1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự gắn kết cộng đồng trong phương thức kinh doanh đa cấp tại Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp Công ty Cổ phần Việt Am-Hà Nội

118 676 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở thực tế đó, tôi đã chọn nghiên cứu tác động của một loại nghề nghiệp rất mới ở nước ta: kinh doanh đa cấp, hay còn gọi là kinh doanh hệ thống, kinh doanh theo mạng network ma

Trang 1

Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn

-

Cao thị Kim ngân

Sự gắn kết cộng đồng trong ph-ơng thức

kinh doanh đa cấp tại việt nam

(Nghiên cứu tr-ờng hợp Công ty Cổ phần Việt Am- Hà Nội)

Luận văn thạc sĩ khoa học xã hội học

Hà Nội - 2007

Trang 2

Phần mở đầu

I Tính cấp thiết của để tài 1

II.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

III Mục đích và mục tiêu nghiên cứu 2

IV Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 3

V Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4

VI Giả thuyết nghiên cứu 5

VII Khung lý thuyết 6

VIII Kết cấu của luận văn 7

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I.CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 8

I Vài nét về vấn đề nghiên cứu 8

II Cơ sở lý luận của đề tài 10

1 Lý thuyết Mác xít về lao động 10

2 Lý thuyết về cộng đồng của J.H.Fichter 13

3 “Triết lý đồng tiền” của G.Simmel 17

III Các khái niệm công cụ 19

1 Kinh doanh đa cấp 19

2 Kinh doanh truyền thống 20

3 Cộng đồng 20

IV Địa điểm khảo sát và một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 21

1 Kinh doanh đa cấp là gì và hoạt động như thế nào? 21

2 Ý tưởng kinh doanh đa cấp ra đời từ bao giờ 21

3 Thực trạng kinh doanh đa cấp hiện nay ở nước ta ra sao? 22

4 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 22

CHƯƠNG II GẮN KẾT CHỨC NĂNG VÀ GẮN KẾT TÌNH CẢM: THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN 25

I Sự gắn kết cộng đồng trong hoạt động nghề nghiệp 25

Trang 3

2.1 Khả năng hợp tác với đồng nghiệp 31

2.2 Những đối tượng được lựa chọn để trao đổi kinh nghiệm 35

2.3 Mức độ giúp đỡ đồng nghiệp 41

3 Chia sẻ rủi ro 46

4 Xây dựng uy tín của công ty 53

II Sự gắn kết cộng đồng trong đời sống 60

1 Sự thăm hỏi lẫn nhau 61

1.1 Mức độ thăm hỏi 62

1.2 Lý do thăm hỏi 68

2 Sự quan tâm giúp đỡ nhau lúc khó khăn 72

2.1 Những vấn đề được nhờ cậy cùng giải quyết 74

2.2 Cách thức giải quyết 78

III Sự gắn kết với gia đình và xã hội 82

1 Sự gắn bó với gia đình 82

2 Sự đồng thuận với môi trường xã hội xung quanh 89

IV Những nguyên nhân tác động tới sự gắn kết cộng đồng 94

1 Mô hình kinh doanh: Sự phân chia lợi nhuận 94

2 Phương pháp tổ chức lao động 96

3 Cách xây dựng quan hệ lao động 98

PHẦN KẾT LUẬN I Kết luận 100

II Khuyến nghị 104

TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

I.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Với chủ trương của Đảng và Nhà nước ta coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, phát triển nền k inh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa; những năm gần đây các loại hình kinh doanh mới mẻ và đi kèm với nó là những nghề nghiệp mới ngày càng xuất hiện nhiều hơn Về mặt kinh tế, các loại hình nghề nghiệp mới này ra đời đáp ứng yêu cầu của thị trường và lợi ích chính đáng của người lao động, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân Chúng ta có thể thấy rõ vai trò to lớn của các công ty tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần ngoài quốc doanh cũng như các loại hình dịch vụ mới trong việc thay đổi cơ cấu nền kinh tế cũng như cải thiện đời sống của người lao động Tuy nhiên, thu nhập và mức sống chưa phải là những chỉ tiêu đầy đủ để đánh giá sự phát triển lành mạnh và bền vững của nền kinh tế Người ta ngày càng quan tâm nhiều hơn đến chỉ số phát triển con người, có nghĩa là sự phát triển hoàn thiện, tự do, lành mạnh của nhân cách dưới hệ thống kinh tế

ấy cũng như mối gắn kết hoà hợp của cá nhân với cộng đồng mà anh ta chung sống Từ lý thuyết “tha hoá” của nhà triết học- xã hội học kinh điển C.Mác cách đây 1 thế kỷ đến khái niệm “đoàn kết xã hội” của Durkheim và luận điểm “Phát triển là quyền tự do” của nhà kinh tế học đoạt giải Nobel năm 1998 Amartya Sen đều thể hiện mối quan tâm chung rất to lớn đến điều này

Vậy những nghề nghiệp mới nảy sinh trong xã hội ta những năm qua tác động về mặt xã hội tới người lao động như thế nào? Chúng ta đã

có nhiều công trình nghiên cứu về định hướng giá trị, đời sống tinh thần

Trang 5

của người lao động nhưng chưa có một công trình nào coi nghề nghiệp

là biến số độc lập trọng tâm để lý giải những vấn đề ấy Đặc biệt chúng

ta cũng chưa có các công trình nghiên cứu cụ thể nào về một loại hình nghề nghiệp để xem xét những hệ quả toàn diện của nó tới người lao động bên cạnh vấn đề thu nhập Đây là mảng trống trong xã hội học kinh tế ở nước ta

Trên cơ sở thực tế đó, tôi đã chọn nghiên cứu tác động của một loại nghề nghiệp rất mới ở nước ta: kinh doanh đa cấp, hay còn gọi là

kinh doanh hệ thống, kinh doanh theo mạng ( network marketing/ multi

level marketing) tới tính gắn kết cộng đồng của những người tham gia

vào mô hình kinh doanh này

II Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1 Ý nghĩa khoa học: Đề tài góp phần sáng tỏ lý thuyết về cộng đồng

trong đời sống xã hội hiện đại, cụ thể là lý thuyết về cộng đồng nghề nghiệp Với đối tượng nghiên cứu là một phương thức kinh doanh còn khá mới mẻ ở Việt Nam, đề tài cũng sẽ cung cấp luận cứ, luận chứng cho những khái quát lý luận của xã hội học kinh tế và gợi mở cho các nghiên cứu tiếp theo về lĩnh vực này

2 Ý nghĩa thực tiễn: Trong bối cảnh dư luận còn nhiều đánh giá trái

chiều nhau về loại hình kinh doanh đa cấp, đề tài cung cấp những bằng chứng xác thực về một tác động xã hội của phương thức kinh doanh này, từ đó định hướng dư luận có cách nhìn nhận chân thực hơn Với các nhà quản lý kinh tế, kết quả nghiên cứu cũng là một căn

cứ để có những chính sách quản lý phù hợp, phát huy mặt mạnh và hạn chế những yếu điểm của phương thức kinh doanh đa cấp

III MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Trang 6

1 Mục đích nghiên cứu: Tìm hiểu nội dung, mức độ gắn kết cộng

đồng của những người tham gia kinh doanh đa cấp và một số nguyên nhân tác động đến sự gắn kết ấy

2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Tìm hiểu sự gắn kết trong hoạt động nghề nghiệp của cộng đồng những người tham gia kinh doanh đa cấp

- Tìm hiểu sự gắn kết trong đời sống của cộng đồng những người tham gia kinh doanh đa cấp

- Tìm hiểu sự gắn kết của người tham gia kinh doanh đa cấp với cộng đồng xã hội xung quanh (gia đình, xã hội)

- Lý giải một số nguyên nhân tác động đến tính gắn kết cộng đồng của phương thức kinh doanh đa cấp

IV.ĐỐI TƢỢNG, KHÁCH THỂ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

1 Đối tƣợng nghiên cứu: Sự gắn kết cộng đồng trong phương

thức kinh doanh đa cấp tại Việt Nam

2 Khách thể nghiên cứu: Những người lao động tham gia kinh

doanh đa cấp

3 Phạm vi nghiên cứu

- Lĩnh vực nghiên cứu: Xã hội học kinh tế

- Không gian nghiên cứu:

+ Tổng công ty cổ phần Việt Am (công ty kinh doanh đa cấp) +Tổng Công ty viễn thông quân đội VIETTEL (Công ty kinh doanh truyền thống- để so sánh)

- Thời gian nghiên cứu: Năm 2006- 2007

- Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Do hạn chế về trình độ nghiên cứu cũng như khuôn khổ của một luận văn thạc sỹ, đề tài của tôi không tham vọng tìm hiểu tất cả các tác động xã hội của nghề kinh doanh đa cấp tới người lao động (hệ giá trị, kỹ năng

Trang 7

sống, những phẩm chất cá nhân ) mà chỉ tìm hiểu tính gắn kết của những người lao động với những đồng nghiệp của họ và cộng đồng xã hội như thế nào trong tương quan so sánh với những người làm kinh doanh theo phương thức truyền thống

V.PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Phương pháp luận nghiên cứu: Đề tài lấy phép biện chứng và chủ

nghĩa duy vật lịch sử của Marx-Enghels làm nền tảng phương pháp luận Từ cách đặt vấn đề đến giải quyết vấn đề nghiên cứu tác giả đều tuân thủ các nguyên tắc:

- Xem xét các tác động xã hội của nghề kinh doanh đa cấp tới người lao động trong mối quan hệ gắn bó qua lại chặt chẽ với các nhân tố kinh tế- xã hội khác như điều kiện sống, văn hoá, tuổi tác

- Phân tích các tác động xã hội của nghề kinh doanh đa cấp trong xu thế vận động và không ngừng biến đổi, đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trường và toàn cầu hoá

- Đánh giá các tác động xã hội của nghề kinh doanh đa cấp trong điều kiện lịch sử- cụ thể hiện nay của nước ta, đó là nền kinh tế nhiều thành phần nhưng chưa có sự vận hành thực sự tuân thủ các quy luật kinh tế, nghề kinh doanh đa cấp mới xuất hiện ở Việt nam và phải đối mặt với nhiều luồng dư luận khác nhau

- Tác giả luôn cố gắng tìm hiểu những tác động thực sự, bản chất của nghề kinh doanh đa cấp tới người lao động chứ không phải chỉ là những tác động đơn lẻ, tạm thời, rời rạc

2.Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp trưng cầu ý kiến: Trưng cầu ý kiến của 250 người làm trong nghề kinh doanh đa cấp và 100 người trong nghề kinh doanh truyền thống Tổng cộng phát vấn 350 phiếu

Trang 8

hỏi theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên sác xuất Tổng số phiếu thu về và xử lý được là 292 phiếu

- Phương pháp quan sát tham dự và không tham dự: Quan sát được tiến hành trong khi phát hiện vấn đề nghiên cứu, lý giải vấn đề nghiên cứu và phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tác giả dành nhiều công sức nghiên cứu các tài liệu liên quan đến xã hội học kinh tế, các lý thuyết xã hội học và đặc biệt là các tài liệu liên quan đến kinh doanh đa cấp, các tài liệu phản ánh hoạt động kinh doanh của tổng công ty cổ phần Việt Am

- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn sâu 10 người, trong

đó có 7 người làm kinh doanh đa cấp và 3 người làm kinh doanh truyền thống

- Thảo luận nhóm tập trung: Thực hiện với 1 nhóm kinh doanh

đa cấp, một nhóm kinh doanh truyền thống

VI.GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

- Giả thuyết 1: Sự gắn kết cộng đồng trong hoạt động nghề nghiệp của những người lao động trong phương thức kinh doanh đa cấp cao hơn so với những nguời lao động trong phương thức kinh doanh truyền thống

- Giả thuyết 2: Sự gắn kết cộng đồng trong đời sống của những người lao động trong phương thức kinh doanh đa cấp cao hơn

so với những nguời lao động trong phương thức kinh doanh truyền thống

- Giả thuyết 3: Những người tham gia kinh doanh đa cấp có sự gắn bó với cộng đồng xã hội xung quanh cao hơn những người tham gia kinh doanh truyền thống

Trang 9

- Giả thuyết 4: Sự chia sẻ quyền lợi của mô hình kinh doanh đa cấp là nguyên nhân chính tác động đến tính gắn kết cộng đồng của những người tham gia

Mô hình kinh doanh

Tổ chức lao động Quan hệ lao động

Trang 10

VIII KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Luận văn gồm có 3 phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Phần mở đầu gồm có 8 mục nhỏ trình bày tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài, mục đích nhiệm vụ nghiên cứu, đối tượng khách thể nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, khung lý thuyết Phần nội dung gồm có 2 chương: Chương 1 là cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu Chương 2 trình bày những kết quả nghiên cứu chính thông qua 4 tiểu mục:1 Sự gắn kết cộng đồng trong hoạt động nghề nghiệp; 2 Sự gắn kết cộng đồng trong đời sống; 3 Sự gắn kết với gia đình và xã hội; 4 Những nguyên nhân chính tác động đến sự gắn kết cộng đồng trong phương thức kinh doanh đa cấp Trong phần kết luận, tác giả nêu những kết luận chính của đề tài và đề xuất khuyến nghị

Trang 11

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI

I VÀI NÉT VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Công trình xã hội học Macxit nền tảng nghiên cứu về lĩnh vực này là cuốn “Tình trạng của giai cấp công nhân Anh” của Enghels xuất bản năm

1846 Ông đã sử dụng những phương pháp đặc trưng của xã hội học hiện đại như quan sát, phỏng vấn bằng bảng hỏi, thống kê, phân tích văn bản, so sánh và phán đoán logic Dựa trên kết quả nghiên cứu thu được, ông đưa ra kết luận: giai cấp công nhân “chỉ có thể thông qua cuộc cách mạng xã hội mới nắm được sứ mệnh và tiền đồ của mình”

Trong xã hội học hiện đại, Blauner (1964) đã tiến hành nhiều cuộc nghiên cứu về tác động của các ngành nghề khác nhau trong xã hội công nghiệp tới người lao động Ông thừa nhận ảnh hưởng của 3 biến số khác nhau tới mức độ tha hoá của người công nhân: sự phân công lao động, sự tổ chức xã hội của công nghiệp, và cấu trúc kinh tế mà trong đó nó hoạt động, tuy nhiên ông vẫn nhấn mạnh hơn cả vai trò của yếu tố kỹ thuật Ông đã tiến hành các nghiên cứu trong ngành in ấn, dệt, chế tạo ô tô, công nghiệp hoá học và có những phân tích sắc sảo về những tác động khác nhau của

kỹ thuật tới người lao động dựa trên 4 mặt của sự tha hoá : sự bất lực, sự vô nghĩa, sự cô lập và sự tự mình làm cho xa lạ Chẳng hạn, đối với ngành in

ấn, ông cho rằng mức độ tha hoá của ngành in ấn là thấp vì:

- Kỹ thuật thủ công của công nhân cho phép họ tiếp cận với những

kỹ năng truyền thống và những trình độ tương đối cao về kiểm soát đối với công cụ và kỹ thuật Các kỹ năng cần thiết để tạo ra sản phẩm chất lượng cao có nghĩa rằng thợ in có sự kiểm soát đáng kể đối với mỗi bước đi, chất lượng và số lượng của lao động của họ và phải được tự do di chuyển quanh xưởng in Do đó mà sự bất lực trong quá trình lao động không đáng kể

Trang 12

- Sự vô nghĩa bị giảm bớt vì sự đào tạo nghề nghiệp rộng lớn cho phép các thợ in đánh giá được sự cống hiến của họ vào quá trình sản xuất

- Sự cô lập xã hội thấp vì sự tự do vận động cho phép có tình bè bạn trong quá trình lao động, và bản thân lao động tự nó mang tải sự tôn trọng

và địa vị, cả ở nơi lao động và ở cộng đồng rộng lớn Hơn nữa, bản chất tỉnh nhỏ của nền công nghiệp có nghĩa rằng người công nhân chia sẻ quan

hệ họ hàng chung và những quan hệ tôn giáo chung, và họ đã nhân hoá các mối quan hệ với giới quản lý, nó giúp liên kết họ vào nhà máy

- Tương tự, sự tự thân làm mình xa lạ cũng không cao như người ta tưởng Người công nhân không trông đợi sự đa dạng hoặc hứng thú trong công việc nên không coi các công việc lặp đi lặp lại là đơn điệu

Ngược lại với ngành in ấn, ngành lắp ráp động cơ là ngành được Blauner đánh giá là điển hình làm nảy sinh sự tha hoá Sự chao đảo trong chu kỳ doanh nghiệp khiến người công nhân cảm thấy bất lực Sự vô nghĩa được khuyến khích bởi sự tiêu chuẩn hoá sản phẩm và sự phân nhỏ cao độ của các công việc lao động Sự cô lập cũng cao vì tốc độ làm việc dây chuyền và những sự chia cách người công nhân này với người khác, ngăn trở sự chuyện trò và thiết lập các mối quan hệ riêng Các công nhân lắp ráp

ô tô có thể thấy công việc của họ là buồn chán, đơn điệu, bản thân lao động không cung cấp một nguồn thoả mãn nào mà chỉ là một cái tai hại cần thiết

và một nguồn thu nhập

Ở Việt Nam, xã hội học kinh tế thường tập trung nghiên cứu vào các vấn đề như đào tạo việc làm, định hướng nghề nghiệp, sự chuyển đổi cơ

cấu kinh tế…Trong những năm gần đây có một số công trình như Các quan

hệ xã hội trong xí nghiệp của công nhân công nghiệp của tác giả Tôn Thiện

Chiếu (1995), đề tài cấp Bộ Các quan hệ sản xuất của công nhân công

nghiệp (1995) Tập trung vào hệ quả phân tầng mức sống, tác giả Đỗ Thiên

Kính có 2 công trình đáng chú ý là Tác động của sự chuyển đổi cơ cấu lao

Trang 13

động- nghề nghiệp xã hội đến phân tầng mức sống qua khảo sát mẫu 3 xã vùng nông thôn đồng bằng sông Hồng (1998) và Tác động của chuyển đổi

cơ cấu lao động nghề nghiệp xã hội đến phân tầng mức sống (1999) Năm

2003 hai nhà nghiên cứu Song Hà và Trần Anh Châu đồng chủ biên cuốn

Tính tích cực nghề nghiệp của công chức- một số nhân tố ảnh hưởng đã

phân tích một số nguyên nhân tác động đến tính tích cực nghề nghiệp của giới công chức Những nghiên cứu xã hội học thực nghiệm ở nước ta mặt này hay mặt khác đã phân tích, lý giải nguyên nhân, tác động xã hội của sự phát triển, biến đổi lực lượng sản xuất cũng như các quan hệ lao động Tuy nhiên, nếu so với một số lĩnh vực xã hội học khác như xã hội học gia đình,

xã hội học văn hoá, xã hội học giới….thì số lượng cũng như chất lượng các công trình nghiên cứu về xã hội học kinh tế còn hạn chế Hơn nữa, các đề tài thường ở cấp trung mô hoặc vĩ mô xét về đối tượng nghiên cứu Những nghiên cứu tác động xã hội của một loại hình nghề nghiệp cụ thể thì có rất

ít Hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu về phương thức kinh doanh

đa cấp và các tác động xã hội của nó

II CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1 Lý thuyết Macxit về lao động:

Nền tảng của lý thuyết Macxit về lao động là việc nhìn con người như những sinh vật có tiềm năng sáng tạo, con người biểu đạt tính người và tính xã hội thông qua lao động Xem xét lao động dưới chủ nghĩa Tư bản, Marx cho rằng người công nhân kỹ nghệ bị tha hoá mà nguồn gốc của sự tha hoá này là cấu trúc và các quan hệ sản xuất của chủ nghĩa tư bản

Trong tác phẩm “Bản thảo kinh tế- triết học 1844” Marx cho rằng sự tha hoá của con người trong nền kinh tế hàng hoá biểu hiện ở 4 mặt:

- Thứ nhất, người công nhân trong xã hội tư bản bị tách khỏi sản phẩm lao động của họ Con người tự đặt mình vào những hàng hoá họ sản xuất, nhưng dưới chủ nghĩa tư bản hàng hoá không thuộc về người sản

Trang 14

xuất, nó bị chiếm đoạt, bán để lấy lời và thậm chí dùng để thống trị người sản xuất ra nó

- Thứ 2, trong điều kiện sản phẩm làm ra trở thành đối lập với người sản xuất ra sản phẩm, quá trình sản xuất trở nên bị phân mảnh, lao động trở thành một việc vặt không hứng thú, vô nghĩa Người lao động bị tha hoá khỏi hành vi lao động của mình Lao động vốn là bản chất của con người lại chỉ là phương tiện đi tới mục đích hơn là mục đích tự thân

- Thứ 3, trong xã hội mà cạnh tranh là nhân tố quan trọng nhất để tồn tại, con người trở nên bị xa lạ với những người khác, cũng như các mối quan hệ bị chi phối bởi thị trường Do đó mà bản chất hợp tác vốn giúp con người liên kết với nhau thành xã hội cũng bị tha hoá Trong công việc con người bị quy bại, chống lại nhau

- Thứ 4, con người bị xa lạ với “loài” bởi vì lao động chân tay không được chú ý tới và không được sáng tạo Các quan hệ sản xuất tư bản tách rời dự định và kế hoạch (lao động tinh thần) khỏi lao động chân tay nhàm chán, và hạ lao động chân tay xuống mức lao động thú vật, vô nhân

Cần nhấn mạnh rằng Marx không phải là người phê phán sự tiến bộ

kỹ thuật hoặc máy móc Ông không phản đối máy móc mà phản đối cung cách nó bị sử dụng trong chế độ tư bản Như vậy, Marx cho rằng bản chất lao động trong các xã hội tư bản- sự phân mảnh, sự phân công lao động chuyên môn hoá, bó hẹp công nhân vào những mặt bó hẹp của sản xuất - đang tha hoá Nhưng trừ những điều kiện thể xác và kỹ thuật của lao động, sự tha hoá cũng bắt nguồn từ sự tổ chức hoạt động sản xuất theo một ý nghĩa rộng lớn hơn Các mối quan hệ về sản xuất được thiết lập dưới chế độ tư bản có nghĩa rằng người công nhân không được quyền kiểm soát những gì được sản xuất và tại sao nó lại được sản xuất Lao động được tổ chức vì lợi nhuận hơn là làm thoả mãn các nhu cầu được

Trang 15

quyết định một cách tập thể Sức lao động trở thành một hàng hoá như bất

cứ một hàng hoá nào khác

Phát triển hướng nghiên cứu của Marx trong xã hội công nghiệp hiện đại, Blauner (1964) cố gắng định nghĩa sự tha hoá một cách phổ quát và mang tính chủ thể nhiều hơn Ông xác định 4 mặt của sự tha hoá: sự bất lực, tính vô nghĩa, sự cô lập và sự tự mình làm cho xa lạ

Cá nhân bị bất lực khi họ không thể kiểm tra hành động hoặc điều

kiện sinh sống của chính họ

Sự vô nghĩa xảy đến khi sự chuyên môn hoá và quan liêu hoá công

việc giảm bớt sự liên lạc hữu cơ của công nhân với quá trình lao động và

họ trải qua sự khó khăn khi xác định vị trí phần đóng góp của họ vào đó

Sự cô lập nổi lên khi người công nhân không cảm thấy chút nào

mình thuộc vào tình huống lao động và không có khả năng hoặc không muốn đồng nhất với tổ chức và những mục đích của nó

Mặt cuối cùng, tự làm cho mình xa lạ, nhấn mạnh đến kinh nghiệm

chủ quan của lao động

Khác với Marx, Blauner nhấn mạnh chính bản thân kỹ thuật, hơn là các mối quan hệ xã hội về sản xuất bên trong một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, là “nguyên nhân” của sự tha hoá Do đó, không phải các công nhân

bị tha hoá ngang nhau vì họ phải chịu các kỹ thuật khác nhau

Lý thuyết về sự tha hoá cung cấp cho tôi nền tảng lý thuyết quan trọng, đó là:

- Chính lao động tạo ra con người, con người bộc lộ mình qua lao động

- Các yếu tố của quá trình lao động như sự tổ chức lao động, quan hệ lao động và kỹ thuật được sử dụng trong lao động là những nguyên nhân cơ bản tác động đến sự thoả mãn hay không thoả mãn của người lao động, hay quy định sự “tha hoá” của người lao động Nói rộng ra nó tác động đến quá

Trang 16

trình con người vươn tới sự phát triển hoàn thiện theo nghĩa nhân đạo và nhân văn nhất

Mặc dù những luận điểm của lý thuyết trên dựa trên sự phân tích và đánh giá xã hội tư bản, nhưng tôi cho rằng nó có ý nghĩa phổ quát cho một phương thức sản xuất- nói theo cách nói của Marx Có nghĩa là ở nước ta, trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, những mặt của “tha hoá” dù ít dù nhiều đều có bộc lộ Nó đòi hỏi sự nghiên cứu và đánh giá về các mô hình sản xuất, kinh doanh sao cho người lao động được thoả mãn không chỉ nhu cầu vật chất mà cả những nhu cầu chân chính về tinh thần

2 Quan điểm xã hội học về cộng đồng của J.H.Fichter

Cũng như nhiều nhà xã hội học chú trọng tới những biến chuyển lịch

sử rộng lớn, Fichter cố gắng giải thích những vấn đề căn bản của đời sống hiện đại như một sự chuyển dịch từ một loại tổ chức xã hội tổng quát này sang một loại khác, với nhãn quan phổ quát là chúng ta đang chịu một hiện tượng mất tinh thần cộng đồng sâu xa

Theo Fichter, khái niệm cộng đồng bao gồm 4 yếu tố:

a Tương quan cá nhân mật thiết với những người khác, tương quan này đôi khi được gọi là tương quan đệ nhất đẳng, tương quan mặt đối mặt, tương quan thân mật

b Có sự liên hệ về cảm xúc và tình cảm nơi cá nhân trong những nhiệm vụ và công tác xã hội của tập thể

c Có sự hiến dâng tinh thần hoặc dấn thân đối với những giá trị được tập thể coi là cao cả và có ý nghĩa

d Một ý thức đoàn kết với những người trong tập thể

Rõ ràng Fichter nhìn nhận rõ khái niệm cộng đồng là “một vấn đề tổ chức toàn bộ”, nhưng ông đặc biệt chú trọng đến cách thức con người xã

Trang 17

hội có tương quan với cơ cấu xã hội rộng lớn hơn Theo ông, để hiểu ý nghĩa xã hội của cộng đồng cần xét ba lĩnh vực: đoàn kết xã hội, tương quan xã hội và cơ cấu xã hội

- Đoàn kết xã hội: Đây chính là ý thức cộng đồng, được quan niệm như một cảm tưởng sống tụ họp với nhau, là một mục tiêu thích đáng mà những tập thể xã hội cố gắng để thành tựu và duy trì Nhiều danh từ khác

có thể dùng đồng nghĩa, như sự kết hợp xã hội, sự hoà hợp, tinh thần đồng đội, sự đồng tình thoả thuận…để chỉ một thứ thái độ lý tưởng liên kết và hợp nhất con người với nhau

Fichter đồng tình với các nhà xã hội học cho rằng con người vì muốn giải trừ thất vọng, lo lắng, bất an và cô độc nên đã cố gắng để đạt tới mục đích của cộng đồng Điều này không khác gì là sự tự do đã làm cho con người hiện đại sợ hãi, chủ nghĩa cá nhân đã làm cho con người xa lìa bạn

bè, sự độc lập đã huỷ diệt an ninh của con người trong xã hội Tình trạng bất an xã hội tổng quát này, cảm tưởng bị cô đơn trong đám dân chúng đang gia tăng, có thể chữa được bằng cách thức phát triển ý thức cộng đồng

Sự suy giảm ý thức cộng đồng hay đoàn kết xã hội được diễn tả qua cảm tưởng ngỡ ngàng và xa lạ chính là một đề tài suy tưởng của tất cả các nhà xã hội học, có nhà xã hội học gọi đó là hiện tượng “làm vụn” xã hội mà nguyên nhân chính là do chủ nghĩa cá nhân mà ra Tình trạng này cũng một phần do tính cách quá lớn, quá xa cách và vô danh của cơ cấu xã hội Nó dẫn tới hậu quả là: sự mất ý thức đoàn kết xã hội đi kèm theo luôn sự mất ý thức nhân cách cá nhân Đồng nhất với cộng đồng hay đoàn kết xã hội được coi là làm gia tăng ý thức về nhân cách cá nhân, và rất khó có thể hiêủ

sự hợp lý của tình trạng tự cô lập coi như một cách giải trừ hay một giải pháp cho vấn đề thiếu cộng đồng

