiều đề án, chính sách, chương trình hành động được ban hành có tính thực tiễn cao góp phần không nhỏ hỗ trợ, giúp đỡ trẻ em nói chung và trẻ em lao động nói riêng
Có thể khẳng định rằng, từ trước khi phê chuẩn Công ước quốc tế về quyền trẻ em và các Công uớc 182 và Công ước 138, quan điểm và đường lối chỉ đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam đã phù hợp với quan điểm của quốc tế về lao động trẻ
em và lao động cưỡng bức
Ngày 23/01/1998 Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã ra Chỉ thị số 06/CT-TTg về việc tăng cường công tác bảo vệ trẻ em, ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị lạm dụng sức lao động Ngày 31/5/1999 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 134/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trình bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt giai đoạn 1999-2002, trong đó nhấn mạnh mục tiêu: Tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động trong toàn xã hội
về công tác bảo vệ trẻ em, ngăn ngừa, giảm dần và tiến tới giải quyết cơ bản vào năm
2002 tình trạng trẻ em lang thang kiếm sống; trẻ em phải làm việc trong điều kiện nặng nhọc và độc hại; trẻ em bị xâm hại tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; trẻ em vi phạm pháp luật; trẻ em bị xâm hại tình dục
Bộ luật Lao động bổ sung và sửa đổi năm 2012 quy định người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động Quy định đối với người lao động chưa thành niên (người lao động dưới 18 tuổi) theo nguyên
Trang 37tắc không được sử dụng lao động chưa thành niên làm những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm…theo danh mục do Bộ LĐ-TB&XH chủ trì phối hợp với Bộ Y
tế ban hành; Người lao động chưa thành niên làm việc không quá 7 giờ/ngày và chỉ được sử dụng lao động chưa thành niên làm thêm giờ, làm việc ban đêm trong một
số nghề công việc do pháp luật quy định Vi phạm những quy định trên sẽ bị xử phạt về hành chính hoặc hình sự
Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (Luật BVCSGDTE) năm 1991 và được sửa đổi vào năm 2004 cũng đã có một điều nghiêm cấm hành vi lạm dụng lao động trẻ em, sử dụng trẻ em làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại Khoản 7, Điều 7 của Luật BVCS&GD trẻ em quy định: nghiêm cấm các hình vi “lạm dụng lao động trẻ em, sử dụng trẻ em làm công việc nặng nhọc, tiếp xúc với chất độc hại, làm những công việc khác trái với quy định của pháp luật
về lao động” Chính phủ đã ban hành Nghị định số: 71/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em Trong đó Điều 9 quy định lạm dụng lao động trẻ em, sử dụng trẻ em làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại, làm những công việc khác trái với quy định của pháp luật về lao động
Nghị định số: 144/2013/NĐ-CP ra ngày 29/10/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính về Bảo trợ, cứu trợ xã hội và bảo vệ, chăm sóc trẻ em Trong đó Điều 29 có quy định các hành vi, vi phạm quy định về cấm lạm dụng lao động trẻ em; sử dụng trẻ em để mua, bán, vận chuyển hàng hóa, hàng giả, hàng trốn thuế, tiền tệ trái phép Tùy theo tính chất mức độ của hành vi vi phạm mà bị phạt tiền từ 1.000.000đ đến 15.000.000đ Ngoài ra còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả
Cùng với việc nội luật hoá các quy định quốc tế, nhiều Chương trình quốc gia liên quan đến xóa bỏ lao động trẻ em đã và đang thực hiện như: Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và giảm nghèo; Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em (2001-2010); Chương trình quốc gia ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm phạm tình dục và trẻ em phải lao động nặng nhọc trong điều
Trang 38kiện độc hại, nguy hiểm (2004-2010); Chương trình hành động quốc gia chống tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em (2004-2010) và gần đây nhất, là Chỉ thị số 1408/CT-TTg ngày 1/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ về “Tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em”, trong đó có lao động trẻ em…
Chương trình Ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm phạm tình dục và trẻ em phải lao động nặng nhọc, trong điều kiện độc hại, nguy hiểm giai đoạn 2004-2010 (gọi tắt là Chương trình 19) với mục tiêu: “Nâng cao nhận thức và hành động của toàn xã hội về công tác bảo vệ trẻ em; ngăn ngừa, giảm dần và tiến tới giảm cơ bản vào năm 2010 số lượng trẻ em lang thang kiếm sống, trẻ em bị xâm phạm tình dục và trẻ em phải lao động nặng nhọc trong điều kiện độc hại, nguy hiểm, tạo điều kiện để những trẻ em này được bảo vệ, chăm sóc, giáo dục và phát triển toàn diện về mọi mặt, có cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn”
Sau 6 năm triển khai và thực hiện Chương trình kết quả được đánh giá là chương trình này đã nhận được sự quan tâm của chính quyền các cấp, các ngành, các đoàn thể và các tổ chức xã hội địa phương, gia đình và bản thân trẻ em Đặc biệt việc thực hiện các mô hình của Đề án 3 về “Ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ
em lao động trong nặng nhọc trong điều kiện độc hại và nguy hiểm” được nhiều địa phương nhân rộng, từ đó nâng cao nhận thức của nhiều gia đình, cộng đồng trong việc phòng ngừa và giảm đáng kể tình trạng trẻ em lao động sớm, lao động nặng nhọc, trong điều kiện độc hại và nguy hiểm
Hàng năm, Thanh tra Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội tập huấn về quy trình thanh tra, kiểm tra tình hình trẻ em lao động nặng nhọc, trong điều kiện độc hại, nguy hiểm vào chương trình đào tạo/tập huấn của Thanh tra Bộ, nhằm củng cố kiến thức cho cán bộ thanh tra địa phương chủ động triển khai công tác thanh tra, kiểm tra về lao động trẻ em Thanh tra Bộ cũng đang nghiên cứu xây dựng quy trình thanh tra Thực tế cho thấy cần phải có một bộ máy cơ quan thanh tra chuyên trách thường xuyên theo dõi, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các chính sách pháp luật
về BVCSTE nói chung và về lao động trẻ em nói riêng nhằm phòng ngừa và xoá bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất
Trang 39Ngày 09/12/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Văn bản số QHQT về việc phê duyệt Dự án Hỗ trợ xây dựng và thực hiện các chương trình về xoá bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất do ILO hỗ trợ Dự án được triển khai tại 5 tỉnh/thành phố: Hà Nội, Lào Cai, Ninh Bình, Quảng Nam và Đồng Nai nhằm mục tiêu góp phần phòng ngừa và từng bước xóa bỏ hiện trạng lao động trẻ
2463/TTg-em thông qua việc hỗ trợ chương trình có thời hạn để xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất tại Việt Nam
