1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự hài lòng của người dân đối với công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng (Nghiên cứu trường hợp phần đường vào công trường Dự án thủy điện Trung Sơn

90 480 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông tin về sự hài lòng của các bên liên quan chính là bằng chứng về công tác thực hiện dự án, giúp dự án kịp thời có những điều chỉnh hợp lý để ngày càng tạo ra mức độ hài lòng cao hơn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ MINH PHƯƠNG

SỰ HÀI LÕNG CỦA NGƯỜI DÂN ĐỐI VỚI CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG, GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG

(Nghiên cứu trường hợp hợp phần đường vào công trường

Dự án thủy điện Trung Sơn)

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Hà Nội - 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ MINH PHƯƠNG

SỰ HÀI LÕNG CỦA NGƯỜI DÂN ĐỐI VỚI

CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG, GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG

(Nghiên cứu trường hợp hợp phần đường vào công trường

Dự án thủy điện Trung Sơn)

Chuyên ngành : Xã hội học

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Hoàng Bá Thịnh

Hà Nội - 2013

Trang 3

1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

1.1 Lý do chọn đề tài 5

1.2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 7

1.2.1 Ý nghĩa khoa học 7

1.1.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 7

1.3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 7

1.3.1 Mục tiêu nghiên cứu 7

1.3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 8

1.4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 8

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 8

1.4.2 Khách thể nghiên cứu 8

1.4.3 Phạm vi nghiên cứu 8

1.5 Câu hỏi nghiên cứu 9

1.6 Giả thuyết nghiên cứu 9

1.7 Phương pháp nghiên cứu 9

1.8 Khung lý thuyết 12

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 13

1.1 Cơ sở lý luận 13

1.1.1 Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu Error! Bookmark not defined.13 1.1.2 Các lý thuyết áp dụng 13

1.1.3 Các khái niệm công cụ 17

1.2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu và đóng góp của luận văn 22

1.3 Tổng quan địa bàn nghiên cứu 28

1.3.1 Đặc điểm tự nhiên 28

1.3.2 Đặc điểm dân số 28

Trang 4

2

1.3.3 Đặc điểm các nhóm dân tộc thiểu số bị ảnh hưởng 29

1.3.4 Cấu trúc gia đình 30

1.3.5 Điều kiện sống của dân cư 30

1.3.6 Phạm vi ảnh hưởng của hợp phần đường vào công trường dự án thủy điện Trung Sơn 31

CHƯƠNG 2 MỨC ĐỘ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI DÂN ĐỐI VỚI CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG, GPMB CỦA DỰ ÁN 32

2.1 Mức độ hài lòng với công tác tham vấn và phổ biến thông tin 33

2.2 Mức độ hài lòng với công tác kiểm kê tài sản BAH 39

2.3 Mức độ hài lòng của người dân với chính sách bồi thường, hỗ trợ 50 2.4 Mức độ hài lòng với công tác chi trả bồi thường và GPMB 58

2.5 Mức độ hài lòng của người dân đối với công tác giải quyết khiếu nại của các hộ BAH 64

2.6 Mức độ hài lòng của người dân sau bồi thường, GPMB 69

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 73

1.1 Kết luận 73

1.2 Khuyến nghị 74

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

PHỤ LỤC 01 81

PHỤ LỤC 02 87

Trang 5

ở hoạt động kiểm kê đất nông nghiệp 47Bảng 2.5 Nguyên nhân đơn giá đền bù chưa sát giá thị trường 53Bảng 2.6 Tương quan giữa mức độ hài lòng và trình độ học vấn đối với đơn giá bồi thường, hỗ trợ 54Bảng 2.7 Mức độ thỏa đáng của chính sách bồi thường, hỗ trợ 57Bảng 2.8 Tương quan giữa mức độ hài lòng và giới tính đối với công tác chi trả bồi thường và giải phóng mặt bằng 61Bảng 2.9 Tương quan giữa mức độ hài lòng và độ tuổi đối với công tác giải quyết khiếu nại của các hộ BAH 67Bảng 2.10 Mức sống của các hộ dân sau đền bù, GPMB 71

Trang 6

4

DANH MỤC BIỂU

Biểu đồ 2.1 Mức độ hài lòng của người dân về công tác tuyên truyền thông

tin của dự án 36

Biểu đồ 2.2 Mức độ hài lòng của người dân về việc giải đáp những thắc mắc trong quá trình tham vấn 37

Biểu đồ 2.3 Mức độ hài lòng của những hộ BAH nhẹ trong hoạt động kiểm kê của dự án 44

Biểu đồ 2.4 Mức độ hài lòng của những hộ BAH nặng trong hoạt động kiểm kê của dự án 45

Biểu đồ 2.5 Mức độ hài lòng của người dân với công tác chi trả bồi thường, hỗ trợ 60

Biểu đồ 2.6: Kết quả giải quyết phàn nàn, khiếu nại của các hộ BAH 65

DANH MỤC HỘP Hộp 2.1 Ý kiến của hộ BAH với công tác tuyên truyền thông tin của dự án 35 Hộp 2.2 Ý kiến của cán bộ Ban QLDA về quá trình tổ chức hoạt động tham vấn 38

Hộp 2.3 Ý kiến của cán bộ và người dân về quá trình tự kê khai tài sản 41

Hộp 2.4 Ý kiến của hộ BAH về quá trình tự kê khai tài sản BAH 43

Hộp 2.5 Ý kiến của cán bộ Ban QLDA và người dân về chính sách bồi thường, hỗ trợ của dự án 56

Hộp 2.6 Ý kiến của cán bộ Ban QLDA về công tác chi trả bồi thường 59

Hộp 2.7 Ý kiến của hộ BAH với tiến độ thực hiện bồi thường, GPMB 63

Hộp 2.8 Ý kiến của các hộ BAH về khôi phục mức sống tại nơi ở mới 70

Trang 7

5

MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là điều kiện sinh tồn

và phát triển của mọi sinh vật trên trái đất trong đó có con người Đối với hoạt động kinh tế, đất đai là nguyên liệu đầu vào không thể thiếu Đối với nông nghiệp, đất đai

là tư liệu sản xuất chủ yếu và không thể thay thế Đối với các ngành khác như công nghiệp, xây dựng, dịch vụ,… đất đai là nơi đặt trụ sở, là nơi cung cấp nguyên liệu…

để tiến hành những thao tác, những hoạt động sản xuất kinh doanh

Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã tiến hành triển khai, xây dựng nhiều công trình thuỷ điện trên hầu khắp lưu vực các sông ở nhiều vùng trong cả nước nhằm góp phần đảm bảo nhu cầu năng lượng phục vụ sản xuất và đời sống ở nước ta Việc thu hồi đất đã giao cho người sử dụng ổn định và lâu dài là việc không thể tránh khỏi và gây nên những tác động mạnh mẽ đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội tại mỗi địa phương Do vậy, để đảm bảo công bằng xã hội và đảm bảo cuộc sống cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất, việc thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại về mọi mặt có liên quan cho người dân là việc làm cần thiết

Hiện nay, công tác bồi thường thiệt hại cho người BAH vẫn đang còn nhiều bất cập và hạn chế nhất định, nhất là về mức giá bồi thường thiệt hại và việc khôi phục mức sống cho các hộ thuộc diện tái định cư hoặc ảnh hưởng thu nhập do phải

di chuyển, GPMB Đặc biệt, đối với dự án xây dựng thủy điện, ngoài những tác động tiêu cực đến môi trường – xã hội nói chung, việc xây dựng công trình tại khu vực xa xôi, điều kiện kinh tế người dân khó khăn càng đặt ra nhiều thách thức trong việc giảm thiểu tác động và khôi phục mức sống của người dân

Theo số liệu nghiên cứu của Viện tư vấn phát triển CODE về công tác di dân tại bốn nhà máy thủy điện lớn (Hòa Bình, Tuyên Quang, Bản Vẽ và Yaly) cho thấy,

đa số người dân không hài lòng với chỗ ở mới [5] Điều này đang cảnh báo nguy cơ

về những bất ổn khi mối tương quan lợi ích chưa được thỏa đáng và công tác bồi

Trang 8

Thủy điện Trung Sơn là một dự án đa mục tiêu trên sông Mã, cung cấp sự phát điện, giúp kiểm soát lũ thường niên ở hạ lưu sông, và cung cấp nước bổ sung cho nông nghiệp trong suốt muà khô Với bất kỳ dự án nào có quy mô và tính phức tạp như dự án thủy điện Trung Sơn thì việc triển khai các hạng mục thường được chia thành các giai đoạn Đối với Trung Sơn, đường vào công trường dài 20.4 km phải được xây dựng trước tiên để cho phép vận chuyển vật liệu và máy móc xây dựng đến đập thủy điện Sau đó, đập và hạng mục của công trình chính sẽ được xây dựng cùng với đường dây cấp điện thi công Tiếp đó, một đường dây truyền tải để đưa truyền tải điện từ nhà máy tới lưới điện quốc gia sẽ được xây dựng

Hiện nay, công tác bồi thường GPMB cho đường vào công trường dự án thủy điện Trung Sơn đã hoàn tất Thông tin về sự hài lòng của các bên liên quan chính là bằng chứng về công tác thực hiện dự án, giúp dự án kịp thời có những điều chỉnh hợp lý để ngày càng tạo ra mức độ hài lòng cao hơn của người dân trong quá trình triển khai công tác bồi thường GPMB công trình chính Với mục đích xác định sự hài lòng của người dân nhằm góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng thực hiện dự

án liên quan đến công tác bồi thường, GPMB nên tôi đã chọn nghiên cứu “Sự hài

lòng của người dân đối với công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng (Nghiên cứu trường hợp hợp phần đường vào công trường, Dự án thủy điện Trung Sơn)”

làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình

Trang 9

Ngoài ra, nghiên cứu này còn góp phần vào việc hoàn thiện hệ thống lý luận

xã hội học về quản lý, xây dựng dự án ở Việt Nam

1.2.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Nghiên cứu cung cấp những dữ liệu cụ thể làm sáng tỏ mức độ hài lòng của người dân đối với công tác bồi thường, GPMB hợp phần đường vào công trường dự