Trang 18

- Tương quan cộng đồng: Cộng đồng, coi như một diễn tiến xã hội,

là một hình thức tương quan nhân sự có tính cách kết hợp hay một phản ứng hỗ tương theo đó con người được xáp lại gần nhau và phối hợp chặt chẽ với nhau hơn Đó không phải chỉ là một thái độ hay một lý tưởng về đoàn kết, đó là sự đoàn kết được thực hành ngay trong phạm vi tác phong con người trong đời sống hàng ngày

Theo Fichter, trên quan điểm cộng đồng, đặc điểm của tương quan

xã hội hội nhập chính là mức độ hợp tác tích cực của cá nhân trong tất cả những đoàn thể chủ yếu mà y tham gia Nói theo kiểu số lượng thì tổng số những tương quan hợp tác gia tăng trong những xã hội rộng lớn hơn Cộng đổng hiểu như một diễn tiến xã hội đi kèm theo cộng đồng coi như một ý thức về tự nguyện đoàn kết xã hội

- Những cơ cấu cộng đồng: Phần lớn mọi người xem xét cộng đồng như một cơ cấu xã hội Ở đây cộng đồng là chỉ một đoàn thể con người có những khuôn mẫu tác phong, những tương quan xã hội và vai trò được tổ chức thành cơ cấu Ngoài tinh thần đoàn kết và sự thể hiện sự hợp tác xã hội, cộng đồng còn có đặc điểm là vị trí của nó Đó là một đoàn thể con người chiếm đóng một vùng đất đai

Fichter nhấn mạnh 3 phương diện nghiên cứu về cộng đồng nói trên không phải luôn luôn bổ túc cho nhau, và điều này đặc biệt đúng trong trường hợp cộng đồng coi như một cơ cấu xã hội Không một nhà xã hội học nào lại cho rằng loại đoàn kết xã hội mà ta thấy tại thôn xã toàn diện có thể cũng xuất hiện tại đô thị toàn diện Chúng ta chỉ có thể phân biệt cơ cấu

xã hội thôn xã với thành thị một cách độc đoán mà thôi

Có thể thấy trong lý thuyết của Fichter về cộng đồng, ông bày tỏ nhiều băn khoăn khi xác định “cộng đồng” tại các đô thị Fichter hướng đối tượng khái niệm cộng đồng về những cấu trúc xã hội là các cộng đồng nông thôn điển hình Tuy vậy, trong tư duy của ông chúng tôi thấy cái mà

Trang 19

Fichter hướng đến là cộng đồng theo nghĩa cộng đồng tính chứ không phải chỉ là cộng đồng thể Điều này làm cho lý thuyết của ông có tính mở và

tính phổ quát Ông có viết: “ Tuy nhiên, về mặt nào đó, danh từ “cộng đồng” vẫn còn áp dụng cho những vùng hàng xốm láng giềng tại các thành thị cổ xưa, nơi đó những con người vẫn còn có những quy chế về sắc tộc, kinh tế và giáo dục tương tự nhau và vẫn sinh sống chung với nhau từ lâu đời Những khu vực ngoại ô hiện đại là những khu xóm giềng mới hơn thường cố gắng tạo tinh thần cộng đồng trong dân chúng, và trong một vài trường hợp những khu xóm giềng này cũng lại được mô tả về phương diện chuyên môn như là những cộng đồng” [6; 84]

Về nguyên nhân xuất hiện các cộng đồng, Fichter đề cập đến các nguyên nhân cơ bản là : kinh tế, yêú tố “sắc dân” và yếu tố “tôn giáo”

Để hiểu hơn khái niệm cộng đồng trong lý luận của Fichter, phải đặt

nó trong khái niệm “đoàn thể” với ý nghĩa là “những con người trong mối tương quan hỗ tương” Cộng đồng được ông gọi là “đoàn thể đệ nhất đẳng” trong tương quan đối lập với “”đoàn thể đệ nhị đẳng” (hội đoàn) Sự khác biệt chính yếu giữa cộng đồng và hội đoàn là ở thể thức thông đạt và tương quan hỗ tương giữa những người trong đoàn thể Khi những tương quan xã hội có tính cách thân thiết, riêng tư, mặt đối mặt và thường có thì đó là những đặc tính của đoàn thể đệ nhất đẳng (cộng đồng) Những tương quan

xã hội của hội đoàn thì ở một mức độ khác, nghĩa là tương đối không riêng

tư, tôn trọng hình thức hơn, ít thường có hơn Fichter quả thật rất tinh tế khi khẳng định “chỉ cần đảo ngược lại những chữ dùng cho một xã hội loại đệ nhất đẳng là chúng ta sẽ có thể mô tả được một cách thô sơ loại xã hội đệ nhị đẳng”, đồng thời lại phân tích: “Muốn xếp một đoàn thể vào một trong hai loại trên, người ta chú trọng đến sự xuất hiện từng phần của một số đặc tính Đó là những “tiêu thức” theo nghĩa là chúng đại diện cho hai cực điểm của một dây liên tục các đoàn thể Nếu tất cả những đoàn thể của một xã

Trang 20

hội được xếp thành một dây liên tục thì một số đoàn thể sẽ đứng ở vị trí chuyển tiếp vừa có một số đặc tính của các đoàn thể đệ nhất đẳng và của các đoàn thể đệ nhị đẳng” [6; 75]

Người nghiên cứu rất tâm đắc với cách tiếp cận bản chất cộng đồng của Fichter khi ông viết: “Nếu cho rằng chỉ có gia đình và những nhóm giải trí mới có thể là những đoàn thể đệ nhất đẳng thì thực là một điều sai lầm

Sở dĩ có như vậy là vì trong sách xã hội học người ta thường chỉ kể đến gia đình và nhóm giải trí làm thí dụ về đoàn thể đệ nhất đẳng mà thôi Tuy nhiên, như trong phần lớn các phân loại xã hội, sự thực là không có ranh giới rõ rệt giữa đoàn thể đệ nhất đẳng và đệ nhị đẳng trong mỗi trường hợp riêng biệt Một số đoàn thể đệ nhất đẳng có thể trong tình trạng đang buông thả để biến thành những hội đoàn đệ nhị đẳng, một số đoàn thể đệ nhị đẳng thì lại có thể đang đi vào con đường tổ chức chặt chẽ hơn, giới hạn số hội viên, phát triển những tương quan nhân sự thuộc loại đệ nhất đẳng” [6; 77] Ông còn lấy ví dụ cụ thể: “Trong tương quan kinh tế, con người ta hợp tác với người này chặt chẽ hơn với những người khác, trường hợp hợp tác thứ nhất là đệ nhất đẳng và trường hợp thứ hai là đệ nhị đẳng” [6; 77]

Lý thuyết của J.H Fichter về cộng đồng tạo cho người nghiên cứu nền tảng để đặt vấn đề gắn kết cộng đồng trong nhóm nghề nghiệp, cụ thể ở đây là nhóm những người cùng tham gia trong hệ thống phân phối theo phương thức kinh doanh đa cấp Với cách tiếp cận cộng đồng theo ý nghĩa

cộng đồng tính, tác giả tìm thấy sự gặp gỡ giữa Fichter và F.Tonnies coi

cộng đồng tính là một đặc tính được xét trên những quan điểm của giá trị luận, là những giá trị tốt đẹp của quan hệ giữa người và người Toàn bộ cộng trình nghiên cứu là nỗ lực cụ thể hoá những biểu hiện của tính cộng đồng nhằm đo đạc đối tượng nghiên cứu theo các chỉ báo

Trang 21

3“Triết lý đồng tiền” của G Simmel

Ngay từ năm 1889 Simmel đã trình bày một số ý tưởng cơ bản trong một bàii báo nhan đề “Tâm lý của đồng tiền”, sau đó năm 1907 ý tưởng được trình bày rõ ràng hơn trong tác phẩm “Triết lý đồng tiền” Simmel khẳng định tiền bạc là một trong những công cụ xã hội cơ bản vì nó được phổ biến và con người có thể dùng nó bằng nhiều cách để tác động tới môi trường nhằm đạt được mục tiêu của mình Thực tế đó có nghĩa là đồng tiền

có thể liên kết một cách hữu hình hoặc vô hình nhiều sự kiện và cá nhân lại với nhau, kể cả những người tưởng chừng không liên quan Ông cũng nêu ra những hệ quả chủ yếu mà đồng tiền tác động tới các quan hệ xã hội như sau:

- Đồng tiền làm gia tăng mức độ, tần suất của các mối tương tác

và góp phần làm cho xã hội phát triển Việc sử dụng đồng tiền tạo điều kiện cho các cá nhân trong xã hội có những liên kết rộng lớn hơn, khoảng cách về địa lý và không gian không còn

là trở ngại nữa Đồng tiền tạo cho con người các mục tiêu và

cơ hội trao đổi về nhiều phương diện và các loại sản phẩm, bởi

vì thông qua tiền tệ các giá trị riêng và các yếu tố khách quan của quan hệ xã hội đều có thể dễ dàng tính toán Kết quả là nó

có thể tạo ra khả năng liên kết không biên giới trong các quan

hệ xã hội

- Đồng tiền cũng tạo ra những mối ràng buộc xã hội đa dạng hữu hình hoặc vô hình Với đồng tiền, con người có thể tham gia vào nhiều nhóm xã hội khác nhau thay vì chỉ thiết lập một

số mối quan hệ nhất định; dựa trên yếu tố đó mà các quan hệ

xã hội của con người từng bước được hình thành và mở rộng không hạn chế, không giới hạn cả ở bề rộng và bề sâu

Trang 22

- Tiền tệ mở rộng hơn phạm vi của tổ chức xã hội Với đồng tiền, con người có thể trở nên mật thiết hơn trông qua các liên kết trực tiếp và gián tiếp Các cá nhân có thể là những người chưa bao giờ gặp nhau- như một công nhân công ty và người tiêu dùng hàng hoá sản xuất trong công ty- có thể liên quan một cách gián tiếp trong một chuỗi trao đổi thông qua đồng tiền

- Đồng tiền cũng góp phần tạo nên tính cố kết xã hội Đồng tiền

có thể được coi là đại diện cho một niềm tin Khi có tiền, mỗi

cá nhân đều tin rằng họ có thể mua được hàng hoá hay các loại dịch vụ khác Niềm tin tuyệt đối này trong một chừng mực nhất định đã đáp ứng các nhu cầu trong việc củng cố sự tin cậy

và gắn kết của con người đối với xã hội

- Bên cạnh những yếu tố tích cực, đồng tiền cũng có thể tạo nên những mặt trái trong các quan hệ xã hội Khi các tương tác xã hội trở nên phức tạp thì đồng tiền có khả năng tạo nên những

nhiễu loạn nhất định, nói như Durkheim là làm tăng tình trạng

vô tổ chức trong các mối quan hệ

Những phân tích của Durkheim trong “Triết lý đồng tiền” có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong bối cảnh nền kinh tế đang chuyển mình mạnh mẽ ở nước ta hiện nay Nó giúp người nghiên cứu phần nào sáng tỏ hơn vấn đề đặt ra Bởi lẽ kinh doanh đa cấp không chỉ là một phương thức phân công lao động mới, một hình thức phân phối sản phẩm mới mà nó còn là một chu trình luân chuyển mới và khá thú vị của đồng tiền Trên thực tế các mặt này gắn bó chặt chẽ với nhau và tác động qua lại với nhau

III CÁC KHÁI NIỆM CÔNG CỤ

Trang 23

1 Kinh doanh đa cấp/ kinh doanh theo mạng: Khái niệm kinh

doanh theo mạng không được ghi nhận trong bất kỳ một cuốn từ điển

thương mại chuẩn mực nào Chính các nhà kinh doanh theo mạng còn chưa

đi đến thống nhất khái niệm này là như thế nào Tôi xin trích dẫn định nghĩa của Richard Poe:

“Kinh doanh theo mạng là bất kỳ một phương pháp kinh doanh nào

mà cho phép một cá thể kinh doanh độc lập tiếp nhận vào công việc của mình các cá thể kinh doanh khác và lấy ra được các khoản tiền hoa hồng từ các công việc kinh doanh của các cá thể mà họ thu hút được” [16; 6]

Theo nghị định 110/CP ngày 24 tháng 8 năm 2005 của chính phủ thì:

“Bán hàng đa cấp là một phương thức tổ chức kinh doanh của doanh nghiệp thông qua nhiều cấp khác nhau, trong đó người tham gia sẽ được hưởng tiền hoa hồng, tiền thưởng và/hoặc lợi ích kinh tế khác từ kết quả bán hàng hoá của mình và của người khác trong mạng lưới do người đó tổ chức ra và được doanh nghiệp bán hàng đa cấp chấp nhận”

Như vậy kinh doanh đa cấp tạo ra khả năng huy động rộng rãi và mạnh mẽ nhiều nguồn lực xã hội tham gia

2 Kinh doanh truyền thống: Tôi dùng từ này với hàm nghĩa chỉ

một phương thức kinh doanh phổ biến thông thường của doanh nghiệp,

đó là kiểu tổ chức đơn cấp trong đó người tham gia chỉ được hưởng lương hoặc lợi ích kinh tế trực tiếp từ chính kết quả kinh doanh hoặc bán hàng của mình

3 Cộng đồng: Đây là một trong những khái niệm cơ bản nhất của

xã hội học và được nhiều nhà xã hội học lớn bàn đến trong suốt chiều dài phát triển của xã hội học như F Tonnies, Durkheim, F Giddens, H.Becker…Nhìn chung, chúng ta có hai cách hiểu về cộng đồng: một là

cộng đồng tính và hai là cộng đồng thể, đó là hai cái tuy khác nhau nhưng

Trang 24

không phải đối lập nhau Cộng đồng tính là thuộc tính hay là quan hệ xã

hội có những đặc trưng mà các nhà xã hội học đã cố gắng xác định và cụ thể hoá, chẳng hạn như tình cảm cộng đồng, tinh thần cộng đồng, ý thức

cộng đồng…Cộng đồng thể tức là những nhóm người, những nhóm xã hội

có tính cộng đồng với rất nhiều thể có quy mô khác nhau, đó là các thể nhỏ, thể vừa, thể lớn và thể cực lớn, kể từ gia đình đến quốc gia và nhân loại Do đó, chúng ta thường phải rất thận trọng khi dùng khái niệm này Thông thường các nhà khoa học chọn một khái niệm làm việc với một số đặc trưng nào đấy

Nhìn chung cộng đồng có thể hiểu là “hình thức chung sống trên cơ

sở sự gần gũi của các thành viên về mặt cảm xúc, hướng tới sự gắn bó đặc biệt mật thiết được chính họ tìm kiếm và vì thế được con người cảm thấy

có tính cội nguồn…nó mô tả những hình thức quan hệ và quan niệm trật tự, không xuất phát từ những tính toán lợi ích có tính riêng lẻ và được thoả thuận theo kiểu hợp đồng mà hướng tới một sự thống nhất về tinh thần- tâm linh” [5; 98] Như vậy trong luận văn này, người nghiên cứu tiếp cận

khái niệm cộng đồng theo đặc trưng cộng đồng tính chứ không phải cộng

đồng thể

IV ĐỊA ĐIỂM KHẢO SÁT VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU

1 Kinh doanh đa cấp là gì và hoạt động nhƣ thế nào?

Nguyên tắc hoạt động của kinh doanh đa cấp được thể hiện ngay trong tên gọi của nó Nó có nghĩa là một hoạt động gồm nhiều tầng, được xây dựng nhằm lưu hành hàng hoá từ điểm sản xuất đến người tiêu dùng qua những mối giao tiếp giữa mọi người với nhau

Tiền hoa hồng được chia cho tất cả các tầng Trong buôn bán bình thường người ta làm việc cả ngày trong cửa hàng rồi lĩnh số tiền thù lao là

Trang 25

một phần trong tổng số tiền lãi của công ty Trong kinh doanh nhiều tầng thì không phải như vậy, việc phân phối sản phẩm đã làm hấp dẫn rất nhiều người Và cách trả thù lao cũng khác

Những công ty hoạt động theo sơ đồ này chỉ có thể tăng thu nhập cho mình nhờ việc thu hút khối lượng lớn mọi người vào công việc Đây là điều kiện bắt buộc Những công ty kinh doanh đa cấp có thể tránh khỏi một

số chi phí, vì họ không phải thuê cửa hàng, đặt quảng cáo, thuê những chuyên gia giỏi để quản lý hoạt động Trong ngành kinh doanh này mọi người hoạt động như những doanh nhân tự do, việc lưu hành và bán sản phẩm được tiến triển do mỗi người trong cuộc đều có lợi

2 Ý tưởng kinh doanh đa cấp ra đời từ bao giờ?

Chúng ta không thể xác định được ngày tháng, nhưng ý tưởng phân phối hàng hoá và dịch vụ qua một tổ chức nhiều tầng do những người bình thường thực hiện chứ không phải là do những người bán hàng trong các cửa hàng bán lẻ, đã nảy sinh vào khoảng 50 năm về trước Sự ra đời của máy tính điện tử cũng đã tạo điều kiện phát triển cho ý tưởng này Kinh doanh theo mạng ra đời đầu tiên và phổ biến ở Bắc Mỹ, sau đó không lâu

đã lan truyền ra khắp mọi nơi trên thế giới

3 Thực trạng kinh doanh đa cấp hiện nay ở nước ta ra sao?

Một vài năm trở lại đây, một số tập đoàn kinh doanh theo mạng lớn của thế giới đã xâm nhập vào thị trường Việt nam Nhiều công ty kinh doanh theo mạng ra đời, nổi bật như công ty Vision, Sinh Lợi, Oriflame, Avon Hiện nay trên thị trường nước ta có khoảng trên 30 công ty kinh doanh đa cấp đang hoạt động Do tính chất mới mẻ của cách thức phân phối sản phẩm, các công ty này đã từng bị quy kết trách nhiệm luật pháp như tổ chức bán hàng theo hình tháp ảo, lừa đảo Tuy nhiên, tháng 7 năm

2005, Chính phủ đã ban hành nghị định về giám sát hoạt động bán hàng đa

Trang 26

cấp thừa nhận loại hình kinh doanh đa cấp ở nước ta, theo đó các công ty kinh doanh đa cấp có một cơ sở pháp lý để hoạt động chính thức cũng như bớt đi phần nào sự e dè trong dư luận xã hội Mọi hàng hoá đều được kinh doanh theo phương thức bán hàng đa cấp, trừ những trường hợp thuộc danh mục hàng hoá cấm lưu thông, hạn chế kinh doanh, hàng giả, hàng nhập lậu Hàng hoá là thuốc phòng, chữa bệnh cho người; các loại vacxin, sinh phẩm; trang thiết bị y tế và dụng cụ y tế; các loại thuốc thú y (bao gồm cả thuốc thú y thuỷ sản), thuốc bảo vệ thực vật; hoá chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn dùng trong lĩnh vực gia dụng và y tế; nguyên liệu làm thuốc chữa bệnh; các loại hoá chất độc hại và sản phẩm có hoá chất độc hại theo quy định của pháp luật không được kinh doanh theo phương thức này

Nhìn chung, các công ty kinh doanh đa cấp ở nước ta chủ yếu kinh doanh các sản phẩm liên quan đế sức khoẻ, chất bổ sung dinh dướng, hóa

mỹ phẩm xuất phát từ nhu cầu của thị trường và tính độc đáo của các dòng sản phẩm

4 Vài nét về địa bàn nghiên cứu

Kể từ tháng 7 năm 2003, công ty đăng ký thêm mảng kinh doanh đa cấp Hiện nay công ty này có các chi nhánh và trung tâm phân phối sản phẩm tại hơn 30 tỉnh thành trong cả nước, chi nhánh lớn nhất đặt tại toà nhà I9 Thanh Xuân Bắc, đường Khuất Duy Tiến, quận Thanh Xuân- Hà Nội Công ty tổ chức phân phối độc quyền hơn 100 sản phẩm, trong đó sản

Trang 27

phẩm mũi nhọn đặc trưng nhất là máy hỗ trợ chữa bệnh bằng tĩnh điện Ion

do nhà máy Thông tin điện tử Z755 trực thuộc Bộ quốc phòng sản xuất

Không kể đội ngũ nhân viên văn phòng, những người tham gia vào

hệ thống phân phối của công ty lên tới hàng vạn người Họ có thể là những người kinh doanh đa cấp chuyên nghiệp, hoặc có thể làm như một nghề tay trái, thu nhập thêm Họ cũng ở hầu hết các lứa tuổi, làm nhiều nghề khác trước đây hoặc hiện tại vẫn làm, như công nhân viên chức, trí thức, cựu chiến binh, nghệ sĩ, nông dân, chủ doanh nghiệp, sinh viên…

4.2.Tổng Công ty viễn thông quân đội Viettel

Tổng Công ty Viễn thông Quân đội Viettel được thành lập theo QĐ

số 58- HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ngày 1 tháng 6 năm 1989 với tên gọi ban đầu là Tổng Công ty thiết bị thông tin (SIGENCO), là doanh nghiệp nhà nước trực thuộc binh chủng thông tin liên lạc- Bộ Quốc phòng Trải qua nhiều lần đổi tên, ngày 6 tháng 4 năm 2005, Bộ Quốc phòng ra quyết định số 45/2005/QĐ- BQP quyết định thành lập Tổng Công ty viễn thông quân đội

Tổng Công ty Viễn thông quân đội được tổ chức bao gồm: Tổng giám đốc, các Phó tổng Giám đốc, Kế toán trưởng, các Phòng/Ban chức năng và các công ty thành viên sau đây:

- Công ty điện thoại đường dài VIETTEL

- Công ty điện thoại di động VIETTEL

- Công ty truyền dẫn VIETTEL

- Công ty Internet VIETTEL

- Công ty Bưu chính VIETTEL

- Công ty TM và Xuất khẩu VIETTEL

- Công ty Công trình VIETTEL

- Công ty tư vấn- thiết kế VIETTEL

Trang 28

- Đại diện phía Nam và miền Trung

Các lĩnh vực kinh doanh của Tổng công ty bao gồm: Dịch vụ viễn thông, Dịch vụ Bưu chính, Xuất nhập khẩu thiết bị viễn thông, Tư vấn khảo sát thiết kế, Xây lắp các công trình thông tin, Kinh doanh dịch vụ thương mại kỹ thuật

Lực lượng lao động tính đến đầu tháng 6/2004 là 3948 người Trong

đó gồm 140 sỹ quan, 14 hạ sỹ quan, 160 quân nhân chuyên nghiệp, 66 công nhân viên quốc phòng, 2096 hợp đồng dài hạn, 927 hợp đồng ngắn hạn Còn lại là cộng tác viên và nhân viên thử việc

Trang 29

CHƯƠNG II GẮN KẾT CHỨC NĂNG VÀ GẮN KẾT TÌNH CẢM:

THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN

Gắn kết cộng đồng trong phương thức kinh doanh đa cấp thể hiện ở

2 cấp độ: gắn kết chức năng (thông qua hoạt động nghề nghiệp/ công việc)

và gắn kết tình cảm (thông qua sinh hoạt đời thường và sự gắn bó với gia đình, xã hội)

I SỰ GẮN KẾT CỘNG ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG NGHỀ NGHIỆP

1 Mức độ gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm

Trong xu thế cạnh tranh ngày càng khốc liệt giữa các doanh nghiệp, hầu hết thành viên của 2 công ty điều tra đều khẳng định tầm quan trọng của việc đoàn kết, gắn kết trong nội bộ doanh nghiệp của mình

Sự gắn bó trong doanh nghiệp thể hiện ở nhiều chỉ báo, nhiều mức

độ khác nhau, trong đó sự gặp gỡ trao đổi kinh nghiệm là một thể hiện sống động Sự chuyên môn hoá cao độ trong hoạt động lao động, sản xuất và kinh doanh có xu hướng tách người lao động ra khỏi các mối quan hệ không trực tiếp liên quan đến công việc hàng ngày của họ Việc trao đổi kinh nghiệm làm việc cũng không phải được thực hiện một cách thường xuyên và phổ biến, do sự hạn chế về thời gian cũng như “bí mật nghề nghiệp” Mỗi người đều cố gắng hoà thành phận sự của mình, và họ không

có bổn phận phải giúp đỡ cộng sự của mình tiến bộ một cách chính thức

Do đó, chúng tôi cho rằng chỉ khi trong nội bộ doanh nghiệp có sự gắn kết

ở một trình độ nhất định thì sự trao đổi kinh nghiệm làm việc mới diễn ra ở mức độ cao Với câu hỏi: “Ông/ bà có thường xuyên trao đổi kinh nghiệm với các đồng nghiệp không?” chúng tôi nhận được câu trả lời như sau:

Trang 30

Bảng 1: Mức độ trao đổi kinh nghiệm làm việc/ 2 công ty

Công ty ông bà đang làm việc

Ngay chỉ báo này cũng có thể hé mở sự khác biệt cơ bản về mặt quan

hệ lao động trong 2 phương thức kinh doanh Với kinh doanh truyền thống,

ở đây đại diện là Viettel, mỗi nhân viên có một vị trí xác định với những quy định cụ thể về công việc Hoàn thành khối lượng công việc đó là hoàn thành trách nhiệm và nhận lương của công ty Do đó, những mối quan hệ

Trang 31

công việc thường là mang tính chức năng, tất nhiên trừ những vị trí đặc biệt

như marketing Do đó, mỗi người không có nghĩa vụ cũng như nhu cầu trao đổi kinh nghiệm với các đồng nghiệp khác Đấy là chưa kể nhiều cá nhân cùng mong muốn 1vị trí cạnh tranh nhau, không thể chia sẻ kinh nghiệm cho nhau được Ngược lại, với phương thức kinh doanh đa cấp, như quan sát thấy ở Việt Am, một người không có một khối lượng công việc cụ thể Ai làm càng nhiều thì càng hưởng nhiều hoa hồng, và thành tích của người này đồng thời thúc đẩy lợi nhuận của đồng nghiệp kia nếu đồng nghiệp đó là người giới thiệu ra anh ta Một người không thể thành công nếu không không giúp được người sau mình thành công Rất tự nhiên

việc chia sẻ kinh nghiệm không chỉ mang tính chức năng mà mang tính nhu

cầu của chính cá nhân đó

Xem xét trong nội bộ người lao động được điều tra tại Việt Am, chúng tôi quan sát tác động của 3 biến độc lập cơ bản: Giới, Tuổi và Thực trạng công việc làm một hay nhiều phương thức kinh doanh

Tương quan giới cho thấy nam giới lại thường xuyên trao đổi kinh nghiệm hơn các nhà phân phối nữ

Bảng 2: Mức độ trao đổi kinh nghiệm/ Giới (Việt Am)

Ông/bà có hay trao đổi kinh nghiệm làm việc với những người cùng làm trong công ty

không?

Tổng

Thường xuyên

Thỉnh thoảng

Hiếm khi

Trang 32

Trong văn hoá truyền thống của chúng ta, phụ nữ vẫn thường bị quy gán là „lắm điều” hơn đàn ông Có vẻ như trong công việc này thì không như vậy Có tới 85,7% nhà phân phối nam thường xuyên trò chuyện trao đổi với đồng nghiệp, cao hơn khoảng 8% số nhà phân phối nữ được lựa chọn điều tra Mặc dù vậy hệ số tương quan Cramer‟s V cho giá trị chưa đủ mạnh để kết luận sự khác biệt là có ý nghĩa thống kê

Sau đây là bảng kết xuất tương quan tuổi với mức độ trao đổi kinh nghiệm giữa các đồng nghiệp

Bảng 3: Mức độ trao đổi kinh nghiệm/ Tuổi (Việt Am)

Quan sát bảng trên, ta thấy rõ rằng nhóm tuổi 35- 60 chọn phương án

1 rất cao, trong khi đó 2 nhóm còn lại, đặc biệt là nhóm trên 60 có tỷ lệ tương ứng thấp hơn rất nhiều Hệ số tương quan Cramer‟s V cho giá trị

0,194 với mức ý nghĩa p đủ để khẳng định sự khác biệt giữa các nhóm tuổi

Có thể giải thích điều này bằng việc nhóm tuổi 35- 60 là nhóm có nghĩa vụ lao động chính trong gia đình họ cũng như trong xã hội, do vậy công việc với họ đặt ra yêu cầu bức thiết hơn Chúng tôi có tìm hiểu một số nhà phân

Trang 33

phối hoặc ít tuổi, hoặc quá tuổi lao động tham gia vào công ty Việt Am và biết rằng họ tham gia kinh doanh không hẳn vì tài chính mà vì “dễ làm”,

“làm cho vui” Điều này cũng khá thú vị bởi lẽ người quá tuổi lao động thì hầu như không thể làm việc trong các công ty kinh doanh theo phương thức truyền thống, còn đối với các công ty kinh doanh theo mạng thì đây lại là điều phổ biến Nhưng cũng chính vì tuổi tác mà họ không có được động cơ kinh doanh mạnh- cái chi phối mức độ trao đổi kinh nghiệm- như những người trong nhóm tuổi lao động

Biểu đồ sau giúp ta có cái nhìn so sánh rõ hơn giữa các nhóm tuổi

Trang 34

Bảng 4: Mức độ trao đổi kinh nghiệm/

Làm thêm- không làm thêm (Việt Am)

Ngoài công việc tại công ty ông/bà có làm thêm công việc nào khác nữa không?

có mức độ trao đổi thường xuyên hơn Dù sao, đây chỉ là một chỉ báo cần phải được xem xét trong tổng thể hệ thống các chỉ báo khác

Trang 35

2.Sự hỗ trợ phát triển hệ thống

2.1.Khả năng hợp tác với đồng nghiệp

Một trong những biểu hiện cơ bản của sự gắn bó cộng đồng là khả năng công tác với nhau Đấy là khả năng sống hoà hợp với những cá nhân khác không phải cái tôi, và nằm ở mức độ cao hơn so với việc chia sẻ kinh nghiệm K Marx cũng như nhiều nhà xã hội học đã từng phê phán xã hội

tư bản với nền công nghiệp dây chuyền không chỉ khiến con người xa lạ với công việc mà còn xa lạ với đồng loại của mình Theo cách diễn đạt của Durkheim thì đó là sự suy yếu của mối dây gắn kết giữa cá nhân và xã hội

Theo tôi, đặc điểm đó ở đội ngũ lao động ở Việt Nam còn được củng

cố thêm bởi nguyên nhân văn hoá Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm trong

“Cơ sở văn hoá Việt Nam” đã phân tích tính “lưỡng phân” trong tư duy người Việt, giữa tính “khép” và tính”mở” trong mối quan hệ cộng đồng Nhiều nghiên cứu cũng đã cho thấy gắn kết trong gia đình ở người Việt rất mạnh, nhưng khả năng cộng tác làm việc lại rất yếu

Với cách nhìn đối chiếu lấy phương thức kinh doanh làm cơ sở, tôi

có đề nghị người được hỏi tự đánh giá khả năng cộng tác của mình Câu trả lời nhận được như sau:

Trang 36

Bảng 5: Khả năng cộng tác với đồng nghiệp/ 2 công ty

Công ty ông bà đang làm việc

Có thể thấy rõ ràng là trong mẫu điều tra tại Việt Am, có tới 94,3%

tự cho rằng mình có khả năng cộng tác tốt với đồng nghiệp, trong khi tỷ lệ này ở Viettel chỉ là 70,7%, chênh nhau tới 24,3% Đáng chú ý là có 4,9%

số người được hỏi ở Viettel không quan tâm đến sự cộng tác trong công việc Quan sát hệ số tương quan Cramer‟s V, ta thấy sự khác biệt được khẳng định với giá trị khá : 0,335

Như vậy là giữa nhận thức với thực tế thực hành trong công việc có

sự chênh lệch 100% số người được hỏi ở cả hai công ty đều khẳng định cộng tác trong công việc là rất quan trọng, nhưng không phải tất cả họ đều làm được như vậy Đây là một chỉ báo rất đáng chú ý Nó gợi mở suy nghĩ:

sự gắn kết trong cộng đồng doanh nghiệp không phải đơn thuần có nguồn

Trang 37

gốc từ mong muốn cá nhân, mà có lẽ do các nguyên nhân khác như cách tổ chức kinh doanh, đặc thù công việc

Đối với loại hình kinh doanh đa cấp, bản thân công việc đòi hỏi sự hợp tác cao, vì nó là sự chia sẻ thông tin trực tiếp, và lại hưởng hoa hồng bán hàng gián tiếp qua nhiều tầng bậc Trong khi đó, trong kinh doanh truyền thống, như công ty Viettel, công việc hiệu quả cao khi các bộ phận

rõ ràng, chuyên môn hoá cao về chức năng phận sự của mình để tránh chồng chéo, “cha chung không ai khóc” Chẳng hạn, nếu như một người lắp đặt Internet của Viettel thì họ phải làm việc với các phòng kinh doanh, phòng kỹ thuật, phòng kế toán, phòng kho (nơi xuất mođem), phòng tư vấn khách hàng một cách độc lập để có thể hoàn thành kết nối dịch vụ Nếu hỏi một nhân viên kỹ thuật về giá môđem, hoặc cách tính dịch vụ Internet thì họ không biết, hoặc có bất cứ một phát sinh nào trong việc giao dịch thì

họ cũng không biết, không có phận sự giải quyết Ngược lại, để một người mua được một chiếc máy Ion là sản phẩm chính của công ty Việt Am, họ chỉ cần biết đến một nhà phân phối Người này sẽ vừa là người tư vấn, vừa

là người giới thiệu, giải quyết các phát sinh nếu có quan trọng hơn, nếu nhà phân phối này không đủ thông tin hoặc không giải đáp hết các câu hỏi của người mua, họ có thể nhờ những người khác ở “tầng trên” của mình, hay chính là “cấp trên” của mình giúp đỡ Nếu anh ta bán hàng thành công thì người tầng trên cũng có lợi nhuận

Không nói đến cách làm nào tốt hơn, nhưng rõ ràng kiểu kinh doanh

đa cấp rèn luyện cho người làm khả năng hợp tác giữa những người cùng một “hệ thống”, tức là những người có chung lợi nhuận tính từ người đứng đầu giới thiệu những người sau tham gia vào công ty

Theo quan sát của người nghiên cứu, kết quả trên có thể được khẳng định thêm khi nhìn vào không khí làm việc của 2 công ty Đối với Viettel,

Trang 38

các nhân viên luôn nghiêm trang, chú ý vào chức năng phận sự của mình Còn đối với Việt Am, các nhà phân phối lúc nào cũng tươi cười, cởi mở, chú ý đến cách ăn mặc, phong thái giao tiếp nhiều hơn Những người làm ở Việt Am luôn chủ động trong việc thiết lập quan hệ hơn khi gặp người lạ,

vì rất có thể đấy là một “đầu mối” phân phối mới của họ

Quan sát trong mẫu Việt Am, tương quan tuổi cho thấy các nhà phân phối tuổi càng cao càng tự tin vào khả năng cộng tác với đồng nghiệp của mình Nhóm dưới 35 có 88,2% đánh giá khả năng của mình là tốt, nhóm 35- 60 tuổi có tỷ lệ tương ứng là 95.3%, và nhóm trên 60 tuổi đạt tới tỷ lệ 100% Tuy nhiên, hệ số tương quan không khẳng định sự khác biệt trên có

ý nghĩa thống kê (Cramer‟s V= 0,163, Approx.Sig= 0,062)

So sánh câu trả lời của những người chỉ làm ở Việt Am và những người còn làm thêm một công việc khác nữa, ta thấy có sự khác biệt đáng chú ý

Bảng 6: Khả năng cộng tác với đồng nghiệp/Làm thêm- không làm

thêm (Việt Am)

Ngoài công việc tại công ty ông/

bà có làm thêm công việc nào khác nữa không?

Trang 39

Cramer‟s V= 0,159; Approx,Sig= 0,021

Nhỡn vào bảng kết xuất trờn, ta thấy tỷ lệ những người cú làm thờm một cụng việc khỏc nữa tự đỏnh giỏ khả năng cộng tỏc của mỡnh cao hơn hẳn những người chỉ làm ở cụng ty Việt Am Hệ số Cramer‟s V càng khẳng định hơn sự khỏc biệt này Cũng phải núi thờm rằng số đụng cỏc nhà phõn phối của Việt Am hiện đang làm thờm một cụng việc khỏc nữa, cú thể là cụng nhõn viờn chức hoặc làm kinh doanh nhỏ, thậm chớ cú những người rất thành cụng ở phương thức kinh doanh truyền thống Phải chăng khi làm nhiều loại hỡnh cụng việc một lỳc họ cú nhiều kinh nghiệm hơn và cú nhiều

kỹ năng hơn trong việc thiết lập quan hệ với đồng nghiệp? Qua quan sỏt Việt Am trong một thời gian dài, tụi nhận thấy rằng ngay cả những người hiện chỉ làm ở Việt Am cũng là những người đó từng làm kinh doanh truyền thống Điều này cũng dề hiểu vỡ phương thức kinh doanh truyền thống mới ra đời ở Việt Nam thời gian gần đõy

Nhỡn vào biểu đồ chỳng ta nhận ra rừ hơn sự khỏc biệt

Chỳ thớch: 1 Việt Am

2 Viettel

80 90 100

Ông/bà đánh giá thế nào về khả năng cộng tác của mình với đồng nghiệp?

Không tốt lắm Tốt

Trang 40

Tương quan giới không cho thấy sự khác biệt nào giữa các nhà phân phối nữ và các nhà phân phối nam Thú vị là tỷ lệ tự đánh giá khả năng cộng tác với đồng nghiệp của mình là “tốt” ở cả nhóm nam và nhóm nữ đều bằng nhau: 94.3%

2.2 Những đối tượng được lựa chọn để trao đổi kinh nghiệm

Khả năng cộng tác với đồng nghiệp là một dấu hiệu quan trọng nói lên tính gắn kết cộng đồng trong doanh nghiệp Nhưng cộng tác với ai trong số các đồng nghiệp cũng là một chỉ báo rất ý nghĩa Vì thế người nghiên cứu có đặt ra câu hỏi: “Ông/bà thường trao đổi kinh nghiệm với ai?” Câu hỏi này sẽ soi sáng phần nào cái “chất” của sự gắn kết trong doanh nghiệp kinh doanh đa cấp Sự khác biệt ý kiến giữa 2 công ty được thể hiện trong bảng sau

Bảng 7: Trao đổi kinh nghiệm với ai/ 2 công ty

Đối tượng Việt Am Viettel

Người liên quan trực tiếp

đến hiệu quả công việc của

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Alvin Tofler. Cú sốc tương lai. NXB Thanh niên. 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cú sốc tương lai
Nhà XB: NXB Thanh niên. 2002
2. Alvin Tofler và Heidi Tofler. Tạo dựng một nền văn minh mới. NXB Chính trị Quốc gia. 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạo dựng một nền văn minh mới
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia. 1996
3. Nguyễn Trần Bạt. Suy tưởng. NXB Hội nhà văn. 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy tưởng
Nhà XB: NXB Hội nhà văn. 2005
4. Don Failla. 10 bài học trên chiếc khăn ăn- cơ sở tối thiểu của thành công. NXB Văn hoá thông tin. 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 10 bài học trên chiếc khăn ăn- cơ sở tối thiểu của thành công
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin. 2005
5. G. Endruweit và G. Trommsdorff. Từ điển xã hội học. NXB Thế giới.2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển xã hội học
Nhà XB: NXB Thế giới.2002
6. J.H. Fichter. Xã hội học. NXB Hiện đại thư xã.1974 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Nhà XB: NXB Hiện đại thư xã.1974
7. John Milton Fogg. Nhà kinh doanh theo mạng vĩ đại nhất thế giới. NXB Văn hoá thông tin. 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà kinh doanh theo mạng vĩ đại nhất thế giới
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin. 2005
8. John Kalench. Bạn có thể trở thành bậc thầy trong kinh doanh theo mạng. NXB Văn hoá thông tin. 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bạn có thể trở thành bậc thầy trong kinh doanh theo mạng
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin. 2005
9. John Kalench. Cơ hội thuận lợi nhất trong lịch sử loài người. NXB Văn hoá thông tin. 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ hội thuận lợi nhất trong lịch sử loài người
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin. 2005
10. Mai Văn Hai- Mai Kiệm. Xã hội học văn hoá. NXB Khoa học xã hội. 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học văn hoá
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội. 2003
11. Lê Ngọc Hùng. Xã hội học kinh tế. NXB ĐHQG Hà Nội. 1999 12. Lê Ngọc Hùng. Lịch sử và lý thuyết xã hội học. NXB ĐHQG HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học kinh tế
Tác giả: Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 1999
13. Phạm Xuân Nam. Triết lý phát triển ở Việt Nam, mấy vấn đề cốt yếu. NXB Khoa học xã hội. 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết lý phát triển ở Việt Nam, mấy vấn đề cốt yếu
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội. 2005
14. Ngân hàng thế giới. Báo cáo phát triển thế giới. 2003 15. Nhiều tác giả. Một góc nhìn của trí thức. NXB Trẻ. 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phát triển thế giới". 2003 15. Nhiều tác giả." Một góc nhìn của trí thức
Nhà XB: NXB Trẻ. 2002
16. Richard Poe. Làn sóng thứ 3- Kỷ nguyên mới trong kinh doanh theo mạng. NXB Văn hoá thông tin. 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làn sóng thứ 3- Kỷ nguyên mới trong kinh doanh theo mạng
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin. 2005
17. Tiếng nói bè bạn. Những mảng tối của toàn cầu hoá. NXB Chính trị Quốc gia. 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những mảng tối của toàn cầu hoá
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia. 2003
18. Tony Bilton và những người khác. Nhập môn xã hội học. NXB Thế giới. 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: c. Nhập môn xã hội học
Nhà XB: NXB Thế giới. 1993
23. Viện thông tin khoa học xã hội. Kinh tế thị trường và những vấn đề xã hội. 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế thị trường và những vấn đề xã hội
19. Trần Ngọc Thêm. Cơ sở văn hoá Việt Nam. NXB Giáo dục. 1997 20. Thomas L. Friedman. Chiếc lexus và cây ôliu. NXB Khoa học xãhội. 2005 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Mức độ trao đổi kinh nghiệm làm việc/ 2 công ty - Sự gắn kết cộng đồng trong phương thức kinh doanh đa cấp tại Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp Công ty Cổ phần Việt Am-Hà Nội
Bảng 1 Mức độ trao đổi kinh nghiệm làm việc/ 2 công ty (Trang 30)
Bảng 2: Mức độ trao đổi kinh nghiệm/ Giới (Việt Am)  Ông/bà có hay trao đổi kinh - Sự gắn kết cộng đồng trong phương thức kinh doanh đa cấp tại Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp Công ty Cổ phần Việt Am-Hà Nội
Bảng 2 Mức độ trao đổi kinh nghiệm/ Giới (Việt Am) Ông/bà có hay trao đổi kinh (Trang 31)
Bảng 4: Mức độ trao đổi kinh nghiệm/ - Sự gắn kết cộng đồng trong phương thức kinh doanh đa cấp tại Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp Công ty Cổ phần Việt Am-Hà Nội
Bảng 4 Mức độ trao đổi kinh nghiệm/ (Trang 34)
Bảng 5: Khả năng cộng tác với đồng nghiệp/ 2 công ty - Sự gắn kết cộng đồng trong phương thức kinh doanh đa cấp tại Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp Công ty Cổ phần Việt Am-Hà Nội
Bảng 5 Khả năng cộng tác với đồng nghiệp/ 2 công ty (Trang 36)
Bảng 7: Trao đổi kinh nghiệm với ai/ 2 công ty - Sự gắn kết cộng đồng trong phương thức kinh doanh đa cấp tại Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp Công ty Cổ phần Việt Am-Hà Nội
Bảng 7 Trao đổi kinh nghiệm với ai/ 2 công ty (Trang 40)
Bảng 9: Trao đổi kinh nghiệm với ai/ - Sự gắn kết cộng đồng trong phương thức kinh doanh đa cấp tại Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp Công ty Cổ phần Việt Am-Hà Nội
Bảng 9 Trao đổi kinh nghiệm với ai/ (Trang 46)
Bảng 11: Mức độ đƣợc đề nghị giúp đỡ/Giới (Việt Am) - Sự gắn kết cộng đồng trong phương thức kinh doanh đa cấp tại Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp Công ty Cổ phần Việt Am-Hà Nội
Bảng 11 Mức độ đƣợc đề nghị giúp đỡ/Giới (Việt Am) (Trang 49)
Bảng 12: Mức độ đƣợc đề nghị giúp đỡ/Tuổi (Việt Am) - Sự gắn kết cộng đồng trong phương thức kinh doanh đa cấp tại Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp Công ty Cổ phần Việt Am-Hà Nội
Bảng 12 Mức độ đƣợc đề nghị giúp đỡ/Tuổi (Việt Am) (Trang 51)
Bảng 14: Tìm đến ai lúc công việc khó khăn/Giới (Việt Am) - Sự gắn kết cộng đồng trong phương thức kinh doanh đa cấp tại Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp Công ty Cổ phần Việt Am-Hà Nội
Bảng 14 Tìm đến ai lúc công việc khó khăn/Giới (Việt Am) (Trang 56)
Bảng 15: Tìm đến ai lúc công việc khó khăn/Có làm thêm- không làm  thêm (Việt Am) - Sự gắn kết cộng đồng trong phương thức kinh doanh đa cấp tại Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp Công ty Cổ phần Việt Am-Hà Nội
Bảng 15 Tìm đến ai lúc công việc khó khăn/Có làm thêm- không làm thêm (Việt Am) (Trang 57)
Bảng 16: Sự ảnh hưởng của uy tín cá nhân tới uy tín  công ty/ 2 công ty - Sự gắn kết cộng đồng trong phương thức kinh doanh đa cấp tại Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp Công ty Cổ phần Việt Am-Hà Nội
Bảng 16 Sự ảnh hưởng của uy tín cá nhân tới uy tín công ty/ 2 công ty (Trang 60)
Bảng 19: Sự ảnh hưởng của uy tín cá nhân tới uy tín   công ty/ Tuổi (Việt Am) - Sự gắn kết cộng đồng trong phương thức kinh doanh đa cấp tại Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp Công ty Cổ phần Việt Am-Hà Nội
Bảng 19 Sự ảnh hưởng của uy tín cá nhân tới uy tín công ty/ Tuổi (Việt Am) (Trang 63)
Bảng 20: Sự ảnh hưởng của uy tín cá nhân tới uy tín công ty/Có làm  thêm- không làm thêm (Việt Am) - Sự gắn kết cộng đồng trong phương thức kinh doanh đa cấp tại Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp Công ty Cổ phần Việt Am-Hà Nội
Bảng 20 Sự ảnh hưởng của uy tín cá nhân tới uy tín công ty/Có làm thêm- không làm thêm (Việt Am) (Trang 63)
Bảng 22: Mức độ gắn kết trong công ty/ Tuổi (Việt Am) - Sự gắn kết cộng đồng trong phương thức kinh doanh đa cấp tại Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp Công ty Cổ phần Việt Am-Hà Nội
Bảng 22 Mức độ gắn kết trong công ty/ Tuổi (Việt Am) (Trang 64)
Bảng 21: Mức độ gắn kết trong công ty/ Giới (Việt Am) - Sự gắn kết cộng đồng trong phương thức kinh doanh đa cấp tại Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp Công ty Cổ phần Việt Am-Hà Nội
Bảng 21 Mức độ gắn kết trong công ty/ Giới (Việt Am) (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w