1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan niệm của sinh viên về vai trò giới trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản

98 1,1K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nghiên cứu xã hội học không ngừng báo động thực tạng quan hệ tình dục sớm, mang thai, nạo phá thai ngoài ý muốn trong thanh thiếu niên để lại hậu quả nghiêm trọng cho bản thân người

Trang 1

Đại học quốc gia Hà nội Trường đạị học khoa học xã hội và nhân văn

Khoa xã hội học

Nguyễn Thanh huyền

Quan niệm của sinh viên về vai trò giới trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản

Luận văn thạc sỹ xã hội học

Trang 2

Đại học quốc gia Hà nội

Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn

Khoa xã hội học

Nguyễn Thanh huyền

Quan niệm của sinh viên về vai trò giới trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản

Ngành xã hội học

Mà số: 603130

Luận văn thạc sỹ xã hội học

Người hướng dẫn; PGS-TS Lê Ngọc Hùng

Hà nội-2008

Trang 3

Những từ viết tắt trong luận văn

CSSKSS Chăm sóc sức khoẻ sinh sản

Trang 4

Mục lục

Trang

3 ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 18

5 Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

của đề tài

19

Chương I Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài

Chương II quan niệm của sinh viên về vai trò giới đối với một số

vấn đề cơ bản trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản

36

I.Quan niệm về quan hệ tình dục và tình dục an toàn 37

Trang 5

1.Hiểu biết của sinh viên về tình dục và tình dục an toàn

2 Thái độ của sinh viên về tình dục và tình dục an toàn 39

II Các bệnh lây truyền qua đường tình dục

1.Hiểu biết về các bệnh lây truyền qua đường tình dục

45

45 2.Thái độ của sinh viên về các bệnh lây truyền qua đường tình dục 47 III Các biện pháp tránh thai và nạo phá thai

1.Hiểu biết về các biện pháp tránh thai và nạo phá thai

50

50 2.Thái độ của sinh viên về các biện pháp tránh thai và nạo phá thai 57

Chương III.Một số yếu tố ảnh hưởng đến quan niệm của sinh viên

về các vấn đề trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản

I Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến quan niệm của sinh viên về các vấn đề trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản

63

63

1 Các phương tiện truyền thông đại chúng 63

Phần III Kết luận và khuyến nghị

I Kết luận

85

85

Trang 6

Phần I Mở đầu 1.Tính cấp thiết của đề tài

Xã hội loài người được sinh ra, tồn tại và phát triển dựa trên sự kết hợp

và nỗ lực không ngừng của cả phụ nữ và nam giới.Trong lịch sử phát triển vĩ đại đó, có đóng góp lớn lao của sự hiểu biết về giới tính, sức khoẻ sinh sản và bình đẳng giới Tuy vậy, dù đã có những lý luận mới, nhưng trên thế giới, ở đâu đó vẫn còn những người phụ nữ không được tạo điều kiện hay bị hạn chế trong việc phát huy tiềm năng cá nhân để đóng góp vào tiến trình phát triển chung của xã hội loài người.Điều đó, đã tạo ra bất công xã hội, bất bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới

Nếu như không có bất công xã hội, không có sự bất bình đẳng giới thì người phụ nữ đã cống hiến được nhiều hơn cho tiến trình phát triển, và do đó

sự phát triển của thế giới ngày nay lớn hơn nhiều

Kế thừa và phát huy lý luận mới, các nhà xã hội học và phát triển học cho rằng, ngày nay một xã hội muốn đạt tới sự phát triển bền vững thì cả phụ

nữ và nam giới đều cần có cơ hội tiếp cận bình đẳng với các nguồn và lợi ích

mà xã hội mang lại, trên cơ sở đó họ mới có điều kiện để phát huy hết tiềm năng, cống hiến cho tiến trình phát triển chung của nhân loại

Một xã hội muốn phát triển bền vững phải đảm bảo sự phát triển cân bằng về giới; ngược lại sự phát triển cân bằng về giới là một trong những điều kiện cơ bản để có sự phát triển bền vững Trên cơ sở luận điểm đó, các nhà khoa học xã hội đã đi sâu nghiên cứu về mối quan hệ và sự tương quan giữa phụ nữ và nam giới tồn tại trong các môi trường văn hoá - xã hộ khác nhau, cũng như xem xét mối quan hệ và sự tương quan đó liên quan tới phát triển bền vững như thế nào Trong số những cái giá phải trả cho sự bất bình đẳng giới thì nặng nề nhất là những tổn hại về cuộc sống con người và chất lượng

Trang 7

cuộc sống.Nhận dạng và đo lường đẩy đủ mức độ của những cái giá phải trả này là rất khó khăn nhưng vô số bằng chứng từ các nước trên khắp thế giới đã chứng tỏ xã hội nào có sự bất bình đẳng giới gay gắt và dai dẳng thì xã hội đó

sẽ phải trả giá đắt hơn bằng sự nghèo đói, suy dinh dưỡng, ốm đau và những

sự bần cùng khác Sự bất bình đẳng giới trong việc đến trường và việc làm ở

đô thị đã làm gia tăng tỉ lệ nhiễm HIV.Nạn dịch AIDS sẽ lan tràn nhanh chóng hơn trong thập kỷ tới cho đến khi đạt tỉ lệ cứ 1 trong 4 phụ nữ và 1 trong 5 nam giới bị nhiễm HIV, như trường hợp đã xảy ra ở một số nước Tiểu Sahara châu Phi

Tuy phụ nữ, thường phải chịu gánh nặng chủ yếu của sự phân biệt giới, nhưng nam giới cũng không thể tránh khỏi hậu quả.Những quyền bất bình đẳng về làm chủ đất đai hoặc vay vốn đã tước đoạt của phụ nữ những nguồn lực cho cuộc sống hàng ngày của họ và cho việc đảm bảo tuổi già, buộc họ phụ thuộc nhiều hơn vào những người họ hàng là nam giới Sự phân biệt giới sâu sắc trong giáo dục đã gây ra sự khác biệt tương ứng về năng lực của phụ

nữ và nam giới trong việc thu thập và xử lý thông tin và trong việc giao tiếp

Sự mất cân bằng giới trong việc tiếp cận nguồn lực và quyền lực để lại hậu quả đối với tính tự chủ tương đối của phụ nữ và nam giới và ảnh hưởng của

họ đến việc ra các quyết định trong gia đình Từ đó, tính phụ thuộc và sự rập khuôn trở thành những nguyên nhân phổ biến gây ra tình cảnh vô vọng và nỗi khắc khoải bị đè nén đối với cả nam giới và phụ nữ, dẫn tới những hậu quả thậm chí còn tồi tệ hơn.Hãy lấy căn bệnh AIDS và bạo lực có liên quan tới giới làm ví dụ Nạn dịch AIDS, sự bất bình đẳng giới làm tăng thêm tỷ lệ nhiễm AIDS Một nghiên cứu về thủ đô của 12 nước đang phát triển cho thấy, hai thước đo của sự bất bình đẳng giới gắn liền với tỷ lệ nhiễm bệnh cao hơn giữa những nhóm người lớn có nguy cơ cao, sau khi đã giữ cố định sáu biến

số kinh tế xã hội khác ( Over 1998) Đầu tiên trong nhóm người lớn có nguy

Trang 8

cơ cao ( những người làm nghề mại dâm và những bệnh nhân tại các bệnh viện điều trị các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục) thì tỷ lệ cao giữa dân cư thành thị nam giới so với dân cư thành thị nữ giới trong nhóm có độ tuổi về tình dục mạnh nhất là một chỉ báo có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ lây nhiễm cao

Tỷ lệ nam so với nữ vào khoảng 1,2 có lễ có liên quan đến mức cấu về mua bán tình dục trên đầu người cao hơn và điều này có thể làm tăng thêm tốc độ lây nhiễm HIV cả ở trong và ngoài nhóm nhỏ gồm những người làm nghề mại dâm ( mà phần lớn trong số đô là phụ nữ) Hai là, trong số những người lớn

có nguy cơ thấp, như phụ nữ có thai, tỷ lệ lây nhiễm bệnh cao hơn ở các thành phố nơi có khoảng cách lớn hơn về tỷ lệ biết chữ giữa nam và nữ Trong phép hồi quy nhóm, cả hai biến số này đều có ý nghĩa thống kê

Mỗi năm thế giới có khoảng 19 triệu trường hợp nạo phá thai không an toàn dẫn tới cái chết của 68.000 thai phụ, theo tổ chức Y tế thế giới ( WHO)

Trong cuộc nghiên cứu lần đầu tiên trên phạm vi toàn cầu về sức khoẻ giới tính và sinh sản được công bố trên tờ tạp chí y học Lancet, WHO cho biết đối với những người kết hôn muộn, việc quan hệ tình dục trước hôn nhân diễn

ra khá nhiều, dẫn đến tỷ lệ có thai ngoài ý muốn, phá thai không an toàn và mắc các bệnh lây qua đường tình dục cao hơn

(Theo www.tin247.com/02/11/2006) Dường như cứ một phút qua đi lại có một bà mẹ chết do hậu quả hoặc những biến chứng do thai nghén hoặc do sinh đẻ Trong số họ, phần lớn là những người còn trẻ hoặc mới bắt đầu làm mẹ Không những thế, cứ một bà

mẹ tử vong do thai sản thì có khoảng 100 bà mẹ khác bị đau yếu, mất sức lao động hoặc bị tật nguyền hoặc bị những tổn thương sinh lý do hậu quả của các biến chứng thai sản Theo số liệu thống kê của Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc,

tỷ lệ tử vong mẹ khác nhau giữa các châu lực, có tới 99% là những người đang sống ở các nước thuộc thế giới thứ 3, đặc biệt là những phụ nữ ở Đông

Trang 9

và Tây Châu Phi và một số nước ở Châu á cũng như châu Mỹ La Tinh, trong

đó có Việt Nam

ở lứa tuổi thành niên, có thể đã có quan hệ tình dục sớm và hậu quả là

sẽ có thai ngoài ý muốn của các em, của gia đình và của toàn xã hội Vì vậy, việc hiểu biết và thực hiện các biện pháp tránh thai phù hợp cho các em ở lứa tuổi thanh niên vào những thời điểm cần thiết là hết sức quan trọng trong tình hình hiện nay Có như vậy chúng ta mới có thể ngăn chặn và giảm dần được

sự có thai ngoài ý muốn và tình trạng nạo phá thai bừa bãi rất đáng lo ngại của các em ở lứa tuổi thanh niên và vị thành niên hiện nay ở nước ta

Hiện nay, tỷ lệ nạo thai ở lứa tuổi thanh niên và vị thành niên có xu hướng gia tăng Bên cạnh việc giáo dục và hướng dẫn thanh niên và vị thành niên về tình bạn, tình yêu trong sáng và tình dục lạnh mạnh an toàn, việc giáo dục các em về tác hại của việc nạo hút thai nhằm giúp các em biết bảo vệ sức khoẻ của mình là hết sức quan trọng và cần thiết Hiểu biết về các biện pháp tránh thai sẽ giúp cho thanh niên và vị thành niên Về tác hại của việc nạo phá thai và các bệnh lấy truyền quan đường tình dục sẽ giúp họ có các cách phòng tránh tốt nhất Tuy nhiên, trong thực thế vẫn còn tỷ lệ đáng kể các em không biết về tác hại của việc nạo phá thai và các bệnh lây truyền qua đường tình dục nên đã để lại hậu quả đáng tiếc cho bản thân các em, cho gia đình và toàn xã hội

Trong một số nghiên cứu mới đây của dự án “ Bình đẳng giới và đẩy mạnh sự tham gia của nam giới trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản”- VIE/97/P11, các số liệu cho thấy thanh niên và vị thành niên hiện nay biết rất

ít về khái niệm sức khoẻ sinh sản Kết quả điều tra cho thấy có tới 26,1% số thanh niên và vị thành niên không biết cụm từ SKSS các KHHGĐ Các nghiên cứu về giới đang được ứng dụng rộng rãi trong việc hoạch định các chính sách kinh tế – xã hội của tiến trình phát triển ở nhiều quốc gia.Các nội

Trang 10

dung liên quan đến giới và phát triển cũng được đưa vào chương trình đào tạo

ở nhiều cấp học của hầu hết các quốc gia phát triển trên thế giới

Báo cáo của cơ quan chức năng đưa ra những con số kinh hoàng từ nạo phá thai Các nghiên cứu xã hội học không ngừng báo động thực tạng quan hệ tình dục sớm, mang thai, nạo phá thai ngoài ý muốn trong thanh thiếu niên để lại hậu quả nghiêm trọng cho bản thân người trong cuộc lẫn gia đình họ và xã hội như suy giảm sức khoẻ, thậm chí có nguy cơ tử vong cao hoặc vô sinh, ngoài ra nó còn làm ảnh hưởng đến giá trị đạo đức xã hội và liên quan đến vấn đề chất lượng dân số lâu dài

Hành động của con người thông thường bắt nguồn từ nhận thức, mà nhận thức đúng đắn thường bắt nguồn từ sự có kiến thức đầy đủ, khách quan

về vấn đề đặt ra hoặc từ những kinh nghiệm thực tiễn đúc kết được trong cuộc sống thực tế Trong lĩnh vực chúng ta đang đề cập, vị thành niên là lứa tuổi bước vào quan hệ tình dục, chuẩn bị lập gia đình, sinh con Bởi vậy, vấn đề sức khoẻ sinh sản vị thành niên có ảnh hưởng lớn đến dân số và con người trong tương lai Nếu vị thành niên và thanh niên mặc bệnh về đường tình dục,lây nhiễm HIV/AIDS thì những đứa con của họ sẽ không đủ năng lực để tham gia vào hoạt động xã hội Do vậy, có kiến thức về sức khoẻ sinh sản sẽ giúp cho vị thành niên thoát khỏi hậu quả vì thiếu hiểu biết

Nhằm nâng cao nhận thức về sức khoẻ sinh sản vị thành niên, và nhằm tìm hiểu về quan điểm của sinh viên người chủ tương lai của đất nước về vai trò giới trong vấn đề chăm sóc sức khoẻ sinh sản.Tạo điều kiện cho họ tiếp cận với các thông tin, các kỹ thuật, dịch vụ thân thiện về sức khoẻ sinh sản, giúp họ có nhận thức đúng đắn với vấn đề này, nhận thức được tầm quan

trọng và ý nghĩa cấp bách về vấn đề này tôi lựa chọn đề tài: “ Quan niệm

của sinh viên về vai trò giới trong chăm sóc sức khoẻ sinh sả

Trang 11

2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

2.1 Một số nghiên cứu về sức khoẻ sinh sản ở nước ngoài

Nghiên cứu về sức khoẻ sinh sản vị thành niên và thanh niên được hình thành rất sớm, nhất là ở các quốc gia phát triển nhưng thường được lồng ghép trong nhiều chương trình nghiên cứu khác nhau, chẳng hạn như sức khoẻ sinh sản vị thành niên hay giới tính, tình dục thanh thiếu niên Có lẽ bắt đầu từ hội nghị quốc tế về dân số và phát triển tại Cairo ( tháng 4/1994), sau khi định nghĩa chính thức về sức khoẻ sinh sản được thống nhất phổ biến trên mọi quốc gia trên thế giới thì mối quan tâm của không chỉ các nhà khoa học, các nhà giáo dục, các nhà quản lý xã hội mà cả các bậc cha mẹ đối với vấn đề sức khoẻ vị thành niên được đẩy lên trình độ mới

Các kết quả nghiên cứu về lĩnh vực quan hệ tình dục, nạo hút thai và sinh đẻ ở vị thành niên trên thế giới gần đây cho chúng ta kết quả hết sức bất ngờ.Theo WHO, hằng năm có khoảng 20 triệu ca nạo phá thai không an toàn.Theo UNFPA, hiện nay mỗi năm có khoảng 15 triệu vị thành niên nữ sinh con, chiếm 10% số phụ nữ sinh con.Trên thế giới, Mỹ là quốc gia có tỷ lệ

nữ vị thành niên mang thai sớm cao nhất ở các nước phát triển, ở Mỹ có khoảng 20% số phụ nữ đẻ trước tuổi 20.Các nghiên cứu cụ thể cho thấy, ở châu Phi có thai ngoài dự định dao động từ 50 -90% trong số vị thành niên chưa chồng và 25 – 40% trong số Vị thành niên có chồng , ở Kenia, số vị thành niên có thai ngoài dự định trong nhóm chưa chồng là 74% và nhóm có chồng là 47%, còn ở Pêru số vị thành niên có thai ngoài dự định trong nhóm chưa chồng là 69% và nhóm có chồng là 51%.Nhìn chung, số vị thành niên mang thai ngoài dự định ở các nước Mỹ –Latinh dao động từ 20-52%.Với tình trạng mang thai ngoài dự định như trên nên mỗi năm có tới 4,4 triệu ca nạo phá thai của vị thành niên, đây là một trong những nguyên nhân cơ bản tàn phá sức khoẻ sinh sản vị thành niên trên thế giới hiện nay

Trang 12

Các số liệu tổng hợp về tình trạng vị thành niên sinh con ngoài ý muốn

ở một số khu vực có tỷ lệ cao là:Mỹ –latinh: 40-50%, Bắc Phi và Tây á: 23%, ấn độ và Pakistan: 16%,Philippin, Bangladesh, Srilanka và Thailand, 23-41%

15-Tình trạng quan hệ tình dục sớm và mức bệnh lây truyền qua đường tình dục ở vị thành niên mang tính toàn cầu và thực sự phải báo động đỏ trong mọi quan hệ tình dục sớm để lại những hậu quả xã hội nghiêm trọng về mang thai, nạo hút thai ngoài ý muốn và mắc các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, đặc biệt là căn bệnh HIV/AIDS

Một số nghiên cứu cho thấy, Vị thành niên Mỹ, ở tuổi 15 có khoảng 27% nữ và 33% nam đã có sinh hoạt tình dục, đến tuổi 17 tỷ lệ này tăng lên 50% và 66%.Nếu tính riêng trong nhóm vị thành niên học sinh thì có đến 72%

số học sinh ở Mỹ có quan hệ tình dục khi bước vào năm học cuối phổ thông trung học, trong số đó có tới 40%các học sinh ở tuổi 15.Theo ước tính của văn phòng thông tin dân số Mỹ về SKSS vị thành niên thì có ít nhất 80% số người bước vào tuổi 20 ở vùng cận sa mạc Sahara ( Châu Phi) đã trải qua quan hệ tình dục.Vì thế nên đây cúng là nơi mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục lớn nhất, chẳng hạn như HIV/ADIS theo UNAIDS (Quỹ liên hiệp quốc về phòng chống AIDS) thì ở đây số người mắc HIV/AIDS chiếm 2/3 bệnh nhân này của thế giới

ở Thái Lan ngay từ những năm 79 (TK XX) các nghiên cứu đã có tới 60% vị thành niên nam có quan hệ tình dục trong đó một số không nhỏ mới ở tuổi 13; ở Trung Quốc các thống kê mới đây khẳng định có 20% nữ học sinh

có quan hệ tình dục,ở Băngladesh 25% và ở Nêpan 34% Vị thành niên nữ 14 tuổi đã kết hôn; Châu Phi là lục địa có tỷ lệ vị thành niên có quan hệ tình dục

và mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục lớn nhất thế giới Các nghiên cứu cụ thể cho thấy, ở Botswana ( 1995) có 41% nữ và 15% nam ở tuổi 15 -