án thủy điện Trung Sơn Những kết quả nghiên cứu có thể góp phần giúp Ban QLDA, chính quyền địa phương có cách nhìn đúng đắn hơn về tâm tư, nguyện vọng của người dân BAH bởi dự án khu vực nghiên cứu Qua đó các bên liên quan có thể

có những giải pháp can thiệp hiệu quả hơn để nâng cao mức độ hài lòng của người dân BAH đối với các dự án tiếp theo

Quá trình thực hiện đề tài cũng giúp cho tác giả hoàn thiện hơn kĩ năng lập

đề cương nghiên cứu và thực hành nghiên cứu khoa học

1.3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

1.3.1 Mục tiêu nghiên cứu

 Tìm hiểu mức độ hài lòng của người dân đối với công tác bồi thường, GPMB hợp phần đường vào công trường, dự án Thủy điện Trung Sơn;

 Phân biệt mức độ hài lòng với công tác bồi thường, GPMB giữa nhóm hộ BAH nặng và BAH nhẹ bởi hợp phần đường vào công trường dự án Thủy

điện Trung Sơn;

Trang 10

8

1.3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

 Làm rõ khái niệm, cơ sở lý luận và thực tiễn, phương pháp nghiên cứu về

sự hài lòng của người dân với công tác bồi thường GPMB;

 Tìm hiểu mức độ hài lòng của nhóm hộ BAH nặng và BAH nhẹ đối với công tác bồi thường GPMB hợp phần đường vào công trường dự án thủy điện Trung Sơn;

 Phân tích một số yếu tố tác động đến mức độ hài lòng của người dân đối với công tác bồi thường GPMB hợp phần đường vào công trường dự án thủy điện Trung Sơn;

 Đưa ra kết luận và đề xuất khuyến nghị để phát huy hiệu quả của công tác bồi thường GPMB trong thời gian tới nhằm nâng cao mức độ hài lòng của

người dân BAH

1.4 Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Sự hài lòng của người dân với công tác bồi thường, GPMB hợp phần đường vào công trường, dự án Thủy điện Trung Sơn

Trang 11

9

1.5 Câu hỏi nghiên cứu

 Người dân BAH có hài lòng với công tác bồi thường, GPMB hợp phần đường vào công trường – dự án thủy điện Trung Sơn không?

 Có hay không sự khác biệt về mức độ hài lòng giữa người dân BAH nặng

và BAH nhẹ đối với công tác bồi thường, GPMB hợp phần đường vào công trường dự án thủy điện Trung Sơn?

1.6 Giả thuyết nghiên cứu

 Người dân BAH bởi hợp phần đường vào công trường – dự án thủy điện Trung Sơn cơ bản hài lòng về công tác bồi thường, GPMB của dự án

 Có sự khác biệt về mức độ hài lòng giữa nhóm hộ BAH nặng và BAH nhẹ đối với công tác bồi thường GPMB hợp phần đường vào công trường, dự

án thủy điện Trung Sơn

1.7 Phương pháp nghiên cứu

1.7.1 Phương pháp chọn mẫu

Nghiên cứu đã tiến hành điều tra trên cơ sở chọn mẫu để thu thập thông tin và đánh giá việc thực hiện bồi thường GPMB của tuyến đường Căn cứ vào danh sách các

hộ BAH tại xã, tác giả đã lựa chọn phương pháp chọn ngẫu nhiên phân tầng và chọn ra

228 hộ để tiến hành điều tra thu thập thông tin định lượng Những bản, xã và các hộ BAH được lựa chọn có hiện trạng tương phản nhau về điều kiện kinh tế, xã hội, khoảng cách địa lý, khối lượng ảnh hưởng… nhằm đảm bảo tính chính xác và đại diện của thông tin được thu thập

Việc chọn mẫu nghiên cứu được thực hiện như sau: Chọn mẫu và khảo sát 114

hộ gia đình BAH nặng và 114 hộ gia đình BAH nhẹ bởi hợp phần đường vào công trường dự án thủy điện Trung Sơn

1.7.2 Phương pháp thu thập thông tin bằng bảng hỏi

Việc điều tra bằng bảng hỏi được thực hiện như sau:

Trang 12

10

 Điều tra, khảo sát đối 114 hộ gia đình BAH nặng

 Điều tra, khảo sát đối 114 hộ gia đình BAH nhẹ

Trước khi thiết kế phiếu điều tra hộ gia đình, tác giả đã làm việc với các bên liên quan để xác định và xây dựng bản thảo phiếu điều tra Sau đó thử nghiệm phiếu điều tra hộ gia đình tại hiện trường Việc phản hồi đã hạn chế được những sai sót trong phiếu điều tra cũng như những thông tin không cần thiết cho nghiên cứu

Để đánh giá mức độ hài lòng, phiếu điều tra đã đưa ra năm lựa chọn cho người trả lời: rất không hài lòng, không hài lòng, bình thường, hài lòng, rất hài lòng Thang đo này sẽ cho phép phân biệt giữa các lựa chọn kém tích cưc/tiêu cực (không hài lòng/ rất không hài lòng), trung lập (bình thường), và các lựa chọn tích cực (hài lòng/rất hài lòng)

1.7.3 Phương pháp phỏng vấn sâu

Tác giả đã tiến hành mười sáu (16) cuộc phỏng vấn sâu với hai (02) cán bộ Ban QLDA thủy điện Trung Sơn; bốn (04) cán bộ chính quyền địa phương tại hai huyện Quan Hóa và Mai Châu; và mười (10) người BAH bởi hợp phần đường vào công trường, dự án thủy điện Trung Sơn

1.7.4 Phương pháp phân tích tài liệu

Để tiếp cận nghiên cứu đạt kết quả, tác giả luận văn đã phân tích các tài liệu

có liên quan như: Báo cáo, tài liệu dự án và một số tài liệu khác có liên quan đến vấn đề bồi thường, GPMB và sự hài lòng… để có những thông tin khái quát nhất về

đề tài nghiên cứu

Tác giả đã tiến hành thu thập và phân tích các loại tài liệu liên quan như:

 Văn bản liên quan đến công tác bồi thường, GPMB của Ngân hàng thế giới (WB) và Việt Nam;

 Các báo cáo đầu kỳ, báo cáo tiến độ và báo cáo giám sát độc lập tái định

cư của dự án thủy điện Trung Sơn (hợp phần đường vào công trường);

Trang 13

11

 Văn bản pháp luật của Chính phủ có liên quan đến các dự án phát triển của các nhà tài trợ quốc tế;

 Báo cáo tình hình kinh tế xã hội của địa phương tiến hành dự án;

 Và nhiều tài liệu khác có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số phương pháp liên ngành khác như: Phương pháp quan sát, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp diễn dịch, quy nạp…

1.7.5 Phương pháp xử lý thông tin

Công việc phân tích và xử lý thông tin được thực hiện xuyên suốt quá trình nghiên cứu Các thông tin nghiên cứu được tổng hợp và phân chia thành các chủ đề khác nhau bằng cách thống kê những thông tin định lượng và thông tin định tính Tác giả nghiên cứu đã đọc kỹ nội dung các tài liệu trên để phát hiện các chủ đề chính, từ đó xây dựng hệ thống mã hóa thông tin cho tất cả các nhóm đối tượng

Đề tài sử dụng phầm mềm SPSS 18.0 để tính tần suất và một số tương quan đối với những thông tin thu được từ bảng nghiên cứu nội dung thông tin định lượng

Trang 14

12

1.8 Khung lý thuyết

Điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của địa phương

Dự án Thủy điện Trung Sơn (hợp phần đường vào công trường)

Sự hài lòng của người dân với công tác

Kiểm

kê thiệt hại

Chính sách bồi thường

hỗ trợ

Chi trả bồi thường

hỗ trợ

Tiến

độ thực hiện

Giải quyết phàn nàn khiếu nại

Trang 15

13

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Các lý thuyết áp dụng

1.1.1.1 Lý thuyết biến đổi xã hội

Nguyên lý phát triển của XHH Mác xít chỉ ra rằng phát triển là quá trình trong đó sự vật mới ra đời thay thế sự vật cũ, là hiện tượng diễn ra không ngừng trong tự nhiên, xã hội và tư duy Nguyên lý này chỉ ra rằng, mọi sự vật, hiện tượng đều nằm trong quá trình vận động và phát triển, nên trong nhận thức và hoạt động của bản thân, chúng ta phải có quan điểm phát triển Điều đó có nghĩa là khi xem xét bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng phải đặt chúng trong sự vận động, sự phát triển, vạch ra xu hướng biến đổi, chuyển hóa của chúng

Thuyết này chỉ ra rằng cũng như giới tự nhiên, mọi xã hội, mọi nền văn hóa đều không ngừng biến đổi Sự ổn định của xã hội chỉ là sự ổn định tương đối, còn thực tế, nó không ngừng thay đổi từ bên trong bản thân nó Sự biến đổi trong xã hội hiện đại càng rõ hơn, con người là một đơn vị cơ bản của xã hội, với tư cách là chủ thể hoạt động xã hội, bản thân nó cũng luôn biến đổi Biến đổi từ khi sinh ra đến khi trưởng thành rồi mất đi Biến đổi khi con người phải thay đổi vị trí sống, thay đổi điều kiện và cấu trúc xã hội trong đó họ là một thành tố chính Thuyết biến đổi xã hội ra đời coi xã hội là một sự vận động và tương tác không ngừng Chính sự vận động và tương tác này đã tạo ra sự đa dạng và phong phú của xã hội Như vậy, lý thuyết này lý giải rằng sự biến đổi về nhận thức, mức sống, điều kiện cơ sở vật chất

ở khu vực tái định cư là một quá trình tất yếu

Auguste Comte đã coi xã hội là sự chuyển hóa giữa hai mặt là mặt tĩnh (mặt

cơ cấu của xã hội) và mặt động (mặt lịch đại của xã hội) Theo ông, trong xã hội, mọi cái đều vận động và biến đổi Tuy nhiên, sự biến đổi này không diễn ra một cách đơn điệu Mỗi sự vật hiện tượng và sự kiện xã hội lại có những cách thức và

Trang 16

1.1.1.2 Lý thuyết phát triển bền vững

Phát triển bền vững là thuật ngữ mới xuất hiện gần đây Trong báo cáo của

Hô ̣i đồng Thế giới về Môi trường và P hát triển năm 1987, khái niệm phát triển bền vững mới được sử du ̣ng mô ̣t cách chính thức trên quy mô quốc tế và được đi ̣nh

nghĩa như sau : “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng những yêu cầu

của hiện tại , nhưng không gây trở ngại cho viê ̣c đáp ứng nhu cầu của các thế hê ̣ mai sau”.[2, tr.4]

Hay nói cách khác: Đó là sự phát triển hài hòa cả về kinh tế , văn hóa, xã hội, môi trường nhằm không ngừng nâng cao chất lượng sống của con ngư ời ở các thế

hê ̣ hiê ̣n ta ̣i cũng như trong tương lai

Nô ̣i dung cơ bản của phát triển bền vững có thể được đánh giá bằng những tiêu chí nhất đi ̣nh về kinh tế , tình trạng xã hội , sử du ̣ng tài nguyên thiên nhiên và chất lươ ̣ng môi trường

Phát triển bền vững về kinh tế đòi hỏi phải đảm bảo kết hợp hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa – xã hội, cân đối tốc đô ̣ tăng

Trang 17

Phát triển bền vững về tài nguyên và môi trường là các dạng tài nguyên thiê n nhiên tái ta ̣o được phải được sử du ̣ng trong pha ̣m vi chi ̣u tải của chúng nhằm khôi phục được cả về số lượng và chất lượng , các dạng tài nguyên không tái tạo được phải được sử dụng tiết kiệm và hợp lý nhất Môi trường t ự nhiên (không khí, đất, nước, cảnh quan thiên nhiên… ) và môi trường xã hội (dân số, chất lượng dân số , sức khỏe, môi trường sống, lao đô ̣ng và ho ̣c tâ ̣p của con người…) nhìn chung không

bị các hoạt động của con người làm ô nhiễ m, suy thoái và tổn ha ̣i Các nguồn phế thải từ công nghiệp và sinh hoạt được xử lý , tái chế kịp thời , vê ̣ sinh môi trường đươ ̣c đảm bảo, con người được sống trong môi trường trong sa ̣ch…

Những tiêu chí nói trên là những điề u kiê ̣n cần và đủ để đảm bảo sự phát triển bền vững của mô ̣t xã hô ̣i , nếu thiếu mô ̣t trong những điều kiê ̣n đó thì sự phát triển sẽ đứng trước nguy cơ mất bền vững

Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 4 lĩnh vực chính: kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường

Dự án thủy điện Trung Sơn được xây dựng có cân nhắc tới tất cả các yếu tố trên Đây là dự án đa mục tiêu, cung cấp sự phát điện, kiểm soát lũ và lợi ích tưới tiêu Khi hoàn thiện, dự án được trông đợi sẽ đóng góp bình quân 1.019 GWh mỗi năm, giúp kiểm soát lũ thường niên ở hạ lưu sông Mã, và cung cấp nước bổ sung cho nông nghiệp trong suốt mùa khô Các vấn đề môi trường – xã hội cũng được nghiên cứu và lập kế hoạch một cách kỹ lưỡng để đảm bảo giảm thiểu tối đa các tác động

Trang 18

1.1.1.3 Các lý thuyết về sự hài lòng của khách hàng

Các lý thuyết sự hài lòng của khách hàng có nguồn gốc từ một lượng lớn tài liệu về nghiên cứu markerting Hai giáo sư của Đại học Washington là Joan L.Giese

và Joseph A.Cote đã thực hiện một nghiên cứu trên cơ sở xem xét các tài liệu sẵn có

và phỏng vấn nhóm, cá nhân về sự hài lòng theo quan điểm của khách hàng để từ đó rút ra những yếu tố chung về sự hài lòng của khách hàng Theo đó, sự hài lòng của khách hàng bao gồm ba thành phần cơ bản: (1) sự hài lòng của khách hàng là một phản ứng (cảm xúc hoặc nhận thức); (2) phản ứng gắn liền với một trọng tâm đặc biệt (kỳ vọng, sản phẩm, trải nghiệm mua sắm,…); (3) phản ứng xảy ra tại một thời điểm cụ thể (sau khi lựa chọn, sau khi tiêu dùng,…)

 Phản ứng cảm xúc hoặc nhận thức được chia thành nhiều loại và cường

độ khác nhau tùy thuộc vào hoàn cảnh Cường độ phản ứng liên quan đến mức độ mạnh mẽ của phản ứng hài lòng, có thể được sắp xếp từ mạnh đến yếu hoặc ngược lại

 Trọng tâm của phản ứng: mục tiêu của sự hài lòng Khi xác định trọng tâm của phản ứng, thường phải so sánh một số tiêu chuẩn Nếu không xác định rõ ràng trọng tâm, bất kỳ phát biểu nào về sự hài lòng cũng sẽ là ít ý nghĩa vì mỗi người sẽ có một cách lý giải khác nhau

Trang 19

17

 Thời điểm của phản ứng: Sự hài lòng của khách hàng có thể xảy ra trước khi lựa chọn hoặc thậm chí trong trường hợp không có sự kiện mua sắm hay lựa chọn, hoặc sau khi trải nghiệm tiêu dùng [26]

Áp dụng lý thuyết về sự hài lòng của khách hàng trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng thang đo likert 5 mức độ để phân biệt mức độ hài lòng của người dân đối với công tác bồi thường, GPMB Hơn thế nữa, việc xác định rõ ràng từng hoạt động cụ thể trong công tác bồi thường GPMB cũng giúp người trả lời bớt mơ hồ, nhầm lẫn trong việc thể hiện mức độ hài lòng của mình Thời điểm của sự hài lòng được xác định trong nghiên cứu là trong và sau quá trình trải nghiệm việc thực hiện bồi thường GPMB của dự án

1.1.2 Các khái niệm công cụ

1.1.2.1 Sự hài lòng

Sự hài lòng của khách hàng trở thành một chủ đề phổ biến trong thực hành marketing và nghiên cứu khoa học từ khi Cardozo thực hiện nghiên cứu ban đầu (1965) về sự nỗ lực, kỳ vọng và hài lòng của khách hàng Mặc dù đã có nhiều nỗ lực để đo lường và giải thích sự hài lòng của khách hàng nhưng vẫn chưa có được

sự đồng thuận về định nghĩa này (Giese và Cote, 2000) [28, tr.359]

Sự hài lòng của khách hàng thường được định nghĩa như là sự phán xét, đánh giá sau khi tiêu dùng một sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể (Gundersen, Heide và Olsson, 1996) [28, tr.359]

Theo Spreng, Mackenzie và Olshavsky (1996) sự hài lòng của khách hàng được xem là nền tảng trong khái niệm của marketing về việc thỏa mãn nhu cầu và mong ước của khách hàng [30]

Sự hài lòng của khách hàng được định nghĩa như là kết quả của sự đánh giá cảm tính và nhận thức, ở đó vài tiêu chuẩn được so sánh với sự thực hiện cảm nhận được Nếu cảm nhận về sự thực hiện một dịch vụ thấp hơn mong đợi, khách hàng không hài lòng Ngược lại, nếu cảm nhận vượt quá mong đợi, khách hàng sẽ hài

Trang 20

18

lòng Sự phán đoán hài lòng có liên quan đến tất cả kinh nghiệm về sản phẩm, quá trình bán hàng và dịch vụ hậu mãi của doanh nghiệp Hài lòng là hàm số của sự mong đợi, cảm nhận cùng với khoảng cách giữa cảm nhận và mong đợi (Oliver,

1980, dẫn theo King, 2000).[29]

Theo Kotler và Keller (2006), sự hài lòng là mức độ của trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh nhận thức về một sản phẩm so với mong đợi của người đó Theo đó, sự hài lòng có 3 cấp độ sau:

 Nếu nhận thức của khách hàng nhỏ hơn kỳ vọng thì khách hàng cảm nhận không thỏa mãn

Việc thỏa mãn khách hàng trở thành một tài sản quan trọng đối với các doanh nghiệp và tổ chức trong nỗ lực nâng cao chất lượng dịch vụ, giữ vững sự trung thành, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Năm 1989, chỉ số đo mức độ hài lòng đầu tiên được ra đời tại Thụy Điển nhằm thiết lập chỉ số hài lòng của khách hàng đối với việc mua và tiêu dùng sản phẩm – dịch vụ nội địa Trong những năm sau đó, chỉ số này được phát triển và ứng dụng rộng rãi tại các nước phát triển như Mỹ-ACSI, Nauy-NCSI, Đan Mạch-DCSI và các quốc gia Châu Âu-ECSI

1.1.2.2 Bồi thường, hỗ trợ

Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới

Trang 21

19

Bồi thường, hỗ trợ cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất được quy định tại Điều 5, Chương I, Nghị định 197/2004/NĐ-CP của Thủ tướng chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất như sau:

 Bồi thường hoặc hỗ trợ đối với toàn bộ diện tích đất Nhà nước thu hồi

 Bồi thường hoặc hỗ trợ về tài sản hiện có gắn liền với đất và các chi phí đầu tư vào đất bị Nhà nước thu hồi

 Hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ ổn định đời sống, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề

và hỗ trợ khác cho người bị thu hồi

 Hỗ trợ để ổn định sản xuất và đời sống tại khu tái định cư [17]

Đối với dự án thủy điện Trung Sơn, một số nguyên tắc sau đây được áp dụng:

 Tài sản trên đất được bồi thường theo giá thay thế, không trừ khấu hao, hoặc giá trị vật liệu có thể tận dụng lại được cho việc làm nhà và các công trình khác

 Đất nông nghiệp được bồi thường bằng đất có khả năng canh tác tương đương được DP chấp thuận hoặc tiền mặt theo giá thay thế tùy theo lựa chọn của DP Đất ở/đất kinh doanh được bồi thường bằng đất có diện tích tương đương được hoặc bồi thường bằng tiền mặt theo giá thay thế tùy theo lựa chọn của DP

 Đất ở hoặc đất nông nghiệp thay thế (nếu có) càng gần với mảnh đất cũ càng tốt và được người bị ảnh hưởng chấp nhận

 Hỗ trợ ngoài bồi thường bao gồm trợ cấp di dời hoặc sinh kế và bất kể phương án nào khác có thể cần thiết nhằm giúp DP duy trì và cải thiện mức sống và khả năng tạo thu nhập của họ

1.1.2.3 Người bị ảnh hưởng

Theo định nghĩa của dự án, người BAH là “các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân

bị thu hồi đất và bị thiết hại về tài sản, quyền lợi khi thực hiện dự án, được xác định trong Bản thống kê Khảo sát đo đếm chi tiết (DMS), cụ thể:

Trang 22

20

 Những người có đất ở, nhà hoặc đất và các công trình xây dựng bị thiệt hại;

 Những người có đất nông nghiệp hoặc các công trình khác (nghĩa là, công trình phục vụ sản xuất nông nghiệp) bị thiệt hại;

 Những người có cơ sở sản xuất, kinh doanh và/ hoặc các công trình khác

bị thiệt hại;

 Những người có mùa vụ, cây trồng (cây hàng năm và cây lâu năm) bị thiệt hại;

 Những người có ao cá hoặc đất khác bị thiệt hại ;

 Những người bị mất việc làm tạm thời hoặc vĩnh viễn;

 Những người bị thiệt hại quyền lợi gián tiếp do dự án tác động đến nguồn tài nguyên hoặc tài sản và đất đai của cộng đồng (bao gồm cơ sở

hạ tầng và các dịch vụ); và

 Những người bị thiệt hại quyền lợi gián tiếp do dự án tác động đến những tài sản không phải công cụ sản xuất như giếng nước, mồ mả và lăng miếu…

 Đất BAH bởi tuyến đường: là diện tích đất bị thu hồi hoặc bị hạn chế khả năng sử dụng bởi dự án

Người BAH bởi dự án được chia thành người BAH nặng và người BAH nhẹ Những người BAH nặng bởi tuyến đường: Bao gồm các (i) tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bị ảnh hưởng về nhà ở phải tái định cư hoặc (ii) ảnh hưởng về đất nông nghiệp

từ 10% tổng diện tích đất nông nghiệp hiện có và phần đất còn lại không thể sản xuất phục hồi thu nhập được”.[1, tr.19]

1.1.2.4 Người dân tộc thiểu số

“Dân tộc thiểu số” là một khái niệm khoa học được sử dụng phổ biến trên thế giới hiện nay Các học giả phương Tây quan niệm rằng, đây là một thuật ngữ chuyên ngành dân tộc học dùng để chỉ những dân tộc có dân số ít Trong một số

Trang 23

21

trường hợp, người ta đánh đồng ý nghĩa “dân tộc thiểu số” với “dân tộc lạc hậu”,

“dân tộc chậm tiến”, “dân tộc kém phát triển”, “dân tộc chậm phát triển”… Có nhiều nguyên nhân, trong đó có sự chi phối bởi quan điểm chính trị của giai cấp thống trị trong mỗi quốc gia

Trên thực tế, khái niệm “dân tộc thiểu số” chỉ có ý nghĩa biểu thị tương quan

về dân số trong một quốc gia đa dân tộc Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng dân tộc, thì khái niệm “dân tộc thiểu số” không mang ý nghĩa phân biệt địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc Địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc không phụ thuộc ở

số dân nhiều hay ít, mà nó được chi phối bởi những điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội và lịch sử của mỗi dân tộc

Như vậy, khái niệm “dân tộc thiểu số” dùng để chỉ những dân tộc có số dân

ít, chiếm tỷ trọng thấp trong tương quan so sánh về lượng dân số trong một quốc gia

đa dân tộc Khái niệm “dân tộc thiểu số” cũng không có ý nghĩa biểu thị tương quan

so sánh về dân số giữa các quốc gia dân tộc trên phạm vi khu vực và thế giới Một dân tộc có thể được quan niệm là “đa số” ở quốc gia này, nhưng đồng thời có thể là

“thiểu số” ở quốc gia khác

Khái niệm “Dân tộc thiểu số” có thể thay đổi và khác nhau trong từng bối cảnh cụ thể và trước giờ chưa có một định nghĩa nào có thể bao quát được hết sự đa dạng của nó

Ngân hàng Thế giới (WB) nhận thấy đặc tính và bản sắc văn hóa của người dân tộc thiểu số có mối liên hệ chặt chẽ với vùng đất sinh sống và nguồn tài nguyên thiên nhiên phụ thuộc Chính những đặc tính đó khiến người dân tộc thiểu số dễ phải chịu rủi ro và các loại tác độn từ những dự án phát triển bao gồm cả việc mất đi bản sắc, văn hóa và tập quán sinh sống cũng như nguy cơ phải đối mặt với bệnh tật Vấn đề giới và đặc tính đa thế hệ trong cộng đồng người dân tộc thiểu số cũng là một vấn đề khá phức tạp Do các nhóm xã hội với đặc tính riêng thường khác với nhóm đa số trong xã hội, nên thông thường họ là những đối tượng chịu thiệt thòi

Trang 24

22

nhiều nhất và cũng dễ bị tổn thương nhất so với nhóm chiếm đại bộ phận dân cư

Do vị thế kinh tế, xã hội và địa vị pháp lý như vậy, họ thường bị hạn chế về khả năng bảo vệ quyền và lợi ích của mình liên quan đến đất đai, lãnh thổ cũng như các nguồn sản xuất khác, và/hoặc bị giới hạn về khả năng tham gia và hưởng lợi từ công cuộc phát triển chung của toàn xã hôi Trong bối cảnh đó, WB nhận thấy vai trò to lớn của người dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển bền vững và đã xây dựng chính sách OP 4.10 về Dân tộc thiểu số để giải quyết các mục tiêu về vấn đề này

Theo OP 4.10, thuật ngữ “dân tộc thiểu số” được sử dụng chung nhằm để chỉ nhóm người dễ bị tổn thương, có bản sắc văn hóa xã hội khác biệt và có những đặc điểm ở các mức độ khác nhau như sau:

 Tự xác định hoặc do người khác xác định họ là những thành viên của một nhóm cư dân có văn hóa khác biệt;

 Gắn bó với những vùng địa lý nhất định hay đất đai của tổ tiên và các nguồn tài nguyên thiên nhiên trên lãnh thổ thuộc khu vực dự án;

 Có thể chế chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa truyền thống khác biệt với đặc tính văn hóa xã hội của nhóm đa số; và

 Có ngôn ngữ bản địa, thường là khác với ngôn ngữ phổ thông của quốc gia hay khu vực.[11, tr.3]

1.2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu và đóng góp của luận văn

Vấn đề tái định cư ở nước ta là vấn đề được Đảng, Nhà nước, chính quyền các cấp cũng như nhiều cơ quan, nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Ở Việt Nam, chương trình di dân phục vụ phát triển kinh tế xã hội có kế hoạch theo chủ trương của nhà nước đã được triển khai từ những năm 60 của thế kỷ trước Từ đó cho đến nay đã có rất nhiều công trình khoa học, đề tài nghiên cứu, bài viết liên quan đến vấn đề bồi thường, giải phóng mặt bằng được công bố, cụ thể là các công trình sau:

Tác giả Khúc Thị Thanh Vân với đề tài: “Ảnh hưởng của chính sách tái định

cư đến đời sống người dân sau tái định cư” (Nghiên cứu trường hợp Thuỷ điện Bản

Trang 25

dự án Luận văn đưa ra được những ảnh hưởng của chính sách tái định cư đối với cuộc sống sau tái định cư của những người dân phải di chuyển trong các dự án phát triển, nhất là trong vấn đề khôi phục lại cuộc sống; những tác động ảnh hưởng đến khả năng hoà nhập cộng đồng hoặc giữ gìn bản sắc văn hoá của nhóm cộng đồng dân tộc thiểu số phải di chuyển với cộng đồng tiếp nhận người tái định cư Luận văn còn đề xuất những khuyến nghị cho việc lập chính sách hoặc bổ khuyết các hoạt động trong quá trình thực hiện xây dựng phương án tái định cư, chương trình khôi phục cuộc sống trong một dự án phát triển, nhất là dự án xây dựng đập Đây được đánh giá là một luận văn có chất lượng và phản ánh đúng thực tế vấn đề nghiên cứu

Tác giả Nguyễn Văn Phấn với đề tài “Hoàn thiện chính sách bồi thường,

giải phóng mặt bằng trên địa bàn thị xã Bảo Lộc” Nội dung chính của luận văn

gồm 3 chương: Chương 1 – Lý luận chung về giá trong bồi thường giải phóng mặt bằng; Chương 2 – Thực trạng chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng trên địa bàn thị xã Bảo Lộc; Chương 3 – Một số giải pháp hoàn thiện chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng Tác giả phân tích khá sâu về các chính sách bồi thường – hỗ trợ trong các trường hợp thu hồi đất của Nhà nước Chương 3 là chương được tác giả đào sâu phân tích nhất Những đề xuất hoàn thiện chính sách hồi thường, giải phóng mặt bằng xuất phát từ tồn tại của địa phương nghiên cứu có ý nghĩa thiết thực trong việc hoàn thiện chính sách pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng

ở Việt Nam

Trang 26

24

Đề tài nghiên cứu “Pháp luật về đền bù và giải phóng mặt bằng ở Việt Nam

– cân bằng giữa lợi ích nhà nước và lợi ích người dân” của Phan Trung Hiền đăng

trên Tạp chí khoa học số 10 năm 2008 Đề tài nghiên cứu nhấn mạnh đến hai nội dung chính là “trình tự thủ tục” và “đền bù” Dựa trên bản chất của quy trình giải phóng mặt bằng, các quy định pháp luật được phân tích theo chủ đề “cân bằng lợi ích giữa lợi ích của nhà nước và lợi ích của người dân”, làm sao để sự cân bằng các lợi ích này được thiết lập cả trong lý luận và thực tiễn Theo đó, nghiên cứu xoay quanh các chủ đề là: xác định tài sản chịu ảnh hưởng trong quá trình giải phóng mặt bằng; xác định các trình tự thủ tục thực hiện; xác định mức độ đền bù để có thể cân bằng giữa các lợi ích trong giải phóng mặt bằng

