1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ giữa cha mẹ và vị thành niên trong gia đình ( Qua phân tích số liệu điều tra gia đình Việt Nam năm 2006

78 1,2K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khi đó, một số tác giả khi nghiên cứu về mối quan hệ này trong gia đình đã nhận định rằng: sự thay đổi của bối cảnh kinh tế xã hội nói chung khiến phần lớn các bậc cha mẹ hiện nay

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

VIỆN XÃ HỘI HỌC

LÊ THU HIỀN

QUAN HỆ GIỮA CHA MẸ VÀ

VỊ THÀNH NIÊN TRONG GIA

ĐÌNH (QUA PHÂN TÍCH SỐ LIỆU ĐIỀU TRA GIA ĐÌNH VIỆT NAM 2006)

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Hà Nội - 2011

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

VIỆN XÃ HỘI HỌC

LÊ THU HIỀN

QUAN HỆ GIỮA CHA MẸ VÀ

VỊ THÀNH NIÊN TRONG GIA

ĐÌNH (QUA PHÂN TÍCH SỐ LIỆU ĐIỀU TRA GIA ĐÌNH VIỆT NAM 2006)

LUẬN VĂNp THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Chuyên ngành: Xã hội học

Mã số: 603130

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Hữu Minh

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 1

MỤC LỤC 2

DANH MỤC CÁC BẢNG 4

DANH MỤC CÁC BIỂU 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 6

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Vài nét về vấn đề nghiên cứu 8

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 15

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 15

4.1 Mục đích nghiên cứu 15

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 15

5 Đối tượng, khách thể nghiên cứu 16

5.1 Đối tượng nghiên cứu 16

5.2 Khách thể nghiên cứu 16

6 Phương pháp nghiên cứu 16

6.1 Phương pháp luận 16

6.2 Phương pháp phân tích cụ thể 17

7 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 19

7.1 Câu hỏi nghiên cứu 19

7.2 Giả thuyết nghiên cứu 19

Trang 4

8 Kết cấu luận văn 19

PHẦN 2 NỘI DUNG 20

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NGHIÊN CỨU QUAN HỆ GIỮA CHA MẸ VÀ VỊ THÀNH NIÊN TRONG GIA ĐÌNH 20

1.1 Các khái niệm công cụ 20

1.2 Cơ sở lý thuyết nghiên cứu 23

CHƯƠNG 2 QUAN NIỆM VỀ GIÁ TRỊ CỦA VỊ THÀNH NIÊN TRONG CUỘC SỐNG 27

2.1 Quan điểm về sự hi sinh của cha mẹ đối với VTN và sự vâng lời của VTN đối với cha mẹ 28

2.2 Sự ưu tiên của cha mẹ đối với VTN là trai-gái trong một số lĩnh vực 34

2.3 Những lo lắng của cha mẹ đối với VTN 41

CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM VỀ HÔN NHÂN 50

3.1 Quan điểm về quyền quyết định trong hôn nhân 50

3.2 Quan điểm về sống chung/riêng sau hôn nhân 62

KẾT LUẬN 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

PHỤ LỤC 77

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1: Giới tính VTN và phân bố theo vùng nông thôn/thành thị 18

Bảng 2: Quan niệm của cha mẹ và VTN về “cha mẹ hi sinh tất cả cho con cái” phân theo mức sống gia đình (%) 30

Bảng 3: Quan niệm của VTN và cha mẹ về “con cháu luôn tuân theo sự chỉ bảo của người lớn tuổi”, phân theo mức sống gia đình (%) 32

Bảng 4: Ý kiến VTN, cha mẹ về nhận định “con cháu luôn tuân theo sự chỉ bảo của người lớn tuổi” theo khu vực (%) 33

Bảng 5: Ý kiến VTN đồng ý với các nhận định […] phân theo giới tính (%) 36

Bảng 6: Ý kiến của cha mẹ về lo lắng với con cái theo giới tính cha mẹ (%) 43

Bảng 7: Ý kiến của cha mẹ về lo lắng với con cái theo khu vực (%) 44

Bảng 8: Ý kiến của cha mẹ về lo lắng với con cái, phân theo mức sống hộ gia đình (%) 45 Bảng 9: Quan điểm của cha mẹ về việc: con cái kết hôn nhất thiết phải có sự đồng ý của cha mẹ phân theo trình độ học vấn của cha mẹ (%) 52

Bảng 10: Quan điểm của cha mẹ về việc: con cái kết hôn nhất thiết phải có sự đồng ý của cha mẹ, phân theo khu vực (%) 53

Bảng 11: Quan điểm của VTN về việc: con cái kết hôn nhất thiết phải có sự đồng ý của cha mẹ, phân theo giới tính VTN (%) 57

Bảng 12: Ý kiến của VTN về việc hôn nhân do ai quyết định (%) 59

Bảng 13: Ý kiến của VTN về hôn nhân do ai quyết định theo trình độ học vấn của cha mẹ (%) 60

Bảng 14: Ý kiến của VTN về hôn nhân do ai quyết định, phân theo mức sống hộ gia đình (%) 61

Bảng 15: Quan điểm của cha mẹ và VTN về việc sống chung/riêng sau khi con cái kết hôn theo khu vực (%) 63

Bảng 16: Quan điểm sống chung/riêng của cha mẹ và VTN phân theo mức sống hộ gia đình (%) 64

Bảng 17: Lý do nên sống chung theo quan điểm của cha mẹ và VTN (%) 65

Trang 6

DANH MỤC CÁC BIỂU

Biểu 1: Học vấn của cha mẹ VTN (%) 18

Biểu 2: Ý kiến cha mẹ và VTN về nhận định “cha mẹ hi sinh tất cả cho con cái” (%) 29

Biểu 3: Ý kiến cha mẹ và VTN về nhận định “con cháu luôn tuân theo sự chỉ bảo của người lớn tuổi” (%) 31

Biểu 4: VTN đồng ý với nhận định […] về con trai và con gái trong cùng một độ tuổi ở gia đình trên một số lĩnh vực (%) 35

Biểu 5: VTN đồng ý với nhận định […] theo khu vực (%) 39

Biểu 6: VTN đồng ý với nhận định […] theo mức sống hộ gia đình (%) 40

Biểu 7: Lo lắng của cha mẹ đối với VTN (%) 42

Biểu 8: Quan điểm của cha mẹ và VTN về việc: con cái kết hôn nhất thiết phải có sự đồng ý của cha mẹ, phân theo mức sống gia đình (%) 54

Biểu 9: Ý kiến của cha mẹ và VTN về quan điểm sống chung/riêng sau khi con cái kết hôn (%) 62

Biểu 10: Quan điểm sống chung/riêng của cha mẹ theo trình độ học vấn (%) 64

Biểu 11: Quan điểm sống chung/riêng theo giới tính cha mẹ và VTN (%) 65

Biểu 12: Ý kiến của cha mẹ VTN về lý do nên sống riêng (%) 67

Trang 8

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Gia đình với chức năng giáo dục thế hệ trẻ luôn là mối quan tâm của xã hội Môi trường giáo dục gia đình đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trình xã hội hóa cá nhân Ở tuổi vị thành niên, lứa tuổi có nhiều thay đổi về thể chất, tâm sinh lý, dễ chịu tác động của những biến đổi trong xã hội, vai trò của gia đình càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Bởi lẽ, ở lứa tuổi này, nếu không nhận được sự quan tâm, giáo dục một cách đúng đắn từ phía gia đình, các em sẽ rất dễ sa vào các tệ nạn xã hội, có xu hướng thực hiện các hành vi lệch chuẩn gây nên những hậu quả đáng tiếc đối với bản thân vị thành niên, gia đình và xã hội

Trong khi đó, sự phát triển về kinh tế hiện nay cùng với xu thế giao lưu, hội nhập quốc tế, văn hóa xã hội mang tính chất toàn cầu, ngoài những tác động tích cực còn có nh ững mặt hạn chế làm cho các mối quan hệ cũng như các tác động giáo dục và ảnh hưởng của giáo dục gia đình có chiều hướng giảm sút Cơ chế thị trường và các tác động của xã hội hiện đại đang làm cho mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình ngày càng lỏng lẻo, thậm chí là xa cách Các bậc cha mẹ có thể có ít thời gian quan tâm tới con cái của họ hơn so với trước đây Mặt khác, mối quan hệ giữa cha mẹ với vị thành niên hiện nay không đơn thuần là quan hệ một chiều theo cách mà chúng ta vẫn thường hiểu đó là con cái vâng lời cha mẹ một cách tuyệt đối Vị thành niên bây giờ có cách thể hiện những chính kiến, quan điểm của mình theo cách của riêng các em Như vậy, nếu giữa cha mẹ và vị thành niên không hiểu và tìm được tiếng nói chung về một số vấn đề trong cuộc sống, việc thực hiện chức năng giáo dục của gia đình đối với vị thành niên sẽ trở nên khó khăn

Với mong muốn làm rõ hơn một số khía cạnh trong mối quan hệ giữa cha

mẹ và vị thành niên trong gia đình từ điểm nhìn của cả hai bên, tác giả đã lựa

Trang 9

chọn đề tài “Quan hệ giữa cha mẹ và vị thành niên trong gia đình” (qua phân tích số liệu Điều tra gia đình Việt Nam 2006)

2 Vài nét về vấn đề nghiên cứu

Vị thành niên là lứa tuổi có những thay đổi cả về mặt tâm sinh lý lẫn xã hội nói chung và bắt đầu hình thành những định hướng giá trị: cái tốt, cái xấu, cái hay, cái dở, cái đúng, cái sai; và các lý tưởng sống và thế giới quan của bản thân Do đó, quan hệ của cha mẹ và vị thành niên tốt đẹp là yếu tố rất quan trọng trong việc giáo dục và hình thành nhân cách của các em trong giai đoạn này Một vài nghiên cứu gần đây đã khẳng định vai trò của mối quan hệ cha mẹ-con cái đối với việc củng cố các mối quan hệ trong gia đình cũng như hiệu quả giáo dục gia đình Theo đó, giáo dục sẽ thuận lợi và đạt hiệu quả cao khi giữa cha mẹ và con có quan hệ gắn bó mật thiết với nhau (Nguyễn Thị Bích Hồng, 2004) Bởi lẽ, mối quan hệ này có ảnh hưởng tới nhiều khía cạnh trong đời sống của con như học tập, tâm lý hay thể chất Do đó, khi cha mẹ quan tâm, chăm lo tích cực, đối xử công bằng với con sẽ giúp con học hành tiến bộ hơn Ngược lại, khi cha mẹ bất hòa, mâu thuẫn với nhau hoặc giữa cha mẹ và con xung đột, căng thẳng sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe, hiệu quả lao động kém, kết quả học tập của con giảm sút (Dương Thị Diệu Hoa và Ngô Thị Kim Dung, 2005)

