ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- HOÀNG THỊ LAN PHƯƠNG SỰ BIẾN ĐỔI ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN Ở KHU VỰC ĐÔ THỊ HÓA HIỆN NAY NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
HOÀNG THỊ LAN PHƯƠNG
SỰ BIẾN ĐỔI ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN
Ở KHU VỰC ĐÔ THỊ HÓA HIỆN NAY
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI XÃ LỘC HOÀ, THÀNH PHỐ NAM
ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH)
LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC
Hà Nội- 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
HOÀNG THỊ LAN PHƯƠNG
SỰ BIẾN ĐỔI ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN
Ở KHU VỰC ĐÔ THỊ HÓA HIỆN NAY
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI XÃ LỘC HOÀ, THÀNH PHỐ NAM
ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH)
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 30
LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Kim Hoa
HÀ NỘI- 2014
Trang 3MỤC LỤC
3.Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 14
Trang 4* Thuyết chức năng cấu trúc của Talcott Parsons 29
1.2 Cơ sở thực tiễn: Một số đặc điểm về tình hình kinh tế, chính trị, văn
hóa, giáo dục của xã Lộc Hoà, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định 36
Chương 2: Tác động của Đô thị hóa và sự biến đổi đời sống của
2.1.Tác động của đô thị hoá đến phát triển kinh tế xã hội ở Việt
2.2.Thực trạng sự biến đổi đời sống của người dân xã Lộc Hoà ,
2.2.3.Sự biến đổi về quan niệm, giá trị chuẩn mực xã hội 66
Trang 5dân cư xã Lộc Hoà trước và sau năm 1998 (%) 44 Bảng 2.3: Nghề nghiệp tạo thu nhập chính của người được hỏi (%) 45 Bảng 2.4: Người đảm nhiệm chính công việc gia đình (%) 49 Bảng 2.5: Người quyết định chính các công việc (%) 51 Bảng 2.6: Tương quan về thu nhập với các lĩnh vực xảy ra xung đột
Bảng 2.7: Mức độ quan tâm của cha mẹ đến các hoạt động của con cái (%) 59 Bảng 2.8: Mức độ tham gia một số loại hình giải trí của người dân (%) 67 Bảng 2.9: Mức độ sử dụng các dịch vụ giải trí của người dân(%) 68
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu 2.1: Loại hình nhà ở của người dân xã Lộc Hòa trước và sau
Trang 6Biểu 2.2: Tỷ lệ mức thu nhập bình quân hàng tháng của gia đình(%) 47 Biểu 2.3: Tỷ lệ người dân tự đánh giá mức sống của gia đình (%) 48 Biểu 2.4: Các lĩnh vực thường xảy ra xung đột (%) 53
Biểu 2.6: Lĩnh vực chủ yếu xảy ra mâu thuẫn giữa cha mẹ và con cái(%) 61 Biểu 2.7: Thăm hỏi họ hàng của người dân xã Lộc Hòa(%) 64 Biểu 2.8: Sang chơi nhà hàng xóm của người dân xã Lộc Hòa (%) 65 Biểu 2.9: Lý do nhất thiết phải có con trai (%) 76
Phần 1: PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trang 7Theo các nhà nghiên cứu, xã hội loài người đã trải qua hai cuộc cách mạng đô thị Cuộc cách mạng thứ nhất diễn ra từ khoảng 8000 năm trước công nguyên Cuộc cách mạng thứ hai diễn ra vào khoảng thể kỷ thứ 18 và 19
ở châu Âu và Bắc Mỹ Các cuộc cách mạng đô thị hay đô thị hóa là những quá trình biến đổi xã hội trên phạm vi rộng, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống của con người Tại châu Âu và Bắc Mỹ, đô thị hóa luôn gắn liền với sự phát triển của sản xuất công nghiệp và gắn liền với sự di cư từ nông thôn vào thành thị (Trịnh Duy Luân, 2004: 68) Ở châu Á, theo các tài liệu khảo cổ học, mặc dù các thành phố đã xuất hiện từ khoảng 2500 năm trước công nguyên nhưng tiến trình đô thị hóa chỉ thực sự diễn ra mạnh mẽ khi có sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây (Guinness, 2003)
Ở Việt Nam, quá trình đô thị hóa găn liền với các cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ( lần 1: 1897- 1914, lần 2: 1919- 1930) Đặc biệt, từ cuối những năm 1980 của thế kỷ 20, cùng với chính sách đổi mới đất nước, Đảng ta đã xác định quá trình đô thị hóa gắn liền với công nghiệp hóa và phát triển kinh tế Quá trình đô thị hóa đã dẫn đến sự hình thành các khu công nghiệp và đô thị, đồng thời làm thay đổi đáng kể cuộc sống của người nông dân ngay tại các vùng nông thôn Đây chính là nguyên nhân làm xuất hiện những vấn đề xã hội, trong đó có vần đề những cư dân “bị đô thị hóa” thích ứng như thế nào với cộng đồng và lối sống đô thị
Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm
1991, cũng như trong các văn kiện của Đảng về chính sách xã hội đã nhấn mạnh đến vai trò của gia đình như là tế bào của xã hội và là nhân tố quan trọng quyết định sự phát triển bền vững của xã hội Việt Nam
Sau 20 năm tiến hành công cuộc Đổi mới, Việt Nam đã có những thay đổi toàn diện và sâu sắc trong tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong
Trang 8đó có các mối quan hệ gia đình Quá trình đổi mới đem đến cho gia đình Việt Nam những cơ hội phát triển mới, mức sống của đại bộ phận các gia đình đã được nâng cao Trong vòng 15 năm, từ 1990 đến 2004, tổng sản phẩm trong nước tăng gần gấp 3 lần, đạt mức bình quân 7,5 %/ năm Tỷ lệ hộ nghèo giảm
từ 58% năm 1993 xuống còn 24% năm 2004 (Tổng cục thống kê, 2004) Các chức năng cơ bản của gia đình có nhiều biến đổi theo chiều hướng tích cực Tuy nhiên, bên cạnh việc tiếp nhận những tác động tích cực về kinh tế-
xã hội do quá trình đổi mới đem lại, gia đình Việt Nam cũng đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức to lớn Đô thị hóa và công nghiệp hóa đang có những tác động ngược chiều đối với gia đình Việt Nam Một mặt, nó mang đến cho gia đình Việt Nam những giá trị nhân văn mới như quyền trẻ em, bình đẳng giới Mặt khác, nó có thể làm mai một đi những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam đã hình thành trong lịch sử như tinh thần trách nhiệm, đức hy sinh, lòng hiếu thảo, tôn ti trật tự trong gia đình, sự thủy chung trong quan hệ vợ chồng, sự kính trọng và tình cảm thiêng liêng của con cháu đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên; bạo lực gia đình; mâu thuẫn giữa các thế hệ; các tệ nạn xã hội ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình… Gia đình Việt Nam đang diễn ra nhiều biến đổi, bao gồm cả biến đổi tích cực và biến đổi tiêu cực Trong bối cảnh đó, việc chỉ ra thực trạng, nguyên nhân, xu hướng biến đổi gia đình ở Việt Nam là hết sức cần thiết để Nhà nước và các cấp liên quan xây dựng và hoạch định chính sách giúp cho gia đình Việt Nam thích ứng, tồn tại
và phát triển
Lộc Hòa là cửa ngõ của Thành phố Nam Định cũng nằm trong quy hoạch phát triển chung của thành phố Trước đây vốn là một xã thuần nông nhưng hiện nay cơ cấu ngành nghề đang có sự chuyển dịch mạnh mẽ Việc nâng cấp và mở rộng tuyến đường quốc lộ 21 (đoạn đi qua địa bàn xã Lộc Hoà), xây dựng mới Bến xe khách Nam Định và cụm khu công nghiệp Hoà
Trang 9xá trên địa bàn xã đã tạo cho diện mạo xã có sự thay đổi nhanh chóng Những khu công nghiệp, khu đô thị mới nhanh chóng mọc lên trên những thửa ruộng của người nông dân Nhờ đó, đời sống của người dân cũng được nâng cao, kinh tế tăng trưởng nhanh, tốc độ đô thị hóa ngày càng phát triển mở rộng Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã kéo theo những sự biến đổi trong mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có sự biến đổi về lối sống, văn hóa ứng
xử …Câu hỏi đặt ra ở đây là : dưới tác động của quá trình đô thị hóa, đời sống của dân cư ở đây có sự biến đổi như thế nào? Phải chăng, đô thị hóa đem đến những thay đổi tích cực về mặt kinh tế nhưng về mặt văn hóa và các giá trị chuẩn mực đang còn nhiều bất cập với nhiều hệ luỵ tiêu cực
Chính những lý do trên đã dẫn tôi đến quyết định lựa chọn đề tài: “Sự
biến đổi đời sống của dân cư trong vùng đô thị hóa hiện nay (Nghiên cứu trường hợp tại xã Lộc Hòa, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định)”
2 Tổng quan nghiên cứu
Nghiên cứu về sự biến đổi xã hội nói chung, biến đổi lối sống nói riêng, dưới tác động của quá trình đô thị hóa đã được nhiều nhà khoa học trong nước và trên thế giới thực hiện
Trên thế giới, các nhà xã hội học thuộc trường Đại học tổng hợp Chicago là những người đầu tiên thực hiện các nghiên cứu quy mô và chuyên sâu về các vấn đề xã hội của cộng đồng cư dân đô thị, trong đó có vấn đề lối sống Có thể liệt kê một số tác phẩm tiêu biểu đã mô tả, phân tích về sự thích ứng của người dân, nhất là dân nhập cư, với lối sống tại các đô thị như:
“Người nông dân ở Ba Lan ở châu Âu và Mỹ” của Thomas và Florian Znaniecki (1918- 1920), “Thành phố” của Robert Park và Ernest Burgess (1925), “Đặc trưng đô thị như là một lối sống” của Luis Wirth (1938), “Gia
Trang 10đình Negro ở Chicago” của E.Franklin Frazier (1931), “Những cư dân thành thị” của Herbert Gans (1962)…
Dân nhập cư có một vai trò rất quan trọng trong quá trình hình thành các thành phố lớn ở Mỹ Bởi vậy, quá trình thích ứng của dân nhập cư vào với đời sống đô thị là chủ đề nổi bật trong các nghiên cứu của các nhà xã hội học thuộc trường phái Chicago
Trong tác phẩm điển hình “Người nông dân Ba Lan ở châu Âu và Mỹ”, Thomas và Znanniecki đã mô tả những khó khăn, sự biến đổi của các cộng đồng truyền thống khi hoà nhập vào xã hội đô thị Theo đó, để trở thành một
bộ phận của cộng đồng xã hội tổng thể thì các cộng đồng truyền thống phải thay đổi và thích ứng với bối cảnh chung- trong đó sự thay đổi về lối sống là tất yếu
Trong tác phẩm “Thành phố”, Park và Burgess (1925) cho rằng, đặc trưng cơ bản của lối sống đô thị là sự cạnh tranh Hành vi của cá nhân chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi cấu trúc xã hội cũng như đặc điểm địa lý nơi người
ta cư trú Cuộc sống đô thị có thể được nhận biết thông qua việc khảo sát văn hóa của các thành phố, cấu trúc nghề nghiệp cũng như các tổ chức được hình thành một cách tự nhiên Sử dụng khái niệm “sinh thái đô thị”, Burgess đã mô
tả mối liên hệ giữa các cá nhân ở đô thị với môi trường cư trú và cách thức phụ thuộc lẫn nhau của đời sống đô thị
Trong tác phẩm “Đặc trưng đô thị như là một lối sống” của Louis Wirth công bố năm 1938 đã mô tả ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến mọi khía cạnh của đời sống xã hội Theo Wirth, tính không đồng nhất của cộng đồng
đô thị đã phá vỡ các cấu trúc xã hội cứng nhắc và tạo ra sự biến động, không
ổn định và thiếu an toàn xã hội
Cũng nghiên cứu về sự biến đổi gia đình, nhưng tác giả Goode trong tác phẩm “World Revolution and Family Patterns”(1963) lại phân tích sự biến
Trang 11đổi gia đình là do ảnh hưởng của sự biến đổi xã hội mà ông gọi là công nghiệp hóa Trong các nền văn hóa khác nhau, các xã hội khác nhau sẽ tồn tại những mẫu hình gia đình khác nhau nhưng những mẫu hình này đều chịu ảnh hưởng chung của công nghiệp hóa và những biến đổi này có thể nhanh hoặc chậm
Về tổng thể, các công trình nghiên cứu tiêu biểu nêu trên đã xác lập một hướng tiếp cận mới, có nhiều ảnh hưởng đối với các nghiên cứu về quá trình biến đổi xã hội tại các đô thị ở Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, tiến trình công nghiệp hóa và đô thị hóa ở Việt Nam diễn ra với những đặc trưng rất riêng
Do đó, khi nghiên cứu về sự biến đổi lối sống ở Việt Nam, cần phải hết sức thận trọng, xem xét cụ thể trong bối cảnh Việt Nam
Ở Việt Nam, những nghiên cứu xã hội học về gia đình và biến đổi gia đình mới chỉ được bắt đầu từ những năm 90 của thế kỷ XX, khi nước ta chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế và giao lưu văn hóa quốc tế Những biến chuyển này đã làm thay đổi sâu sắc chế độ
sở hữu, các giá trị và chuẩn mực xã hội Là một thiết chế cơ bản của xã hội, gia đình Việt Nam cố nhiên chịu ảnh hưởng to lớn của những biến đổi này Cho đến nay, nguồn tài liệu về gia đình ở nước ta không chỉ nhiều về số lượng, mà còn khá đa dạng về các góc độ tiếp cận khác nhau Quan điểm của các nhà nghiên cứu khác nhau về biến đổi gia đình, tựu trung lại đều đề cập đến quá trình biến đổi gia đình từ xã hội nông nghiệp truyền thống sang xã hội công nghiệp hóa Do đó, cần phải nêu lên những đặc điểm nổi bật về cấu trúc và chức năng của gia đình truyền thống và sự khác biệt của nó với gia đình hiện đại
Theo tác giả Vũ Tuấn Huy trong cuốn “Tác động của biến đổi nền kinh
tế xã hội đến một số khía cạnh của gia đình Việt Nam: Nghiên cứu trường hợp tỉnh Thái Bình” thì xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập khu vực và quốc tế
Trang 12về kinh tế, văn hóa, xã hội chính là những tác nhân quan trọng thúc đẩy sự biến đổi của gia đình Đồng thời tác giả lấy năm 1945 với những đặc điểm chuyển đổi của nền kinh tế chính là cơ sở cho sự phân định ranh giới biến đổi của gia đình Việt Nam Theo tác giả, sự biến đổi này không tách rời hoàn toàn với những đặc trưng của gia đình truyền thống mà là một sự điều chỉnh thích nghi với những hoàn cảnh và điều kiện xã hội mới
Trong khi đó tác giả Mai Huy Bích trong cuốn “Xã hội học gia đình” lại không đi từ yếu tố kinh tế để giải thích sự biến đổi gia đình mà cho rằng nhân
tố gây biến đổi gia đình chính là những chủ trương của Nhà nước nhằm thay đổi gia đình cũ, xây dựng gia đình mới
Trong đề tài cấp bộ tìm hiểu về “Những biến đổi về giá trị văn hóa của các làng ven đô Hà Nội trong thời kỳ đổi mới” năm 2006 của tác giả Ngô Văn Giá lại xem xét ở khía cạnh cụ thể hơn về mối liên hệ giữa biến đổi lối sống với bối cảnh kinh tế- xã hội Tác giả nhấn mạnh, trong bối cảnh xã hội có những biến đổi to lớn về cơ cấu kinh tế và thành phần dân cư, tiền đề tạo nên mối liên kết tự nhiên giữa các thành viên trong làng đã không còn như trong truyền thống, ý thức về giá trị cộng đồng làng trong mỗi ứng xử của con người không thể nói là không thay đổi Một trong những tiêu chí cơ bản để điều chỉnh, ràng buộc hành vi ứng xử của con người vào hệ giá trị chuẩn mực của xã hội là dư luận đã nhìn nhận một cách thoải mái hơn
Quan tâm đến sự biến đổi lối sống ở khía cạnh mức sống, các tác giả như Nguyễn Hữu Minh trong đề tài cấp Viện nghiên cứu “Những biến đổi kinh tế- xã hội ở vùng ven đô Hà Nội trong quá trình đô thị hóa”(2003) và tác giả Đỗ Văn Quân trong luận văn thạc sỹ xã hội học nghiên cứu “Biến đổi mức sống hộ gia đình ở nông thôn vùng phụ cận Hà Nội”(2006) chỉ ra rằng quá trình biến đổi nhanh về mức sống của hộ gia đình nông thôn vùng phụ cận Hà Nội đang dần hình thành lối sống đô thị với những giá trị, chuẩn mực, quan niệm mang tính đặc trưng của đô thị Quá trình này đang diễn ra nhanh
Trang 13chóng dưới áp lực của đô thị hóa Cùng với việc nâng cao mức sống thì quá trình biến đổi lối sống thể hiện rất rõ qua việc hình thành mạng lưới quan hệ
xã hội trong môi trường công việc, cùng với sở thích hơn là giá trị truyền thống cộng đồng; xu hướng đề cao giá trị kiếm được nhiều tiền hơn bất kỳ giá trị nào khác Mỗi cá nhân không còn bị bó hẹp trong phạm vi làng xã mà rộng
mở hơn, giao lưu với nhiều tầng lớp, nhóm người trong xã hội, thể hiện sự năng động hơn và thoải mái hơn
Đi sâu phân tích thực trạng ảnh hưởng của đô thị hóa đến lối sống, Lê Thị Hồng Quế và cộng sự (2008) nhận thấy rằng: đô thị hóa đòi hỏi con người phải chuyển động theo tốc độ chuyển động của nó Hiện tượng người dân thay đổi nghề nghiệp, sự xuất hiện của những người dân nhập cư là tất yếu, quan hệ cộng đồng cũng thay đổi, dịch vụ công cộng xuất hiện trong cuộc sống mới… ắt dẫn đến những thay đổi về tâm lý và từ đó nếp sống cũng thay đổi theo Hơn thế nữa để bắt kịp với lối sống đô thị người dân cũng phải tìm cách thay đổi tác phong làm việc cho phù hợp
Cùng quan tâm đến sự biến đổi lối sống đô thị trong bối cảnh từ xã lên phường, Nguyễn Đình Tuấn (2007) đã quan tâm nhiều hơn đến khía cạnh thực nghiệm Thông qua công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã mô tả thực trạng biến đổi lối sống của người dân, mà khởi điểm chính là từ quyết định hành chính từ xã thành phường của nhà nước Tác giả đã mô tả khá đầy
đủ các biểu hiện cụ thể của biến đổi lối sống như: phương thức sinh hoạt; quan niệm về đời sống hôn nhân và con cái; quan hệ gia đình, họ hàng, làng xóm; cưới xin tang ma và sử dụng thời gian nhàn rỗi
Chi tiết hơn nữa là từ hướng tiếp cận tâm lý học xã hội, Phan Thị Mai Hương và cộng sự trong đề tài khoa học cấp bộ nghiên cứu về “Những biến đổi cơ bản về mặt tâm lý của cư dân vùng ven đô đã được đô thị hóa”(2006)
đã khảo sát sự biến đổi trong hệ thống nhu cầu của cư dân ven đô để từ đó đưa ra những phân tích về sự thích nghi với lối sống đô thị của các cộng đồng
Trang 14ven đô trong quá trình đô thị hóa Theo đó, tác giả đã chỉ ra một số chiều cạnh
về sự biến đổi lối sống của người dân, đó là: sự thích nghi trên phương diện kinh tế, sự thích nghi trên phương diện văn hóa, ứng xử, sự dụng dịch vụ xã hội, kết cấu nhà cửa… Nhìn chung, nhóm tác giả đã thu thập được những bằng chứng cho thấy người dân đã phải vận động và thay đổi lối sống cho phù hợp với bối cảnh xã hội mới Tuy nhiên, sự thay đổi đó vẫn đang diễn ra và đến hiện tại người dân vẫn giữ được những nét cơ bản thuộc về lối sống truyền thống của cư dân nông nghiệp Việt Nam Những biểu hiện tiêu cực về lối sống cũng đã xuất hiện nhưng chưa phổ biến và chưa đến mức quá nghiêm trọng
Sự biến đổi của xã hội nông thôn trong quá trình đô thị hóa đang là chủ
đề được rất nhiều nhà khoa học quan tâm Các vấn đề như sự biến đổi về mức sống, đời sống văn hóa tinh thần, phân hóa giàu nghèo, môi trường xã hội và các tệ nạn xã hội, văn hóa truyền thống….đều được phân tích khá chi tiết mặc
dù chưa đạt được kết quả cao Điểm nổi bật và xuyên suốt công trình nghên cứu nêu trên là các nhà khoa học đã phác hoạ ra được một bức tranh đa dạng
về sự biến đổi kinh tế xã hội ở một số vùng nông thôn dưới tác động của đô thị hóa Tiến trình này đã đem đến nhiều cơ hội cho người nông dân nhưng cũng dẫn đến nhiều thách thức
Cho đến nay, nguồn tài liệu về gia đình ở nước ta không chỉ nhiều về số lượng, mà còn khá đa dạng về các góc độ tiếp cận khác nhau Điểm nổi bật
và xuyên suốt các công trình nghiên cứu nêu trên là các nhà khoa học đã phác hoạ ra một bức tranh đa dạng về sự biến đổi kinh tế- xã hội ở một số vùng nông thôn dưới tác động của đô thị hoá và công nghiệp hóa Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp không thể phủ nhận, các nguồn tài liệu này cũng có một
số nhược điểm Hầu hết các nghiên cứu gia đình trong khoảng 20 năm qua là những nghiên cứu nhỏ lẻ, chủ yếu được triển khai ở châu thổ sông Hồng, rất ít
Trang 15các nghiên cứu có quy mô lớn, được mở rộng ra nhiều vùng miền, và hầu như chưa có những nghiên cứu ở tầm cỡ quốc gia
Nhận diện và phân tích sự thay đổi về lối sống của người dân là vấn đề quan trọng, cấp bách đối với công tác quản lý nhà nước, nhất là trên các lĩnh vực văn hóa- xã hội ở nước ta hiện nay Trước sự biến đổi nhanh chóng, trong khi xây dựng các chính sách vĩ mô, mang tầm chiến luợc, các cơ quan quản lý nhà nước rất cần có những giải pháp kịp thời để giải quyết các vấn đề xã hội mới nảy sinh
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm tìm hiểu sự tác động của đô thị hóa đến đời sống của người dân xã Lộc Hòa, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định hiện nay Trên
cơ sở đó đề xuất về mặt chính sách nhằm góp phần hoàn thiện công tác quản
và xây dựng gia đình trên địa bàn xã ngày càng phát triển bền vững trong điều kiện mới
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 16- Mô tả và phân tích thực trạng sự biến đổi về đời sống của người dân trong quá trình đô thị hóa ở xã Lộc Hòa, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định
số con, về tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời….)
- Góp phần đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách về xây dựng gia đình bền vững ở địa phương
5 Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
5.1.Đối tượng nghiên cứu
Sự biến đổi về đời sống của người dân ở khu vực đô thị hóa (Nghiên cứu trường hợp tại xã Lộc Hòa, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định hiện nay)
+ Biến đổi về đời sống vật chất (nhà ở; nguồn nước, tiện nghi sinh hoạt trong gia đình)
Trang 17+ Sự biến đổi về quan hệ xã hội: quan hệ vợ- chồng; quan hệ cha mẹ- con cái; quan hệ họ hàng, làng xóm
+ Biến đổi về giá trị: (quan niệm về văn hóa giải trí, hưởng thụ; thói quen sử dụng các dịch vụ; quan niệm về cách giáo dục con cái, chuẩn mực về
số con, về tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời….)
Mốc thời gian để làm căn cứ đo lường về sự biến đổi đời sống gia đình với trường hợp cụ thể là xã Lộc Hòa, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định là giai đoạn trước năm 1998 và từ năm 1998 đến nay
- Về phạm vi khảo sát:
+ Không gian: xã Lộc Hòa, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định
+ Thời gian: từ tháng 03/2011 đến tháng 12/2012
6 Câu hỏi nghiên cứu
Dưới tác động của quá trình đô thị hóa, đời sống của dân cư ở đây có sự biến đổi như thế nào? Các quan hệ giữa vợ- chồng, quan hệ cha mẹ- con cái
và quan hệ họ hàng, làng xóm có gì khác không? Quan niệm của người dân
về các giá trị, chuẩn mực xã hội như hôn nhân; con cái có gì thay đổi không? Tại sao?
7.Giả thuyết nghiên cứu
-Dưới tác động của đô thị hóa, đời sống vật chất của người dân xã Lộc Hoà đang ngày càng được cải thiện và nâng cao Tuy nhiên, các quan hệ xã hội như quan hệ vợ- chồng; quan hệ cha mẹ- con cái và quan hệ họ hàng, làng xóm ít có sự biến đổi
-Nhận thức của người dân về văn hóa sử dụng các dịch vụ giải trí, về việc không sinh con thứ ba, về việc không nhất thiết phải có con trai và về hôn nhân và gia đình đã được nâng cao
-Các tệ nạn xã hội như: cờ bạc, đánh nhau… trong giới thanh thiếu niên gia tăng
8 Phương pháp nghiên cứu
Trang 18Các phương pháp nghiên cứu xã hội học như phân tích tài liệu, phỏng vấn bằng bảng hỏi, thảo luận nhóm….đem đến cho nhà nghiên cứu những thông tin đáng tin cậy, dựa trên các bằng chứng thực nghiệm đảm bảo chất lượng, phục vụ cho việc phân tích vấn đề nghiên cứu
8.1.Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp bao gồm các công trình nghiên cứu, bài tạp chí, sách, bài viết… về một số chủ đề như: biến đổi gia đình, các mối quan hệ trong gia đình, về tác động của đô thị hóa Phương pháp phân tích nghiên cứu tài liệu thứ cấp được tiến hành nhằm các mục đích sau:
- Có những kiến thức cơ bản và khái quát về các chủ đề nghiên cứu
- Hình dung ban đầu về lịch sử nghiên cứu vấn đề
- Có cơ sở lý luận để so sánh, diễn giải và làm sâu sắc thêm kết quả nghiên cứu
8.2 Phương pháp quan sát
Trong quá trình điều tra bằng bảng hỏi, điều tra viên kết hợp với quan sát để thu được những thông tin đáng tin cậy và để kiểm chứng cho câu trả lời của người được hỏi
8.3 Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi
Phiếu trưng cầu ý kiến sẽ được sử dụng nhằm mục đích thu thập những thông tin định lượng cho đề tài nghiên cứu Mẫu nghiên cứu được lựa chọn theo phương pháp ngẫu nhiên, có cân nhắc đến một số yếu tố như yếu tố địa bàn, thành phần gia đình Đề tài sử dụng các thông tin định lượng thu được
từ bảng hỏi đã xử lý bằng chương trình SPSS 13.0
Phương pháp này được tiến hành với 150 gia đình theo cách lựa chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện tại 13 xóm của xã Lộc Hoà, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, với cơ cấu mẫu như sau:
Trang 19Cơ cấu mẫu Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Trang 20sung, minh họa và kiến giải về gia đình, các phỏng vấn sâu nhằm tập trung vào một số vấn đề mà điều tra định lượng chưa sáng tỏ Những thông tin phỏng vấn sâu thu được nhằm giải quyết các câu hỏi: tại sao? Như thế nào? ảnh hưởng ra sao? Nguyên nhân nào?
9.Khung phân tích
(Xem trang bên)
Trang 21Điều kiện kinh tế- văn hóa- xã hội
Quá trình đô thị hóa
Sự biến đổi đời sống của người dân xã Lộc Hòa, thành phố Nam Định,
tỉnh Nam Định hiện nay
Biến đổi về quan hệ
xã hội
Biến đổi về giá trị, quan niệm sống
Tiện nghi sinh hoạt
Quan hệ giữa vợ
và chồng
Quan hệ giữa cha
mẹ và con cái
Quan hệ
họ hàng, làng xóm
Quan niệm về văn hóa giải trí, hưởng thụ
Quan niệm về
số con, sinh con trai, giáo dục con
Quan niệm về tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời
Trang 22Phần 2: NỘI DUNG CHÍNH
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
1.1.Cơ sở lý luận
1.1.1.Các khái niệm công cụ
*Khái niệm lối sống
Đây là một khái niệm có nhiều cách định nghĩa khác nhau
Đôbơrianốp (1985: 213) cho rằng: lối sống là sinh hoạt cá nhân, chủ quan hoá của hệ thống những quan hệ xã hội, của toàn bộ tổng thể những điều kiện sống, thể hiện trong hoạt động của con người
Trong xã hội học, theo Turner (2006: 339): lối sống là các mô hình văn hóa và hành động đặc trưng, phân biệt người này với người khác
Lối sống là thuật ngữ dùng để chỉ cách thức mà cá nhân sống trong cộng đồng và xã hội Lối sống được đặc trưng bởi các mô hình hành vi có ý nghĩa với bản thân cá nhân cũng như những người khác trong những tình huống nhất định Lối sống của cá nhân là tổng hợp các thói quen, cách thức giải quyết công việc cũng như các mô hình hành vi phổ biến trong cuộc sống hàng ngày Lối sống phản ánh định hướng giá trị cũng như thái độ của cá nhân cho nên bản chất của cá nhân có thể được nhận biết qua lối sống của họ Nói cách khác, có thể cói lối sống chính là yếu tố tạo ra những biểu trưng văn hóa phản ánh bản sắc cá nhân rõ nét
*Khái niệm đời sống
Đời sống là thuật ngữ dùng để chỉ sự diễn ra các hoạt động của con người trong thực tiễn sinh hoạt hàng ngày
Đời sống của dân cư ở đây bao gồm: đời sống vật chất và đời sống tinh thần
Trang 23*Khái niệm đô thị hóa
Theo tác giả Trịnh Duy Luân trong cuốn “Xã hội học đô thị - NXB KHXH năm 2004, tr 70”: Đô thị hóa là khái niệm để chỉ một sự thay đổi, không chỉ thay đổi sự phân bố dân cư trong xã hội mà còn chuyển thể nhiều kiểu mẫu của đời sống xã hội
Đô thị hoá là một quá trình tập trung dân cư đô thị Đồng thời đó là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất nông nghiệp giảm, sản xuất phi nông nghiệp tăng Bộ mặt đô thị ngày càng hiện đại, không gian đô thị mở rộng Đi liền với đó là sự biến đổi về đời sống xã hội của dân cư trong vùng đô thị hóa Đời sống của người dân (đời sống vật chất và đời sống tinh thần) không ngừng được cải thiện và nâng cao, cơ cấu ngành nghề có sự chuyển dịch mạnh mẽ từ sản xuất thuần nông sang sản xuất phi nông nghiệp
Và hệ luỵ của quá trình đô thị hóa cũng nảy sinh từ đây
*Khái niệm về gia đình
Trong xã hội, từ xưa đến nay, gia đình vẫn luôn là thiết chế cơ bản nhất
và gắn liền với đời sống của mỗi con nguời Mỗi cá nhân không thể tồn tại đơn lẻ mà phải gắn liền với gia đình Tùy theo cách nhìn nhận từ các ngành khoa học mà có những định nghĩa về gia đình khác nhau, nhưng nhìn chung, nói đến gia đình là nói đến một xã hội thu nhỏ với nhiều mối quan hệ tồn tại bên trong nó
Theo Từ điển xã hội học của Nguyễn Khắc Viện- NXB thế giới, Hà Nội, 1994: Gia đình được xem như một nhóm người gắn bó với nhau bằng sợi dây liên hệ hôn nhân, huyết thống hay nhận con nuôi Ở đây có sự tác động qua lại giữa vợ chồng, cha mẹ và con cái, giữa anh chị em với họ hàng xa hơn
Có thể thấy, “gia đình” là một trong những phạm trù xuất hiện sớm nhất trong lịch sử nhân loại Từ “gia đình” có lẽ được sử dụng nhiều nhất trong ngôn ngữ hàng ngày và trong nhiều lĩnh vực hoạt động xã hội cũng như
Trang 24trong nhiều nghiên cứu về gia đình, song hiếm khi nó có một định nghĩa rõ ràng Trong thực tế, không có một loại hình gia đình đồng nhất cũng như không có một hình thức gia đình giống nhau ở mọi nơi và ở mọi thời điểm Gia đình không chỉ khác nhau giữa các quốc gia và nền văn hóa mà thậm chí còn không giống nhau từ gia đình này đến gia đình khác ngay trong một nền văn hóa (Lê Ngọc Văn, 2011, tr.31) Cho dù gia đình được được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, song tựu chung lại, các định nghĩa gia đình thường được xác định theo một trong hai cách tiếp cận, đó là cách tiếp cận vi
mô hoặc vĩ mô
Theo cách tiếp cận vĩ mô, gia đình được định nghĩa với tư cách là một thiết chế xã hội, một đơn vị cơ sở của xã hội, thực hiện những chức năng xã
hội nhất định, trước hết là chức năng tái sản xuất ra con người Trong cuốn Từ
điển xã hội học của G Endrweit và G Trommsdorff (Nhà xuất bản Thế giới,
2002), gia đình là một nhóm thuộc loại đặc biệt vì nó biểu hiện một cấu trúc vai trò nhất định (bố, mẹ, con gái, con trai, cháu, em…), với nó thì sự tách biệt về giới tính và thế hệ là tiêu chí của cơ cấu gia đình (một hay đa thế hệ; nam/nữ) và qua đó chuyển hóa một quan hệ hợp tác và đoàn kết rất đặc biệt
mà ở tất cả các xã hội đều tổ chức theo nghi lễ sự thành lập của nó Ngoài ra,
xã hội cũng trao cho nhóm đặc biệt này những chức năng rất đặc biệt (G.Endrweit và G.Trommsdorff, 2002: 640) Như vậy, gia đình là một nhóm
có cấu trúc và đảm nhận những chức năng nhất định trong xã hội
Theo cách tiếp cận vi mô, gia đình được định nghĩa với tư cách là một nhóm xã hội với những tiêu chí cụ thể để nhận diện nó Nguyễn Đình Tấn, Lê
Tiêu La (1999) đã đưa ra định nghĩa tương đối ngắn gọn: “Gia đình là một
nhóm xã hội nhỏ đặc thù, có đặc trưng cơ bản là được thiết lập trên cơ sở của hôn nhân mà từ đó hình thành các quan hệ huyết thống ruột thịt giữa các thành viên” (Nguyễn Đình Tấn, Lê Tiêu La, 1999, dẫn theo Lê Ngọc Văn,
2011…) Tuy nhiên, định nghĩa này tương đối hẹp vì chỉ hướng vào khía cạnh
Trang 25sinh học của gia đình Tổ chức UNESCO của Liên hiệp quốc năm 1994 đưa
ra định nghĩa: “Gia đình là một nhóm người có quan hệ họ hàng, cùng sống
chung và có ngân sách chung” (dẫn theo Nguyễn Linh Khiếu, 2003:33) Cục
Điều tra dân số Mỹ cung cấp khái niệm gia đình là “hai hoặc hơn hai người,
bao gồm chủ hộ, có quan hệ với nhau bởi huyết thống, hôn nhân hoặc quan
hệ với nhau bởi huyết thống, hôn nhân hoặc quan hệ con nuôi (nghĩa dưỡng)
và những người sống cùng với nhau như một hộ gia đình”
năm 2000, gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân,
quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ
và quyền giữa họ với nhau theo quy định của Luật này Như vậy, có thể rút ra
một số tiêu chí xác định gia đình: là một nhóm người (có từ hai người trở lên), có quan hệ với nhau bởi hôn nhân, huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, có đặc trưng giới tính qua quan hệ hôn nhân, cùng chung sống và có
ngân sách chung Luận văn này sử dụng định nghĩa gia đình: “Gia đình là
một nhóm người, có quan hệ với nhau bởi hôn nhân, huyết thống hoặc quan
hệ nghĩa dưỡng, có đặc trưng giới tính qua quan hệ hôn nhân, cùng chung sống, có ngân sách chung”(Nguồn: Lê Ngọc Văn (2011), Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội) Trong đó,
luận văn chú ý đến các khía cạnh của gia đình như: mối quan hệ huyết thống hoặc nghĩa dưỡng, cùng chung sống
Gia đình đang thực hiện các chức năng cơ bản sau:
Chức năng sinh đẻ, tái sản xuất ra con người
Chức năng kinh tế
Chức năng xã hội hóa
Chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm lý, tình cảm
*Thiết chế gia đình truyền thống
Trang 26Thiết chế gia đình truyền thống được xây dựng dựa trên một hệ thống chuẩn mực quy định hết sức chặt chẽ và có tính ràng buộc về vị trí, vai trò của từng thành viên trong gia đình, và về cơ bản nó mang tính chất cưỡng chế, được tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác trong một xã hội nông nghiệp ít biến đổi Những con người sinh ra và lớn lên đã được thiết chế gia đình cung cấp cho những vai trò có sẵn Các cá nhân không bao giờ tự hỏi tại sao họ phải hành động theo những chuẩn mực đó mà cần phải học hỏi để thực hiện tốt vai trò của mình, đáp ứng mong đợi của mọi người Trong gia đình truyền thống, nhìn chung các cá nhân hầu như tuân thủ các chuẩn mực sẵn có, ít khi hành động đi ngược lại thiết chế Trong một xã hội chậm biến đổi, khép kín trong lũy tre làng, con người hầu như không có tiếp xúc và giao lưu văn hóa với xã hội bên ngoài, hành động theo chuẩn mực, được số đông chấp nhận bao giờ cũng mang lại cho cá nhân cảm giác yên tâm, an toàn và yên ổn Trong xã hội nông nghiệp truyền thống, gia đình hầu như là nơi duy nhất bảo đảm cuộc sống cho mỗi con người từ lúc sinh ra cho đến khi về già; nơi tiến hành lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất, nơi tình cảm được thỏa mãn Gia đình truyền thống là một cộng đồng sinh hoạt, cộng đống sản xuất, cộng đồng tình cảm và cộng đồng văn hóa Mỗi cá nhân không thể sống không có gia đình hoặc sống ngoài gia đình Xa cha mẹ, anh em, họ hàng, quê hương làng xóm là tổn thất khó có thể bù đắp được trong quan niệm của người Việt xưa Ý thức trách nhiệm, tính thần cộng đồng, sự hy sinh cho gia đình là tình cảm nảy sinh ở mỗi cá nhân đối với gia đình Tinh thần đó chi phối các mối quan hệ trong gia đình truyền thống, trong đó cá nhân hoàn toàn phụ thuộc vào gia đình Sự bền vững của thiết chế gia đình tạo nên truyền thống văn hóa và sự ổn định của gia đình, song nó cũng chứa đựng nhiều yếu tố lạc hậu, bảo thủ, cản trở việc tiếp nhận những giá trị mới
Trong xã hội nông nghiệp truyền thống nếu hôn nhân là nơi bắt đầu của gia đình thì cha mẹ là người quyết định hôn nhân của con cái và con cái tuân
Trang 27theo sự sắp đạt hôn nhân của cha mẹ Ngoài việc sắp đặt hôn nhân, cha mẹ cũng quyết định nghề nghiệp và phân chia tài sản cho con Con cái là nguồn của cải, là sức mạnh vật chất và tinh thần của tổ chức gia đình tự cấp, tự túc
và là chỗ dựa duy nhất của cha mẹ khi về già, càng đông con nhiều cháu cuộc sống của người già càng được bảo đảm
* Thiết chế gia đình hiện đại
Dưới tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hệ thống các giá trị, chuẩn mực, niềm tin, thói quen, các vai trò được thiết lập và hình thành trong thiết chế gia đình truyền thống đang có xu hướng biến đổi để thích nghi với gia đình trong xã hội hiện đại.Công nghiệp hóa tạo ra tính đa dạng của gia đình, sự giải phóng cá nhân, đề cao quyền của phụ nữ và trẻ em trong gia đình, nhưng đồng thời công nghiệp hóa cũng đặt gia đình trước những thách thức mới đó là sự không bền vững của liên minh hôn nhân, sự tan rã của gia đình với tư cách là một thể chế
Cùng với việc tách chức năng sản xuất ra khỏi chức năng tiêu dùng, phân đôi con người thành người sản xuất và người tiêu dùng, xã hội công nghiệp cũng tách nơi ở ra khỏi nơi làm việc Trong quá khứ, mỗi gia đình hầu như là một đơn vị sản xuất độc lập Cuộc sống gia đình và cuộc sống lao động hòa quyện vào nhau, nơi ở cũng là nơi làm việc Con người gắn bó với ngôi nhà, ruộng đất và thiên nhiên nơi họ sinh ra, lớn lên và ít khi rời bỏ môi trường tự nhiên đó Quá trình phi nông nghiệp hóa đã di chuyển ngày càng nhiều lao động từ đồng ruộng và nhà ở sang nhà máy, xí nghiệp, cơ quan Sự hấp dẫn, cuốn hút, khả năng kiếm sống dễ dàng hơn và cơ hội thành đạt ở các thành phố và khu công nghiệp đã làm cho luồng di cư nông thôn- đô thị ngày càng tăng lên
Tất cả những điều này đã tác dộng dữ dội đến đời sống gia đình, làm thay đổi cấu trúc gia đình, những mối quan hệ và những chức năng bên trong gia đình
Trang 28Trong nghiên cứu này, điều chúng tôi đặc biệt quan tâm ở đây là gia đình với tư cách là một nhóm xã hội, với các mối quan hệ bên trong của nó,
sự tác động qua lại trong nội bộ của các thành viên để thoả mãn những nhu cầu riêng tư của họ
*Khái niệm giá trị, chuẩn mực xã hội
+Theo Bách Khoa toàn thư quốc tế về xã hội học giá trị là những tiêu chuẩn để đánh giá thế nào là tốt hay xấu, phải hay trái, đẹp đẽ hay xấu xa" Theo Bách Khoa toàn thư về xã hội học: "Giá trị là những điều kiện thiết yếu trong việc đánh giá mà thiếu nó mọi sự đánh giá, nhận xét đều trở nên vô nghĩa"
Dưới góc độ xã hội học, giá trị có tính chất hướng dẫn và lựa chọn Vì vậy, khi nó chỉ ra những cái gì là phù hợp, cái gì không phù hợp với cá nhân, với cộng đồng, với xã hội thì đồng thời chúng cũng chấp nhận những kiểu hành vi nào đó và phủ nhận những hành vi khác Giá trị được thực hiện thông qua hành động của các vai trò xã hội và vì vậy giá trị quy định tính thống nhất của các vai trò xã hội, kiến tạo "sự đồng thuận xã hội"
+Chuẩn mực: theo từ điển xã hội học: "chuẩn mức là quy tắc hành vi có giá trị phổ biến mà việc tuân thủ nó được những thành viên khác của xã hội trông đợi và thừa nhận"
Như vậy, chuẩn mực (theo nghĩa bóng) là phép tắc, quy phạm phải theo trong ứng xử của con người trong xã hội, hay nói cách khác Chuẩn mực là hệ thống những quy định cụ thể, những quy tắc của đạo đức hoặc chờ đợi của xã hội đối với hành vi mà mọi người phải tuân theo Những quy tắc và chờ đợi
xã hội đó định rõ mọi người nên làm việc nào không nên làm việc nào và cần phải xử sự như thế nào, trong các tình huống xã hội khác nhau Chúng vừa ra lệnh (chúng quy định mọi người phải làm gì) vưa cấm đoán (quy định mọi người không được làm gì)
Trang 29Theo quan niệm xã hội học dưới góc độ văn hoá, chuẩn mực xã hội là những cách thức hành động tồn tại và tư duy được xác định, phê chuẩn về mặt
xã hội Sự xác định cũng như sự phê chuẩn ấy được thể hiện trong từng nấc thang hay mỗi chiều của kinh nghiệm sống Nó là khả biến trong phạm vi nền văn hoá hay giữa các nền văn hoá (mặc dù nó mang tính nghĩa vụ hàm ẩn)
Trong luận văn, chúng tôi xem xét những giá trị chuẩn mực về con cái
và giáo dục con cái, về hôn nhân và tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời và về những thói quen sử dụng các dịch vụ giải trí, thưởng thức nghệ thuật của người dân tại địa bàn nghiên cứu
* Khái niệm về biến đổi gia đình
Biến đổi như người ta nói, là quy luật của đời sống và chìa khoá của tiến
bộ Nhưng không phải sự biến đổi nào cũng đồng nghĩa với tiến bộ, cũng như vận động không phải phải bao giờ cũng tiến lên phía trước Điều này cũng đúng với những gì đang diễn ra trong đời sống gia đình mà chúng ta có thể ít nhiều quan sát và cảm nhận được
Biến đổi gia đình là quá trình chuyển đổi từ hình thái gia đình này sang hình thái gia đình khác được đặc trưng bởi sự thay đổi trong cấu trúc và chức năng của gia đình
Nghiên cứu về biến đổi gia đình là một lĩnh vực rất khó vì xu hướng biến đổi không phải bao giờ cũng được xác định một cách rõ ràng Do đó, khi nghiên cứu về biến đổi gia đình cần tiếp cận từ quan điểm lịch sử Nghĩa là cần phải xác định một thời điểm mốc để làm căn cứ đo lường, đánh giá những đặc điểm riêng biệt của gia đình hiện nay với những đặc điểm của quá khứ
Từ đó có thể thấy được quá trình biến đổi diễn ra như thế nào và biến đổi cái
gì Tuy nhiên, hiểu được bản chất và những vấn đề liên quan đến biến đổi gia đình Việt Nam là cơ sở mở ra những triển vọng nghiên cứu so sánh ở cấp độ lớn hơn và là cơ sở để đưa ra những luận chứng khoa học và thực tiễn cho việc hoạch định chính sách liên quan đến gia đình
Trang 30Khi nghiên cứu về sự biến đổi đời sống gia đình trong quá trình đô thị hóa với trường hợp cụ thể là xã Lộc Hòa, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, thời điểm mốc để làm căn cứ đo lường là khi Thành phố Nam Định đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận là đô thị loại II vào năm 1998 (Quyết định số 183/1998/QĐ-TTg ngày 24/9/1998) Chương trình phát triển đô thị thành phố Nam Định giai đoạn 2011- 2015, tầm nhìn đến năm 2025 được duyệt xây dựng kế hoạch, dự án đầu tư cho từng giai đoạn 5 năm, cân đối các nguồn vốn đảm bảo yêu cầu đầu tư Phát triển mạng lưới giao thông đường bộ theo hướng: hoàn chỉnh các tuyến đường cao tốc, quốc lộ, vành đai (đường cao tốc Nam Đi ̣nh - Phủ Lý, Q10, QL21) Xây dựng mới, nâng cấp các tuyến đường chính đô thị; phát triển đường giao thông kết nối các khu dân cư, khu
đô thị với hệ thống đường chính thành phố, đường giao thông khu vực ngoại thành Phát triển dịch vụ vận tải hành khách công cộng theo hướng văn minh, hiện đại Xây dựng hệ thống kho tàng, bến bãi, ga- cảng để phục vụ vận tải hàng hóa
1.1.2 Các lý thuyết
* Thuyết chức năng cấu trúc của Talcott Parsons
Theo nhà xã hội học Mỹ Talcott Parsons, hai chức năng chính của gia đình trong xã hội công nghiệp là xã hội hóa ban đầu đối với trẻ em và ổn định nhân cách người lớn Xã hội hóa ban đầu là quá trình mà trẻ em được học hỏi các chuẩn mực văn hóa của xã hội trong đó chúng được sinh ra Điều này xảy
ra trong những năm đầu của đứa trẻ, cho nên gia đình là môi trường quan trọng nhất đối với sự phát triển nhân cách của con người Chức năng cơ bản thứ hai không thể thay thế được của gia đình là ổn định nhân cách người lớn Gia đình là nơi con người có thể nghỉ ngơi thư giãn, thoát ra khỏi những stress và những áp lực của thể giới bên ngoài và cảm thấy thoải mái Gia đình đem lại một môi trường ấm cúng, tình yêu và sự tin tưởng, nơi con người cá nhân tự do hành động theo cách của mình
Trang 31Parsons coi gia đình hạt nhân là một đơn vị thích hợp nhất đáp ứng được đòi hỏi của xã hội công nghiệp Trong gia đình hạt nhân, mỗi người có thể làm việc ở bên ngoài gia đình còn người kia chăm lo gia đình và trẻ em Người đàn ông có vai trò “công cụ”, là trụ cột gia đình và kiếm tiền cung cấp cho gia đình anh ta Hoạt động này tạo ra những căng thẳng và những mối lo
âu, vì vậy, anh ta cần phải quay về tổ ấm của mình, nơi anh ta được chăm sóc, chia sẻ và thông cảm Người đáp ứng cho những nhu cầu này là những người phụ nữ, người vợ, giữ vai trò biểu cảm Trong khi chăm sóc cho cả chồng và con, người phụ nữ thể hiện sự ấm áp, tình yêu và sự an ủi, và làm dịu đi những căng thẳng, ức chế gây ra bởi thê giới bên ngoài Đây là những vai trò
bổ sung cho nhau
Quan điểm cấu trúc chức năng coi gia đình là một đơn vị trung gian giữa
cá nhân và xã hội Gia đình đáp ứng những nhu cầu phát triển của cá nhân cả
về thể chất và tinh thần Gia đình là nơi thực hiện các chức năng thiết yếu cho
cả cá nhân và xã hội Khi cấu trúc gia đình thay đổi thì mô hình gia đình cũng biến đổi phù hợp để đáp ứng các nhu cầu xã hội
Vận dụng thuyết chức năng cấu trúc vào giải thích cho sự biến đổi đời sống của người dân ở khu vực đô thị hóa với trường hợp cụ thể là xã Lộc Hòa- thành phố Nam Định cần phân tích ở hai khía cạnh: Một là, sự biến đổi chức năng gia đình bao gồm bốn yếu tố: biến đổi chức năng kinh tế; biến đổi chức năng sinh đẻ; biến đổi chức năng xã hội hóa và biến đổi chức năng tâm lý- tình cảm của gia đình Hai là, sự biến đổi cấu trúc gia đình bao gồm sự biến đổi số thế hệ trong gia đình; sự biến đổi trong quan hệ vợ chồng; sự biến đổi trong quan hệ giữa cha mẹ và con cái
*Thuyết hành động xã hội
Các tác giả nổi tiếng của thuyết này như Pareto, Weber, Parson,… đều coi hành động xã hội là cốt lõi của mối quan hệ con người - xã hội, là cơ sở của đời sống xã hội của con người Theo Weber, hành động xã hội là hành vi
Trang 32được chủ thể gắn cho một ý nghĩa chủ quan nhất định Và cái mà Weber gọi
là "ý nghĩa chủ quan" chính là ý thức , là hành động có ý thức, chủ thể hiểu được mình định thực hiện hành động gì? và sẽ thực hiện nó như thế nào? khác hẳn với những hành động bản năng sinh học
Hành động có tính duy lý, nghĩa là phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của chủ thể Các cá nhân một mặt tuân theo hệ giá trị chuẩn mực của xã hội, mặt khác vẫn hành động rất khác nhau, chứ không nhất thiết theo khuôn mẫu cứng nhắc
*Thuyết biến đổi xã hội
Biến đổi xã hội là sự thay đổi xã hội từ một ngưỡng phát triển này sang một ngưỡng phát triển khác (cao hơn, hoặc thấp hơn) về chất, xét dưới góc độ tổng thể các thiết chế và cấu trúc xã hội
Lý thuyết tiến hoá: đại diện tiêu biểu là Auguste Comte (1798 – 1857) nhà xã hội học Pháp và HebertSpencer (1820 - 1883), nhà xã hội học người Anh Các ông cho rằng: Biến đổi xã hội là sự tăng trưởng và phát triển của cải vật chất xã hội (vật chất và trí tuệ), cùng năng suất lao động xã hội, đó là quá trình tiến hoá tất yếu của mọi xã hội cùng với quá trình tích luỹ tri thức và khoa học công nghệ của con người
Theo Auguste Comte: xã hội sẽ tuần tự biến đổi từ trạng thái thần học, đến trạng thái siêu hình, rồi tiến tới trạng thái thực chứng Còn Hebert Spencer thì lại cho rằng: xã hội sẽ phát triển từ một xã hội có cấu trúc và trình
độ đơn giản hơn tiến dần lên các mức phát triển phức tạp Trong quá trình này các cá thể, phân hệ, sắc tộc, dân tộc yếu kém không thích nghi được với tiến trình phát triển xã hội sẽ bị tiêu vong
Lý thuyết chức năng: Theo thuyết này, sự biến đổi xã hội là do sự biến đổi các thiết chế xã hội, bình thường các thiết chế phát triển cân đối, hài hoà
và tạo ra sự phát triển ổn định của xã hội Nhưng khi xảy ra sự biến đổi đột ngột của một thiết chế nào đó, nó sẽ kéo theo sự biến đổi của toàn xã hội
Trang 33Lịch sử đã chứng minh, do sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ mà loài người đã trải qua những biến đổi mang tính phát triển to lớn
Quá trình đô thị hóa nông thôn hiện nay cũng không nằm ngoài quy luật của sự biến đổi Vận dụng thuyết biến đổi vào đề tài, ta thấy gia đình Việt Nam luôn biến đổi và phát triển theo sự biến đổi của xã hội Từ gia đình truyền thống sang gia đình hiện đại với sự kết hợp cả bản sắc văn hóa trong nước và văn hóa ngoại lai.Do đó, nghiên cứu sự biến đổi đời sống của gia đỡnh người dân xã Lộc Hòa phải được đặt trong sự biến đổi chung của xã hội, của truyền thống và hiện đại, của phong tục tập quán và khoa học kỹ thuật…
để có được những đánh giá về vấn đề một cách sâu sắc hơn
*Thuyết nhu cầu của Maslow
Nhu cầu vừa mang tính sinh học( đáp ứng đòi hỏi của sự phát triển sinh học của con người), vừa mang tính xã hội( nhu cầu được đáp ứng nhờ nền sản xuất xã hội) bị quy định bởi văn hóa cộng đồng
Theo thang nhu cầu của Maslow, ông đã phân cấp nhu cầu con người thành 5 bậc:
Nhu cầu tự hoàn thiện
Nhu cầu uy tín
Nhu cầu xã hội
Nhu cầu an toàn
Nhu cầu sinh học
Trang 34Trong nấc thang nhu cầu của Maslow: nhu cầu thấp nhất là nhu cầu sinh học như: ăn, mặc, mua sắm nhu cầu cao nhất là nhu cầu tự hoàn thiện: nhu cầu tự thể hiện và tự khẳng định Nhu cầu của con người cần được đáp ứng lần lượt từ nhu cầu thấp đến nhu cầu cao hơn Do đó, khi nhu cầu sinh học được đáp ứng thì con người có mong muốn được thỏa mãn nhu cầu về mặt tinh thần
Vận dụng lý thuyết nhu cầu của Maslow vào đề tài nghiên cứu cho thấy dưới tác động của đô thị hóa, đời sống vật chất của con người ngày càng được cải thiện, người dân có mong muốn được thỏa mãn nhu cầu cao hơn về mặt tinh thần
1.1.3 Quan điểm của Nhà nước về gia đình
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt Hạt nhân của xã hội là gia đình" Tư tưởng Hồ Chí Minh đã được Đảng và Nhà nước quán triệt trong Nghị quyết của các kỳ Đại hội Đảng và trong các
bộ luật liên quan, với các nội dung hướng tới việc củng cố vị trí, vai trò và chức năng của gia đình trong sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội đất nước Lịch sử phát triển xã hội loài người đã chứng minh những biến đổi về cơ cấu
và chức năng của gia đình luôn gắn liền với sự thay đổi về kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia Cách mạng Tháng Tám thành công năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, đánh dấu một thời kỳ mới trong quá trình phát triển xã hội của dân tộc ta Quyền bình đẳng nam, nữ và chế độ hôn nhân một vợ một chồng được Nhà nước công nhận và qui định tại Hiến pháp đầu tiên của nước ta năm 1946 và trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959, thể hiện sự tiến bộ xã hội, góp phần thúc đẩy việc hình thành và từng bước hoàn thiện quyền dân chủ trong quan hệ gia đình Việt Nam
Trang 35Sau gần 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đất nước đã đạt được những thành tựu quan trọng trong việc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho mọi gia đình Kinh
tế hộ gia đình ngày càng phát triển và thực sự đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Phong trào xây dựng đời sống văn hoá mới ở cơ sở phát triển, góp phần gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Công tác xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm đã giúp cho hàng triệu gia đình thoát nghèo
và nâng cao mức sống Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ cho các gia đình đặc biệt khó khăn, gia đình có công với cách mạng, gia đình ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn Công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình, công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần xây dựng gia đình hạnh phúc và xã hội ngày càng ổn định, phát triển Hiện nay, gia đình Việt Nam đang được xây dựng với những giá trị nhân văn tiến bộ, tiêu biểu là bình đẳng giới và quyền trẻ em Vai trò và quyền của người phụ nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội ngày càng được nâng cao Quyền trẻ em đã được pháp luật thừa nhận, đang được gia đình và
xã hội thực hiện khá hiệu quả Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định nguyên tắc hôn nhân bình đẳng và tiến bộ Quá trình đổi mới càng củng cố niềm tin và trách nhiệm của xã hội và mỗi cá nhân đối với gia đình Việc thành lập cơ quan quản lý nhà nước về gia đình năm 2002 đã đánh dấu một bước chuyển mới trong nhận thức về gia đình và công tác gia đình Từ năm
2001, ngày 28/6 trở thành Ngày Gia đình Việt Nam càng khẳng định vai trò của gia đình đối với xã hội và xã hội đối với gia đình
Ở Việt Nam, nhà nước có một vai trò đặc biệt trong sự biến đổi của gia đình Trong nhiều văn kiện chính thức của Đảng và Nhà nước, gia đình được
đề cập tới như một điều kiện bảo đảm sự thành công của các nhiệm vụ cách mạng: “Gia đình là tế bào của xã hội, có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp
Trang 36xây dựng chế độ xã hội mới, nền kinh tế mới Đảng, Nhà nước và các đoàn thể quần chúng cần đề ra phương hướng và chính sách và có biện pháp tổ chức thực hiện về xây dựng gia đình văn hóa mới, bảo đảm hạnh phúc gia đình, bảo đảm sinh đẻ có kế hoạch và nuôi dạy con ngoan, tổ chức tốt cuộc sống vật chất, văn hóa gia đình” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987;95); “Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc” (Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000) Luật hôn nhân và gia đình ra đời đã tác động đến sự thay đổi các mối quan hệ bên trong gia đình cũng như mối quan hệ giữa gia đình với tổ chức xã hội bên ngoài Trước hết
nó khẳng định quyền bình đẳng nam nữ trong quan hệ hôn nhân và gia đình, chấm dứt về nguyên tắc chế độ đa thê do xã hội cũ để lại
Chính sách hạn chế sinh đẻ là một trong những chính sách lớn của Nhà nước có tác động trực tiếp và hiệu quả đến biến đổi quy mô gia đình, số con của cặp vợ chồng, quan niệm vể giá trị con cái, về quy mô và chất lượng dân
số quốc gia Việc giảm số con và giảm quy mô gia đình cũng giúp cho các bậc cha mẹ có điều kiện đầu tư chăm sóc và giáo dục trẻ em tốt hơn, do đó góp phần cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cao hơn cho gia đình và xã hội
Sau khi ký hai Công ước: Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ (năm 1980) và Công ước về quyền trẻ em (năm 1990), Chính phủ đã phê duyệt các Kế hoạch hành động quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2000 và 2010; các chương trình hành động quốc gia về trẻ
em Việt Nam năm 1990- 2000, 2001- 2010 và thông qua Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (năm 1991) và sửa đổi vào năm 2004 Những văn bản pháp lý này có tác động sâu sắc đến gia đình Vai trò của phụ nữ và nam giới
Trang 37trong gia đình đã có sự cải thiện Người vợ và người chồng đều có quyền tham gi các quá trình sản xuất và hoạt động xã hội, bình đẳng về cơ hội phát triển, có tiếng nói và có quyền quyết định như nhau đối với những công việc quan trọng và tài sản chung và cùng nhau chia sẻ công việc gia đình Sự thay đổi trong quan niệm của các cặp vợ chồng về giá trị của đứa con Cha mẹ đầu
tư cho con cái của họ học càng cao càng tốt mà không phân biệt con trai hay con gái
Gần đây nhất, trong Chiến lược xây dựng gia đình Việt Nam giai đoạn 2005- 2010 Nhà nước cũng nêu rõ vai trò của gia đình trong việc bảo đảm thành công của cách mạng trong giai đoạn mới: “Gia đình là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự phát triển bền vững của xã hội, sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Xây dựng gia đình Việt Nam ít con, no ấm, tiến bộ, bình đẳng, hạnh phúc là động lực của chiến lược phát triển kinh tế- xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.”
1.2 Cơ sở thực tiến: Một số đặc điểm về tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa,
giáo dục của xã Lộc Hòa, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định
* Đặc điểm tự nhiên và dân cư
Xã Lộc Hòa, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định nằm ở cửa ngõ của thành phố, cách trung tâm thành phố 3 km Phía Bắc của xã giáp với xã Mỹ Phúc- huyện Mỹ Lộc Phía Tây của xã giáp với hai xã: xã Mỹ Hưng, xã Mỹ Thành- huyện Mỹ Lộc Phía Nam giáp với xã Mỹ xá thuộc thành phố Phía Đông giáp với hai phường: phường Cửa Bắc và phường Lộc Vượng của thành phố
Toàn xã có tổng diện tích tự nhiên là 693 ha, trong đó đất nông nghiệp
là 260 ha, đất công nghiệp là 100 ha, còn lại 233 ha là đất ở đô thị và đất ở nông thôn
Trang 38Dân số gồm 8257 người Tổng số hộ là 2216 hộ Xã gồm có 3 thôn với
13 xóm Trong đó, thôn Tân An có 3 xóm, thôn Phú Ốc có 5 xóm và thôn Lương xá có 5 xóm
Xã Lộc Hòa đang nằm trong khu quy hoạch đô thị mới của thành phố Chạy dọc xã là tuyến đường quốc lộ 21A, tuyến đường sắt Bắc Nam, có vị trí rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế- văn hóa- xã hội của thành phố Đặc biệt việc mở mới tuyến đường quốc lộ 10 có những tác động không nhỏ tới đời sống của người dân nơi đây Sự phát triển của những tuyến đường giao thông chính đã góp phần tạo nên sự phân tầng xã hội của xã Tuy nhiên, xã Lộc Hòa vẫn là một xã có đại bộ phận dân cư sinh sống bằng nông nghiệp
*Đặc điểm về kinh tế
Lộc Hoà trước đây vốn là một xã thuần nông và đang chịu nhiều tác động của quá trình đô thị hóa nên cơ cấu ngành nghề đang có nhiều sự chuyển dịch Với lợi thế tự nhiên và được sự đầu tư mạnh của thành phố, nhiều nhà máy công nghiệp được xây dựng mới, hiện đại như khu công nghiệp Hòa Xá, khu đô thị mới Hòa Vượng, công ty chế biến lâm sản thu hút nhiều lực lượng lao động trong và ngoài xã, đặc biệt là các lực lượng lao động trẻ
-Sản xuất nông nghiệp: Theo báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội năm 2012 của xã Lộc Hòa, thành phố Nam Đinh, tỉnh Nam Định, tổng diện tích gieo cấy cả năm là 324 ha Năng suất lúa đạt 40.8 tạ/ha Tổng sản lượng thóc thu được là 1280 tấn
-Sản xuất tiểu thủ công nghiệp được duy trì và phát triển có mức tăng trưởng cao tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất kinh tế, giải quyết việc làm cho người lao động
Dịch vụ phát triển mạnh, đa dạng phong phú Nhiều nhà nghỉ, nhà hàng, các quán Karaoke, internet có quy mô được xây mới, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân
Trang 39*Văn hóa, xã hội, giáo dục
Chất lượng các cấp học được nâng lên, tỷ lệ tốt nghiệp chuyển cấp, chuyển lớp đạt hiệu quả cao hơn so với năm trước Ở cả 3 trường: trung học
cơ sở , trường tiểu học, trường mầm non đều đạt danh hiệu trường tiên tiến xuất sắc
Các hoạt động văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao phát triển mạnh Đội văn nghệ xung kích của xã, đoàn thanh niên thu hút nhều thành viên trong xã tham gia Xã cũng thường xuyên tổ chức văn nghệ, mời những đoàn biểu diễn về phục vụ nhân dân Nhiều sân chơi cho thanh thiếu niên và học sinh đã đáp ứng phần nào nhu cầu hoạt động thể thao, giải trí của lớp trẻ, thu hút đông đảo lớp trẻ tham gia, góp phần tạo không khí sôi động, lành mạnh, giảm thiểu những tiêu cực, tệ nạn xã hội
Công tác xây dựng làng văn hóa cũng đạt được nhiều kết quả tốt đẹp.Các hủ tục ma chay, cưới xin được bãi bỏ, đời sống vật chất tình thần của nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao rõ rệt
Chương 2: Tác động của đô thị hóa và sự biến đổi đời sống của người dân xã Lộc Hòa, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định hiện nay
2.1 Tác động của đô thị hóa tới sự phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam hiện nay
Đô thị hóa là một tất yếu và qui luật khách quan: Năm 1800, mức độ đô thị hóa trên thế giới đạt 3%; năm 1900 là 14%, năm 1990 là 50%, năm 2000
là 55% và hiện nay khoảng 60% Như vậy mỗi năm ở thế kỷ 20, mức độ đô thị hóa tăng trung bình 0.41%, gấp 3,7 lần so với thế kỷ trước
Trong những năm đầu của thế kỷ 20, đô thị hóa diễn ra chủ yếu ở Châu
Âu và Bắc Mỹ, còn cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 thì đang diễn ra mạnh mẽ ở
Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Việt Nam v.v…
Trang 40Báo cáo “Đánh giá đô thị hóa ở Việt Nam” của Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam ngày 5/4/2012 cho biết: Việt Nam là quốc gia có tốc độ
đô thị hóa cao nhất Đông Nam Á, khoảng 3,4%/năm Tỷ lệ đô thị hóa ở Việt Nam năm 2000 mới là 24,5%; năm 2005 là 27,3%; năm 2010 là 30,4% Nếu năm 1986, tỉ lệ dân cư sống tại đô thị Việt Nam mới 19% (khoảng 11,8 triệu người) thì đến năm 2010 đã tăng lên 30,5% (khoảng 26,3 triệu người) Hiện nay nước ta có khoảng 755 đô thị Theo Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trịnh Đình Dũng, cho biết đến năm 2015, tỷ lệ đô thị hóa nước ta đạt khoảng 38%, cả nước có khoảng trên 870 đô thị các loại, tăng khoảng 125 đô thị so với hiện nay Tốc độ đô thị hóa tăng nhanh như vậy, không chỉ đặt ra việc giải quyết nhiều vấn đề phức tạp như giao thông, chất lượng sống cho người dân đô thị,
mà còn nhiều vấn đề khác liên quan đến biến đổi qui mô, cơ cấu gia đình cũng như các mối quan hệ, giá trị xã hội của gia đình…
Đô thị hoá đã góp phần tạo nên những biến đổi nhiều mặt đối với đời sống gia đình nông thôn, với sự thúc đẩy sự chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, cải thiện mức sống, tạo thêm những việc làm mới, giảm lao động nông nghiệp
và tăng lao động phi nông nghiệp Gia đình là thành tố cơ bản của cấu trúc xã hội và thực hiện chức năng của nó để duy trì sự thích nghi và ổn định của xã hội Trong bối cảnh xã hội Việt Nam bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa, toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế thế giới, nhiều chuyển biến lớn lao đã xảy ra, tất yếu khiến quy mô gia đình truyền thống không còn thích nghi được với hoàn cảnh xã hội mới Nền kinh tế thị trường, sự du nhập của các nền văn hóa nước ngoài đã làm cho xã hội đổi thay từng ngày Sự đổi thay ấy diễn ra cả trong quan niệm của con người, chẳng hạn, ngày nay sự bình đẳng đã được đề cao hơn, những chuẩn mực lạc hậu cũng được loại bỏ nhằm hướng tới một xã hội tiến bộ hơn Đáng kể nhất là việc giải phóng phụ nữ: họ được đối xử bình đẳng hơn và có nhiều điều kiện để phát triển, nâng