Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài cung cấp cho chúng ta được phần nào bức tranh về sự hội nhập trong đời sống cộng đồng của người dân di cư, những khó khăn, trở ngại họ phải vựơt qua
Trang 1, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA XÃ HỘI HỌC
********
VŨ THỊ THÙY DUNG
SỰ HỘI NHẬP CỘNG ĐỒNG CỦA DÂN DI CƯ TỰ DO
Ở HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG HIỆN NAY
(Nghiên cứu trường hợp tại xã Tân Thanh, Lâm Hà, Lâm Đồng)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Hà Nội, tháng 9 năm 2009
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA XÃ HỘI HỌC
********
VŨ THỊ THÙY DUNG
SỰ HỘI NHẬP CỘNG ĐỒNG CỦA DÂN DI CƯ TỰ DO
Ở HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG HIỆN NAY
(Nghiên cứu trường hợp tại xã Tân Thanh, Lâm Hà, Lâm Đồng)
Chuyên ngành : Xã hội học
Mã số : 603130
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS TRỊNH VĂN TÙNG
Hà Nội, tháng 9 năm 2009
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Di dân và di dân tự do không phải là một vấn đề mới song nó lại là một vấn đề khá bức xúc trong rất nhiều năm qua cả ở trong thực tiễn và các diễn đàn khoa học Hơn thế, vấn đề hội nhập cộng đồng lại là một khía cạnh mới, chưa có một nghiên cứu chính thống nào cho vấn đề này Nghiên cứu của tôi lần đầu tiên đi vào vấn đề này với khía cạnh tương đối khó và nhạy cảm Song sau nhiều tháng ngày làm việc miệt mài, hết mình, say mê trên tinh thần khoa học, nghiêm túc, luận văn đã hoàn thành đúng như dự kiến
Nhân đây, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của T.S Trịnh Văn Tùng – người hướng dẫn tôi Xin chân thành cảm ơn sự cộng tác hướng dẫn nhiệt tình của Thầy Phạm Văn Tài (Khoa Xã hội học và công tác xã hội – Đại học Đà Lạt) – người đã cùng tôi có những ngày làm việc vất
vả tại địa phương Xin chân thành cảm ơn sự cộng tác của các đồng nghiệp và sinh viên của tôi ở Khoa Xã hội học và công tác xã hội trường Đại học Đà Lạt
đã giúp tôi hoàn thành báo cáo này Và cuối cùng, xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm Khoa xã hội học – Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, đã tạo điều kiện để cho tôi bảo vệ sớm luận văn này
Đề tài của tôi lần đầu tiên đi vào một khía cạnh mới và tương đối khó, cho nên không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Rất mong sự góp ý, chia sẻ từ quý Thầy, Cô, các bạn đồng nghiệp, và những ai quan tâm để luận văn của tôi có điều kiện hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Vũ Thị Thùy Dung
Trang 4CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 BNN&PTNT Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
8 NGO Tên viết tắt của các tổ chức phi chính phủ
(Non – Governmental Organiration)
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN 1 : MỞ ĐẦU vi
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 2
2.1 Ý nghĩa thực tiễn 2
2.2 Ý nghĩa lý luận 2
3 ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
3.1 Đối tượng 3
3.2 Khách thể 3
4 MỤC ĐÍCH, MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
4.1 Mục tiêu, mục đích nghiên cứu : 3
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu : 4
5 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
5.1 Phương pháp luận : 4
5.2 Phương pháp nghiên cứu : 4
6 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 6
7 KHUNG LÝ THUYẾT 7
PHẦN 2 NỘI DUNG CHÍNH 8
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 8
1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 8
2 Hệ thống khái niệm 10
2.1 Hội nhập xã hội 10
2.2 Cộng đồng 10
2.3 Khái niệm việc làm, nghề nghiệp 11
2.4 Di dân và di dân tự do 12
3 Lý thuyết tiếp cận 14
3.1 Lý thuyết sự chọn lựa hợp lý của Coleman, Friedman và Hechter 14
3.2 Lý thuyết mạng lưới xã hội 16
3.3 Lý thuyết vốn xã hội 18
3.4 Lý thuyết về di dân 22
4 Quan điểm, chính sách của Đảng về vấn đề di dân 23
Trang 6CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH HỘI NHẬP CỘNG ĐỒNG CỦA
NGƯỜI DÂN DI CƯ TỰ DO 25
1 Tình hình di dân tự do ở Tây Nguyên trong những năm qua 25
2 Thực trạng hội nhập nghề nghiệp, việc làm của người dân nhập cư 30
2.1 Sự thay đổi nghề nghiệp việc làm của người dân nhập cư 30
2.2 Mức độ hài lòng về nghề nghiệp hiện tại của người dân nhập cư 33
2.3 Mức độ ổn định nghề nghiệp, việc làm của người nhập cư 36
3 Quá trình hội nhập vào các sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của người dân 42
4.Quá trình hội nhập vào các quan hệ xã hội trong cộng đồng 47
CHƯƠNG 3 NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ THUẬN LỢI TRONG HỘI NHẬP CỘNG ĐỒNG CỦA NGƯỜI DÂN NHẬP CƯ 56
1 Những thuận lợi 56
1.1 Từ phía người thân ở địa phương 56
1.2 Sự giúp đỡ từ phía chính quyền địa phương 58
2 Khó khăn 60
2.1 Những khó khăn khách quan 60
2.2 Những khó khăn chủ quan 64
PHẦN 3 : KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 65
1 Kết luận 65
2 Khuyến nghị 67 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trích phiếu phỏng vấn hộ gia đình
Trích bảng tần số
Trích bảng tương quan
Trích phỏng vấn sâu
Trang 7PHỤ LỤC BẢNG, BIỂU
PHỤ LỤC BẢNG
Bảng 2.1 Nghề nghiệp trước và sau khi nhập cư 30
Bảng 2.2 Tương quan trình độ học vấn – Nghề nghiệp trước khi xuất cư 31
Bảng 2.3 Tương quan Trình độ học vấn – Nghề nghiệp sau khi xuất cư 32
Bảng 2.4 Tương quan Giới tính – Nghề nghiệp trước và sau nhập cư 33
Bảng 2.5 Mức thu nhập hàng tháng trước và sau nhập cư 34
Bảng 2.6 Tương quan Mức thu nhập hiện tại – Sự hài lòng về công việc 35
Bảng 2.7 Tương quan Dân tộc – Cơ hội chuyển đi nơi khác 39
Bảng 2.8 Tương quan học vấn – Cơ hội chuyển đi nơi khác 41
Bảng 2.9 Tương quan Tuổi – Việc tham gia lễ hội của người dân 44
Bảng 2.10 Tương quan Mức thu nhập hàng tháng – Việc tham gia lễ hội 45
Bảng 2.11 Mức độ coi trọng các mối quan hệ 48
Bảng 2.12 Tương quan Học vấn – Mức độ coi trọng quan hệ gia đình 49
Bảng 2.13 Tương quan Dân tộc – Mức độ coi trọng quạn hệ gia đình 50
Bảng 2.14 Tương quan Dân tộc – Rất coi trọng quan hệ hàng xóm 51
Bảng 2.15 Tương quan Độ tuổi – Mức độ coi trọng quan hệ hàng xóm 52
Bảng 2.16 Mức độ thăm hỏi, trò chuyện với người dân tại cộng đồng 54
Bảng 3.1 Người dân nhận được sự giúp đỡ từ các nguồn 56
Bảng 3.2 Tương quan dân tộc – Chính quyền cho vay vốn 59
Bảng 3.3 Tương quan thu nhập hàng tháng – Khó khăn về tiền bạc 62
PHỤC LỤC BIỂU Biểu 2.1 Quyết định chuyển đi nơi khác nếu có điều kiện 37
Biểu 2.2 Tương quan Giới tính - Cơ hội chuyển đi nơi khác 38
Biểu 2.3 Tương quan Số thành viên trong gia đình – quyết định chuyển 40
Biểu 2.4 Tương quan giới tính – Việc tham gia lễ hội ở cộng đồng 46
Biểu 2.5 Lý do người dân gặp khó khăn trong việc tạo mối quan hệ 53
Biểu 3.1 Sự giúp đỡ từ phía chính quyền 58
Trang 8PHẦN 1 : MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong nhiều năm qua, di dân thực sự đã và đang là vấn đề nóng bỏng của thực tiễn xã hội nước ta Như tác giả Đặng Nguyên Anh nhận xét, di dân ở Việt Nam là một hiện tượng kinh tế - xã hội mang tính quy luật, một yếu tố tất yếu của sự phát triển Di dân là vấn đề có tính quy luật chung, cũng giống như quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở các quốc gia Di dân là một đòi hỏi khách quan trong nền kinh tế thị trường, là biểu hiện rõ nét nhất của sự phát triển không đồng đều, giữa các khu vực, vùng miền và lãnh thổ Dưới tác động của quá trình toàn cầu hóa, những chênh lệch về mức sống, khác biệt trong thu nhập, cơ hội việc làm, nhu cầu dịch vụ xã hội và sức ép sinh kế đang ngày càng trở thành những áp lực cơ bản tạo nên các dòng di chuyển lao động trong và ngoài nước Tuy có nhiều lý do khác nhau, song tất cả đều mong muốn có được một cuộc sống tốt đẹp hơn cho gia đình
và bản thân
Nhiều nghiên cứu đã chỉ rõ, việc di dân đã đem lại những kết quả đáng ghi nhận trong việc cải thiện đời sống của người dân ở chỗ góp phần làm giảm sức ép về việc làm và đời sống khó khăn ở nơi xuất cư, góp phần vào việc bổ sung nhanh chóng nguồn lao động đáp ứng nhu cầu cuộc sống, trên hết là nâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghèo tại nơi đi Tuy nhiên, việc di dân đặc biệt là di dân tự phát cũng đem đến một số tác động tiêu cực cho nơi định cư như khai thác tài nguyên bừa bãi, gây
ô nhiễm môi trường, tạo ra áp lực và xáo trộn về xã hội cho địa phương nơi đến Địa bàn Tây Nguyên trong nhiều năm gần đây được đánh giá là điểm nóng đón nhận những dòng di cư tự do Hình thành ở nơi này những khu kinh tế hay vùng kinh tế mới Cùng với những người Kinh có điều kiện thì phần đông là những người dân tộc thiểu số, trình độ văn hóa còn hạn chế, hơn nữa là sự bất đồng về ngôn ngữ Bên cạnh sự xoay xở và tự lo cho cuộc sống của mình thì trở ngại từ phía cộng đồng đón tiếp đối với họ cũng là một bài toán đặt ra, đó là sự hoà nhập, hội nhập vào cuộc sống cộng đồng của vùng đất mới
Trang 9Làm thế nào để những người nhập cư có thể sớm ổn định cuộc sống và thích ứng với môi trường sống tại nơi đến? Liệu sự hoà nhập đó có mang lại những cơ hội nghề nghiệp mới cho những người nhập cư? Mức độ ổn định công việc và nghề nghiệp của họ có như mong đợi của họ hay không ? Có những thuận lợi và khó khăn nào trong quá trình hội nhập của họ? Và sự ổn định đó có đem đến xu hướng phát triển nào trong tương lai của những người nhập cư?