Tiến sỹ Phạm Mộng Hoa – Tiến sỹ Lâm Mai Lan, “Tái định cư trong các dự

án phát triển: chính sách và thực tiễn” Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000) Với

công trình này, các tác giả đã tập trung trình bày nội dung của các Nghị định, Thông

tư quy định về mặt pháp lý đối với việc đền bù, giải tỏa và trách nhiệm của Nhà nước đối với người bị giải tỏa; đồng thời chỉ ra những khiếm khuyết và hạn chế của chính sách hiện hành trên cơ sở so sánh sự khác biệt giữa chính sách TĐC của Việt Nam với chính sách TĐC của các tổ chức quốc tế Ngoài ra, tác giả cũng đề xuất, kiến nghị, bổ sung và điều chỉnh những chính sách hiện hành, làm cho những chính sách này phù hợp với yêu cầu thực tiễn

Phạm Quang Tú, Phan Đình Nhã, Nguyễn Văn Sự, “Ổn định cuộc sống của

người dân Tái định cư và bảo vệ môi trường trong các dự án thủy điện”, Tạp chí số

3 năm 2011 Viện Nghiên cứu Môi trường và Phát triển bền vững, tác giả đã khẳng định để giảm thiểu tác động bất lợi và ổn định cuộc sống cho người dân bị thu hồi đất và tái định cư, chủ trương chung của Đảng và Nhà nước xác định công tác di dân tái định cư là hợp phần quan trọng trong các dự án xây dựng công trình thủy điện và nhấn mạnh rằng công tác phải “đảm bảo cuộc sống vùng tốt hơn hoặc ít nhất là bằng nơi ở cũ”

Trang 27

25

Nhìn chung các công trình trên đã bước đầu tiếp cận các vấn đề bức thiết của thực tiễn đặt ra, cung cấp được các luận cứ làm cơ sở cho việc rà soát, đánh giá chính sách Đồng thời, còn có nhiều công trình khoa học khác nghiên cứu vấn đề tái định cư ở nhiều khía cạnh khác nhau Có thể khẳng định các công trình nghiên cứu

về tái định cư ở nước ta có rất nhiều Có nhiều ý kiến khẳng định tính cấp thiết, đúng đắn của các chính sách đền bù, hỗ trợ tái định cư, góp phần xây dựng và phát triển kinh tế xã hội song cũng còn không ít ý kiến nhận thấy hiệu quả của chính sách còn rất hạn chế, thiếu tính bền vững

Hiện nay, xu hướng nghiên cứu sự hài lòng khá phổ biến trên thế giới và ở cả Việt Nam, chủ yếu tập trung vào sự hài lòng với hoạt động cung cấp dịch vụ công, trong đó phải kể đến các nghiên cứu sau:

Nghiên cứu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về “Sự hài lòng của

người dân đối với cung cấp dịch vụ công trong ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NNPTNT), lập kế hoạch phát triển Kinh tế Xã hội (LKHPTKTXH) và quản lý tài chính cấp xã 2007& 2009” được thực hiện tại hai tỉnh Cao Bằng và Hòa

Bình Mục tiêu của khảo sát là nhằm đánh giá (i) sự hài lòng của người dân đối với

4 ngành dịch vụ công trong NNPTNT, cụ thể là đối với tiếp cận và chất lượng dịch vụ; (ii) sự tham gia của người dân vào lập KHPTKTXH và nhìn nhận về tính minh bạch trong tài chính xã; (iii) kinh tế hộ gia đình và an toàn lương thực để củng cố hiệu quả hoạt động của Chương trình cải thiện cung cấp dịch vụ công trong NNPTNT do Cơ quan Hợp tác và Phát triển Thụy sỹ (SDC) tài trợ Nghiên cứu đã tiến hành hai đợt khảo sát để đo lường, xem xét các thay đổi và đánh giá các thành tựu của chương trình Đây là một nghiên cứu quy mô và được thực hiện trong thời gian dài Thành công lớn nhất của nghiên cứu, đó là đưa ra được những đề xuất cụ thể và có tính khả thi để cải thiện việc cung cấp dịch vụ công trong NNPTNT

Kết quả nghiên cứu Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở

biết mức độ hài lòng của người dân về dịch vụ ở các bệnh viện công ở tuyến

Trang 28

26

huyện/quận/thành phố Kết quả khảo sát cho thấy để nâng cao chất lượng các dịch

vụ này thì cần phải nỗ lực rất nhiều Đa số người dân, bất luận nam hay nữ và dân tộc nào, cho biết trong số 9 tiêu chí về chất lượng của bệnh viện tuyến huyện/quận, tình trạng bệnh nhân vẫn phải nằm chung giường và phòng vệ sinh không sạch sẽ còn phổ biến Ngoài ra, 50% số người đa đến khám/chữa bệnh ở bệnh viện tuyến huyện/quận khẳng định rằng thời gian chờ đợi để được khám/chữa bệnh còn quá lâu Một tỉ lệ tương tự cho rằng sau khi ra viện bệnh nhân không hỏi hẳn bệnh Những quan sát này đặt ra câu hỏi về điều kiện cơ sở vật chất và chất lượng dịch vụ của bệnh viện tuyến huyện/quận (PAPI 2011; tr.27)

Trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn ở trong nước, còn rất hiếm nghiên cứu về sự hài lòng cuộc sống với tư cách là một đề tài nghiên cứu khoa học Thi thoảng ở đâu đó, trong những nghiên cứu khác nhau, có lồng ghép/kết hợp một vài câu hỏi về sự hài lòng liên quan đến lĩnh vực mà đề tài đó nghiên cứu Chẳng hạn, trong Dự án nghiên gia đình nông thôn Việt Nam 2004, do Viện Xã hội học (Viện Khoa học xã hội Việt Nam phối hợp cùng với Sida, do GS.TS Trịnh Duy Luân chủ trì), trong bảng hỏi có một câu hỏi liên quan đến sự hài lòng về hôn nhân “Nhìn chung cho đến nay, ông/bà cảm thấy hài lòng về đời sống hôn nhân của mình ở mức độ nào?”

GS.TS Bùi Thế Cường trong đề tài “Cơ cấu xã hội, lối sống, và phúc lợi xã hội tại TPHCM”, gồm 1070 hộ tại 30 phường/xã/thị trấn, tháng 4/2010 (Đề tài do

Sở KH-CN TPHCM tài trợ 2009 - 2010), có đề cập đến Mức độ hài lòng của người dân đối với công việc đang làm và cuộc sống của họ hiện nay (Bùi Thế Cường và

cs, 2011)

Trong chương trình nghiên cứu khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX.05.07 Định hướng giá trị con người Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập (2001-2005),

do GS.VS Phạm Minh Hạc chủ nhiệm chương trình, trong bảng hỏi với 150 câu hỏi,

có 1 câu hỏi đề cập đến sự hài lòng về cách làm việc của các viên chức nhà nước Một số nghiên cứu trên đây về sự hài lòng chỉ giới hạn ở phạm vi hẹp của ngành với

Trang 29

27

một nhóm đối tượng cụ thể, mà chưa có nghiên cứu đối với các nhóm đối tượng khác nhau

Trong khuôn khổ đề án Báo cáo thường niên xã hội Việt Nam 2011, với chủ

đề “Sự hài lòng về cuộc sống” do PGS.TS Hoàng Bá Thịnh chủ trì, trên cơ sở khảo sát 2400 hộ gia đình tại 4 tỉnh/thành phố Hải Dương, Hà Nội, Hồ Chí Minh và Bình Dương, kết quả của đề án đã đề cập đến một số chiều cạnh hài lòng của người dân

về thu nhập, chi tiêu, về nghề nghiệp, học vấn, hôn nhân gia đình và điều kiện nơi

cư trú…

Kết quả của đề tài đã được PGS.TS.Hoàng Bá Thịnh công bố một số bài viết như: Sự hài lòng về hôn nhân và gia đình (tạp chí Dân số và Phát triển, số 8/2012), Mức độ hài lòng của người Việt Nam: Một số kết quả ban đầu và hàm ý chính sách (tạp chí Nghiên cứu con người, số 4/2012), và Sự hài lòng về cuộc sống: tiếp cận phi kinh tế về phát triển (tạp chí Thông tin Khoa học xã hội)

Năm 2008, với sự hướng dẫn của BS-ThS Nguyễn Văn Út và BS-ThS Nguyễn Văn Ngọt, tác giả Nguyễn Ngọc Thảo, Khoa Quản trị Bệnh viên đã có đề

tài nghiên cứu “Sự hài lòng về chất lượng đào tạo của sinh viên khoa Quản trị

Bệnh viện (QTBV) trường Đại học Hùng Vương” nhằm góp phần nâng cao chất

lượng đào tạo và phục vụ của khoa QTBV Nghiên cứu được thực hiện đối với 121 sinh viên Khoa QTBV của trường ĐH Hùng Vương, phương pháp thu thập dữ liệu được thực hiện thông qua bảng hỏi và phỏng vấn sinh viên Kết quả cho thấy 81,8% sinh viên hài lòng về chất lượng đào tạo và phục vụ của khoa QTBV Tuy nhiên vẫn còn một số tiêu chí mà sinh viên có sự hài lòng thấp (dưới 50%) là: dụng cụ thí nghiệm, bãi giữ xe và mức học phí của nhà trường Từ đó tác giả cũng đưa ra một số

đề nghị nhằm khắc phục những hạn chế để nâng cao sự hài lòng của sinh viên đối với chất lượng của Khoa QTBV nói riêng và của trường ĐH Hùng Vương nói chung

Tuy có khá nhiều các công trình nghiên cứu về tái định cư và sự hài lòng của người dân trong thời gian gần đây nhưng chưa có nhiều công trình nghiên cứu xã

Trang 30

1.3 Tổng quan địa bàn nghiên cứu

1.3.1 Đặc điểm tự nhiên

Vùng dự án nằm trên địa bàn các xã miền núi ở phía Tây Bắc của tỉnh Hòa Bình và phía Bắc của tỉnh Thanh Hoá, cách thành phố Hòa Bình khoảng 80 km, có tọa độ địa lý ở vào khoảng 20024' đến 20045' độ vĩ Bắc và 104031' đến 105016' độ kinh Đông

Mặc dù là các xã miền núi của 2 tỉnh và nằm cách xa tỉnh lỵ, giao thông đi lại khó khăn, nhưng vùng dự án có vị trí quan trọng trong việc phát triển kinh tế-xã hội của 2 tỉnh, có thị trường giao lưu kinh tế với tỉnh Sơn La Do vị trí dự án nằm ở cửa ngõ vùng Tây bắc nên trong tương lai, khi công trình thủy điện Trung Sơn được xây dựng xong sẽ mang lại nhiều lợi thế cho việc phát triển kinh tế - xã hội trong vùng

1.3.2 Đặc điểm dân số

Trên địa bàn 5 xã bị ảnh hưởng bởi tuyến đường có 2.988 hộ với 13.130 khẩu (số liệu thống kê năm 2010) với cỡ hộ trung bình là 4,4 Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trong vùng trung bình năm là 3% Đây là tỷ lệ tăng dân số khá cao so với các

địa phương khác của hai tỉnh Thanh Hóa và Hòa Bình

Tổng số lao động trong vùng là 6.052 người (chiếm 46% tổng dân số), trong

đó số lao động nông nghiệp chiếm khoảng 98% và số lao động phi nông nghiệp là 2% Đây là đặc điểm cần được chú trọng trong khi xây dựng các giải pháp khôi phục sinh kế và thu nhập cho các hộ BAH sao cho phù hợp với nghề nghiệp của họ

Trang 31

29

Các nhóm dân tộc chính trong vùng dự án gồm Thái, Mường, Kinh Họ đã sinh sống ở đây từ rất lâu Mặc dù mỗi dân tộc có một bản sắc văn hóa riêng, nhưng

họ luôn đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống và sản xuất

1.3.3 Đặc điểm các nhóm dân tộc thiểu số bị ảnh hưởng

Dân tộc Thái:

Dân tộc Thái cư trú tập trung tại các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Thanh Hóa và Nghệ An Khu vực dự án là nơi cư trú lâu đời của người Thái, có thể

lên đến 400 - 500 năm Người Thái sử dụng các họ chủ yếu như: Bạc, Bế, Bua, Bun,

Cà (Hà, Kha, Mào, Sa), Cầm, Chẩu, Chiêu, Đèo, Điều, Hà, Hoàng, Khằm Leo, Lèo, Lềm (Lâm, Lịm), Lý, Lũ (Lụ, La), Lộc, Lự, Lượng (Lương), Manh, Mè, Nam, Nông, Ngần, Ngưu, Nho, Nhật, Panh, Pha, Phia, Quàng (Hoàng, Vàng), Quảng, Sầm, Tạ, Tày, Tao (Đào), Tạo, Vang, Vỡ (Vi), Xa (Sa), Xin… Người Thái nói các thứ tiếng thuộc nhóm ngôn ngữ gốc Thái của hệ ngôn ngữ Thái - Kadai

Người Thái có nhiều kinh nghiệm trong việc đắp phai, đào mương, bắc máng lấy nước làm ruộng Lúa nước là nguồn lương thực chính, đặc biệt là lúa nếp Người Thái cũng làm nương để trồng lúa, hoa màu và nhiều thứ cây khác Ngoài ra, các hộ còn chăn nuôi gia súc, gia cầm, đan lát, dệt vải, một số hộ làm đồ gốm Sản phẩm nổi tiếng của người Thái là vải thổ cẩm, với những hoa văn độc đáo, màu sắc rực rỡ, bền đẹp

 Dân tộc Mường:

Người Mường, còn gọi là người Mol, Mual, Moi, Moi bi, Au tỏ, Ao tỏ, là một dân tộc sống ở khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam, tập trung đông nhất ở tỉnh Hòa Bình và các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa Người Mường sống định canh định cư ở nơi có nhiều đất sản xuất, gần đường giao thông, thuận tiện cho việc làm

ăn

Người Mường làm ruộng từ lâu đời, lúa nước là cây lương thực chủ yếu của

họ Nguồn kinh tế phụ đáng kể của gia đình người Mường là khai thác lâm thổ sản

Trang 32

30

như nấm hương, mộc nhĩ, sa nhân, cánh kiến, quế, mật ong, gỗ, tre, nứa, mây, song Nghề thủ công tiêu biểu của người Mường là dệt vải, đan lát, ươm tơ Nhiều phụ nữ Mường dệt thủ công với kỹ thuật khá tinh xảo

1.3.4 Cấu trúc gia đình

Cấu trúc gia đình của người dân tộc thiểu số trong khu đã thay đổi về cơ bản

Dù các gia đình đó là người Thái hay người Mường thì ngày nay người ta không còn thấy loại gia đình truyền thống (gia đình mở rộng) với ba bốn thế hệ, bao gồm vài gia đình hạt nhân sống chung dưới một mái nhà nữa Có nhiều nguyên nhân để lý giải thực

tế này, nhưng trước hết nó thường được giải thích bằng nguyên nhân kinh tế: đất đai ngày nay do nhà nước quản lý và trao quyền sử dụng cho các hộ Vì vậy, mỗi gia đình lớn khi tách hộ trở thành các gia đình nhỏ thì người ta có cơ hội nhận được nhiều đất đai hơn so với việc vẫn sống chung trong một gia đình lớn Hơn nữa, việc tách thành các gia đình hạt nhân làm cho sự phát triển kinh tế của mỗi hộ trở nên năng động và tự chủ hơn nhiều so với việc phụ thuộc vào gia đình lớn

1.3.5 Điều kiện sống của dân cư

Nhìn chung, điều kiện sống của người dân tại các xã thuộc huyện Mai Châu (Hòa Bình) tốt hơn ở các xã của huyện Quan Hóa (Thanh Hóa) Các hộ dân thuộc

xã BAH của huyện Mai Châu đã có điện lưới quốc gia, trong khi ở 3 xã của huyện Quan Hóa không có điện lưới quốc gia, một số hộ đang sử dụng điện từ nguồn thủy điện nhỏ do hộ tự xây dựng, các hộ khác sử dụng đèn dầu

Hầu hết số hộ được khảo sát có nhà sàn khá tốt, một số hộ còn lại có nhà cấp

3 hoặc cấp 4 Đa số các hộ sử dụng nước sinh hoạt bằng nguồn nước tự chảy dẫn từ suối về bản, rất ít hộ sử dụng nước giếng đào Có khoảng 60% số hộ gia đình có nhà

xí đơn giản bằng tranh tre, 40% còn lại chưa có nhà vệ sinh

Thu nhập chính của các hộ là từ lương thực, bình quân 338 kg/người/ năm Ngoài ra, các hộ gia đình còn có các khoản thu nhập khác từ kinh tế vườn, chăn nuôi và từ kinh tế lâm nghiệp như trồng rừng sản xuất Bình quân mỗi hộ có thu nhập 6 đến 15 triệu đồng/năm, trong đó thu nhập từ nông nghiệp khoảng 3 đến 5

Trang 33

31

triệu/năm và từ lâm nghiệp khoảng 3 đến 10 triệu đồng/năm Không có sự khác biệt đáng kể về mặt kinh tế giữa người dân tộc thiểu số và người Kinh bị ảnh hưởng bởi việc thi công tuyến đường vào công trường

1.3.6 Phạm vi ảnh hưởng của hợp phần đường vào công trường dự án thủy điện

Tổng số hộ gia đình BAH bởi tuyến đường là 486 hộ

Số liệu từ hồ sơ địa chính tuyến đường cho thấy, toàn bộ 05 xã bị ảnh hưởng 58,28 ha diện tích đất tự nhiên, được chia thành các nhóm đất chính:

 Nhóm diện tích đất nông nghiệp BAH 45,2 ha, chiếm 77,56% tổng diện tích BAH Nhóm đất này bao gồm đất sản xuất nông nghiệp diện tích 3,28

ha đang được người dân trồng các cây hàng năm và cây lâu năm và lúa nước; đất nuôi trồng thuỷ sản có 264.9 m2

đang được người dân nuôi cá và đất sản xuất lâm nghiệp có 38,35 ha đang được người dân trồng luồng

 Nhóm đất phi nông nghiệp chiếm 13,08 ha, chiếm 22,44% tổng số Nhóm này bao gồm đẩt ở và đất khác như đất chưa sử dụng, sông suối, nghĩa trang, nghĩa địa… Đất ở chiếm 2,99 ha

Việc thi công tuyến đường sẽ ảnh hưởng đến các tài sản bao gồm nhà ở, các công trình phụ và các loại cây cối hoa màu khác Phần lớn các hộ BAH nhà phải di chuyển đều là nhà sàn với tổng cộng là 3110 m2 nhà sàn các loại và chỉ ảnh hưởng 593m2 nhà cấp 4 Phần lớn cây cối BAH là cây Luồng

Trang 34

32

CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG, GPMB CỦA DỰ ÁN

Nghiên cứu đánh giá sự hài lòng của người dân đối với công tác bồi thường, GPMB được dựa trên nhiều yếu tố khác nhau như: Mức độ hài lòng đối với chủ trương thực hiện dự án, công tác tuyên truyền, phổ biến thông tin, kiểm kê, áp giá, công khai phương án đề bù, đơn giá đền bù, hình thức chi trả tiền đền bù, GPMB, giải quyết khiếu nại… Trong quá trình tiến hành các hoạt động của dự án, các cơ quan liên quan đã tiến hành gặp gỡ, tham vấn ý kiến và phối hợp với các hộ BAH trong khu vực dự án Đánh giá sự hài lòng của người dân không chỉ dựa vào ý kiến của những hộ bị ảnh hưởng, mà công việc này còn phụ thuộc vào tính đúng đắn của các ý kiến được thu thập, điều kiện kinh tế xã hội vùng BAH và những quy định trong khuôn khổ luật pháp liên quan đến công tác bồi thường và GPMB

