Nội dung về CSSKSS khá phong phú, tuy nhiên trong khuôn khổ luận văn này, tác giả chỉ đi sâu vào nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành về kế hoạch hoá gia đình, nạo hút thai và làm
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
(Nghiên cứu trường hợp tỉnh Cao Bằng)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 603130
HÀ NỘI – 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
(Nghiên cứu trường hợp tỉnh Cao Bằng)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 603130
Người hướng dẫn khoa học: TS Trịnh Hòa Bình
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Ý nghĩa của đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 8
7 Hạn chế của luận văn 8
8 Cấu trúc luận văn 9
PHẦN NỘI DUNG 10
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 10
1.1 Cơ sở lý luận và cách tiếp cận 10
1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 13
1.3 Các khái niệm công cụ 27
Chương 2 THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VỀ CSSKSS CỦA PHỤ NỮ 30
2.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 30
2.2 Tiếp cận thông tin về CSSKSS của phụ nữ 32
2.3 Kiến thức, thái độ, thực hành về KHHGĐ và nạo hút thai 35
2.4 Kiến thức, thái độ, thực hành về làm mẹ an toàn 43
2.5 Kiến thức về quyền khách hàng 50
Chương 3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CSSKSS CỦA PHỤ NỮ 52
3.1 Đặc điểm nhân khẩu học 52
3.2 Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành 56
3.3 Nhận thức về khám chữa bệnh BHYT 58
3.4 Nhận thức, phong tục tập quán 60
3.5 Điều kiện kinh tế xã hội 62
3.6 Khả năng cung cấp dịch vụ CSSKSS 63
3.7 Công tác truyền thông giáo dục sức khỏe 65
Trang 43.8 Những bất cập về chính sách và qui định trong CSSKSS 67
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 69
1 KẾT LUẬN 69
2 KHUYẾN NGHỊ 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
PHỤ LỤC 76
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Đối tượng nghiên cứu phân theo tuổi, dân tộc và học vấn 31
Bảng 2.2 Tỷ lệ phụ nữ đã từng được nghe nói đến các chủ đề về CSSKSS 32
Bảng 2.3 Nguồn cung cấp thông tin về các chủ đề CSSKSS 33
Bảng 2.4 Tỷ lệ phụ nữ biết tên các BPTT 35
Bảng 2.5 Tỷ lệ phụ nữ sử dụng một trong các BPTT 37
Bảng 2.6 Tỷ lệ phụ nữ biết thời điểm nên áp dụng BPTT sau đẻ 39
Bảng 2.7 Thái độ của phụ nữ về tư vấn BPTT cho vị thành niên chưa kết hôn 41
Bảng 2.8 Thái độ của phụ nữ với con/cháu gái tuổi vị thành niên chưa kết hôn mang thai 42
Bảng 2.9 Tỷ lệ phụ nữ biết về số lần cần khám thai trong một thai kỳ 44
Bảng 2.10 Nơi người phụ nữ đã sinh con trong lần sinh con gần đây nhất và dự kiến nơi sẽ sinh con lần tới 47
Bảng 2.11 Nhận thức của phụ nữ về thời điểm cho con bú sau khi sinh 49
Bảng 2.12 Nhận thức của phụ nữ về thời gian nên cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn 49
Bảng 2.13 Tỷ lệ phụ nữ biết về quyền của khách hàng 50
Bảng 3.1 Mối liên quan giữa tỷ lệ đối tượng đang sử dụng BPTT hiện đại với một số yếu tố 53
Bảng 3.2 Mối liên quan giữa tỷ lệ đối tượng biết cần khám thai ít nhất 3 lần với một số yếu tố 54 Bảng 3.3 Mối liên quan giữa tỷ lệ đối tượng sinh con có nhân viên y tế đỡ trong lần sinh con gần nhất với một số yếu tố 55
Bảng 3.4 Tỷ lệ phụ nữ biết tên các BPTT và hiện đang sử dụng BPTT 56
Bảng 3.5 Nhận thức đúng về khám thai với tỷ lệ phụ nữ khám thai đủ 57
Bảng 3.6 Nhận thức đúng và thực hành tiêm vắc-xin phòng uốn ván trong lần mang thai đầu tiên 58
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ phụ nữ biết tên các BPTT 36
Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ sử dụng BPTT của phụ nữ 38
Biểu đồ 2.3 Tỷ lệ quyết định sử dụng BPTT trong gia đình 40
Biểu đồ 2.4 Tỷ lệ phụ nữ nạo hút thai và nơi nạo hút thai lần gần nhất 43
Biểu đồ 2.5 Tỷ lệ phụ nữ có đi khám thai trong lần mang thai gần đây 44
Biểu đồ 2.6 Nơi khám thai của phụ nữ trong lần mang thai gần đây 45
Biểu đồ 2.7 Tỷ lệ phụ nữ biết về số mũi tiêm vắc xin phòng uốn ván trong lần mang thai đầu 46
Biểu đồ 2.8 Tỷ lệ phụ nữ tiêm vác-xin phòng uốn ván trong lần mang thai gần nhất 47
Biểu đồ 2.9 Người đỡ đẻ cho phụ nữ trong lần sinh con gần nhất 48
Trang 7BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sức khỏe sinh sản là sự phát triển hài hòa của mỗi con người về thể lực, tinh thần, là khả năng hoà hợp cộng đồng chứ không phải chỉ là không có bệnh tật, ốm đau hoặc không tàn phế của bộ phận sinh dục mà còn là sự hoạt động hài hoà của hệ thống đó nhằm mục đích sinh sản hay không sinh sản và thực hiện được quyền sinh sản của mỗi con người [3]
Chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) là chăm sóc sức khoẻ cho tất cả mọi người từ khi mới là bào thai cho đến khi già, sức khỏe sinh sản là phần không thể thiếu để con người phát triển hoàn hảo về thể chất, tinh thần và xã hội [3] Đây là một trong các vấn đề ngày nay rất được quan tâm trên phạm vi toàn thế giới nhằm đảm bảo sức khỏe và hạnh phúc cho con người trong lĩnh vực sinh sản và tình dục Tại Việt Nam, từ những năm 80 và nhất là những năm đầu của thế kỷ XX, Bộ Y tế đã chú trọng đến những hoạt động của chương trình này và
có kế hoạch xây dựng thành một chương trình quốc gia về CSSKSS giai đoạn 2001–2010 theo Quyết định số 136/2000/QĐ – TTg, ngày 28/11/2000 Đầu tư cho chương trình CSSKSS là cách đầu tư tổng hợp lồng ghép nhiều hoạt động của các chương trình quốc gia theo chiến lược nhằm thực hiện việc nâng cao và giữ gìn sức khoẻ cho phụ nữ, nam giới trong thời kỳ sinh sản, cùng với việc đưa
ra các chỉ tiêu cụ thể để các cấp, các ngành làm căn cứ chỉ đạo thực hiện nhiệm
vụ góp phần không ngừng nâng cao chất lượng, đảm bảo tính bền vững trong cung cấp dịch vụ CSSKSS [3]
Đã có nhiều công trình nghiên cứu đi sâu vào tìm hiểu nhận thức, thái độ, thực hành của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ với hàng loạt các vấn đề xã hội có liên quan Tuy nhiên các nghiên cứu này được nhìn nhận dưới góc độ y học nhiều hơn là xã hội học, và mới chỉ tập trung nghiên cứu ở vùng đồng bằng và thành thị, chưa chú ý nhiều đến các khu vực nông thôn, dân tộc, vùng sâu, vùng xa
Trang 9Quan tâm đến kiến thức, thái độ, thực hành của phụ nữ và những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng CSSKSS cho phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ ở vùng sâu vùng xa, dân tộc thiểu số là điều cần thiết
Nội dung về CSSKSS khá phong phú, tuy nhiên trong khuôn khổ luận văn này, tác giả chỉ đi sâu vào nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành về kế hoạch hoá gia đình, nạo hút thai và làm mẹ an toàn của phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ Nghiên cứu được thực hiện tại tỉnh Cao Bằng, là tỉnh miền núi phía Bắc, với điều kiện kinh tế, xã hội còn gặp nhiều khó khăn
Vì những lý do trên, tác giả luận văn đã tiến hành thực hiện nghiên cứu đề
tài: “Kiến thức, thái độ, thực hành về chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ
có chồng trong độ tuổi sinh đẻ” (Qua nghiên cứu trường hợp tỉnh Cao Bằng)
Nguồn số liệu được sử dụng trong luận văn lấy từ số liệu gốc của cuộc
khảo sát “Đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành của người sử dụng các
dịch vụ bảo hiểm y tế, CSSKSS, phòng chống HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường tình dục tại Cao Bằng và Sơn La” thuộc dự án 3 năm “Cải thiện các dịch vụ y tế tại tỉnh Cao Bằng và Sơn La” do Trung tâm Nghiên cứu
Dân số và Sức khỏe Nông thôn thực hiện năm 2007-2008, với sự hỗ trợ tài chính của Tổ chức Deutsche Gesellschaft Technische Zusammenarbeit (GTZ) - Chính phủ Đức Tác giả luận văn đã trực tiếp tham gia thiết kế bộ công cụ nghiên cứu, điều tra thực địa tại Cao Bằng, tham gia xử lý số liệu, viết báo cáo và được phép của Ban quản lý dự án cho sử dụng bộ số liệu điều tra để thực hiện luận văn
Trang 102 Ý nghĩa của đề tài
2.1 Ý nghĩa lý luận
Đề tài góp phần vào việc vận dụng các lý thuyết xã hội học trong việc phân tích, làm rõ thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành và các nhân tố tác động đến vấn đề CSSSKS của phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại một địa bàn cụ thể
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Góp phần làm rõ thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại tỉnh Cao Bằng về CSSKSS và phân tích một số yếu tố liên quan
Nâng cao nhận thức của phụ nữ về tầm quan trọng của việc CSSKSS đối với người phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về kế hoạch hoá gia đình, nạo hút thai, làm mẹ an toàn của phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ, thực hành về CSSKSS của phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ
Đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao nhận thức của phụ nữ trong
độ tuổi sinh đẻ về tầm quan trọng của việc CSSKSS
Trang 114 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Kiến thức, thái độ và thực hành về CSSKSS của phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại tỉnh Cao Bằng
4.4 Phạm vi khảo sát
Không gian: Địa bàn tỉnh Cao Bằng thuộc miền núi Đông Bắc, Việt Nam Thời gian: Năm 2007-2008
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Hồi cứu tư liệu
Hồi cứu tư liệu nhằm mục đích phân tích, đánh giá đối với các nghiên cứu liên quan đến chủ đề của luận văn
5.2 Phân tích số liệu định lượng thứ cấp
Tác giả sử dụng kết quả đánh giá ban đầu dự án Cải thiện các dịch vụ y tế tại tỉnh Cao Bằng và Sơn La thực hiện năm 2007-2008 Mục tiêu của cuộc đánh giá này là nhằm tìm hiểu kiến thức, thái độ và thực hành của người sử dụng các dịch vụ bảo hiểm y tế, CSSKSS, phòng chống HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường tình dục tại Cao Bằng và Sơn La Đối tượng nghiên cứu bao gồm phụ
nữ, nam giới có chồng/vợ trong độ tuổi sinh đẻ, thanh thiếu niên nam nữ tuổi từ
15 đến 24 chưa lập gia đình, người cung cấp dịch vụ y tế Tuy nhiên, tác giả luận
Trang 12văn chỉ sử dụng nguồn số liệu về kiến thức, thái độ và thực hành về CSSKSS của phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ để thực hiện luận văn
Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu được mô tả như sau:
Cỡ mẫu: cỡ mẫu cho đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành về chăm sóc
sức khỏe sinh sản của phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ được tính theo công thức sau:
p: Tỷ lệ dân số mang đặc tính nghiên cứu (p=0,5)
q: = 1-p=0,5: Tỷ lệ đối tượng không mang đặc tính nghiên cứu
d: Khoảng sai lệch cho phép giữa tỷ lệ của mẫu nghiên cứu và tỷ lệ
thực, trong nghiên cứu này chọn d=0,08
Từ công thức trên với các thông số tính được cỡ mẫu n = 150 Để tăng độ tin cậy cho nghiên cứu, cỡ mẫu được nhân với 2 Như vậy, cỡ mẫu nghiên cứu cho phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ là 300 đối tượng
Trang 13các huyện vùng thấp, thị xã với đặc trưng kinh tế khá, các nhóm dân tộc thiểu số
có phong tục tập quán tiến bộ, xen kẽ sinh sống cùng người Kinh, Hoa Tại mỗi nhóm này bắt thăm ngẫu nhiên lấy 50% số huyện Tỉnh Cao Bằng có 13 huyện,
thị, bốc thăm ngẫu nhiên lấy 7 huyện cho nghiên cứu
Tại mỗi huyện được lựa chọn, chọn 30 xã theo phương pháp ngẫu nhiên
+ Xác định xã đầu tiên được chọn là xã mà dân số cộng dồn bằng hoặc lớn hơn giá trị của số ngẫu nhiên vừa chọn
+ Xã thứ 2 được chọn bằng cách: lấy số ngẫu nhiên cộng với khoảng cách mẫu k, sau đó so với dân cộng dồn (xã thứ 2 là xã mà dân số cộng dồn của nó bằng hoặc lớn hơn tổng số ngẫu nhiên cộng với k) Tiếp tục làm như vậy để chọn tiếp các xã khác (số ngẫu nhiên cộng 2k, số ngẫu nhiên cộng 3k…) cho đến khi chọn đủ 30 xã
Vị trí các xã chọn để nghiên cứu, được tính theo công thức sau:
ni = số ngẫu nhiên + (i – 1)k (trong đó i từ 1 – 30)
Chọn thôn để phỏng vấn: Tại mỗi xã được chọn, lập danh sách tất cả các thôn Bốc thăm ngẫu nhiên lấy một thôn bất kỳ để tiến hành phỏng vấn Việc chọn thôn được tiến hành trước khi tiến hành phỏng vấn
Chọn đối tượng nghiên cứu: Tại mỗi xã, chọn ngẫu nhiên một thôn điều tra 10 đối tượng phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ (từ 15 đến 49 tuổi) Như vậy, 30 xã có 300 đối tượng được chọn để phỏng vấn Sử dụng danh sách hộ gia
Trang 14đình hoặc hộ khẩu của từng thôn đã bốc thăm được để chọn ngẫu nhiên một hộ gia đình bất kỳ làm địa điểm xuất phát đi tìm đối tượng điều tra Cách chọn đầu tiên như sau: sử dụng 2 số cuối của đồng tiền mang theo người để chọn số thứ tự trong danh sách hộ của thôn cần điều tra Từ hộ gia đình đầu tiên đó, điều tra viên đến các gia đình khác theo phương pháp cổng liển cổng để xác định đối tượng và tiến hành phỏng vấn, nếu tại thôn được chọn không đủ đối tượng thì chọn tiếp sang thôn bên cạnh cho đến khi đủ số đối tượng thì dừng lại
5.2 Nghiên cứu định tính
Tiến hành phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm với các đối tượng bao gồm nhóm đối tượng đích, lãnh đạo ngành y tế các tuyến tỉnh, huyện và xã Các nghiên cứu định tính không được thực hiện ở toàn bộ các nơi nằm trong mẫu khảo sát định lượng mà tác giả luận văn thực hiện bổ sung ở một vài địa bàn nằm trong diện khảo sát định lượng trong quá trình thực hiện luận văn, cụ thể như sau:
Tuyến tỉnh: chọn chủ định lãnh đạo Sở Y tế, lãnh đạo Chi cục Dân KHHGĐ, lãnh đạo Trung tâm CSSKSS tỉnh Tổng số cỡ mẫu phỏng vấn sâu tại tuyến tỉnh là 3 cuộc
số-Tuyến huyện: chọn ngẫu nhiên 3 huyện, trong đó chọn chủ định lãnh đạo Trung tâm Dân số-KHHGĐ, lãnh đạo Phòng Y tế để phỏng vấn sâu Tổng số cỡ mẫu phỏng vấn sâu cho tuyến huyện là 6 cuộc
Tuyến xã: tại 3 huyện được chọn ở trên, chọn ngẫu nhiên 1 xã/1 huyện để phỏng vấn sâu lãnh đạo trạm y tế xã Tổng số cỡ mẫu phỏng vấn sâu cho tuyến
xã là 3 cuộc
Ngoài ra, tại mỗi xã được chọn ở trên, tác giả thực hiện thêm 1 cuộc thảo luận nhóm đối tượng đích nhằm bổ sung một số nội dung chưa hoặc đề cập chưa sâu trong bộ số liệu định lượng và góp phần lý giải cho những kết quả định lượng chỉ ra Tổng số cuộc thảo luận nhóm đối tượng đích cho tuyến xã là 3 cuộc
Trang 156 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
6.1 Câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về CSSKSS của phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại Cao Bằng hiện nay như thế nào?
Những yếu tố về y tế, văn hóa và giáo dục tác động đến việc CSSKSS của phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại Cao Bằng hiện nay như thế nào?
6.2 Giả thuyết nghiên cứu
Kiến thức, thái độ và thực hành về CSSKSS của phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại Cao Bằng hiện nay còn hạn chế
Một số các yếu tố về y tế, văn hóa và giáo dục có ảnh hưởng rõ rệt đến vấn đề CSSKSS của phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại Cao Bằng hiện nay
7 Hạn chế của luận văn
Ý tưởng nội dung nghiên cứu của luận văn là xuất phát từ một cuộc khảo sát về kiến thức, thái độ và thực hành của người sử dụng các dịch vụ bảo hiểm y
tế, dịch vụ CSSKSS, phòng chống HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường tình dục tại Cao Bằng và Sơn La Bộ phiếu điều tra được thiết kế chủ yếu phục
vụ cho cuộc kháo sát Do đó, tác giả không chủ động được trong việc phân tích kết quả, phải phụ thuộc nhiều vào bộ số liệu đã có Tuy nhiên, tác giả đã cố gắng khai thác những thông tin định tính để khắc phục những hạn chế nói trên
Trang 168 Cấu trúc luận văn
Luận văn bao gồm ba phần chính, mỗi phần bao gồm các chương, mục sau:
Phần mở đầu: giới thiệu một số thông tin cơ bản của luận văn bao gồm lý
do chọn đề tài, ý nghĩa đề tài, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu
và giả thuyết nghiên cứu
Phần nội dung chính: bao gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và cách tiếp cận Nội dung của chương nhằm làm
rõ những vấn đề về cơ sở lý luận bao gồm hệ thống khái niệm, vận dụng lý thuyết phân tích, và tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về CSSKSS của phụ
nữ Trong chương này, những vấn đề thuộc về thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành về CSSKSS của phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ được làm rõ qua các bằng chứng thông tin định tính và định lượng
Chương 3: Các yếu tố ảnh hưởng đến CSSKSS của phụ nữ Chương này
là những lý giải của tác giả về các yếu tố ảnh hưởng đến CSSKSS của phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ
Phần kết luận: bao gồm hai mục chính: Kết luận nhằm đưa ra những kết
luận khái quát về thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành về CSSKSS và các yếu tố ảnh hưởng đến việc CSSKSS của phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ;
và mục Khuyến nghị nhằm đề xuất các khuyến nghị nâng cao nhận thức của người phụ nữ về CSSKSS tại địa bàn nghiên cứu
Phần tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 17PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận và cách tiếp cận
Bên cạnh đó, khi nghiên cứu cũng cần đặt vấn đề CSSKSS của nhóm xã hội này trong một bối cảnh, thời điểm nhất định Bởi lẽ, hoàn cảnh, điều kiện có tác động chi phối đến hành động của con người, ví dụ khả năng kinh tế đã hạn chế các cá nhân trong việc tiếp cận với các dịch vụ có chất lượng với chi phí cao Hoặc, điều kiện về địa lý, khoảng cách cũng gây trở ngại cho người dân đến với các cơ sở y tế thường được đặt ở các trung tâm
1.1.2 Lý thuyết tiếp cận
Lý thuyết chức năng
Lý thuyết chức năng là một lý thuyết xã hội quan trọng, phạm vi bao trùm rộng, mang tính vĩ mô Song ở đây, với phạm vi của đề tài nghiên cứu, chúng tôi chỉ sử dụng một phần nhỏ trong quan điểm về lý thuyết chức năng của Merton
Merton cho rằng cấu trúc xã hội là tập hợp các quan hệ xã hội có tổ chức, trong đó các thành viên của xã hội hay nhóm có mối liên quan đa dạng và ông
Trang 18cho rằng phép phân tích chức năng cấu trúc tập trung vào các nhóm, các tổ chức
xã hội, các thể chế và các nền văn hóa Bất kỳ một đối tượng nào có thể áp dụng phép phân tích chức năng cấu trúc phải thể hiện một hạng mục đã chuẩn mực hóa (nghĩa là, đã định khuôn mẫu và tính lặp lại nhiều lần)
Xét về vấn đề được đề cập đến trong luận văn, gia đình được xem xét với
tư cách một thiết chế xã hội và đảm bảo rất nhiều chức năng, phân thành các chức năng sản xuất và các chức năng tái sản xuất Nếu như đối với chức năng sản xuất, người đàn ông trong gia đình giữ vai trò chủ đạo, thì người phụ nữ lại là nhân vật chính đảm bảo chức năng tái sản xuất của gia đình Thực hiện vấn đề CSSKSS chính là họ đang đảm bảo chức năng tái sản xuất của gia đình
Bên cạnh đó, quá trình tái sản xuất được xem như sự sắp đặt hài hòa những vai trò có tính chất bù trừ của nam giới và phụ nữ Điều này có liên quan đến việc Merton xác định “các chức năng như là những hệ quả quan sát được, được tạo ra cho sự thích nghi và điều chỉnh của một hệ thống xét đến” Vậy thì
có thể thấy sự phân chia một cách tương đối việc đảm bảo chức năng trong gia đình dẫn tới phần việc và trách nhiệm khá lớn của người phụ nữ trong việc thực hiện chức năng tái sản xuất của gia đình, cụ thể ở đây chính là việc CSSKSS, người phụ nữ phải đảm nhiệm vai trò chính yếu
Trên cơ sở quan điểm cấu trúc chức năng của Merton, trong luận văn này hướng tới việc đánh giá và phân tích tầm quan trọng của người phụ nữ trong việc đảm bảo chức năng tái sản xuất của gia đình thông qua việc CSSKSS vốn được xem như là một chuẩn mực trong xã hội
Lý thuyết vai trò xã hội
Vai trò xã hội được hiểu “là sự tập hợp những hành vi, thái độ, quyền lợi
và sự bắt buộc mà xã hội mong đợi đối với một vị thế xã hội nhất định và sự thực hiện của cá nhân có vị thế đó” [27]
Vai trò là những đòi hỏi của xã hội đặt ra với các địa vị xã hội Những đòi
Trang 19trong các xã hội khác nhau thì mô hình hành vi được xã hội trông đợi cũng khác nhau và các vai trò xã hội cũng khác nhau
Nếu như trong xã hội truyền thống – xã hội có tính gia trưởng cao, phụ nữ được giao nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho gia đình, tuy nhiên mức độ quyền hạn của người phụ nữ trong việc ra quyết định (trong đó có các quyết định liên quan đến chăm sóc sức khỏe nói chung và CSSKSS nói riêng) rất hạn chế Việc CSSKSS đối với người phụ nữ là rất quan trọng, nhưng họ không có quyền trong việc sinh con, áp dụng các BPTT , mà tất cả vấn đề này lại do quyết định từ phía người chồng Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, nhiều giá trị, chuẩn mực cũ
đã được điều chỉnh, thay đổi, từ đó dẫn đến những đòi hỏi đối với vai trò của người phụ nữ cũng thay đổi và kéo theo địa vị của họ cũng đã có những biến chuyển rất tích cực Trong quá trình ra quyết định liên quan đến gia đình của mình, tiếng nói của họ có trọng lượng hơn, có ảnh hưởng hơn đối với đời sống gia đình Cụ thể là họ có quyền hơn trong việc lựa chọn cách chăm sóc sức khỏe, sinh con hay áp dụng các BPTT Đây là một biến chuyển tích cực, bởi lẽ việc CSSKSS luôn gắn liền với người phụ nữ
Vận dụng lý thuyết về vai trò xã hội trong đề tài nghiên cứu, chúng tôi muốn nhấn mạnh sự biến đổi vai trò người phụ nữ trong việc CSSKSS trong giai đoạn hiện nay trước những tác động của các nhân tố ảnh hưởng
Lý thuyết hành động xã hội
Đây là một lý thuyết xã hội học được vận dụng khá phổ biến trong các nghiên cứu liên quan đến các hành vi của con người/nhóm xã hội nhất định Nói đến hành động xã hội là nói đến động cơ, điều kiện và phương tiện để thực hiện các mục đích đã định Các nhà xã hội học là chủ thuyết hành động xã hội cho rằng các hành vi, hoạt động của con người đều diễn ra trong một bối cảnh xã hội nhất định Đó là những hành vi có mục đích, có đối tưọng và chịu tác động bởi các bối cảnh xã hội xung quanh
Trong đề tài này, lý thuyết hành động xã hội giúp cho việc phân tích và lý giải các hành vi CSSKSS của nhóm phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ và các
Trang 20yếu tố tác động đến như văn hoá, xã hội, giáo dục, không gian Bên cạnh đó, lý thuyết này còn góp phần lý giải mối quan hệ giữa việc thực hành việc CSSKSS với thái độ và kiến thức của nhóm đối tượng được đề cập trong nghiên cứu này
1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Điều kiện kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu
Cao Bằng là tỉnh miền núi nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam Phía Bắc và Đông Bắc giáp với tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), với đường biên giới dài 311
km Phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang Phía Nam giáp tỉnh Bắc Kạn
và Lạng Sơn [23]
Cao Bằng có diện tích đất tự nhiên 6724,6 km2, là cao nguyên đá vôi xen lẫn núi đất, có độ cao trung bình trên 200m, vùng sát biên có độ cao từ 600 - 1.300m so với mặt nước biển Mật độ dân số hiện nay là 79 người/km2 [23] Cao Bằng có 1 thị xã, 12 huyện và 199 xã/phường/thị trấn [24] Giao thông vào mùa mưa một số nơi không thể đi lại được bằng xe máy, mà phải đi bộ Ở một số nơi
để đi từ trung tâm huyện xuống xã phải mất một ngày đường Địa bàn rộng, giao thông không thuận lợi làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc cung cấp và sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe
Theo số liệu thống kê năm 2008, Cao Bằng có dân số trung bình là 528,1 nghìn người Trong đó có 11 dân tộc chính cùng sinh sống, đông nhất là dân tộc Tày - Nùng, tiếp đến là dân tộc Mông, Dao, Sán Chỉ và dân tộc Lô Lô… [23] Cư dân rộng khắp trên địa bàn tỉnh, mỗi dân tộc đều có những nét riêng trong đời sống văn hóa truyền thống
Năm 2008, Cao Bằng có tỷ lệ người nghèo là 16% tập trung ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa Thu nhập bình quân đầu người một tháng năm 2006 đạt 395 nghìn đồng/tháng, bằng 62,1% so với mức bình quân chung của cả nước [23]
Trang 211.2.2 Phụ nữ và chăm sóc sức khỏe sinh sản
Đối với phụ nữ, quãng thời gian từ 15-49 tuổi là một thời kỳ đặc biệt vì ở giai đoạn này người phụ nữ thực hiện chức năng quan trọng của mình đó là chức năng sinh sản
Theo số liệu điều tra của Tổ chức Y tế thế giới về phụ nữ thế giới năm
2002, dân số thế giới là 6 tỷ, phụ nữ chiếm khoảng 50%, trong đó độ tuổi từ
15-49 tuổi có chồng chiếm khoảng 16% dân số Thực tế tỷ lệ này luôn tăng lên theo thời gian, đặc biệt ở các nước đang phát triển Theo ước tính từ năm 2002 đến
2020, số phụ nữ 15-49 tuổi ở các nước kém phát triển sẽ tăng lên 24% [34] Tại Việt Nam, với dân số theo số liệu Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 1/4/1999 là 76.327.919, trong đó tỷ lệ phụ nữ chiếm 50,9%, số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ 15-49 tuổi chiếm 53,5% tổng số phụ nữ và bằng 19% dân số Việt Nam [21] Như vậy, tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi chiếm một tỷ lệ không nhỏ
Sức khỏe sinh sản là mối quan tâm của cả cuộc đời người phụ nữ bởi sự liên quan và dễ đưa đến những nguy cơ rủi ro về sức khỏe từ tình dục và sinh sản Phần lớn gánh nặng sức khỏe của phụ nữ đều liên quan tới tình dục và sinh sản, đặc biệt là đối với phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, tỷ lệ này là 40% ở vùng Châu Phi cận Sahara và hơn 20% ở các nước đang phát triển [29] Những điều kiện liên quan đến sức khỏe sinh sản chiếm một nửa trong số 10 nguyên nhân hàng đầu gây ra gánh nặng bệnh tật cho phụ nữ ở tuổi sinh đẻ Trong nhiều năm qua, việc quan tâm đến sức khỏe người phụ nữ được đưa lên hàng đầu trong nhiều diễn đàn quốc tế và quốc gia Nhiều hội nghị của Liên Hiệp Quốc kêu gọi bình đẳng và tạo nhiều cơ hội hơn cho phụ nữ, nhiều chính phủ công nhận sự tiến
bộ cho phụ nữ là chìa khóa để đạt được các mục tiêu về sức khỏe và phát triển của xã hội [35], bởi vì phụ nữ là nguồn trực tiếp tái sản xuất ra con người, nguồn nhân lực cho tương lai của bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới [31]
Nhưng hiện nay, chúng ta vẫn chưa thực sự quan tâm đúng mức đến CSSKSS để người phụ nữ thực hiện chức năng sinh sản một cách an toàn Hàng năm trên thế giới có khoảng gần 580.000 phụ nữ tử vong có liên quan đến thai
Trang 22sản Ước tính cứ một phút qua đi lại có một bà mẹ chết do hậu quả hoặc những biến chứng do thai nghén hoặc sinh đẻ Trong số họ, phần lớn là những người còn trẻ hoặc mới bắt đầu làm mẹ Không những thế, cứ 1 bà mẹ tử vong do thai sản thì có khoảng 100 bà mẹ khác bị đau yếu, mất sức lao động hoặc bị tật nguyền, bị những tổn thương sinh lý do hậu quả của các biến chứng thai sản [1]
Tại Việt Nam, theo ước tính, mỗi năm vẫn có khoảng 1000 bà mẹ chết do các nguyên nhân kể trên và như vậy mỗi ngày trên cả nước có tới 3 phụ nữ chết
có liên quan đến thai sản [2] Những biến chứng của quá trình mang thai và sinh con là nguyên nhân hàng đầu dẫn tới tử vong và thương tật cho phụ nữ ở độ tuổi 15-49 tại hầu hết các nước đang phát triển, chăm sóc tốt hơn trong khi sinh con
và cơ hội tiếp cận nhiều hơn tới dịch vụ đó có khả năng làm giảm tử vong sản phụ một cách đáng kể Tình trạng sức khỏe sinh sản của người mẹ luôn có sự ảnh hưởng tới con cái và sức khoẻ của chúng, do đó vai trò và trách nhiệm của phụ
nữ sẽ gó phần nâng cao chất lượng dân số, phát triển con người có chất lượng cao
và bền vững [20] Các chương trình sức khỏe sinh sản hữu hiệu cho người nghèo phải được dựa trên cơ sở lắng nghe ý kiến của họ và thu hút họ tham gia vào qui trình xây dựng và triển khai chương trình Điều này đặc biệt quan trọng đối với phụ nữ bởi họ là người được hưởng lợi nhiều nhất từ các chương trình dân số và sức khỏe sinh sản [13]
Việc bảo vệ sức khoẻ bà mẹ nói chung và CSSKSS nói riêng là vấn đề mà bất kỳ quốc gia nào cũng có sự quan tâm đặc biệt, nhờ đó tỷ lệ tử vong mẹ và trẻ
em trên toàn thế giới đã có sự cải thiện rõ rệt
Theo chương trình hành động của Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển, việc thay đổi về kiến thức, thái độ và hành vi của cả nam và nữ là điều kiện cần thiết để đạt được mối quan hệ hài hòa giữa nam và nữ Nam giới đóng vai trò chủ chốt để mang lại sự bình đẳng giới, hầu như mọi mặt trong xã hội, đàn ông thường có quyền lực vượt trội ở hầu hết mọi khía cạnh của cuộc sống, từ các quyết định cá nhân về quy tụ gia đình đến các quyết định về chính sách và
Trang 23nam và nữ về sức khoẻ sinh sản và tình dục và sự hiểu biết trách nhiệm chung là rất cần thiết để nam giới và nữ giới trở nên bình đẳng cả trong xã hội cũng như trong gia đình [5]
1.2.3 Tình hình nghiên cứu vấn đề sức khỏe sinh sản trên thế giới
1.2.3.1 Kế hoạch hóa gia đình
Kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) là công tác quan trọng đối với hầu hết các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển, các nước nghèo và lạc hậu Thực hiện KHHGĐ mang lại cho phụ nữ rất nhiều lợi ích: làm giảm nguy cơ gây tử vong cho mẹ, giảm số trường hợp có thai ngoài ý muốn và các biến chứng liên quan đến thai sản Từ đó làm giảm các trường hợp phá thai không an toàn, vì vậy làm giảm các nguy cơ biến chứng của phá thai Bên cạnh
đó KHHGĐ còn giúp cho phụ nữ có một sức khoẻ tình dục lành mạnh, an toàn
Việc thực hiện KHHGĐ còn rất khác nhau theo từng vùng địa lý và mỗi quốc gia Theo điều tra Dân số học 1995 – 2000 tại Mêhicô có 67% số cặp vợ
chồng đang thực hiện KHHGĐ, ở Kênya là 39%, Pakixtan chỉ có 18% [50]
Tại Maldives, tỷ lệ sử dụng BPTT của các cặp vợ chồng tuổi 15-20 là 30% Ở Ugana, việc áp dụng các BPTT của phụ nữ mới kết hôn là 23% Ở Ghi-
nê, 72% phụ nữ biết các BPTT trong đó BPTT hiện đại 71% nhưng chỉ có 8% sử dụng, trong đó BPTT hiện đại là l5% [48] Qua cuộc điều tra Nhân khẩu học và Sức khoẻ ở Kazakhstan cho thấy 53% phụ nữ đang áp dụng một BPTT hiện đại, trong đó vòng tránh thai được sử dụng nhiều nhất (42%) [39]
Ở Ấn Độ, 48% phụ nữ hiện đang có chồng sử dụng một BPTT bất kỳ, trong đó đình sản nữ là phổ biến nhất (34%) [42]
Tại Thổ Nhĩ Kỳ, phần lớn phụ nữ và nam giới đã có gia đình đều hiểu biết
về KHHGĐ, các BPTT phổ biến là thuốc viên tránh thai, đặt vòng và các BPTT truyền thống Có 64% phụ nữ có chồng hiện đang áp dụng các BPTT, đặt vòng chiếm 21%, 8% phụ nữ và 11% nam giới có sử dụng bao cao su, 24% phụ nữ sử dụng BPTT truyền thống [40]
Trang 24Sự khác nhau trong công tác KHHGĐ ở mỗi quốc gia còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: phong tục, tập quán, tôn giáo…, tại các nước Châu Phi cận Sahara chỉ có 10% phụ nữ sử dụng BPTT, tại Bangladesh 63% phụ nữ chưa từng
sử dụng một BPTT hiện đại nào bởi nhiều lý do như e sợ tác dụng phụ của BPTT, gia đình chồng muốn có thêm con [31],[47] Nhưng nguyên nhân chính của trở ngại sử dụng BPTT là sự thiếu hiểu biết về các BPTT và khả năng tiếp cận dịch vụ CSSKSS hạn chế, trong khi khả năng tiếp cận BPTT có thể đóng góp tới 40% kết quả giảm sinh toàn cầu [48]
1.2.3.2 Nạo hút thai
Phá thai là một nguyên nhân gây tử vong mẹ quan trọng do nạo hút thai không an toàn nhất là ở các nước đang phát triển Về bản chất, nạo hút thai không phải là một BPTT mà là biện pháp tránh sinh đẻ một cách thụ động chủ yếu xuất phát từ phía người phụ nữ khi có thai ngoài ý muốn
Ngày nay, nạo hút thai đã trở thành mối lo ngại của nhiều quốc gia và nhiều tổ chức quốc tế bởi chính những tai biến của nó ảnh hưởng tới sức khoẻ và tính mạng của phụ nữ Tổng giám đốc H.Nakajiama của Tổ chức Y tế thế giới đã nói về những nguy hiểm của phụ nữ mang thai khi kết thúc thai nghén: Hàng trăm phụ nữ có thai hôm qua vẫn còn sống và nhìn thấy ánh hoàng hôn nhưng không bao giờ thấy ánh bình minh của ngày hôm sau Một số bị chết trong chuyển dạ do đẻ khó vì khung chậu hẹp và biến dạng Một số bị chết ngay trên bàn do phá thai không an toàn trong những nỗ lực để kết thúc thai nghén ngoài ý muốn Có người thì chết ngay tại các bệnh viện do không có máu để điều trị chảy máu nặng Hoặc không đủ điều kiện để xử lý những ca có biến chứng nặng
Do thiếu hiểu biết về mức độ trầm trọng của những mối nguy hiểm khi phá thai nên tỷ lệ phụ nữ nạo hút thai còn rất cao trên thế giới và bản thân họ còn chọn nơi tiến hành thủ thuật tuỳ tiện dẫn tới tình trạng tai biến do nạo phá thai không an toàn vẫn chưa giảm Trên thế giới có 46 triệu ca nạo hút thai năm 1995, trong đó 26 triệu hợp pháp và 20 triệu không hợp pháp Tỷ suất nạo hút thai
Trang 25Ở Mỹ, mặc dù các BPTT được khuyến khích và sử dụng rất rộng rãi, các chiến dịch truyền thông sâu rộng và việc tiếp cận các dịch vụ tránh thai rất thuận lợi Nhưng cũng là một trong những nước có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất khoảng 40% số sinh.Tỷ suất chết mẹ do nạo hút thai hợp pháp ở Mỹ là 1,4/100.000 trường hợp nạo hút thai, còn đối với các nước đang phát triển là là 50–100/100.000 [32]
Theo một tài liệu của Tổ chức Y tế thế giới, tỷ lệ chết mẹ do nạo hút thai không an toàn trên 1000 ca sinh sống trên thế giới còn khác nhau giữa các vùng
và các quốc gia: 83 ở Châu Phi, 48 tại Mỹ La-tinh, 47 ở Châu Á, 29 ở Châu Đại Dương, 10 ở Nga, và 4 ở Châu Âu [48] Khi người phụ nữ phá thai là họ phải đối mặt với rất nhiều tai biến, trong đó có những tai biến có thể đe doạ đến tính mạng
và ảnh hưởng tới cuộc sống của họ Hơn nữa theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới, cứ một phụ nữ chết do nạo hút thai không an toàn thì có 30 người khác bị các vấn đề lâu dài về sức khoẻ như vô sinh hay tổn thương cơ quan sinh sản [49]
Mặc dù vậy, các tai biến và biến chứng liên quan đến thai nghén vẫn có thể phòng tránh được nếu như có sự quản lý và chăm sóc thai nghén đúng đắn, được tiếp cận các dịch vụ nạo hút thai an toàn và giảm nhu cầu phá thai thông qua các hoạt động của chương trình KHHGĐ [35]
đã được hơn 100 quốc gia và các tổ chức quốc tế chọn làm chương trình hành động [15]
Trang 26Các vấn đề liên quan đến sức khoẻ của sản phụ cũng là nguyên nhân gây
ra cho ít nhất 8 triệu ca chết chu sinh mỗi năm Nếu như thai phụ được chăm sóc tốt hơn khi mang thai và sinh con, cơ hội tiếp cận tới dịch vụ CSSKSS nhiều hơn
có thể làm giảm tử vong và các biến chứng khác một cách đáng kể [6] Giảm tỷ
lệ tử vong mẹ và trẻ sơ sinh đã được thế giới công nhận là một trong 6 mục tiêu phát triển của thế kỷ 21, việc giảm được tỷ lệ tử vong mẹ và trẻ sơ sinh không chỉ
là thành công của ngành y tế mà còn là bước phát triển chung của từng quốc gia Qua các công trình nghiên cứu về sức khoẻ bà mẹ có liên quan đến thai nghén, tỷ
lệ được chăm sóc trước, trong và sau khi sinh khác nhau tuỳ theo từng vùng, từng nước
Tỷ lệ phụ nữ có khám thai một lần trên toàn thế giới là 68%, thấp nhất ở Châu Phi (63%), cao nhất ở Bắc Mỹ (95%) và Châu Âu (97%) Độ bao phủ của dịch vụ chăm sóc trước sinh ở các nước cũng khác xa nhau, ở nông thôn phụ nữ sống xa các cơ sở y tế nên khó tiếp cận dịch vụ y tế [46]
Tất cả các phụ nữ đang mang thai, kể cả những người khỏe mạnh đều ẩn chứa các nguy cơ bị biến chứng và đều cần chăm sóc đặc biệt khi mang thai và sinh đẻ Tuy nhiên ở các nước kém phát triển chỉ có một nửa các trường hợp sinh được nhân viên y tế có đào tạo đỡ [49]
Tỷ lệ phần trăm số trường hợp sinh được nhân viên y tế đỡ cũng khác nhau ở mỗi quốc gia: Campuchia năm 2000 là 32%, Bangladest là 22%, bên cạnh
đó ở Nepal năm 2001 chỉ có 13% số trường hợp sinh được nhân viên y tế đỡ [39] Ugana có 83% phụ nữ được chăm sóc trước sinh, hầu hết sinh tại nhà, chỉ
có 37% sinh ở các cơ sở y tế [50] Ở Ấn Độ, 44% phụ nữ có thai được khám thai
3 lần, 70% trường hợp đẻ tại cơ sở y tế [44]
Bình quân toàn Châu Á mới chỉ có 59% số ca sinh nở có bà đỡ chuyên nghiệp, đặc biệt là các nước như Bangladest, Nepan, Butan mới chỉ có 12 - 15 %
ca sinh nở có nữ hộ sinh được đào tạo chính qui đỡ đẻ [33]
Trang 27Việc người phụ nữ sinh con có sự giúp đỡ của cán bộ y tế không chỉ đảm bảo điều kiện vô khuẩn trong quá trình sinh đẻ, mà còn có khả năng phát hiện và
xử trí kịp thời các tai biến có thể xảy ra, giúp cho người phụ nữ thực hiện chức năng sinh đẻ một cách an toàn [15] Theo số liệu thống kê của Qũi Nhi đồng Liên hiệp quốc, tỷ lệ tử vong mẹ khác nhau giữa các châu lục, có đến 99% là những người đang sống ở các nước thế giới thứ ba, đặc biệt là những phụ nữ ở Đông và Tây Châu Phi và một số nước Châu Á cũng như ở Châu Mỹ La-tinh [1]
Bên cạnh vấn đề tử vong mẹ, hàng năm có khoảng 20 - 50 triệu sản phụ mắc phải các biến chứng khác có liên quan đến thai nghén và rất nhiều các biến chứng này để lại các ảnh hưởng sức khoẻ lâu dài cho các bà mẹ và trẻ sơ sinh Đây là hậu quả của sự yếu kém về chất lượng dịch vụ chăm sóc trước, trong và sau khi sinh gây nên [6]
Một nguyên nhân gây tử vong ở trẻ sơ sinh nữa là uốn ván sơ sinh, theo ước tính hàng năm trên thế giới có tới 500.000 trẻ em chết do uốn ván sơ sinh, phần lớn tại các nước đang phát triển nơi mà dịch vụ CSSKSS còn hạn chế và tỷ
lệ tiêm vắc xin phòng uốn ván cho phụ nữ chưa được đầy đủ [38], [37] Vì vậy, người phụ nữ khi mang thai cần được tiêm đủ số mũi vắc xin phòng uốn ván để phòng ngừa uốn ván sơ sinh, đồng thời bảo vệ họ không bị đe doạ bởi những nguy cơ do bệnh uốn ván gây ra khi sinh đẻ trong những điều kiện kém vệ sinh
Trong một nghiên cứu tại Bangladesh, các tác giả đã chỉ ra rằng tỷ lệ trẻ
em chết vào thời gian từ 4-14 ngày sau đẻ giảm đi từ 30/1000 xuống dưới 10/1000 khi những phụ nữ có thai được tiêm phòng đủ hai mũi vắc xin phòng uốn ván Không những thế nó còn làm giảm số trẻ chết trong vòng 3 năm sau khi tiêm vắc xin [45]
Như vậy, làm mẹ an toàn là một vấn đề lớn đòi hỏi có sự đầu tư ưu tiên của từng quốc gia với các chính sách về kinh tế, xã hội và y tế khác nhau, trong
đó ở góc độ y tế các thai phụ phải được chăm sóc tiền sản tốt, sinh con tại nơi sinh an toàn và đỡ đẻ bởi cán bộ y tế, được tiếp cận với các dịch vụ CSSKSS, đảm bảo cải thiện tốt hơn tình trạng sức khoẻ bà mẹ Nhờ đó, hạn chế và giảm
Trang 28thiểu được các tai biến về sản khoa đặc biệt là giảm tỷ lệ tử vong mẹ và và tử vong sơ sinh
1.2.4 Tình hình nghiên cứu vấn đề sức khỏe sinh sản tại Việt Nam
1.2.4.1 Kế hoạch hóa gia đình
Công tác KHHGĐ rất hiệu quả trong việc hạn chế sự gia tăng dân số trong nhiều năm qua ở nước ta, trong đó truyền thông để người dân hiểu về các BPTT
có vai trò quan trọng dẫn đến sự quyết định việc sử dụng BPTT, và qua đó giúp người phụ nữ tránh được có thai ngoài ý muốn, giảm thai sản, giảm tử vong bà
mẹ, tử vong trẻ em, và giảm nguy cơ bệnh tật
Một nghiên cứu ở Thái Bình (2001) có tỷ lệ phụ nữ hiểu biết ít nhất một BPTT khá cao, đặc biệt là đặt dụng cụ tử cung (trên 93%) [26] Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu khác về tình trạng sử dụng BPTT của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ cho thấy mức độ phụ nữ áp dụng BPTT còn rất khác nhau giữa các vùng, đặc biệt là vùng sâu vùng xa: 88,3% các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại đồng bằng sông Hồng sử dụng ít nhất một BPTT, trong khi đó ở Tây Nguyên tỷ
lệ này chỉ là 63,6% [4]
Cuộc điều tra Nhân khẩu học và Sức khoẻ Việt Nam năm 2002 cho thấy, hầu như tất cả phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đều biết ít nhất một BPTT, biện pháp được biết rộng rãi nhất là vòng tránh thai (99%), bao cao su (96%), thuốc uống tránh thai (95%) và triệt sản nam (90%) Từ năm 1997- 2002, tỷ lệ sử dụng BPTT của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ tăng từ 75% lên 79% nhưng mức sử dụng BPTT hiện đại thay đổi khá khiêm tốn từ 56% lên 57% [35]
Đối với việc sử dụng các BPTT, dụng cụ tử cung được sử dụng nhiều nhất, tỷ lệ chung trên toàn quốc theo điều tra Nhân khẩu học giữa kỳ năm 1994 là 41%, theo điều tra Dân số và Sức khoẻ năm 1997 là 58,5%, năm 2000 là 68%, năm 2001 là 63,9%, năm 2002 là 34,6% Các BPTT hiện đại khác đều chiếm tỷ
lệ không cao [36]
Trang 29Theo điều tra về tình hình sử dụng BPTT ở vùng Bắc Trung Bộ cho thấy, tình hình sử dụng BPTT có xu hướng gia tăng, kể cả BPTT hiện đại lẫn BPTT truyền thống Năm 1995, tỷ lệ sử dụng các BPTT của cả vùng chỉ đạt 63,26% (trong đó BPTT hiện đại là 55,8%) Năm 2001 các tỷ lệ tương ứng là 75,7% và 68,3% [35]
Một nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành về CSSKSS của phụ nữ 15-49 tuổi đang nuôi con dưới 24 tháng ở tỉnh Hoà Bình năm 2003 cho thấy, hiểu biết của phụ nữ về các BPTT rất cao; biết 3-4 biện pháp là 59,1%, biết 5-7 biện pháp là 8,9%, không biết chiếm 1,9% Tỷ lệ phụ nữ sử dụng phổ biến nhất là dụng cụ tử cung (48,1%), bao cao su là (10,5%), thuốc uống tránh thai (8,1%)
Tỷ lệ biết đúng thời điểm cần sử dụng BPTT sau sinh là 37,3% [22]
Qua nghiên cứu phỏng vấn 2.520 phụ nữ 15-49 thuổi đang nuôi con dưới
24 tháng tuổi thuộc 12 tỉnh thuộc dự án Quỹ Dân số Liên hợp quốc (2003) cho thấy, hiểu biết về các BPTT hiện đại phần lớn là bao cao su, thuốc uống tránh thai và dụng cụ tử cung Biện pháp được dùng nhiều hơn cả vẫn là dụng cụ tử cung (31,1%), tiếp đến là xuất tinh ngoài âm đạo, bao cao su (12,1%), thuốc uống tránh thai (9,4%), các biện pháp khác chiếm tỷ lệ thấp [14]
1.2.4.1 Nạo hút thai
Ở Việt Nam, nạo hút thai được coi là hợp pháp, vì thế những năm gần đây mặc dù tỷ lệ sử dụng BPTT ngày càng tăng nhưng số người nạo hút thai vẫn nhiều Trung bình cứ hai trẻ mới sinh có một trường hợp nạo hút thai, trong đó có nhiều trường hợp nạo phá thai không an toàn Mặc dù chưa có số liệu thống kê đầy đủ, tỷ lệ phá thai không an toàn ở nước ta còn cao, mỗi năm có khoảng 70 người chết vì nạo phá thai [4] Với số ca nạo hút thai luôn ở mức trên 1 triệu ca/năm cho nên Việt Nam ở trong số những quốc gia có tỷ lệ phá thai cao nhất thế giới Thực tế, con số này có thể phải cao hơn do việc nạo hút thai tại các cơ
sở y tế tư nhân không thể thống kê được [10]
Trang 30Tỷ lệ phá thai hiện nay ở nông thôn nhiều hơn thành thị Trong 1000 phụ
nữ thì ở thành thị có 11 phụ nữ đi phá thai còn ở nông thôn là 18 trường hợp [4] Nạo hút thai là mối lo ngại của nhiều quốc gia bởi chính những tai biến của nó đối với sức khoẻ và tính mạng của phụ nữ Một số đã tử vong ngay trên bàn do nạo phá thai không an toàn và tỷ lệ tai biến sau khi nạo phá thai là 32%, bị chảy máu kéo dài trên 4 ngày là 25% [10]
Đối với những phụ nữ có chồng, có thai ngoài ý muốn là hậu quả của việc không sử dụng BPTT hoặc thất bại do lựa chọn BPTT không phù hợp nạo hút hoặc phá thai là lựa chọn đầu tiên khi có thai ngoài ý muốn Theo một nghiên cứu tiến hành tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, ước tính số phụ nữ có gia đình đi nạo hút thai chiếm khoảng 70 - 80 % trong tổng số phụ nữ đi tiến hành thủ thuật nạo hút thai Điều đáng quan tâm là xu hướng nạo hút hoặc phá thai đang có chiều hướng gia tăng và tuổi phá ngoài ý muốn đang hạ thấp, nghĩa là rơi vào lớp trẻ Tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, từ tháng 3 đến tháng 8 năm 2001
đã có 2344 ca nạo hút thai, dưới 24 tuổi chiếm 19,5% tổng số ca trong đó 92,87% trường hợp không dùng BPTT [15] Ngày nay, cùng với sự phát triển kinh tế, văn hóa trên phạm vi toàn xã hội, thanh thiếu niên dậy thì sớm hơn, thời gian học kéo dài hơn và hoạt động tình dục cũng đến sớm hơn trước đây Vị thành niên là một lực lượng quan trọng trong tương lai, những kiến thức về sức khỏe sinh sản như tình yêu, hôn nhân, quan hệ tình dục, các BPTT… đối với họ là nền tảng cho việc giữ gìn, tăng cường sức khoẻ và sức khỏe sinh sản [12] Cha mẹ, thầy cô, đoàn thanh niên, nhân viên y tế có nhận thức và quan điểm cởi mở trong việc cung cấp thông tin cho vị thành niên về vấn đề CSSKSS, nhưng những việc họ làm vẫn chưa được nhiều Cha mẹ chưa thực sự hiểu con cái, họ vẫn cho rằng răn
đe thay vì thảo luận và cung cấp thông tin cần thiết cho các em [16]
Phá thai đã gây ra tổn thất về người không nhỏ cho phụ nữ, mỗi năm nước
ta có khoảng 70 người chết, nghĩa là cứ 5 ngày thì có 1 người chết vì nạo phá thai không an toàn và rất nhiều những biến chứng khác liên quan đến sức khoẻ như
Trang 31nạo phá thai còn gây ra những thiệt hại về kinh tế của người phụ nữ, gia đình họ
và xã hội Tại Việt Nam theo tính toán chung, chi phí cho phòng tránh thai rất thấp trong khi chi phí cho nạo phá thai ước tính 300.000 đồng/ca, mỗi năm nước
ta tốn chừng 300 tỷ đồng cho việc nạo phá thai [30]
Như vậy, biện pháp hữu hiệu để bảo vệ sức khỏe sinh sản cho phụ nữ, tiết kiệm phần nào ngân sách cho gia đình và xã hội là tăng cường công tác KHHGĐ, làm cho người phụ nữ hiểu được tính chất nghiêm trọng của phá thai Từ đó giảm
tỷ lệ phá thai ngoài ý muốn, đồng thời tạo điều kiện nạo hút thai an toàn với những phụ nữ phải nạo hút thai đó là vấn đề cấp bách cho sức khoẻ
1.2.4.3 Làm mẹ an toàn
Trong mọi thời kỳ của thai nghén và sinh đẻ, người phụ nữ đều phải đối mặt với nguy cơ cao về tai biến có thể nguy hiểm đến tính mạng và sức khoẻ Vì vậy, việc chăm sóc thai phụ khi mang thai, trong chuyển dạ và sau khi sinh phải được quan tâm đặc biệt Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới, các bà mẹ mang thai phải được khám thai ít nhất ba lần trong mỗi thai kỳ (ba tháng đầu, ba tháng giữa và ba tháng cuối) và được tiêm vắc xin phòng uốn ván đủ mũi (hai mũi trong lần mang thai đầu tiên và một mũi tăng cường trong lần mang thai lần hai với khoảng cách ba năm nếu thời gian xa hơn tiêm hai mũi) Thai phụ được chăm sóc thai nghén trước sinh là rất cần thiết để có thể phát hiện, theo dõi và xử trí các bất thường có thể xảy ra và là yếu tố quan trọng làm giảm tỷ lệ tử vong
mẹ, giảm chết chu sinh và uốn ván sơ sinh Đây cũng là một trong những hoạt động chính của chương trình làm mẹ an toàn, nhưng nhận thức của phụ nữ mang thai về vấn đề này còn thấp Trong nghiên cứu về tử vong mẹ (2001) cho thấy, trên toàn quốc chỉ có 55% số phụ nữ có thai được khám thai đủ trước khi sinh [6] Chính vì vậy Chiến lược Quốc gia về CSSKSS 2001 – 2010 đưa ra chỉ tiêu đến năm 2010 chúng ta phải đạt được tỷ lệ:
- Phụ nữ được khám thai trước khi sinh: 90%
- Phụ nữ được khám thai 3 lần trước khi sinh: 60%
Trang 32- Sản phụ được chăm sóc sau khi sinh ít nhất 1 lần: 60%
- Sinh có nhân viên được đào tạo đỡ: 97%
- Sinh tại cơ sở y tế: 80%
- Giảm tai biến sản khoa trên tổng số ca sinh: 50%
Qua một nghiên cứu tại tỉnh Hoà Bình năm 2003 cho thấy, số phụ nữ có thai gần nhất được khám ba lần trở lên chiếm 85,2%, khám một đến hai lần là 11,5% Nơi khám thai chủ yếu ở trạm y tế xã (93,3%) Số lần tiêm phòng uốn ván đủ trong lần mang thai vừa qua chiếm 79,5%, không tiêm mũi nào là 1,9% [22]
Theo kết quả thống kê y tế của Bộ Y tế năm 2001cũng cho thấy, có tới gần 90% ca đẻ được cán bộ y tế đỡ nhưng có sự chênh lệch rất lớn giữa các vùng miền Ở miền núi, vùng sâu, vùng xa nơi có điều kiện giao thông khó khăn thì phần lớn phụ nữ dân tộc thiểu số đều sinh con tại nhà, chỉ có chồng, người thân hoặc bà mụ vườn đỡ đẻ Vì vậy, với những thai phụ có bệnh nội khoa mãn tính hoặc có sẹo mổ tử cung cũ thì đẻ tại nhà là vô cùng nguy hiểm, dễ dẫn đến tử vong do không thể cấp cứu kịp thời khi có tai biến [6]
Theo một báo cáo của Bộ Y tế (2001), tỷ suất tử vong mẹ trên toàn quốc vào khoảng 137/100.000 trường hợp trẻ đẻ sống (với khoảng dao động từ 124 - 206/100.000 trẻ đẻ sống), thậm chí lên tới 411/100.000, trong đó nguyên nhân trực tiếp gây tử vong mẹ chủ yếu là các tai biến sản khoa như băng huyết, sản giật, nhiễm khuẩn và do các biến chứng của thai nghén đến tình trạng sức khoẻ của mẹ (nguyên nhân gián tiếp) như viêm gan mạn tính Nghĩa là, mỗi năm nước ta có khoảng 3000 bà mẹ bị chết bởi các nguyên nhân liên quan đến thai sản đó là chưa kể đến các di chứng do tai biến đó để lại suốt đời cho bà mẹ khi
họ may mắn thóat khỏi tử thần và 90% trong số họ đã sinh con mà không có cán
bộ y tế đỡ [15]
Sau khi sinh, các bà mẹ cần được cán bộ y tế theo dõi trong vòng bảy
Trang 33sinh Đây là thời gian hay xảy ra các biến chứng xấu gây tử vong mẹ chiếm tỷ lệ cao nhất (61% và một nửa số này chết trong những giờ đầu, 75% chết trong ngày đầu) [15], mà phần lớn là do nguyên nhân chảy máu (do tổn thương đường sinh dục hoặc đờ tử cung) Nhiều bà mẹ không sinh con tại các cơ sở y tế hoặc đẻ không do cán bộ y tế đỡ nên không được theo dõi sau khi sinh Do đó, khi biến chứng xảy ra không được phát hiện và xử trí kịp thời dẫn đến tử vong mẹ
Uốn ván sơ sinh cũng là một trong năm tai biến sản khoa gây tử vong cao
ở trẻ sơ sinh Năm 2000, chúng ta đã loại trừ được uốn ván sơ sinh trên quy mô tuyến huyện trên toàn quốc (tỷ lệ mắc < 1ca/1.000 trẻ đẻ sống) [37], các hoạt động để bảo vệ thành quả loại trừ uốn ván sơ sinh luôn được duy trì từ đó đến nay, trong đó quan trọng nhất là tiêm vắc xin phòng uốn ván cho phụ nữ khi mang thai Tuy tỷ lệ chết chu sinh do uốn ván không còn nhiều, năm 2001 chỉ có
33 trường hợp/2530 ca chết chu sinh [37], nhưng việc còn xuất hiện một số ca uốn ván sơ sinh cũng phản ánh phần nào việc tiêm vắc xin tiêm phòng uốn ván cho phụ nữ khi mang thai chưa được tốt Thai phụ không tiêm phòng uốn ván hoặc tiêm phòng không đủ số mũi quy định đều làm tăng nguy cơ uốn ván sơ sinh; trong số 36 ca uốn ván sơ sinh được phát hiện năm 2001 thì có 33 bà mẹ (91%) không tiêm hoặc mới tiêm một mũi nên không có giá trị phòng bệnh, 01
bà mẹ có tiêm một mũi vắc xin nhưng cách thời gian lần có thai trước là 5 năm
và 01 bà mẹ được tiêm hai mũi vacxin nhưng mũi thứ hai tiêm trước sinh một ngày [38]
Phần lớn các tai biến liên quan đến thai sản đều có thể phòng tránh, nếu như có được sự quan tâm của mỗi cá nhân bà mẹ mang thai đối với sức khoẻ của bản thân cũng như của thai nhi Tạo cơ hội cho người phụ nữ tiếp cận với các thông tin và dịch vụ CSSKSS có chất lượng, làm thay đổi nhận thức của các bà
mẹ về mang thai và sinh đẻ sẽ giúp cho người phụ nữ thực hiện chức năng làm
mẹ một cách an toàn
Trang 341.3 Các khái niệm công cụ
1.3.1 Kiến thức, thái độ, thực hành
Theo từ điển Oxford English Dictionary, kiến thức (knowledge) là những kinh nghiệm, những sự kiện có thực phản ánh trí thông minh của con người, được hình thành qua học tập, quan sát và kinh nghiệm, kiến thức của con người được tích luỹ trong suốt cuộc đời [43]
Cũng theo từ điển Oxford English Dictionary, thái độ (attitude) là biểu hiện sự bằng lòng hoặc phản đối một vấn đề nào đó Nó là một cấu trúc tương đối bền vững của các niềm tin, kinh nghiệm được tích luỹ trong cuộc sống của chúng ta hoặc những người sống làm việc quanh ta như cha, mẹ, ông, bà, họ hàng, đồng nghiệp, Những người sống gần gũi xung quanh chúng ta có thể làm chúng ta suy nghĩ, quan tâm đến hành vi nào đó Ngoài ra thái độ cón có thể bắt nguồn từ kinh nghiệm của những người khác, đặc biệt những người mà chúng ta kính trọng Đôi khi thái độ của con người cũng có thể được hình thành bởi kinh nghiệm chưa đầy đủ Thái độ rất quan trọng đối với hành vi của con người Trong giáo dục sức khoẻ cần phân tách làm rõ vì sao mọi người lại có thái độ nhất định đối với các hành vi sức khoẻ như vậy, từ đó có tác động nhằm làm chuyển đổi thái độ
Và, thực hành (practice) là công việc thực tế để đạt được qua thực hiện các kỹ năng và kỹ xảo
Trang 35tham gia vào các hoạt động sinh sản, song việc mang thai, sinh đẻ, nuôi con bằng sữa mẹ vẫn là đặc quyền của phụ nữ Do đó, phụ nữ được coi là trọng tâm của sức khỏe sinh sản và sức khỏe sinh sản là cốt lõi của sức khoẻ người phụ nữ [6]
Vì thế, để có được sức khỏe sinh sản tốt, không chỉ chăm sóc trong độ tuổi sinh
đẻ mà cần được chăm sóc ngay từ bào thai cho đến tuổi già
1.3.3 Chăm sóc sức khỏe sinh sản
Theo Chương trình hành động của Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển (Hội nghị Cairô 1994), sức khỏe sinh sản bao gồm 10 nội dung sau:
- Làm mẹ an toàn: Là tất cả phụ nữ đều được nhận sự chăm sóc cần thiết
để được hoàn toàn khoẻ mạnh trong suốt thời gian mang thai, khi sinh đẻ và sau
đẻ, bao gồm cả điều trị cấp cứu sản khoa khi có tai biến xảy ra Đây là một lĩnh vực ưu tiên trong chăm sóc sức khoẻ ở nước ta [1]
- Kế hoạch hoá gia đình: Là một quyền của con người, quyền về sinh sản trong đó nam và nữ có quyền được nhận thông tin và tiếp cận với các biện pháp KHHGĐ an toàn, hiệu quả, phù hợp khả năng mà họ đã lựa chọn Thực hiện KHHGĐ mang lại cho người phụ nữ rất nhiều lợi ích về sức khoẻ và cải thiện điều kiện sống thông qua khả năng giãn khoảng cách giữa các lần sinh và giới hạn số lần sinh KHHGĐ còn làm giảm số trường hợp có thai ngoài ý muốn, giảm nguy cơ gây tử vong mẹ và các biến chứng liên quan đến thai nghén Bên cạnh đó, KHHGĐ còn giúp cho phụ nữ có một sức khoẻ tình dục lành mạnh, an toàn; và đối với xã hội KHHGĐ làm giảm sự gia tăng dân số và các chi phí y tế cho CSSKSS trong đó có chi phí nạo hút thai và điều trị các tai biến do nạo hút thai [47]
- Nạo hút thai: Là một biện pháp chấm dứt thai nghén có chủ ý đối với thai ngoài ý muốn hoặc vì những chỉ định y tế Việc đình chỉ thai nghén có thể tiến hành ở bất kỳ tuổi thai nào Bao gồm hút thai, nạo thai hoặc phá thai to Hút thai sớm hay hút điều hoà kinh nguyệt là thủ thuật tiến hành khi phụ nữ mới
Trang 36chậm kinh được 7-14 ngày; nạo thai là thủ thật lấy thai từ buồng tử cung ra ngoài bằng kìm gắp và thìa nạo khi thai dưới 12 tuần [17]
- Phòng và điều trị vô sinh
- Phòng tránh và điều trị bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS
- Phòng, chống khối u đường sinh dục
- Sức khoẻ sinh sản vị thành niên
- Giáo dục giới tính, tình dục
- Chăm sóc sức khoẻ trẻ em
- Thông tin, giáo dục, truyền thông
Như vậy CSSKSS được định nghĩa như sau: Việc CSSKSS là một tổng thể các biện pháp kỹ thuật và dịch vụ góp phần nâng cao sức khỏe và hạnh phúc bằng cách phòng ngừa và giải quyết các vấn đề về sức khỏe sinh sản Nó cũng bao gồm cả sức khỏe tình dục với mục đích là đề cao cuộc sống và các mối quan
hệ riêng tư, chứ không chỉ là việc tư vấn và chăm sóc liên quan đến sinh sản và các bệnh lây truyền qua đường tình dục [11]
1.3.4 Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ là tất cả những phụ nữ nằm trong độ tuổi từ 15 đến 49 tuổi [51]
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH
VỀ CSSKSS CỦA PHỤ NỮ
2.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Cao Bằng có 11 dân tộc chính, trong đó chủ yếu là dân tộc Tày và Nùng Các dân tộc thường sinh sống theo những quần thể trên các vùng khác nhau Dân tộc Kinh thường sống ở các thị xã, thị trấn, thị tứ, các nơi có điều kiện giao lưu buôn bán Dân tộc Tày sống hầu hết ở các huyện, là dân tộc cư trú ở Cao Bằng lâu đời có truyền thống văn hoá tốt đẹp, đã có chữ viết riêng gọi là chữ Tày Nùng; điều kiện kinh tế văn hoá khá hơn các dân tộc khác Dân tộc Nùng
có nhiều tộc, căn cứ vào ăn mặc và tiếng nói để phân biệt Dân tộc Dao có bản chất cần cù lao động, sống chủ yếu ở vùng đồi núi thấp, vừa làm nương, vừa làm ruộng, phong tục tập quán còn nặng nề Dân tộc H’Mông hầu hết sống trên triền núi đá cao, vùng sâu, vùng xa, tập trung đông ở Bảo Lạc, Thông Nông, Hà Quảng; sống du canh du cư, đốt rẫy làm nương, chủ yếu trồng ngô Dân tộc Hoa sống ở nơi thị trấn, thị tứ, nhạy cảm với cuộc sống, có trình độ kinh tế phát triển Nói chung đời sống kinh tế, văn hoá của người dân Cao Bằng còn nghèo nàn, lạc hậu
Trang 38Bảng 2.1 Đối tƣợng nghiên cứu phân theo tuổi, dân tộc và học vấn
Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhóm phụ nữ trong độ tuổi 30-39 chiếm tỷ
lệ cao nhất (44,7%), tiếp đến là nhóm tuổi 20-29 (30%), nhóm tuổi 40-49 (25%),
và thấp nhất là nhóm tuổi 15-19 (0,3%) Về thành phần dân tộc, đa số đối tượng nghiên cứu là người dân tộc, trong đó chủ yếu là dân tộc Tày và Nùng (tỷ lệ tương ứng là 57,7% và 39%) Dân tộc Kinh chỉ chiếm 0,3%, còn lại là dân tộc Dao, H’Mông và Mường (2,3%) Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu còn hạn chế với 41% có học vấn THCS, 29,3% THPT, 18% Tiểu học, 7,7% THCN,
và vẫn còn 4,0% phụ nữ không được đi học
Như vậy, đa số đối tượng nghiên cứu thuộc các nhóm dân tộc khác nhau với trình độ học vấn hạn chế, điều này sẽ phần nào ảnh hưởng đến kiến thức và thực hành về chăm sóc sức khỏe nói chung và CSSKSS nói riêng Trong phần tiếp theo của luận văn sẽ đề cập cụ thể hơn về vấn đề này
Trang 392.2 Tiếp cận thông tin về CSSKSS của phụ nữ
Việc tiếp cận thông tin của các đối tượng nghiên cứu được đánh giá thông qua việc kiểm tra xem họ đã từng nghe về các chủ đề CSSKSS hay chưa và đã được nghe từ nguồn cung cấp nào Chất lượng thông tin được đánh giá bằng việc kiểm tra thái độ của đối tượng đối với một số nhận định về CSSKSS
Trong những năm qua, các chương trình Dân số - KHHGĐ đã được thực hiện rất thành công ở Việt Nam kể cả các vùng sâu vùng xa Các dự án phòng chống HIV/AIDS và bệnh LTQĐTD đã và đang được triển khai rộng khắp và được truyền thông rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng Hầu hết người dân Cao Bằng được cấp thẻ bảo hiểm y tế theo Quyết định 139 Đây là những lý do dẫn đến tỷ lệ đối tượng biết đến các chủ đề này rất cao Các chủ đề khác được ít đối tượng đã từng nghe nói đến nhất là: tâm sinh lý tuổi dậy thì (20%), giới và và bình đẳng giới trong CSSKSS (30,3%) Tăng cường hơn nữa công tác truyền thông để người dân biết và hiểu hơn về các chủ đề này là rất cần thiết
Trang 40Bảng 2.3 Nguồn cung cấp thông tin về các chủ đề CSSKSS
Nguồn cung cấp thông tin về các chủ đề sức khỏe sinh sản rất đa dạng từ nhân viên y tế, cán bộ hội phụ nữ, nông dân, đoàn thanh niên, vô tuyến, radio, đài truyền thanh xã Trong những năm gần đây, đời sống và kinh tế của người dân
đã được cải thiện, mặc dù Cao Bằng là tỉnh miền núi với chủ yếu là người dân tộc, nhưng nhiều gia đình đã sắm được đài, vô tuyến Rõ ràng các chương trình thông tin quảng cáo trên đài, vô tuyến có hiệu quả khi được nhắc lại nhiều lần
Có thể thấy rằng, không nguồn nào có thể cung cấp đầy đủ mọi thông tin về chăm sóc sức khoẻ, do đó, các nguồn bổ xung lẫn nhau sẽ chuyển tải được nhiều thông tin, đây chính là sự đa dạng về nguồn cung cấp thông tin
Trong số các nguồn cung cấp thông tin, ti vi/radio, cộng tác viên dân số, nhân viên y tế và cán bộ hội/đoàn thể là phương tiện truyền đạt có độ tin cậy và tính thuyết phục cao hơn cả nên dễ được đối tượng chấp nhận hơn Kết quả điều tra cho thấy, nguồn thông tin về các chủ đề CSSKSS mà phụ nữ tiếp cận được nhiều nhất là từ: cộng tác viên dân số/y tế thôn bản (71,9%), vô tuyến/radio (62,9%), cán bộ các hội đoàn thể (51,2%) và nhân viên y tế (47,8%) Tuy nhiên, nguồn thông tin từ đài truyền thanh xã lại ược ít người nói đến (10%) Điều này có thể là do Cao Bằng là tỉnh thuộc miền núi, đường xá đi lại khó khăn, dân cư sống