Các nghiên cứu trong nhiều năm qua chủ yếu đề cập nhiều đến dòng di cư từ nông thôn ra thành thị kiếm sống, mà chủ yếu là di cư con lắc hay di cư theo mùa
vụ Rất ít những nghiên cứu có quy mô về hướng di dân tự do nông thôn – nông thôn Vì thế, hầu hết các nghiên cứu thường phản ánh chưa đầy đủ được mọi mặt của vấn đề di dân tự do, nhất là việc định cư, nhập cư của dòng người di cư này Và trên thực tế thì việc định cư, thiết lập những khu vực kinh tế mới hiện nay ở Tây Nguyên nói chung và Lâm Đồng nói riêng có vai trò không nhỏ của lực lượng di cư
tự do đang được bàn đến ở đây
Từ những lý do trên, đề tài của chúng tôi đi vào tìm hiểu « Sự hội nhập cộng đồng của người dân di cư tự do ở Tây Nguyên hiện nay » Do điều kiện và khả năng
cho phép, nên đề tài tập trung khảo sát ở 3 thôn của xã Tân Thanh, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng
2 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài cung cấp cho chúng ta được phần nào bức tranh về sự hội nhập trong đời sống cộng đồng của người dân di cư, những khó khăn, trở ngại họ phải vựơt qua, cũng như những điều mà họ làm được để tạo dựng trong môi trường cuộc sống mới Đồng thời, kết quả của đề tài góp phần làm giàu cơ sở thực tiễn giúp cho các nhà hoạch định chính sách và quản lý kinh tế, xã hội có cái nhìn xác thực hơn để từ đó có thể đưa ra những chính sách và biện pháp quản lí hữu hiệu hơn
2.2 Ý nghĩa lý luận:
Kết quả của đề tài sẽ mang lại những thông tin hữu dụng bổ sung cho lý thuyết
Trang 103 ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng : Sự hội nhập cộng đồng của người dân di cư tự do
và 3/ sự hội nhập vào các quan hệ xã hội trong cộng đồng
3.3.2 Phạm vi không gian nghiên cứu:
Do điều kiện và trong khả năng có thể, đề tài tập trung nghiên cứu ở ba thôn (thôn 1, thôn 6 và thôn 10) tại xã Tân Thanh, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng
3.3.3 Thời gian nghiên cứu:
Đề tài triển khai làm việc với cộng đồng từ 10/6/2008 (bắt đầu đi tiền trạm), và sau đó triển khai điều tra đến tháng 9/2009
4 MỤC ĐÍCH, MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
4.1 Mục đích nghiên cứu:
Đề tài đi sâu vào tìm hiểu sự hội nhập cộng đồng của người dân di cư tự do ở huyện Lâm Hà – Lâm Đồng hiện nay
4.2 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng sự hội nhập cộng đồng của người dân di cư
Xem xét những khó khăn và thuận lợi trong quá trình hội nhập của người dân trên địa bàn mới
Trang 114.2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu :
* Tìm hiểu thực trạng sự hội nhập cộng đồng của người dân di cư tự do hiện nay ở Lâm Hà, Lâm Đồng
- Đi sâu tìm hiểu thực trạng hội nhập trong nghề nghiệp, việc làm của người dân
- Tìm hiểu sự hội nhập của người dân vào các sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng trong cộng đồng
- Tập trung xem xét sự hội nhập của người dân vào các quan hệ xã hội trong cộng đồng
* Xem xét những khó khăn và thuận lợi trong quá trình hội nhập cộng đồng của người dân di cư trên địa bàn mới
5 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.2 Phương pháp nghiên cứu :
Có hai phương pháp chính được sử dụng cho nghiên cứu này là phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng
5.2.1 Với phương pháp định lượng :
Đề tài dùng phương pháp thu thập thông tin bằng bảng hỏi với dung lượng mẫu
là 150 Cách chọn mẫu được tiến hành theo phương pháp ngẫu nhiên thuần túy theo
cơ cấu theo nhóm tuổi, giới tính, dân tộc và trình độ học vấn Số phiếu được phát ra
là 150, chia đều cho 3 thôn: thôn 1 là 50 phiếu, thôn 6: 50 phiếu, thôn 10: 50 phiếu
Trang 12Tỷ lệ giới tính
51%
49%
nam nữ
Cơ cấu mẫu như sau :
Độ tuổi
22.7
32 30
9.3 6 0
5 10 15 20 25 30 35
20 - 30
31 - 40
41 - 50
51 - 60 Trên 60
Thành phần dân tộc
48.3
9.4
24.8 14.8
0.7 1.3 0.7 0
Học vấn
21.3
12
24.7 22
6 10.7
3.3
0 5 10 15 20 25
1
Chua het cap 1 Het cap 1 Chua het cap 2 Het cap 2 Chua het cap 3 Het cap 3 Tren cap 3
Số người cùng sống trong gia đình
Trang 135.2.2 Với phương pháp định tính:
Đề tài sử dụng các phỏng vấn sâu và phân tích tài liệu sẵn có, cụ thể như sau :
* Đề tài thực hiện 15 phỏng vấn sâu, để tìm hiểu sâu hơn về những thông tin chưa thu thập được trong bảng hỏi, trong đó: 8 phỏng vấn sâu dành cho người nhập cư và 7 phỏng vấn sâu dành cho nhóm chính cư
* Phương pháp phân tích tài liệu từ các nguồn số liệu thống kê của tổng cục thống kê và Ủy ban dân số và kế hoạch hóa gia đình
* Ngoài ra, đề tài còn sử dụng phương pháp quan sát, phương pháp phân tích thông tin thứ cấp có được từ các báo cáo địa phương
6 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
6.1 Có nhiều thay đổi về nghề nghiệp và việc làm của người di cư trong quá trình nhập cư mới Trong đó, đa số người dân cho rằng cuộc sống của họ được cải thiện hơn trước
6.2 Quá trình tham gia vào các sinh hoạt văn hóa, tin ngưỡng đã giúp người dân hội nhập vào cộng đồng mới dễ dàng hơn
6.3 Trong quá trình hội nhập vào cộng đồng, yếu tố dân tộc và trình độ học vấn
có ảnh hưởng lớn đến việc hội nhập thành công của người dân trong cộng đồng
Trang 147 KHUNG LÝ THUYẾT
Đặc điểm kinh tế xh
Sự hội nhập cộng đồng của người di cư tự do
Sự hội nhập vào các sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng
Sự hội nhập trong các quan hệ cộg đồng
Sự hội nhập trong nghề nghiệp
và việc làm
Đặc điểm cá nhân –
xã hội của người nhập cư - (giới tính, tuổi, dân tộc, tôn giáo, học vấn…)
Nhu cầu cải thiện đời sống
Lực đẩy – lực hút
của nơi đi và nơi đến
Trang 15PHẦN 2 NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Khi nhận định về vai trò di dân nông thôn - đô thị, tác giả Đặng Nguyên Anh cho rằng, di dân đang góp phần vào sự nghiệp xoá đói giảm nghèo, nâng cao mức
sống, cải thiện thu nhập cho các gia đình ở nông thôn hiện nay Trong bài viết « Di dân và quản lý di dân trong giai đoạn phát triển mới : - một số suy nghĩ từ góc độ nghiên cứu » - Tạp chí Xã hội học số 3 & 4, 1999, tác giả này còn đề cập đến các
chính sách quản lí di dân của Nhà nước, thường là “nhấn mạnh vào việc kiểm soát
di dân tự do, hạn chế các luồng di chuyển lao động từ nông thôn ra thành phố lớn”
và khẳng định các chính sách này ít khả thi và không đem lại kết quả lâu bền; đề xuất với Nhà Nước cần tạo điều kiện cho người lao động nhập cư ổn định cuộc sống, bình đẳng, khuyến khích mặt tích cực của người lao động nhập cư nhằm phục vụ cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế
Hai tác giả Lê Ngọc Lân, Phùng Thị Kim Anh, khi phân tích về « Chính sách việc làm cho lao động nữ nông thôn trong thời kì đổi mới » Tạp chí Xã hội học cho
rằng, tình trạng thiếu việc làm và thu nhập thấp cũng tạo nên dòng chảy lao động từ nông thôn ra thành phố, trong đó có nhiều phụ nữ Họ làm đủ các nghề từ giúp việc nhà, buôn bán phế liệu đến bán hàng rong thậm chí có chị em còn tham gia những hoạt động bị xã hội ngăn cấm…Tuy nhiên, việc di chuyển lao động tự do từ các vùng nông thôn ra thành thị, đặc biệt là các đô thị lớn đang là vấn đề nổi cộm, nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, nhất là các tệ nạn xã hội
Trong bài viết « Di dân, phát triển và bất bình đẳng ở Việt Nam trên đường đổi mới và hội nhập » tác giả Nguyễn Thanh Liêm đã chỉ ra mối quan hệ giữa di dân,
phát triển và bất bình đẳng có mối quan hệ tương hỗ, phức tạp và đa dạng với nhiều chiều cạnh Di dân lao động gắn với những dịch chuyển và phân phối lại lao động
có thể góp phần giải quyết những mâu thuẫn trong quan hệ cung cầu lao động Vì vậy, di dân lao động góp phần giải quyết thất nghiệp cho vùng đi và đồng thời đáp
Trang 16ứng nhu cầu lao động cho vùng đến Bài viết đề cập đến sự tác động qua lại, tính hai mặt của đổi mới, phát triển và bất bình đẳng đến di dân
Tác giả Douglas S Massey (Giáo sư Xã hội hoc người Mỹ) trong bài viết « Các nguồn gốc xã hội và kinh tế của nhập cư » 1994, đã chỉ ra rằng : di cư là một vấn đề
của mọi xã hội, mỗi quốc gia, di cư là một vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu để
có những chính sách phù hợp với yêu cầu nguồn nhân lực tại nơi xuất cư và nơi nhập cư Tác giả cho rằng, các mô hình nhập cư đương thời biểu thị cho một sự đoạn tuyệt với quá khứ Di cư có nguồn gốc là do những yêu cầu về mặt kinh tế, xã hội và chính sách của mỗi cá nhân, gia đình hay quốc gia Bài viết sử dụng lý thuyết mạng lưới xã hội, lý thuyết kinh tế Macro, lý thuyết kinh tế vi mô, luật nhập cư để phân tích nguồn gốc của nhập cư Qua bài viết, chúng ta có thể có một cách vận dụng lý thuyết trong phân tích các vấn đề di dân và nhập cư
Phân tích các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về làn sóng di dân lao động từ nông thôn ra thành thị cho thấy rằng, vấn đề này đã được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau: nguyên nhân di cư, đặc điểm, tính chất, thu nhập từ công việc nơi đến, lứa tuổi, giới tính người lao động, những ảnh hưởng tích cực và hậu quả của hiện tượng xã hội này Tuy vậy, phân tích các công trình nghiên cứu cũng cho thấy các khía cạnh tâm lí của những người lao động di cư này như: nhận thức, động cơ kiếm việc, suy nghĩ, tâm trạng, khát vọng, mong muốn của họ…còn chưa được các nhà nghiên cứu quan tâm, nếu không nói là còn khá trống vắng Đây là vấn đề quan trọng vì những khía cạnh tâm lí này có liên quan trực tiếp tới thái độ, hành vi lao động của những người di cư ra thành thị, đến việc đề ra các biện pháp quản lí họ ở đô thị một cách thích hợp
Những bài viết và những tài liệu trên hầu như chỉ đề cập đến việc di cư từ nông thôn ra thành phố kiếm sống, mà chưa đề cập đến mảng di dân nông thôn – nông thôn, nhất là việc định cư, nhập cư của họ ở những vùng đất mới, những khó khăn trở ngại của người di cư tự do đến cộng đồng mới như thế nào
Trang 17Chính vì thế đề tài của chúng tôi « Sự hội nhập cộng đồng của người di cư tự do
ở Tây Nguyên hiện nay » hy vọng sẽ bổ sung phần nào những hạn chế ở trên nhằm
đem đến một chiều cạnh khác về thực trạng dân di cư tự do hiện nay
2 Hệ thống khái niệm
2.1 Hội nhập
Theo nghĩa rộng, khái niệm hội nhập bao gồm tất cả các cách thức mà chủ thể tham dự vào lao động xã hội Hay nói cách khác, hội nhập là phức thể các hoạt động hay biểu hiện kết nối việc làm và đào tạo, cả trong quá trình thất nghiệp cũng như thăng tiến việc làm, nghề nghiệp1
Theo một nghĩa khác, hội nhập là tổng thể tất cả những phương thức tiếp cận và tham gia vào thị trường lao động, nhằm đạt tới một vị trí xác định trong hệ thống phân công lao động xã hội và đồng thời cùng với nó là một địa vị xác định trong hệ thống phân tầng xã hội2
Người ta có thể xem xét hội nhập từ các giác độ khác nhau Từ giác độ của chủ thể, quá trình hội nhập có thể là quá trình cá nhân hội nhập vào nhóm, hoặc là nhóm,
tổ chức hội nhập vào cộng đồng hay phạm vi xã hội lớn hơn Ở đây, đề tài nhìn nhận hội nhập cộng đồng là quá trình cá nhân hội nhập vào nhóm, vào cộng đồng dân cư, xã hội – nơi mà cá nhân đến sống và làm việc
2.2 Cộng đồng
Cộng đồng là một khái niệm cơ bản của các khoa học xã hội và nhân văn, với nhiều tuyến nghĩa khác nhau Có hai cách hiểu về cộng đồng : cộng đồng tính và cộng đồng thể Cộng đồng tính là thuộc tính hay quan hệ xã hội như tình cảm cộng đồng, tinh thần cộng đồng, ý thức cộng đồng Cộng đồng thể là các nhóm người, nhóm xã hội
có tính cộng đồng với nhiều thể quy mô khác nhau
Khái niệm cộng đồng bao gồm các thực thể xã hội có cơ cấu tổ chức chặt chẽ cho đến các tổ chức có cấu trúc ít chặt chẽ, là một nhóm xã hội có lúc khá phân tán, được liên kết bằng lợi ích chung trong một không gian tạm thời, ví dụ như phong
1 Nguồn: J.Rose: EnQuete d’emploi; Paris, 1982
Trang 18trào quần chúng, công chúng, khán giả, đám đông Đây là một tuyến nghĩa rất hay được sử dụng trong khoa học xã hội, gắn với các thực thể xã hội nhất định
Jodov trong bài viết “Suy nghĩ về đối tượng xã hội học” đã xác định khái niệm
cộng đồng là một phạm trù cơ bản của xã hội học Ở đó, tác giả dùng từ « cộng đồng xã hội » Ông xác định đối tượng nghiên cứu của xã hội học chính là các cộng đồng xã hội Chính cộng đồng xã hội có thể được xem xét như là phạm trù then chốt,
nền tảng trong phân tích xã hội học, để ông định nghĩa: “Xã hội học là khoa học về
sự hình thành, phát triển và vận hành của các cộng đồng xã hội, các tổ chức xã hội
và các quá trình xã hội với tư cách là các cơ chế liên hệ và tác động qua lại giữa các cộng đồng xã hội đa dạng, giữa cá nhân và các cộng đồng, khoa học về các tính quy luật của các hành động xã hội và hành vi của chúng”1
Cộng đồng trong quan niệm mác - xít là mối liên hệ qua lại giữa các cá nhân, được quyết định bởi tính liên kết và các lợi ích của các thành viên có sự giống nhau
về các điều kiện tồn tại và hoạt động của con người hợp thành cộng đồng đó, bao gồm các hoạt động sản xuất vật chất và các hoạt động khác của họ, sự gần gũi của
họ về tư tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị và chuẩn mực, nền sản xuất, sự tương đồng về điều kiện sống, cũng như các quan niệm chủ quan của họ về các mục tiêu và phương tiện hoạt động.2
2.3 Khái niệm việc làm, nghề nghiệp
* Khái niệm việc làm:
Theo Thông tư hướng dẫn của liên Bộ Lao động Thương bình và Xã hội và
Tổng cục thống kê 1986, thì « việc làm là những dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật nghiêm cấm, nhằm đem lại thu nhập cho gia đình »
Điều 13 Bộ luật lao động năm 1994 cũng ghi rõ : « Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm » Vì thế, việc làm là
Trang 19loại hình hoạt động sản xuất vật chất, tinh thần có mục đích tạo ra thu nhập bằng tiền hoặc hiện vật và không bị pháp luật cấm
Tổ chức lao động quốc tế ILO cũng cho rằng : Người có việc làm là những người làm một việc gì đó được trả công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hoặc
vì thu nhập gia đình không nhận tiền công hoặc hiện vật
Trong Xã hội học lao động, tác giả Lê Ngọc Hùng cho rằng : « Xã hội học kinh
tế xem xét việc làm với tư cách là vị trí tương ứng với nó là vị thế, vai trò trong cấu trúc lao động xã hội”
* Khái niệm nghề nghiệp
Trong từ điển Tiếng Việt, khái niệm nghề nghiệp có hai tuyến nghĩa: 1) công việc chuyên môn làm hay công việc được thực hiện trong một thời gian dài, theo sự phân công lao động xã hội; 2) đó là việc làm được thực hiện một cách thành thạo với chất lượng và hiệu quả cao Nghĩa này xuất hiện với cụm từ « thành nghề »,
« rất nghề »…
Như vậy, nghề trước hết là việc làm nó mang đầy đủ các đặc trưng của việc làm, được thực hiện trong một thời gian dài với chất lượng và hiệu quả nhất định Nó có đặc trưng về thời gian và trình độ đào tạo, hành nghề
2.4 Di dân và di dân tự do
Khái niệm di dân (migration):
Theo nghĩa rộng: Di dân là sự chuyển dịch bất kỳ của con người trong một
không gian và thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn Với khái niệm này, di dân đồng nhất với sự di động dân cư
Theo nghĩa hẹp: Di dân là sự di chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến
một đơn vị lãnh thổ khác, nhằm thiết lập một nơi cư trú mới trong một không gian, thời gian nhất định
Khái niệm này khẳng định mối liên hệ giữa sự dịch chuyển với việc thiết lập nơi cư trú mới
Trang 20Một số đặc điểm về di dân :
Người di cư di chuyển ra khỏi một địa dư nào đó đến một nơi khác sinh sống Nơi đi và nơi đến phải được xác định là một vùng lãnh thổ hay một đơn vị hành chính (khoảng cách giữa hai địa điểm là độ dài di chuyển)
Người di chuyển bao giờ cũng có những mục đích, hoặc đến một nơi nào đó
và định cư tại đó trong một khoảng thời gian để thực hiện mục đích đó
Khoảng thời gian ở lại bao lâu là một trong những tiêu chí quan trọng để xác định di dân
Một số đặc điểm khác nữa, khi xem xét di cư, như sự thay đổi các hoạt động sống thường ngày, thay đổi các quan hệ xã hội Di dân gắn với sự thay đổi công việc, nơi làm việc, công việc nghề nghiệp…
Các loại hình di dân:
Theo địa bàn nơi đến, ta sẽ có di dân quốc tế và di dân nội địa ;
Theo độ dài thời gian cư trú, ta sẽ có : di chuyển lâu dài, di chuyển tạm thời, di chuyển mùa vụ/con lắc…
Theo đặc trưng di dân, chúng ta có thể sắp xếp:
Di dân có tổ chức: Hình thái di chuyển di chuyển dân cư được thực hiện theo kế
hoạch và các chương trình mục tiêu nhất định do Nhà nước, chính quyền các cấp vạch ra và tổ chức, chỉ đạo thực hiện với sự tham gia của các tổ chức đoàn thể xã hội
Di dân tự phát (tự do): mang tính cá nhân do bản thân người di chuyển hoặc bộ
phận gia đình quyết định, không có và không phụ thuộc vào kế hoạch và sự hỗ trợ của Nhà nước và các cấp chính quyền Loại hình di dân này phản ánh tính năng động và vai trò độc lập của cá nhân và gia đình trong việc giải quyết đời sống, tìm công ăn việc làm Đồng thời đặc trưng của loại hình này cũng thể hiện tính thiếu tổ chức lao động theo nghĩa rộng của từ
Liên quan đến vấn đề di dân là việc xuất cư và nhập cư
Xuất cư là việc di chuyển nơi cư trú từ nơi này sang nơi khác, quốc gia này sang quốc gia khác để sinh sống tạm thời hay vĩnh viễn, thời gian ngắn hoặc dài
Trang 21Nhập cư: là việc di chuyển đến một nơi khác, một quốc gia khác
3 Lý thuyết tiếp cận
3.1 Lý thuyết sự chọn lựa hợp lý của Coleman, Friedman và Hechter
Lý thuyết này dù có ảnh hưởng tới sự phát triển của lý thuyết trao đổi, nhưng thuyết chọn lựa hợp lý nói chung vẫn nằm ngoài lề dòng lý thuyết xã hội học chủ đạo Tuy nhiên, với nỗ lực của Coleman mà thuyết chọn lựa hợp lý đã trở nên một trong các lý thuyết nóng của xã hội học đương thời
Các nguyên tắc cơ bản của lý thuyết chọn lựa hợp lý phát sinh từ kinh tế học cổ điển Trong những năm 1950, nhà kinh tế học người Mỹ đạt giải Nobel về kinh tế học, Herbert Simon, kết hợp với đồng sự có tên là James March, đã đưa ra lí thuyết duy lí hạn chế (theory of limited rationality) Dựa vào một loạt các kiểu mẫu khác nhau, Friedman và Hechter đã xếp chung cái mà họ diễn tả như là một “bộ xương” của lý thuyết thường được dịch ra tiếng Việt là lí thuyết lựa chọn hợp lí Cũng có thể hiểu nó theo cách lí thuyết lựa chọn duy lí Vậy lí thuyết lựa chọn hợp lí được đơn giản như thế nào? Có ba ý cơ bản:
- Mọi hành vi và hành động của chủ thể đều có toan tính;
- Nhưng sự toan tính hành vi hay toan tính hành động không bao giờ đạt được tối ưu vì nguồn lực và nguồn thông tin không bao giờ đầy đủ;
- Do vậy, chủ thể tự thoả mãn với việc lựa chọn giải pháp mang lại giá trị theo
đó chủ thể cho rằng, lượng giá trị có được từ hành vi hay hành động ấy tương đương với thông tin, nguồn lực và bối cảnh của mình
Như vậy, tiêu điểm của thuyết chọn lựa hợp lý là các chủ thể Các chủ thể được xem là có các mục đích hay mục tiêu về cái mà hành động họ hướng tới Ở điểm này, nó không khác nhiều với hành động duy lí – công cụ của Max Weber định nghĩa Nhưng điểm khác biệt chính là trong lí thuyết hành động của Max Weber, tác giả cho rằng, hành động duy lí ấy đạt tính “tối đa” hay “tối ưu” trong toan tính quan
hệ phương tiện - mục đích Các chủ thể được xem là có các sở thích (như các giá trị, các tiện ích) Thuyết chọn lựa hợp lý không quan tâm đến tính chất các sở thích này
Trang 22các đối tượng phù hợp với hệ thống sở thích và điều kiện bất ngờ mà chủ thể gặp phải
Các chủ thể khi hành động phải đối diện với hai sự kìm hãm Đầu tiên, đó là sự khan hiếm hay sự “không hoàn nguyên” của các tiềm năng và nguồn Các chủ thể
có các tiềm năng khác nhau cũng như các cách thâm nhập khác nhau vào các tiềm năng khác Đối với những người có nhiều tiềm năng, thành quả cuối cùng có thể tương đối dễ Tuy nhiên, đối với những người có ít tiềm năng, sự đạt được mục đích
có thể khó khăn hơn hoặc là bất khả Trong việc theo đuổi một mục đích đưa ra, các chủ thể phải để mắt tới cái giá của hành động lôi cuốn nhất kế tiếp của họ Một chủ thể có thể chọn cách không theo đuổi mục đích có giá trị cao nhất nếu tiềm năng của họ không đáng kể Nếu kết quả là các cơ may để đạt được mục đích đó quá mỏng manh và nếu trong việc cố gắng để đạt tới mục đích đó, họ hủy hoại các cơ may đạt được mục đích giá trị nhất kế tiếp của mình Các chủ thể được xem là cố gắng tối đa hóa các điều lợi của họ và mục tiêu đó có thể bao gồm việc đánh giá mối quan hệ giữa các cơ may đạt được một mục đích sơ khởi, và điều mà thành tựu
đó thực hiện đối với các cơ may để đạt được đối tượng giá trị nhất thứ hai
Một nguồn kìm hãm thứ hai đối với hành động của cá thể là các thể chế xã hội
Như Friedman và Hechter xác định, một cá thể hành động một cách khuôn sáo, tìm
ra các hành động của anh ta được kiểm lại từ đầu đến cuối bởi các nguyên tắc gia đình và trường học; các luật lệ và các mệnh lệnh; các chính sách cứng rắn… Bằng cách hạn chế tập hợp các hành động có sẵn cho các cá thể, các luật chơi có tính cưỡng ép, bao gồm các tiêu chí, các quy luật, các lịch trình, các nguyên tắc bầu chọn - ảnh hưởng một cách có hệ thống tới kết quả xã hội
Friedman và Hechter liệt kê hai ý tưởng khác mà họ coi là cơ sở cho thuyết chọn lựa hợp lý Đầu tiên là một tập hợp cơ cấu hay quá trình qua đó, các hành vi cá thể riêng biệt được kết hợp để tạo ra kết quả xã hội Thứ hai là nhận thức đang lớn dần về tầm quan trọng của thông tin trong việc thực hiện các chọn lựa hợp lý Trên tinh thần của lý thuyết này, khi tìm hiểu về sự hội nhập cộng đồng của người dân nhập cư, đề tài xem xét việc người dân đã tận dụng được nguồn thông tin như thế
Trang 23nào và liệu họ có tối đa hóa lợi ích với chi phí bỏ ra thấp nhất mà họ sẽ phải đạt được khi quyết định chuyển cư và nhập cư hay không Hơn nữa, người dân nhập cư
sẽ xử lí như thế nào với việc tăng dần thông tin ở nơi đến?
3.2 Lý thuyết mạng lưới xã hội
Các nhà phân tích mạng lưới muốn nghiên cứu tính quy tắc trong cách thức mọi người và các tập thể cư xử hơn là các tính quy tắc trong những niềm tin về cách thức mọi người nên cư xử Thuyết mạng lưới xác định mối quan tâm chính yếu của
họ là các khuôn mẫu khách quan của các liên hệ nối kết các thành viên của xã hội
Và nó đi đến việc nghiên cứu giá trị của “các liên hệ yếu” mà theo Granovetter đó
là sức mạnh của các liên hệ yếu Các liên hệ yếu là những nối kết giữa mọi người với những người quen biết bình thường Trong khi các nhà xã hội học có xu hướng tập trung vào các liên hệ vững trong các nhóm xã hội, thì Granovetter đã làm nổi bật được giá trị của các liên hệ yếu là nó ngăn ngừa sự biệt lập và cho phép các cá thể hòa hợp tốt hơn với xã hội lớn Đây là một dạng tính hội nhập Hay nói đúng hơn, đây là một tiền đề quan trọng cho sự hội nhập
Lý thuyết mạng lưới xã hội được hình thành trên cơ sở lý thuyết hệ thống và tương tác xã hội Khái niệm này ngày càng được sử dụng rộng rãi trong cách tiếp cận xã hội học
Khái niệm mạng lưới xã hội dùng để chỉ phức thể các quan hệ xã hội do con người xây dựng, duy trì và phát triển trong cuộc sống thực của họ với tư cách là thành viên của xã hội Một hay nhiều quan hệ của hai chủ thể với nhau tạo thành một liên kết Mạng xã hội là tập hợp các liên kết bao gồm các quan hệ đan chéo, chằng chịt từ quan hệ gia đình, thân tộc, bè bạn đến quan hệ trong tổ chức, đoàn thể, hiệp hội, đảng phái, nghề nghiệp…
Đặc điểm của mạng lưới xã hội
Các mạng lưới xã hội là một phần quan trọng của cơ cấu xã hội Nó hữu ích cho các cá nhân và quan trọng trong hầu hết các xã hội Vì thông qua mạng lưới xã hội, thông tin, kiến thức và các nguồn lực được chia sẻ giữa các cá nhân và các nhóm xã
Trang 24hội Từ đó sức mạnh cá nhân và xã hội được tăng lên, mặt khác nó làm cho xã hội vận hành một cách gắn bó, hài hòa
Mạng lưới xã hội không có ranh giới “vật chất” rõ ràng: các thành viên có thể
có hoặc không tương tác đều đặn Hơn nữa, con người trong các mạng lưới xã hội không thường xuyên có nhận thức rằng họ thuộc về mạng lưới đó, hoặc họ cần có những mục tiêu, mục đích chung như là các thành viên của một nhóm Vì trong một mạng lưới xã hội con người phải xử lý phức hợp nhiều mối quan hệ xã hội mà nó không bắt buộc phải thực hiện một cách cứng nhắc Hơn nữa, cùng một lúc, một cá nhân có thể tham gia nhiều mạng lưới xã hội Như vậy, cảm nhận cá nhân thuộc về mạng lưới xã hội nào mới có ý nghĩa Hay nói cách khác, chúng ta chỉ có thể quan sát xem một cá nhân đặt “dấu nhấn” hay quan tâm đến mạng lưới nào hơn qua những hành vi cụ thể: hội họp, ăn uống, cúng tế Như vậy, không một cá nhân nào lại đứng ngoài mạng lưới xã hội
Các mạng có quy mô, kích cỡ không đồng nhất Mạng xã hội lớn có sự không đồng nhất về tính chất của các thành viên và cấu trúc của mạng bao gồm nhiều thành phần hơn Các mạng xã hội nhỏ, đồng nhất điển hình cho các nhóm lao động truyền thống và các cộng đồng làng xã, các dạng này thích hợp cho việc bảo tồn các nguồn tài nguyên có sẵn Các mạng lớn không đồng nhất thích hợp với việc tìm kiếm nguồn tài nguyên mới
Hình thức mạng xã hội giúp xác định tính hữu ích của mạng đối với các cá nhân tham gia trong đó Các mạng nhỏ và kín hơn thì ít hữu ích đối với các thành viên hơn là các mạng có nhiều liên kết lỏng với những cá nhân ở bên ngoài mạng chính Những mạng mở với nhiều mối nối và liên kết xã hội lỏng lẻo (được xác định bằng
sự khác biệt giữa mật độ trong nội bộ nhóm và mật độ trong tổng thể mạng) có khả năng giới thiệu những ý tưởng và cơ hội mới cho các thành viên của nó hơn là các mạng khép kín với những dây liên kết rườm rà
Trong nghiên cứu này, mạng lưới xã hội được nhìn nhận là những mối liên kết
xã hội mà thông qua đó, người di cư có được những thông tin cũng như những kỳ vọng mà người di dân đặt vào nó như sự giúp đỡ, sự hỗ trợ…Thông qua đó, ngươi
Trang 25di cư tìm kiếm cơ hội cuộc sống mới Ở đây, mạng xã hội thường là các mạng nhỏ
và khép kín hơn là các mạng lỏng lẻo với những quan hệ xã hội phức tạp Tuy nhiên, đôi khi ảnh hưởng của các mối quan hệ lỏng lẻo lại có tầm ảnh hưởng đối với việc thiết lập các mối quan hệ cộng đồng và cuộc sống của người dân
3.3 Lý thuyết vốn xã hội
Khái niệm vốn xã hội được Lyda Judson Hanifen đưa ra lần đầu tiên năm 1916,
như những thứ “được tính nhiều nhất trong cuộc sống thường nhật của con người:
cụ thể là thiện ý, tình bằng hữu, sự đồng cảm và giao thiệp xã hội giữa cá nhân và gia đình tạo thành một đơn vị xã hội… Nếu một cá nhân giao tiếp với các láng giềng của mình, và họ với láng giềng của họ, thì sẽ có sự tích tụ vốn xã hội, cái có thể thỏa mãn ngay các nhu cầu xã hội của anh ta và có thể có một tiềm năng xã hội
đủ để cải thiện đáng kể điều kiện sống của cả cộng đồng” [trích theo M Woolcock,
D Narayan]
Từ đó, vấn đề vốn xã hội được nhắc nhở, nghiên cứu, phát triển và áp dụng rộng rãi trong các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, xã hội, tâm lý…tại Mỹ, các nước phương Tây và các quốc gia kỹ nghệ trên toàn thế giới Năm 1961, Jane Jacob phân tích và thảo luận về vốn xã hội trong mối tương quan của đời sống ở thành phố Năm 1983, Pierre Bourdieu soạn hẳn ra một lý thuyết riêng về vốn xã hội James S Coleman phát triển lý thuyết thành một nội dung giáo dục về nguồn vốn xã hội
Coleman mô tả vốn xã hội là một cấu trúc, một khuôn khổ cho sự giao dịch giữa những người hành động và trong họ với nhau; thúc đẩy các hoạt động sản xuất và trở thành những gì có sẵn (tài nguyên) để cho một cá nhân sử dụng nhằm thực hiện những lợi ích riêng tư của họ Khi ấy người ta có thể sống với nhau mỗi ngày mà không phải mất công dàn xếp đi, dàn xếp lại vừa mất thời giờ, vừa tốn kém Vốn xã hội tạo điều kiện cho các cá nhân hợp tác với nhau vì nó làm giảm khó khăn khi cùng làm một việc chung Người này bỏ sức ra vì biết người khác cũng làm như thế và họ sẽ không muốn làm chung với ai thích làm theo tuỳ hứng.” 1
Trang 26
Vốn xã hội được kết tinh sau một quá trình gồm có: (1) sự tin tưởng lẫn nhau (trust) hay niềm tin; (2) sự có đi có lại hay sự tương hỗ; (3) những quy tắc hay hành
vi mẫu mực chung và sự chế tài; (4) sự kết hợp lại với nhau thành một mạng lưới Ở
góc độ này, vốn xã hội là những sự ràng buộc lẫn nhau do người ta đặt ra hay tuân giữ khi giao dịch hay khi chung sức làm một việc gì đó, nó còn được gọi là những ràng buộc xã hội (social bonds) hay các hành vi chuẩn mực (norms) hoặc các quy tắc xã hội (social rules) và chúng là những yếu tố quan trọng cho sự bền vững của cuộc sống
Hành vi mẫu mực là một việc làm theo một cung cách nào đó phù hợp với sự mong đợi, sự ưa thích Quy tắc và hành vi mẫu mực là những điều được đồng thuận hay được đưa từ trên xuống để lợi ích tập thể được đặt ra cao hơn lợi ích
cá nhân Chúng giúp cho cá nhân tin tưởng và bỏ sức tham gia việc chung hay hoạt động của nhóm, vì biết rằng những người khác cũng làm như thế
Trong cuốn Trust: The Social Virtues and the creation of prosperity, xuất bản
năm 1995, giáo sư Fukuyama đã nghiên cứu niềm tin trong việc tạo nên vốn xã hội
và chú trọng đặc biệt đến sự phát triển kinh tế Dùng niềm tin như là tiêu chí chính yếu để so sánh cơ cấu kinh tế và xã hội của các nước, ông cho rằng vốn con người
và vốn xã hội ảnh hưởng lẫn nhau Vốn con người có thể làm tăng vốn xã hội Thí
dụ, người có học sẽ ý thức hơn tầm quan trọng của việc săn sóc con cái và sẽ tạo điều kiện cho con cái học hành, trau dồi vốn con người của mình để đền đáp lại cha
mẹ Ông định nghĩa: Vốn xã hội là hành vi mẫu mực không chính thức (informal) phát sinh ngay lập tức và nó thúc đẩy sự hợp tác giữa hai người hay nhiều người Các hành vi mẫu mực tạo nên vốn xã hội có thể bắt đầu từ một sự tương tác tự nhiên giữa hai người bạn lên cao cho đến tận các học thuyết phức tạp và tinh vi như Cơ đốc giáo và Phật giáo Hành vi mẫu mực phải bung ra ngay lập tức trong các mối quan hệ cá nhân cụ thể Hành vi mẫu mực có đi có lại nằm ẩn trong mọi giao dịch của tôi với mọi người, và chỉ trở thành cụ thể trong sự giao dịch của tôi đối với những người bạn của tôi” Không phải mọi hành vi mẫu mực phát sinh tức
thời đều tạo nên vốn xã hội Trái lại, chỉ có những cái nào giúp cho các nhóm xã hội
Trang 27hợp tác với nhau, hay tạo nên sự hợp tác thì đó mới là hành vi mẫu mực Đa phần chúng lại là các đức tính truyền thống như lòng trung thực, sự giữ lời hứa, việc thi hành bổn phận một cách đáng tin cậy, sự tương tác và tinh thần trách nhiệm
Theo ông, vốn xã hội xuất phát từ ba nguồn Thứ nhất, như các nhà kinh tế đã nêu, là từ sự giao tiếp với nhau liên tục; hai người giao dịch với nhau lâu sẽ thấy cần phải chứng tỏ mình là người trung thực và giữ lời hứa Thứ hai, là từ các tôn giáo hay hệ thống luân lý Đó là nguồn gốc của một quyền uy, nó ấn định các hành
vi mẫu mục và trông đợi sự tuân thủ không cần suy nghĩ Những mẫu mực đó không chỉ diễn ra trong các cuộc thương thảo riêng lẻ mà còn được lưu truyền từ thế
hệ này sang thế hệ khác, qua các quy trình đã được xã hội hóa sử dụng tập quán và thói quen nhiều hơn là lý lẽ Thứ ba, sự chia sẻ kinh nghiệm lịch sử cũng tạo nên những hành vi mẫu mực và do đó cũng tạo nên vốn xã hội Thu gọn những điều trên,
ta thấy vốn xã hội xuất phát từ các đức tính của mỗi cá nhân (trung thực, trách nhiệm, hợp tác…) khi họ tự nguyện kết hợp lại với nhau để làm một công việc chung nào đó
Khái niệm vốn xã hội thường gắn với sự tham gia xã hội và công dân, với các mạng hợp tác và đoàn kết, gắn với sự cố kết xã hội, sự tin cậy, sự có đi có lại và tính hiệu quả thể chế
Ngân hàng thế giới định nghĩa: “Vốn xã hội là những gì liên quan đến các cơ sở, các mối quan hệ và những giá trị truyền thống Tất cả cùng hợp tác tạo nên số lượng và chất lượng của thành phẩm làm nên bởi sự tương giao hợp tác trong xã hội…Vốn xã hội không phải đơn thuần là sự tổng hợp những khối lượng vật chất của xã hội mà là chất keo làm dính chặt những khối lượng tài sản này lại.”1
Nói một cách cụ thể hơn về vốn xã hội, Cohen và Prusak (2001) định nghĩa:
“Vốn xã hội bao gồm phần lớn sự hợp tác, xây dựng giữa những con người với nhau: sự tin tưởng, sự hiểu biết lẫn nhau và sự chia sẻ những giá trị đạo đức,
1 Nguồn: www.khoa hoc.net
Trang 28phong cách nối kết những thành viên trong các tập đoàn, các cộng đồng lại với nhau làm cho việc phối hợp hành động có khả năng thực hiện được.”1
Hiện có ba cách tiếp cận về vốn xã hội:
Cách tiếp cận vi mô nhấn mạnh đến bản chất và các hình thức của ứng xử hợp tác (giá trị của hành động tập thể), vốn xã hội được coi là 1) một sản phẩm của các động cơ, của các tác nhân để tạo ra một hiệp hội; 2) ứng xử của họ; 3) cảm nhận của
họ về các vấn đề tập thể) Ngân hàng thế giới nhắc đến loại này như “vốn xã hội nhận thức” (cognitive social capital)
Cách tiếp cập vĩ mô nhấn mạnh đến các điều kiện (thuận lợi và bất lợi) cho hợp tác, đến giá trị của hội nhập và cố kết xã hội; nó nhấn mạnh đến môi trường xã hội, các thể chế, cấu trúc xã hội và chính trị truyền đạt các giá trị và các chuẩn mực tạo điều kiện cho người dân tham gia hoạt động xã hội và công dân; coi vốn xã hội như sản phẩm của các cấu trúc đó Kết quả là, các cấu trúc này càng củng cố sự tin cậy
và sự có đi có lại, thì càng nhiều người tham gia vào đời sống công dân và sẽ càng
có nhiều vốn xã hội
Cách tiếp cận trung gian nhấn mạnh đến các kết cấu cho phép hợp tác xảy ra
Nó nhấn mạnh đến giá trị phương tiện của vốn xã hội, gắn với tiềm năng của các mạng xã hội Ngân hàng thế giới nhắc đến nó như “vốn xã hội cấu trúc” (structrural social capital)
Theo H de Soto thì ta có thể hình dung vốn xã hội là khả năng của các tài sản
xã hội nằm trong các mối quan hệ, trong mạng lưới xã hội được cố định, được biểu diễn trên một tầng thông tin, bất luận các tài sản xã hội đó là các tài sản hữu hình hay vô hình Các tài sản xã hội có thể là các định chế như gia đình, nhóm, câu lạc
bộ, hiệp hội, quân đội, công an, hệ thống an sinh xã hội hay các tài sản vô hình như
hệ thống pháp luật, các tập quán, tinh thần thượng tôn pháp luật… Khả năng đó nằm trong mối quan hệ xã hội chứ không phải nằm trong bản thân các tài sản ấy Có thể phóng sự tưởng tượng của chúng ta lên nữa để hình dung: trên tầng thông tin lại hình thành các tài sản, khả năng, tiềm năng của các tài sản Trên tầng thông tin này
1 “Nhìn lại vốn xã hội Việt Nam”- TS Trần Kiêm Đoàn- www.khoahoc.net
Trang 29lại được biểu diễn, cố định trên một tầng thông tin nữa và cứ thế đến vô tận Nói cách khác, khả năng tạo vốn ngày càng tăng lên Thực ra, nghĩ như trên là vẫn theo cách tiếp cận thứ bậc: có tầng vật lý và tầng thông tin nằm trên nhau, mỗi tầng trên biểu diễn, cố định năng lực của các tài sản thuộc tầng dưới nó Có lẽ hữu hiệu hơn
là một mô hình phi thứ bậc hơn, các tầng đó thuộc về một mạng có quan hệ qua lại với nhau chứ không chỉ từ dưới lên hay trên xuống theo kiểu thứ bậc Nhìn từ cách tiếp cận này có thể thấy H de Soto đã đề cập đến phần rất quan trọng của vốn xã hội gắn với định chế quyền sở hữu Tuy nhiên, cách nhìn này cho ta cái nhìn bao quát hơn
Lý thuyết của Ravestein là một trong những lý thuyết về di dân sớm nhất trong trường phái cổ điển, được đưa ra vào cuối thế kỷ XIX Theo ông, di cư xảy ra sớm bởi tiến trình công nghiệp hóa và phát triển thương mại giữa các khu vực của một quốc gia Mặt khác, sự di cư bị chi phối bởi khát vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn Những người sống ở khu vực kém phát triển hay nghèo khổ thường có xu hướng chuyển đến những khu vực phát triển hơn Theo Ravestein, tỉ lệ người tham gia di
cư có mối quan hệ thuận với khoảng cách giữa hai khu vực nơi họ đến1 Lý thuyết này của Ravestein đã bị một số học giả phê phán vì nó không tính đến yếu tố văn hóa, lịch sử, tâm lý, những yếu tố con người có ảnh hưởng mạnh đến quá trình di cư (Lagencrantz, Mah mound, 2000)
Lý thuyết của Lewis ra đời vào những năm 1950, trong bối cảnh các nước thế giới thứ ba bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, dẫn đến sự bùng nổ của làn sóng di
cư từ nông thôn ra các thành phố công nghiệp và các đô thị Lewis đã trình bày
quan điểm của di cư từ nông thôn ra thành thị trong cuốn: Sự phát triển kinh tế đối với việc cung cấp không giới hạn về lao động (Economic Development with Unlimited Suplies of Labour, 1954) Theo ông, những lí do sau đây làm cho người
ta di cư từ nông thôn lên đô thị: Thứ nhất, sự tăng trưởng kinh tế và mở rộng của
1 Nguyễn Thị Thanh Tâm “Một số quan điểm lý thuyết về di dân và phụ nữ di cư” Tạp chí khoa học về phụ
Trang 30các khu công nghiệp đòi hỏi phải có thêm lực lượng lao động đáp ứng ; Sự tăng lên không ngừng của dân số trong khi đất đai không tăng đã làm cho lao động nông thôn dư thừa ; Số lao động dư thừa này có khuynh hướng tìm kiếm các cơ hội làm việc tại các khu công nghiệp và thành phố, nơi có nhu cầu tuyển dụng Lewis coi đây là sự điều tiết có tính tự nhiên, là sự cân bằng lao động giữa các khu vực, các ngành nghề Thứ hai, do sự chênh lệch về mức lương giữa nông thôn và đô thị Sự
di cư lao động này sẽ dừng lại khi mức thu nhập ở đô thị cân bằng với mức thu nhập của người dân ở nông thôn Từ quan điểm này, người ta gọi lý thuyết của Lewis là
mô hình cân bằng Lý thuyết của Lewis đặt nền móng cho lý thuyết mới có tên gọi
là « mô hình kinh tế đôi » của Ranis và Fei ra đời vào thập kỷ 1960 Trong thập kỉ
1950, khi mà các làn sóng di cư từ nông thôn ra thành thị không ngừng tăng lên, ngay cả khi lao động ở đô thị thất nghiệp nhiều Điều này đã làm cho lý thuyết của Lewis đã đơn giản hóa nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng di dân từ nông thôn ra
đô thị là do yếu tố kinh tế quyết định
Lý thuyết di cư của Lee được thể hiện trong cuốn: Một học thuyết chung về di
cư (A general theory of migration, 1966), đã tổng kết một số yếu tố quyết định đến
việc di cư của người dân từ nông thôn ra thành thị Ông chia thành hai nhóm: 1) nhóm yếu tố tiêu cực – nghèo đói, sự thiếu thốn các cơ hội kinh tế, thiếu đất, mức sống thấp ở quê nhà; 2) nhóm yếu tố tích cực – sự thịnh vượng, cơ hội, công việc làm ăn, mức sống cao ở nơi đến…Trong hai nhóm yếu tố này, những yếu tố tích cực phản ánh sự hấp dẫn của nơi đến Ngoài ra, Lee còn phân tích một số các yếu tố khác ảnh hưởng đến việc di dân Đó là nhận thức, sự thông minh, hiểu biết của người di cư qua kinh nghiệm bản thân hay qua các kênh thông tin đại chúng, qua bạn bè, họ hàng… Đây là điều mà các lý thuyết trước đó ít đề cập tới
4 Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề di dân
Tại Hội nghị sơ kết chỉ thị 660 của thủ tướng chính phủ ngày 17/10/1995, nguyên phó thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng nhấn mạnh, năm 2010, Việt Nam
Trang 31phải cố gắng giải quyết được những tồn tại để từng bước đi đến chấm dứt tình trạng
di cư tự do
Ông yêu cầu Bộ NN & PTNT, Bộ KH-ĐT, Bộ Tài chính, Bộ LĐ-TBXH, Bộ Công an, Ủy ban Dân tộc và miền núi, Bộ Quốc phòng và các ban ngành phối hợp đồng bộ trong việc xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch dài hạn và ngắn hạn
về điều chỉnh và bố trí lại dân cư gắn với xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi
Ngày 16-9-2003, Chính phủ ban hành Quyết định số 190/2003 về chính sách di dân, thực hiện quy hoạch bố trí dân cư giai đoạn 2003 - 2010 Mục tiêu của chính sách sắp xếp, ổn định dân cư ở các địa bàn cần thiết; đồng thời khai thác tiềm năng lao động, đất đai để xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống người dân1
Quyết định 193/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về chương trình ổn định dân cư, giảm nhẹ thiên tai, hạn chế di cư tự do, vẫn còn nhiều bất cập về cơ chế chính sách Tuy nhiên, mục tiêu cần làm rõ là "ôn định dân cư nơi ở mới phải hơn hẳn nơi ở cũ", đó là khẳng định của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Cao Đức Phát tại hội nghị ngày 18-9-2009 Theo Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn Cao Đức Phát, việc thực hiện Quyết định 193/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về "Chương trình bố trí dân cư, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, di cư tự do giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020" đã góp phần quan trọng trong việc phát triển nông nghiệp, nông thôn Đây là công việc khó khăn, phức tạp, song chương trình đã bố trí thực hiện xen ghép giữa thôn, bản với các chương trình có sự hỗ trợ của các tổ chức đoàn thể; nhờ vậy chương trình thực hiện vượt mức kế hoạch cả về thời gian và số lượng hộ cần được bố trí, sắp xếp
Trang 32
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH HỘI NHẬP CỘNG ĐỒNG CỦA NGƯỜI DÂN DI CƯ TỰ DO
1 Tình hình di dân và nhập cư ở Tây Nguyên trong những năm qua
Tây Nguyên trong thời kì 1984-89 là vùng nhập cư lớn nhất nước ta (316,2
nghìn người) Đến thời kì 1994 - 1999, quy mô nhập cư vẫn không giảm (316,4 nghìn người), nhưng vùng đứng vị trí thứ hai sau Đông Nam Bộ Tây Nguyên có tỉ
suất di cư tổng cộng lớn nhất cả nước (169,7‰ thời kì 1984-1989 và 108,1‰ thời kì 1994-1999) Sự phân bố người nhập cư theo tỉnh đến là Đắc Lắc 47,2%, Lâm Đồng 25,4%, Gia Lai 22,3% và Kon Tum 5,2% Trong thập kỷ 80 và 90 của thế kỷ XX, di dân đến Tây Nguyên chủ yếu là để phát triển các vùng trồng cây công nghiệp, nhất là trồng cà phê Ở đây, chúng tôi không đề cập đến các hậu quả về môi trường do di dân khai thác thiếu kế hoạch và mở rộng diện tích cà phê tràn lan ở Tây Nguyên Có thể thấy một số thay đổi rất rõ nét trong
cơ cấu dân cư, dân tộc của vùng Các số liệu thống kê chính thức cho thấy, hai vùng nhập cư lớn nhất nước ta là Tây Nguyên và Đông Nam Bộ Kết quả của hai cuộc
Trang 33điều tra mức sống dân cư Việt Nam cho số liệu rất ấn tượng là tại Tây Nguyên, dân
số không sinh ra tại vùng này chiếm tới 85% (điều tra năm 1992 - 1993) và 89% (điều tra năm 1998 - 1999) dân số của vùng; 50% dân số đang cư trú ở Tây Nguyên được sinh ra ở duyên hải Nam Trung bộ Điều này cho thấy vai trò của
duyên hải Nam Trung bộ trong việc bổ sung nguồn lao động cho Tây Nguyên
Các luồng chuyển cư đã gây xáo trộn dân cư khá lớn ở tất cả các vùng lãnh thổ của nước ta Những tác động kinh tế - xã hội của sự chuyển cư này rất nhiều mặt, đa
dạng và lâu dài Bảng trên đây trích từ kết quả Khảo sát mức sống dân cư Việt Nam
1992 - 1993 và Điều tra mức sống dân cư Việt Nam 1997-1998 cho thấy một bức
tranh khá lí thú về sự chuyển cư giữa các vùng
Trong cơ cấu các dân tộc ở Tây Nguyên, 4 tộc người Gia-rai, Ê-đê, Ba-na,
Cơ-ho vẫn giữ được vị trí là các dân tộc có số dân đông nhất, còn các tộc người
Trang 34Xơ-đăng và Mơ-nông đã nhường vị trí cho các tộc người Nùng và Tày Sự di cư của các dân tộc ít người từ khu vực miền núi trung du phía Bắc tới Tây Nguyên trong những thập kỉ qua là một xu hướng khá nổi bật Chỉ tính riêng 5 tộc người Nùng, Tày, Thái, Mường và Dao ở TN, dân số đã tăng từ 64,1 nghìn người (1989) lên 238,3 nghìn người (1999), tăng 3,7 lần, và tỉ trọng của các tộc người này đã tăng từ 2,58% lên 5,87% Đây là vùng chịu sức ép lớn nhất về di dân tự do nông thôn – nông thôn Theo báo cáo của Vụ nông nghiệp – phát triển nông thôn (Bộ KH-ĐT) thì từ năm
1976 - 1998 hơn 126 nghìn hộ với hơn 589 nghìn nhân khẩu đã di dân tự do lên TN (chiếm 43% cả nước) Những năm cuối thập kỉ 1990 hiệu quả kinh tế cao của cây cà phê đã thúc đẩy mạnh việc di dân tự do lên TN Chỉ tính từ năm 1996-1999 con số
là 59,1 nghìn hộ trong đó 37 nghìn hộ tới Đắc Lắc, 14 nghìn hộ đến Lâm Đồng, 7,9 nghìn hộ đến Gia Lai và chỉ hơn 100 hộ đến Kon Tum Đặc biệt vào quãng năm
1995, khi giá cà phê tăng vọt, 2400 USD/tấn, thì cũng là quãng thời gian diện tích
cà phê được mở rộng mạnh và diện tích rừng bị cháy, bị phá ở TN lên đến cao điểm Thực hiện Chỉ thị 660/TTg (17/10/1995) về giải quyết tình trạng di dân tự do, Nhà nước đã đầu tư 76 tỉ đồng cho TN nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng và hỗ trợ di dân
(Trích trong Báo cáo tổng kết Đề tài cấp Bộ B2002-75-26 về "Nghiên cứu các động thái mới của dân cư Việt Nam" do PGS TS Đỗ Thị Minh Đức làm Chủ nhiệm đề tài)
Tình hình di cư và nhập cư của người dân ở Tân Thanh hiện nay
Lịch sử hình thành vùng đất Tân Thanh 1
Xã Tân Thanh được tách từ xã Hoài Đức, huyện Lâm Hà, được thành lập từ năm 1987, nhưng đến năm 1992 mới ra mắt thành lập Nòng cốt dân của xã là lực lượng thanh niên xung phong, từ nông trường Việt Tiệp Ban đầu chỉ có gần 200 hộ
Về sau, nông trường giải thể Đến nay, toàn xã có 1783 hộ 90% dân số là dân di cư
tự do đến, trong đó có bốn thôn là dân gốc Tây Nguyên chiếm 54.4%, còn lại là dân tộc Kinh và một số dân tộc khác Bắt đầu từ năm 1995 dòng di cư bắt đầu ồ ạt vào đây từ các tỉnh phía Bắc Ban đầu họ khai phá rừng làm rẫy để xây dựng cuộc sống
1 Tổng hợp báo cáo xã Tân Thanh
Trang 35Nhưng từ năm 2000 trở lại đây, địa phương dùng các biện pháp quản lý bảo vệ rừng, cùng những chính sách của Nhà nước, dòng di cư giảm hẳn Nghề nghiệp chính của dân ở đây là làm nông nghiệp, nương rẫy, trồng cà phê, dâu tằm, và hoa mầu Việc định cư của các dân tộc ở Tây Nguyên thường là tập trung theo thôn bản, đối với các dân tộc ở phía Bắc vào thì định cư rải rác ở các khu vực gần nương rẫy
Các cuộc điều tra từ trước đến nay đều chỉ ra mục tiêu chủ yếu của những người
di cư tự do là để cải thiện điều kiện kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống, lý do là đều xuất phát từ nghèo đói Vì thế dòng người di cư tự do đến Lâm Hà không nằm ngoài mục đích đó Theo kết quả khảo sát, có đến 91.3% tỷ lệ di cư đến Lâm Hà là
do muốn cải thiện điều kiện kinh tế, chỉ có 6.7% là « muốn thay đổi môi trường sống », và 4.7% lý do muốn gần họ hàng, người thân Ở đây, chúng ta lại có điều kiện vận dụng lý thuyết di dân của Lee vào lý giải được cho mục đích này Lee đã tổng kết một số các yếu tố quyết định đến việc di cư của dân cư Ông chia thành hai nhóm: 1) nhóm yếu tố tiêu cực – nghèo đói, sự thiếu thốn các cơ hội kinh tế, thiếu đất, mức sống thấp ở quê nhà; 2) nhóm yếu tố tích cực – sự thịnh vượng, cơ hội, công việc làm ăn, mức sống cao ở nơi đến…Trong hai nhóm yếu tố này, những yếu
tố tích cực phản ánh sự hấp dẫn của nơi đến
Kết quả điều tra cũng cho thấy một bức tranh khá sinh động về đặc điểm của di
cư đến Lâm Hà hiện nay Đặc trưng cho dòng di cư tự do, nông thôn – nông thôn, dòng người chuyển cư đến Lâm Hà tương đối đa dạng phức tạp, họ đến từ nhiều địa phương khác nhau, song nhiều nhất vẫn từ khu vực miền núi phía Bắc Có tới 36.0% tỷ lệ người dân đến từ Cao Bằng, 8.0% đến từ Lạng Sơn và 20.7% đến từ Hà Tây, còn lại 31.3% đến từ các tỉnh khác
Thành phần dân tộc của dòng người chuyển cư này cũng khá đa dạng, có đến 48.3% là người Kinh, 24.8% là người Tày, 14.8% là dân tộc Nùng, 9.4% là dân tộc Dao, số còn lại là từ nhiều dân tộc thiểu số khác
Hình thức di cư chủ yếu của người dân ở đây là tự tìm hiểu và tự đến (chiếm đến 45.6%) Đặc điểm này liên quan đến lịch sử di cư và nhập cư của dòng người
Trang 36này Nòng cốt của dân cư Tân Thanh là lực lượng thanh niên xung phong, chủ yếu
là người Kinh đến từ các tỉnh phía Bắc
« Dân nhập cư đầu tiên ở đây nòng cốt là lực lượng thanh niên xung phong của nông trường Việt Tiệp từ năm 1987 Lúc đầu có gần 200 hộ, sau đó nông trường giải thể, các hộ này tách ra làm kinh tế hộ Điều kiện tự nhiên, đất đai tốt nên người dân định cư hẳn ở đây, đến khi thành lập xã 1992 thì số dân của toàn xã đã lên đến1783 (tương đương 700 hộ), chủ yếu là người Kinh, chiếm hơn nửa tỷ lệ dân số
ở đây Bắt đầu từ năm 1995 dòng di cư ồ ạt vào đây từ các tỉnh phía Bắc, chủ yếu
là vùng núi phía Bắc như Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn » (PVS số 8, Nam, 34 tuổi,
dân tộc Kinh, CNVC)
Từ năm 1995, dòng người bắt đầu di cư ồ ạt vào Lâm Hà nói riêng và Lâm Đồng nói chung cũng xuất phát từ việc họ có người thân, bạn bè giới thiệu vào Đây cũng chính là hình thức thứ hai mà người dân ở đây di cư đến ban đầu (tỷ lệ chiếm 44.3%) Chỉ có 8.7% tỷ lệ người dân ở đây là di cư theo chính sách Như vậy, ở đây
ta thấy vai trò của các mối quan hệ đã phát huy tác dụng khi người dân biết tìm kiếm thông tin và chia sẻ cho nhau những cơ hội mới (cơ hội cải thiện cuộc sống) Quá trình này hình thành nên những mạng lưới các mối quan hệ tương đối bền chặt, ban đầu là những quan hệ gia đình, thân tộc, dựa trên tình cảm, sau là những mối quan hệ thân sơ, « những mối quan hệ yếu » nhưng lại có sức mạnh rõ rệt Vai trò của các mối quan hệ hay mạng lưới này càng tỏ rõ khi chủ thể người dân xác định
sự chắc chắn của nơi định cư mới mà có đến 67.8% là cho cả gia đình vào, chỉ có 12.8% là đi chỉ có hai vợ chồng, 16.1% đi một mình Điều này cũng có nghĩa là vốn
xã hội tiềm ẩn trong mỗi người dân di cư đã được phát huy, đó là sự hợp tác, xây dựng các mối quan hệ, sự tin tưởng, sự hiểu biết lẫn nhau và chia sẻ những giá trị,
và sự phối hợp hành động để có kết quả trong thực tế
Trang 372 Thực trạng hội nhập nghề nghiệp, việc làm của người dân nhập cư
2.1 Sự thay đổi nghề nghiệp việc làm của người dân nhập cư
Như trên đã phần nào chỉ ra được bức tranh xã hội của người dân nhập cư tại địa bàn xã Tân Thanh Bất kỳ sự mưu sinh nào cũng xuất phát từ vấn đề kinh tế, về thu nhập để cải thiện điều kiện sống Sự di cư của người dân ở đây không nằm ngoài mục tiêu đó Trước khi người dân hội nhập, thích nghi và làm việc trong môi trường mới, họ trải qua quá trình chuyển và nhập cư vô cùng vất vả và đầy thử thách Qua kết quả điều tra cho thấy, người dân đã chuyển đến đây từ rất nhiều năm, chỉ có 14% số người dân được khảo sát là chuyển đến dưới 5 năm trở lại đây, có đến 31,3% đã chuyển đến đây từ 10 – 15 năm và 24,7% là trên 15 năm Hầu hết những người dân chuyển cư đều đã được nhập cư 86% đã làm thủ tục nhập cư, chỉ còn 13,3% là chưa làm được do họ mới đến
Kết quả nghiên cứu thực địa đã chỉ ra được các chỉ báo về sự hội nhập trong nghề nghiệp việc làm của người dân nhập cư Biểu hiện có thể nhận thấy nhất là sự thay đổi nghề nghiệp, việc làm của họ
Bảng2.1 : Nghề nghiệp, việc làm trước và sau khi khi nhập cư
Stt Nghề nghiệp, việc làm Trước khi di cư (%) Sau khi nhập cư (%)
di cư Ở đây, tỷ lệ người dân làm nông nghiệp, nương rẫy cao là vì phần lớn họ đều
là nông dân từ các vùng nông thôn nghèo, nhất là các tỉnh miền núi phía Bắc Khi
Trang 38chuyển đến địa bàn mới là Tân Thanh thì đất đai và điều kiện tự nhiên là một lợi thế của họ Nơi đây, đất đai phì nhiêu, dễ canh tác, khí hậu lại thuận lợi cho sản xuất, cộng thêm việc họ thường là những người ít vốn thì tập trung vào mở rộng canh tác trên đất đai là một lựa chọn số một của họ Và rõ ràng, hoạt động sản xuất nông nghiệp và nương rẫy ở địa bàn mới khác hẳn so với ở quê cũ, vì nó mang lại những cải thiện đáng kể Hơn nữa, điều này giải thích rằng, người di cư có xu hướng sử dụng lại những năng lực sẵn có của họ: trong trường hợp này là năng lực trong lĩnh vực nông nghiệp Việc tái dùng các năng lực của họ tăng cường niềm tin khi họ mới đến
Kết quả điều tra, khảo sát cho thấy, trong rất nhiều yếu tố như giới tính, tuổi, dân tộc, tôn giáo, học vấn thì yếu tố học vấn có ảnh hưởng nhiều nhất đến sự thay đổi nghề nghiệp hiện nay của người dân nhập cư Bảng số liệu sau sẽ cho ta biết thêm về điều này
Bảng 2.2: Tương quan Trình độ học vấn – Nghề nghiệp trước khi xuất cư
Đơn vị: % Học
Chưa hết cấp
2
Hết cấp 2
Chưa hết cấp
3
Hết cấp 3
Trên cấp 3 Tổng
Value Approx Sig
Trang 39Nhìn vào bảng số liệu trên cho chúng ta thấy, có mối tương quan rất rõ rệt giữa trình độ học vấn với nghề nghiệp của người dân di cư Phần lớn người có học vấn từ cấp hai trở xuống thì chủ yếu làm ruộng và nương rẫy Trong khi 18% chưa hết cấp 1; 22.7% chưa hết cấp 2 làm ruộng và nương rẫy thì chỉ có 1.3% tỷ lệ này ở người
có trình độ học vấn trên cấp 3 Với hệ số Phi là 0.615 và mức ý nghĩa là 0.000 đã cho ta thấy rõ sự ảnh hưởng của học vấn đến nghề nghiệp của người di cư Bảng trên cũng phản ánh được một thực tế trình độ học vấn của người dân di cư tương đối thấp, chỉ có 10.7% có học vấn hết cấp 3 và 3.3% có học vấn trên cấp 3
Bảng 2.3: Tương quan Trình độ học vấn – Nghề nghiệp sau khi nhập cư
Chưa hết cấp
2
Hết cấp 2
Chưa hết cấp
3
Hết cấp 3
Trên cấp 3
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy có một sự ảnh hưởng đáng kể giữa học vấn với nghề nghiệp sau khi nhập cư của người di cư Đó là những người học vấn trên cấp 3 thì hình như kiếm được cơ hội nghề nghiệp khác, không còn làm nông nghiệp nữa, tỷ lệ này từ 1.3% xuống còn 0% Cũng cùng với chiều hướng như bảng trên, với hệ số Phi 0.728 và mức ý nghĩa 0.000 củng cố thêm mối tương quan trên
Khi xem xét ảnh hưởng của yếu tố giới tính đến sự thay đổi nghề nghiệp hiện nay, chúng ta cũng thấy có sự chuyển biến trước và sau khi nhập cư Chỉ xét riêng ở
ba nghề là làm ruộng, công nhân viên chức và nghề tự do, chúng ta hãy xem xét qua
Value Approx Sig
Trang 40Bảng 2.4: Tương quan Giới tính – Nghề nghiệp trước và sau nhập cư
Khi so sánh sự thay đổi, chuyển dịch nghề nghiệp ở ba nghề cơ bản trên với bốn nhóm dân tộc cơ bản là dân tộc Kinh, Dao, Tày, Nùng kết quả điều tra cũng cho thấy, ở nhóm dân tộc Kinh, Dao, Tày có sự linh động, chuyển dịch nghề nghiệp cao hơn nhóm người Nùng Bằng chứng là tỷ lệ làm ruộng ở các nhóm này giảm 2% sau nhập cư, để chuyển sang nghề tự do và công nhân viên chức trong khi ở nhóm người Nùng, tỷ lệ làm ruộng sau nhập cư lại tăng hơn 2% (từ 13% trước nhập cư lên đến 15% sau nhập cư)
Như vậy có thể thấy, có một sự thay đổi nghề nghiệp đáng kể của người dân trước và sau nhập cư Yếu tố tuổi, giới tính và dân tộc có mối tương quan đến sự chuyển dịch nghề nghiệp trước và sau nhập cư của người dân
Trong các yếu tố ảnh hưởng, thì trình độ học vấn có ảnh hưởng mạnh đến sự thay đổi nghề nghiệp này
2.2 Mức độ hài lòng về nghề nghiệp hiện tại của người dân nhập cư
Trước khi chuyển đến địa phương mới, người dân đều biết tìm hiểu thông tin,
dù theo hình thức nào Điều đó phán ảnh việc chuyển đi của người dân là có định hướng, có mục đích và kế hoạch cụ thể Có đến 29.7% tỷ lệ người dân tìm hiểu kỹ