Trong khi đó, một số tác giả khi nghiên cứu về mối quan hệ này trong gia đình đã nhận định rằng: sự thay đổi của bối cảnh kinh tế xã hội nói chung khiến phần lớn các bậc cha mẹ hiện nay phải dành nhiều thời gian hơn cho những hoạt động kinh tế bên ngoài gia đình và không dành sự quan tâm thích đáng đối với con cái Từ đó, con cái đầy đủ về vật chất nhưng lại thiếu thốn tình cảm và

sự chia sẻ của cha mẹ dẫn tới mối quan hệ gắn bó giữa cha mẹ và con trong gia đình hiện nay đang có chiều hướng giảm dần (Nguyễn Thanh Bình, 2001; Lưu Song Hà, 2007; Đỗ Ngọc Khanh, 2010) Các nghiên cứu gần đây về mối quan

Trang 10

hệ giữa cha mẹ và VTN trong gia đình chủ yếu tập trung khai thác một số khía cạnh sau:

Thứ nhất là những mâu thuẫn, xung đột trong mối quan hệ này ở một số

lĩnh vực như đời sống tâm lý, tình cảm, hay quan hệ với bạn bè

Nghiên cứu của tác giả Phí Thị Hiếu (2007) cho thấy hiện nay ngày càng

có nhiều thiếu niên bị rối nhiễu tâm lý do căng thẳng trong quan hệ với cha mẹ mang lại Mức độ căng thẳng tập trung ở lĩnh vực học tập và quan hệ với bạn Đồng thời tác giả cũng chỉ ra rằng nguyên nhân chủ yếu dẫn tới căng thẳng trong quan hệ này là do sự khác biệt về đặc điểm tâm lý lứa tuổi giữa cha mẹ và thiếu niên và sự khác biệt nhận thức giữa cha mẹ và thiếu niên về vị thế và mức

độ trưởng thành của các em trên từng lĩnh vực

Khi có mâu thuẫn trong quan hệ với cha mẹ, VTN chủ yếu ứng phó bằng hành động tích cực như tự nỗ lực giải tỏa bằng các hoạt động giải trí, rất ít VTN chọn hành động một cách tiêu cực (Phí Thị Hiếu, 2007; Lưu Song Hà, 2004), ứng xử bằng hành vi phi ngôn ngữ như vùng vằng, im lặng giận dỗi (Đỗ Hạnh Nga, 2006)

Các nghiên cứu cũng phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến mức độ xung đột trong mối quan hệ này như trình độ học vấn, nghề nghiệp của cha mẹ hay giới tính của VTN

Nghiên cứu của Đỗ Hạnh Nga (2006) về xung đột tâm lý giữa cha mẹ và

con ở tuổi VTN về nhu cầu độc lập đã chỉ ra ảnh hưởng của yếu tố trình độ học

vấn và nghề nghiệp của cha mẹ trong quan hệ với con cái Đó là, cha mẹ có

trình độ học vấn cao thường xung đột với con ở mức độ thấp, ngược lại, cha mẹ

có trình độ học vấn thấp thường xung đột với con ở mức độ trung bình và cao; cha mẹ làm nghề buôn bán và lao động phổ thông thường xung đột với con ở mức độ trung bình và cao, trong khi cha mẹ là cán bộ thường xung đột với con

ở mức độ thấp

Trang 11

Yếu tố giới cũng chi phối phần nào tới vấn đề này: các em nam hay xung đột với cha mẹ về lĩnh vực này hơn các em nữ (Đỗ Hạnh Nga, 2006) Ngoài ra, trong đời sống tình cảm của con cái ví dụ như mối quan hệ với bạn bè, cho dù con cái là người quyết định chính song cha mẹ vẫn tham gia nhất định vào việc này và quyết định của cha mẹ thể hiện rõ hơn ở những gia đình ở thành thị, có mức sống cao hơn và cha mẹ có học vấn cao hơn (Bộ Văn hóa, thể thao, du lịch

và các cơ quan khác, 2008)

Thứ hai, các nghiên cứu gần đây khi đề cập tới khía cạnh giáo dục trong

mối quan hệ giữa cha mẹ và con đều có chung nhận định: các bậc cha mẹ hiện nay cũng rất quan tâm đến việc học tập của con, coi việc đầu tư cho con học hành là một trong những nguồn chi phí lớn nhất trong nguồn chi của một gia đình (Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Quý, 2007; Đặng Bích Thủy, 2008) Và hầu hết các gia đình đều đã thực hiện đầu tư cho con học hành ở các mức độ khác nhau Riêng đối với VTN, các bậc cha mẹ hiện nay không chỉ đơn thuần quan tâm đến giáo dục truyền thống đạo đức gia đình mà còn bắt đầu quan tâm giáo dục giới tính, sức khoẻ sinh sản (Nguyễn Linh Khiếu, 2003; Nguyễn Hữu Minh

2006 và Ngô Thị Ngọc Anh, 2008; Hoàng Bá Thịnh, 2006) Tuy nhiên, vai trò của cha mẹ trong lĩnh vực này chưa thực sự rõ ràng bởi lẽ các bậc cha mẹ cho rằng nói chuyện về tình dục sẽ khuyến khích các em sớm có quan hệ tình dục và

sự thiếu kiến thức của cha mẹ về vấn đề này là một trong những rào cản hạn chế mức độ và chiều sâu trong giao tiếp (Nguyễn Linh Khiếu, 2003; Trịnh Văn Thắng, 2004)

Trình độ học vấn của cha mẹ và nơi cư trú là hai yếu tố ảnh hưởng tới mối

quan hệ giữa cha mẹ và con trong lĩnh vực này Thông thường, các bậc cha mẹ

ở thành thị và có trình độ học vấn cao có sự quan tâm nhiều hơn tới con cái (Nguyễn Hữu Minh và các tác giả khác, 2008) Do đó, con cái của họ cũng được chăm sóc, giáo dục một cách tốt hơn và một trong số những hệ quả của điều này là tính độc lập trong ứng xử của trẻ em tăng theo trình độ học vấn của

Trang 12

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan (2006) liên quan đến định hướng giá trị

về nghề nghiệp cho con cái của các bậc cha mẹ ở Hà Nội cho biết: cha mẹ có trình độ học vấn phổ thông, trung cấp hay cao đẳng có xu hướng thích con cái làm công chức, viên chức hơn nhóm cha mẹ có trình độ đại học Điều này được

lí giải là do có nhiều cơ hội tiếp cận với những thông tin kinh tế xã hội mà những người có trình độ học vấn cao cũng thường nhận thức cởi mở, rộng hơn những người có trình độ học vấn thấp trong việc lựa chọn nghề nghiệp cho con,

đặc biệt là đối với nghề kinh doanh Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, yếu tố tuổi

của cha mẹ có ảnh hưởng tới việc định hướng nghề cho con, cụ thể: cha mẹ

nhóm tuổi từ 30 trở lên có xu hướng chọn nghề giảng dạy cho con nhiều hơn nhóm người dưới độ tuổi 30 Đối với nghề kinh doanh thì có xu hướng ngược lại, tỉ lệ số lượng người dưới 45 tuổi chọn nghề kinh doanh cho con cao gần gấp

2 lần so với số người trên 45 tuổi

Việc cả cha và mẹ cùng tham gia vào việc giáo dục con cái là điều rất quan trọng để đạt được hiệu quả tốt nhất (Lê Thi, 2002) Tuy nhiên, có sự khác biệt về vai trò của cha và mẹ trong lĩnh vực này Ví dụ như đối với việc học tập của con cái, người mẹ luôn có vai trò gần gũi, nhắc nhở và giúp đỡ con học bài nhiều hơn so với người cha (Đặng Thị Hoa, 2008) Về cơ bản nếu là con trai thì người thực hiện giáo dục chính là bố và nếu là con gái thì người thực hiện là

mẹ Điều này xuất phát không chỉ từ bản thân phía cha mẹ mà còn từ chính nhu cầu của con cái như con gái thường thích tâm sự với mẹ hơn hay con trai thường thích tâm sự và gần gũi với bố hơn: “Người mẹ thường được các em trao đổi nhiều hơn người bố hoặc các thành viên khác là vì người mẹ là người hay hỏi chuyện và quan tâm tới việc học tập, quan hệ bạn bè và tâm tư tình cảm của con cái Mẹ không chỉ là người tâm lý, hiểu con cái mà còn là người trực tiếp hoặc gián tiếp giúp trẻ khi trẻ gặp khó khăn Đối với các em gái, người mẹ đặc biệt thân thiết.” (Bộ Văn hoá, thể thao và Du lịch và các cơ quan khác, 2008: 137) Nhìn chung, cách nhìn nhận của các em về người mẹ có xu hướng

Trang 13

tích cực hơn bởi lẽ theo các em, người mẹ là người yêu thương và quan tâm đến con nhiều hơn so với cha (Lưu Song Hà, 2006)

Phương pháp giáo dục VTN cũng được đề cập nhiều trong các nghiên cứu

về quan hệ giữa cha mẹ và con ở độ tuổi này Nghiên cứu của khoa Tâm lý học

- Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn về ảnh hưởng của gia đình đến hành vi vi phạm pháp luật của trẻ em vị thành niên năm 2000 cho thấy phương pháp giáo dục của cha mẹ không dựa trên những đặc điểm tâm sinh lý ở lứa tuổi VTN là một trong những nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm pháp của trẻ em trường giáo dưỡng số II Ninh Bình (Nguyễn Hồi Loan, 2000)

Một số nghiên cứu cũng đã chỉ ra một trong số những phương pháp giáo dục tốt đối với trẻ VTN đó là cha mẹ phải là tấm gương sáng cho con cái noi theo (Nguyễn Hồi Loan, 2000; Đỗ Long, 2004) Và đối với con cái hiện nay, phương pháp giáo dục truyền thống một chiều theo cách áp đặt cần phải được thay đổi, các bậc cha mẹ phải chú trọng tới phương pháp giáo dục hai chiều: con cái học tập, nghe lời cha mẹ, cha mẹ cũng lắng nghe ý kiến trình bày của con cái, quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng của chúng (Lê Thi, 2002)

Thứ ba, trong mối quan hệ giữa cha mẹ và con ở tuổi VTN, các nghiên

cứu thường đề cập tới ứng xử trong quan hệ giữa cha mẹ và con Thái độ, cách

ứng xử của cha mẹ đối với VTN trong đời sống hàng ngày có ảnh hưởng tới sự phát triển của các em Tác giả Đỗ Ngọc Khanh (2004) cho rằng: con cái có mức

