1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan niệm và hành vi ứng xử trong văn hóa hội họp hiện nay (Nghiên cứu trường hợp Thành Phố Hà Nội

115 717 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

THỰC TRẠNG VĂN HÓA HỘI HỌP Ở THỦ ĐÔ HÀ NỘI 2.1 Quan niệm của cán bộ và nhân viên ở Hà Nội về văn hóa hội họp 34 2.2 Hành vi ứng xử trong văn hóa hội họp của cán bộ và nhân viên ở Thủ CH

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

VŨ MINH ĐỨC

QUAN NIỆM VÀ HÀNH VI ỨNG XỬ TRONG VĂN HÓA HỘI HỌP HIỆN NAY (Nghiên cứu trường hợp Thành phố Hà nội)

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

HÀ NỘI – 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

VŨ MINH ĐỨC

QUAN NIỆM VÀ HÀNH VI ỨNG XỬ TRONG VĂN HÓA HỘI HỌP HIỆN NAY (Nghiên cứu trường hợp Thành phố Hà nội)

Chuyên ngành Xã hội học

Mã số: 603130 LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thị Kim Lan

HÀ NỘI - 2012

Trang 3

CHƯƠNG I:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 15

1.2.1 Lý thuyết hành động xã hội 21

1.2.2 Lý thuyết tương tác biểu trưng 25

Trang 4

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 27

1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - chính trị - văn hóa xã hội địa bàn nghiên cứu 27

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VĂN HÓA HỘI HỌP Ở THỦ ĐÔ HÀ NỘI

2.1 Quan niệm của cán bộ và nhân viên ở Hà Nội về văn hóa hội họp 34

2.2 Hành vi ứng xử trong văn hóa hội họp của cán bộ và nhân viên ở Thủ

CHƯƠNG III: CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN NIỆM VÀ HÀNH

VI ỨNG XỬ TRONG VĂN HÓA HỘI HỌP CỦA CÁN BỘ NHÂN VIÊN

Ở THỦ ĐÔ HÀ NỘI

63

3.1 Tác động của yếu tố giới tính đến quan niệm và hành vi ứng xử trong

3.2 Tác động của yếu tố lứa tuổi đến quan niệm và hành vi ứng xử trong văn

3.3 Tác động của yếu tố trình độ học vấn đến quan niệm và hành vi ứng xử

3.4 Tác động của yếu tố vị thế xã hội đến quan niệm và hành vi ứng xử

3.5 Tác động của yếu tố thiết chế xã hội đến quan niệm và hành vi ứng xử

Trang 5

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

1 Bảng 2.1: Tiêu chí Văn hóa hội họp của CBCCVC Thủ đô Hà Nội 38

2 Bảng 2.2: Tình hình chấp hành giờ giấc hội họp ở Thủ đô Hà Nội

3 Bảng 2.3: Hiện tượng nói chuyện riêng trong hội họp ở các loại

hình cơ quan (%)

53

4 Bảng 2.4: Tương quan giữa địa bàn khảo sát và mức độ tham gia

5 Bảng 2.5: Tương quan giữa địa bàn khảo sát và nội dung cuộc họp 57

6 Bảng: 2.6: Phát huy tính dân chủ trong cuộc họp (%) 59

7 Bảng 2.7: Tương quan giữa địa bàn khảo sát và cuộc họp không có

11 Bảng 3.4: Tương quan nhóm tuổi và các hành vi trong hội họp (%) 69

12 Bảng3.5: Tương quan giữa học vấn và các tiêu chí cho cuộc họp 72

13 Bảng 3.6: Các hành vi lệch chuẩn trong hội họp 74

Trang 8

14 Bảng3.7: Tương quan giữa vị thế xã hôi trong lựa chọn các tiêu chí

18 Biểu 2.1: Mức độ hạn chế cuộc họp trong hoạt động quản lý (%) 42

19 Biểu đồ 2.2: Tương quan giữa các thành phố về hiện tượng đi

20 Biểu 2.3: Tình trạng nói chuyện riêng, làm việc riêng trong các

21 Biểu 2.4: Tình trạng cán bộ tham dự trong hội họp (%) 55

22 Biểu đồ 3.1: Tương quan giữa các loại hình tổ chức xã hội với

quan điểm tăng cường kỷ luật là công cụ quản lý tốt nhất 86

Trang 9

Xét về mặt quản lý, hội họp là một trong những phương thức để thực hiện quản lý Nhờ vào hình thức hội họp nhà quản lý có thể triển khai các chiến lược hay phổ biến các kế hoạch công tác nhằm đạt mục đích đề ra

Xét về mặt quan hệ xã hội, hội họp là một trong những kênh giao tiếp xã hộ, một phương thức tạo ra sự liên kết của mạng lưới xã hội Với hình thức hội họp việc qui định những người tham gia phải tuân thủ theo một nguyên tắc chung, hay qui định chung để đảm bảo cho kết quả của cuộc hội họp là cần thiết Trong cuộc họp, mọi người có thể tương tác lẫn nhau thông qua hình thức này Vô hình chung

nó trở thành một thứ văn hóa mà chúng ta gọi là văn hóa hội họp

Văn hóa hội họp không chỉ phản ánh chất lượng cuộc hội họp, mà nó còn biểu hiện trình độ nhận thức và hành vi ứng xử giữa con người với con người trong môi trường làm việc Bởi văn hóa hội họp chính là sự tuân thủ các giá trị, chuẩn mực nơi công sở của các cá nhân

Môi trường văn hóa công sở lành mạnh hay không, điều đầu tiên được thể hiện ngay trong văn hóa của hội họp, các quan niệm và thói quen về hành vi ứng xử trong các cơ quan, tổ chức, đoàn thể hay trong doanh nghiệp, tác phong và lề lối làm việc của các tổ chức hay đoàn thể đó

Trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã ghi

rõ “ văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực

Trang 10

thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ”[5, tr 55] Như vậy, việc từng bước xây

dựng văn hóa trong đó văn hóa hội họp cũng chính là góp phần xây dựng môi trường văn hóa nơi công sở, một trong những mục tiêu hàng đầu của Đảng và Nhà nước nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết các công việc, xây dựng lề lối làm việc một cách khoa học cho đội ngũ cán bộ và góp phần vào công cuộc cải cách hành chính hiện nay

Những năm qua để xây dựng môi trường văn hóa công sở, và tổ chức hội họp Việt Nam đã có những văn bản qui định về hội họp Ở cấp Trung ương đã có

các văn bản như: “Sắc lệnh qui định về quyền tự do hội họp” ngày 20/5/1957;

“Những qui định về chế độ hội họp” ban hành ngày 24/5/1961 (Số118-QĐ) Những

qui định về chế độ hội họp này được ban hành, nhằm giảm bớt các cuộc hội họp;

Quyết định của Hội đồng chính phủ về “Qui định việc hội họp, học tập của cán

bộ, công nhân, viên chức nhà nước” ban hành ngày 17/12/1963 Văn bản này qui

định thời gian dành cho hội họp, số lượng cuộc hội họp Thông tư ban hành ngày 01/03/1965 số 01 LĐ – TT của Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh – Xã hội về việc hướng dẫn thi hành Quyết định 118 – QĐ của Hội đồng Chính phủ; 25/5/2006 Quyết định số 114/2006/QĐ- Thủ Tướng ban hành qui định chế độ họp trong hoạt động của các Cơ quan quản lý hành chính Nhà nước Tại các địa phương như tỉnh Thừa Thiên Huế, Ủy ban nhân dân (UBND) Tỉnh Thừa Thiên Huế ngày

01/03/2008 ban hành Qui chế “Văn hóa công sở cơ quan văn phòng UBND tỉnh”

đã đưa ra những chuẩn mực cho cán bộ công nhân viên về hành vi ứng xử thực hiện nơi công sở, v.v

Các cơ quan, ban ngành tùy theo tính chất nghề nghiệp, các tổ chức này cũng ban hành những qui định riêng như Chi nhánh của Tổng công ty Hàng không

Việt Nam ở phía Nam đã ban hành Qui chế văn hóa của Tổng công ty hàng không miền Nam vào năm 2008, trong đó ở Chương III: Văn hóa ứng xử, mục 4 có qui

định rõ về cách thức tổ chức cuộc họp, trang phục trong hội họp, v.v…

Trang 11

Mặc dầu vậy, các qui định nói trên vẫn chưa đầy đủ và đáng nói là tính hiệu lực chưa cao Vì vậy đây là một trong những vấn đề không chỉ các nhà quản lý mà toàn thể xã hội rất quan tâm là làm thế nào để xây dựng hệ thống văn hóa hội họp một cách hoàn thiện Đã có rất nhiều bài báo hay các ý kiến bàn luận đưa ra các qui định khi hội họp, nhằm củng cố và xây dựng một môi trường văn hóa nơi công sở nói chung và xây dựng hệ thống văn hóa hội họp nói riêng

Mặt khác, với sự gia tăng của các sự kiện hội họp từ Trung ương đến địa phương, vấn đề văn hóa hội họp đang trở thành một trong những vấn đề nhức nhối được dư luận quan tâm Nhiều bài báo đã lên tiếng phản ánh các biểu hiện thiếu văn hóa trong hội họp thậm chí là trong các cuộc họp quan trọng của những người được coi là “đại biểu của dân” Hiện tượng nói chuyện riêng, đọc báo, sử dụng điện thoại di động trở nên quá phổ biến Nhiều cuộc họp chỉ đông đủ trong vài phút đầu sau đó hầu như chỉ còn ban tổ chức với một nhóm người thưa thớt Thậm chí trong cuộc họp người ta không ngần ngại dùng ngôn từ thóa mạ lẫn nhau, đôi khi còn

“thượng cẳng chân, hạ cẳng tay” ngay trước mặt quan khách và các vị lãnh đạo trong quá trình hội họp.v.v

Thủ đô Hà Nội – trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của cả nước, nơi hàng năm diễn ra hàng ngàn cuộc họp, hội nghị từ cấp quốc tế cho đến các cuộc hội họp quốc gia và của địa phương Riêng cấp địa phuwong, tổ chức, đoàn thể nào cũng

sơ kết, tổng kết 6 tháng, 1 năm, 3 đến 10 năm Mỗi cơ quan hành chính công ngoài các cuộc hội họp hàng tháng còn họp giao ban định kỳ vào một ngày nhất định

Với vị trí là bộ mặt của cả nước, văn hóa hội họp tại thủ đô không ngừng được cải thiện cả về nội dung, chất lượng và văn hóa ứng xử Nói như vậy không

có nghĩa là văn hóa hội họp ở Hà Nội hiện nay đã hoàn toàn đạt đến chuẩn mực mong đợi Vẫn còn rất nhiều cuộc họp do các Bộ chủ quản tổ chức với qui mô

Trang 12

hàng trăm đại biểu nhưng thực tế chỉ có khoảng 1/3 số đại biểu có mặt Hiện tượng

đi muộn, về sớm, làm việc riêng trong hội họp vẫn còn phổ biến, v.v

Rõ ràng Hội nghị, toạ đàm, họp mặt, v.v… là những hoạt đông không thể thiếu trong đời sống chính trị ở bất kỳ một tổ chức nào Tuy nhiên, hội họp như thế nào để có hiệu quả và góp phần nâng cao giá trị của con người nhất là đối với Thủ

đô ngàn năm văn hiến đang bước vào thời kỳ hội nhập Những hiện tượng phản văn hóa trong hội họp nêu trên đã có những tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội, nhất là tác động đến môi trường làm việc nơi công sở, văn hóa công sở, văn hóa chính trị và làm giảm hiệu quả lao động

Trong những năm gần đây, văn hóa hội họp đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu qui mô và có hệ thống về lĩnh vực này chưa nhiều đặc biệt là nghiên cứu về văn hóa hội họp trên địa bàn thủ đô Hà Nội Văn hóa hội họp vẫn là một vấn đề xã hội cần tiếp tục bàn luận trên diễn đàn khoa học

Với những nhu cầu cấp thiết nêu trên việc nghiên cứu thực trạng về văn hóa hội họp là hết sức cần thiết, nhằm đánh giá thực trạng hiện nay, đồng thời tìm ra những vấn đề còn bất cập trong các cuộc hội họp, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm góp phần xây dựng môi trường văn hóa nơi công sở, tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế và hội nhập của đất nước

2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

2.1.Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu này nhằm vận dụng và kiểm chứng một số lý thuyết Xã hội học văn hóa và Xã hội học quản lý trong việc lý giải và đánh giá các vấn đề về văn hóa hội họp

2.2.Ý nghĩa thực tiễn

Trang 13

Nghiên cứu này sẽ góp phần xây dựng môi trường văn hóa hội họp, góp phần vào quá trình cải cách hành chính xây dựng môi trường văn hóa nơi công sở lành mạnh, khoa học và hiệu quả ở Thủ đô Hà Nội nói riêng và ở Việt Nam nói chung.\

3 Mục tiêu nghiên cứu

4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quan niệm và hành vi ứng xử trong văn hóa hội họp hiện nay

4.2 Khách thể nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu của đề tài là những nhân viên và những nhà quản lý hiện đang công tác tại các tổ chức, đoàn thể, cơ quan nhà nước và các doanh nghiệp trên địa bàn Thủ đô Hà Nội

4.3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về thời gian : 6/2009-3/2010

Phạm vi về không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại Hà Nội

Trang 14

Phạm vi nội dung nghiên cứu đề tài: Nghiên cứu này chỉ tập trung làm rõ các khía cạnh cơ bản của quan niệm và hành vi ứng xử trong văn hóa hội họp

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Nghiên cứu này sử dụng nguồn số liệu từ Cuộc khảo sát của đề tài cấp nhà

nước KX 03 - 21/06 - 10 21-06/10 “Đổi mới văn hóa lãnh đạo và quản lý ở Việt

Nam hiện nay” là chủ yếu Cuộc khảo sát được tiến hành với dung lượng mẫu là

2000 tại 4 tỉnh thành TP Hải Dương, TP Đà Nẵng,TP Hồ Chí Minh và TP Hà Nội, trong đó Hà Nội là 620 phiếu Đối tượng khảo sát bao gồm 2 bộ phận: cán bộ quản

lý và nhân viên đang làm việc tại các loại hình cơ quan và doanh nghiệp Nguồn thứ hai là: các tài liệu thu được từ các cuộc phỏng vấn sâu, các văn bản, chính sách liên quan; các báo cáo của các địa phương, các bài viết, báo cáo và nghiên cứu đã công bố của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan đến văn hóa hội họp

5.2 Thảo luận nhóm tập trung

Nghiên cứu đã tổ chức 02 cuộc thảo luận nhóm tập trung, 01cuộc với nhóm lãnh đạo và 01 cuộc với nhóm nhân viên Nhóm lãnh đạo thuộc khối quản lý hành chính và doanh nghiệp, nhóm nhân viên bao gồm các cán bộ đang làm tại viện nghiên cứu, giảng viên và nhân viên doanh nghiệp

Thảo luận nhóm tập trung ở nhóm lãnh đạo có 07 người, trong đó: có 03 người hiện là phó giám đốc doanh nghiệp, 02 người là phó chủ tịch phường, 02 người là trưởng phòng của cơ quan hành chính sự nghiệp

Thảo luận nhóm tập trung ở nhóm nhân viên có 07 người, trong đó 03 người

là cán bộ tại các viện nghiên cứu, 02 cán bộ đang làm việc ở doanh nghiệp và 02 người là giáo viên

5.3 Phỏng vấn bán cấu trúc

Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn bán cấu trúc 20 cán bộ quản lý và nhân viên thuộc các lĩnh vực khác nhau, với mục tiêu tìm hiểu quan niệm của họ về văn

Trang 15

hóa hội họp

5.4 Phỏng vấn sâu

Phương pháp này đã được sử dụng để tiến hành phỏng vấn 15 trường hợp, trong đó có 05 cán bộ quản lý và 10 nhân viên hiện đang công tác tại các cơ quan trên địa bàn Thủ đô Hà Nội, với mục tiêu: nhằm tìm hiểu sâu sắc hơn về quan niệm cũng như đánh giá của họ về văn hóa hội họp,

5.5 Phương pháp quan sát tham dự

Chúng tôi đã sử dụng phương pháp có tham dự (phương pháp này được kết hợp với ghi chép và phỏng vấn một số cuộc họp), để ghi nhận hành vi ứng xử của các nhóm khách thể trong văn hóa hội họp

6 Câu hỏi nghiên cứu

- Các quan niệm về văn hóa hội họp hiện nay của Cán bộ, Viên chức tại Thủ

đô Hà Nội, họ dựa vào những thành tố nào để đưa ra cách hiểu văn hóa hội họp

- Thực trạng nhận thức và hành vi ứng xử của Cán bộ, Viên chức ở Thủ đô

Hà Nội trong quá trình hội nhập hiện nay như thế nào?

- Các yếu tố nào tác động đến nhận thức và hành vi ứng xử của Cán bộ, Viên chức trong hội họp hiện nay?

- Làm thế nào để xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong hội họp hiện nay?

7 Giả thuyết nghiên cứu

- Cùng với sự gia tăng số lần hội họp, phần lớn quan niệm về văn hóa hội họp hiện nay, chủ yếu dựa vào nhận thức chủ quan chứ chưa căn cứ trên những quy định thành văn bản

- Hiện tượng vi phạm nội qui, thiếu tôn trọng văn hóa hội họp đang rất phổ biến tại Việt Nam nói chung và ở thủ đô Hà Nội nói riêng

- Các quan niệm về văn hóa hội họp phụ thuộc vào các yếu tố như: trình độ học vấn, giới tính, lứa tuổi vị thế xã hội và thiết chế xã hội

Trang 16

Phần 2: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Các khái niệm làm việc

1.1.1.1 Khái niệm hội họp

Theo các nhà ngôn ngữ học “Hội họp” là khái niệm được tạo thành bởi hai từ

“hội” và “họp” Trong từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên đưa ra khái niệm

về thuật nghữ này như sau:

Hội: 1 Cuộc vui tổ chức chung cho đông đảo người dự, theo phong tục hoặc

nhân dịp đặc biệt.2 Tổ chức quần chúng rộng rãi của những người cùng chung một nghề nghiệp hoặc có chung một hoạt động

Họp là khái niệm chỉ ra một nhóm người tập trung lại có mục đích để bàn

bạc, phổ biến hoặc giải quyết một vấn đề hay nhiều vấn đề [7, tr 595]

Trong Quy định (Chế độ họp trong hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nước) của Thủ tướng Chính phủ đã đưa ra khái niệm về họp trong các cơ quan Nhà nước như sau:

Họp là một hình thức của hoạt động quản lý nhà nước, là một cách thức để giải quyết công việc, thông qua đó thủ trưởng cơ quan hành chính Nhà nước trực tiếp thực hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành hoạt động trong việc giải quyết công việc thuộc chức năng thẩm quyền của cơ quan mình theo qui định của pháp luật

Qua khái niệm về hội họp này chúng ta có thể thấy sự khác biệt lớn giữa hội họp và lễ hội, nó không chỉ khác nhau về nội hàm của thuật ngữ mà nó còn khác biệt cả về tính chất giữa hai khái niệm này

Như vậy, chúng ta có thể đưa ra một cách hiểu tương đối khái quát về hội

họp như sau:

Hội họp là một nhóm người có tổ chức nhất định tập trung lại có mục đích

Trang 17

được pháp luật thừa nhận để bàn bạc, phổ biến hoặc giải quyết một hay nhiều vấn

đề

1.1.1.2 Khái niệm văn hóa

Văn hóa (Culture) là một danh từ độc lập được sử dụng từ thế kỷ XVIII, trong tiếng Anh nó có hai nghĩa: trồng trọt và văn hóa Người đầu tiên có công đưa từ Culture vào khoa học là S Pufendorf nhà nghiên cứu pháp luật người Đức Cho đến nay, văn hóa đã trở thành thuật ngữ khoa học, nhưng do mỗi một ngành khoa học tiếp cận từ quan điểm của mình để đưa ra khái niệm về văn hóa nên đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau

Dưới góc độ Nhân học, E.B Tylor đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau:

“Văn hóa hay văn minh, dưới góc độ nhân học, được xem là tổng thể phức tạp bao gồm kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, các quy tắc đạo đức, luật lệ, phong tục và bất cứ kĩ năng hay thói quen do con người, với tư cách là một thành viên xã hội”

[26, tr 94]

Ở quan điểm này, Tylor chỉ ra sự khác biệt giữa tự nhiên và văn hóa, đồng thời trên quan điểm này thì chỉ có sự khác biệt về văn hóa, chứ không có sự so sánh giữa các nền văn hóa

Hạn chế của khái niệm này là chưa chỉ rõ văn hóa vật chất, cũng như chưa làm rõ được mối liên hệ giữa các yếu tố của văn hóa Bên cạnh đó tác giả của khái niệm này không phân biệt giữa văn minh và văn hóa

Các nhà Văn hóa học có thể lấy quan điểm của Trần Ngọc Thêm, ông cho

rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con

người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [17, tr 27]

Ở quan điểm trên, ta thấy khái niệm thiên về tính giá trị, các nhà văn hóa học

đã đề cập đến trình độ phát triển của lịch sử loài người Văn hóa là cái do con người sáng tạo ra, cái đặc hữu của con người Mọi thứ văn hóa đều thuộc về con

Trang 18

người, các thứ tự nhiên không thuộc về khái niệm văn hóa Văn hóa là đặc trưng căn bản, phân biệt con người với động vật, cũng là tiêu chí căn bản để phân biệt sản phẩm nhân tạo và sản phẩm tự nhiên

Đối với các nhà Xã hội học có thể kể đến W Thomas (1863 – 1947), nhà Xã

hội học người Mỹ coi Văn hóa là “các giá trị vật chất và xã hội của bất kỳ nhóm

người nào (các thiết chế, tập tuc, tâm thế, phản ứng cư xử), không phụ thuộc vào việc đó là người man rợ hay là người văn minh” [8, tr 18]

Chúng ta có thể thấy trong khái niệm về “Văn hóa” này đã đưa ra tính tương đối của hệ thống giá trị, tôn trọng sự khác biệt các nền văn hóa khác nhau Tuy nhiên, nó vẫn chưa thực sự đầy đủ do tác giả xem nhẹ các mối quan hệ tương tác cũng như những biến đổi tất yếu của hệ thống này từ quá khứ đến hiện tại

Hay một khái niệm văn hóa đầy đủ hơn:

“Văn hóa là một sản phẩm của con người, là cách quan niệm cuộc sống, tổ chức cuộc sống và sống cuộc sống ấy Văn hóa là để đáp ứng những nhu cầu nhất định của con người, là “mức độ con người hóa” chính bản thân mình và tự nhiên”

1.1.1.3 Quan niệm văn hóa hội họp

Với những khái niệm về hội họp và văn hóa, tác giả đưa ra quan niệm của mịnh về văn hóa hội họp như sau:

Văn hóa hội họp là toàn bộ những hệ thống giá trị, chuẩn mực dẫn đến hành động tương tác giữa những người tham gia cuộc hội họp, hay những hành vi của

cá nhân diễn ra trong cuộc hội họp

Trang 19

1.1.1.4 Định nghĩa “quan niệm”

Định nghĩa về quan niệm được đưa ra trong từ điển tiếng việt, “Quan niệm là

cách nhìn, cách suy nghĩ, ý kiến về một vấn đề nào đó” [7, tr 1029]

Như vậy, quan niệm được xếp vào quá trình nhận thức của con người về sự kiện, hiện tượng, và phụ thuộc nhiều vào ý kiến chủ quan của cá nhân

1.1.1.5 Khái niệm hành vi ứng xử

Khái niệm “hành vi ứng xử” được hình thành từ hai khái niệm: Khái niệm hành vi và Khái niệm ứng xử

Các nhà ngôn ngữ học cho rằng: “hành vi con người là toàn bộ những phản

ứng cách cư xử biểu hiện ra bên ngoài của một con người trong một hoàn cảnh thời gian nhất định” [ 23, tr 259]

Trong cách tiếp cận của các nhà Tâm lý học, hành vi là sự tác động qua lại giữa cơ thể sống với môi trường xung quanh, do tính tích cực bên ngoài (kích thích) và bên trong (nhu cầu) thúc đẩy Trong Tâm lý học Xô Viết, hành vi con người được xem như là hoạt động, tuy ít nhiều mang yếu tố bẩm sinh, nhưng chủ yếu chịu sự chi phối từ phía xã hội thông qua ngôn ngữ và các hệ thống tín hiệu trong ý nghĩa khác Hình thức tiêu biểu nhất của hành vi người là lao động và giao tiếp Sự độc đáo của hành vi cá nhân phụ thuộc vào tính chất của mối quan hệ tương hỗ trong nhóm, thái độ của cá nhân đối với những chuẩn mực, định hướng giá trị và vị thế xã hội mà người đó đảm nhiệm [22, tr 92]

Đứng trên quan điểm về “hành vi” của các nhà Tâm lý học thì hành vi sơ đẳng của con người được chia thành các loại sau:

* Hành vi bản năng (bẩm sinh di truyền): là hành vi có đặc điểm như thoả mãn nhu cầu sinh lý của cơ thể; Có thể là tự vệ; mang tính lịch sử; mang tính văn hoá mỗi quốc gia vùng miền

Trang 20

* Hành vi kỹ xảo: là loại hành vi mới tự tạo trên cơ sở luyện tập; Có tính mềm dẻo và biến đổi; nếu được định hình trên vỏ não và củng cố thì sẽ bền vững không thay đổi

* Hành vi đáp ứng: là hành vi ứng phó để tồn tại, phát triển và là những hành

vi ngược lại với sự tự nguyện của bản thân và không có sự lựa chọn

* Hành vi trí tuệ: hành vi đạt được do hoạt động trí tuệ nhằm nhận thức được bản chất của các mối quan hệ xã hội có quy luật của sự vật hiện tượng để đáp ứng và cải tạo thế giới

“Ứng xử” là khái niệm thể hiện mối quan hệ giữa người với người trên mọi

lĩnh vực cuộc sống xã hội Theo từ điển tiếng Việt, "ứng xử" được giải thích là "có thái độ, hành động, lời nói thích hợp trong việc xử sự" Còn trong Từ điển tâm lí

học các soạn giả lại cho rằng hai từ "ứng xử" và "hành vi" thường dùng thay thế

cho nhau "Từ ứng xử chỉ mọi phản ứng của động vật khi một yếu tố nào đó trong

môi trường kích thích; các yếu tố bên ngoài và tình trạng bên trong gộp thành một tình huống và tiến trình ứng xử để kích thích có định hướng nhằm giúp chủ thể thích nghi với hoàn cảnh Khi nhấn mạnh về tính khách quan, tức là các yếu tố bên ngoài kích thích cũng như phản ứng đều là những hiện tượng có thể quan sát được chứ không như tình ý bên trong thì nói là ứng xử Khi nhấn mạnh mặt định hướng, mục tiêu thì gọi là hành vi" [ 23, tr 260]

Theo các nhà Xã hội học, ứng xử được luận giải như sau: “Liên hệ xã hội

được thực hành và thực hiện bằng những hành động như thế nào đó giữa các cá nhân, giữa các nhóm với nhau Hành động như thế nào đấy đối với nhau và cụ thể hóa, khách thể hóa mối liên hệ xã hội Hành động (và nói) như thế nào đấy là ứng xử” [6, tr 64]

Quan điểm này cho thấy: ứng xử là sự phản ứng có lựa chọn, thể hiện qua lời nói hoặc hành vi của con người, trước sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể

Trang 21

Hành vi ứng xử của con người chịu sự chi phối bởi các yếu tố khách quan nhưng cũng đồng thời phụ thuộc vào khả năng tri thức và nhân cách nội tại của mỗi cá nhân

Tóm lại, nghiên cứu hành vi ứng xử trong hội họp thì việc sử dụng khái niệm hành vi ứng xử có vai trò quan trọng khi giải thích hành vi của mỗi cá nhân khi tham gia vào quá trình tương tác Nếu muốn giải thích các hiện tượng trong giao tiếp xã hội, hay nói một cách khác muốn làm sáng tỏ bản chất của hành vi ứng

xử trong các cuộc họp thì phải dựa vào các yếu tố như nền tảng đạo đức, kinh tế xã hội, văn hóa và gia đình mà các cá nhân đó hấp thụ được trong quá trình xã hội hóa

1.1.1.6 Khái niệm giá trị

Giá trị là một khái niệm xuất hiện trong nhiều ngành khoa học Trong ngành

Xã hội học, nhà nghiên cứu C.Kluckholn đưa ra định nghĩa về giá trị như sau: “ giá

trị là quan niệm về điều mong muốn đặc trưng hiện hay ẩn cho một cá nhân hay một nhóm và ảnh hưởng tới việc chọn các phương thức,phương tiện hoặc mục tiêu của hành động” [24, tr 156]

Hay nói cách khác giá trị là cái mà người người ta cho là đáng có, cái mà con người mong muốn, là cái định hướng cho hành động, Trong Văn hóa, giá trị là nhân tố cốt lõi, nền tảng, xuyên suốt của văn hóa

Dựa trên quan điểm này, giá trị xã hội được giải thích một cách toàn diện, thấu đáo hơn khi tiếp cận và giải thích nguyên nhân hành động xã hội của chủ thể

1.1.2 Các lý thuyết xã hội sử dụng trong đề tài

1.1.2.1 Lý thuyết hành động xã hội

Lý thuyết hành động xã hội là một thuyết trong Xã hội học, thuyết này tìm cách giải thích sự tương tác giữa con người và xã hội, thông qua phân tích sự tác động của yếu tố xã hội như: giá trị, chuẩn mực, tôn giáo tín ngưỡng… đến các hành vi đó

Trang 22

Lý thuyết hành động xã hội gắn liền với tên tuổi của các nhà Xã hội học Pareto, nhất là Max Weber, sau này là T Parsons

Người đầu tiên đưa ra khái niệm hành động xã hội là V Pareto nhà Xã hội học người Ý Khi ông phân biệt hai loại hành động xã hội của con người là hành động mang tính logic và phi logic

Tuy nhiên, người có công lớn nhất trong lý thuyết hành động xã hội là Max Weber (1864 –1920) nhà Xã hội học, Kinh tế học,Triết học, Sử học Ông được nhìn nhận là một trong bốn người sáng lập ngành Xã hội học và Quản trị công đương đại Luận điểm lớn nhất của ông đã có ảnh hưởng to lớn đến tư duy khoa học từ khi ra đời đến nay là mối liên hệ giữa yếu tố tôn giáo và kinh tế, thông qua

luận giải trong tác phẩm “Đạo đức tin lành và tinh thần chủ nghĩa tư bản” Một

trong những thành tựu quan trọng nữa mà Weber để lại đó là ông xác định đối tượng nghiên cứu của Xã hội học là hành động xã hội, sự mở rộng đầy ý nghĩa cho

Xã hội học khi mối quan tâm của nó sâu sắc hơn về con người chứ không chỉ ở khía cạnh xã hội như trước đây

Một trong những người nghiên cứu và đưa học thuyết của Weber đến Bắc

Mỹ là T Parsons Ông chịu ảnh hưởn của Weber xem cốt lõi của mọi hành động xã hội là ý nghĩa, do đó để hiểu được hành động xã hội phải hiểu được ý nghĩa gắn với hành động đó Theo Parsons thì hành động xã hội bao gồm các yếu tố cơ bản sau đây:

- Chủ thể hành động là những cá nhân

- Các chủ thể theo đuổi các mục đích

- Chủ thể phát triển các phương tiện khác nhau để đạt mục đich

- Chủ thể đối mặt với những hoàn cảnh khác nhau, những hoàn cảnh gây tác động đến việc lựa chọn mục đích và phương tiện

- Chủ thể bị điều khiển bởi các giá trị và chuẩn mực tác động đến việc lựa chọn mục đích và phương tiện [29, tr 94]

Trang 23

Ngoài các tác giả trên còn một đại diện của học thuyết Tương tác luận, H Blumer nhấn mạnh rằng con người là những chủ thể tích cực, hành động trên cơ sở những ý nghĩa mà họ gán vào tương tác xã hội của họ Đây là quá trình xã hội trong đời sống nhóm, nó tạo ra và xác nhận các qui tắc, chứ không phải các qui tắc tạo ra và xác nhận đời sống nhóm

Tuy nhiên, nghiên cứu không chỉ dừng lại những khái quát về quá trình lịch

sử của lý thuyết hành động xã hội, mà còn quan tâm tới nội dung của của lý thuyết của Max Weber, người có công lớn trong lý thuyết hành động xã hội này

“hành động xã hội là một hành động được chủ thể gắn cho nó một ý nghĩa

chủ quan nào đó,là hành động có tính đến hành vi của người khác,và vì vậy được định hướng tới người khác, trong đường lối, quá trình của nó ” [29, tr 94] Như

vậy, Mọi hành động không tính đến sự tồn tại, những phản ứng có thể có từ những người khác không phải là kết quả của quá trình suy nghĩ có ý thức, thì không phải

là hành động xã hội

Weber cho rằng: xã hội học cố gắng diễn giải hành động nhờ phương pháp luận

về kiểu loại lý tưởng Ông thực hành phương pháp này để xây dựng một phân loại học về hành động xã hội gồm bốn loại:

+ Hành động cảm xúc là hành động do trạng thái xúc cảm hoặc tình cảm bột

phát gây ra, mà không có sự cân nhắc, xem xét, phân tích mối quan hệ giữa công

cụ, phương tiện và mục đích hành động [12, tr 92]

Theo ông, phần lớn hành động của con người thực hiện là do cảm xúc.Tính

tự phát của hành động tình cảm mang tính chất riêng biệt vì cũng là một con người, một hoàn cảnh có thể có hành động khác nhau tùy theo cảm xúc, hay trạng thái tâm

lý của con người

+ Hành động truyền thống là hành động tuân thủ những thói quen, nghi lễ,

phong tục, tập quán đã được truyền lại từ đời này qua đời khác Chủ thể hành

động theo truyền thống không cần tự hình dung về một mục đích, một giá trị hay

Trang 24

do bị lay động bởi tình cảm mà chỉ đơn giản là tuân theo phản ứng được bắt rễ do mọi thực hành được kéo dài (như cái người ta bắt chước lẫn nhau) Con người hành động theo một thói quen, thói quen này xuất phát từ những gì con người học được từ thuở còn thơ hoặc xuất phát từ xu hướng tuân theo giá trị chuẩn mực của cộng đồng được lặp đi lặp lại

+ Hành động duy lý về giá trị: là hành động của cá nhân con người hướng tới các giá trị xã hội Hành động hợp lý về giá trị khác với hành động truyền thống

ở chỗ: chủ thể hành động theo truyền thống không phải suy nghĩ nhiều vì cứ việc làm theo nếp cũ, còn người hành động theo giá trị thì trước khi hành động anh ta phải tìm hiểu xem việc mình làm có giá trị hay không rồi mới thực hiện

+ Hành động duy lý công cụ: là chủ thể hành động phải suy nghĩ và quyết định xem mình chọn mục đích nào và dùng phương tiện nào để đạt được mục đích [12, tr 91]

Weber cho rằng: trước khi có thể tìm ra nguyên nhân của một hành động, cần phải hiểu được ý nghĩa mà chủ thể hành động đã gắn vào hành động đó Weber phân biệt hai kiểu thấu hiểu Thứ nhất, hiểu trực tiếp Chẳng hạn, có thể hiểu được một người đang giận dữ bằng cách quan sát biểu hiện trên nét mặthọ Thứ hai là sự thấu hiểu mang tính giải thích Nhà xã hội học, hiểu ý nghĩa của một hành động theo nghĩa là hiểu những động cơ gắn vào hành động đó Theo cách hiểu này, ta phải đặt mình vào tình huống của chủ thể để hiểu được những động cơ đằng sau hành động

Tuy nhiên, theo Weber hai cách hiểu trên vẫn chưa đủ để giải thích được một chuỗi hành động Để có một giải thích nguyên nhân đầy đủ, cần phải xác định cái gì đã tạo nên động cơ dẫn đến chuỗi hành động Weber đã tiến đến tiếp cận thực chứng luận khi ông cho rằng phải phát hiện được mối liên hệ giữa các sự kiện

có các quan hệ nhân quả, nhất là những hành động xã hội lôi kéo số lớn người cùng hành động theo một cách tương tự cũng có thể dẫn đến những biến đổi xã hội

Trang 25

quy mô lớn Ngay cả khi liên quan đến các nhóm, thiết chế, tổ chức, thì Weber vẫn cho rằng chúng liên quan đến một kiểu nhất định của các hành động xã hội của các

cá nhân

Cách giải thích và sự phân chia thành các loại hành động xã hội của Max Weber, có ý nghĩa thiết thực lý giải các hiện tượng trong hội họp, đồng thời những hành động này tác động đến cấu trúc của tổ chức như thế nào Hành động xã hội liên quan đến nhận thức của cá nhân, thói quen của họ đồng thời chịu sự chi phối của giá trị, chuẩn mực xã hội

1.1.2.2 Lý thuyết tương tác biểu trưng

Lý thuyết tương tác biểu trưng có thể được coi là một trong những lý thuyết

về tương tác xã hội quan trọng nhất của xã hội học Lý thuyết này gắn liền với tên tuổi của các nhà Xã hội học người Mỹ là G.Mead, người chịu nhiều ảnh hưởng từ

trường phái hành vi luận “Theo lý thuyết này, con người như một thực thể sống

trong thế giới của các biểu tượng và môi trường ký hiệu Xã hội thực hiện sự điều chỉnh hành động của các cá nhân qua các biểu tượng” [12, tr 146]

Lý thuyết Tương tác biểu trưng nổi lên từ truyền thống Triết học dụng hành

Mỹ vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong các bài viết của Charles S Pierce, William James và John Dewey (1859-1925) Lý thuyết này gắn liền với nhà Xã hội học Georg Herbert Mead Ông là người đi tiên phong tìm cách vận dụng các quan điểm Triết học dụng hành này thành một lý thuyết và phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội

Ông cho rằng tương tác biểu trưng là “… các cá nhân trong quá trình tương

tác, qua lại với nhau không phản ứng đối với các hành động trực tiếp của người khác, mà đọc và lý giải chúng Chúng ta luôn tìm những ý nghĩa gán cho mỗi hành động, cử chỉ v.v…đó tức là các biểu tượng” [12, tr 145]

Cùng với G Mead học trò của ông H Blumer phát triển thêm và đưa ra ba luận đề sau của tương tác biểu trưng :

Trang 26

Thứ nhất: Con người hành động dựa trên cơ sở các ý nghĩa mà họ gán cho các đối tượng và sự kiện hơn là hành động nhằm phản ứng lại với những kích thích bên ngoài như các động lực xã hội hay với những kích thích bên trong như các bản năng Do đó, tương tác luận biểu trưng phủ nhận cả quyết định luận sinh học lẫn quyết định luận mang tính thiết chế xã hội

Thứ hai, các ý nghĩa nảy sinh từ quá trình tương tác hơn là có ngay từ khi bắt đầu và định hình hành động tương lai Các ý nghĩa được sáng tạo, cải biến, phát triển và thay đổi trong các tình huống tương tác hơn là được cố định và xác định trước Trong quá trình tương tác, chủ thể không tuân thủ một cách nô lệ các chuẩn mực được xác định trước, cũng không máy móc thực hiện các vai trò được thiết lập chính thức

Thứ ba, các ý nghĩa là kết quả của những thủ tục lý giải mà các chủ thể thực hiện trong bối cảnh tương tác Bằng việc đóng vai trò của người khác, chủ thể lý giải các ý nghĩa và ý định của người khác Bằng cơ chế "tự tương tác", các cá nhân biến cải hoặc thay đổi các xác định của họ về tình huống, nhẩm lại các chuỗi hành động thay thế hay loại trừ nhau và cân nhắc những hậu quả khả dĩ Như vậy, các ý nghĩa chỉ đạo hành động nảy sinh trong quá trình tương tác thông qua một chuỗi những thủ tục lý giải phức tạp

Theo khái niệm này thì chúng ta luôn tìm được những ý nghĩa gán cho mỗi hành động cử chỉ đó tức là các biểu tượng Chỉ khi chúng ta đặt mình vào vị trí của đối tượng tương tác, ta mới có thể hiểu hết ý nghĩa của những phát ngôn, những cử chỉ, hành động của họ Đồng thời con người là những chủ thể tích cực, hành động trên cơ sở những ý nghĩa mà họ gán cho vào tương tác xã hội của họ Đây là quá trình xã hội trong đó đời sống nhóm, nó tạo ra và xác nhận các quy tắc, chứ không phải các quy tắc tạo ra và xác nhận đời sống nhóm

Trang 27

Như vậy, các luận điểm thuyết “tương tác biểu trưng” của Blumer, và cái mà thuyết tương tác biểu trưng đã tạo nền tảng lý luận, cho việc làm rõ vì sao các hành động lệch chuẩn lại nảy sinh trong suốt quá trình hội họp

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1.Vài nét về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của Thủ đô Hà Nội

* Đặc điểm vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên

Sau những thay đổi về địa giới và hành chính năm 2008, Hà Nội hiện có

29 đơn vị hành chính cấp huyện – gồm 10 quận, 18 huyện, 1 thị xã – và 577 đơn vị hành chính cấp xã – gồm 401 xã, 154 phường và 22 thị trấn

Hà Nội là Thủ đô, đồng thời là thành phố đứng đầu Việt Nam về diện tích

tự nhiên và đứng thứ hai về diện tích đô thị sau Thành phố Hồ Chí Minh (TP Hồ Chí Minh) Nằm ở trung tâm của đồng bằng châu thổ sông Hồng, Hà Nội có vị trí

từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến 106°02' kinh độ Đông, phía Bắc tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, phía Nam giáp Hà Nam, Hòa Bình, phía Đông giáp Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên, phía Tây giáp Hòa Bình và Phú Thọ

Là khu vực chuyển tiếp giữa vùng gò đồi trung du và cùng đồng bằng, nên địa hình Hà Nội có xu hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông với dạng địa hình chủ yếu là địa hình đồng bằng, chiếm khoảng 1/3 diện tích tự nhiên, cao trung bình 5 – 10 mét so với mặt nước biển Đây là kết quả bồi tụ hàng vạn năm của các dòng song và sự xác lập cân bằng giữa biển lùi cùng với sự nâng lên của vùng trũng Hà Nội diễn ra cách đây bốn nghìn năm Vùng đồi núi chiếm 1/4 diện tích tự nhiên, tập trung chủ yếu ở phía Bắc và phía Tây Hệ thống sông ngòi của Hà Nội cũng khá dày đặc với hai hệ thống sông chính: (1) Hệ thống sông Hồng

và sông Nhuệ, sông Tích, sông Đáy, sông Đà, sông Bùi ở phía hữu ngạn; sông Đuống ở phía tả ngạn; (2) Hệ thống sông Thái Bình ở phía Đông bắc với các sông

Trang 28

lơn như sông Công, sông Cà Lồ, sông Cầu Hà Nội được gọi là thủ đô sông hồ, do

có đến 40 hồ lớn nhỏ nằm trong khu vực nội thành [9, tr 11- 12]

Hà Nội tính đến ngày 31/12/2009 về dân số có 6,5379 triệu người với tổng diện tích 3344,60 km² Về mặt đơn vị hành chính Hà Nội có 10 quận, 555 đơn vị

xã, phường và có 22 thị trấn Cũng ở kết quả thống kê trên năm 2009, thì trên địa bàn thành phố Hà Nội có 595760 người, đang làm việc trong khu vực nhà nước, trong đó lao động nữ là 246372 người

Nằm giữa đồng bằng sông Hồng trù phú, Hà Nội đã sớm trở thành một trung tâm Kinh tế , Văn hóa của Việt Nam Với vị thế Trung tâm chính trị của cả nước, nơi hoạt động của các tổ chức chính trị có quyền lực nhất của hệ thống chính trị Việt Nam như: Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam, Chính phủ, Quốc hội, các Bộ ban ngành Trung ương Hà Nội là nơi tọa lạc của các Đại sư quán các nước và trụ sở của nhiều tổ chức quốc tế lớn như: Đại sư quán Mỹ, Đại sư quán Thụy Điển,.v.v… Đồng thời, Hà Nội còn là nơi diễn ra nhiều Hội nghị, Hội thảo, các cuộc họp Quốc gia và Quốc tế như: Hội nghị ASEAN, Hội nghị G7, Hội nghị Bộ trưởng quốc phòng các nước ASEAN v.v…

Hà Nội là một trong năm thành phố trực thuộc Trung ương của Việt Nam, cùng với Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng và Cần Thơ Riêng TP Hà Nội và TP Hồ Chí Minh còn được xếp vào đô thị loại đặc biệt, thỏa mãn các tiêu chuẩn như tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động trên 90%, quy mô dân số trên 1,5 triệu, mật độ dân số bình quân từ 15.000 người/km² trở lên, cơ sở

hạ tầng hoàn chỉnh

Cũng như các tỉnh và thành phố khác của Việt Nam, Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội do người dân thành phố trực tiếp bầu nên, là cơ quan quyền lực nhà nước ở thành phố ủy ban nhân dân thành phố là cơ quan chấp hành của hội đồng nhân dân và là cơ quan hành chính nhà nước ở thành phố, chịu trách nhiệm

Trang 29

chấp hành hiến pháp, pháp luật, các văn bản của Chính phủ và các nghị quyết của hội đồng nhân dân thành phố

Về kinh tế, vị thế kinh tế của Hà Nội đã được thiết lập từ rất lâu trong lịch

sử Tên những con phố như Hàng Bạc, Hàng Đường, Hang Than đã minh chứng cho điều này Tới những năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của Thành phố

Hồ Chí Minh và khu vực Nam Bộ, Hà Nội chỉ còn giữ vị trí quan trọng thứ hai trong nền kinh tế Việt Nam Ngành công nghiệp của Hà Nội vẫn tập trung vào 5 lĩnh vực chính là cơ–kim khí, điện–điện tử, dệt–may–giày, chế biến thực phẩm và công nghiệp vật liệu (chiếm tới 75,7% tổng giá trị sản xuất công nghiệp) Bên cạnh

đó, nhiều làng nghề truyền thống như gốm Bát Tràng, may ở Cổ Nhuế, đồ mỹ nghệ Vân Hà cũng dần phục hồi và phát triển

Hà Nội là một trong những địa phương nhận được đầu tư trực tiếp từ nước ngoài nhiều nhất, với 1.681,2 triệu USD và 290 dự án Thành phố cũng là địa điểm của 1.600 văn phòng đại diện nước ngoài, 14 khu công nghiệp cùng 1,6 vạn cơ sở sản xuất công nghiệp Bên cạnh những công ty nhà nước, các doanh nghiệp tư nhân cũng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Hà Nội Năm 2003, với gần 300.000 lao động, các doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp 77% giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố Ngoài ra, 15.500 hộ sản xuất công nghiệp cũng thu hút gần 500.000 lao động Tổng cộng, các doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp 22% tổng đầu tư xã hội, hơn 20% GDP, 22% ngân sách thành phố và 10% kim ngạch xuất khẩu của Hà Nội

Về văn hoá, Hà Nội là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa của Việt Nam Trong hàng ngàn năm với nền văn hóa thành thị cộng với quá trình di cư, Hà Nội là tâm điểm của quá trình giao thoa văn hóa giữa các vùng miền Chính điều đó, làm cho

Hà Nội trở thành nơi quy tụ của những nhân vật ưu tú, những thương nhân, những nghệ nhân, những thợ thủ công lành nghề, đồng thời tất cả tinh túy văn hóa nhất

Trang 30

cũng được lưu giữ lại ở đây tạo nên nét văn hóa đặc trưng của Hà Nội Trong ứng

xử, người Hà Nội từ lâu đã nổi tiếng về lối ứng xử tinh tế, lịch thiệp, nhân văn:

“Chẳng thơm cũng thể hoa nhài

Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”

1.2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu bàn về văn hóa trên các góc độ khác nhau Tuy nhiên, các công trình bàn về văn hóa hội họp vẫn chưa nhiều và chỉ dừng lại ở mức độ khai thác các khía cạnh: Văn hóa ứng xử trong Công sở, Vai trò văn hóa trong phát triển kinh tế; Văn hóa và quản lý, vv

Đối với các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài, chúng ta có thể thấy một

số công trình liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài như:

Charlene M Solomon - Michael S Schell “Quản lý xuyên văn hóa”, trong

công trình này, dựa trên kết quả khảo sát 139 văn phòng của 29 công ty trên 15 quốc gia kinh doanh trên 15 mặt hàng và dịch vụ khác nhau,để lý giải thành công của công ty dựa trên yếu tố quan điểm của nhân viên và văn hóa …

Chrles Hampden Turner - Fons Trompenaars (2006) “Chinh phục làn sóng

văn hóa” Đây là công trình mang lại cho những nhà quản lý chuyên nghiệp cách

xây dựng những kỹ năng giao thoa văn hóa cần thiết trong môi trường kinh doanh toàn cầu hiện nay, cách đối phó với những vấn đề về văn hóa trong quá trình hội nhập và phát triển nghiên cứu đã làm sáng tỏ những khác biệt văn hóa nói chung

và các cách nhận biết cũng như đối phó với những điều này trong kinh doanh như: địa vị xã hội, quản lý thời gian, mối tương quan với thiên nhiên, văn hóa đất nước

và văn hóa doanh nghiệp… Những yếu tố đó rất quan trọng với các doanh nghiệp Việt Nam khi muốn tìm hiểu về môi trường văn hóa doanh nghiệp nước ngoài cũng như tìm ra các bài học và hình mẫu cho mình

Trang 31

Tác giả Nguyễn Tất Thịnh với nghiên cứu “ Bàn về văn hóa ứng xử của

người Việt Nam” Công trình nghiên cứu này tập trung vào quan điểm về mối liên

hệ của văn hóa với kinh doanh, đồng thời nghiên cứu cũng nhấn mạnh đến các yếu

tố văn hóa sẽ thúc đẩy hoạt động kinh doanh trong các cơ quan kinh tế

Một công trình nghiên cứu khác do Trần Hoàng, Trần Việt Hoa bàn về

“Văn hóa ứng xử nơi công sở” Nghiên cứu đưa ra một hệ thống các giá trị, chuẩn

mực văn hóa nơi công sở, nhằm giúp các cá nhân có những hiểu biết cơ bản khi làm việc tại các hệ thống tổ chức, đồng thời đem đến cho các cá nhân những kinh nghiệm quí giá trong giao tiếp và ứng xử tại cơ quan công sở

Với đề tài“Văn hóa ứng xử Việt Nam hiện nay”, nhà nghiên cứu Nguyễn

Thanh Tuấn đã khái quát lịch sử hình thành quan niệm về văn hóa ứng xử của các học giả trên thế giới và Việt Nam Bên cạnh đó, tác giả cũng trình bày các cấp độ khác nhau của văn hóa ứng xử, quá trình phát triển văn hóa nói chung và con người Việt Nam hiện nay Đồng thời đề tài cũng đi sâu tìm hiểu sự tác động và vai trò của văn hóa ứng xử đối với sự phát triển con người Sự biến đổi của văn hóa nói chung và văn hóa ứng xử nói riêng đã được tác giả trình bày cụ thể ở phương diện nhỏ hơn ở từng nhóm xã hội Điển hình của nhóm xã hội này chính là cư dân đô thị, cư dân nông thôn và cư dân các dân tộc thiểu số Làm rõ mối quan hệ giữa văn hóa ứng xử với điều kiện xã hội, tác giả cũng đã tìm hiểu tiền đề của sự biến đổi văn hóa ứng xử Việt Nam hiện nay, cũng như xu hướng tác động của xã hội đến sự biến đổi của văn hóa ứng xử Cuối cùng tác giả chỉ ra khuynh hướng biến đổi của văn hóa ứng xử trong giai đoạn xây dựng xã hội công nghiệp theo hướng hiện đại của Việt Nam hiện nay

Bên cạnh, những công trình nghiên cứu theo hướng văn hóa ứng xử, chúng

ta còn có các công trình nghiên về những yếu tố tác động đến văn hóa khác như:

"Văn hoá và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hoá", của tác giả Nguyễn Văn Dân

(2006) Với công trình này, tác giả đi sâu vào phân tích và luận giải những vấn đề

Trang 32

như: khái niệm văn hoá, bản sắc văn hoá và bản sắc dân tộc, toàn cầu hoá văn hoá

và đa dạng văn hoá, toàn cầu hoá văn hoá và xung đột xã hội, vai trò của văn hoá đối với phát triển, đặc biệt là phát triển bền vững trong bối cảnh toàn cầu hoá, một

số cơ sở văn hoá của phát triển bền vững Nghiên cứu đã giải quyết những vấn đề

về một số nét mới trong chuẩn mực văn hóa của con người Việt Nam đang được hình thành

Đối với các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài, chúng ta có thể thấy một

số công trình liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài như:

Bên cạnh đó còn có nhiều hội thảo, bài viết liên quan đến khía cạnh này, tuy nhiên, do sự hạn chế về nguồn tiếp cận nên nghiên cứu chỉ nêu lên một vài nghiên cứu để chúng ta có thể thấy được một cái nhìn tương đối về những đề tài có liên quan đến ứng xử và văn hóa công sở Tuy nhiên, đánh giá và xem xét một cách khoa học về văn hóa hội họp và hành vi ứng xử trong hội họp là một vấn đề còn khá mới mẻ Đây cũng là lí do mà tôi quyết định lựa chọn nghiên cứu về vấn đề này

Trang 33

Chương 2 THỰC TRẠNG VĂN HÓA HỘI HỌP Ở THỦ ĐÔ HÀ NỘI HIỆN NAY 2.1 Quan niệm của cán bộ công chức, viên chức Hà Nội về văn hóa hội họp

Quan niệm thể hiện mỹ quan của con người về các vấn đề xã hội, vì vậy nó

có ý nghĩa quan trọng trong việc dẫn dắt và định hướng cho hành vi ứng xử của con người Quan niệm như thế nào thì hành vi ứng xử như thế ấy

Trong phần này, chúng tôi xem xét quan niệm của Cán bộ, Công chức, Viên chức (CBCCVC) Hà Nội trên các khía cạnh cơ bản như: họ hiểu thế nào là văn hóa hội họp? Các tiêu chí để đánh giá về văn hóa hội họp và vai trò của văn hóa hội họp đối với công tác quản lý và môi trường làm việc ở công sở

Trước hết cách hiểu về văn hóa hội họp là thế nào và những thành tố để tạo nên văn hóa hội họp Kết quả nghiên cứu định tính đã cho thấy có một số cách hiểu khác nhau về văn hóa hội họp

+ Cách hiểu thứ nhất: có rất nhiều ý kiến đưa ra cách hiểu của mình Văn hóa hội họp là sự biểu hiện hành vi ứng xử của con người trong Công sở Như ý kiến của một cán bộ nữ đang làm việc tại loại hình doanh nghiệp ngoài Quốc doanh :

“Theo mình văn hóa hội họp là tính đúng giờ khi tham gia cuộc họp Tôi nghĩ đây là phép lịch sự tối thiểu mà nhân viên cần phải có, đến đúng giờ họp cũng là một cách tôn trọng cuộc họp” [PVS, Nữ 27t, Cán bộ Công ty cung cấp

phần mềm TP Hà nội]

Cách hiểu về văn hóa hội họp của cán bộ trên cho thấy: văn hóa của hội họp

là việc đến đúng giờ, đồng thời hành vi này để thể hiện đúng vai trò của CBCCVC trong môi trường công sở

Thêm một số ý kiến khác nữa cũng đưa ra cách hiểu văn hóa hội họp của mình theo cách hiểu thứ nhất của chúng tôi:

“văn hóa hội họp chính là những thói quen của mọi người tạo ra trong cuộc

họp Nó bao gồm cả những thói quen tốt và thói quen xấu Thói quen tốt chính là

Trang 34

việc tập trung vào những vấn đế được đưa ra trong cuộc họp, đồng thời cũng là cách bày tỏ quan điểm của bản thân về những vấn đề đó Ngoài ra, nó cũng bao gồm những thói quen xấu như ngồi nói chuyện riêng, làm việc riêng trong cuộc họp” [PVS, Nam 30 tuổi, Cán bộ kinh doanh tin học, Tp Hà Nội]

“văn hóa hội họp chính là việc các thành viên nghiêm túc tham gia các buổi họp cơ quan Mọi người ngồi yên lặng, trật tự lắng nghe các ý kiến của lãnh đạo”

[PVBCT15, Nữ 26, Cán bộ văn phòng viện nghiên cứu văn hóa Tp Hà Nội]

Trong hai ý kiến ở trên, ta rất dễ nhận biết các thành tố của văn hóa hội họp theo cách hiểu của những cán bộ này: có thể là tất cả hành vi kể cả hành vi không mong đợi lẫn hành vi được chấp nhận, nhưng tựu chung vẫn là chỉ mọi hành vi ứng xử của con người với con người khi cuộc họp được diễn ra

Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều những thông tin khác trùng lặp với những nhóm quan niệm trên, nhưng xét theo một góc độ này thì tất thảy các ý kiến được đưa ra của các cán bộ trên ta đều nhận thấy: CBCCVC hướng tới việc tuân thủ các chuẩn mực, để từ đó điều chỉnh sao cho hành vi của mình phù hợp với những thiết chế đặt

ra trong môi trường làm việc được coi là văn hóa hội họp

Vậy với cách hiểu thứ nhất này: văn hóa hội họp xét cho cùng chính là những hành vi ứng xử giữa các cá nhân với nhau làm sao cho phù hợp với môi trường văn hóa công sở

+ Cách hiểu thứ hai: văn hóa hội họp là sự tổng hợp của nhiều yếu tố như: giá trị và mục tiêu mà một nhóm người hay một tổ chức xã hội hướng tới, là sự biểu hiện trình độ nhà quản lý, lãnh đạo

Trước hết, hội họp không chỉ là nhà quản lý đặt ra vấn đề xong tự giải quyết

mà còn có sự tham gia bàn bạc đóng góp của các cán bộ trong cuộc họp Do đó một số quan điểm đã cho rằng: văn hóa hội họp là sự tương tác giữa các chủ thể nhằm giải quyết các vấn đề được nhà quản lý đặt ra

“Văn hóa hội họp: Là những việc mà chúng tôi cần phải trao đổi và thông

Trang 35

qua việc trao đổi để đạt được mục đích của người quản lý Người tổ chức cuộc họp nêu lên những vấn đề, mục đích của người quản lý để cùng với tập thể bàn bạc, nắm bắt ý kiến để triển khai công việc và mọi người cùng thống nhất Họp để bàn, bàn để thống nhất hoặc để triển khai công việc để họ có thể nắm bắt, triển khai công việc cho người ta hiểu được công việc của mình…” [PVS, Nữ 39 tuổi, Chủ

tịch Phường Quảng An, Hà Nội]

Hay một quan niệm nữa của một cán bộ làm trong ngành luật về văn hóa hội họp:

“ Văn hóa hội họp là biểu hiện kết quả cuộc họp, giải quyết được vấn đề được đưa ra không vướng mắc gì…” [PVBCT, Nam, Cán bộ Tòa án nhân dân TP

đầu tư xây dựng, Hà Nội]

Quan niệm này, xem xét văn hóa hội họp từ rất nhiều góc độ: đối với nhà quản lý, lãnh đạo việc điều hành cuộc họp như thế nào để thể hiện được năng lực, cũng như trình độ quản lý của mình, cho đến những hành vi ứng xử của các thành viên

Nhìn chung, các quan niệm từ thông tin thu được ở trên chúng ta thấy trong một chiều cạnh khác văn hóa hội họp được xem là tổng hợp của rất nhiều yếu tố

Từ những yếu tố hành vi ứng xử, cho đến giá trị và mục tiêu mà một nhóm người hay một tổ chức hướng tới hay là sự biểu hiện trình độ, năng lực của nhà quản lý, lãnh đạo trong một cơ quan

Trang 36

Ngoài hai cách hiểu trên, những thông tin mà chúng tôi thu được từ nghiên cứu định tính cho thấy cũng không ít Cán bộ, Công chức, Viên chức khi được hỏi

họ tỏ ra khá mơ hồ, lung túng trong cách hiểu về văn hóa hội họp

“Mình không biết định nghĩa như thế nào cho đúng về văn hóa hội họp

nhưng theo mình hiểu thì trong một cuộc họp: thứ nhất là những nội dung được chuẩn bị kỹ lưỡng, tức là những vấn đề được đưa ra trình bày trong cuộc họp được mọi người nghiên cứu kĩ trước khi nó diễn ra” [PVS7, Nữ 30 tuổi, Cán bộ Quĩ hỗ

trợ Văn học nghệ thuật Hà Nội]

Tóm lại có rất nhiều quan niệm khác nhau về văn hóa hội họp, mặc dù vậy các quan niệm này có rất nhiều điểm tương đồng về các thành tố nhằm tạo nên văn hóa trong hội họp như: văn hóa hội họp là hệ thống các giá trị, hay các chuẩn mực được đặt ra mà mọi người hướng đến và tuân thủ, là hành vi ứng xử giữa con người với con người nơi công sở, đồng thời văn hóa hội họp có liên quan đến hai chủ thể: người quản lý, lãnh đạo và nhân viên trong một tổ chức xã hội nhất định

+ Một khía cạnh khác của quan niệm văn hóa hội họp là tiêu chí đánh giá về văn hóa hội họp của Cán bộ, Công chức, Viên chức tại địa bàn Thủ đô

Các kết quả nghiên cứu định lượng cho thấy trong quan niệm của cán bộ được hỏi, Văn hóa hội họp bao hàm các khía cạnh như: Nội dung rõ ràng, thời gian nhanh gọn, đúng giờ, điều hành khoa học, quyết định chính xác, dân chủ, có sự gắn kết giữa các thành viên, không làm việc riêng trong hội họp Đây cũng là các tiêu chí cơ bản để đánh giá về văn hóa hội họp

Kết quả khảo sát từ đề tài KX 03 - 21/06 - 10 - 21/06 - 10 – 21/06 - 10“Đổi

mới văn hóa lãnh đạo và quản lý ở Việt Nam hiện nay” tại bốn địa bàn nghiên cứu:

TPHCM, Thủ đô Hà Nội, TP Đà Nẵng và TP Hải Dương phân theo lứa tuổi cho thấy mức độ tán thành các tiêu chí này như sau: “nội dung cuộc họp rõ ràng” chiếm tỷ lệ cao nhất 80,5%, “dân chủ” có 71,0%, “điều hành một cách khoa học”

là 67,4%, “kịp thời tháo gỡ những vướng mắc” có 57,4%, “đúng giờ” có 58,7%;

Trang 37

các tiêu chí được lựa chọn nằm trong nhóm tỷ lệ thấp là tiêu chí: “tăng cường sự gắn kết các thành viên” chỉ có 32,7%,, “thành viên tham dự đầy đủ” 37,8%,

“không nói chuyện làm việc riêng” được các đối tượng lựa chọn 33,8%

Đó là những kết quả phản ánh quan niệm chung, còn tại Hà Nội các số liệu của khảo sát có mang lại những khác biệt?

Bảng 2.1: Tiêu chí Văn hóa hội họp của CBCCVC Thủ đô Hà Nội

(Nguồn: Số liệu khảo sát của Đề tài KX 03 - 21/06 - 10- 21/06- 10)

Nhìn vào kết quả của bảng trên cho thấy tại Hà Nội những lựa chọn tiêu chí cho cuộc họp của các cán bộ công chức cũng có nhiều nét tương đối trùng khớp với kết quả chung của cuộc điều tra Với những tiêu chí được lựa chọn nhiều nhất vẫn là nội dung cuộc họp rõ ràng (chiếm 86,2%), điều hành một cách khoa học (80,1%) ; và tiêu chí lựa chọn thấp nhất trong các tiêu chí được đưa ra là tăng cường sự gắn kết các thành viên (25,3%)

Trang 38

Xem xét từ khía cạnh chuẩn bị cho mỗi cuộc họp thì: “Nội dung cuộc họp” luôn là tâm điểm, thu hút sự quan tâm lớn nhất của các CBCCVC trong một cơ quan, tổ chức điều này là không thể phủ nhận Thực tế cho thấy mỗi khi có cuộc họp thì câu hỏi lớn nhất được đặt ra: họp về cái gì? (Một câu hỏi về nội dung), để hình thành và tổ chức một cuộc họp Bên cạnh đó, đối với các CBCCVC câu hỏi này không phải là ngẫu nhiên, hỏi cho vui mà đây là câu hỏi mang tính mục đích Mục đích đối với người hỏi có thể để chuẩn bị cho những ý kiến của mình sẽ phát biểu, hoặc xem xét những lợi ích hay đánh giá giá trị của cuộc họp đó đối với họ như thế nào

Sự quan tâm lớn nhất không chỉ dừng lại ở nội dung cuộc họp, mà CBCCVC còn cho rằng cách thức tổ chức cuộc họp (Điều hành cuộc họp một cách khoa học) cũng là một trong những tiêu chí không kém phần quan trọng Điều này chúng ta cũng rất dễ thấy tại các cuộc họp, đối với CBCCVC họ tham gia vào quá trình hội họp cũng là để phần nào đánh giá năng lực quản lý của nhà lãnh đạo, đồng thời họ

kỳ vọng vào cách điều hành cuộc họp sẽ mang lại

Nhưng, mặt khác nội dung cuộc họp cũng như cách thức tổ chức cuộc họp, xem xét trong nhiều chiều cạnh khác nhau thì có thể thấy: đây là yếu tố quyết định hiệu quả cuộc họp và có liên quan tới việc chấp hành qui định của hội họp Vì rất

có khả năng xảy ra hiện tượng làm việc riêng, nói chuyện riêng, đến muộn do nội dung cuộc họp nghèo nàn, không hữu ích, cách điều hành thiều khoa học

Một vấn đề nữa mà nghiên cứu cũng quan tâm trong các kết quả định lượng trên: tại sao người ta không đề cao vấn đề liên kết xã hội trong cuộc họp? Liệu sự quan niệm đó có đúng với thực tế xã hội Việt Nam không?

Hội họp luôn là thời điểm gặp mặt hay trao đổi những ý kiến giữa các cá nhân tiêu chí tăng cường sự liên kết xã hội lại có một tỷ lệ thấp như vậy? Tham khảo một số ý kiến chuyên gia họ cho rằng:

“ Cuộc họp nào cũng sẽ có nhiều ý kiến đóng góp, một số ý kiến động chạm

Trang 39

tới những vấn đề cá nhân và những cá nhân đó cảm thấy khó chịu, như vậy là mất hòa khí rồi làm sao mà thân thiết được nữa Với lại đa số nghĩ tới hội họp thường cho rằng hội họp chỉ xảy ra trong những trường hợp bàn những chuyện công việc của cơ quan công sở họ cũng không tính đến trường hợp hội họp có thể là gặp mặt cuối năm hay một sinh hoạt văn hóa cộng đồng nào đó nên trong trường hợp này lựa chọn cho tiêu chí tăng cường gắn kết các thành viên rất ít là hợp lý ” [Cán bộ

nghiên cứu Viện Văn hóa Nghệ thuật TP Hà Nội]

Một ý kiến của một cán bộ khác cho rằng : “ trong cuộc họp các vấn đề

đưa ra thảo luận thường có các quan điểm trái ngược nhau lúc đó sẽ gây ra những xung đột quan điểm tạo cho không khí buổi họp căng thẳng ai cũng bảo vệ quan điểm của mình nên khó có thể có sự gắn kết giữa các thành viên trong cuộc họp được ” [PVS, Cán bộ nghiên cứu Viện Văn hóa, TP Hà Nội]

Với những thông tin thu được từ nghiên cứu định tính cho thấy hoàn toàn phù hợp với kết quả định lượng đã đưa ra Việc các chủ thể lựa chọn cho tiêu chí này thấp là dựa trên cách hiểu về hội họp mang tính chất của bàn bạc vấn đề quan trọng trong công việc hay tranh luận những luận điểm khoa học, đồng thời họ dựa trên quan điểm đề cao cái tôi của cá nhân trong hội họp nên dẫn đến sự lựa chọn cho tiêu chí này rất thấp

Tuy vậy, đứng trên quan điểm của tác giả cho rằng: thực chất với cuộc họp nào đi chăng nữa, cho dù là tranh luận khoa học, hay cuộc họp có tính chất phê bình thì nó cũng nhằm tạo ra sự gắn kết các thành viên trong một cơ quan, tổ chức

+ Một yếu tố cuối cùng nằm trong quan niệm của CBCCVC về văn hóa hội họp của CBCCVC Thủ đô Hà Nội nữa mà nghiên cứu muốn nhắc đến: quan niệm

về vai trò của văn hóa hội họp và vị trí của vai trò này đối với họ như thế nào?

Có thể nói, quan niệm về vai trò văn hóa hội họp đối với CBCCVC: văn hóa hội họp sẽ tạo ra môi trường làm việc tốt hơn, nó thúc đẩy cho các cá nhân thể hiện năng lực của bản thân trong công việc, ý thức tuân thủ các qui định nơi họ làm việc

Trang 40

và sự kỳ vọng vào khả năng lãnh đạo của nhà quản lý Điều này có thể thấy qua

các kết quả định tính mà chúng tôi thu được: “ Theo tôi thấy một cuộc họp có

văn hóa cao sẽ làm cho mọi người có ý thức làm việc hơn, tham gia ý kiến đóng góp nhiều hơn ” [Cán bộ Thời báo Ngân hàng, Hà Nội]

Một ý kiến khác đưa ra cũng cho rằng vai trò của văn hóa hội họp là thúc đẩy

năng lực của các cá nhân trong hội họp: “ môi trường văn hóa hội họp lành

mạnh sẽ tạo động lực cho mọi người làm việc hăng say, để đến lúc họp đưa ra những sáng kiến cho mọi người thấy được khả năng làm việc của mình ” [Cán

bộ,Trung tâm Truyền hình Cáp Trung ương, Hà Nội]

Thực tế cho thấy còn rất nhiều ý kiến trùng lặp với những thông tin định lượng mà chúng tôi thu được ở trên Tuy nhiên, việc họ đưa ra quan niệm của mình rằng vai trò văn hóa hội họp là động lực thúc đẩy làm việc, làm tăng giá trị cá nhân, thì với họ vai trò của văn hóa hội họp liệu có quan trọng hay không quan trọng trong quản lý hành chính?

Để thấy được tầm quan trọng của hội họp trong hoạt động quản lý nói chung, vai trò văn hóa hội họp nói riêng trong hoạt động quản lý chúng ta hãy cùng xem biểu đồ dưới đây:

(Nguồn: Số liệu khảo sát của Đề tài KX 03 - 21/06 - 10- 21/06 - 10)

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng chữ viết tắt - Quan niệm và hành vi ứng xử trong văn hóa hội họp hiện nay (Nghiên cứu trường hợp Thành Phố Hà Nội
Bảng ch ữ viết tắt (Trang 6)
Bảng 2.1: Tiêu chí Văn hóa hội họp của CBCCVC Thủ đô Hà Nội - Quan niệm và hành vi ứng xử trong văn hóa hội họp hiện nay (Nghiên cứu trường hợp Thành Phố Hà Nội
Bảng 2.1 Tiêu chí Văn hóa hội họp của CBCCVC Thủ đô Hà Nội (Trang 37)
Bảng 2.2: Tình hình chấp hành giờ giấc hội họp ở Thủ đô Hà Nội   phân theo loại hình cơ quan - Quan niệm và hành vi ứng xử trong văn hóa hội họp hiện nay (Nghiên cứu trường hợp Thành Phố Hà Nội
Bảng 2.2 Tình hình chấp hành giờ giấc hội họp ở Thủ đô Hà Nội phân theo loại hình cơ quan (Trang 46)
Bảng 2.3: Hiện tƣợng nói chuyện riêng trong hội họp  Phân theo các loại hình cơ quan (%) - Quan niệm và hành vi ứng xử trong văn hóa hội họp hiện nay (Nghiên cứu trường hợp Thành Phố Hà Nội
Bảng 2.3 Hiện tƣợng nói chuyện riêng trong hội họp Phân theo các loại hình cơ quan (%) (Trang 50)
Bảng 2.7: Tương quan giữa địa bàn khảo sát  và cuộc họp không có kết luận - Quan niệm và hành vi ứng xử trong văn hóa hội họp hiện nay (Nghiên cứu trường hợp Thành Phố Hà Nội
Bảng 2.7 Tương quan giữa địa bàn khảo sát và cuộc họp không có kết luận (Trang 56)
Bảng 3.1: Tương quan giới tính và lựa chọn các tiêu chí cho cuộc họp  (%) - Quan niệm và hành vi ứng xử trong văn hóa hội họp hiện nay (Nghiên cứu trường hợp Thành Phố Hà Nội
Bảng 3.1 Tương quan giới tính và lựa chọn các tiêu chí cho cuộc họp (%) (Trang 60)
Bảng 3.2: Tương quan giới tính với các hành vi lệch chuẩn trong hội họp - Quan niệm và hành vi ứng xử trong văn hóa hội họp hiện nay (Nghiên cứu trường hợp Thành Phố Hà Nội
Bảng 3.2 Tương quan giới tính với các hành vi lệch chuẩn trong hội họp (Trang 61)
Bảng 3.4: Tương quan nhóm tuổi và các hành vi trong hội họp (%) - Quan niệm và hành vi ứng xử trong văn hóa hội họp hiện nay (Nghiên cứu trường hợp Thành Phố Hà Nội
Bảng 3.4 Tương quan nhóm tuổi và các hành vi trong hội họp (%) (Trang 64)
Bảng 3.5: Tương quan giữa học vấn và các tiêu chí cho cuộc họp - Quan niệm và hành vi ứng xử trong văn hóa hội họp hiện nay (Nghiên cứu trường hợp Thành Phố Hà Nội
Bảng 3.5 Tương quan giữa học vấn và các tiêu chí cho cuộc họp (Trang 67)
Bảng 3.6: Các hành vi lệch chuẩn trong hội họp - Quan niệm và hành vi ứng xử trong văn hóa hội họp hiện nay (Nghiên cứu trường hợp Thành Phố Hà Nội
Bảng 3.6 Các hành vi lệch chuẩn trong hội họp (Trang 69)
Bảng 3.7: Tương quan giữa vị thế xã hôi trong   lựa chọn các tiêu chí cho cuộc họp - Quan niệm và hành vi ứng xử trong văn hóa hội họp hiện nay (Nghiên cứu trường hợp Thành Phố Hà Nội
Bảng 3.7 Tương quan giữa vị thế xã hôi trong lựa chọn các tiêu chí cho cuộc họp (Trang 71)
Bảng 3.8: Tương quan giữa quy định hội họp với các loại hình tổ chức xã hội - Quan niệm và hành vi ứng xử trong văn hóa hội họp hiện nay (Nghiên cứu trường hợp Thành Phố Hà Nội
Bảng 3.8 Tương quan giữa quy định hội họp với các loại hình tổ chức xã hội (Trang 76)
Hình thức  Thường xuyên  Thỉnh thoảng  Hiếm khi  Không bao giờ - Quan niệm và hành vi ứng xử trong văn hóa hội họp hiện nay (Nghiên cứu trường hợp Thành Phố Hà Nội
Hình th ức Thường xuyên Thỉnh thoảng Hiếm khi Không bao giờ (Trang 92)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w