Để thực hiện có hiệu quả công tác xóa bỏ lao động trẻ em ở Việt Nam, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tiếp tục trình Thủ tướng Chính phủ xây dựng Chương trình Quốc gia về bảo vệ trẻ em, trong đó nội dung về xây dựng và nhân rộng mô hình can thiệp, trợ giúp trẻ em lao động trong điều kiện tồi tệ giai đoạn 2011-2015
Việc nghiên cứu luật pháp về lao động trẻ em đang ngày càng được quan tâm Nhằm tạo sự chuyển biến từ nhận thức đến hành động, giúp ngăn ngừa tiến tới xóa bỏ tình trạng lao động trẻ em ở Việt Nam, phù hợp với các điều ước quốc tế, Việt Nam đang từng bước nghiên cứu sửa đổi và ban hành nhiều văn bản pháp luật
và chính sách
1.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
1.4.1 Một số đặc điểm về kinh tế - xã hội quận Hà Đông
Hà Đông là một quận thuộc thủ đô Hà Nội, nằm bên bờ sông Nhuệ, cách trung tâm Hà Nội 11km về phía Tây Quận Hà Đông nằm dọc theo Quốc lộ 6 từ Hà Nội
đi Hòa Bình và trên ngã ba sông Nhuệ, sông La Khê
Vị trí địa lý: Phía Đông giáp huyện Thanh Trì, Quận Thanh Xuân; Phía Bắc giáp huyện Từ Liêm, huyện Hoài Đức; phía Tây giáp các huyện Quốc Oai, Hoài Đức, Chương Mỹ; Phía Nam giáp các huyện Thanh Oai, Chương Mỹ
Theo Nghị quyết của Quốc Hội khóa XII, kỳ họp thứ 3, ngày 29/5/20008, từ ngày 1/8/2008, cùng với toàn bộ tỉnh Hà Tây, thành phố Hà Đông được nhập về thủ
đô Hà Nội
Trang 40Ngày 8/5/2009, Chính phủ ra Nghị quyết sô 19/NQ-CP về việc thành lập quận
Hà Đông thuộc thành phố Hà Nội trên cơ sở toàn bộ 4.791,74 ha diện tích tự nhiên
và 198.678 nhân khẩu với 17 phường trực thuộc của thành phố Hà Đông
Các đơn vị hành chính: Quận Hà Đông hiện có 17 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các phường: Quang Trung, Yết kiêu, Nguyễn trãi, Phúc La, Vạn Phúc, Hà Cầu, Văn Quán, Mộ Lao, La Khê, Phú La, Kiến Hưng, Yên Nghĩa, Phú Lương, Phú Lãm, Dương Nội, Biên Giang và Đồng Mai Trụ sở Ủy ban Nhân dân quận tại số 4 phố Hoàng Văn Thụ, Hà Đông, Hà Nội
Tình hình kinh tế - văn hóa – xã hội:
Về kinh tế: nằm ở phía Tây Nam Hà Nội, đầu mối của nhiều tuyến đường giao thông quan trọng có vị trí chiến lược cả về chính trị, kinh tế và quân sự Quận Hà Đông có cơ cấu kinh tế chuyển dịch, với tỷ trọng công nghiệp xây dựng chiếm 53,5
%, thương mại – dịch vụ- chiếm 45,5%, nông nghiệp chỉ còn 1,0% Sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp đã tiến những bước dài về quy mô, sản lượng, có tốc
độ tăng trưởng GDP bình quân 3 năm (2005 - 2008) đạt 17,7% Từ tháng 8/2008 đến tháng 8/2009, giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh của quận Hà Đông đạt gần 1.821 tỷ đồng; tổng thu ngân sách nhà nước đạt 1.964,5 tỷ đồng
Về đầu tư – xây dựng: Hà Đông đã và đang triển khai xây dựng nhiều khu đô thị mới; Văn Quán, Mỗ Lao, Văn Phú, Lê Trọng Tấn, Trục đô thị phía Bắc , các trường đại học, các bệnh viện quốc tế với số vốn huy động đầu tư hàng chục tỷ đô la
Từ đầu năm đến nay, quận đã có 32 công trình được duyệt quyết toán, 44 công trình hoàn thành đưa vào sử dụng, 108 công trình đang thi công, 39 công trình đã được phê duyệt đầu tư, 161 công trình đang được thực hiện thủ tục chuẩn bị đầu tư
để trình duyệt
Về làng nghề: Hà Đông có nghề dệt lụa nổi tiếng từ lâu với làng lụa Vạn Phúc nổi tiếng thế mạnh của việc phát triển dịch vụ du lịch kết hợp với tham quan các làng nghề của vùng Ngoài ra còn có the La Khê, làng rèn Đa sỹ
Về giáo dục: Hiện quận Hà Đông có 65 trường mầm non, tiểu học, trung học cơ
sở, trung học phổ thông cả công lập và tư thục, trong đó có 15 trường học đạt chuẩn