Đánh giá mức độ hài lòng của người dân trong luận văn này được đúc rút từ quá trình tiến hành một dự án cụ thể Thông thường, với một dự án bắt đầu triển khai, các hoạt động lần lượt bao gồm: (i) Tham vấn thông tin về dự án (tuyên truyền, phổ biến thông tin liên quan của dự án đến người dân); (ii) Kiểm kê tài sản

bị ảnh hưởng và lập phương án đền bù; (iii) Áp giá và chi trả đền bù; (iv) Giải quyết những thắc mắc, khiếu nại của các hộ bị ảnh hưởng; và (v) Tái định cư và khôi phục mức sống hoặc sinh kế

Hệ thống thang đo về mức độ hài lòng của người dân bao gồm:

Trang 35

33

2.1 Mức độ hài lòng với công tác tham vấn và phổ biến thông tin

Công tác tuyên truyền phổ biến thông tin dư án là một khâu quan trọng trong chu trình thực hiện dự án Nếu công tác này được thực hiện hiệu quả sẽ góp phần đẩy nhanh tiến độ các hoạt động liên quan trong dự án Bởi khi những hộ bị ảnh hưởng được tham vấn đầy đủ thông tin liên quan và những lợi ích mà dự án mang lại sẽ góp phần tăng cường sự tham gia của người dân và giảm đi đáng kể những thắc mắc, khiếu nại từ phía những hộ BAH trong khu vực dự án

Mục tiêu chính của công tác truyền, phổ biến và tham vấn các hộ BAH nhằm:

 Cung cấp cho người BAH những thông tin về dự án và kế hoạch thực hiện;

 Thu thập thông tin về nhu cầu và ưu tiên của nguời BAH và cộng đồng BAH;

 Tạo điều kiện cho người BAH tham gia vào việc thực hiện dự án, đặc biệt việc thực hiện bồi thường, tái định cư và giải phóng mặt bằng để đảm bảo cho họ đưa ra các lựa chọn đúng đắn về các vấn đề có ảnh hưởng trực tiếp tới sinh kế và cuộc sống của họ; và

 Đảm bảo tính minh bạch trong tất cả các hoạt động liên quan tới công tác bồi thường và khôi phục cuộc sống của người BAH

Những ý kiến phản hồi của người BAH trong các cuộc tham vấn sẽ được cơ quan đền bù xem xét, cân nhắc và chỉnh sửa nhằm hoàn thiện thêm phương án đền

bù và rút kinh nghiệm trong những hoạt động tiếp theo

Kết quả điều tra mức độ hài lòng của người dân đối với công tác tuyên truyền, phổ biến thông tin cho thấy, trong số 228 hộ BAH được điều tra, có 100%

số hộ đã được tham vấn và phổ biến thông tin từ dự án Tuy nhiên, có sự khác nhau trong tần suất phổ biến thông tin với từng đặc thù hộ BAH Số liệu cụ thể được trình bày trong bảng dưới đây

Trang 36

34

Bảng 2.1 Số liệu về tần suất phổ biến thông tin với những hộ BAH

Loại ảnh hưởng Tần suất phổ biến thông tin Số lượng (người) Tỷ lệ (%)

Nguồn: Nguyễn Thị Minh Phương, 2012

Số liệu điều tra cho thấy, với những hộ BAH nặng, phần lớn (69,7%) các hộ đều cho rằng, họ thường xuyên được tuyên truyền, phổ biến thông tin của dự án, có 27,3% (tương ứng với 31 hộ BAH nặng) cho rằng, việc tuyên truyền thông tin đến

họ chỉ ở mức độ “thi thoảng” và có tỷ lệ nhỏ những hộ dân cho rằng họ hiếm khi được tuyên truyền, phổ biến thông tin và không có hộ nào chưa được tham gia hoạt động này Với những hộ BAH nhẹ, tần suất tuyên truyền, phổ biến thông tin có sự khác biệt so với những hộ BAH nặng Cụ thể, có 60% các hộ được hỏi cho rằng, họ thường xuyên được tuyên truyền, phổ biến thông tin dự án, có 31,9% số người được tuyên truyền ở mức độ “thi thoảng” và có 8,1% cho rằng, họ hiếm khi được tuyên truyền, phổ biến thông tin Như vậy, tuy có sự khác nhau về mức độ và đặc thù hộ BAH, nhưng tất cả các hộ dân trong khu vực dự án đều đã được tuyên truyền và tham vấn thông tin

Đánh giá về cách thức cung cấp thông tin từ dự án, phần lớn các hộ được hỏi đều cho rằng, thông tin dự án được truyền đạt là đơn giản, dễ hiểu và chỉ có số ít người được hỏi có câu trả lời ngược lại, nghĩa là cách thức cung cấp thông tin từ dự

Trang 37

35

án còn phức tạp và khó hiểu Để minh chứng thêm cho kết quả nghiên cứu trên, tác giả luận văn đã tiến hành phỏng vấn sâu đối với một số hộ BAH về vấn đề này Nội dung phỏng vấn được trình bày trong hộp thông tin dưới đây

Hộp 2.1 Ý kiến của hộ dân với công tác tuyên truyền thông tin của dự án

“Dự án này tổ chức họp bản tham vấn nhiều chứ không như đường Tây

Thanh Hóa trước, bà con chả được thông tin tham vấn gì hết So với đường Tây Thanh Hóa thì dự án này quan tâm đến bà con nhiều hơn hẳn, các cán bộ đến tận nơi nói cho bà con về các tác động môi trường, xã hội, chính sách bồi thường, hỗ trợ Các cán bộ giải thích bằng tiếng Kinh rồi trưởng bản lại giải thích lại bằng tiếng Thái Tôi bằng lòng về vấn đề này và thấy đa số bà con đều ủng hộ dự án đấy” (PVS, Nam, 39 tuổi, làm nông nghiệp)

“Chúng tôi được đoàn nọ, đoàn kia đến tham vấn và phổ biến thông tin về

thủy điện Trung Sơn từ năm 2008 đến nay Mỗi lần mà có hoạt động gì mới là tôi thấy họp bản để phổ biến thôn tin Nếu cán bộ dự án nói mà bà con không hiểu thì

có thể nhờ trưởng bản giải thích lại Người ngoài nói thì không tin đâu, nhưng trưởng bản nói là người dân tin tưởng” (PVS, Nữ, 52 tuổi, Lao động tự do)

Qua nội dung các ý kiến cho thấy, dự án không chỉ quan tâm đến công tác tuyên truyền, phổ biến thông tin, mà còn linh hoạt trong cách thức tiến hành nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong hoạt động này

Kết quả khảo sát về mức độ hài lòng của người dân trong công tác tham vấn, phổ biến thông tin cho thấy, nếu những hộ BAH nhẹ có tỷ lệ hài lòng là 12,4% thì những hộ BAH nặng là 9,8% Không có hộ BAH nào chọn thang đo “rất hài lòng”

Đa phần người dân được hỏi đều lựa chọn mức độ hài lòng “bình thường” (74,1%

số hộ BAH nhẹ và 71,3% số hộ BAH nặng), có 0,5% số hộ BAH nhẹ và 0,7% số hộ BAH nặng cho rằng, họ rất không hài lòng về việc tuyên truyền, phổ biến thông tin

từ dự án Số liệu chi tiết được thể hiện trong biểu đồ dưới đây

Trang 38

36

Biểu đồ 2.1 Mức độ hài lòng của người dân về công tác phổ biến thông tin (%)

Nguồn: Nguyễn Thị Minh Phương, 2012

Nhìn chung, mức độ hài lòng của những hộ BAH nhẹ chiếm tỷ lệ cao hơn những hộ BAH nặng Kết quả thực tế nêu trên do những hộ BAH nặng thường có giá trị bồi thường, hỗ trợ và ảnh hưởng nhiều đến nghề nghiệp và thu nhập hơn những hộ BAH nhẹ

Trong quá trình điều tra tại địa phương, tác giả nghiên cứu nhận thấy, việc cung cấp thông tin dự án đến các hộ BAH là rất quan trọng Nhưng quan trọng hơn

là việc làm cách nào để truyền đạt thông tin tới người dân một cách hiệu quả mà không làm sai đi mục tiêu của hoạt động này Bởi thực tế tại địa phương, mỗi nhóm đối tượng đều có trình độ học vấn, điều kiện kinh tế, khả năng nhận thức, thói quen sống khác nhau nên mỗi nhóm cần có hình thức tuyên truyền thông tin mang đặc thù riêng nhằm đạt hiệu quả cao nhất Kết quả điều tra cho thấy, phần lớn người dân trong khu vực dự án có trình độ học vấn thấp, trong khi đa phần họ đều là dân tộc thiểu số, hạn chế trong việc tiếp cận những phương tiện truyền thông hiện đại Vì vậy, trước khi đưa ra các hình thức phổ biến thông tin, việc cân nhắc những yếu tố đặc thù nêu trên là cần thiết

Với công tác tuyên truyền, phổ biến thông tin, nghiên cứu này còn đánh giá mức độ hài lòng của người dân liên quan đến công tác phổ biến thông tin trong cuộc họp, hình thức phổ biến qua văn bản chính sách, tờ rơi, áp phích, loa đài, cũng như

Trang 39

Biểu đồ 2.2 Mức độ hài lòng của người dân về việc giải đáp những thắc mắc

trong quá trình tham vấn (%)

Nguồn: Nguyễn Minh Phương, 2012

Kết quả điều tra các hộ BAH nhẹ cho thấy, đa phần các hộ được hỏi cho rằng, mức độ hài lòng của họ là “bình thường” (54 hộ, chiếm 61,7%) và 31,3% số

hộ cho rằng, họ “hài lòng” khi được giải đáp những thắc mắc của mình trong quá trình tham vấn (tương ứng với 27 hộ) Ngoài ra, có 7% ý kiến (tương ứng với 6 hộ) cho rằng, họ “không hài lòng” về hoạt động này và không có hộ nào có ý kiến ở thang đo “rất không hài lòng”

Kết quả khảo sát hộ BAH nặng cho thấy, phần lớn các hộ được hỏi cho rằng, mức độ hài lòng của họ là “bình thường” (53 hộ, chiếm 60,1%) và 24,4% số hộ cho rằng, họ “hài lòng” khi được giải đáp những thắc mắc của mình trong quá trình

Trang 40

38

tham vấn (tương ứng với 21 hộ) Ngoài ra, có 15,5% ý kiến cho rằng, họ “không hài lòng” về hoạt động này (tương ứng với 14 hộ) và không có hộ nào có ý kiến ở thang

đo “rất không hài lòng”

Nếu so sánh mức độ hài lòng của các hộ BAH nặng và nhẹ về việc giải đáp những thắc mắc trong quá trình tham vấn, chúng ta có thể thấy, mức độ hài lòng của những hộ BAH nhẹ chiếm tỷ lệ cao hơn những hộ BAH nặng Bởi nếu cộng mức độ hài lòng ở hai thang đo “hài lòng” và “bình thường” thì ở những hộ BAH nhẹ là 93% và những hộ BAH nặng là 86,5% Như đã giải thích ở phần trên, trong quá trình tiến hành dự án, những hộ BAH nhẹ thường ít thủ tục, chính sách và giá trị bồi thường thấp hơn những hộ BAH nặng nên có sự khác nhau trong ý kiến thắc mắc giữa hai đối tượng ảnh hưởng nêu trên

Một trong những mục đích ưu tiên của hoạt động tham vấn là tạo điều kiện cho người dân tham gia đóng góp ý kiến trong quá trình xây dựng và thực hiện dự

án nhằm đưa ra những chọn lựa phù hợp nhất với tâm tư, nguyện vọng của họ Vì vậy, điều quan trọng là tạo ra môi trường để người dân được tự do nói lên những ý kiến, mong muốn của mình

Kết quả khảo sát cho thấy, phần lớn các hộ được hỏi đều cho rằng, họ được khuyến khích tham gia đóng góp ý kiến trong các cuộc họp Thực tế tại địa phương tiến hành dự án cho thấy, các cơ quan liên quan đã tiến hành nhiều đợt tham vấn với những nội dung và mục đích khác nhau Tuy nhiên, vấn đề cơ bản được các hộ dân quan tâm trong tham vấn là đơn giá bồi thường, hỗ trợ khi các hộ dân bị ảnh hưởng tài sản hoặc đất Vấn đề này sẽ được lý giải cụ thể hơn ở phần “Mức độ hài lòng của người dân về đơn giá đền bù, hỗ trợ” Để có cái nhìn khách quan hơn về vấn đề này, tác giả luận văn đã tiến hành phỏng vấn sâu đối với cán bộ Ban QLDA, thông qua đó thể hiện quan điểm của những người trực tiếp tổ chức hoạt động này

Hộp 2.2 Ý kiến của cán bộ Ban QLDA về tổ chức hoạt động tham vấn

“Khuyến khích người dân tham gia đóng góp ý kiến là một trong những

nhiệm vụ quan trọng của tham vấn Dự án luôn muốn lắng nghe tâm tư, nguyện

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban QLDA Thủy điện Trung Sơn (2010), Báo cáo cuối cùng lập kế hoạch hành động tái định cư đối với cầu và đường vào khu đập nhà máy thủy điện Trung Sơn, Dự án Thủy điện Trung Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo cuối cùng lập kế hoạch hành động tái định cư đối với cầu và đường vào khu đập nhà máy thủy điện Trung Sơn
Tác giả: Ban QLDA Thủy điện Trung Sơn
Năm: 2010
3. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và HELVETAS (2010), Sự hài lòng của người dân đối với cung cấp dịch vụ công trong ngành NN vàPTNT, lập kế hoạch KTXH và quản lý tài chính cấp xã 2007&2009, Chương trình cải thiện cung cấp dịch vụ công trong Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hài lòng của người dân đối với cung cấp dịch vụ công trong ngành NN vàPTNT, lập kế hoạch KTXH và quản lý tài chính cấp xã 2007&2009
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, HELVETAS
Nhà XB: Chương trình cải thiện cung cấp dịch vụ công trong Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2010
4. Tống Văn Đường (2001), Giáo trình Dân số và Phát triển, nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Dân số và Phát triển
Tác giả: Tống Văn Đường
Nhà XB: nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2001
5. Vũ Hạnh, Tái định cư trong các dự án thủy điện còn nhiều bất cập, Đài tiếng nói Việt Nam http://vov.vn/Doi-song/Tai-dinh-cu-trong-cac-du-an-thuy-dien-con-nhieu-bat-cap/170911.vov, 01/04/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tái định cư trong các dự án thủy điện còn nhiều bất cập
6. Phạm Mộng Hoa và Lâm Mai Lan (2000), Tái định cư trong các dự án phát triển: Chính sách và thực tiễn, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tái định cư trong các dự án phát triển: Chính sách và thực tiễn
Tác giả: Phạm Mộng Hoa, Lâm Mai Lan
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2000
7. Vũ Quang Hà (2001), Các lý thuyết xã hội học hiện đại, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lý thuyết xã hội học hiện đại
Tác giả: Vũ Quang Hà
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
8. Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang (2000), Phát triển cộng đồng – Lý thuyết và vận dụng, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển cộng đồng – Lý thuyết và vận dụng
Tác giả: Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2000
9. Lê Ngọc Hùng (2009), Xã hội học Kinh tế, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 10. Ngân hàng thế giới (2011), Chính sách về Tái định cư không tự nguyện, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học Kinh tế
Tác giả: Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
11. Ngân hàng thế giới (2005), Chính sách về Dân tộc thiểu số, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách về Dân tộc thiểu số
Tác giả: Ngân hàng thế giới
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
12. Ngân hàng thế giới (2002), Chính sách về Công bố thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách về Công bố thông tin
Tác giả: Ngân hàng thế giới
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2002
14. Phạm Văn Quyết và Nguyễn Quý Thanh (2001), Phương pháp nghiên cứu xã hội học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu xã hội học
Tác giả: Phạm Văn Quyết và Nguyễn Quý Thanh
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
15. Nguyễn Thị Thầm (2010), Khảo sát sự hài lòng của sinh viên đối với hoạt động đào tạo tại Trường đại học khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Luân văn thạc sỹ, Viện đảm bảo chất lượng giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát sự hài lòng của sinh viên đối với hoạt động đào tạo tại Trường đại học khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Thị Thầm
Năm: 2010
17. Thủ tướng Chính phủ (2004), Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 3 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhànước thu hồi đất Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 3 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2004
18. Thủ tướng chính phủ (2007), Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ về Quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ về Quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai
Tác giả: Thủ tướng chính phủ
Năm: 2007
19. Thủ tướng chính phủ (2009), Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/08/2009 của Chính phủ về việc Quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/08/2009 của Chính phủ về việc Quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Tác giả: Thủ tướng chính phủ
Năm: 2009
16. Thủ tướng Chính phủ (2003), Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2003 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Số liệu về tần suất phổ biến thông tin với những hộ BAH. - Sự hài lòng của người dân đối với công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng (Nghiên cứu trường hợp phần đường vào công trường Dự án thủy điện Trung Sơn
Bảng 2.1. Số liệu về tần suất phổ biến thông tin với những hộ BAH (Trang 36)
Bảng 2.5. Nguyên nhân đơn giá đền bù chưa sát giá thị trường. - Sự hài lòng của người dân đối với công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng (Nghiên cứu trường hợp phần đường vào công trường Dự án thủy điện Trung Sơn
Bảng 2.5. Nguyên nhân đơn giá đền bù chưa sát giá thị trường (Trang 55)
Bảng 2.6. Tương quan giữa mức độ hài lòng và trình trình độ học vấn về đơn - Sự hài lòng của người dân đối với công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng (Nghiên cứu trường hợp phần đường vào công trường Dự án thủy điện Trung Sơn
Bảng 2.6. Tương quan giữa mức độ hài lòng và trình trình độ học vấn về đơn (Trang 56)
Bảng 2.7. Mức độ thỏa đáng của chính sách bồi thường, hỗ trợ. - Sự hài lòng của người dân đối với công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng (Nghiên cứu trường hợp phần đường vào công trường Dự án thủy điện Trung Sơn
Bảng 2.7. Mức độ thỏa đáng của chính sách bồi thường, hỗ trợ (Trang 59)
Bảng 2.8. Tương quan giữa mức độ hài lòng và giới tính trong công tác chi trả - Sự hài lòng của người dân đối với công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng (Nghiên cứu trường hợp phần đường vào công trường Dự án thủy điện Trung Sơn
Bảng 2.8. Tương quan giữa mức độ hài lòng và giới tính trong công tác chi trả (Trang 63)
Bảng 2.9. Tương quan giữa mức độ hài lòng và tuổi của chủ hộ trong công tác - Sự hài lòng của người dân đối với công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng (Nghiên cứu trường hợp phần đường vào công trường Dự án thủy điện Trung Sơn
Bảng 2.9. Tương quan giữa mức độ hài lòng và tuổi của chủ hộ trong công tác (Trang 69)
Bảng 2.10. Mức sống của các hộ dân sau đền bù, GPMB. - Sự hài lòng của người dân đối với công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng (Nghiên cứu trường hợp phần đường vào công trường Dự án thủy điện Trung Sơn
Bảng 2.10. Mức sống của các hộ dân sau đền bù, GPMB (Trang 73)
6.4  Hình thức phổ biến thông tin qua họp - Sự hài lòng của người dân đối với công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng (Nghiên cứu trường hợp phần đường vào công trường Dự án thủy điện Trung Sơn
6.4 Hình thức phổ biến thông tin qua họp (Trang 84)
6.7  Hình thức phổ biến thông tin qua loa đài - Sự hài lòng của người dân đối với công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng (Nghiên cứu trường hợp phần đường vào công trường Dự án thủy điện Trung Sơn
6.7 Hình thức phổ biến thông tin qua loa đài (Trang 85)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm