Bắt nguồn từ lý do trên, tác giả đã chọn đề tài "Sự biến đổi cơ cấu nữ tội phạm trong thời kỳ đổi mới ở đô thị " nghiên cứu trường hợp nữ tội phạm tại Quận Hoàn Kiếm Hà Nội với hy vọng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HOÀNG THỊ NGA
Sự biến đổi cơ cấu nữ tội phạm trong thời
kỳ đổi mới ở đô thị
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC Người hướng dẫn: TS NGUYỄN AN LỊCH
HÀ NỘI - 2003
Trang 2Một số quy ước sử dụng trong luận văn
Trích dẫn tài liệu tham khảo: Các trích dẫn tài liệu tham khảo được khi trong ngoặc vuông như sau: [ ] Trong ngoặc vuông này, con số thứ nhất, trước dấu phảy là con số tài liệu được ghi theo thứ tự 1, 2, 3, 4 trong phần tài liệu tham khảo ở trang 112 của luận văn; trong trường hợp cần thiết, có thể có con số thứ hai, sau dấu phảy, là số trang trong tài liệu đó Ví dụ: [5, tr.243] có nghĩa là tài liệu số 5 trong phần tài liệu tham khảo, trang 243
Trang 3MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 16
Trang 41.3.6 Khái niệm cơ cấu tội phạm 30
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG CƠ CẤU NỮ TỘI PHẠM TRONG
THỜI KỲ ĐỔI MỚI Ở ĐÔ THỊ
34
2.1 Khái quát đặc điểm kinh tế - xã hội và tình hình tội phạm
trong thời kỳ đổi mới
34
2.1.1 Khái quát đặc điểm kinh tế - xã hội trong thời kỳ đổi mới 34 2.1.2 Khái quát đặc điểm tình hình tội phạm trong thời kỳ đổi mới 35 2.1.3 Vài nét về đặc điểm kinh tế-xã hội Quận Hoàn Kiếm-Hà Nội 41
2.2 Cơ cấu nữ tội phạm trong thời kỳ đổi mới từ 1986-2000 tại Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội
47
2.2.4 Sự biến đổi cơ cấu nữ tội phạm qua 15 năm đổi mới 73
CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ YẾU TỐ VÀ CÁC NGUYÊN NHÂN DẪN
TỚI SỰ BIẾN ĐỔI CƠ CẤU NỮ TỘI PHẠM
98
3.1 Một số yếu tố ảnh hưởng tới sự biến đổi cơ cấu nữ tội phạm 98
3.2 Các nguyên nhân dẫn tới sự biến đổi cơ cấu nữ tội phạm 103
Trang 53.2.2 Nguyên nhân chính trị xã hội 104
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Trang
Bảng 1 Cơ cấu tội phạm trong thời kỳ 1983 - 1985, 1990 - 1993 37 Bảng 2 Số liệu các vụ phạm pháp hình sự từ 1990 - 1999 38 Bảng 3 Số liệu các vụ án và số người phạm tội được điều tra, xử lý 39 Bảng 4 Cơ cấu tội phạm do phụ nữ gây ra từ 1987-1991 40
Bảng 6 Số lượng nam, nữ phạm tội giai đoạn 1986 - 1990 48 Bảng 7 Các tội danh của nữ giai đoạn 1986 - 1990 50 Bảng 8 Số con của nữ tội phạm giai đoạn 1986 - 1990 53
Bảng 10 Số lượng nam, nữ phạm tội giai đoạn 1991- 1995 57 Bảng 11 Các tội danh của nữ giai đoạn 1991 - 1995 58 Bảng 12 Số con của nữ tội phạm giai đoạn 1991 - 1995 61
Bảng 14 Số lượng nam, nữ tội phạm giai đoạn 1996 - 2000 65 Bảng 15 Các tội danh của nữ giai đoạn 1996 - 2000 66 Bảng 16 Số con của nữ phạm tội giai đoạn 1996 - 2000 69
Bảng 18 Số lượng nam, nữ phạm tội qua các giai đoạn 74 Bảng 19 Một số tội danh chủ yếu của nữ từ 1986 - 2000 76 Bảng 20 Độ tuổi của nữ tội phạm từ 1986 - 2000 89 Bảng 21 Tình trạng hôn nhân của nữ tội phạm từ 1986 - 2000 90
Bảng 23 Trình độ học vấn của nữ tội phạm từ 1986 - 2000 92 Bảng 24 Nghề nghiệp của nữ tội phạm từ 1986 - 2000 94
Trang 81.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Lý do chọn đề tài.
Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, đất nước
ta đang tiến hành công cuộc đổi mới trên tất cả các mặt của đời sống kinh tế xã hội Chiến lược đổi mới không chỉ giới hạn trong lĩnh vực kinh tế mà còn tác động đến toàn bộ các lĩnh vực khác của xã hội cũng như đời sống mỗi con người nói chung và người phụ nữ nói riêng
Cơ chế mới tạo nhiều cơ hội cho người phụ nữ phát triển ngang bằng với nam giới Tuy nhiên nó cũng làm cho một bộ phận phụ nữ gặp khó khăn hơn trong cả gia đình và ngoài xã hội Họ không có việc làm hoặc không đủ việc làm, thu nhập bình quân rất thấp, nhiều chị phải làm trong môi trường độc hại
và bị phân biệt đối xử
Chúng ta đang đứng trước một thực trạng đáng lo ngại Đó là sự thay đổi nhanh của hệ thống các giá trị xã hội, các chuẩn mực xã hội Điều đó đã kéo theo hàng loạt các vấn đề xã hội nảy sinh và phát triển như: vấn đề thất nghiệp,
tệ nạn xã hội và đặc biệt là vấn đề tội phạm
Theo thống kê của Bộ Công An từ năm 1986 - 1993 trên toàn quốc xảy
ra 791.448 vụ phạm tội (trung bình mỗi năm xảy ra 98.928 vụ phạm tội) trong
đó số người phạm tội là đối tượng lưu manh chuyên nghiệp chiếm tỷ lệ 27,91%, không có nghề nghiệp chiếm 32,54% Đặc biệt là số người phạm tội tăng đột biến từ 17,9% (1985) lên 32,54% (1986 - 1993), với các tội nghiêm trọng như giết người, cướp của, cố ý gây thương tích, bắt cóc trẻ em…
Trong bối cảnh đó, tình hình phụ nữ phạm tội cũng có chiều hướng tăng nhanh Nếu như giai đoạn 1980 - 1985 số phụ nữ bị đưa ra xét xử chỉ chiếm 3 - 4% tổng số người bị đưa ra xét xử, thì năm 1987 là 8,75%, năm 1989 là 12,3%, năm 1990 là 18,8% và 3 tháng đầu năm 1991 là 20,7%
Trang 9Ở đây phạm tội chủ yếu xảy ra là trộm cắp tài sản công dân chiếm 37,2%, sau đó đến lừa đảo chiếm 15,87% và tội giết người là 9,09%, tham ô chiếm tỷ lệ 8,54% và các tội khác [20, 22 - 24]
Ở các nhóm phụ nữ có nghề nghiệp khác nhau tỷ lệ phạm tội, hình thức phạm tội cũng khác nhau Đối với phụ nữ nông thôn tội mà họ hay phạm phải
là tội trộm cắp tài sản công dân chiếm 43,5%, sau đó đến lừa đảo (17%), giết người (12,5% - chủ yếu do ghen tuông tình ái và mâu thuẫn gia đình) Đối với phụ nữ công nhân tội mà họ hay phạm là lừa đảo (chiếm 9,6%), trộm cắp tài sản công dân chỉ chiếm 6,4% và tội Trộm cắp tài sản XHCN chỉ có 5,1% Đối với phụ nữ tiểu thương tội mà họ hay mắc phải là lừa đảo (chiếm 16,39) Nữ sinh viên học sinh ít phạm tội nhưng đã phạm tội thì chủ yếu là tham ô Đặc biệt ít phạm tội nhất là phụ nữ quân nhân và công an, nếu họ có phạm tội thì phần lớn là tội giết người (chiếm 66,6%) trong số các tội mà họ gây ra Tội
phạm phụ nữ cũng chủ yếu xảy ra ở các thành phố thị xã (chiếm 82%) và
miền núi (1,4%)
Nhìn chung, cơ cấu tội phạm xét theo giới tính trong những năm đổi
mới đã có sự thay đổi lớn Cụ thể là hiện tượng phạm tội của phụ nữ ngày
càng gia tăng và càng có thêm những hình thức phạm tội mới nguy hiểm như bắt cóc trẻ em, buôn bán trẻ em, tổ chức mại dâm
Thực tiễn trên đây đã và đang đòi hỏi sự quan tâm giải quyết của các cơ quan chức năng, các tổ chức xã hội và còn đòi hỏi các nhà khoa học tập trung nghiên cứu, phân tích để đề ra những giải pháp hữu hiệu
Bắt nguồn từ lý do trên, tác giả đã chọn đề tài "Sự biến đổi cơ cấu nữ
tội phạm trong thời kỳ đổi mới ở đô thị " (nghiên cứu trường hợp nữ tội phạm tại
Quận Hoàn Kiếm Hà Nội) với hy vọng qua hướng tiếp cận Xã hội học có thể
nhận diện được một cách chính xác, đề xuất được một số giải pháp hợp lý để
góp phần làm hạn chế tình hình phụ nữ phạm tội hiện nay
Trang 101.2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Còn Xã hội học, nghiên cứu tội phạm ở tầm vĩ mô (hành vi, tiểu môi trường, môi trường xã hội) để từ đó tìm hiểu thực trạng chung và cùng với tội phạm học đưa ra giải pháp Cách tiếp cận này rất quan trọng nhưng lại rất ít người quan tâm nghiên cứu
Vì vậy, trong luận văn này chúng tôi đã vận dụng hệ thống các lý thuyết, khái niệm của Xã hội học để nghiên cứu và thông qua đề tài tìm hiểu quy luật biến đổi cơ cấu tội phạm nữ ở các đô thị nói chung và tại Quận Hoàn Kiếm nói riêng
Hy vọng rằng nó sẽ góp một phần nhỏ vào hệ thống tri thức chuyên ngành Xã hội học: Xã hội học Tội phạm, Xã hội học Pháp luật
Trang 11- Mô tả và phân tích thực trạng sự biến đổi cơ cấu nữ tội phạm trong
thời kỳ đổi mới tại Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội
- Trên cơ sở đó, đưa ra các giải pháp, khuyến nghị nhằm phòng chống
hiện tượng này
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện tốt mục đích của đề tài, tác giả đặt ra các nhiệm vụ sau: Thứ nhất: Nhận diện được thực trạng sự biến đổi cơ cấu nữ tội phạm trong 15 năm đổi mới tại Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội (về số lượng, loại hình, thành phần, tính chất)
Thứ hai: Phân tích để thấy rõ các yếu tố ảnh hưởng tới sự biến đổi cơ cấu tội phạm nói chung và tội phạm nữ nói riêng
Thứ ba: Từ đó đề xuất các giải pháp, khuyến nghị nhằm phòng chống hiện tượng phạm tội của phụ nữ ở Hà Nội nói chung và ở Quận Hoàn Kiếm nói riêng
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Sự biến đổi cơ cấu nữ tội phạm trong thời kỳ đổi mới ở đô thị (Nghiên cứu trường hợp nữ tội phạm tại Quận Hoàn Kiếm – Hà nội)
- Giới hạn nội dung nghiên cứu
Sự biến đổi về số lượng, loại hình, thành phần và tính chất của nữ tội
Trang 12 Những người trực tiếp phạm vào các tội đã được quy định trong
Bộ luật Hình sự Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Cơ sở phương pháp luận
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử đóng vai trò
là nền tảng, là cơ sở phương pháp luận của toàn bộ quá trình nghiên cứu Nguyên tắc lịch sử cụ thể, khách quan, toàn diện luôn được quan tâm vận dụng
và tuân thủ một cách chặt chẽ Vận dụng phương pháp luận trong đề tài này chúng tôi đặt trong tiến trình ảnh hưởng của bối cảnh đất nước chuyển từ nền kinh tế quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường đến những biến đổi trong
cơ cấu nữ tội phạm
4.2 Các phương pháp cụ thể
4.2.1 Phương pháp thu thập thông tin, tài liệu:
Chúng tôi đã thu thập thông tin:
- Tài liệu viết: Uỷ ban Nhân dân TP Hà Nội, Uỷ ban Nhân dân Quận Hoàn Kiếm, Thành Hội phụ nữ, Quận Hội phụ nữ, Báo An Ninh Thủ Đô, Báo Công An Nhân dân
- Tài liệu thống kê: Toà án Nhân dân, Phòng Thống kê lưu trữ - UBND Quận Hoàn Kiếm
Trang 13- Gồm phỏng vấn sâu cùng các thông tin trên các phương tiện truyền
thông đại chúng
4.2.2 Phương pháp phân tích tài liệu
Thu thập các thông tin theo đối tượng và mục tiêu nghiên cứu đã đề ra theo yêu cầu của đề tài Nguồn tin bao gồm các bài báo, tạp chí chuyên ngành, các công trình nghiên cứu Các thông tin thu thập, được kế thừa và sử dụng một cách có chọn lọc, sáng tạo
4.2.3 Phương pháp chọn mẫu
- Cách chọn mẫu: chọn mẫu phi ngẫu nhiên
- Dung lượng mẫu: tỉ lệ 25% (theo từng năm) Ví dụ: 100 người chọn 25 người, 60 người chọn 15 người sau đó xem xét và phân tích các hồ sơ vụ án
Cụ thể từ năm 1986-1990: Chọn 67/269 bị can; Từ 1991-1995: Chọn 64/246 bị can; Từ 1996-2000: Chọn 98/394 bị can; Tổng số chọn 229/909 bị can Sau đó xử lý theo chương trình phần mềm SPSS
4.2.4 Phương pháp phỏng vấn sâu
Tiến hành phỏng vấn sâu nữ bị can (chủ yếu những người đã được tại ngoại) và nhân viên pháp lý để kết hợp với tài liệu viết, đưa ra giải pháp, khuyến nghị
Chúng tôi đã phỏng vấn sâu 15 cuộc Nữ bị can: 10 cuộc; Cán bộ thuộc
các cơ quan chức năng (Công An, Toà án, Hội phụ nữ): 5 cuộc
Trang 14Ngoài các phương pháp trên tác giả còn sử dụng các phương pháp hỗ trợ như phương pháp so sánh, phương pháp thống kê hình sự, phương pháp logic toán học, các phương pháp tâm lý…
Trang 155 KHUNG LÝ THUYẾT
Biến phụ thuộc: Cơ cấu nữ tội phạm trong thời kỳ đổi mới từ 1986 -
2000 tại Quận Hoàn Kiếm
ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ- XÃ HỘI
Trang 16- Loại hình: Các tội danh chủ yếu
- Thành phần: Các loại hình tội phạm theo đặc trưng nhân khẩu xã hội
- Tính chất: nghiêm trọng, ít nghiêm trọng
+ Cơ cấu nữ tội phạm: Biến đổi qua 15 năm đổi mới
Biến độc lập: Những đặc trưng nhân khẩu xã hội: Độ tuổi, tình trạng hôn
nhân, học vấn, nghề nghiệp của nữ tội phạm Hoạt động của các cơ quan pháp luật và các tổ chức xã hội trong việc phòng chống hiện tượng này
Biến can thiệp: Môi trường địa lý, kinh tế, văn hoá, xã hội
- Quá trình đô thị hoá, hiện đại hoá, hội nhập trong thời kỳ đổi mới
- Quá trình phân hoá giàu nghèo, tệ nạn xã hội trong thời kỳ quá độ từ nền kinh tế quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
6 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Chuyển đổi nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường có ảnh hưởng lớn tới sự biến đổi cơ cấu nữ tội phạm trong thời kỳ đổi mới ở đô thị
Sự biến đổi hệ thống giá trị, sự sai lệch chuẩn mực xã hội là những yếu tố chủ yếu làm gia tăng các loại tội khác nhau cũng như gia tăng số lượng phụ nữ phạm vào các tội này
Sự khác biệt về giới là một trong những yếu tố dẫn đến sự biến đổi cơ cấu nữ tội phạm nói riêng và sự khác biệt cơ cấu tội phạm giữa nam và nữ nói chung
7 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Khuyến nghị, luận văn gồm 3 chương Chương 1: Cơ sở lý luận nghiên cứu của đề tài
Chương 2: Thực trạng cơ cấu nữ tội phạm trong thời kỳ đổi mới ở đô thị Chương 3: Một số yếu tố và các nguyên nhân dẫn tới sự biến đổi
PHẦN NỘI DUNG
Trang 171.1.TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Do hoàn cảnh của mỗi nước, mỗi quốc gia nên sự phán xét, nhận xét vấn
đề tội phạm phụ nữ cũng có khác nhau Lịch sử thế giới nói chung đã có nhiều quan điểm về vấn đề này (chủ yếu là các quan điểm Tư sản)
* Các quan điểm mang xu hướng sinh học
Quan điểm này chịu ảnh hưởng của Lomboroso, Ferreso và Wulffer – những đại diện cổ điển cho Chủ nghĩa xác định sự vật coi là đa xác định số phận một con người trên cơ sở nét bẩm sinh hình thể và tính cách của phụ nữ
phạm tội Quan điểm này cho rằng “Tâm lý của người phụ nữ phụ thuộc rất
* Các quan điểm Xã hội học và Tâm lý học xã hội
Một số tác giả khi nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường xã hội rộng và thu nhỏ tác động lên tội phạm nữ làm nổi lên vai trò của nhiều loại yếu tố Cùng với sự phát triển của Khoa Nguyên nhân tội phạm, lối giải thích liên quan đến sự phạm tội của phụ nữ giai đoạn đầu cũng mang tính chất xã hội học
Trang 18Ely Waker (1875) phản đối ý nghĩa các yếu tố di truyền và nhấn mạnh
sự thiếu khả năng để phạm tội, tính chất phạm tội vì hoạt động thông thường, tính chất được bảo vệ tương đối của phụ nữ với những cám dỗ phạm tội
Luke Ower Eike (1876) nhà tư liệu và phân tích lịch sử điều kiện tội phạm người Anh thì công nhận tính chất được tạo ra bởi điều kiện xã hội của tính chất phạm tội
Adolf Quetelet (1935) thử tiếp cận theo toán học các định luật xã hội chấp nhận quan điểm rằng chênh lệch tỉ lệ tội phạm giữa hai giới nảy sinh từ những hoàn cảnh riêng biệt của thói quen và lối sống phụ nữ
Còn trong tội phạm học – tội phạm phụ nữ, Otto Pollack (1950) khi xây dựng lý thuyết của mình dựa vào xu thế xác định tính cách của các khuôn mẫu
xã hội – văn hoá có sẵn vào tầm quan trọng vai trò xã hội, hệ thống giá trị, hình mẫu lý tưởng các tội và yều cầu dự kiện
Nhìn chung quan điểm này số đông tác giả coi tội phạm nữ như hậu quả của các tính chất đặc trưng cá nhân mà lực lượng kinh tế - xã hội chỉ tác động bên ngoài dù chính là yếu tố xác định
* Quan điểm Tâm lý học sâu và mang tính chất chiết trung
Đây là phương pháp và cách nhìn nhận của bộ ba tác giả John, Valire Cowie, Eliot Staler điều tra phụ nữ ở tuổi phạm tội nặng được công bố qua Viện Tội phạm học Cambirige Các tác giả tiến hành điều tra tội phạm xã hội, tâm lý bệnh thái nhân cách, thậm chí cả tính chất hiến pháp di truyền học nữa Những nhận định của họ liên quan đến ảnh hưởng tác động tội phạm học và môi trường xã hội lớn nhỏ
* Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin
Tội phạm và tệ nạn xã hội không xảy ra một cách bất ngờ, ngẫu nhiên Chúng xuất hiện ở trong môi trường xã hội con người Theo K.Marx và F
Trang 19Englel thì những nguyên nhân cơ bản làm phát sinh tội phạm và tệ nạn xã hội
là các yếu tố như thất nghiệp, nghèo đói, bất bình đẳng về xã hội Kế thừa và phát huy những tư tưởng trên, V.I Lênin đã đề xuất những giải pháp cho việc tăng cường công tác giáo dục và nâng cao đời sống, văn hoá vật chất cho nhân dân lao động, nhằm tạo điều kiện làm giảm bớt các hiện tượng tiêu cực trong xã hội
Theo quan điểm này điển hình là nhà nữ tội phạm người Nga- Xerebrgakova Bà xuất phát từ một nhận định của K.Marx và V.I.Lenin rằng bản chất của con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội, và điều này cũng đúng với phong cách ứng xử của phụ nữ như với nam giới
Các đặc trưng về giới không hoàn toàn thuộc sinh học: là một người đàn ông hay một người đàn bà cũng có nghĩa là hoàn thành các nhiệm vụ không giống nhau trong những hệ thống xã hội khác nhau Điều đó có nghĩa là trong
sự phạm tội, chúng ta cần tìm hiểu sự khác biệt theo giới trong sự phức tạp của các yếu tố xã hội, xác định tính cách của nam và nữ
Phụ nữ hiện nay cũng giống như đàn ông - điều này đúng với cả số tội phạm là sản phẩm của lịch sử Do vậy sự thay đổi phụ thuộc vào các biến đổi
xã hội Thực tế là lý thuyết có liên quan về họ kể cả các quan điểm tội phạm học
Tội phạm phụ nữ cũng như tội phạm nam giới hay tội phạm nói chung là một hiện tượng xã hội, một vấn đề xã hội được hình thành và phát sinh trong một khoảng thời gian và không gian nhất định Hiện tượng hay vấn đề xã hội
đó do nhiều nhân tố kinh tế - xã hội cấu tạo nên Vì vậy, khi nghiên cứu phải xem xét một hệ thống nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành hiện tượng này trong điều kiện xã hội cụ thể nhất định [34]
1.1 2 Ở Việt Nam
Trang 20Tội phạm phụ nữ là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học chính như: Tội phạm học, Xã hội học Tội phạm, Khoa học về phụ nữ…So với
Xã hội học Tội phạm và Khoa học về phụ nữ thì khoa học Tội phạm học đã có lịch sử hình thành lâu nhất là hơn 50 năm phát triển Cũng trong thời gian đó ngành khoa học này đã có rất nhiều công trình nghiên cứu vĩ mô, vi mô về nhiều loại tội phạm khác nhau
Xã hội học là một ngành khoa học còn rất mới ở nước ta Từ khi Viện
Xã hội học được chính thức thành lập năm 1983 thì các chuyên ngành Xã hội học cũng được ra đời theo như Xã hội học Gia đình, Xã hội học Nông thôn,
Xã hội học Văn hoá, Xã hội học Đô thị , nhưng chỉ riêng có chuyên ngành
Xã hội học Tội phạm là chậm hơn cả Cụ thể là hiện nay sau 20 năm thành lập Viện, hệ thống lý thuyết Xã hội học tội phạm vẫn đang từng bước được bổ xung hoàn chỉnh Vì vậy, nghiên cứu Xã hội học Tội phạm đến nay vẫn là những bước đi đầu tiên
Cũng ở nước ta nghiên cứu Phụ nữ học xuất hiện cách đây chưa lâu Năm 1984 chương trình nghiên cứu phụ nữ được xây dựng ở Uỷ ban Khoa học
Xã hội nay là Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia Sau gần 20 năm phát triển với sự ra đời của hàng loạt các trung tâm nghiên cứu Khoa học
về phụ nữ và gia đình ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh Nghiên cứu phụ nữ ngày càng tập trung vào những vấn đề cụ thể của người phụ nữ trong giai đoạn mới như: Phụ nữ trong phát triển, vai trò của phụ nữ trong gia đình, vai trò của phụ nữ trong quản lý doanh nghiệp, địa vị – vai trò của phụ nữ trong gia đình nông thôn
Tuy nhiên kể cả Tội phạm học, Xã hội học Tội phạm hay Phụ nữ học thì chưa có khoa học nào tập trung nghiên cứu nhiều vào tội phạm phụ nữ trong thời kỳ đổi mới một cách hệ thống
Với một số ít bài báo về các vụ phạm tội cụ thể của phụ nữ trên các Báo Tiền phong, Báo An ninh Thủ đô, Công an Nhân dân, Phụ nữ Việt Nam Thì
Trang 21gần đây nhất, những năm trong thập niên 90 một đề tài cấp nhà nước KX04
-14 đã tiến hành nghiên cứu quy mô về tình hình tội phạm nói chung Trong đề tài có một phần nhỏ đề cập đến vấn đề tội phạm phụ nữ Nhưng do tính chất vĩ
mô của đề tài, vấn đề phụ nữ phạm tội chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong đề tài cũng như trong cơ cấu tội phạm nói chung
Bên cạnh đó cũng có một số luận văn Tiến sĩ, Cao học và Cử nhân Xã
hội học đã tìm hiểu về tội phạm như: "Nguồn gốc xã hội về việc vi phạm pháp
luật ở người chưa thành niên hiện nay" của Hồ Diệu Thuý (Tiến sĩ Xã hội
học); "Tình trạng phạm tội của thanh thiếu niên hiện nay" của Trần Đức Châm (Thạc sĩ Xã hội học); "Cơ cấu và loại hình tội phạm phụ nữ ở Thành phố Hồ
Chí Minh hiện nay" của Trần Thị Tân Hương (Thạc sĩ Xã hội học); "Nguyên nhân dẫn tới tình trạng trẻ em làm trái pháp luật" của Nguyễn Thị Hà (Cử
nhân Xã hội học); "Nguyên nhân phạm tội ở lứa tuổi vị thành niên" của
Nguyễn Hồng Ngọc (Cử nhân Xã hội học).v.v
2.2 CÁC HƯỚNG TIẾP CẬN LÝ THUYẾT
2.2.1 Lý thuyết Xã hội học Tội phạm
Đối tượng của Xã hội học Tội phạm tập trung vào một số vấn đề cơ bản sau:
- Chuẩn mực xã hội và sự sai lệch chuẩn mực xã hội
- Nguồn gốc bản chất và các hình thức biểu hiện của tội phạm (từ góc
độ xã hội học – vĩ mô)
- Nguyên nhân, điều kiện, cơ cấu của tình hình tội phạm
- Các biện pháp phòng ngừa tội phạm từ góc độ xã hội
Theo tiếp cận của lý thuyết Xã hội học tội phạm, luận văn tập trung tìm hiểu hình thức biểu hiện của tội phạm nữ, nguyên nhân, cơ cấu của tình hình
Trang 22tội phạm nữ đã có sự thay đổi như thế nào qua 15 năm đổi mới ở đô thị nói chung và ở quận Hoàn Kiếm nói riêng [4]
2.2.2 Lý thuyết Xã hội học về Giới
Xã hội học về Giới chuyên nghiên cứu các đặc điểm, tính chất và các yếu tố làm nảy sinh, biến đổi và phát triển vị trí, vai trò của mối tương quan nam nữ trong đời sống xã hội
Các nghiên cứu về phụ nữ và giới trong thập kỷ qua tập trung vào những vấn đề xã hội gắn với người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội trong thời kỳ đổi mới
Với tư cách là một chuyên ngành Xã hội học, Xã hội học về Giới có thể giới thiệu đầy đủ hơn, hệ thống hơn những lý thuyết xã hội học cơ bản được ứng dụng vào giải quyết vấn đề giới [10]
Theo tiếp cận của lý thuyết Xã hội học về Giới, luận văn cũng tìm hiểu
sự khác biệt giữa nam và nữ trong cơ cấu tội phạm nói chung, nó được biến đổi như thế nào trong thời kỳ đổi mới ở đô thị nước ta
2.2.3 Lý thuyết phi quy tắc của E Dukheim
Emile Durkheim (1858 - 1917) cho rằng trong xã hội con người luôn bị chế ngự bởi những chuẩn mực giá trị nhất định Quy tắc xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết cuộc sống con người Con người thông qua đó biết mình phải làm gì, không cần làm gì và những gì đang mong đợi họ Chính vì vậy kinh nghiệm sống của mỗi người phù hợp ở mức độ nhất định với những mong đợi của quy tắc, chuẩn mực xã hội Sự liên hệ xã hội mà con người có được với nhau là do con người chia sẻ các giá trị, thái độ niềm tin và các mô hình hành vi chung của xã hội
Cá nhân ở mức đội ít hay nhiều, với tư cách là thành viên của nhóm và bản thân nhóm cũng hình thành một thế giới trật tự hướng dẫn hành động của cá nhân, theo các cách mà nó liên tục đưa ra mối dây ràng buộc giữa các thành viên của nhóm
Trang 23Trong thời kỳ khủng hoảng hay có những thay đổi cơ bản trong xã hội như trong mối liên hệ với sự suy thoái của tính tích cực văn hoá, kinh nghiệm sống không thể phù hợp với lý tưởng thể hiện trong những giá trị chuẩn mực xã hội Hậu quả là con người trải qua trạng thái lẫn lỗn, không định hướng được Khi mà những giá trị văn hoá, chuẩn mực xã hội mà tạo lập mối liên hệ xã hội bị vắng bóng, bị yếu đi hoặc mâu thuẫn với nhau sẽ dễ dàng đưa con người đến hành vi sai lệch Bởi
vì trong hoàn cảnh đó, con người sẽ mất sự định hướng giá trị và dễ rơi vào trạng thái khủng hoảng, mất phương hướng [5]
2.2.4 Lý thuyết phi quy tắc của K Merton
Robert K Merton (1910 - 2003) nhà xã hội học người Mỹ cho rằng nguyên nhân của sự sai lệch là sự không phù hợp giữa mục đích văn hoá của
xã hội và những phương tiện xã hội để đạt mục đích đó Qua thuyết này, Merton muốn giải thích hành vi lệch lạc như là kết quả của hoạt động trong
trạng thái "Phi quy tắc" không nguồn gốc đưa đến việc mong đợi văn hoá
không tồn tại trong quan hệ xã hội Merton nhận thấy trong hành vi lệch lạc còn có một yếu tố nữa đó là cơ hội hợp pháp hay bất hợp pháp sẵn có để đưa tới hành vi Vì vậy, trong hệ thống lý thuyết của mình Merton đã đặt vấn đề nghiên cứu giữa văn hoá, cấu trúc và lệch chuẩn
Theo Merton, văn hoá là phức hợp có tính tổ chức của các giá trị, chuẩn mực và điều chỉnh hành vi mà nó phổ biến với các thành viên trong một xã hội
đã được định hình Hay con người luôn bị trói buộc vào mâu thuẫn giữa việc hoà hợp với những chuẩn mực đang tồn tại và sự sai lệch đối với những khuôn mẫu giá trị cho trước [11, 278]
Cấu trúc xã hội là phức hợp có tính tổ chức các quan hệ xã hội, trong đó các thành viên của xã hội hay nhóm là những chủ thể xã hội có những chính kiến khác nhau Họ có chính kiến khác nhau bởi lẽ họ đứng ở những cương vị khác nhau
Trang 24Lệch chuẩn xuất hiện khi không có sự liên kết giữa các chuẩn mực các tiêu chuẩn văn hoá và khả năng tổ chức của các thành viên trong nhóm về mặt
xã hội nhằm phù hợp với chúng Bởi vì địa vị của họ trong một cơ cấu xã hội, cho nên có một số người không thể tuân theo các giá trị chuẩn mực được Văn hoá cần một loại kiểu ứng xử nào đó mà cấu trúc xã hội ngăn cản không cho nó xảy ra
Merton tập trung nghiên cứu cấu trúc xã hội trong đó có cấu trúc văn hoá Ông cho rằng sự không liên kết giữa văn hoá và cấu trúc xã hội có những ảnh hưởng xấu tới tình trạng trong các tầng lớp, sự chênh lệch về thu nhập quá lớn cũng là nguyên nhân dẫn tới lệch chuẩn Tóm lại, hành vi lệch lạc theo Merton, đó là hiện tượng ra đời từ sự vênh giữa cấu trúc xã hội và văn hoá Nguồn gốc của loại hành vi này nằm trong các nhóm xã hội nhiều hơn là trong
cá nhân [11]
1.3 CÁC KHÁI NIỆM CÔNG CỤ
1.3 1 Khái niệm Biến đổi
Khái niệm “Biến đổi xã hội” là biểu hiện cụ thể hóa của khái niệm
“Biến đổi” Biến đổi là một mặt đặc trưng của tồn tại xã hội, đó là sự vận động
mà mặt đối lập của nó là sự tĩnh tại
Xã hội loài người cũng giống như giới tự nhiên đều không ngừng biến đổi Vận động và biến đổi là phương thức tồn tại của xã hội Sự ổn định của xã hội chỉ là sự ổn định bề ngoài, còn thực tế nó không ngừng thay đổi bên trong bản thân nó Bất cứ xã hội nào và bất cứ nền văn hoá nào cho dù có bảo thủ đến đâu chăng nữa cũng luôn luôn biến đổi Và, sự biến đổi đó trong xã hội hiện đại ngày càng rõ hơn, nhanh hơn
Trang 25Biến đổi xã hội là một quá trình xã hội về những thay đổi trong cơ cấu của hệ thống xã hội Biến đổi xã hội là một hiện tượng phổ biến nhưng nó không giống nhau giữa các xã hội
- Hiểu theo nghĩa rộng: Biến đổi xã hội là một sự thay đổi so sánh với một tình trạng xã hội hoặc một nếp sống có trước
- Hiểu trong phạm vi hẹp hơn: Biến đổi xã hội được đề cập đến sự biến đổi về cấu trúc của xã hội (hay tổ chức xã hội của xã hội đó)
Nhìn chung biến đổi xã hội là một quá trình qua đó những khuôn mẫu của các hành vi xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và các hệ thống phân tầng xã hội thay đổi qua thời gian.[6, 278]
Tóm lại, biến đổi xã hội là thuật ngữ rộng nhất dùng để gọi bất kỳ quá
trình nào được đặc trưng bởi sự kiện là thời điểm T1 có trạng thái X1, trong khi ở thời điểm T2 n, có trạng thái X2 N.[9, 28]
1.3 2 Khái niệm phụ nữ
Phụ nữ là gì? Có thể hiểu phụ nữ là một phần của xã hội gồm nhiều
người về mặt sinh học thuộc giống cái, phân biệt với phần khác của xã hội là nam giới thuộc giống đực
Để hiểu phụ nữ là gì? Về mặt khoa học cần phân biệt khái niệm khoa học tự nhiên (sinh vật học) về giống: cái và đực, với khái niệm khoa học xã hội
về giới: nữ và nam
- Khái niệm giống: giống còn gọi là giới tính (sex) chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt sinh học Sự khác biệt này chủ yếu liên quan đến chức năng tái sản xuất giống nòi và do các yếu tố tự nhiên quy định
- Khái niệm giới (gender) chỉ mối quan hệ xã hội tương quan giữa đơn
vị xã hội của nữ và nam trong bối cảnh xã hội cụ thể
Trang 26Như vậy, khi chú trọng tới sự khác biệt về mặt tự nhiên sinh học, người
ta dùng khái niệm giống, còn khi nhấn mạnh và giải thích sự khác biệt về mặt
xã hội nhất là sự bất bình đẳng nam nữ người ta dùng khái niệm giới [1]
Nhìn chung, trong xã hội địa vị đặc thù của người phụ nữ xuất phát từ một thực tế: trong khi tham gia bình đẳng với nam giới vào sản xuất xã hội thì phụ nữ phải thực hiện chức năng quan trọng khác có liên quan đến vai trò xã hội, đặc biệt là vai trò của người mẹ trong việc nuôi dưỡng và giáo dục con cái Điều này cho phép tính riêng phụ nữ thành một tập đoàn nhân khẩu xã hội đặc biệt lấy đặc trưng giới tính là cơ sở phân chia Cũng giống như bất cứ các tập đoàn xã hội nào khác, tập đoàn phụ nữ có đặc trưng xã hội, những đặc trưng tâm lý xã hội, những nhu cầu, những lợi ích và những quan hệ đặc thù riêng
Ở luận văn này, phụ nữ được hiểu là nhóm nữ giới nói chung, những người không giới hạn về mặt tuổi tác, nghề nghiệp, trình độ học vấn
1.3 3 Khái niệm giá trị và chuẩn mực xã hội
Giá trị là một khái niệm được dùng nhiều ở các ngành khoa học xã hội
và nhân văn nhưng định nghĩa này về nó lại không có sự thống nhất
Trong xã hội học, năm 1951, Cl.Kluckhohn đã nêu một đĩnh nghĩa về
giá trị mà sau này đã trở nên kinh điển Theo đó “Giá trị là quan niệm về điều
mong muốn đặc trưng hiện hay ẩn cho một cá nhân hay một nhóm và ảnh hưởng tới việc chọn các phương thức, phương tiện hoặc mục tiêu của hành
động” [9, 156]
Từ đây suy ra “giá trị” thể hiện các nhân tố cấu thành nền văn hoá
Giá trị với tư cách là sản phẩm của văn hoá và thuật ngữ giá trị có thể
quy vào những mối quan tâm, thích thú, những ưa thích, những sở thích, những bổn phận, những trách nhiệm, những ước muốn, những nhu cầu, những
Trang 27Chuẩn mực xã hội là quy tắc yêu cầu của xã hội đối với mỗi cá nhân, trong đó giới hạn cái có thể và cái được phép trong hành vi của cá nhân
Chuẩn mực xã hội đóng vai trò điều tiết hành vi của các cá nhân và xã hội:
- Cá nhân dựa trên các chuẩn mực đó để tự nhận biết được hành vi của mình là đúng hay sai, chấp nhận được hay không, mà từ đó biết điều chỉnh hành vi lại cho phù hợp
- Cộng đồng xã hội dựa trên chuẩn mực đó để điều chỉnh hành vi của thành viên trong cộng đồng như: nhắc nhở, phê bình, uốn nắn
Đặc điểm của chuẩn mực xã hội:
Tính ích lợi xã hội: (Tính tất yếu) Xã hội thừa nhận là chuẩn mực xã hội thì đầu tiên nó phải mang lại lợi ích cho xã hội đó (lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể) Chuẩn mực đóng vai trò điều hoà quyền lợi, điều tiết hành vi của cá nhân nhằm duy trì ổn định trật tự xã hội Cũng như thiết chế xã hội chuẩn mực được hiểu như là mô hình xã hội được thành lập trong quá trình biến đổi xã hội Cá nhân hay nhóm xã hội hành động theo mô hình xã hội đó tức là theo một khuôn mẫu có sẵn như thế họ cảm thấy an toàn
Tính định hướng: Định hướng theo thời gian, không gian và đối tượng (cá nhân hay nhóm xã hội) Chuẩn mực xác lập thừa nhận trong thời gian không gian cụ thể và hướng tới đối tượng cụ thể Thuộc tính này càng ngày mang tính khoa học hơn như nhằm mục đích gì? định hướng hành vi cho nhóm khách thể nào?
Tính vận động phát triển: Chuẩn mực xã hội vận động theo từng thời kỳ lịch sử cụ thể, từng quốc gia dân tộc Chuẩn mực xã hội cũng như các giá trị xã
hội không phải “nhất thành bất biến” mà có sự vận động biến đổi
Trong ba thuộc tính trên thì điểm gốc là tính ích lợi xã hội Do những quá trình khách quan trong đời sống của xã hội quy định [30]
Trang 28Chuẩn mực Luật pháp: Đây là chuẩn mực quan trọng nhất của mọi xã
hội Luật pháp là tổng hợp những chuẩn mực thành văn, nó phản ánh và củng
cố nhiều quan hệ đã hình thành trong xã hội cụ thể Chuẩn mực này không chỉ đơn thuần quy định hành vi nào là không được phép mà còn đưa ra hình phạt đối với ai phạm luật Luật pháp điều tiết hành vi của cá nhân và xã hội thông qua hệ thống các điều luật định mang tính cưỡng chế và kèm theo đó là các khung hình phạt tương ứng có tính răn đe và trừng phạt đối với các cá nhân có hành vi lệch lạc
Luật pháp được hiểu là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội và là nhân tố điều chỉnh các quan
hệ xã hội nhằm tạo ra trật tự và ổn định xã hội
Dưới góc độ xã hội học, Luật pháp được hiểu là tổng hợp những chuẩn mực thành văn và thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, phản ánh và củng cố những quan hệ đã hình thành trong một xã hội cụ thể, nó thừa nhận những cách ứng xử có ích cho xã hội và cho giai cấp mà trước đó chưa mang tính phổ cập
và bắt buộc
Như vậy, luật pháp chính là hệ thống các chuẩn mực và các quy tắc hành động do cơ quan có thẩm quyền chính thức đưa ra
1.3 4 Khái niệm sai lệch chuẩn mực xã hội
Sai lệch chuẩn mực xã hội là những vi phạm chuẩn mực xã hội mà đặc trưng của nó là tính phổ thông và tính mở rộng nào đó trong điều kiện xã hội giống nhau Còn chuẩn mực xã hội là những quy tắc, những yêu cầu của xã hội đối với cá nhân [10]
Bản chất của sự sai lệch được coi là sự vi phạm những quy ước hay những chuẩn mực được chấp nhận có thể của xã hội hay một nhóm người, hay
Trang 29Những hành vi sai lệch là một vấn đề xác định về mặt xã hội Sự sai lệch mang tính xã hội, hành vi tự nó khẳng định là sai lệch và sai lệch là hành vi đi ngược lại chuẩn mực xã hội Hành vi sai lệch thường có tính tương đối về văn hoá nên hành vi sai lệch không thể được quan niệm như một cái gì đó tuyệt đối
mà phải coi như là sự biến đổi về mặt xã hội Tuỳ thuộc vào những gì mà một
xã hội đặc thù hay một nhóm xã hội ở một thời điểm cụ thể nào đó mà được xác định là sai lệch
Có 2 loại sai lệch cơ bản:
- Sai lệch tích cực: các chuẩn mực xã hội không bất biến
- Sai lệch tiêu cực: vi phạm các chuẩn mực xã hội gây nguy hại cho xã hội Hình thức của sai lệch xã hội, chuẩn mực xã hội là hiểu biết chính xác hay không đúng những quy tắc của pháp luật và đạo đức
Phạm tội là một sự sai lệch tiêu cực vì nó đã vi phạm chuẩn mực xã hội
mà cụ thể là chuẩn mực luật pháp và gây nguy hại cho xã hội
Lệch lạc xã hội: Hành vi lệch lạc (Deviant behavior) là khái niệm phản
ánh bất kỳ, hành vi hoạt động nào đó của cá nhân hay nhóm xã hội tỏ ra không phù hợp với sự mong đợi của xã hội [15, 90-91]
Lệch lạc là hành vi, hành động đi lệch khỏi các quy định của luật pháp, các giá trị chuẩn mực xã hội
Xét về cấp độ:
Lệch lạc sơ cấp: là những hành vi hoạt động của cá nhân bị lệch nhưng không mang tính chất hệ thống, lặp đi lặp lại những hành vi hoạt động này xã hội có thể tạm thời chấp nhận được
Lệch lạc ở mức cao: là những hành vi, hoạt động có tính chất nguy hiểm làm phương hại đến lợi ích, tính mạng của người khác, phương hại đến lợi ích của tập thể, của quốc gia
Trang 30Phạm tội được hiểu là sự vi phạm pháp luật với những hành vi nguy hiểm gây hại cho quốc gia, những hành vi này không được xã hội chấp nhận và
sẽ bị pháp luật nghiêm trị
Vậy hiện tượng phạm tội của phụ nữ có thể được xem xét là hành vi lệch
lạc ở mức cao được tạo nên ở môi trường sống cũng như sự nhận thức của mỗi
người trong xã hội
1.3 5 Khái niệm Tội phạm
Khái niệm Tội phạm là một khái niệm được hình thành từ rất lâu trong lịch sử phát triển của xã hội loài người Tội phạm chính là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử và tính giai cấp, là sản phẩm của xã hội loài người Khi
xã hội này phát triển đến giai đoạn nhất định – giai đoạn mà trong đó có sự phân chia giai cấp và đấu tranh giai cấp
Khi nhà nước ra đời, giai cấp thống trị đã sử dụng công cụ hữu hiệu nhất của mình là luật pháp để bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội và của giai cấp mình Tội phạm luôn là một hiện tượng tiêu cực (theo quan niệm của giai cấp thống trị) Trong mỗi chế độ xã hội, tội phạm đều xâm hại tới lợi ích của giai cấp thống trị và của toàn xã hội, có khả năng gây ra hoặc gây ra những hậu quả nguy hiểm thì Nhà nước sẽ gọi đó là tội phạm và sẽ sử dụng hệ thống trấn áp hình sự để hạn chế và loại trừ hành vi đó ra khỏi đời sống xã hội
Ở mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi một chế độ xã hội khác nhau thì người ta lại đưa ra những quan niệm khác nhau về tội phạm
Ở nước ta vào năm 1042, vua Lý Thái Tông đã cho ban hành Bộ luật hình sự đầu tiên ở Việt Nam gọi là hình luật trong đó quy định các loại tội phạm cụ thể và các hình phạt
Đến năm 1483, Vua Lê Thánh Tông lại ban hành Quốc triều hình luật Năm 1815, vua Gia Long cho ban hành Hoàng Triều luật lệ (còn gọi là luật
Trang 31phạm một điều luật của quốc gia do hành động bên ngoài của một người hoạt động tích cực hay tiêu cực sẽ bị trừng trị bởi một hình phạt
Ở Mỹ, tội phạm được hiểu là hành vi vi phạm luật công được thể hiện dưới dạng hành động hay không hành động
Theo Bộ luật hình sự Pháp 1810: “Tội phạm là hành vi bị đạo luật hình
sự cấm” hoặc là “hành vi bị đạo luật hình sự trừng trị”
- Bộ luật hình sự Thuỵ Sĩ: “Tội phạm là hành vi do luật hình sự cấm bằng nguy cơ xử phạt”
Khái niệm tội phạm đầy đủ cũng được nhắc đến trong nhiều tài liệu tư pháp, trong đó các tác giả đưa ra đầy đủ các dấu hiệu tội phạm Một số cho
rằng “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong bộ
luật hình sự, do người đến tuổi nhất định có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý và những người phạm tội phải bị xử phạt”
Theo bộ luật hình sự của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, qui định tại Điều 8: "1.Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách
cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, xâm phạm chế độ nhà nước XHCN, chế độ kinh tế và sở hữu XHCN, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật XHCN
2 Tội phạm nghiêm trọng là tội gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên 5 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình Những tội phạm khác là tội ít nghiêm trọng
3 Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội là không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện phạm khác" [25]
Trang 32"Cơ cấu xã hội là mô hình của các mối liên hệ giữa các thành phần cơ
bản trong hệ thống xã hội Những thành phần này tạo nên bộ khung cho tất cả các xã hội loài người, mặc dầu tính chất và các mối quan hệ giữa chúng biến đổi từ xã hội này đến xã hội khác Những thành phần quan trọng nhất của cơ cấu xã hội là vị trí, vai trò, nhóm và các thiết chế " [6, 205]
Đây chỉ là một định nghĩa trong rất nhiều đĩnh nghĩa về cơ cấu khác nhau cho thấy cơ cấu xã hội là khái niệm rất rộng không chỉ liên quan đến hành vi xã hội mà còn là mối tương tác giữa các yếu tố khác nhau của hệ thống
xã hội Do tính đa dạng phức tạp này cho nên khi nói đến cơ cấu cần lưu ý các khía cạnh sau: cơ cấu xã hội là mối liên hệ hữu cơ với các quan hệ xã hội Quan hệ xã hội là hình thức vận động của cơ cấu xã hội Cơ cấu xã hội là nội dung có tính chất bản thể luận của các quan hệ xã hội, là cơ sở của sự tồn tại
và phát triển của các quan hệ xã hội Do đó có một cơ cấu nào (nội dung) mà thay đổi thì tất yếu kéo theo (hình thức) là các quan hệ xã hội tương ứng thay đổi
Cơ cấu tội phạm là trạng thái tĩnh của tội phạm trong khoảng thời gian tương đối lớn được thể hiện qua mối liên hệ giữa các bộ phận khác nhau của tội phạm Tuỳ theo nhu cầu tìm hiểu, đánh giá mà người ta phân loại các bộ phận
đó
- Có thể là mối tương quan giữa các loại tội theo cách phân loại ở phần chung Bộ luật Hình sự Việt Nam
- Cũng có thể đó là cơ cấu theo loại chủ thể của tội phạm
- Cũng có thể đó là cơ cấu theo địa bàn và người ta còn gọi là địa
Trang 331.3 7 Khái niệm tình hình tội phạm
Tình hình tội phạm còn gọi là tình trạng tội phạm
Khái niệm tình hình tội phạm được hình thành bằng cách chuyển từ mức
độ nhận thức sự kiện, hành vi và khái niệm tội đơn nhất đến một khái niệm chung hơn, khái quát hơn, phức tạp hơn Đây là một khái niệm cơ bản của ngành Tội phạm học
Để có cơ sở đưa ra một khái niệm về tình hình tội phạm, trước hết là tìm hiểu các khái niệm và thuộc tính của nó
Tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội chứ không phải là một hiện
tượng sinh vật học, vật lý, hoá học, là một hiện tượng xã hội vì nó tồn tại trong
xã hội, có nguồn gốc trong xã hội, có nội dung xã hội, có nguyên nhân xã hội, mang tính chất xã hội, có tính độc lập tương đối Điều đó nói lên mối liên hệ chặt chẽ, biện chứng của hiện tượng đó với các hiện tượng xã hội khác với các điều kiện khác của xã hội Dấu hiệu này nói lên bản chất xã hội của tình hình tội phạm
Tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội mang tính giai cấp: tính
giai cấp quyết định bản chất của hiện tượng đó Tính giai cấp của tình hình tội phạm thể hiện ở nguồn gốc xuất hiện, ở các nguyên nhân phát sinh, ở nguyên nhân của các tội phạm cụ thể Các thực thể tế bào cấu thành lên hiện tượng đó
và ở cả số phận của nó trong tương lai
Tình hình tội phạm là một hiện tượng pháp lý hình sự: Chính đạo luật
hình sự chứa bộ luật hình sự định nghĩa và đưa ra khái niệm tội phạm, tội phạm đó không phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội mà còn là hành vi trái pháp luật hình sự Tức là bị đạo luật hình sự cấm bằng việc đe doạ dùng hình phạt
- Tình hình tội phạm mang tính lịch sử
Trang 34Tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội thay đổi về lịch sử Cụ thể
là những nội dung, dấu hiệu, đặc điểm của tình hình tội phạm sẽ thay đổi phụ thuộc vào sự thay đổi của tình hình kinh tế xã hội, tuỳ thuộc vào sự thay đổi về
cơ cấu kinh tế, cơ cấu giai cấp, phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế xã hội của một địa bàn nhất định
Tính lịch sử của tình hình tội phạm sẽ cho chúng ta thấy được tình hình tội phạm được xuất hiện như thế nào, hiện nay nó tồn tại ra sao và xu hướng phát triển của chúng trong tương lai
Xác định rõ tính lịch sử của tình hình tội phạm cho ta thấy quy luật hình thành và phát triển của hiện tượng đó, thấy được mối liên hệ biện chứng giữa
sự thay đổi với nội dung của nó với các thay đổi diễn ra trong xã hội Từ đó dự kiến được sự phát triển của nó trong tương lai để đề ra các giải pháp khắc phục
- Tình hình tội phạm là một hiện tượng tiêu cực nguy hiểm lớn cho xã hội Nó là hiện tượng tiêu cực lớn nhất bởi lẽ nó gây thiệt hại cho các quan hệ
tồn tại trọng xã hội, xâm phạm đến giá trị vật chất, tinh thần mà xã hội đó có được Hậu quả những tác hại về mọi mặt do tình hình tội phạm gây ra là một trong những dấu hiệu không thể thiếu được của tình hình tội phạm Nó gây ra những thiệt hại rất lớn về mặt kinh tế chính trị, xã hội, đạo đức tác động xấu đến các hiện tượng xã hội khác, đến tiến trình phát triển xã hội nói chung
Từ các đặc điểm, dấu hiệu nêu trên, có thể đưa ra một khái niệm: “Tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội, pháp lý hình sự được thay đổi về mặt lịch sử, mang tính giai cấp bao gồm tổng thể thống nhất các tội phạm thực hiện trong một xã hội (quốc gia) nhất định, trong một khoảng không gian nhất định ” [22]
Trang 35CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CƠ CẤU NỮ TỘI PHẠM
TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI Ở ĐÔ THỊ
2.1 KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ XÃ HỘI VÀ TÌNH HÌNH TỘI PHẠM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
2.1.1 Khái quát đặc điểm kinh tế xã hội trong thời kỳ đổi mới
Tại Đại hội VI năm 1986 Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định phải chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần mở cửa theo định hướng XHCN Tới Đại hội Đảng VII năm 1991 và Đại hội Đảng VIII năm 1996 cũng mới chỉ thừa nhận cơ chế thị trường Phải đến Đại hội Đảng IX năm 2001, Đảng Cộng sản Việt Nam mới khẳng định phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là
bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo cùng với kinh tế cá thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân
Thực hiện đường lối đổi mới đó, 15 năm qua đất nước ta đã vượt qua khỏi khủng hoảng, ổn định về cơ bản kinh tế xã hội, tăng trưởng khá, tạo tiền
đề chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá Từ những thành tựu kinh tế đạt được đã tạo một số chuyển biến tốt về xã hội
- Về đời sống: Đời sống vật chất tinh thần của phần lớn nhân dân (đô thị
và nông thôn) được cải thiện và không ngừng được nâng cao Thu nhập bình
quân đầu người trên tháng đã tăng 3,2 lần (1991 - 2000)
- Về dân số: Tỉ lệ dân số năm 1988 là 2,28%, đã giảm xuống còn 1,53% năm 2000 Năm 1988 Việt Nam đã được Liên Hợp Quốc tặng giải thưởng về công tác dân số
Trang 36- Về tình trạng đói nghèo: Số hộ đói nghèo đã giảm rõ rệt từ 30% năm
1992 xuống 10,6% năm 2000 Bình quân mỗi năm đã giảm được gần 300.000
hộ trong tổng số hộ đói nghèo Đến cuối năm 1998 cả nước đã có 15 tỉnh, thành phố có tỷ lệ hộ đói nghèo dưới 10%, 21 tỉnh có tỷ lệ đói nghèo khoảng 11 - 19%
- Về giải quyết việc làm: Từ 1991- 2000 số người có việc làm tăng từ 30,9 triệu người lên 40,6 triệu người tức là tăng 32,2% Những năm gần đây, bình quân mỗi năm tạo thêm việc làm mới cho khoảng 1,3 triệu người
- Về giáo dục: Đến năm 2000, cả nước đạt tiêu chuẩn quốc gia về xoá
mù chữ và phổ cập tiểu học Số học sinh đi học ở các cấp khác nhau từ tiểu học đến đại học đã tăng khoảng 2,3 - 4,3 lần trong 10 năm qua, chỉ số HDI đã được nâng lên từ thứ 122/174 nước năm 1995 lên 110/174 nước năm 1999
Tóm lại, trong công cuộc đổi mới kinh tế chúng ta đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, song bên cạnh những tiến bộ hiện đang còn tồn tại những vấn đề xã hội lớn rất phức tạp, nặng nề như: Thất nghiệp, đói nghèo, phân tầng xã hội, phân hoá giàu nghèo, và đặc biệt là tệ nạn xã hội và tội phạm đang có chiều hướng gia tăng về quy mô và cả số vụ
2.1.2 Khái quát đặc điểm tình hình tội phạm trong thời kỳ đổi mới
Trên thế giới trong vòng 10 năm qua (1990 - 2000) ở hầu hết các khu
vực tình hình tội phạm đã gia tăng mạnh Theo báo cáo của Liên Hợp Quốc tại Hội nghị toàn thế giới lần thứ 10 về phòng ngừa tội phạm và giáo dục cải tạo phạm nhân cho thấy hàng năm trên thế giới tăng trung bình khoảng 5%, tỷ lệ thuận với sự gia tăng dân số Với mức tăng này, thì tội phạm đã vượt quá khỏi khả năng ngăn chặn của nhiều quốc gia.[21, 288]
Ở nước ta, từ sau Đại hội Đảng VI, với chính sách mở cửa, giao lưu văn
hoá, kinh tế với nước ngoài đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhưng nó cũng
Trang 37làm cho xã hội diễn biến rất phức tạp Các vấn đề xã hội mới nảy sinh và phát triển trở thành nguyên nhân chủ yếu cho tội phạm gia tăng
Theo thống kê của Bộ Công An số vụ phạm tội hình sự trong thời gian này đã tăng lên từ 58.494 vụ (năm 1980) lên 69.369 vụ (năm 1989) và 58.035
vụ (năm 1990) Về cơ cấu tội phạm đáng chú ý là trọng án tăng đáng kể từ 4.696 vụ (năm 1985) lên 13.250 vụ (năm 1990)
Nạn cướp và giết người cướp tài sản xảy ra nghiêm trọng, hoạt động của bọn tội phạm trắng trợn, táo bạo sử dụng vũ khí để gây án và chống trả quyết liệt khi bị đuổi bắt đã gây nên tâm trạng lo lắng trong quần chúng nhân dân
Qua phân tích 209.716 vụ phạm tội trong giai đoạn 1990 - 1993 (thời
kỳ đổi mới) và 286.597 vụ trong các năm 1883 - 1985 (thời kỳ trước đổi mới) theo từng loại tội danh chúng ta thấy rằng, cơ cấu tội phạm đã có sự biến đổi đáng kể Tội trộm cắp phát triển, các tội phạm nghiêm trọng như bắt cóc trẻ em, hiếp dâm, giết người chiếm một tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu tội phạm Các tội đặc trưng có sử dụng bạo lực như chống người thi hành công vụ, gây rối trật tự công cộng, đặc biệt là tội cố ý gây thương tích và nạn cướp gia tăng đáng lo ngại Nhìn vào bảng 1 sẽ thấy rõ điều
đó [21, tr.312]
Trang 38Bảng 1: Cơ cấu tội phạm thời kỳ 1983-1985, 1990-1993
TỘI DANH
Giai đoạn 1983-1985
(Tỷ lệ % trong các loại tội phạm xảy ra)
Giai đoạn 1990-1993
(Tỷ lệ % trong các loại tội phạm xảy ra)
Buôn lậu, buôn bán hàng cấm, làm
hàng giả, kinh doanh trái phép
Trộm cắp tài sản riêng công
dân (TSRCD)
(Nguồn: Đề tài KX.04.14)
Trang 40Tội phạm
về kinh tế
Tội phạm về