Trang 13

16 đã có quan hệ tình dục, ở Camaroon (1996) 55% nữ và 70% nam đã có quan hệ tình dục ở tuổi 15, nghiên cứu này còn khẳng định, vị thành niên càng lớn tuổi mức độ quan hệ tình dục càng tăng và có tới 5% nữ và 16% nam

ở tuổi từ 12-17 đã có trên hai bạn tình thường xuyên

Theo ước tính của WHO, mỗi năm có khoảng 250 triệu người mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, trong đó nhóm tuổi 15-19% chiếm tỷ lệ cao thứ 2 sau nhóm 20-24 tuổi Sở dĩ nhóm thanh niên mắc các bệnh LTQĐTD cao là do khi QHTD nhóm này thường không sử dụng biện pháp tránh thai an toàn là bao cao su.Cũng theo tổ chức này, 1/20 số nữ vị thành niên mắc các bệnh LTQĐTD hàng năm.Nghiên cứu cụ thể ở Kenya, Nigieria, Sierra Leone tỷ lệ nữ Vị thành niên mắc các bệnh nêu trên dao động từ 16-36%, ở Mỹ 1/8 vị thành niên đăng ký chữa bệnh LTQĐTD hàng năm.Hiện nay trên thế giới có trên 15 triệu người nhiễm HIV, tỷ lệ cao nhất đối với nam

là nhóm tuổi 15 – 25 và với nữ là nhóm tuổi 25 – 35%

Cùng với tình trạng QHTD sớm có thai, nạo hút thai và sinh đẻ sớm, mắc các bệnh LTQĐTD gia tăng nhanh, thực trạng vị thành niên ngày càng dính líu và tham gia vào các tệ nạn xã hội như tệ nạn ma tuý, tệ nạn mại dâm, rượu chè cờ bạc và trộm cắp…mang tính toàn cầu đang trở thành mối lo ngại lớn của mọi quốc gia.Chính vì thế thực tế đang đòi hỏi cấp bách cần có một chiến lược mới mang tính toàn cầu đang trở thành mối lo ngại của mọi quốc gia.Chính vì thế thực tế đang đòi hỏi cấp bách cần có một chiến lược mới

mang tính toàn cầu vì SKSS vị thành niên

2.2 Một số nghiên cứu về sức khoẻ sinh sản ở Việt Nam

Chăm sóc sức khoẻ, đặc biệt là sức khoẻ sinh sản thanh thiếu niên là vấn đề đã được Đảng và Nhà nước ta sớm quan tâm, chú ý Ngay từ những năm đầu thập kỷ 60, vấn đề dân số đã được đặt ra với mục tiêu chính là nâng cao chất lượng dấn số thông qua các biện pháp hướng dẫn, động viên nhân

Trang 14

dân thực hiện sinh đẻ có kế hoạch, bảo vệ bà mẹ và trẻ em Nội dung chính của Quyế định số 216/TTg của Thủ tướng Chính phủ (1961) nhằm nâng cao chất lượng dân số, vì sức khoẻ của nhân dân và hạnh phúc gia đình cũng chính là những nội dung mà hơn 30 năm sau mới được cộng đồng quốc tế thống nhất tại Hội nghị dân số và phát triển ở Cairo (1994) Một năm trước khi hội nghị này khai mạc ngày, 14/1/1993, Ban chấp hành Trung ương Đảng

đã ra Nghị quyết số 04/NQ-HNTƯ xác định: “Thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ, quan tâm những người có công với nước, những người nghèo, đồng bào các dân tộc thiểu số Bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ bà

mẹ và trẻ em, hạ thấp tỷ lệ suy dinh dưỡng và các bệnh tật về dinh dưỡng ở trẻ em”

Và “Cải thiện chế độ dinh dưỡng và chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ

em, giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh …”

Về trách nhiệm của nam giới trong việc thực hiện dân số – kế hoạch hoá gia đình:

Chỉ thị 99/TTg ngày 16/8/1963 của Thủ tướng chính phủ về công tác hướng dẫn sinh đẻ có kế hoạch, phần phương pháp tiến hành công tác hướng dẫn sinh đẻ,có viết

“Đối tượng tuyên truyền, giáo dục là những người có vợ chồng, những người sắp trở thành vợ chồng Đối tượng bao gồm nam nữ thanh niên, những người trung niên và các bậc phụ lão, vì các cụ hay đòi sớm có con cháu Cần chú trọng thanh niên và nam giới.Tuyên truyền, giáo dục phải thích hợp với từng đối tượng…”

Quan điểm giới sớm được chú ý đến trong các chính sách về dân số ở nước ta, và nó thường được nhắc lại trong các văn bản ở những năm sau:

Trang 15

Chỉ thị 265/CP ngày 19/10/1978 của chính phủ về đẩy mạnh cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch, phần phương pháp tiến hành chỉ rõ: “ Đối tượng là những phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ, đồng thời phải coi trọng tuyên truyền vận động trong nam giới, trong quân đội và công an Phải giải thích cho các bậc phụ lão hiểu rõ để ủng hộ chủ trương này”

Chương V “ Thông điệp truyền thông” của Quyết định 315/HĐBT xác định:

*Trách nhiệm của nam giới

Làm cho nam giới hiểu rằng kế hoạch hoá gia đình không chỉ là việc riêng của phụ nữ Là một công dân, người chồng, người cha, nam giới có trách nhiệm và bổn phận tham gia tích cực vào chương trình dân số và kế hoạch hoá gia đình, ủng hộ người vợ và bản thân cũng áp dụng các biện pháp tránh thai”

Chỉ thị số 50/CT-TƯ ngày 6/3/1995 của Ban Bí thư Trung ương Đảng

về việc đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng về chính sách dân số – kế hoạch hoá gia đình, nhấn mạnh, trong khi vận động các đối tượng cần lưu ý: “ Vận động nam giới, làm cho nam giới thấy đầy đủ trách nhiệm của bản thân với việc sinh đẻ trong gia đình.Từ khi có cuộc vận động sinh đẻ đến nay, chúng ta có phần thiếu chú ý vận động nam giới một cách đầy đủ, do đó có nhiều người chồng chưa nhận thức đúng trách nhiệm trong công tác này”

Từ những chủ trương chính sách có liên quan đến dân số nêu ra trên đây, có thể khẳng định rằng: từ hơn 30 năm nay Đảng và Nhà nước ta đã rất coi trọng vấn đề chất lượng dân số trong phát triển, cũng như sớm quan tâm, chú ý đến quyền sinh sản, sức khoẻ sinh sản và đặc biệt chú ý đến vai trò và trách nhiệm của nam giới trong công tác dân số – kế hoạch hoá gia đình.Ba mươi năm sa, tại hội nghị Cairo những tư tưởng này đã được cộng đồng quốc

tế đề cập và trở thành vấn đề mang tính toàn cầu Ngày nay, chính phủ nhiều

Trang 16

nước đã thể hiện sự chuyển hướng về sự tham gia của nam giới trong chương trình dân số – kế hoạch hoá gia đình, sức khoẻ sinh sản Nhiều tổ chức quốc

tế như UNFPA, WHO đã và đang hỗ trợ cho những chương trình của nam giới như những chương trình làm tăng tính chấp nhận bao cao su hoặc đình sản nam.Quỹ Ford ( Ford Foundation) coi sức khoẻ sinh sản là một trong những chiến lược quan trọng trong thập kỷ 90 và chỉ rõ rằng “ chương trình phải thu hút nam giới trong những nỗ lực cải thiện sức khoẻ sinh sản”.Gần đây, WHO đặc biệt chú trọng đến “ sự tham gia của nam giới trong kế hoạch hoá gia đình và sức khoẻ sinh sản”.Điều đó cho thấy quan điểm sáng suốt, tầm nhìn chiến lược hết sức đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong lĩnh vực dân số và phát triển và tầm quan trọng của công tác dân số – kế hoạch hoá gia đình đối với sự nghiệp phát triển đất nước

Trong tổng quan chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khoẻ sinh sản (

2001 -2010), Đảng ta đã chỉ rõ “đầu tư cho sức khoẻ nói chung và cho sức khoẻ sinh sản nói riêng là đầu tư cho phát triển”

Sức khoẻ đặc biệt là sức khoẻ sinh sản là vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu cả trong nước và ngoài nước ở nước ta trong những năm gần đây được sự quan tâm của nhà nước nên vấn đề sức khoẻ sinh sản vị thành niên và thanh niên cũng được đề cập nhiều trong các báo cáo của các cơ quan chức năng như Uỷ ban dân số gia đình và trẻ em, Bộ ý tế,Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh…

ở Việt Nam khái niệm về sức khoẻ sinh sản đã được đề cập tự hội nghị Dân số và phát triển họp tại Cairo (Ai cập) năm 1994 và cho đến sau hội nghị Bắc Kinh ( Trung Quốc) chương trình hành động vì sức khoẻ sinh sản vị thành niên mới được tiến hành

Mặc dù chưa có nghiên cứu đầy đủ, nhưng kết quả của mốt số nghiên cứu cụ thể phần nào nhận diện những khía cạnh của sức khoẻ sinh sản vị

Trang 17

thành niên ở Việt Nam Chẳng hạn, theo báo cáo của hội thảo “vị thành niên, sức khoẻ và phát triển” do tổ chức WHO và viện xã hội học tổ chức tại Hà Nội năm 2003 thì có tới 15% thanh niên Hà Nội và 25 thanh niên thành phố

Hồ Chí Minh có quan hệ tình dục trước hôn nhân và có 30 đến 70% vị thành niên nông thôn có quan hệ tình dục trước hôn nhân Cũng theo báo cáo này, hàng năm Việt Nam có khoảng 1 đến 1,4 triệu ca nạo hút thai và trong đó có khoảng 20 đến 30% thuộc nhóm vị thành niên ( Phạm Thị Minh Đức,2001) Theo báo cáo nạo phá thai ở vị thành niên trong 6 tháng giữa năm 2001 có 19,5% số nữ thanh niên tuổi từ 16-24 đến nạo phá thai trong đó vị thành niên

là 6% và số học sinh, sinh viên chiếm 17,29% tổng số người đến nạo phá thai

( Nguyễn Thị Mỹ Hương, 2001).Tác phẩm của Đặng Vũ Cảnh Linh – Vị thành

niên và chính sách đối với vị thành niên Một nghiên cứu về kiến thức, thái độ

và hành vi SKSS của nhóm vị thành niên Hà nội cho thấy: Tỷ lệ thanh niên chưa kết hôn có QHTD nam chiếm 17% và nữ chiến 2,5%;trong những người được khảo sát có 37% nam và 12,5% nữ, chấp nhận có thể có QHTD trước hôn nhân; đa số cho rằng trinh tiết vẫn quan trọng nhưng không phải quan trọng như trước đây

Theo một báo cáo của Hội thảo “ Vị thành niên: Sức khoẻ sinh sản và phát triển” do tổ chức WHO và Viện Xã hội học tổ chức tại Hà Nội ngày 12/9/2001 thì có tới 15% có QHTD trước hôn nhân và có từ 30-70% thanh niên nông thôn có QHTD trước hôn nhân Cũng theo báo cáo này hàng năm Việt Nam có khoản từ 1-1,4 triệu ca nạo thai và trong đó ước tính có khoảng

20 – 30% thuộc nhóm vị thành niên.Theo thống kê năm 1994 có 5% CTN có con trước tuổi 18; 15% có con trước tuổi 19 và 37% phụ nữ kế hôn trước tuổi 20

Nạo phá thai ở nhóm tuổi 15-19, theo điều tra giữa kỳ năm 1994 trong

số 175 phụ nữ đã từng có chồng có 1,7% đã từng nạo thai và có 0,6% nạo hút thai hai lần trở lên.Điều tra 1088 người nạo hút thai ở Hà Nội và Thái Bình

Trang 18

năm 1993, cho kết quả có 7% số người trong nhóm chưa có gia đình Một khảo sát điều tra 259 phụ nữ chưa có gia đình đến nạo phá thai ở các bệnh viện Hà nội ( 1995-1996) cho thấy 37% số đối tượng thuộc nhóm tuổi từ 15 đến 19

Theo trung tâm BVSKBMTE/KHHGĐ (bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em/kế hoạch hoá gia đình) thành phố Hồ Chí Minh số vị thành niên dưới 18 tuổi nạo phá thai thống kê được năm 1994 là 583 người và năm 1995 là 1423 người, thanh niên tại viện bảo vệ bà mẹ và trẻ em” thì trong 6 tháng giữa năm

2001 có 19,5% số nữ thanh niên ( tuổi từ học sinh sinh viên chiếm 17,29% tổng số người đến nạo phá thai.Theo báo cáo này con số thống kê cho thấy 80% số đối tượng nạo hút thai là chưa chồng nhưng theo nhóm nghiên cứu của Nguyễn Linh Khiếu thì con số có thể phải tới 90% chưa có chồng mới là sự thật

Cùng với các vấn đề quan hệ tình dục, nạo phá thai, sinh con sớm ảnh hưởng mạnh mẽ đến SKSS vị thành niên các vấn đề lạm dụng tình dục trẻ em, mại dâm trẻ em và mắc BLTQĐTD (bệnh lây truyền qua đường tình dục) cũng là những vấn đề mới và hết sức bức xúc.So với các nước trong khu vực thì tỉ số tội hiếp dâm ở nước ta thuộc loại thấp, nhưng hiện nay loại tội phạm này đang có xu hướng gia tăng Một báo cáo cho biết, nếu những năm đầu đổi mới tỷ lệ tội hiếp dâm trẻ em chỉ chiếm từ 4 -6% số tội phạm hiếp dâm thì các năm sau đó tỷ lệ này thống kê được là 1993: 14,6%; 1994: 16,6%;1995: 30%

và 6 tháng đầu năm 1996 hiếp dâm trẻ em tăng hơn hẳn cùng kỳ năm trước Theo báo cáo của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, trong số 1.407 vụ hiếp dâm

bị khởi tố năm 1998 thì có tới 505 số vụ này là hiếp dâm trẻ em

Nghiên cứu của Đoàn Kim Thắng trong đề tài: Kiến thức, thái độ và

hành vi của trẻ em vị thành niên về giáo dục giới tính và sức khoẻ sinh sản,

thì nhìn chung các em chưa thật hài lòng với những kiến thức đã có về các

Trang 19

lĩnh vực cơ bản của giáo dục giới tính và sức khoẻ sinh sản Có thể nhận xét chung là những kiến thức mà các em có được trong nội dung của khái niệm giáo dục giới tính hay sức khoẻ sinh sản, cũng không phải là quá ít như chúng

ta vẫn thường nghĩ Song có thể nói những kiến thức ấy còn thiếu tính toàn diện, hệ thống và cũng không đầy đủ trong mọi khía cạnh khoa học của nó Cần tiếp tục phân tích xem những nguyên nhân hay những hạn chế nào trong quá trình trang bị cho các em một cách đầy đủ những kiến thức mà chúng ta mong muốn có ở các em, sự phân tích này được tìm hiểu trong những thái độ của các em khi được hỏi về những vấn đề trên

Về quan điểm giới về vấn đề sức khoẻ sinh sản Ts Hoàng Bá Thịnh đã nói đến trong bài viết Quan điểm giới và chính sách dân số: Về trách nhiệm của nam giới trong việc thức hiện dân số – kế hoạch hoá gia đình Mặc dù trong nhóm đối tượng thứ nhất đã đề cập đến cả nam và nữ, song xét tới những đặc điểm tâm lý truyền thống, đến tình hình thực hiện kế hoạch hoá gia đình ở Việt Nam, nam giới cần được tách biệt thành một nhóm đối tượng riêng để có những thông điệp đặc thù và cách tiếp cận đặc thủ

Trong nam giới cần đặc biệt chú ý đến:

- Nam giới trung niên, chủ gia đình

- Nam giới trong những gia đình không và chưa có con trai

- Nam giới thuộc những khu vực và những gia đình chưa thực hiện kế hoạch hoá gia đình hoặc tỷ lệ tham gia còn thấp…

Trên đây là một vài số liệu cơ bản của các cuộc nghiên cứu về sức khoẻ sinh sản vị thành niên Những số liệu này cho thấy các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý và các cơ quan chức năng ở Việt nam hết sức quan tâm và lo lắng đến những vấn đề sức khoẻ sinh sản vị thành niên Những chỉ báo về tình trạng quan hệ tình dục ở độ tuổi vị thành niên,về mang thai và nạo phá thai,

Trang 20

kết hôn sớm, mại dâm và mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục nhất là bệnh HIV/AIDS, ở Việt Nam ngày càng có xu hướng gia tăng về trẻ hoá là hết sức lo ngại và thực tế đó đang trở thành vấn đề thực sự cấp bách không chỉ của riêng các gia đình mà của toàn xã hội Chúng ta cần sớm có một chiến lược quốc gia về sức khoẻ sinh sản vị thành niên nhằm chăm sóc và bảo vệ trẻ

em trong bối cảnh hoà nhập và toàn cầu hoá hiện nay

Tuy nhiên, các số liệu về vấn đề sức khoẻ sinh sản ở lứa tuổi thanh thiếu niên thường không đầy đủ.Các nghiên cứu thường có quy mô nhỏ chưa đưa ra được bức tranh tổng thể về hiểu biết và thái độ và hành vi của thanh thiếu niên Việt Nam đối với vấn đề sức khoẻ sinh sản hay những giải pháp khả thi để giúp các em phát triển tốt về sức khoẻ thể chất và tinh thần, phòng tránh được những hậu quả đáng tiếc do thiếu sự hiểu biết đúng đắn về vấn đề này Trên cơ sở những tài liệu đã có cùng với một số kết quả thu thập được từ bảng hỏi định lượng và bảng hỏi phỏng vấn sâu, tôi sâu vào nghiên cứu về quan điểm của sinh viên về vai trò giới trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ sinh sản từ đó đưa ra giải pháp mang tính khả thi cho các chương trình chính sách

về sức khoẻ sinh sản phù hợp với thanh thiếu niên

3.ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

3.1.ý nghĩa khoa học

- Bổ sung dữ liệu cho những nghiên cứu về sức khoẻ sinh sản

-Vận dụng những luận điểm trong hệ thống lý thuyết như : Lý thuyết về hành động xã hội, lý thuyết sự lựa chọn hợp lý…làm cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu

-Góp phần làm rõ vấn đề giới trong việc chăm sóc sức khoẻ sinh sản

3.2 ý nghĩa thực tiễn

Trang 21

- Kết quả nghiên cứu cung cấp cho các bạn sinh viên kiến thức và tầm quan trọng của các kiến thức về sức khoẻ sinh sản và giúp tăng cường ý thức chủ động tìm hiểu, những chủ trương chính sách về sức khoẻ sinh sản thanh thiếu niên và đặc biệt là về quan điểm, nhận thức của sinh viên về vai trò giới trong vấn đề này

- Kết quả nghiên cứu cung cấp cho gia đình, nhà trường và cộng đồng hiểu rõ tầm quan trọng của mình trong việc giáo dục, định hướng và tạo cơ hội tiếp cận, sử dụng các kiến thức và dịch vụ sức khoẻ sinh sản cho đối tượng là thanh thiếu niên

-Kết quả nghiên cứu cung cấp cho các nhà quản lý, các nhà khoa học tham khảo , đưa ra những biện pháp cũng như các giải pháp giúp cho vị sinh viên có những kiến thức đẩy đủ, toàn diện hơn về sức khoẻ sinh sản, đặc biệt

là để họ nhận thức đúng đắn trách nhiệm và nghĩa vụ của cả hai giới trong

lĩnh vực này

4.Mục tiêu nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu

4.1.Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu quan điểm của sinh viên về vấn đề sức khoẻ sinh sản

- Phân tích giới đối với quan niệm của sinh viên về hành vi chăm sóc sức khoẻ sinh sản

-Tìm hiểu một số yếu tố tác động đến quan niệm của sinh viên về vai trò giới trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản( trung tâm tư vấn, tự tìm hiểu, truyền thông đại chúng, bạn bè, gia đình, người thân )

- Từ những phân tích, đánh giá đưa ra một số khuyến nghị và giải pháp góp phần vào công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản

4.2.Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 22

- Khảo sát thực tế qua phỏng vấn sâu, phỏng vấn nhóm và bảng hỏi

định lượng để tìm hiểu quan điểm của sinh viên về những vấn đề có liên quan đến sức khoẻ sinh sản

-Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến quan niệm của sinh viên về vai trò giới trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản( tâm lý, định kiến, điều kiện truyền thống )

- Tìm hiểu vai trò của nhà trường, bạn bè, phương tiện truyền thông đối với việc giáo dục nâng cao nhận thức về vai trò giới trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản

5 Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của đề tài

5.1 Đối tượng nghiên cứu:

Quan niệm của sinh viên về vai trò giới trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản

5.2 Khách thể nghiên cứu

Là nam sinh viên và nữ sinh viên

5.3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài được thực hiện nghiên cứu tại trường Đại học Lao động xã hội,

trường Đại học Giao thông vận tải

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1.Phương pháp luận

Trang 23

Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận xã hội học Macxit và các lý thuyết khác cũng được vận dụng như: Lý thuyết về hành động xã hội, lý thuyết về sự lựa chọn hợp lý, lý thuyết chức năng…

Việc tìm hiểu quan điểm của sinh viên về vai trò giới trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản đặc biệt chú ý tới cách tiếp cận hệ thống, có nghĩa là mọi đối tượng nghiên cứu như một chỉnh thể thống nhất, trong mối quan hệ tương với các yếu tố thuộc môi trường xung quanh Do đó khi xem xét nguyên nhân dẫn đến nhận thức của sinh viên chúng ta phải đặt nguyên nhân trong mối quan hệ với các yếu tố khác của môi trường xã hội xung quanh chứ không tách rời chúng để nghiên cứu một cách siêu hình

Nhìn đối tượng như một chỉnh thể có nghĩa là nhìn đối tượng như một

hệ thống có cấu trúc nhiều chiều, hay nói cách khác hệ thống đó được cấu tạo bởi nhiều yếu tố Do vậy, khi nghiên cứu quan điểm của sinh viên về vai trò giới trong việc chăm sóc sức khoẻ sinh sản, chúng ta phải xem xét từ nhiều khía cạnh với một hệ quả có nhiều nguyên nhân gây nên

Đảm bảo tính khách quan trong nghiên cứu, trước hết phải nghiên cứu từ chính bản thân sự vật như chúng vốn tồn tại trong thực tế, chỉ nhận mọi chi tiết, mọi biểu hiện của chúng, loại trừ mọi phán đoán chủ quan, thiếu căn cứ

của người nghiên cứu, các kết luận phải nghiên cứu đúng thực tế

6.2 Phương pháp nghiên cứu

6.2 1.Phương pháp phân tích tài liệu

Trong đề tài nghiên cứu, tác giả đã tiếp thu và sử dụng một số kết quả nghiên cứu trước đây có liên quan tới vấn đề chăm sóc sức khoẻ sinh sản Đồng thời người viết thu thập và phân tích những bài viết về sức khoẻ sinh sản và kế hoạch hoá gia đình đã được đăng tải trên các tạp chí, các kết quả

nghiên cứu của Uỷ ban Quốc gia Dân số và Kế hoạch hoá gia đình

Trang 24

6.2 2.Phương pháp nghiên cứu định tính

-Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn 15 sinh viên trong đó có 8 nữ sinh viên và 7 nam sinh viên Với các chủ đề xoay quanh nội dung của đề tài nghiên cứu

Tiến hành thảo luận nhóm:Tiến hành 2 cuộc phỏng vấn nhóm, với các nhóm đối tượng nam nữ sinh viên với các chủ đề về tình dục an toàn, gia đình dòng họ và quan hệ cộng đồng

6.2.3 Phương pháp nghiên cứu định lượng

Thu thập thông tin của đối tượng được nghiên cứu dựa trên bảng hỏi ( 300 phiếu hỏi định lượng, trong đó trường ĐH Giao thông vận tải 150 phiếu hỏi và trường ĐH Lao động xã hội 150 phiếu hỏi)

6.2.4 Phương pháp quan sát

Người viết thu thập thông tin dựa vào quá trình quan sát trực tiếp từ khách thể có liên quan

7 Giả thuyết nghiên cứu

- Phần lớn sinh viên chưa nhận thức và đánh giá đúng tầm quan trọng

của việc chăm sóc sức khoẻ sinh sản

- Các yếu tố như môi trường xã hội, gia đình, nhà trường, bạn bè, các phương tiện truyền thông đại chúng có vai trò rất lớn đến nhận thức,thái độ, hành vi chăm sóc sức khoẻ của sinh viên hiện nay

- Sinh viên ở các trường khác nhau cùng có những quan niệm giống nhau về vai trò giới trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản lý do là các sinh viên không được tiếp cận một cách chính thống về vấn đề về chăm sóc sức khoẻ sinh sản

Trang 25

8 Khung lý thuyết

`

Nhận thức -thái độ -hành vi trong chăm sóc sức

khoẻ sinh sản

Điều kiện kinh tế - văn hoá - xã hội

Quan niệm của sinh viên về chăm sóc sức

khoẻ sinh sản

Quan niệm xã hội: Phong tục tập quán, bất bình đẳng giới

Sự tự học hỏi của sinh

viên

Môi trường bên ngoài: Truyền thông, gia đình, bạn

bè, nhà trường

Trang 26

Phần II Nội dung Chương I Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài

cơ bản là kiến thức mà họ tích luỹ gắn liền với một ngành nghề chuyên môn nhất định ở trình đại cao đẳng, đại học và sau đại học Sinh viên là đội ngũ kế cận của tầng lớp tri thức

Sinh viên là một nhóm xã hội lớn, là một bộ phận trong tầng lớp thanh niên được đào tạo theo mô hình trí thức Do đó, ở họ có những đặc điểm của thanh niên và cả một số đặc điểm của tri thức:

- Phát triển nhanh về thể chất, có sức khoẻ, nhạy bén, các nhu cầu rất lớn

-Về tâm lý: Hăng hái nhiệt tình, ít tính toán, cao thượng vị tha nhưng cũng dễ bị tha hoá tư tưởng

-Về kiến thức: Ham học hỏi, mơ ước thành đạt, muốn sáng tạo, mạnh dạn nhưng chưa từng trải, thiếu kinh nghiệm

- Khát vọng lý tưởng: Hướng tới cái đẹp, cái có giá trị văn hoá, muốn thu nhập cao và trở nên nổi tiếng nhưng không ít người bị hụt hẫng, bi quan trước khó khăn

- ý thức về nghề nghiệp, về các vấn đề chính trị xã hội đang định hình

Trang 27

Theo GS Phạm Minh Hạc, thuật ngữ sinh viờn cú nguồn gốc từ chữ Latinh là Studộnt, cú nghĩa là người làm việc, học tập, người tỡm hiểu, khai thỏc tri thức Sinh viờn là đại biểu của một nhóm xó hội đặc biệt là thanh

niên, đang chuẩn bị cho hoạt động sản xuất vật chất hoặc tinh thần của xó hội

Sinh viên Việt Nam là tất cả công dân Việt Nam đang học tập và nghiên cứu tại các trường Đại học, Cao đẳng, các viện đào tạo hệ Đại học và cao đẳng trong và ngoài nước

Dưới góc độ nghiên cứu xó hội học, sinh viờn cú những đặc điểm cơ bản sau:

- Trong nhóm đối tượng thanh niên, sinh viên là bộ phận thanh niên mà đất nước đặt niềm tin vào họ, hy vọng họ trở thành lực lượng khoa học kỹ thuật quản lý kinh tế, xó hội và cỏc mặt khỏc nhau của đời sống xó hội Họ là đối tượng đang trong quá trỡnh xó hội hoỏ, được trang bị kiến thức toàn diện,

cơ bản, được đào tạo về chuyên môn nghề nghiệp, được sống trong môi trường nhiều thông tin, được giao tiếp ở các trung tâm văn hoỏ lớn Họ nhạy cảm với các vấn đề của xó hội

- Có đặc thù trong sự phân tầng xó hội, đó là khái niệm di động xó hội cao Do tớnh chất của hoạt động nghề nghiệp trong tương lai họ là những người có nhiều cơ hội thuận lợi chiếm lĩnh những vị trí cao trong xó hội

- Là nhúm xó hội cú đặc thù về lứa tuổi và giai đoạn xó hội hoỏ so với các nhóm thiếu niên nhi đồng và nhóm trung niên cao tuổi Nếu phân chia theo độ tuổi thỡ phần lớn họ thuộc độ tuổi từ 18 – 24 Đây là độ tuổi đang liên tục phát triển về chất, hăng hái, dũng cảm, muốn đi vào cuộc sống xó hội, xỏc định việc làm, trau dồi kinh nghiệm sống Mối quan tâm lớn nhất đối với họ

là nghề nghiệp - việc làm - nơi làm việc - các biến đổi giá trị xó hội

- Có lối sống và định hướng giá trị đặc thù, đó là khả năng cơ động và thích ứng cao, tiếp thu nhanh chóng các giá trị mới

Trang 28

1.1.2 Quan niệm/ quan điểm

Quan niệm là cách hiểu, cách nhìn nhận, đánh giá, xem xét, mô tả, giải thích của cá nhân, nhóm người về về một hay một nhóm sự vật, hiện tượng

trong đời sống của con người

Là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư duy, quá trình con người nhận biết, hiểu biết thế giới khách quan hoặc kết quả của quá trình đó.Từ hiện thực khách quan, tự sự tìm hiểu của cá nhân, từ sự tác động bởi các yếu tố khách quan đưa đến cách hiểu riêng của con người về

một sự vật hay một vấn đề nào đó

1.1.3 Khái niệm vai trò

Một vai trò, như là một động lực, đưa những địa vị vào cuộc sống Như Ralph Linton nói, chúng ta chiếm giữ các địa vị, nhưng chúng ta đóng các vai trò.Vai trò và địa vị không thể tách rời nhau Các nhà xã hội học đã vay mượn từ kịch bản của sân khấu để miêu tả các vai trò có ảnh hưởng như thế nào trong đời sống xã hội

Mỗi cá nhân có một loạt các vai trò, được đem lại từ những hình mẫu xã hội khác nhau mà anh ta tham dự Cần nhận thấy rằng, cá nhân không hoàn toàn thực hiện được vai trò của anh ta nếu không có sự hợp tác của nhóm xã hội mà anh ta tham gia

Tóm lại: Vai trò là một tập hợp các mong đợi, các quyền và những nghĩa vụ được gán cho một địa vị cụ thể Những sự mong đợi này xác định các hành vi của con người được xem như là phù hợp và không phù hợp đối với người chiếm giữ một địa vị

1.1.4 Sức khoẻ sinh sản

Tổ chức y tế thế giới (WHO) định nghĩa sức khoẻ sinh sản là tình trạng hoàn thiện về thể chất, tinh thần, chứ không chỉ đơn thuần là không mắc bệnh

Trang 29

và ốm yếu Sức khoẻ sinh sản nhằm vào chức năng và bộ máy sinh sản trong mọi giai đoạn của cuộc sống Như vậy, sức khoẻ sinh sản có nghĩa là con người có thể có cuộc sống tình dục có trách nhiệm được thoả mãn và an toàn

và họ có khả năng sinh sản và tự do quyết định thực hiện điều đó khi nào và nhiêu lần Điều kiện cuối cùng là quyền của đàn ông và đàn bà được thông tin

và được tiếp cận với các biện pháp điều khiển mức sinh an toàn, có hiệu quả, chấp hận theo sự lựa chọn của họ và quyền tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ phù hợp

Theo chương trình hành động của hội nghị quốc tế về dân số và phát triển ( hội nghị Cairo) thì " Sức khoẻ sinh sản là một trạng thái khoẻ mạnh hoàn toàn về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không chỉ là bệnh tật hay ốm yếu, trong tất cả mọi thứ liên quan đến hệ thống sinh sản, các chức năng và quá trình của nó Do đó, sức khoẻ sinh sản hàm ý là con người có thể có một cuộc sống tình dục thoả mãn, an toàn, có khả năng sinh sản và được tự do quyết định khi nào và thường xuyên như thế nào trong việc này Điều kiện cuối cùng này ngụ ý nói về quyền của phụ nữ và nam giới được thông tin và tiếp cận các biện pháp kế hoạch hoá gia đình, an toàn, hiệu quả dễ dàng và thích hợp tuỳ theo sự lựa chọn của họ cũng như được lựa chọn nhưng phương pháp thích hợp nhằm điều hoà việc sinh đẻ không trái với pháp luật, quyền được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ thích hợp giúp cho người phụ nữ trải qua quá trình thai nghén và sinh đẻ an toàn và tạo cho các cặp vợ chồng những điều kiện tốt nhất để có đứa con khoẻ mạnh"

Từ định nghĩa này có thể khẳng định rằng, việc chăm sóc sức khoẻ sinh sản là một tổng thể các biện pháp kỹ thuật và dịch vụ góp phần nâng cao sức khoẻ và hạnh phúc bằng cách phòng ngừa và giải quyết các vấn đề về sức khoẻ sinh sản

Nội dung của sức khoẻ sinh sản

Trang 30

Trong kế hoạch hành động sau Hội nghị Cairo của Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA), sức khoẻ sinh sản bao gồm 06 nội dung có liên quan mật thiết với nhau.đó là: sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình, sức khoẻ phụ

nữ và làm mẹ an toàn, vô sinh , bệnh nhiễm khuẩn và bệnh lây truyền qua đường tình dục

Nhưng mỗi khu vực mỗi quốc gia lại có những vấn đề ưu tiên của riêng mình, nên các tổ chức tham gia vào việc thực hiện chương trình sức khoẻ sinh sản đã cụ thể hoá thành 10 nội dung như:

1.Làm mẹ an toàn: bao gồm việc chăm sóc khi mang thai, khi đẻ và sau khi đẻ mẹ và con an toàn

2 Kế hoạch hoá gia đình: làm cho mức sinh tự nhiên phù hợp với nhịp

độ phát triển kinh tế, bảo đảm thực hiện quyền sinh sản

3 Nạo, hút thai ( giảm nạo, hút thai ngoài ý muốn)

4.Bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản: viêm hố chậu, viêm âm đạo, viêm

cổ tử cung

5 Các bệnh lây nhiễm quan đường tình dục như: lậu, giang mai, viêm gan B và HIV/AIDS

6.Giáo dục tình dục

7.Phát hiện sớm ung thư vú và đường sinh dục

8 Vô sinh ( giúp đỡ các cặp vô sinh, cá nhân vô sinh)

Trang 31

-Những người cung cấp dịch vụ sức khoẻ sinh sản

- Những người sử dụng sức khoẻ sinh sản

1.2 Các lý thuyết

1.2.1.- Thuyết hành động xã hội

Theo Marx Weber, hành động xã hội như là hành vi của con người khi một tác nhân hay những tác nhân coi nó như là có ý nghĩa một cách khách quan.Ông nhấn mạnh đến động cơ thúc đẩy trong ký ức của chủ thể là nguyên nhân của hành động.Theo ông “ Hành động xã hội là hành vi có định hướng ý nghĩa theo thái độ của những người khác”.Hành động xã hội cũng có thể được xác định: loại hợp mục đích, loại hợp giá trị thông qua niềm tin có ý thức vào giá trị tự thân bắt buộc của một sự việc nhất định và độc lập với kết quả), loại cảm xúc, loại truyền thống (Max Weber,1980,12)

Theo lý thuyết hành động xã hội, bao giờ cũng có sự tham gia của các yếu tố ý thức với mức độ khác nhau Đó là sự định hướng mục đích hay còn gọi là “tâm thế xã hội của cá nhân”.Người ta thường nhầm lẫn khi xem xét dấu hiệu xã hội của hành động thông qua hệ quả khách quan của hành động đó

Hành động xã hội là một bộ phận cấu thành trong hành động hoạt động sống của cá nhân hay các cá nhân hành động chính là để thực hiện những hoạt động sống của mình Hành động xã hội luôn gắn với tính tích cực của cá nhân.Tính này còn bị quy định bởi hàng loạt các yếu tố như: nhu cầu lợi ích, định hướng giá trị…của chủ thể hành động mà trước đó các cá nhân trải qua quá trình nhận thức Đó là phương thức tồn tại của chủ thể

Theo Parson, mọi hành động đều có thể được miêu tả bằng ba giá trị cơ bản: thứ nhất thực tế của tình huống; thứ hai những nhu cầu của chủ thể

Trang 32

hành động và thứ ba là sự đánh giá tình hướng của chủ thể hành động luôn có

xu hướng cân bằng những nhu cầu của cá nhân của mình với những đòi hỏi xã hội Ông cũng thừa nhận thấy rằng có thể có những xung đột giữa nhu cầu của chủ thể hành động và khuôn mẫu cần thiết cho sự định hướng nhằm duy trì

hệ thống, song ông lại cho rằng các chủ thể hành động sẵn sàng tìm cách dung hoà để luôn giữ lại hệ thống cân bằng Parson cũng cho rằng, các hành động

xã hội bị điều chính bởi hệ thống biểu trưng đó có thể là các cử chỉ, lời nói của chúng ta hay các giá trị xã hội được thừa nhận Chúng ta căn cứ vào hệ giá trị chuẩn mực chính thống của xã hội và các cơ chế điều chỉnh khác mà chúng ta tiếp nhận một cách chủ quan Nhận định tình hướng để hành động hay không hành động Nhận định chủ quan của mỗi cá nhân khi hành động có thể có những mức độ phù hợp khác nhau so với hoàn cảnh thực tế

Về các yếu tố quy định hành động cũng như các yếu tố của hành động

lý thuyết này cho rằng:

- Các đặc điểm cơ thể của con người quy định nhận thức và hành vi của con người

- Quá trình xã hội hoá của cả đời người quy định hành động xã hội của mỗi cá nhân Mỗi giai đoạn của quá trình này có những đặc trưng khác nhau quy định hành động khác nhau của họ ở những điểm này họ có chung quan điểm với lý thuyết đồng cảm

Đề tài vận dụng lý thuyết hành động xã hội để lý giải những động

cơ nào, những yếu tố tác động khiến sinh viên tìm hiểu về sức khoẻ sinh sản

và hiểu được rằng nhận thức sẽ quyết định hành vi

1.2.2.Lý thuyết xã hội học về giới

Bộ môn giới phân chia xã hội loài người thành hai giới tính khác nhau đó là nam và nữ, sự phân chia đó dựa trên cơ sở sinh học và xã hội Cơ

Trang 33

sở sinh học quy định những khác biệt về sinh học mà chúng ta gọi là giới tính (sex).Sự khác biệt giới tính giữa nam và nữ chủ yếu liên quan đến sinh sản và chúng là bất biến Giới tính hay còn gọi là “giống” là tiến đề sinh học cho những khác biệt giữa nam và nữ gọi là giới ( gender).Giới là thuật ngữ chỉ vai trò xã hội, hành vi ứng xử xã hội là những mong đợi có liên quan đến nam và

nữ Giới không chỉ đề cấp đến nam và nữ, mà còn đề cập đến mối quan hệ giữa nam và nữ, trong mối quan hệ đó, có sự phân biệt về vai trò trách nhiệm,hành vi và sự mong đợi mà xã hội quy định cho mỗi giới Giới là sản phẩm của xã hội, hành vi của nam hay nữ là kết quả của quá trình xã hội hoá

do học mà có, và giới không phải là bất biến như giới tính mà nó biến đổi theo thời gian Chính vì vậy, nói đến giới là nói đến điều kiện xã hội quy định

vị trí, hành vi xã hội của mỗi cá nhân trong một hoàn cảnh cụ thể.Quan hệ giới sẽ thay đổi khi những cái quy định đó thay đổi Nhìn nhận sức khoẻ sinh sản theo quan điểm giới có nghĩa là đặt nó trong mối quan hệ xã hội giữa nam

và nữ Xét về mặt sinh học do sự khác biệt về chức năng sinh sản giữa nam và

nữ và vai trò của họ trong quá trình sinh sản là khác nhau

Sử dụng lý thuyết xã hội học về giới để phân tích sự khác biệt đặc thù giữa nam và nữ có liên quan đến việc thực hiện hành vi của mỗi cá nhân trong mỗi giới.Sự quy định về mặt sinh học và xã hội Những quy định của chuẩn mực xã hội hay những quan niệm của cộng động xã hội có ảnh hưởng

và tác động trực tiếp đến hành vi của mỗi cá nhân trong xã hội

1.2.3 Thuyết về sức khoẻ

Talcott Pasons thường được coi là người đại diện chính của thuyết chức năng cấu trúc Ông là người có nhiều đóng góp cho sự phát triển của xã hội học, đặc biệt là xã hội học y tế Ông đã đặt cơ sở nền tảng cho việc hình thành khảo cứu xã hội về sức khoẻ

Trang 34

Theo quan điểm của Parsons thì con người có thể “ lựa chọn” để ốm ( People can “choose” to be sick) và coi bệnh tật như một vai trò xã hội ở đây, ông đã phát triển quan điểm chức năng trong xã hội học y tế khi đưa ra khái niệm “ vai trò bệnh ” ( Sick role) Ông cho rằng “ bệnh ” là một hình thức lệch chuẩn xã hội, bởi vì xã hội không muốn có người ốm yếu, và do đó xã hội có trách nhiệm cứu chữa người bị ốm Mặt trái của “ vai trò bệnh” là ở chỗ, nếu một người nào đó có giấy chứng nhận của bác sĩ là là bị ốm đau sẽ được miễn giảm nhiều nghĩa vụ xã hội, trong khi chưa chắc chắn người đó có bệnh thực sự Chức năng của y tế là kiểm soát hành vi đúng đắn, xã hội gọi đó

là lương tâm thầy thuốc Tất nhiên ở đây có cả trình độ nghề nghiệp

1.2.3.Thuyết lựa chọn hợp lý

Định hướng chọn lựa hợp lý của Coleman rõ ràng trong ý tưởng cơ bản của ông rằng " hành động có múc đích của cá nhân hướng tới một mục tiêu; mục tiêu đó ( và do đó cả hành động) định hình bởi các giá trị hay các sở thích"

Một nền tảng tối thiểu đối với một hệ thống xã hội là hai chủ thể , mỗi chủ thể kiểm soát các tiềm năng về mối quan tâm của chủ thể kia Chính mối quan tâm của từng chủ thể tới các tiềm năng dưới sự kiểm soát của chủ thể còn lại dẫn tới việc cả hai, với tư cách là các chủ thể có mục đích, thực hiện các hành động bao gồm một hệ thống hành động Chính cấu trúc này, cùng

sự kiện rằng các actor có tính mục đích, mỗi chủ thể có mục tiêu để tối đa hoá nhận thức về các quan tâm của anh ta đã đưa tới sự phụ thuộc lẫn nhau, hay đặc tính hệ thống, cho các hành động của họ ( Coleman)

1.2.4.Thuyết tương tác biểu trưng

Trong nghiên cứu về lý thuyết tương tương biểu trưng còn phải kể đến nhà xã hội học người Mỹ George Herbert Mead Một trong những luận điểm

Trang 35

trung tâm của lý thuyết tương tác biểu trưng theo Mead là quan điểm cho rằng các cá nhân trong quá trình tương tác qua lại với nhau không phản ứng đối với hành động trực tiếp của người khác mà thông qua một hình thức khác như cử chỉ hành động, đồ vật để đáp trả và đó là các biểu trưng Để có thể hiểu được

ý nghĩa của các biểu trưng của người khác, chúng ta phải nhập vào vai của người đó tức là đặt mình vào vị trí của họ Chỉ khi đó chúng ta mới hiểu được hết ý nghĩa của những biểu trưng Mead coi khả năng của con người đặt mình vào vị trí, vai trò của đối tác và nhìn nhận mình như một đối tác hành động là

cơ chế quan trọng trong sự tương tác của họ đối với môi trường xã hội xung quanh

1.2.6 Xã hội học về thanh niên

Thanh niên là nhóm nhân khầu – xã hội được hình thành bởi đặc điểm lứa tuổi; đó là nhóm xã hội đặc thù Thanh niên không phải là một giai cấp

Các đối tượng thanh niên khác nhau có những lợi ích đặc thù riêng do đặc điểm lứa tuổi quy định Những lợi ích đó phản ánh nhu cầu của thanh niên: đào tạo, việc làm, vui chơi giải trí, giao tiếp xã hội, tình yêu lứa đôi, hôn nhân gia đình rất mạnh mẽ

Thanh niên là đối tượng cần được sự tác động của quản lý xã hội Lực lượng này chiếm gần 1/3 dân số của nước ta Họ đang ở giai đoạn sung sức, ham muốn tìm tòi khám phá cái mới trong cuộc sống, muốn tự khẳng định mình trong xã hội nhưng còn thiếu nhiều kinh nghiệm cá nhân

Theo quan điểm của một số nhà lý luận kinh điển:

Các Mác: Thanh niên là tương lai của giai cấp công nhân, của dân tộc

Lê Nin: Các thế hệ sau phải giải quyết các nhiệm vụ xã hội phức tạp hơn các thế hệ trước

Hồ Chí Minh: Thanh niên là một bộ phận quan trọng của dân tộc

Trang 36

Đặc điểm của thanh niên dưới góc độ xã hội học:

Thanh niên là nhóm dân cư có độ phát triển nhanh về thể chất: lớn nhanh, có sức khoẻ, nhạy bén có sự tiếp thu, vì vậy nhu cầu về các mặt của họ cũng cao

Đặc điểm tâm lý xã hội của thanh niên: Họ đang ở thời kỳ hăng hái, nhiệt tình, ít tính toán, có thể sống cao thượng, vị tha, song cũng dễ bị tha hoá, hư hỏng, bị lôi kéo

Tuổi thanh niên đang ở thời kỳ học hỏi, mơ ước nhiều nhưng còn thiếu kinh nghiệm trong cuộc sống

Khát vọng lý tưởng của thanh niên: luôn muốn hướng tới cái đẹp, các giá trị văn hoá thẩm mỹ, muốn có thu nhập cao, muốn được nổi tiếng, muốn

sự công bằng Song họ hay bị hẫng hụt, bi quan do không đạt được các ước mơ

Nghiên cứu về thanh niên xã hội học cần nắm bắt được các đặc điểm chung của thanh niên để xác định rõ các chủ đề và mục tiêu nghiên cứu một cách cụ thể với từng nhóm thanh niên và hoàn cảnh xã hội của nó

Giải quyết các vấn đề chung của xã hội học thanh niên không thể tách rời nghiên cứu các đặc điểm của từng nhóm thanh niên đặc thù

II Cơ sở thực tiễn

1.Về sức khoẻ sinh sản

-Sức khoẻ sinh sản bao gồm một loạt các dịch vụ gồm chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em, kế hoạch hoá gia đình, phòng ngừa và điều trị các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản và các bệnh lây truyền qua đường tình dục, tư vấn và điều trị nhiễm HIV/AIDS, phá thai và vô sinh Tại hội nghị quốc tế về Dân số và phát triển tại Cairo đã cam kết về cung cấp dịch vụ sức khoẻ sinh sản đầy đủ và có chất lượng cao

Trang 37

Sức khoẻ sinh sản thanh thiếu niên đang là một vấn đề được quan tâm trên thế giới cũng như ở Việt Nam Đã có những nghiên cứu về kiến thức, thái

độ, hành vi cũng như các nghiên cứu về mô hình can thiệp đối với sức khoẻ sinh sản vị thành niên Tuy nhiên nghiên cứu phân tích SKSSVTN trên các phương tiện truyền thông đại chúng chưa nhiều

Hiện nay vấn đề nổi bật trong SKSS được thể hiện trên báo là tình dục sớm và không an toàn của trẻ gây ra những hậu quả như có thai, nạo hút thai, cưới sớm, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV Trong đó sinh viên

là nhóm đối tượng đặc thù khi nghiên cứu về thanh niên

Vấn đề đặt ra cho nghiên cứu về quan niệm của sinh viên về các vấn đề

cơ bản trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản Nhằm tìm hiểu được nhận thức, thái

độ của các em về vấn đề này, từ đó nâng cao vai trò của nam giới và nữ giới trong việc chăm sóc sức khoẻ sinh sản và từ nhận thức, thái độ sinh viên sẽ có trách nhiệm với bản thân và với tương lai của chính mình

Trang 38

Sức khoẻ sinh sản là một phạm trù rộng, nó bao gồm 6 nội dung chính

có liên quan mật thiết với nhau đó là tình dục, kế hoạch hoá gia đình, sức khoẻ phụ nữ và làm mẹ an toàn, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, nạo phá thai và vô sinh

Trang 39

Vì thế hiểu biết về sức khoẻ sinh sản một cách cặn kẽ là vô cùng quan trọng Khi con người có những hiểu biết sâu và rõ ràng sẽ tránh khỏi những hậu quả không lường có thể xảy ra đối với con người nói chung, đối với thanh niên và vị thành niên nói riêng.Vậy thực tế, sự hiểu biết của thanh thiếu niên hiện nay về vấn đề này như thế nào?

Sinh viên thường tập trung ở lứa tuổi từ 18 đến 23, là những người đã

có đủ năng lực để bày tỏ quan điểm và có thể chịu trách nhiệm về hành vi của mình.Vậy sinh viên nhận thức thế nào về vấn đề về sức khoẻ sinh sản

I.Quan niệm về quan hệ tình dục và tình dục an toàn

1.Hiểu biết của sinh viên về tình dục và tình dục an toàn

Tình dục là nhu cầu tự nhiên của con người bắt đầu xuất hiện ở tuổi dậy thì, là một hoạt động sống mạnh mẽ, đem lại khoái cảm mãnh liệt nhất, nhờ

đó mà con người có sự thoả mãn cũng như có sự sinh sản để duy trì nòi giống

Trong bối cảnh hiện nay, quan hệ tình dục trước hôn nhân ở lứa tuổi thanh niên và vị thành niên đã không còn mới mẻ, theo kết quả nghiên cứu thì vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân là một hiện tượng khá phổ biến Hiện nay, thanh niên và vị thành niên bị tác động bởi hoàn cảnh sống cũng như bối cảnh hội nhập văn hoá nên dễ bị cuốn vào xu hướng có quan hệ tình dục sớm Phần lớn, họ vẫn còn có những quan niệm sai lầm về quan hệ tình dục, chính điều đó có thể làm cản trở thanh niên và vị thành niên tiếp cận với các kiến thức và dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản, dẫn đến các hậu quả đáng tiếc như có thai ngoài ý muốn, mắc các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, HIV/AIDS, tảo hôn…Tác hại của tình dục không an toàn, thiếu trách nhiệm có thể gây ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ thể chất và tinh thần, đến cơ hội học tập và tương lai hạnh phúc của thanh thiếu niên

Trang 40

Những hiểu biết của sinh viên về tình dục và tình dục an toàn

Nam sinh viên Nữ sinh viên

Tình dục - Dấu hiệu của tình yêu

- Sẵn sàng quan hệ tình dục trước hôn nhân và ngoài tình yêu

- Khẳng định giá trị bản thân

- Nhưng ích kỷ khi đề cao

sự trinh tiết

- Từ tình yêu đến tình dục, ít hiểu biết

- Không sẵn sàng quan hệ tình dục trước hôn nhân và ngoài tình yêu Nhưng có thể thụ động chấp nhận quan

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Bộ văn hoá, thể thao và du lịch, Tổng cục thống kê, Viện gia đình và giới: Kết quảđiều tra gia đình việt nam năm 2006- Hà Nội tháng 6 năm 2008 Khác
2. Nguyễn Linh Khiếu, Lê Ngọc Lân và Nguyễn Phương Thảo. Gia đình trong giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.NXB Khoa học xã hội, Hà Nội – 2003 Khác
3. PTS. Vũ Quý Nhân và TS Lynellyn D. Long. Chất lượng chăm sóc, giới và sức khoẻ sinh sản.(Một số bài viết chọn lọc). Hà Nội 1998.4.CácWebside:Vietnamnet,nExpress.net,Tamlyhoc.net,tintucvietnam.com Khác
6. Nguyễn Thuý Quỳnh – Trường Đại học Y tế cộng đồng. Mô tả hành vi tình dục và kiến thức phòng tránh thai của nam nữ sinh viên tuổi 17- 24 chưa lập gia đình tại một Trường Đại học, Hà Nội – Năm 2001” Khác
7. Nguyễn Quý Thanh.Bước đầu nghiên cứu về hành vi nạo thai ngoài hôn nhân. Luận văn thạc sĩ khoa học xã hội học. Hà Nội, 1995 Khác
8. Tạp chí nghiên cứu Gia đình và Giới số 6 – 2007. Đặng Bích Thuỷ, Các yếu tố tác động đến sức khoẻ vị thành niên Khác
9. Tạp chí nghiên cứu Gia đình và Giới số 5-2007. Lê Ngọc Lân, Vai trò giới trong nhận thức và chăm sóc sức khoẻ sinh sản Khác
10. Tạp chí nghiên cứu gia đình và giới số 3 – 2007. Đặng Nguyên Anh, Những chiều cạnh cơ bản của phát triển thanh niên trong thời kỳ đổi mới Khác
11. Tạp chí nghiên cứu Gia đình và Giới số 1 – 2007. Nguyễn Hồng Thái, Vai trò của các tổ chức, thiết chế xã hội trong giáo dục trước hôn nhân Khác
12. Hoàng Bá Thịnh. Một số nghiên cứu về sức khoẻ sinh sản ở Việt Nam sau Hội Nghị Cai rô. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội -1999 Khác
13. Sức khoẻ sinh sản tuổi vị thành niên, tài liệu thử nghiệm: Dự án VIE/97/P12 Khác
14. Đoàn Kim Thắng. Kiến thức, thái độ và hành vi trẻ em vị thành niên về giáo dục giới tính và sức khoẻ sinh sản. Viện xã hội học. Hà nội 1999 Khác
15. Trường đại học Y Hà nội. Sức khoẻ sinh sản vị thành niên – Dự án Việt nam – Hà Lan. Hà nội, 1998 Khác
16. TS Nguyễn Thị Kim Hoa. Quan điểm của sinh viên về quan hệ tình dục trước hôn nhân. Hà nội 2004 Khác
17. Kết quả hội thảo: Sinh viên với kiến thức, kỹ năng sống về sức khoẻ sinh sản, sinh viên 4 trường đại học Khác
18.Tony Bilton và các tác giả, Nhập môn xã hội học, NXB Khoa học xã hội , 1993 Khác
19. Khuất Thu Hồng, Nghiên cứu về tình dục ở Việt Nam những điều đã biết và chưa biết, Hội đồng dân số, Hà Nội, 1998 Khác
20. Nguyễn Minh Thắng, Báo cáo nghiên cứu đánh giá chiến dịch truyền thông sức khoẻ sinh sản vị thành niên lần thứ nhất, Báo cáo khoa học, Hà Nội 10/1998 Khác
21. Lê Thị Nhâm Tuyết, Vấn đề nạo thai vị thành niên – Tìm giải pháp cho một hiện trạng xã hội, Báo cáo khoa học, Hà Nội, 1995 Khác
22. Báo cáo nghiên cứu vị thành niên và biến đổi xã hội ở Việt Nam. Hội đồng dân số, 2000 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Thái độ về các hành vi QHTD ngoài hôn nhân theo giới  tính của người trả lời (%) - Quan niệm của sinh viên về vai trò giới trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản
Bảng 2 Thái độ về các hành vi QHTD ngoài hôn nhân theo giới tính của người trả lời (%) (Trang 42)
Bảng 3: Hiểu biết về các BPTT của nam thanh niên chia theo khu vực ( Tỷ lệ - Quan niệm của sinh viên về vai trò giới trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản
Bảng 3 Hiểu biết về các BPTT của nam thanh niên chia theo khu vực ( Tỷ lệ (Trang 54)
Bảng 6: Quan niệm của sinh viên về việc sử dụng BPTT: Ai là người có  quyền quyết định trong việc sử dụng các BPTT( tỉ lệ % o ) - Quan niệm của sinh viên về vai trò giới trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản
Bảng 6 Quan niệm của sinh viên về việc sử dụng BPTT: Ai là người có quyền quyết định trong việc sử dụng các BPTT( tỉ lệ % o ) (Trang 63)
Bảng 7: Biết các chủ đề về CSSKSS và TD qua đâu( tỉ lệ %) - Quan niệm của sinh viên về vai trò giới trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản
Bảng 7 Biết các chủ đề về CSSKSS và TD qua đâu( tỉ lệ %) (Trang 68)
Bảng 8: Những vấn đề sinh viên quan tâm hiện nay về CSSKSS( Tỉ lệ % 0 ) - Quan niệm của sinh viên về vai trò giới trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản
Bảng 8 Những vấn đề sinh viên quan tâm hiện nay về CSSKSS( Tỉ lệ % 0 ) (Trang 79)
Bảng 9 : Một số trở ngại khi sinh viên tiếp xúc với vấn đề CSSKSS và  TD(Tỉ lệ % 0 ) - Quan niệm của sinh viên về vai trò giới trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản
Bảng 9 Một số trở ngại khi sinh viên tiếp xúc với vấn đề CSSKSS và TD(Tỉ lệ % 0 ) (Trang 85)
Bảng 10: Những thuận lợi khi tiếp cận với vấn đề về skss/td(tỷ lệ % 0 ) - Quan niệm của sinh viên về vai trò giới trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản
Bảng 10 Những thuận lợi khi tiếp cận với vấn đề về skss/td(tỷ lệ % 0 ) (Trang 87)
Bảng  11:  Những  mong  muốn  của  sinh  viên  để  tiếp  cận  với  vấn  đề  skss/td( Tỷ lệ % 0 ) - Quan niệm của sinh viên về vai trò giới trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản
ng 11: Những mong muốn của sinh viên để tiếp cận với vấn đề skss/td( Tỷ lệ % 0 ) (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w