độ tự đánh giá bản thân cao khi bố mẹ có cư xử ấm áp, quan tâm và kiểm soát Ngược lại chúng sẽ có mức độ tự đánh giá bản thân thấp khi cha mẹ ít quan tâm, cư xử không ấm áp, ít kiểm soát và mức độ hà khắc cao Từ phía VTN, bản thân các em mong muốn cha mẹ có thay đổi trong quan hệ đối với mình, mong các bậc cha mẹ quan tâm và đối xử với chúng bớt nghiêm khắc, cứng nhắc hơn (Lưu Song Hà, 2007)

Một nghiên cứu khác của khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội về tội phạm ở lứa tuổi chưa thành niên tại Việt Nam trong giai đoạn 1996-2000 cho

Trang 14

thấy thái độ đối xử không phù hợp của cha mẹ cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của người chưa thành niên Đối với nhóm chưa thành niên bị cha mẹ quát mắng đánh đập, thường là bạo lực của cha mẹ dẫn đến sự xuất hiện ở đứa trẻ những tình cảm bực dọc, tâm trạng căng thẳng dần dần chuyển sang trạng thái thô bạo và chống lại uy quyền của cha mẹ Còn đối với nhóm chưa thành niên được cha mẹ chiều chuộng, sự chú ý quá mức của cha mẹ nhằm hướng con cái đến lợi ích vật chất có thể làm sai lệch các nhu cầu lợi ích giá trị của các em

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Nguyệt (2007) đối với gần 200 hộ gia đình ở nông thôn và thành phố Ninh Bình cũng cho kết quả tương tự như vậy về ứng xử giữa cha mẹ đối với con: biểu hiện hành vi ứng xử của cha mẹ với con cái chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố như môi trường sống, độ tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn… Mặc dù hầu hết các bậc cha mẹ đều nhận thức được rằng nên có cách ứng xử khéo léo, tế nhị với con nhưng trên thực tế họ không kiềm chế được bản thân và đối xử thô bạo với con Đa số những trường hợp này rơi vào nhóm các bậc cha mẹ có trình độ học vấn thấp, nghề nghiệp chủ yếu là làm ruộng, buôn bán tự do

Thứ tư, các nghiên cứu gần đây còn đề cập tới sự thay đổi theo xu hướng

dân chủ trong mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái, đặc biệt là con ở độ tuổi VTN

Nghiên cứu về kinh tế hộ gia đình và các quan hệ xã hội ở nông thôn đồng bằng sông Hồng, tác giả Nguyễn Đức Truyến (1997) nhấn mạnh rằng các quan

hệ trong gia đình có sự phân biệt theo trật tự cha mẹ, con cái song quyền lực của cha mẹ không mang tính tuyệt đối như trong gia đình Nho giáo Con cái trong gia đình có quyền tự do tìm hiểu song cần phải có sự chấp thuận của cha

mẹ Quan hệ cha mẹ, con cái về căn bản là nương tựa lẫn nhau nên con cái phải biết ơn cha mẹ, tuy nhiên, không phục tùng tuyệt đối quyền uy của cha mẹ Đồng thời, tác giả cũng đưa ra những so sánh về sự thay đổi của mối quan hệ

Trang 15

cha mẹ-con cái theo những nhóm hộ kinh tế khác nhau Cụ thể: ở nhóm hộ kinh doanh phi nông nghiệp, theo ông, kinh tế thị trường kích thích chủ nghĩa cá nhân làm suy yếu các chuẩn mực gia đình, đặc biệt là quan hệ cha mẹ, con cái

Bố mẹ thường thích ở riêng khi còn khả năng lao động; ở nhóm hộ thuần nông, quan hệ cha mẹ, con cái còn được duy trì tốt hơn vì con cái vẫn phụ thuộc vào cha mẹ về kinh tế nhưng người nuôi dưỡng cha mẹ về già không nhất thiết phải

là con trưởng; còn ở nhóm hộ kinh doanh hỗn hợp, quan hệ cha mẹ và con cái cần có tính nghi lễ để duy trì tình cảm gia đình do có sự tách biệt về quan hệ kinh tế, tính chất gia trưởng không còn phù hợp nhưng tính chất dân chủ trong quan hệ gia đình vẫn còn đang được thể nghiệm

Tác giả Lê Thi (2002) cho rằng cần phải xây dựng mối quan hệ dân chủ giữa cha mẹ và con cái là bởi vì ngày nay, VTN ngoài học tập ở cha mẹ, các em còn học tập ở nhiều kênh thông tin khác, độ tuổi này lại năng động, sáng tạo, dễ tiếp thu cái mới, thậm chí hiểu biết trong một số lĩnh vực còn hơn cả cha mẹ Trong khi đó, tư tưởng của một số bậc cha mẹ vẫn là “trứng cứ đòi khôn hơn vịt” nên dễ nảy sinh mâu thuẫn trong quan hệ cha mẹ và con cái Chính vì vậy,

để xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa các thành viên trong gia đình thì mối

quan hệ bình đẳng, dân chủ giữa cha mẹ và con cái là hết sức quan trọng Đó là

sự lắng nghe ý kiến của nhau, thuyết phục lẫn nhau, không lấy quyền uy cha mẹ

áp đặt cho con cái, hay sự vô lễ, hỗn láo, ngang bướng của con cái

Hơn nữa, để thiết lập được mối quan hệ thân mật và bình đẳng giữa cha

mẹ và con cái, cha mẹ cần có sự tôn trọng đối với VTN Đây là một trong những nguyên tắc để giải quyết xung đột giữa cha mẹ và con cái ở độ tuổi này

Và khi cha mẹ thực sự tôn trọng suy nghĩ và hành động của con em mình, họ sẽ phải cân nhắc lựa chọn giữa lợi ích của bản thân mình và con cái khi có sự khác biệt (Nguyễn Phương Hoa, 2000)

Nhìn chung, những công trình nghiên cứu về quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong độ tuổi vị thành niên tương đối đa dạng và phong phú Tuy nhiên, các

Trang 16

nhà nghiên cứu chưa đi sâu phân tích nhiều tới xu hướng dân chủ, bình đẳng ngày càng rõ rệt trong mối quan hệ này Do đó, luận văn sẽ tập trung vào phân tích sự khác biệt giữa cha mẹ và VTN trên một số lĩnh vực để làm rõ chiều cạnh dân chủ, bình đẳng trong mối quan hệ giữa hai thế hệ này trong gia đình

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Bằng cách phân tích các tác động của điều kiện kinh tế - xã hội làm biến đổi mối quan hệ giữa cha mẹ và VTN trong gia đình xét từ khía cạnh dân chủ,

đề tài góp phần phát hiện những biểu hiện của sự thay đổi trong mối quan hệ giữa cha mẹ và VTN

Kết quả nghiên cứu cũng giúp nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của mối quan hệ giữa cha mẹ và VTN trong việc xây dựng mối quan hệ trong gia đình hòa thuận, đảm bảo hiệu quả giáo dục của thiết chế gia đình trong bối cảnh hiện tại

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

- Làm rõ một số biểu hiện của mối quan hệ giữa cha mẹ và VTN trong gia đình liên quan đến quan niệm về giá trị VTN cũng như quyền quyết định của VTN trong gia đình qua phân tích số liệu Điều tra Gia đình Việt Nam năm

2006

- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa cha mẹ và con ở tuổi VTN ở các khía cạnh trên

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng hợp các tài liệu nghiên cứu có liên quan về chủ đề mối quan hệ giữa cha mẹ và VTN

Trang 17

- Phân tích số liệu Điều tra Gia đình Việt Nam về các khía cạnh sau: quan niệm của cha mẹ về giá trị của VTN trong cuộc sống, quan điểm của cha mẹ

và VTN về quyền quyết định trong hôn nhân và việc sống chung, sống riêng sau hôn nhân

- Xem xét các yếu tố nơi cư trú, mức sống hộ gia đình, trình độ học vấn, giới tính của cha mẹ và giới tính của VTN ảnh hưởng như thế nào tới quan hệ giữa cha mẹ và VTN trong gia đình

- Áp dụng lý thuyết về xã hội hóa, lý thuyết xung đột và tương tác biểu trưng để lý giải quan hệ giữa cha mẹ và VTN trong gia đình

5 Đối tượng, khách thể nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Mối quan hệ giữa cha mẹ và vị thành niên trong gia đình (qua phân tích số liệu Điều tra Gia đình Việt Nam năm 2006)

5.2 Khách thể nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu của đề tài bao gồm: cha mẹ trong những gia đình

có con cái ở độ tuổi từ 15-17 tuổi và vị thành niên trong những gia đình này ở

độ tuổi từ 15-17

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp luận

6.1.1 Lý thuyết về quá trình xã hội hóa

6.1.2 Lý thuyết tương tác biểu trưng

6.1.3 Lý thuyết xung đột

Trang 18

6.2 Phương pháp phân tích cụ thể

Luận văn sử dụng một phần bộ số liệu định lượng và định tính của Điều tra gia đình Việt Nam năm 2006 để phân tích quan hệ giữa cha mẹ và VTN trong gia đình

Điều tra gia đình Việt Nam năm 2006 được tiến hành dưới sự chỉ đạo của

Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em Việt Nam (sau khi thay đổi về tổ chức do

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phụ trách), sự hỗ trợ của UNICEF và các cơ quan tiến hành điều tra gồm Tổng cục thống kê, Viện Gia đình và Giới với dung lượng mẫu là 9.300 hộ gia đình trong đó có 2.364 hộ thành thị và 6.936 hộ nông thôn đại diện chung cả nước, thành thị/nông thôn và 8 vùng

Một trong số những nội dung nghiên cứu về mối quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình của cuộc điều tra đó là quan hệ giữa cha mẹ và con cái chưa trưởng thành

Tập trung về sự khác biệt giữa cha mẹ và VTN trên một số lĩnh vực để làm rõ chiều cạnh dân chủ trong quan hệ cha mẹ và con cái, đề tài sử dụng một

số câu hỏi trong bảng hỏi phỏng vấn người đại diện gia đình từ 18-60 tuổi đối với 2.603 hộ gia đình có VTN từ 15-17 tuổi và phần phỏng vấn đối với 2.452 VTN trong độ tuổi từ 15-17

Mức sống của 2.603 hộ gia đình có VTN được chia thành 3 nhóm như sau: nhóm 1: khá giả trở lên chiếm 12,6%; nhóm 2: trung bình chiếm 67,5%; nhóm 3: nghèo và rất nghèo chiếm 19,5% và có 0,2% hộ chọn phương án không biết/không trả lời

Trong 2.603 hộ gia đình có VTN từ 15-17 tuổi, giới tính của cha mẹ VTN tham gia trả lời bảng hỏi như sau: có 1.257 nam (chiếm 48.3% tổng số), trong

đó 18,7% ở thành thị và 81,3% ở nông thôn; 1.346 nữ (chiếm 51,7% tổng số), trong đó 23,1% ở thành thị và 76,9% ở nông thôn

Trang 19

Học vấn của cha mẹ VTN được chia thành 5 nhóm với tỉ lệ như sau:

Biểu 1: Học vấn của cha mẹ VTN (%)

Trang 20

7 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

7.1 Câu hỏi nghiên cứu

Đề tài đặt ra 2 câu hỏi nghiên cứu:

 Thứ nhất, mối quan hệ giữa cha mẹ và VTN hiện nay biểu hiện theo chiều hướng nào, phục tùng cha mẹ tuyệt đối hay dân chủ?

 Thứ hai, những yếu tố nào có quan hệ với xu hướng quan hệ trên?

7.2 Giả thuyết nghiên cứu

Để trả lời cho 2 câu hỏi nghiên cứu đã nêu, đề tài đưa ra 2 giả thuyết nghiên cứu như sau:

 Giả thuyết thứ nhất: Quan hệ giữa cha mẹ và VTN hiện nay biểu hiện theo chiều hướng “dân chủ hóa” có nghĩa là giữa vị thành niên và cha mẹ không chỉ tồn tại quan hệ một chiều cha mẹ ra lệnh, con cái phục tùng

 Giả thuyết thứ hai: Trình độ học vấn của cha mẹ và hoàn cảnh kinh tế gia đình là hai yếu tố tác động nhiều tới xu hướng “bình đẳng” hay “dân chủ hóa” trong mối quan hệ giữa cha mẹ và VTN Cha mẹ có học vấn cao thì mối quan hệ cha mẹ-VTN bình đẳng hơn; Gia đình có mức sống cao hơn thì mối quan hệ cha mẹ-VTN bình đẳng hơn

8 Kết cấu luận văn

Luận văn gồm 3 phần chính:

Phần I: Mở đầu

Giới thiệu khái quát nội dung của đề tài

Phần II: Nội dung

Chương I: Cơ sở lý luận của nghiên cứu quan hệ giữa cha mẹ và vị thành niên trong gia đình

Chương II: Quan niệm của cha mẹ về giá trị của VTN trong cuộc sống Chương III: Quan điểm về hôn nhân

Phần III: Kết luận

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 21

PHẦN 2 NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NGHIÊN CỨU QUAN HỆ GIỮA CHA MẸ VÀ VỊ THÀNH NIÊN TRONG GIA ĐÌNH 1.1 Các khái niệm công cụ

1.1.1 Khái niệm “Gia đình”

Là thiết chế cơ sở của xã hội, gia đình từ lâu đã thu hút được sự quan tâm của các nhà tư tưởng, nhà nghiên cứu

Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” (1845), khi luận chứng cho những tiền

đề, điều kiện cho sự tồn tại của con người, K.Marx và F.Engels đã cho rằng:

“Hàng ngày, ngoài việc tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người còn tạo ra những cái khác, sinh sôi nảy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha

mẹ và con cái, đó là gia đình” (K.Marx và F.Engels Toàn tập, tập 3: 40)

Theo từ điển Triết học Nhà xuất bản Tiến bộ Matscơva, gia đình là đơn vị

xã hội (nhóm xã hội nhỏ), hình thức tổ chức quan trọng nhất của sinh hoạt cá nhân dựa trên hôn nhân và các quan hệ huyết thống, tức là quan hệ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa anh chị em và những người thân thuộc cùng chung sống và có kinh tế chung Đặc trưng của sinh hoạt gia đình là quá trình vật chất (sinh vật, kinh tế) và tinh thần (đạo đức, pháp lý, tâm lý)

Ở Việt Nam, quan niệm về gia đình cũng rất đa dạng và phong phú Các nhà nghiên cứu khác nhau đưa ra những định nghĩa về gia đình khác nhau và

“sự khác nhau này không chỉ do quan điểm, cách nhìn nhận của người định nghĩa mà còn do một thực tế là gia đình gắn chặt với những nhân tố văn hóa xã hội nhất định” (Mai Huy Bích, 2003) Theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm

2000, gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của Luật này

Trang 22

Trong luận văn này, khái niệm gia đình được hiểu là một nhóm người có quan hệ hôn nhân hoặc huyết thống với nhau, thường chung sống và hợp tác kinh tế với nhau để thoả mãn những nhu cầu cơ bản trong cuộc sống của họ về: sinh đẻ và nuôi dạy con cái, chăm sóc người già và người ốm Dưới dạng phổ biến nhất hiện nay, gia đình gồm thành viên của hai giới nam và nữ có con đẻ hoặc con nuôi

1.1.2 Khái niệm “Vị thành niên”

Khái niệm vị thành niên là một trong những khái niệm thường đem lại nhiều tranh luận cả về nội hàm lẫn ngôn từ trong tư duy khoa học Tuỳ thuộc vào cách tiếp cận, chức năng, nhiệm vụ của mỗi chuyên ngành mà VTN lại được xem xét theo một cách thức riêng

Theo một số tác giả nước ngoài, tuổi vị thành niên (adolescence) thường chia thành hai giai đoạn: giai đoạn vị thành niên sớm (early adolescence) và giai đoạn vị thành niên muộn (late adolescence) (Jerry J.Bigner, 1979; Jane B.Brooks, 2003) Theo đó, giai đoạn vị thành niên sớm được nhận diện bởi sự bắt đầu và hoàn thiện của tuổi dậy thì và kết thúc khi mà đứa trẻ bước vào năm cuối trung học phổ thông ở khoảng độ tuổi 17 Giai đoạn vị thành niên muộn bắt đầu từ thời điểm này và kéo dài cho tới sinh nhật 18 tuổi, lứa tuổi được coi

là trưởng thành về mặt luật pháp (Jerry J.Bigner, 1979: 190)

Theo từ điển Từ và Ngữ Việt Nam, “vị” có nghĩa là “chưa”, “thành” là

“trưởng thành”, “niên” là “tuổi” Khái niệm “vị thành niên” dùng để chỉ người

“chưa đến tuổi trưởng thành” (Nguyễn Lân, 2000: 2022)

Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “vị thành niên” là khái niệm dùng để chỉ người chưa đủ tuổi để được pháp luật công nhận là công dân” (Nguyễn Như Ý chủ biên, 1995:1814)

Do sự khác nhau giữa các nền văn hóa, phong tục tập quán, đặc điểm dân số… của từng quốc gia và các vùng lãnh thổ, việc qui định độ tuổi VTN cũng

Trang 23

khác nhau Tương tự như vậy đối với các tổ chức quốc tế, tùy thuộc vào mục đích của từng tổ chức, qui định về độ tuổi VTN cũng không giống nhau Ví dụ, VTN, theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) được xác định trong độ tuổi từ 10 đến

19 tuổi Theo Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi

Ở nước ta, giới hạn độ tuổi VTN cũng có những qui định khác nhau theo những góc độ khác nhau Về mặt pháp lý, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ

em Việt Nam (2004), chương 1, điều 1 quy định: Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi Điều 20 Bộ luật Dân sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1996) qui định: Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên Như vậy, quan niệm về độ tuổi của trẻ em và VTN theo pháp luật Việt Nam có sự khác nhau Trẻ em là người dưới 16 tuổi, còn người ở tuổi VTN là người dưới

18 tuổi

Như vậy, việc xác định giới hạn về độ tuổi của VTN ở mỗi quốc gia, dân tộc, của các tổ chức có sự khác nhau vì còn phụ thuộc vào thiết chế pháp luật, văn hoá, giáo dục cũng như những mục đích khác nhau

Trong phạm vi nghiên cứu này, đề tài tập trung nghiên cứu vị thành niên

có độ tuổi từ 15 đến 17 tuổi

1.1.3 Quan hệ giữa cha mẹ và vị thành niên

Ở đề tài này, quan hệ giữa cha mẹ và VTN trong gia đình được phân tích với hai nội dung bao gồm: Thứ nhất, quan niệm của cha mẹ về giá trị của VTN trong cuộc sống thể hiện ở: sự hi sinh của cha mẹ với con cái và sự vâng lời của con cái đối với cha mẹ, ưu tiên của cha mẹ với VTN nam và nữ trên một số lĩnh vực như tình cảm, phân công công việc trong gia đình và đầu tư học hành, và lo lắng của các bậc cha mẹ đối với VTN; Thứ hai, quan điểm của cha mẹ và VTN

về hôn nhân bao gồm quyền quyết định trong hôn nhân và việc sống chung, riêng sau khi kết hôn

Trang 24

1.2 Cơ sở lý thuyết nghiên cứu

Đề tài tiếp cận vấn đề nghiên cứu trên cơ sở cách tiếp cận của các lý thuyết: lý thuyết xã hội hóa, thuyết tương tác biểu trưng, và thuyết xung đột

Cách tiếp cận theo thuyết xã hội hóa

Theo cách tiếp cận của lý thuyết này, xã hội hoá là một quá trình diễn ra không ngừng nghỉ trong suốt cuộc đời con người Với những đặc trưng mang tính sinh học của tuổi tác, mỗi giai đoạn của cuộc đời lại có những đặc điểm và đòi hỏi riêng của quá trình xã hội hoá

Có nhiều cách phân chia các giai đoạn của quá trình xã hội hóa như phân chia theo tiêu chí về lao động của G.Andreeva: giai đoạn trước lao động, giai đoạn lao động và giai đoạn sau lao động (Nguyễn Quí Thanh, 2008)

Nếu phân chia theo các giai đoạn sinh học của cuộc đời, xã hội hoá được chia ra làm ba giai đoạn như sau: Giai đoạn xã hội hoá ở trẻ em; giai đoạn xã hội hoá ở tuổi thanh niên và giai đoạn xã hội hoá ở người cao tuổi (Đặng Cảnh Khanh, 2006) Và theo cách phân chia này thì giai đoạn xã hội hoá ở tuổi thanh niên là giai đoạn đặc biệt trong quá trình xã hội hóa cá nhân Ở giai đoạn này vừa một mặt hội nhập vào xã hội, một mặt khác vừa đóng góp cho sự vận động

và phát triển của xã hội bằng cách sau khi thu nạp được những kiến thức và kinh nghiệm sống của giai đoạn trước, tính tới thời điểm này, con người bắt đầu

có những sự lựa chọn tất yếu, tiếp thu hay gạt bỏ những giá trị nào nhằm gây dựng các mối quan hệ, tích lũy kinh nghiệm, nhằm đối diện với những thách thức trong việc xử lý các mối quan hệ xã hội

Như vậy, ở giai đoạn này, ngoài những yếu tố, tác nhân tham gia vào quá trình xã hội hóa như môi trường bạn bè, trường học… gia đình vẫn giữ một vai trò không nhỏ, đặc biệt là trong giai đoạn đầu của quá trình xã hội hóa giai đoạn thanh niên - tuổi VTN, mà trong đó, mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái là yếu

tố hết sức quan trọng trong định hướng, giáo dục VTN tiếp thu những chuẩn

Trang 25

mực, giá trị tích cực tạo tiền đề thực hiện tốt quá trình xã hội hóa ở giai đoạn này

Cách tiếp cận theo thuyết tương tác biểu trưng

Cách tiếp cận này chủ yếu áp dụng vào nghiên cứu quá trình xã hội hóa trẻ

em Theo cách tiếp cận này, con người ta phát triển quan niệm bản thân thông qua cái nhìn, quan điểm của người khác về họ, thông qua sự tương tác với những người đóng vai trò quan trọng trong đời sống cá nhân (như cha mẹ, thầy

cô giáo, bạn cùng tuổi hay thậm chí các ca sĩ, ngôi sao điện ảnh, vận động viên v.v…) Những người này tạo thành nhóm qui chiếu cho trẻ em Các em ngưỡng

mộ họ và dùng họ làm mô hình hoặc điểm qui chiếu để chỉ dẫn hành vi của mình, để phát triển ý thức bản thân và kiến giải bối cảnh xã hội Thuyết tương tác biểu trưng coi xã hội hóa là một quá trình theo đó trẻ em tham gia vào sự hình thành bản sắc của mình Gần đây đã xuất hiện quan điểm coi đứa trẻ là một chủ thể hành động tích cực Theo họ, đứa trẻ cũng tạo nên sự phát triển của bản thân nó Ví dụ, một bà mẹ chỉ có thể dạy con mình đọc nếu đứa trẻ hợp tác với

mẹ và tích cực tham gia Quan điểm này lấy cảm hứng từ thuyết tương tác biểu trưng (Mai Huy Bích, 2003)

Áp dụng vào lí giải: phân tích mối quan hệ giữa cha mẹ và VTN dựa trên việc phân tích quan điểm của cha mẹ và VTN trên cùng một câu hỏi, hoặc những câu hỏi liên quan tới suy nghĩ của VTN hay cha mẹ về những vấn đề có

xu hướng ảnh hưởng tới mối quan hệ này ở hiện tại và trong tương lai

Trong giai đoạn xã hội hóa này, VTN tương tác với rất nhiều các mối quan

hệ khác ngoài gia đình, bố mẹ như các nhóm bạn bè, đồng đẳng…Vì vậy, VTN không đơn thuần tiếp thu một cách thụ động những gì mà các em được giáo dục

mà còn chủ động hình thành nên những suy nghĩ, hành động theo những điều

mà các em cho là đúng đắn Hay nói cách khác, bên cạnh việc tiếp thu và làm theo những chuẩn mực được cha mẹ và người thân trong gia đình dạy dỗ, bản

Trang 26

thân các em qua những tương tác khá đa dạng này cũng hình thành những suy nghĩ và quan điểm của riêng mình trong nhiều lĩnh vực liên quan tới cuộc sống

Do vậy, hiểu theo một khía cạnh nào đó, việc so sánh sự giống hay khác trong quan điểm của cha mẹ và VTN thể hiện được hiệu quả trong tương tác hàng ngày giữa cha mẹ và con cái, liệu họ có giao tiếp tốt với nhau để cha mẹ đạt được mục tiêu về giáo dục con cái ở độ tuổi này hay không? Hay con cái có những suy nghĩ trái ngược với cha mẹ nhưng vẫn phải phục tùng hay không?

Và nếu có sự khác biệt quá lớn thì cần có những điều chỉnh trong tương lai như thế nào giữa cha mẹ và VTN để họ tương tác với nhau được tốt hơn, khiến cho mối quan hệ gia đình này gắn bó, đảm bảo tính bền vững của thiết chế gia đình

Cách tiếp cận xung đột

Cách tiếp cận xung đột coi xã hội về cơ bản không mang tính hợp tác, mà chia rẽ Các cá nhân và nhóm xung đột với nhau, và các nhà nghiên cứu cố gắng tìm ra và nhận diện những lực lượng cạnh tranh, xung đột nhau này Cách tiếp cận xung đột này không coi xung đột là tồi tệ mà coi nó như một bộ phận tự nhiên của đời sống gia đình Theo đó, gia đình bao gồm những cá nhân có nhân cách, lý tưởng, giá trị, sở thích và mục đích khác nhau Mỗi người không phải bao giờ cũng hài hòa với mọi người khác trong gia đình Các gia đình thường

có bất đồng từ nhỏ đến lớn Họ chỉ khác nhau về tần số và mức độ, tính chất, biểu hiện và các giải quyết xung đột (Mai Huy Bích, 2003)

Ví dụ: một thiếu niên muốn đến nhà bạn vào cuối tuần nhưng bố mẹ không thích người bạn đó, nên bố mẹ cấm con đi và đe: “Nếu con không nghe, con sẽ bị phạt” Người con có thể cãi lại, nhưng rút cục phải ở nhà Vì sao cha

mẹ thắng? Vì họ có quyền lực - đó là theo cách tiếp cận xung đột

Theo cách tiếp cận này, yếu tố hết sức quan trọng là quyền lực Mọi người trong gia đình đều có quyền lực ở mức độ khác nhau Cá nhân nào, nhóm nào

có nhiều quyền lực nhất thì thắng trong cuộc xung đột Và vì xung đột được coi

là bình thường nên giải pháp cho nó là ở giao tiếp, mặc cả và thương lượng

Trang 27

Áp dụng cách tiếp cận xung đột để xem xét mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong gia đình ta thấy các bậc cha mẹ và con cái đều là những cá nhân riêng rẽ, có tính cách, sở thích và mục đích khác nhau Đối với cha mẹ, giáo dục con cái trở thành những con người tốt, thành đạt là mục tiêu lớn trong cuộc sống Và để đạt mục tiêu này, mỗi gia đình, mỗi bậc cha mẹ lại sử dụng những cách thức giáo dục khác nhau Còn con cái, ở độ tuổi mới lớn, có thể chỉ một số

ít mới hiểu và thông cảm được với những lo lắng, trăn trở và tình cảm đó của cha mẹ Thậm chí, nếu chúng không hiểu được điều đó, cha mẹ lại sử dụng

“quyền lực” làm cha mẹ của mình một cách không thích hợp sẽ dễ dẫn tới xung đột trong mối quan hệ này và giảm tính hiệu quả trong giáo dục con cái ở tuổi VTN của các bậc cha mẹ

Tuy nhiên, khi tiếp cận theo quan điểm này với các mối quan hệ trong gia đình, chúng ta cũng phải quan tâm tới đặc thù của thiết chế gia đình như: trong gia đình, ngoài xung đột, con người ta còn có sự tự hi sinh và hợp tác Gia đình không thể tồn tại nếu xung đột lấn át sự hi sinh và hợp tác Bên cạnh đó, cách tiếp cận này cho rằng những khác biệt dẫn tới xung đột, nhưng thực ra sự khác biệt có thể được chấp nhận mà không nhất thiết dẫn tới xung đột

Trang 28

CHƯƠNG 2 QUAN NIỆM VỀ GIÁ TRỊ CỦA VỊ THÀNH NIÊN

TRONG CUỘC SỐNG

Giá trị với tư cách là sản phẩm của văn hóa có thể quy vào những mối quan tâm, thích thú, những ưa thích, những trách nhiệm, ước muốn, nhu cầu…và nhiều hình thái khác nữa của định hướng lựa chọn Giá trị là cái mà ta cho là đáng có, mà ta thích, cho là quan trọng để định hướng cho hành động của

Sự thay đổi nhu cầu về số con mong muốn trong những năm trở lại đây đã kéo theo sự thay đổi quan niệm về giá trị của con cái Trong xã hội Việt Nam truyền thống, giá trị của đứa con cũng phụ thuộc vào các chức năng của gia đình và vì vậy được thể hiện ở bốn khía cạnh là: 1 - Con cái là những thành viên đóng góp vào kinh tế gia đình; 2 - Là nhân tố đóng góp vào an sinh và hạnh phúc của gia đình; 3 - Để nhờ cậy lúc bố mẹ tuổi già; và 4 - Để nối dõi tông đường, kế tục dòng họ Bốn khía cạnh giá trị của con cái cho đến nay vẫn được lưu giữ Nhưng trong thực tế, các khảo sát cho thấy có những biến đổi nhất định về vị trí ưu tiên Số liệu của Viện Xã hội học trong trường hợp nghiên cứu ở Quyết Tiến (Thái Bình) năm 1984 và 1994 đã phần nào cho thấy điều đó

Trang 29

Trong vòng 10 năm, giá trị đóng góp kinh tế từ vị trí ưu tiên số một đã tụt xuống thứ ba, nhường chỗ cho hai giá trị là “để nhờ cậy lúc bố mẹ về già” và

“để nối dõi tông đường” (Trương Xuân Trường, 2004) Đến kết quả của cuộc điều tra của Lê Thi (2009), giá trị của con cái lại tiếp tục thay đổi với vị trí xếp

số 1 là con là niềm vui và hạnh phúc cho gia đình, xếp số 2 là để góp phần củng

cố quan hệ vợ chồng, và số 3 là để có người chăm sóc khi tuổi già, đến thứ 4 mới là để duy trì nòi giống

Như vậy, trong các nghiên cứu trước đây giá trị của con cái trong gia đình thường được tìm hiểu và phân tích theo chiều cạnh những lợi ích mà thiết chế gia đình có được từ việc có con như: lợi ích về kinh tế, về tinh thần, về duy trì các mối quan hệ trong gia đình…Trong luận văn này, tác giả muốn nhấn mạnh tới quan điểm về giá trị của con cái, chủ yếu thông qua việc phân tích quan niệm của cha mẹ VTN và bản thân VTN về sự hi sinh của cha mẹ đối với con cái, sự ưu tiên của cha mẹ đối với VTN là trai-gái trong những lĩnh vực như: phân công công việc trong gia đình, đầu tư học hành và dành tình cảm cho các con - những điều này thể hiện cách đối xử của cha mẹ đối với con trai, con gái trong gia đình, và những lo lắng của các bậc cha mẹ đối với con cái ở tuổi VTN trước những biến đổi về kinh tế-xã hội hiện nay

2.1 Quan điểm về sự hi sinh của cha mẹ đối với VTN và sự vâng lời của VTN đối với cha mẹ

Tình cảm của cha mẹ đối với con cái là một thứ tình yêu thương tự nhiên

và đó là một nhu cầu tình cảm có tính bản năng văn hóa, tức là có tính kế thừa,

di truyền trong quá trình tiến hóa và phát triển của loài người chúng ta Nói tới tình thương của cha mẹ đối với con cái, dân gian chúng ta thường ví von với câu tục ngữ “Nước mắt chảy xuôi” hay những câu ca dao như “Chim trời ai dễ đếm lông, nuôi con ai dễ kể công tháng ngày” Tình cảm ấy xuất phát một cách

tự nhiên, và bản thân nó vốn là sự tự nguyện hi sinh của cha mẹ đối với con cái, không có điều kiện cũng như không bắt đầu từ một hình thức hợp đồng, hứa

Trang 30

hẹn lời lỗ đối với đứa con mình sinh ra, bất luận là trai hay gái, cha mẹ đều thương yêu, không ngại ngùng công lao cực khổ và tính toán với con cái Đó là quan điểm truyền thống trong tình cảm, mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái Ngày nay, liệu rằng cùng với sự biến đổi của xã hội, quan niệm này từ phía cha

mẹ và con cái ở tuổi VTN có gì thay đổi hay không?

Dữ liệu được sử dụng để phân tích từ câu trả lời đối với hai câu hỏi: 1) Anh/chị có đồng ý với quan điểm cha mẹ hi sinh tất cả cho con cái; và 2) Con cháu luôn tuân theo sự chỉ bảo của người lớn tuổi hay không? Câu hỏi này được dành cho cả hai đối tượng là cha mẹ và VTN, do đó chúng ta có thể so sánh để thấy được sự tương đồng hay khác biệt trong cách nghĩ của cha mẹ và VTN Từ suy nghĩ, quan điểm chúng ta có thể có cơ sở để đánh giá về xu hướng hành vi, cách cư xử trong mối quan hệ thường ngày của cha mẹ và VTN trong gia đình

Biểu 2: Ý kiến cha mẹ và VTN về nhận định “cha mẹ hi sinh tất cả cho con

cái” (%)

Nhìn vào biểu đồ trên ta thấy, cả cha mẹ và VTN đều thống nhất cao với tỉ

lệ đồng ý với nhận định “cha mẹ hi sinh tất cả cho con cái” đều trên 80% và tỉ

lệ cha mẹ nói chung đồng ý với nhận định này cao hơn so với VTN là 8,8 điểm phần trăm

Trang 31

So sánh theo trình độ học vấn cha mẹ, kết quả phân tích cho thấy tỉ lệ đồng ý với nhận định này thấp nhất ở nhóm cha mẹ có trình độ học vấn mù chữ/không đi học, biết đọc, biết viết và nhóm cha mẹ có trình độ học vấn từ trung cấp, cao đẳng, đại học trở lên (lần lượt là 85,5% và 89,6%) Các nhóm còn lại đều trên 91% Kết quả này không mang ý nghĩa thống kê với p=0.133

Tỉ lệ ý kiến đồng ý với quan điểm này có xu hướng tỉ lệ nghịch với mức sống gia đình: ở những gia đình có mức sống khá giả trở lên, cha mẹ và VTN đồng ý với quan điểm này ít hơn so với những gia đình có mức sống trung bình, nghèo và rất nghèo Tuy nhiên, kết quả này không mang ý nghĩa thống kê với p>0,05 (xem bảng 2)

Bảng 2: Quan niệm của cha mẹ và VTN về “cha mẹ hi sinh tất cả cho con

cái” phân theo mức sống gia đình (%)

Khá giả trở lên Trung bình rất nghèo Nghèo & Khá giả trở lên Trung bình Nghèo & rất nghèo

Đồng ý 92,4 93,3 95,9 80,5 85,2 86,4 Không đồng ý 3,1 2,3 1,6 11,2 8,1 7,4 Tùy trường

So sánh theo khu vực, tỉ lệ đồng ý ở các bậc cha mẹ và VTN ở thành thị thấp hơn so với nông thôn lần lượt như sau: với cha mẹ, tỉ lệ đồng ý với nhận định này là 90,7% so với 94,6% và ở VTN là 80,9% so với 94,6% Kết quả này mang ý nghĩa thống kê với hệ số p đều <0,05 Điều này cho thấy sự thay đổi rõ

Trang 32

rệt hơn ở khu vực thành thị đối với quan niệm truyền thống về sự hy sinh của cha mẹ, đặc biệt là trong quan điểm của VTN

Khi xem xét quan điểm này theo giới tính VTN ta thấy, nam VTN có tỉ lệ đồng ý với nhận định cao hơn so với nữ VTN 5,2 điểm phần trăm (86,9% so với 82,7%) Kết quả mang ý nghĩa thống kê với hệ số p=0,030

Đối với nhận định “con cái luôn tuân theo sự chỉ bảo của người lớn tuổi”,

ý kiến từ phía cha mẹ và VTN như thế nào?

Kết quả thu được cho thấy sự khác biệt lớn hơn giữa cha mẹ và VTN: 90,3% cha mẹ đồng ý với quan điểm này, trong khi đó, theo quan điểm của VTN, tỉ lệ đồng ý chỉ có 75,7%, ít hơn 1,2 lần so với tỉ lệ đồng ý ở cha mẹ (xem biểu 3) Điều này cũng cho thấy một sự thay đổi đáng kể giữa các thế hệ trong quan niệm về quan hệ giữa cha mẹ và con cái

Biểu 3: Ý kiến cha mẹ và VTN về nhận định “con cháu luôn tuân theo sự chỉ

bảo của người lớn tuổi” (%)

So sánh theo mức sống hộ gia đình, tỉ lệ cha mẹ và VTN đồng ý với quan điểm này giảm dần theo mức sống ngày càng tăng Và tỉ lệ VTN đồng ý với nhận định này thấp hơn so với các bậc cha mẹ ở tất cả các nhóm hộ gia đình có mức sống khác nhau Ví dụ, cha mẹ ở nhóm hộ gia đình có mức sống nghèo trở

Trang 33

xuống có tỉ lệ đồng ý là 95%, cao hơn 1,1 lần so với tỉ lệ này ở VTN cùng mức

sống (xem bảng 3) Kết quả này mang ý nghĩa thống kê với hệ số p<0,05

Bảng 3: Quan niệm của VTN và cha mẹ về “con cháu luôn tuân theo sự chỉ

bảo của người lớn tuổi”, phân theo mức sống gia đình (%)

Khá giả trở lên

Trung bình

Nghèo &

rất nghèo

Khá giả trở lên

Trung bình

Nghèo & rất nghèo

Đồng ý 71,0 74,4 83,7 84,2 90,0 95,0 Không đồng ý 6,6 8,5 4,2 4,3 1,5 1,3 Tùy trường

Như vậy, cha mẹ vẫn lưu giữ quan điểm rằng những lời khuyên của các

bậc ông bà, cha mẹ trong gia đình luôn luôn xuất phát từ mong muốn cho con

cháu mình những điều tốt đẹp nhất Do đó, con cháu nên nghe theo Trong khi

đó, VTN cũng vẫn tôn trọng ý kiến của người lớn tuổi trong gia đình nhưng tỉ lệ

VTN đồng ý với quan điểm này thấp hơn so với các bậc cha mẹ VTN nam có

xu hướng nghe theo sự chỉ bảo của người lớn tuổi hơn VTN nữ với tỉ lệ đồng ý

với nhận định này là 79%, trong khi đó VTN nữ có tỉ lệ đồng ý là 72,3% (kết

quả này mang ý nghĩa thống kê với hệ số p=0,002)

So sánh theo trình độ học vấn của các bậc cha mẹ, kết quả cho thấy trình

độ học vấn của cha mẹ càng cao tỉ lệ đồng ý với nhận định “con cháu luôn tuân

theo sự chỉ bảo của người lớn tuổi” lại càng giảm Ví dụ, chỉ có 80,2% các bậc

Trang 34

cha mẹ có trình độ học vấn từ trung cấp, cao đẳng, đại học trở lên đồng ý với quan điểm này, trong khi tỉ lệ đó ở các bậc cha mẹ có trình độ mù chữ/không đi học, chỉ biết đọc, biết viết…lên tới 92,1%

Xét theo khu vực, cha mẹ và VTN sinh sống ở thành thị có tỉ lệ đồng ý với nhận định này thấp hơn so với cha mẹ và VTN ở nông thôn Nếu so sánh tỉ lệ đồng ý với nhận định này giữa cha mẹ và VTN, tỉ lệ của các bậc cha mẹ vẫn cao hơn so với VTN dù ở thành thị hay nông thôn Cụ thể: tỉ lệ các bậc cha mẹ

ở thành thị đồng ý với nhận định này cao hơn VTN cùng khu vực tới 17,9 điểm phần trăm, trong khi đó ở sự chênh lệch này ở nông thôn là 13,6 điểm phần trăm (xem bảng 4)

Bảng 4: Ý kiến VTN, cha mẹ về nhận định “con cháu luôn tuân theo sự chỉ

bảo của người lớn tuổi” theo khu vực (%)

Trang 35

2.2 Sự ƣu tiên của cha mẹ đối với VTN là trai-gái trong một số lĩnh vực

Trong quan niệm truyền thống, hầu hết mọi sự ưu tiên trong gia đình cả về tình cảm lẫn vật chất của cha mẹ đều theo chiều hướng “trọng nam, khinh nữ”

Tư tưởng này gần như đã ăn sâu vào suy nghĩ ở các thế hệ người dân Việt Nam ngay từ khi còn ở tuổi VTN Tuy nhiên, bối cảnh xã hội hiện nay có thể làm thay đổi sự phân biệt đối xử ấy Vậy, cha mẹ và VTN hiện nay nghĩ như thế nào

về sự ưu tiên đối với con cái ở tuổi VTN là trai-gái về một số khía cạnh trong cuộc sống thường nhật như: tình cảm dành cho con trai hay con gái nhiều hơn, con gái có phải làm việc nhà nhiều hơn con trai hay không, hay con nào được

ưu tiên đầu tư học hành hơn? Phân tích dưới đây về quan hệ giữa cha mẹ và VTN dựa trên những thông tin thu được sẽ làm rõ hơn những vấn đề này Từ

đó, ta sẽ thấy được trong quan điểm của cha mẹ, VTN trai-gái có ý nghĩa, giá trị như thế nào bởi lẽ từ suy nghĩ đó sẽ ảnh hưởng tới hành động, cách cư xử đối với con cái trong gia đình ở trong cùng một độ tuổi Quan điểm của VTN về vấn đề này cũng sẽ được phân tích để có được sự so sánh, đối chiếu về cách nghĩ của các em trong mối quan hệ với cha mẹ mình

Dữ liệu được phân tích từ thông tin thu thập được của câu hỏi nếu trong gia đình có VTN nam-nữ cùng một độ tuổi thì VTN có đồng ý với nhận định: (1) con trai phải làm việc nhiều hơn con gái, (2) con gái phải làm nhiều việc hơn con trai, (3) con trai được ưu tiên học hành hơn con gái, (4) con gái được

ưu tiên học hành hơn con trai, (5) con trai được bố mẹ quí hơn con gái, (6) con gái được bố mẹ quí hơn con trai Câu hỏi này thể hiện suy nghĩ, nhận định của VTN về cách cha mẹ cư xử đối với con trai và con gái trong gia đình mình, đặc biệt khi con cái họ đang ở độ tuổi nhạy cảm mà bất kì sự phân biệt đối xử nào,

dù là nhỏ, cũng có thể dẫn tới những suy nghĩ tiêu cực hoặc hành động phản kháng từ phía VTN

Kết quả của một số nghiên cứu trước đây cho thấy, từ góc nhìn của cha

mẹ, sự phân biệt đối xử giữa con trai và con gái trong gia đình trong một số lĩnh

Trang 36

vực như đầu tư cho con học hành, hay phân công công việc trong gia đình vẫn còn tồn tại: một bộ phận cha mẹ vẫn chưa coi trọng việc học hành đối với trẻ

em gái (Lê Thị Thuỷ cùng các tác giả khác, 1999) hay một bộ phận đáng kể gia đình nông thôn cho rằng con trai cần được quan tâm học tập nhiều hơn con gái (Phạm Tất Dong, 2001)… Nhưng suy nghĩ của con cái hay nói cách khác là kì vọng của con cái đối với vấn đề này như thế nào? Liệu có sự khác biệt nào trong việc đối xử với con trai và con gái về cả phương diện học hành lẫn tình cảm cũng như phân công công việc nhà, xét từ nhận định của VTN hay không? Kết quả cho thấy, trong tổng số 2.603 hộ gia đình có VTN, 332 hộ gia đình có con cái là VTN cùng độ tuổi 15-17, hơn 80% ý kiến của VTN không đồng ý là trong gia đình mình có sự phân biệt đối xử của cha mẹ đối với VTN nam và nữ về lĩnh vực ưu tiên về học hành và tình cảm Tuy nhiên, vẫn có sự chênh lệch, dù là ít, trong đánh giá rằng con trai được ưu tiên hơn con gái trong

cả hai lĩnh vực này Riêng đối với việc phân công lao động trong gia đình, thể hiện ở đánh giá con trai hay con gái phải làm việc nhiều hơn lại có sự khác biệt:

tỉ lệ đồng ý rằng con trai phải làm việc nhiều hơn con gái cao hơn rất nhiều so

với tỉ lệ đồng ý là con gái phải làm việc nhiều hơn con trai (xem biểu 4)

Biểu 4: VTN đồng ý với nhận định […] về con trai và con gái trong cùng một

độ tuổi ở gia đình trên một số lĩnh vực (%)

Trang 37

Phần tiếp sau là tương quan giữa ý kiến của VTN về nhận định này với giới tính của VTN

Bảng 5: Ý kiến VTN đồng ý với các nhận định […] phân theo giới tính (%)

1 Con trai phải làm việc nhiều hơn con gái 57,1 35,4

2 Con gái phải làm việc nhiều hơn con trai 10,4 21,3

3 Con trai được ưu tiên học hành hơn con gái 13,0 19,7

4 Con gái được ưu tiên học hành hơn con trai 9,1 7,9

5 Con trai được bố mẹ quý hơn con gái 9,7 16,9

6 Con gái được bố mẹ quý hơn con trai 6,5 10,1

Nhìn vào bảng số liệu trên, ta thấy trong cả ba lĩnh vực, đều có sự khác biệt giữa VTN nam và nữ khi đánh giá Tỉ lệ các em đồng ý về việc mình được

ưu tiên hơn trong một lĩnh vực nào đó so với giới kia đều thấp hơn so với tỉ lệ giới còn lại đồng ý đối với cùng một nhận định

Về phân công công việc trong gia đình, nhìn chung nam VTN được coi là làm việc nhiều hơn nữ VTN Tuy nhiên, ý kiến của mỗi giới có khác nhau, thiên

về quan điểm cho rằng giới mình phải làm nhiều hơn Cụ thể: tỉ lệ nam đồng ý với nhận định “con trai phải làm việc nhiều hơn con gái” cao hơn so với nữ là 21,7 điểm phần trăm (57,1% so với 35,4%), tỉ lệ nữ đồng ý với nhận định “con gái phải làm việc nhiều hơn con trai” cao hơn so với nam là 10,9 điểm phần trăm (21,3% so với 10,4%) Một số VTN cho rằng, bản thân các em có thể tự phân chia việc nhà cho nhau mà không cần sự can thiệp của cha mẹ theo cách anh, chị lớn thường làm nhiều hơn và nhường nhịn cho các em nhỏ hơn

“Mẹ cháu không phân công mà anh em cháu tự phân công lấy, em cháu quét nhà buổi sáng còn cháu buổi chiều Cháu học buổi sáng thì em cháu rửa bát buổi chiều còn em cháu học buổi chiều thì rửa buổi sáng Ngoài ra những

Trang 38

việc nặng hơn thì cháu làm như giặt giũ chăn màn, nấu cơm, lúc rỗi thì đan cúc áo cho mẹ…”

(Nam, 17 tuổi, Hải Phòng)

Và nếu có sự ưu tiên của cha mẹ đối với em nhỏ hơn, VTN cũng không có

thái độ tị nạnh Đồng thời các em cũng nghĩ rằng “con cái giúp cha mẹ làm

công việc nhà thì là tốt, mình phải biết chọn thời gian để học và sắp xếp thời gian để giúp mẹ, khi nào không có bài tập nhiều thì mình làm việc.” (Nam VTN

15 tuổi, TP Hồ Chí Minh)

Tuy nhiên, bên cạnh cách suy nghĩ rằng việc giúp đỡ gia đình là việc nên làm của con cái, VTN ngày nay còn cho rằng, cần phải có sự bình đẳng giữa nam và nữ, điều này cần phải được thể hiện từ trong gia đình, ở độ tuổi này, để trong tương lai, khi đã lập gia đình họ sẽ trở thành những người biết giúp đỡ bạn đời của mình để hướng tới một gia đình bình đẳng, hạnh phúc

“Thời này con trai, con gái đều bình đẳng như nhau, không thể phân biệt như thời phong kiến được Vì vậy, gia đình em cũng bình đẳng, không giao riêng cho con trai cũng như cho con gái làm việc gì đó.”

“Bây giờ con trai và con gái bình đẳng với nhau Những việc con trai có thể làm thì con gái cũng có thể làm Chẳng hạn như việc nấu cơm thì các bạn nam cũng phải nấu, chứ không phải là con trai không phải nấu.”

“Cả con trai và con gái cũng đi làm như nhau Và khi đi làm về thì mệt rồi nên con trai giúp đỡ con gái làm việc nhà vì hạnh phúc gia đình.”

Trang 39

dạy dỗ con cái từ việc nhỏ như phân công công việc giữa các con trong gia đình:

“…nhà em có hai đứa, cháu lớn là con gái và cháu thứ hai là con trai,

bố mẹ cũng phải hướng dẫn cho con cái từng tí ấy chứ, nếu chị đi học không

có nhà thì em trai phải đảm nhiệm công viêc bếp núc, không có lý do gì là con trai mà không phải làm gì cả… chúng cũng tị nhau ít nhiều nhưng hai đứa vẫn bảo ban nhau nhiều, có khi thằng em còn nấu ăn ngon hơn cả chị nó nữa ấy chứ, biết bảo nó dạy nó thì chúng làm rất ngoan, phân công hợp lý nên chúng không tị nạnh gì nhau mấy.”

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Nguyên Anh (2001), “Vị thành niên ở Việt Nam: từ đặc điểm đến định hướng chính sách”, Tạp chí Xã hội học, Số 03, tr 65-71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị thành niên ở Việt Nam: từ đặc điểm đến định hướng chính sách”, "Tạp chí Xã hội học
Tác giả: Đặng Nguyên Anh
Năm: 2001
2. Ngô Thị Ngọc Anh (2008), Đánh giá thực trạng năng lực chăm sóc giáo dục trẻ em của các gia đình nông thôn phía Bắc, Vụ Gia đình, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng năng lực chăm sóc giáo dục trẻ em của các gia đình nông thôn phía Bắc
Tác giả: Ngô Thị Ngọc Anh
Năm: 2008
3. Trần Thị Vân Anh-Hà Thị Minh Khương (2009) “Quan hệ giữa cha mẹ với con ở tuổi vị thành niên”, Tạp chí Nghiên cứu gia đình và giới, số 6, tr 16-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ giữa cha mẹ với con ở tuổi vị thành niên”, "Tạp chí Nghiên cứu gia đình và giới, số 6
4. Mai Huy Bích (2003), Xã hội học gia đình, Nxb. Khoa học xã hội. Hà Nội 5. Nguyễn Thanh Bình (2001). Những vấn đề cấp bách trong giáo dục con ởtuổi thiếu niên trong gia đình ở thành phố hiện nay, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học gia đình", Nxb. Khoa học xã hội. Hà Nội 5. Nguyễn Thanh Bình (2001). "Những vấn đề cấp bách trong giáo dục con ở "tuổi thiếu niên trong gia đình ở thành phố hiện nay
Tác giả: Mai Huy Bích (2003), Xã hội học gia đình, Nxb. Khoa học xã hội. Hà Nội 5. Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội. Hà Nội 5. Nguyễn Thanh Bình (2001). "Những vấn đề cấp bách trong giáo dục con ở "tuổi thiếu niên trong gia đình ở thành phố hiện nay"
Năm: 2001
8. K. Marx, F. Engels (1995), Toàn tập, Tập 3, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: K. Marx, F. Engels
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1995
9. Vũ Quỳnh Châu (2006), “Một số hiểu biết của cha mẹ về những biến đổi tâm sinh lý của con lứa tuổi trung học cơ sở”, Tạp chí Tâm lý học, Số 02, tr 54-59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số hiểu biết của cha mẹ về những biến đổi tâm sinh lý của con lứa tuổi trung học cơ sở”, "Tạp chí Tâm lý học
Tác giả: Vũ Quỳnh Châu
Năm: 2006
10. Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (Đồng c.b), Phạm Văn Quyết, Nguyễn Quí Thanh, Hoàng Bá Thịnh (1999), Xã hội học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Tác giả: Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (Đồng c.b), Phạm Văn Quyết, Nguyễn Quí Thanh, Hoàng Bá Thịnh
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1999
11. Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Quý (2007), Gia đình học, Nxb. Lý luận chính trị. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình học
Tác giả: Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Quý
Nhà XB: Nxb. Lý luận chính trị. Hà Nội
Năm: 2007
12. Đỗ Ngọc Khanh (2010), “Ứng xử của con qua cách nhìn của cha mẹ”, Tạp chí Tâm lý học, Số 06, tr 13-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng xử của con qua cách nhìn của cha mẹ”, "Tạp chí Tâm lý học
Tác giả: Đỗ Ngọc Khanh
Năm: 2010
13. Đỗ Ngọc Khanh (2004), “Cách ứng xử của cha mẹ và tự đánh giá bản thân của con cái lứa tuổi thiếu niên ở Hà Nội”, Tạp chí Tâm lý học, Số 11, tr 35-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách ứng xử của cha mẹ và tự đánh giá bản thân của con cái lứa tuổi thiếu niên ở Hà Nội”, "Tạp chí Tâm lý học
Tác giả: Đỗ Ngọc Khanh
Năm: 2004
14. Nguyễn Linh Khiếu (2003), Nghiên cứu phụ nữ - giới và gia đình, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phụ nữ - giới và gia đình
Tác giả: Nguyễn Linh Khiếu
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2003
15. Dương Thị Diệu Hoa, Ngô Thị Kim Dung, “Xung đột tâm lý của thiếu niên trong quan hệ với cha mẹ”. Trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học về“Công tác gia đình trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa thủ đô và đất nước”. Hà Nội, tháng 12/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xung đột tâm lý của thiếu niên trong quan hệ với cha mẹ”. Trong "Kỷ yếu Hội thảo khoa học về "“Công tác gia đình trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa thủ đô và đất nước”
16. Lưu Song Hà (2004), “Cách ứng phó của trẻ vị thành niên đối với những tình huống khó khăn trong gia đình”, Tạp chí Tâm lý học, Số 12, tr 44-48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách ứng phó của trẻ vị thành niên đối với những tình huống khó khăn trong gia đình”, "Tạp chí Tâm lý học
Tác giả: Lưu Song Hà
Năm: 2004
17. Lưu Song Hà (2006), “Cảm nhận về cha mẹ của học sinh trung học cơ sở và ảnh hưởng của nó đến hành vi lệch chuẩn của các em”, Tạp chí Tâm lý học, Số 05, tr 28-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm nhận về cha mẹ của học sinh trung học cơ sở và ảnh hưởng của nó đến hành vi lệch chuẩn của các em”, "Tạp chí Tâm lý học
Tác giả: Lưu Song Hà
Năm: 2006
18. Lưu Song Hà (2007), “Nhu cầu của học sinh trung học cơ sở về quan hệ của cha mẹ đối với các em”, Tạp chí Tâm lý học, Số 04, tr 12-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu của học sinh trung học cơ sở về quan hệ của cha mẹ đối với các em”, "Tạp chí Tâm lý học
Tác giả: Lưu Song Hà
Năm: 2007
19. Lưu Song Hà (2007), “Tự đánh giá của cha mẹ và những khác biệt giữa nó với cảm nhận của con về cha mẹ trong quan hệ cha mẹ - con lứa tuổi học sinh trung học cơ sở”, Tạp chí Tâm lý học, Số 02, tr 24-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự đánh giá của cha mẹ và những khác biệt giữa nó với cảm nhận của con về cha mẹ trong quan hệ cha mẹ - con lứa tuổi học sinh trung học cơ sở”, "Tạp chí Tâm lý học
Tác giả: Lưu Song Hà
Năm: 2007
20. Đặng Thị Hoa (2008), “Thực trạng giáo dục và vai trò của cha mẹ trong giáo dục con cái ở nông thôn Việt Nam”. Trong Gia đình nông thôn Việt Nam trong chuyển đổi (Trịnh Duy Luân, Helle Rydstrom, Wil Burghoorn đồng chủ biên), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng giáo dục và vai trò của cha mẹ trong giáo dục con cái ở nông thôn Việt Nam”. Trong "Gia đình nông thôn Việt Nam trong chuyển đổi
Tác giả: Đặng Thị Hoa
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2008
21. Đặng Thị Hoa (2009), “Mô hình sống và mối quan hệ giữa cha mẹ với con cái ở nông thôn Việt Nam”, Tạp chí Xã hội học số 4, tr 44-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình sống và mối quan hệ giữa cha mẹ với con cái ở nông thôn Việt Nam”, "Tạp chí Xã hội học số 4
Tác giả: Đặng Thị Hoa
Năm: 2009
22. Nguyễn Phương Hoa (2000), “Vấn đề giải quyết xung đột giữa cha mẹ và con cái trong chương trình văn hóa ứng xử tuổi vị thành niên Đài truyền hình Việt Nam”, Tạp chí Tâm lý học, Số 06, tr 35-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giải quyết xung đột giữa cha mẹ và con cái trong chương trình văn hóa ứng xử tuổi vị thành niên Đài truyền hình Việt Nam”, "Tạp chí Tâm lý học
Tác giả: Nguyễn Phương Hoa
Năm: 2000
23. Nguyễn Thị Hoa (2008), “Ứng xử của các con theo cách nhìn của các bậc cha mẹ”, Tạp chí Tâm lý học, Số 06, tr33-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng xử của các con theo cách nhìn của các bậc cha mẹ”, "Tạp chí Tâm lý học
Tác giả: Nguyễn Thị Hoa
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Giới tính VTN và phân bố theo vùng nông thôn/thành thị - Quan hệ giữa cha mẹ và vị thành niên trong gia đình ( Qua phân tích số liệu điều tra gia đình Việt Nam năm 2006
Bảng 1 Giới tính VTN và phân bố theo vùng nông thôn/thành thị (Trang 19)
Bảng 2: Quan niệm của cha mẹ và VTN về “cha mẹ hi sinh tất cả cho con - Quan hệ giữa cha mẹ và vị thành niên trong gia đình ( Qua phân tích số liệu điều tra gia đình Việt Nam năm 2006
Bảng 2 Quan niệm của cha mẹ và VTN về “cha mẹ hi sinh tất cả cho con (Trang 31)
Bảng 3: Quan niệm của VTN và cha mẹ về “con cháu luôn tuân theo sự chỉ - Quan hệ giữa cha mẹ và vị thành niên trong gia đình ( Qua phân tích số liệu điều tra gia đình Việt Nam năm 2006
Bảng 3 Quan niệm của VTN và cha mẹ về “con cháu luôn tuân theo sự chỉ (Trang 33)
Bảng 4: Ý kiến VTN, cha mẹ về nhận định “con cháu luôn tuân theo sự chỉ - Quan hệ giữa cha mẹ và vị thành niên trong gia đình ( Qua phân tích số liệu điều tra gia đình Việt Nam năm 2006
Bảng 4 Ý kiến VTN, cha mẹ về nhận định “con cháu luôn tuân theo sự chỉ (Trang 34)
Bảng 5: Ý kiến VTN đồng ý với các nhận định […] phân theo giới tính (%) - Quan hệ giữa cha mẹ và vị thành niên trong gia đình ( Qua phân tích số liệu điều tra gia đình Việt Nam năm 2006
Bảng 5 Ý kiến VTN đồng ý với các nhận định […] phân theo giới tính (%) (Trang 37)
Bảng 7: Ý kiến của cha mẹ về lo lắng với con cái theo khu vực (%) - Quan hệ giữa cha mẹ và vị thành niên trong gia đình ( Qua phân tích số liệu điều tra gia đình Việt Nam năm 2006
Bảng 7 Ý kiến của cha mẹ về lo lắng với con cái theo khu vực (%) (Trang 45)
Bảng 8: Ý kiến của cha mẹ về lo lắng với con cái, phân theo mức sống hộ - Quan hệ giữa cha mẹ và vị thành niên trong gia đình ( Qua phân tích số liệu điều tra gia đình Việt Nam năm 2006
Bảng 8 Ý kiến của cha mẹ về lo lắng với con cái, phân theo mức sống hộ (Trang 46)
Bảng 12: Ý kiến của VTN về việc hôn nhân do ai quyết định (%) - Quan hệ giữa cha mẹ và vị thành niên trong gia đình ( Qua phân tích số liệu điều tra gia đình Việt Nam năm 2006
Bảng 12 Ý kiến của VTN về việc hôn nhân do ai quyết định (%) (Trang 60)
Bảng 13: Ý kiến của VTN về hôn nhân do ai quyết định theo trình độ học - Quan hệ giữa cha mẹ và vị thành niên trong gia đình ( Qua phân tích số liệu điều tra gia đình Việt Nam năm 2006
Bảng 13 Ý kiến của VTN về hôn nhân do ai quyết định theo trình độ học (Trang 61)
Bảng 14: Ý kiến của VTN về hôn nhân do ai quyết định, phân theo mức - Quan hệ giữa cha mẹ và vị thành niên trong gia đình ( Qua phân tích số liệu điều tra gia đình Việt Nam năm 2006
Bảng 14 Ý kiến của VTN về hôn nhân do ai quyết định, phân theo mức (Trang 62)
Bảng 16: Quan điểm sống chung/riêng của cha mẹ và VTN phân theo mức - Quan hệ giữa cha mẹ và vị thành niên trong gia đình ( Qua phân tích số liệu điều tra gia đình Việt Nam năm 2006
Bảng 16 Quan điểm sống chung/riêng của cha mẹ và VTN phân theo mức (Trang 65)
Bảng 17: Lý do nên sống chung theo quan điểm của cha mẹ và VTN (%) - Quan hệ giữa cha mẹ và vị thành niên trong gia đình ( Qua phân tích số liệu điều tra gia đình Việt Nam năm 2006
Bảng 17 Lý do nên sống chung theo quan điểm của cha mẹ và VTN (%) (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm